DIỄN ĐÀN CỦA CHÚNG TA

TIẾNG NÓI TỰ DO DÂN CHỦ

Báo Cáo Của Chính Phủ về kết quả lấy ý kiến sửa đổi HP 1992

BÁO CÁO CỦA CHÍNH PHỦ

về kết quả lấy ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

MỤC LỤC 1

Phần thứ nhất 3

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ TỔ CHỨC VIỆC LẤY Ý KIẾN 3

Phần thứ hai 11

TỔNG HỢP CÁC Ý KIẾN GÓP Ý
VỀ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 1992 11

I. NHỮNG Ý KIẾN CHUNG 11

II. NHỮNG Ý KIẾN CỤ THỂ 18

LỜI NÓI ĐẦU 18

CHƯƠNG I: CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ 20

CHƯƠNG II. QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN 23

CHƯƠNG III: KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA, GIÁO DỤC, KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG 27

CHƯƠNG IV: BẢO VỆ TỔ QUỐC 32

CHƯƠNG V: QUỐC HỘI 35

CHƯƠNG VI: CHỦ TỊCH NƯỚC 42

CHƯƠNG VII: CHÍNH PHỦ 47

CHƯƠNG VIII: TÒA ÁN NHÂN DÂN, VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 51

CHƯƠNG IX: CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 57

CHƯƠNG X: HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP, HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA, KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC 59

CHƯƠNG XI: HIỆU LỰC CỦA HIẾN PHÁP VÀ VIỆC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 60

Phần thứ ba

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TIẾP THU,
CHỈNH LÝ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 1992 67

CHÍNH PHỦ

_________

Số: 135/BC-CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_____________________________________

Hà Nội, ngày 05 tháng 4 năm 2012

BÁO CÁO CỦA CHÍNH PHỦ

về kết quả lấy ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

______________

Kính gửi: Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Thực hiện nhiệm vụ được phân công tại Nghị quyết số 38/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội và Kế hoạch số 216/KH-UBDTSĐHP ngày 28/12/2012 của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp về tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai việc lấy ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 theo đúng mục tiêu, yêu cầu và phạm vi lấy ý kiến được Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp giao. Theo Hướng dẫn số 239/HD-UBDTSĐHP ngày 23/02/2013 về tập hợp, tổng hợp ý kiến của nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Chính phủ đã tổng hợp, xây dựng Báo cáo của Chính phủ về kết quả lấy ý kiến và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Chính phủ xin trình Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Báo cáo của Chính phủ về kết quả lấy ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với những nội dung như sau:

Phần thứ nhất TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ TỔ CHỨC VIỆC LẤY Ý KIẾN

I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VIỆC LẤY Ý KIẾN

1. Kế hoạch và hoạt động triển khai của Chính phủ

Ngày 11/01/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch của Chính phủ về việc tổ chức lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 kèm theo Quyết định số 136/QĐ-TTg bám sát mục tiêu, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết số 38/2012/QH13. Kế hoạch của Chính phủ xác định rõ việc tổ chức lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là một nhiệm vụ trọng tâm cần ưu tiên và tập trung chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương.

– Thực hiện Kế hoạch lấy ý kiến của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp và Kế hoạch của Chính phủ, ngày 28/02/2013, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 đã ban hành Quyết định số 25/QĐ-BCĐTKHP1992 ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2013 của Ban Chỉ đạo, trong đó xác định cụ thể các nhiệm vụ và hoạt động tổ chức lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để các Bộ, ngành và địa phương thực hiện.

– Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lấy ý kiến và để việc lấy ý kiến đi vào trọng tâm, Ban Chỉ đạo cũng đã gửi Tài liệu hướng dẫn lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tới các Bộ, ngành, địa phương (ngày 28/02/2013).

– Thực hiện Quyết định số 224/QĐ-UBDTSĐHP ngày 06/02/2013 của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp, một số Thành viên Ban Chỉ đạo là Ủy viên Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã tham gia các đoàn kiểm tra công tác lấy ý kiến nhân dân của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp tại một số địa phương1, đồng thời thực hiện nhiệm vụ đôn đốc, kiểm tra địa phương theo sự phân công của Trưởng Ban chỉ đạo.

– Ngày 06/3/2013, Chính phủ tổ chức Hội nghị trực tuyến với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương về công tác lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (với điểm cầu trung tâm tại Hà Nội và 63 điểm cầu tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). Tại Hội nghị, đại diện các Bộ, ngành và địa phương2 đã báo cáo tình hình lấy ý kiến, kết quả bước đầu thực hiện, chia sẻ những kinh nghiệm hay, nêu những khó khăn, vướng mắc và đề xuất kiến nghị hướng tháo gỡ.

– Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo đã giúp Ban Chỉ đạo xây dựng Đề cương Báo cáo kết quả lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Chính phủ; chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ xây dựng Báo cáo chuyên đề về Chính phủ và Báo cáo chuyên đề về chính quyền địa phương; đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đúng Kế hoạch lấy ý kiến của Chính phủ (gửi báo cáo về Bộ Tư pháp trước ngày 15/3/2013 để tổng hợp, xây dựng Báo cáo của Chính phủ về kết quả lấy ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992).

– Thường trực Ban Chỉ đạo tổ chức 02 hội thảo góp ý vào Báo cáo chuyên đề về Chính phủ và Báo cáo chuyên đề về chính quyền địa phương tại thành phố Hồ Chí Minh (ngày 13-14/3/2013) và Hà Nội (ngày 22/3/2013). Ngày 25/3/2013, Ban Chỉ đạo đã tổ chức Hội thảo góp ý Dự thảo Báo cáo của Chính phủ với sự tham gia của 150 đại diện các cơ quan: Hội đồng Dân tộc và một số Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội; Ban Nội chính, Văn phòng Trung ương Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương; các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Sở Tư pháp, Sở Nội vụ của 12 tỉnh, thành phố phía Bắc.

– Ngày 28/3/2013, Chính phủ tổ chức phiên họp chuyên đề thảo luận, góp ý về Dự thảo Báo cáo của Chính phủ, đặc biệt thảo luận tập trung vào một số nội dung Chính phủ quan tâm có liên quan đến Chính phủ (về Chính phủ, chính quyền địa phương, Quốc hội, Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Hiến pháp) và biểu quyết bằng phiếu về một số vấn đề.3

2. Kế hoạch và hoạt động triển khai ở các bộ, ngành, địa phương

Hầu hết các bộ, ngành, địa phương đã ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến trong toàn ngành, cơ quan, địa phương mình; thành lập Ban Chỉ đạo hoặc Tổ giúp việc để giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; ban hành các văn bản chỉ đạo, quán triệt, hướng dẫn, đôn đốc công tác tổ chức lấy ý kiến (như các quyết định, công văn, thông tri, chỉ thị, thông báo…); thành lập các đoàn kiểm tra công tác tổ chức lấy ý kiến; đôn đốc, chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí do bộ, ngành, địa phương mình quản lý thực hiện việc phổ biến, tuyên truyền về việc lấy ý kiến nhân dân; chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội, không để các đối tượng xấu, thế lực thù địch lợi dụng chống phá, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong quá trình tổ chức lấy ý kiến.

II. CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Xác định đây là nhiệm vụ rất quan trọng, có tác động lớn đến kết quả công tác tổ chức lấy ý kiến, đặc biệt là trong giai đoạn đầu triển khai, nên nhiều bộ, ngành, địa phương đã chủ động tổ chức việc tuyên truyền, phổ biến nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nội dung và cách thức lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trong toàn ngành, cơ quan, địa phương mình một cách hiệu quả, thiết thực. Cụ thể là:

– Tổ chức các hội nghị phổ biến, quán triệt về nội dung và cách thức lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp theo nhiều phương thức khác nhau: Một số bộ, ngành, đia phương mời các chuyên gia tham dự hội nghị phổ biến và hướng dẫn việc lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp (như Bộ Tài chính, Bộ Công thương, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nam…); một số địa phương tổ chức hội nghị quán triệt trực tuyến như Lào Cai,…

– Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên giáo Trung ương quán triệt việc mở chuyên trang, chuyên mục cũng như định hướng nội dung các bài viết liên quan đến lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trên các chuyên trang, chuyên mục của các báo, đài trung ương và địa phương.

– Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức các tọa đàm trực tuyến nhằm cung cấp thông tin để các tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp (vào các ngày 28/02 và 04/3/2013).

– Đăng tải toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và các tài liệu có liên quan trên Trang thông tin điện tử của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thường xuyên cập nhật, đưa tin, đăng tin về tình hình tổ chức lấy ý kiến của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, đăng tải các ý kiến góp ý của nhân dân cũng như các tài liệu, bài nghiên cứu của các chuyên gia, nhà khoa học.

– Một số Bộ, ngành, địa phương có các sáng kiến như: ghi âm và phát hành đĩa phát thanh tuyên truyền4; xây dựng tài liệu hướng dẫn lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cho toàn ngành, cơ quan, địa phương mình5; xây dựng Tài liệu hỏi – đáp về một số vấn đề cơ bản của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; sử dụng báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật hoặc chuyên viên trong việc cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức và hướng dẫn lấy ý kiến cho đông đảo các tầng lớp nhân dân.6

III. CÁC HÌNH THỨC, PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LẤY Ý KIẾN

– Các hình thức lấy ý kiến được sử dụng rất phong phú, đa dạng như: Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm lấy ý kiến với phạm vi khác nhau (như ở cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh, ở các cơ quan, đơn vị trực thuộc…); thiết lập các địa chỉ cụ thể để tiếp nhận các ý kiến đóng góp của nhân dân từ nhiều nguồn khác nhau (như góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản, thông qua cổng thông tin điện tử, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng…); giao các cơ quan, đơn vị của mình xây dựng chuyên đề góp ý chuyên sâu về các nội dung có liên quan trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Các địa phương tiến hành xin ý kiến của Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, họp Hội nghị chuyên đề của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về Dự thảo Báo cáo kết quả lấy ý kiến của địa phương; các Bộ tiến hành xin ý kiến của Ban cán sự Đảng, Đảng ủy cơ quan về Dự thảo Báo cáo kết quả lấy ý kiến của Bộ, ngành mình.

Nhiều bộ, ngành, địa phương đã xây dựng chuyên trang, chuyên mục lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Theo thống kê của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, có 11 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ7, 42 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương8, 20 cơ quan báo chí có mở Chuyên mục lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trên Cổng Thông tin điện tử của cơ quan, địa phương mình9. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương đã chủ động, tích cực tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị, tọa đàm góp ý về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp và góp ý vào Dự thảo Báo cáo của các cơ quan, địa phương mình, thu hút tất cả các cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân.

– Về nội dung lấy ý kiến: Về cơ bản, các chương của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đều có các ý kiến đóng góp. Bên cạnh việc lấy ý kiến về toàn bộ Dự thảo, các bộ, ngành, địa phương còn căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tập trung lấy ý kiến sâu về những nội dung liên quan trực tiếp đến phạm vi, lĩnh vực hoạt động của bộ, ngành, địa phương mình và những vấn đề mà bộ, ngành, địa phương quan tâm.

IV. CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC LẤY Ý KIẾN

Nhằm phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nhiều bộ, ngành, địa phương đã chủ động, tích cực triển khai công tác lấy ý kiến một cách rộng rãi, dân chủ, khoa học, công khai. Một số bộ còn tổ chức lấy ý kiến ở phạm vi toàn ngành (Bộ Tư pháp, Bộ Công an…)

Do vậy, các đối tượng được lấy ý kiến ở cả trung ương và địa phương rất phong phú, đa dạng: các cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác, các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ quan thông tấn, báo chí và các tầng lớp nhân dân, cụ thể là cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ (quân đội, công an), người làm việc trong các doanh nghiệp, luật sư, sinh viên, đoàn viên thanh niên, các cán bộ hưu trí, người dân địa phương thuộc nhiều tổ chức, đoàn thể khác nhau khác…

V. VIỆC TỔNG HỢP KẾT QUẢ LẤY Ý KIẾN VÀ XÂY DỰNG BÁO CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VỀ KẾT QUẢ LẤY Ý KIẾN VÀO DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 1992

Bộ Tư pháp đã nhận được báo cáo của 30/30 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, 63/63 báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 2 báo cáo chuyên đề về Chính phủ, về chính quyền địa phương, báo cáo của Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và một số ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác với tổng số khoảng hơn 5.000 trang (trong đó đã bao gồm các ý kiến góp ý của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý tại các cuộc hội thảo, tọa đàm và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, của các bộ, ngành, địa phương; các bài viết gửi về Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo). Trên cơ sở tổng hợp các báo cáo kết quả lấy ý kiến nêu trên và ý kiến thảo luận của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ giúp Ban Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tổng hợp kết quả lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, đảm bảo tính khách quan, trung thực, tổng hợp đầy đủ các ý kiến đóng góp theo đúng Hướng dẫn số 239/HD-UBDTSĐHP ngày 23/02/2013 của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Qua kết quả tổng hợp cho thấy, các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức 28.014 hội thảo, hội nghị lấy ý kiến và tiếp nhận khoảng 18 triệu lượt ý kiến góp ý của tập thể, cá nhân, cụ thể như sau:

– Lời nói đầu: Tổng số có 1.828.585 lượt ý kiến góp ý.

– Chương I: Tổng số có 1.838.112 lượt ý kiến góp ý.

– Chương II: Tổng số có 5.634.279 lượt ý kiến góp ý.

– Chương III: Tổng số có 1.941.553 lượt ý kiến góp ý.

– Chương IV: Tổng số có 433.008 lượt ý kiến góp ý.

– Chương V: Tổng số có 1.517.335 lượt ý kiến góp ý.

– Chương VI: Tổng số có 725.640 lượt ý kiến góp ý.

– Chương VII: Tổng số có 552.837 lượt ý kiến góp ý.

– Chương VIII: Tổng số có 1.272.267 lượt ý kiến góp ý.

– Chương IX: Tổng số có 1.021.819 lượt ý kiến góp ý.

– Chương X: Tổng số có 845.371 lượt ý kiến góp ý.

– Chương XI: Tổng số có 722.311 lượt ý kiến góp ý.

VI. ĐÁNH GIÁ CHUNG

– Về tình hình lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp:

Về cơ bản, việc tổ chức lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp được các bộ, ngành, địa phương triển khai nghiêm túc, công khai, dân chủ, đúng tiến độ, bám sát Kết luận của Hội nghị Trung ương 2 và Hội nghị Trung ương 6, Chỉ thị của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quốc hội, Kế hoạch của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, của Chính phủ cũng như các văn bản chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tổ chức lấy ý kiến nhân dân.

Tuy nhiên, qua báo cáo của các bộ, ngành, địa phương cũng như qua quá trình trực tiếp kiểm tra cho thấy, việc triển khai tổ chức lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp còn gặp phải một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc sau đây:

Thứ nhất, việc tổ chức lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp được tiến hành trong thời gian tương đối gấp, lại trùng vào thời gian các bộ, ngành và địa phương phải tập trung cho việc triển khai công tác năm 2013, sau đó là nghỉ Tết nguyên đán và tại một số địa phương còn trùng với mùa lễ hội truyền thống, do vậy, việc bố trí nhân lực và huy động sự tham gia của các đối tượng lấy ý kiến gặp nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện đối tượng lấy ý kiến tham gia rộng, khối lượng công việc phải thực hiện lớn, trong khi nguồn lực có hạn.

Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trùng với thời điểm lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) nên thời gian nghiên cứu và tham gia ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có hạn chế hơn.

Thứ hai, do trình độ dân trí không đồng đều, đặc biệt là ở những nơi trình độ dân trí chưa cao, tại các vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn, nên công tác tuyên truyền, phổ biến khó khăn, sự quan tâm và tham gia đóng góp ý kiến của nhân dân cũng còn hạn chế.

Thứ ba, do không có hướng dẫn sớm về tập hợp, tổng hợp ý kiến của nhân dân nên nhiều bộ, ngành, địa phương đã chủ động tiến hành việc tập hợp, tổng hợp ý kiến theo cách thức khác nhau, cho đến khi Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 ban hành Hướng dẫn số 239/HD-UBDTSĐHP ngày 23/02/2013 thì các bộ, ngành, địa phương phải tiến hành hướng dẫn và tập hợp, tổng hợp lại, gây mất thời gian và công sức.

Thứ tư, tuy Bộ Tài chính đã có hướng dẫn về kinh phí cho công tác tổ chức lấy ý kiến nhưng nhiều cơ quan, địa phương còn lúng túng, kinh phí chưa được cấp kịp thời, làm ảnh hưởng một phần đến tiến độ và chất lượng thực hiện công việc này.

– Về tiến độ, chất lượng của các Báo cáo kết quả đóng góp ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ:

Về cơ bản, các báo cáo kết quả đóng góp ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã bám sát Hướng dẫn số 239/HD-UBDTSĐHP của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Kết quả lấy ý kiến cơ bản được bảo đảm đúng tiến độ, một số bộ, ngành, địa phương gửi báo cáo trước thời hạn (15/3/2013). Nhiều báo cáo của các bộ, ngành, địa phương được xây dựng công phu, bài bản, số lượng ý kiến tham gia đông, trong đó có nhiều ý kiến tham gia có chất lượng, tâm huyết; bên cạnh đó, cũng có một số báo cáo còn sơ sài, ý kiến góp ý chưa sâu, còn nặng về mặt kỹ thuật.

Số lượng lượt ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là rất lớn, trong đó, bên cạnh số lượng khá lớn ý kiến tán thành, nhất trí với các nội dung điều, khoản cụ thể của Dự thảo thì cũng có một lượng lớn các ý kiến góp ý đề nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Phần thứ hai TỔNG HỢP CÁC Ý KIẾN GÓP Ý
VỀ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 1992 I. NHỮNG Ý KIẾN CHUNG

1. Về phạm vi, mức độ sửa đổi

Đa số các ý kiến góp ý tán thành với phạm vi, mức độ sửa đổi Hiến pháp10. Dự thảo đã bảo đảm cụ thể hóa các quan điểm của Đảng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện của Đại hội Đảng XI về sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Phạm vi, mức độ sửa đổi về cơ bản đã xác lập được cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ đã được bổ sung, đặc biệt là đã khẳng định rõ Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp và cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Dự thảo đã xác lập được cơ chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, xét về tổng thể, các quy định về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước vẫn còn những điểm chưa thể hiện đầy đủ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đặc biệt là chưa làm rõ cơ chế để các cơ quan kiểm soát việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như cơ chế để nhân dân tham gia kiểm soát quyền lực11. Các quy định về việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa tập thể Chính phủ với Thủ tướng Chính phủ, các Thành viên Chính phủ, mối quan hệ giữa trung ương và địa phương còn nhiều điểm chưa rõ12. Việc quy định thêm các thiết chế hiến định độc lập (Hội đồng hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước) là cần thiết nhưng cũng có một số nội dung cần hoàn thiện thêm, đặc biệt là các quy định về vị trí, vai trò của Hội đồng hiến pháp, nguyên tắc lựa chọn nhân sự cho Hội đồng Hiến pháp và Hội đồng bầu cử quốc gia13. Dự thảo đã khẳng định các nguyên tắc về chủ quyền của nhân dân nhưng chưa có quy định về quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân để thể hiện rõ hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp14. Ngoài ra, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp cũng cần quy định rõ hơn phương thức lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội của Đảng trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân15. Quy định về tổ chức chính quyền địa phương quá khái quát, chưa đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Đại hội Đảng XI, chưa tháo gỡ được những bất cập mà việc tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 đã chỉ ra16. Bên cạnh đó, một số ý kiến đề xuất bổ sung các quy định về một số lĩnh vực cụ thể mà Dự thảo sửa đổi Hiến pháp chưa quy định.17

2. Về tên gọi

2.1. Tán thành tên gọi theo Dự thảo

Chỉ có một số ít ý kiến tán thành tên gọi như Dự thảo18.

2.2. Ý kiến khác

– Đề nghị lấy tên là “Hiến pháp năm 2013”.19

Lý do: Nếu so với lần sửa đổi, bổ sung năm 2001, thì việc sửa đổi, bổ sung lần này với quy mô lớn hơn, toàn diện hơn, trong đó có nhiều quy định lần đầu tiên được đưa vào Hiến pháp. Vì vậy, xét về thực chất, đây không phải là một bản Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi) mà là một bản Dự thảo Hiến pháp mới. Cũng có ý kiến tham gia đề nghị nên xây dựng một bản Hiến pháp mới thay thế bản Hiến pháp năm 199220.

– Nên gọi tên Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này là “Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013)” vì theo Dự thảo không chỉ có nội dung sửa đổi mà có nhiều nội dung được bổ sung.21

– Một số ý kiến đề nghị gọi tên là “Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013”22 vì Dự thảo chỉ giữ nguyên 14 điều của Hiến pháp năm 1992; các chương, điều còn lại đều được sửa đổi, bổ sung; bố cục Dự thảo cũng được thay đổi cơ bản so với bố cục của Hiến pháp năm 1992.

3. Về bố cục của Dự thảo

3.1. Tán thành bố cục của Dự thảo

Về cơ bản, đa số các ý kiến cho rằng bố cục và kết cấu, vị trí của các chương, điều, khoản của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là khoa học, hợp lý, có tính lôgic.23

3.2. Đề nghị sửa đổi

Nhiều ý kiến cho rằng tổng thể cơ cấu của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp chưa thật sự cân đối giữa các điều, khoản. Cụ thể:

– Nên tách chương Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành hai chương riêng biệt cho hai thiết chế này để thể hiện rõ hơn quyền công tố của Viện Kiểm sát nhân dân.24

– Chương II Dự thảo: các điều về quyền và nghĩa vụ không đi theo tuyến, đang nói về quyền thì lại đến nghĩa vụ, tiếp đó lại nói về quyền; khoản 2 Điều 8 lại chèn ý chống tham nhũng nằm giữa ý tôn trọng nhân dân và thực hành tiết kiệm… Điều 21 ghép lại Điều 46 (mới) thành khoản 3 của Điều 46, Điều 65 ghép vào Điều 66 thành một Điều, vì có nội dung tương đồng25. Có ý kiến đề nghị kết cấu Chương này gọn lại và lôgíc hơn.26

– Cần có một chương riêng quy định rõ hơn về vai trò, nhiệm vụ của Đảng cộng sản Việt Nam. Bổ sung một chương riêng về Đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, Công đoàn; một chương riêng về Hội đồng Hiến pháp (hoặc Tòa án Hiến pháp).27

– Đề nghị đưa Chương II về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thành Chương I; và Chương I của Dự thảo về Chế độ chính trị thành Chương II. Tách Chương II về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thành 02 chương: Chương về Quyền con người và Chương về Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.28

– Đề nghị hoán chuyển vị trí Chương IX về chính quyền địa phương với Chương X về Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước để đảm bảo theo thứ bậc cơ cấu từ trung ương đến địa phương.29

– Đề nghị thay đổi bố cục: Chương I: Chế độ chính trị, Chương II: Bảo vệ Tổ quốc, Chương III: Thể chế, Chương IV: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.30

– Đề nghị bố cục của Dự thảo sắp xếp theo trình tự sau: Lời nói đầu; Chương I – Chính thể; Chương II – Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Chương III – Cơ quan lập pháp; Chương IV – Nguyên thủ quốc gia; Chương V – Cơ quan hành pháp; Chương VI – Cơ quan tư pháp; Chương VII – Chính quyền địa phương; Chương VIII – Một số vấn đề cơ bản về kinh tế, văn hóa – xã hội, khoa học công nghệ, an ninh quốc phòng; Chương XI – Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, thủ đô và ngày quốc khánh; Chương X – Hiệu lực Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp.31

– Chương V và Chương X nên ghép lại thành 1 chương sẽ phù hợp hơn, vì Chương V nội dung nói về Quốc hội và Chương X nội dung nói về các cơ quan do Quốc hội thành lập.32

– Đề nghị chuyển Chương IV “Bảo vệ Tổ quốc” lên trước Chương III “Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường”. Lý do: nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải được thực hiện tốt thì mới thực hiện được các công việc khác.33

– Việc bố cục chương, điều tại Dự thảo chưa thật sự hợp lý, chưa đảm bảo tính lôgíc, khoa học. Cụ thể: Một số ý kiến cho rằng Chương IV: Bảo vệ Tổ quốc cần phải đưa lên thành Chương II, sau Chương I: Chế độ chính trị. Lý do: Bảo vệ Tổ quốc là sứ mệnh hết sức quan trọng; có bảo vệ được chủ quyền, đảm bảo an ninh quốc phòng mới có thể phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đất nước, đảm bảo các quyền con người, quyền công dân.34

4. Về kỹ thuật lập hiến

4.1. Tán thành

Một số ít ý kiến tán thành về kỹ thuật lập hiến của Dự thảo.35

4.2. Góp ý hoàn thiện

Có nhiều ý kiến chưa tán thành về kỹ thuật lập hiến của Dự thảo, cụ thể:

– Dự thảo sửa đổi Hiến pháp chưa có tính khái quát cao, còn mang nhiều tính chất lý luận.36

– Dự thảo có những điều còn quá dài, ý chưa rõ, nhưng cũng có những điều quá ngắn và nội dung khó hiểu.37

– Việc sử dụng một số từ, cụm từ chưa rõ, trùng ý giữa một số chương, điều, khoản.38

– Dự thảo còn có nhiều chỗ diễn đạt chưa rõ, còn khó hiểu; cách hành văn thiếu mạch lạc, chưa cô đọng, súc tích, chưa mang tính quy phạm; một số quy định còn mang tính tuyên truyền, khẩu hiệu và thiếu tính khả thi. Nhiều nội dung trình bày trong Dự thảo cần xem xét chỉnh sửa, bổ sung về nội dung, từ ngữ để Dự thảo được rõ hơn và đầy đủ hơn nhằm đạt được sự thống nhất cao của mọi tầng lớp nhân dân.39

– Việc sử dụng từ ngữ, các cụm từ tại một số điều của Dự thảo chưa thống nhất. Ví dụ: Tại Chương II về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân có điều sử dụng cụm từ “do luật quy định”, có điều sử dụng cụm từ “do pháp luật quy định”, có điều lại sử dụng cụm từ “theo quy định của pháp luật”, cần thống nhất là “do luật định”. Hay có điều sử dụng từ “nơi ở”, có điều sử dụng từ “chỗ ở”. Vì vậy, hầu hết các ý kiến tham gia đề nghị cần thống nhất việc sử dụng từ ngữ trong những điều này.40

– Đề nghị nghiên cứu nên ghép: Điều 13 và Điều 14 thành một điều; Điều 21 và Điều 22 thành một điều; Điều 15 và Điều 20 thành một điều vì nội dung giống nhau; Điều 29 và Điều 30 thành một điều, vì các điều này có nội dung gần giống nhau và ghép khoản 1 và khoản 2 Điều 29 thành một khoản; Điều 11 và Điều 47 thành một điều, vì “hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và hành vi “phản bội Tổ quốc” là tương tự nhau và đều là trọng tội và phải bị nghiêm trị theo pháp luật; Điều 46 ghép với Điều 68 vì cùng quy định về môi trường; khoản 1 Điều 31, đề nghị tách ra khiếu nại và tố cáo ra thành 2 nội dung, vì chúng ta chỉ khiếu nại khi quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm, còn khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào bị xâm phạm thì mọi người đều được quyền tố cáo; chuyển khoản 1 Điều 11 lên Điều 1 của Dự thảo.

– Tại Chương II về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: Một số ý kiến tham gia cho rằng: Bố cục sắp xếp lại các điều, đưa các điều khoản quyền con người mà trong Dự thảo đã phân biệt dùng thuật ngữ “mọi người” lên phần đầu chương. Lý do: “Quyền con người” và “quyền công dân” là hai khái niệm thống nhất. Tuy nhiên, quyền con người là quyền tự nhiên do pháp luật quốc tế quy định, còn quyền công dân là quyền có tính chất quốc gia do pháp luật của Nhà nước quy định. Về nhóm quyền dân sự, chính trị: đề nghị đưa các quyền chính trị lên trước gồm: các Điều 25, 26, 27, 28, 29, 30…; sắp xếp lại các điều thuộc quyền dân sự, bao gồm các Điều 22, 23, 24, 31, 32, 37… Về nhóm các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, bao gồm các Điều 33, 34, 35, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46… Về nghĩa vụ của “mọi người”, “công dân” cần tách khỏi quyền và sắp xếp lại thành một số điều cuối Chương.41

– Khoản 1 Điều 37 và khoản 3 Điều 56 có mâu thuẫn với nhau; Chương II có khá nhiều điều, khoản; đề nghị gom các điều quy định về “quyền mọi người” riêng, về “quyền công dân” riêng; bố cục lại Chương II theo 3 nhóm: quyền con người: Điều 15, 16, 17, 33, 45, 46; nghĩa vụ công dân; quyền đối với người nước ngoài: Điều 50, Điều 51.42

– Đề nghị ghép Điều 45, 46, 47, 48 và Điều 49 thành một điều, phân rõ quyền và nghĩa vụ; tại Điều 34, đề nghị ghép chung khoản 1 và khoản 2, đưa Điều 50 về Điều 34.43

– Có nhiều điều nêu rất ngắn gọn nên nhìn vào Dự thảo thấy hình thức liệt kê điều luật khá nhiều. Do đó, đề nghị một số điều có mối liên hệ gắn kết, cùng nội hàm và gắn nghĩa với nhau cần nghiên cứu đưa vào chung thành một điều.44

– Trong Dự thảo còn sử dụng chưa thống nhất cụm từ “theo pháp luật”, “theo quy định của pháp luật”45, cụm từ “nơi ở”, “chỗ ở”46. Do đó, đề nghị chỉnh lý lại theo hướng sử dụng thống nhất một cụm từ cho đồng bộ. Nên thay cụm từ “mọi người” thành cụm từ “công dân” cho thống nhất với luật pháp quốc tế, đảm bảo tính chính xác và đầy đủ hơn.47

– Một số từ không phải là ngôn ngữ pháp lý như: “làm Hiến pháp”, “làm luật”, “thứ thuế” (khoản 1, 4 Điều 75), “ra pháp lệnh” (khoản 2 Điều 79), “họp bàn” (Điều 95), “tình hình mọi mặt, lắng nghe” (Điều 119), “của mình” (Điều 120); đề nghị cần sử dụng từ khác cho phù hợp với văn phong pháp lý.48

– Vì Hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản, nên những quy định mang tính cụ thể, chi tiết nên để luật chuyên ngành điều chỉnh, ví dụ như khoản 2, Điều 22; khoản 3, khoản 4 Điều 32 của Dự thảo.49

– Dự thảo có một số điều còn thể hiện tính chất tuyên ngôn, thể hiện văn phong như nghị quyết của Đảng như Điều 53, Điều 6450; có một số điều còn chung chung, không rõ ràng như Điều 42, Điều 65; một số điều quy định là “công dân có quyền” nhưng thực tế phải được quy định là “mọi người có quyền” thì mới chính xác như: Điều 24 về quyền tự do đi lại; Điều 36 về quyền có nơi ở hợp pháp; Điều 41 về quyền được bảo vệ sức khỏe.51

– Việc sử dụng từ ngữ trong Dự thảo chưa thống nhất; nên thống nhất cụm từ “nam, nữ” hoặc “nữ, nam”; lúc dùng cụm từ “theo quy định pháp luật” lúc thì dùng “luật quy định”.52

– Cách dùng cụm từ “nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà không dùng cụm từ “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại các điều quy định về bộ máy nhà nước (Điều 74, 91, 99, 107, 109, 118) là chưa hợp lý.53

– Việc sử dụng ngôn ngữ cần đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu và phải sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, không nên sử dụng các từ, cụm từ gốc Hán – Việt, ví dụ như “kiến quốc”, “bảo hộ”, “nhục hình”; “bất khả xâm phạm”; “cư trú”…54

– Các quy định tại Chương V và Chương VII về Quốc hội và Chính phủ không nên quy định quá chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như trong Dự thảo mà chỉ quy định một cách khái quát nhất về địa vị pháp lý của hai chủ thể này, việc quy định chi tiết nên xây dựng trong Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức Chính phủ.55

– Về ngôn ngữ sử dụng trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: đề nghị cần có sự thống nhất về cách dùng từ, vì trong một số điều, thậm chí trong cùng một điều nhưng sử dụng những cụm từ khác nhau dù có ý nghĩa như nhau.56

– Đề nghị Điều 2, 3, 8 Chương I nên để liền nhau để phần nói về Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được liền mạch; Điều 3 nên đặt ở vị trí Điều 4; Điều 5 nên đặt ở vị trí Điều 6; Điều 6 nên đặt ở vị trí Điều 11. Chương II: Điều 18, 19 nên gộp thành 1 điều; Điều 21, 25 nên gộp thành 1 điều. Điều 21, 22 nên gộp thành 1 điều vì Điều 22 là cụ thể hóa Điều 21; Điều 21, 25 nên gộp thành 1 điều; Điều 41, 42 nên gộp thành 1 điều; Điều 42, 43 nên gộp thành 1 điều.57

– Cần quy định cụ thể hơn nữa để các quy định của Hiến pháp áp dụng ngay mà không cần chờ quy định của luật.58

– Đề nghị gộp Điều 9 và Điều 10, gộp Điều 17 và Điều 21, gộp Điều 47 và Điều 48, gộp khoản 5 và khoản 6 Điều 108 và biên tập lại thành một khoản như sau: “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và tranh tụng tại phiên toà được đảm bảo”, tách Điều 116 thành 02 điều riêng: 1 điều về HĐND và 1 điều về UBND.59

– Đề nghị giữ nguyên Điều 66 Hiến pháp năm 1992 thành một điều mới trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.60

– Về tên riêng của các chức danh ví dụ như Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ tại Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, có 04 ý kiến đề nghị ghi thống nhất và đầy đủ (không nên ghi Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch, Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng).61

4.3. Các góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-12).

II. NHỮNG Ý KIẾN CỤ THỂ LỜI NÓI ĐẦU

1. Tổng số ý kiến góp ý: 1.828.585 ý kiến.

1.1. Số ý kiến tán thành tên, bố cục, nội dung: 1.725.000/1.828.585 ý kiến.

Các ý kiến tán thành việc Lời nói đầu trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở kế thừa Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1992. Cách thể hiện theo hướng khái quát, cô đọng hơn về truyền thống, lịch sử đất nước, dân tộc, lịch sử lập hiến và thể hiện mạnh mẽ, cụ thể hơn ý nguyện của nhân dân ta trong việc ban hành và sửa đổi Hiến pháp.

1.2. Số ý kiến không tán thành tên, bố cục, nội dung: 106.583/1.828.585 ý kiến.

Rất nhiều ý kiến đề nghị cần thể hiện Lời nói đầu theo hướng ngắn gọn và súc tích hơn nữa; có ý kiến đề nghị cân nhắc về sự cần thiết phải có Lời nói đầu trong Dự thảo vì nội dung này sẽ được quy định trực tiếp tại các điều62; có ý kiến đề nghị đổi tên Lời nói đầu thành “Lời dẫn”…63

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

– Đa số ý kiến cho rằng Lời nói đầu còn dài, chưa làm nổi bật được mục đích, nhiệm vụ, vai trò của Hiến pháp và chủ thể của Hiến pháp là nhân dân; nên rút ngắn lại, cô đọng và súc tích hơn, lời văn cần trong sáng, mạch lạc hơn, tránh những câu đa nghĩa; không nên liệt kê thành tích, công lao nhiều.64

– Nhiều ý kiến đề nghị sửa, thay thế việc sử dụng các từ, cụm từ trong Lời nói đầu cho chuẩn xác, hợp lý hơn, như: sửa cụm từ “Trải qua mấy nghìn năm lịch sử…” thành “Trải qua hàng nghìn năm lịch sử…”65 hoặc “Trải qua các thời kỳ lịch sử…”66; sửa từ “kiến quốc” thành “xây dựng đất nước”…

– Nhiều ý kiến đề nghị sửa đoạn “Từ năm 1930… Có ý nghĩa lịch sử” và đoạn “dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê nin… thực hiện chủ quyền nhân dân”67. Có ý kiến đề nghị lược bỏ đoạn này.68

– Có ý kiến đề nghị cần khái quát đầy đủ hơn quá trình dựng nước, giữ nước, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng CNXH, khẳng định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định tại Điều 4. Trong đó, nhiều ý kiến đề nghị Dự thảo khẳng định và ghi nhận những mốc lịch sử quan trọng: Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 giải phóng Miền Bắc và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Miền Nam thống nhất Tổ quốc năm 1975 như Hiến pháp 1992.69

– Rất nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung đoạn 5 Lời nói đầu70, ví dụ như: Bổ sung nội dung về phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp như đã từng có trong Hiến pháp năm 1992; hoặc sửa theo hướng: “Nhân dân Việt Nam, với truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, xây dựng và thi hành Hiến pháp…, thông qua Quốc hội để nhân dân ban hành Hiến pháp”; hoặc để khẳng định và đề cao vị trí, vai trò độc tôn với ý nghĩa là đạo luật gốc, cơ bản, xuyên suốt trong hệ thống pháp luật của Hiến pháp, có ý kiến đề nghị chuyển nội dung Điều 123 Dự thảo lên đoạn 5 của Lời nói đầu…

– Có ý kiến đề nghị khẳng định “Mỗi bản Hiến pháp đã tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước”71; đề nghị bổ sung thời điểm đổi tên nước từ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” thành “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” như Hiến pháp năm 1992…72

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-0).

CHƯƠNG I: CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ

1. Tổng số ý kiến góp ý: 1.838.112 ý kiến.

1.1. Các ý kiến góp ý vào các điều của Chương (Điều 1 – Điều 14), trong đó tập trung vào các điều: Điều 1 (105.815 ý kiến), Điều 4 (103.128 ý kiến), Điều 5 (113.793 ý kiến), Điều 6 (94.864 ý kiến), Điều 9 (101.989 ý kiến), Điều 10 (92.464 ý kiến), Điều 11 (107.043 ý kiến).

1.2. Tán thành với tên, nội dung Chương: 15.582/1.838.112 ý kiến.

Các ý kiến tán thành việc Dự thảo đã tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của thể chế chính trị đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), phù hợp với đường lối đối nội và đối ngoại của Đảng; làm rõ và đầy đủ hơn vai trò, vị trí lãnh đạo của Đảng, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, quan điểm về chủ quyền nhân dân theo hướng nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan đại biểu, các cơ quan khác của Nhà nước; có bổ sung yếu tố kiểm soát vào nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước.

Thống nhất với cách viết gọn tên Chương là “Chế độ chính trị” và đưa các quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốc khánh vào Chương I vì đây là những nội dung gắn liền với chế độ chính trị của đất nước.

1.3. Không tán thành với tên, nội dung, bố cục Chương: 1.100/1.838.112 ý kiến.

– Có ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung tên Chương, như: bổ sung thêm cụm từ “dân chủ” nhằm làm rõ hơn bản chất của nhà nước và chế độ; đổi tên chương thành Chương về Chính thể; hoặc đổi tên thành Chương về “Những quy định chung” hay “Những nguyên tắc nền tảng” vì nội dung của Chương không chỉ liên quan đến chế độ chính trị trị mà còn liên quan đến nhiều vấn đề khác…73

– Có ý kiến đề nghị Chương này cần đưa ra những nguyên tắc nền tảng cho xã hội Việt Nam, quốc gia Việt Nam về mọi mặt của đời sống xã hội, chứ không chỉ bó hẹp trong chế độ chính trị. Các quy định tại Chương I cần làm nền tảng cho các quy định ở các chương tiếp theo của Hiến pháp.74

– Một số ý kiến đề nghị thay đổi kết cấu các điều trong Chương75, như: Nên dành một chương nói về nhiệm vụ, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì chỉ có một điều như Điều 476; gộp chung một số điều, khoản để bảo đảm tính hợp lý hoặc viết ngắn gọn như Hiến pháp năm 1992, như: ghép Điều 2 và Điều 6 thành một điều; gộp Điều 106 và khoản 1, Điều 119 vào Điều 9; gộp chung khoản 2 và khoản 3 Điều 4 làm thành một khoản; đưa Điều 6 Dự thảo lên khoản 4 Điều 3; đưa các Điều 11 đến Điều 14 lên sau Điều 3; đưa Điều 11 lên thành khoản 2, 3 của Điều 1; gộp chung Điều 13 và Điều 14 thành một điều… Nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi việc sử dụng một số từ ngữ77 như: bỏ cụm từ “thiểu số” trong cụm từ “các dân tộc thiểu số” (Điều 5), thay từ “tạo điều kiện” bằng từ “trách nhiệm tạo điều kiện” (Điều 5), thay cụm từ “các tổ chức xã hội khác” bằng cụm từ “các tổ chức thành viên của Mặt trận” hoặc “các tổ chức xã hội nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác”, “các đoàn thể chính trị – xã hội” hoặc “các tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp” (Điều 9)…

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

– Nhiều ý kiến đề nghị chuyển từ “độc lập” lên trước từ “dân chủ” tại Điều 1 Dự thảo nhằm khẳng định nền độc lập là điều kiện tiên quyết sau đó mới đến dân chủ78. Nhiều ý kiến đề nghị khẳng định chủ quyền đối với đầy đủ các vùng lãnh thổ, bao gồm: đất liền, vùng biển, vùng trời, hải đảo (đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa), thềm lục địa, lòng đất, vùng nước, vùng lòng đất dưới đáy biển79. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng chỉ quy định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ” là đầy đủ nghĩa.80

– Đa số ý kiến đề nghị chỉ cần quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” tại Điều 2 là đủ81. Một số ý kiến đề nghị thay nội dung “mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” thành “khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.82

Nhiều ý kiến đề nghị nghiên cứu bổ sung, cụ thể hơn về cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong Hiến pháp nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.83

– Tại Điều 4, nhiều ý kiến đề nghị bổ sung Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo duy nhất” để xác định vai trò lãnh đạo của Đảng.84

Nhiều ý kiến cũng đề nghị bổ sung trách nhiệm của Đảng trước dân tộc, nhân dân85; bổ sung các tổ chức Đảng và Đảng viên ngoài việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật thì đều phải chấp hành Điều lệ Đảng86; cụ thể hơn về cơ chế giám sát của nhân dân đối với Đảng…87

– Nhiều ý kiến đề nghị Dự thảo cần quy định rõ khi nào và đối với những vấn đề gì Nhà nước phải thực hiện trưng cầu dân ý88; làm rõ hơn các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và thông qua các cơ quan nào để thực hiện (Điều 6)…89

– Tại Điều 9, Điều 10, nhiều ý kiến góp ý quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong Dự thảo, như: một số ý kiến đề nghị bỏ Điều 10 về Công đoàn90; có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh,… nhằm khẳng định vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị nước ta.91

– Một số ý kiến góp ý về đường lối đối ngoại (Điều 12), việc quy định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, ngày Quốc khánh và Thủ đô (Điều 13 và Điều 14), như: đề nghị quy định rõ tỉ lệ, hình dạng, màu chi tiết của Quốc kỳ, Quốc huy92, nêu rõ tác giả của Quốc ca là nhạc sỹ Văn Cao…93

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-1).

CHƯƠNG II. QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

1. Tổng số ý kiến góp ý về Chương II: 5.634.279 ý kiến.

Các điều, khoản cụ thể nhận được nhiều ý kiến góp ý: Các Điều 15, 16, 17, 18, 21, 22, 24, 26, 27, 30, 32, 46, 50.

1.1. Những nội dung đã được nhất trí

– Các ý kiến góp ý đều nhất trí quyền con người là một trong những giá trị cao quý của nhân loại, đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận trên cả phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Vì vậy, việc ghi nhận những quyền cơ bản của con người và công dân trong Hiến pháp là việc làm cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn lập hiến của Việt Nam, thể chế hóa được chủ trương tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Bên cạnh đó, trong Hiến pháp cần có những quy định về các cơ chế bảo đảm quyền con người và quyền công dân để tạo cơ sở cho các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành cụ thể94.

– Hiến pháp chỉ nên đề cập tới các quyền con người và quyền, nghĩa vụ “cơ bản” của công dân; các quyền và nghĩa vụ cụ thể khác của con người và công dân do luật định.

1.2. Số ý kiến đề nghị bổ sung nội dung mới vào Chương II: 1.538/5.634.279 ý kiến.

– Dự thảo Hiến pháp còn thiếu quy định về một số quyền như: quyền của người cao tuổi, quyền của người khuyết tật, quyền của người thuộc giới tính thứ ba, quyền nghỉ ngơi, quyền được lao động trong môi trường trong lành, quyền giám sát, phản biện xã hội,… nghĩa vụ đối với cộng đồng, nghĩa vụ giữ gìn, bảo vệ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam95.

Có ý kiến đề nghị đề nghị trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 cần giữ lại Điều 66 trong Chương V của Hiến pháp năm 1992 quy định về thanh niên vì thanh niên là lực lượng xã hội to lớn được Đảng và Nhà nước luôn coi trọng và đánh giá cao vị trí, vai trò của thanh niên trong suốt quá trình lịch sử của cách mạng Việt Nam và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc quy định vị trí, vai trò của thanh niên cũng như các cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho thanh niên phát triển là việc làm cần thiết và có ý nghĩa đối với một quốc gia. Đồng thời, đó cũng chính là cơ sở để nhà nước ban hành các chủ trương, chính sách và các quy định pháp luật cho thanh niên96.

– Dự thảo mới đề nghị đến quyền của các cá nhân, chưa tính đến các quyền của tổ chức. Theo kinh nghiệm của Hiến pháp các nước, trong trường hợp quyền của các tổ chức tương tự như quyền của công dân và được thực hiện tương tự thì tổ chức được hưởng các quyền đó.

– Dự thảo cũng còn thiếu những quy định về thiết lập cơ chế bảo vệ và thúc đẩy thực hiện quyền trên thực tế. Đồng thời, cần bổ sung quy định về cơ chế để các quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp có hiệu lực áp dụng trực tiếp97.

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

2.1. Về tên Chương và bố cục của Chương

2.1.1. Tên Chương

Số ý kiến tán thành tên Chương: 4,911,618 lượt ý kiến.

Số ý kiến không tán thành tên Chương: 15 lượt ý kiến98.

Lý do: đề nghị quy định tất cả các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân mà không chỉ giới hạn ở các quyền, nghĩa vụ “cơ bản”.

2.1.2. Về bố cục của Chương

Số ý kiến tán thành: đa số ý kiến đều tán thành với bố cục của Chương.

Một số ý kiến đề nghị sửa đổi: Có ý kiến đề nghị Chương II được chia thành 3 mục: Mục 1 quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc chung của quyền con người, quyền công dân; Mục 2 quy định các quyền con người và các quyền cơ bản của công dân trong 5 lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; Mục 3 quy định các nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tại mục 2 phân định rõ quyền nào là quyền chung cho tất cả mọi người, quyền nào là quyền chỉ của công dân Việt Nam99.

Bên cạnh đó, có ý kiến đề xuất sắp xếp lại vị trí của 38 điều ở Chương II (từ Điều 15 – Điều 52) để thể hiện được tính khoa học (mạch lạc về nội dung, sáng rõ về hình thức) với thứ tự như sau: Điều 15, Điều 20, Điều 18, Điều 19, Điều 16, Điều 17, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 25, Điều 45, Điều 27, Điều 26, Điều 28, Điều 29, Điều 33, Điều 34, Điều 38, Điều 42, Điều 43, Điều 44, Điều 41, Điều 36, Điều 37, Điều 39, Điều 40, Điều 35, Điều 46, Điều 50, Điều 47, Điều 48, Điều 30, Điều 49, Điều 31, Điều 32, Điều 24, Điều 51, Điều 52. Với thứ tự này, nội dung các điều được sắp xếp diễn ra theo hướng: khái quát về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân  mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của công dân  định nghĩa công dân Việt Nam và trách nhiệm của Nhà nước  định nghĩa người Việt Nam định cư ở nước ngoài và trách nhiệm của Nhà nước  các quyền và nghĩa vụ cụ thể của mọi người hoặc công dân trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dân sự  người nước ngoài cư trú ở Việt Nam100.

– Có ý kiến khác đề nghị cần bố cục Chương theo hướng những nội dung quy định về quyền con người ở phần đầu Chương, tiếp theo là các điều về quyền công dân101.

2.1.3. Về vị trí của Chương

Tất cả các ý kiến tham gia đều tán thành với việc xếp Chương quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân lên thành chương thứ hai, theo đó, đã khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, điều này hoàn toàn phù hợp với một xã hội tiến bộ và dân chủ, cũng như bảo đảm được xu thế hội nhập quốc tế, hội nhập khu vực đã và đang diễn ra nhanh chóng102.

2.3. Những đề nghị sửa đổi, bổ sung cụ thể: 194.618 lượt ý kiến.

Do quyền con người và quyền công dân là đa dạng phong phú, liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, việc đưa các nội dung liên quan đến vấn đề quyền con người và quyền công dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tập trung đề xuất sửa đổi, bổ sung vào những nội dung chính sau:

(1) Các quyền cơ bản được quy định trong Hiến pháp cần phù hợp với các tiêu chuẩn phổ cập, các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, có cân nhắc tới các điều ước quốc tế đa phương khác mà Việt Nam đang hướng tới tham gia như Tuyên bố về quyền con người của Liên hợp quốc (UNHR), Công ước về các quyền dân sự chính trị (ICCPR), Công ước về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội (ICESCR)…103 (ví dụ: Điều 15 bổ sung khoản 3 bằng việc sửa đổi khoản 2 Điều 16, Điều 17, Điều 21, Điều 22, Điều 29, Điều 32, Điều 42…).

(2) Các quyền con người, quyền công dân cần được phân định rõ ràng, tách bạch, cần được sắp xếp theo trật tự nhất định, bảo đảm tính xuyên suốt, bố cục quyền con người trước (Điều 17, 21, 22, 23, 25, 31, 32, 33, 34, 37, 43, 44, 46) đến quyền công dân (Điều 18, 24, 26, 28, 29, 30, 35, 36, 38, 39, 41, 42, 45). Cân nhắc sắp xếp theo từng nhóm quyền về chính trị (Điều 17, 18, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 28, 29, 30, 31, 32, 37, 39, 52), về dân sự, kinh tế, văn hóa (Điều 33, 34, 35, 36, 38, 41, 42, 43, 44, 45, 46)104.

(3) Về nguyên tắc trao quyền và hạn chế quyền cũng như mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ: Các ý kiến đều khẳng định việc trao quyền có thể được quy định trong Hiến pháp và pháp luật, còn việc hạn chế các quyền phải do Hiến pháp và luật quy định. Việc hạn chế đó nên được quy định đối với từng quyền cụ thể, không nên quy định chung về việc hạn chế. Nội dung này đòi hỏi phải chỉnh sửa các quy định tại Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 24. Trong khi đó, có một số ý kiến cho rằng quyền không đồng thời là nghĩa vụ, việc xác định quan hệ quyền và nghĩa vụ phải được đặt trong một mối quan hệ cụ thể. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân nên hiểu ở nghĩa: cùng với việc hưởng các quyền, công dân phải gánh vác các nghĩa vụ. Đây là mối quan hệ tương hỗ về quyền, nghĩa vụ giữa công dân với xã hội, với Nhà nước và giữa Nhà nước với công dân, chẳng hạn như Điều 42105.

(4) Quy định về quyền trưng cầu dân ý chưa thể hiện được quyền công dân. Đã là quyền thì công dân có quyền yêu cầu tổ chức trưng cầu dân ý và được trưng cầu dân ý trong những trường hợp hiến định, luật định, không phải khi Nhà nước tổ chức mới có quyền. Đề nghị bổ sung “quyền phúc quyết của nhân dân” đối với Hiến pháp và các vấn đề trọng đại của đất nước, xác lập nguyên tắc các vấn đề trọng đại nhất thiết phải đưa ra cho nhân dân phúc quyết để làm cơ sở xây dựng một đạo luật quy định cụ thể cách thức, trình tự, thủ tục thực hiện quyền phúc quyết của toàn dân (Điều 28, Điều 30). Nhiều ý kiến đề nghị ghép Điều 28 và Điều 30 thành một điều chung quy định về các quyền về dân chủ trực tiếp như quyền bầu cử, quyền lấy ý kiến, trưng cầu dân ý và quyền phúc quyết106. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị bổ sung một điều riêng quy định việc trưng cầu ý dân và điều này cần được nhanh chóng cụ thể hóa trong một đạo luật của Quốc hội107.

(5) Cần làm rõ hơn một số quyền, ví dụ về quyền sống và quy định về quyền sống phải đưa đưa lên vị trí đầu tiên trong các quyền cơ bản của con người và khẳng định khái niệm bình đẳng đối với mọi giới không chỉ giới hạn ở giới nam và nữ (Điều 17, 21, 22, 24, 27, 29 và Điều 32)108.

(6) Đề nghị bổ sung một điều quy định về thiết chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người (có thể là Ủy ban về quyền con người thuộc Quốc hội) vì chế định này rất cần thiết để quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bảo vệ và được đảm bảo thực hiện trên thực tế. Việc bổ sung này phù hợp với thông lệ quốc tế109.

(7) Các quyền tương tự nhau, trùng lặp nhau cần được khái quát, gom lại. Các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa được quy định tại Chương II thì Chương III Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 cũng có một số quy định liên quan tới vấn đề này như khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 61. Những quy định này cần được nghiên cứu để kết hợp lại cho tránh sự trùng lặp (ví dụ: khoản 1 Điều 56 có thể gộp với Điều 34; khoản 1 Điều 61 có thể gộp với Điều 38…)110.

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-2).

CHƯƠNG III: KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA, GIÁO DỤC, KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG

1. Tổng số ý kiến góp ý: 1.941.553 lượt ý kiến.

Các ý kiến góp ý tập trung vào vấn đề liên quan đến vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế (242.857 ý kiến), vấn đề về bảo vệ quyền tài sản (100.000 ý kiến) và quản lý, sử dụng đất đai (285.714 ý kiến), vấn đề về văn hóa, khoa học, công nghệ và môi trường (373.334 ý kiến).

Có 1.934.053/1.941.553 ý kiến đồng ý với bố cục, cấu trúc của dự thảo Hiến pháp.

Có 7.500/1.941.553 ý kiến đề nghị sửa tên Chương III vì chưa bao quát hết các lĩnh vực, theo đó cần bổ sung từ “y tế” sau từ “văn hóa”, bổ sung từ “tài nguyên” vào sau từ “công nghệ” hoặc đổi tên chương thành “Kinh tế – xã hội” để bao hàm được đầy đủ các nội dung được quy định tại Chương này và một số quy định trong Chương III còn có sự trùng lặp giữa quyền con người, quyền công dân (ví dụ: quyền lao động, quyền tự do kinh doanh), vì vậy cần nghiên cứu để cấu trúc lại cho hợp lý.111

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

2.1. Về vai trò của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân (Điều 54)

Đa số ý kiến tán thành với quy định của Hiến pháp về vấn đề này112. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị cần tiếp tục liệt kê các thành phần kinh tế và xác định vai trò nền tảng, chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước nhằm phù hợp với Nghị quyết Đại hội Đảng và thực trạng hiện nay của nền kinh tế nước ta113. Ngoài ra, có ý kiến đề nghị cân nhắc bỏ cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” tại khoản 1, vì nước ta hiện đang trong quá trình đề nghị các quốc gia công nhận là nền kinh tế thị trường114. Một số ý kiến khác đề nghị bỏ từ “lâu dài” tại khoản 2, vì sự tồn tại của các thành phần kinh tế là khách quan, đồng thời cần nhấn mạnh hơn nữa vai trò của Nhà nước trong điều hành nền kinh tế đất nước.115.

2.2. Về bảo vệ quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân (Điều 56)

Đa số ý kiến tán thành với dự thảo Hiến pháp116. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị sửa đổi, ví dụ như:

– Dự thảo Hiến pháp không nên quy định “Nhà nước thực hiện chính sách chống độc quyền”, vì trong nền kinh tế thị trường, có những hình thức độc quyền là cần thiết do chính bản thân Nhà nước thực hiện và để thực hiện các mục đích công hoặc hình thức độc quyền kinh doanh và khai thác kết quả của sở hữu trí tuệ. Mặt khác, hoạt động “chống độc quyền” chỉ là một nội dung của khái niệm “hạn chế cạnh tranh” theo Luật Cạnh tranh.117

– Khoản 3 Điều 56 mâu thuẫn với khoản 3 Điều 58 vì cùng là tài sản được pháp luật thừa nhận và bảo hộ, nhưng về bồi thường lại quy định khác nhau (khoản 3 Điều 56 quy định tài sản được Nhà nước trưng mua, trưng dụng thì được bồi thường theo giá thị trường, trong khi tại khoản 3 Điều 58 quy định tài sản là quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi thì bồi thường theo quy định của pháp luật).118

2.3. Về quản lý, sử dụng đất đai (Điều 58)

Đa số ý kiến tán thành với dự thảo Hiến pháp. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi cụ thể là: Đề nghị bỏ trường hợp Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân và bồi thường theo quy định của pháp luật vì lý do “các dự án phát triển kinh tế – xã hội”. Quy định như dự thảo Hiến pháp rất dễ bị lạm dụng, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Thực tiễn cho thấy, những bất ổn, khiếu nại, khiếu kiện đồng người phần lớn xuất phát từ cơ chế bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Do đó, đối với các dự án phát triển – kinh tế (khoản 3 Điều 58 Dự thảo) nên quy định theo hướng các chủ đầu tư dự án phải thương lượng với người sử dụng đất theo nguyên tắc thỏa thuận, có đền bù theo giá thị trường. Còn đối với các trường hợp khác thì Nhà nước bắt buộc người sử dụng đất chuyển nhượng theo giá thị trường. Quy định như vậy cũng để thống nhất với khoản 3 Điều 56 Dự thảo.119

2.4. Về vấn đề y tế, an sinh xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa và môi trường

– Đa số ý kiến tán thành quy định về y tế (Điều 62 Dự thảo). Các ý kiến khác đề nghị sửa đổi theo hướng diễn đạt ngắn gọn hơn, bên cạnh bà mẹ, trẻ em, cần mở rộng đối tượng được ưu tiên chăm sóc sức khỏe như người cao tuổi, người khuyết tật.120 Cũng có ý kiến cho rằng chỉ nên quy định những định hướng cơ bản của nền y tế, các chính sách cụ thể nên quy định tại các luật.121

– Đa số ý kiến tán thành quy định về chính sách an sinh xã hội (Điều 63 Dự thảo). Nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung theo hướng cần kế thừa và bổ sung Điều 67 của Hiến pháp năm 1992 để khẳng định hơn nữa sự quan tâm của nhà nước đối với người có công với nước, với cách mạng và gia đình họ nhất là trong giai đoạn hiện nay;122 quy định rõ Nhà nước có trách nhiệm phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng;123 bổ sung thêm các đối tượng được hưởng chế độ an sinh xã hội như người lang thang, người không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, nhiều ý kiến đề nghị bổ sung đối tượng là nạn nhân chất độc màu da cam đioxin” bởi lẽ hậu quả này còn kéo dài nhiều năm, nhiều thế hệ.124

– Đa số ý kiến tán thành quy định về vấn đề văn hóa (Điều 64 Dự thảo). Tuy nhiên, có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, ví dụ như: Bổ sung cụm từ “và mục tiêu” vào sau cụm từ “Văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực” cho phù hợp với tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), bỏ cụm từ “nhân văn, dân chủ, tiến bộ” vì nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã bao hàm luôn tính “nhân văn, dân chủ, tiến bộ” tại khoản 1 Điều 64 và sửa lại như sau: “Văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu phát triển đất nước”125. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng cần tách nội dung quy định về phương tiện thông tin đại chúng tại khoản 2 thành môt điều riêng vì phát triển thông tin đại chúng còn nhằm để bảo đảm quyền được thông tin của công dân quy định tai Điều 26 Dự thảo chứ không phải chỉ nhằm mục đích phát triển văn hóa126. Cũng có ý kiến cho rằng điều này quá dài, chưa rõ chủ thể của việc xây dưng, phát triển” là ai, nên được thể hiện ngắn gọn hơn.127

– Đa số ý kiến tán thành quy định về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ (Điều 65 Dự thảo), tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị để khẳng định vị trí quan trọng của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, nên bổ sung quy định “Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ”128 và trách nhiệm của xã hội, của mọi công dân trong việc phát triển triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ vì đã từ lâu Hiến pháp quy định “Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” nhưng dường như mọi người chỉ xem đó là khẩu hiệu hoặc đó là trách nhiệm của Nhà nước, không liên quan đến trách nhiệm của mình. Hiến pháp cần xác định rõ để tác động được đến quảng đại quần chúng.129

– Quy định về giáo dục tại Điều 66 Dự thảo có 95.000 ý kiến/286.000 tán thành. Nhiều ý kiến đề nghị quy định chung hơn về mục tiêu giáo dục như không nên quy định đào tạo “người lao động có nghề” mà nên quy định”có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp” hoặc “có chuyên môn nghề nghiệp”130; không quy định rõ loại hình giáo dục dễ dẫn đến lạc hậu, song cần nhấn mạnh vai trò của giáo dục công lập.131 Để làm rõ sự nhất quán của Nhà nước trong việc ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn nhằm xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội, giữ gìn an ninh quốc gia, thực hiện công bằng giáo dục, nên quy đinh “ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn khác”. Mặt khác quy định “ưu tiên bảo đảm phát triển” còn cho thấy rõ cam kết việc thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc hiệt khó khăn khác. Việc bỏ quy định phổ cập giáo dục trong Hiến pháp và để luật quy định là không phù hợp, cần quy định rõ vấn đề phổ cập giáo dục ngay trong Hiến pháp và quy định giáo dục miễn phí đến cấp học nào132. Có ý kiến đề nghị cần khẳng định giáo dục phổ cập là bắt buộc và được miễn phí.133

– Đa số ý kiến tán thành quy định về vấn đề khoa học và công nghệ tại Điều 67 Dự thảo. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị sửa đổi, ví dụ như: Tại khoản 1 Điều 67, nếu phát triển khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay chỉ với mục tiêu “nhằm nâng cao trình độ quản lý” là không tương xứng với xu thế và tốc độ phát triển chung của nhân loại, không thỏa đáng với nhu cầu và sự quan tâm của xã hội. Vì vậy, đề nghị ngoài mục tiêu trên, cần đặt vấn đề gắn trách nhiệm cho khoa học và công nghệ với nhiệm vụ khác nữa là “nâng cao năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh”, như thế mới đáp ứng được sự kỳ vọng của xã hội và đủ động lực để thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ; bổ sung thêm từ “tri thức” trước cụm từ “trình độ quản lý, phát triển văn hóa…”; nên thay cụm từ “then chốt, là động lực” bằng cụm từ “là nền tảng”; bỏ cụm từ “ giữ vai trò then chốt” , không cần thiết; thay cụm từ “then chốt” bằng cụm từ “hàng đầu”134. Bổ sung quy định Nhà nước có chính sách “khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ; bảo đảm quyền tự do nghiên cứu và sáng tạo khoa học, công nghệ”, “ưu đãi đối với đồng bào đang sinh sống tại nước ngoài tham gia nghiên cứu khoa học”, “bảo hộ lợi ích của người nghiên cứu và sáng tạo khoa học công nghệ” để thể hiện chính sách xã hội hóa khoa học – công nghệ và thu hút nhân tài trong lĩnh vực khoa học công nghệ.135

– Đa số ý kiến tán thành quy định về vấn đề môi trường (Điều 68 Dự thảo). Tuy nhiên, cũng còn ý kiến đề nghị sửa đổi, ví dụ như: Sửa đổi khoản 1 Điều 68 như sau: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân”136; bổ sung chữ “tài nguyên” trước từ “môi trường”137 hoặc bổ sung nhiệm vụ phòng tránh giảm nhẹ thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu cũng là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân”138; Đề nghị thay cụm từ “nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại” bằng cụm cụm từ “theo quy định của pháp luật” như sau: “Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên, thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý theo quy định của pháp luật”.139

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-3).

CHƯƠNG IV: BẢO VỆ TỔ QUỐC

Tổng số ý kiến góp ý: 433.008 lượt ý kiến.

Các ý kiến tập trung khá đồng đều vào từng điều của Chương đặc biệt là các điều từ 69 đến 72 của Chương IV: Điều 69 (120.980 ý kiến); Điều 70 (122.987 ý kiến); Điều 71 (80.287 ý kiến).

1.1. Số ý kiến tán thành tên, nội dung Chương: 238.560/433.008 ý kiến.

– Về cơ bản, các ý kiến tán thành với tên Chương, vì đã kế thừa Hiến pháp năm 1992, sắp xếp nội dung các điều một cách khoa học, ngắn gọn và nổi bật là bổ sung nội dung thực hiện nghĩa vụ quốc tế của lực lượng vũ trang nhân dân140.

– Về nội dung Chương, đa số các ý kiến thống nhất141. Các ý kiến đánh giá nội dung Dự thảo được xây dựng phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 12/7/2011 Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI về việc: “Tiếp tục khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Tăng cường quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là nòng cốt. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”.

Các quy định về quốc phòng, an ninh trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp về tổng thể đã xác định rõ về mặt pháp lý vai trò, trách nhiệm của quân đội nhân dân và công an nhân dân trong việc đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia được quy định rõ ràng hơn142. Dự thảo đã đảm bảo được tính kế thừa hợp lý những nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992, đồng thời đã đưa vào nhiều nội dung mới quan trọng như nội dung quy định nhiệm vụ của lực lượng vũ trang có thể thực hiện nhiệm vụ quốc tế, cụ thể hóa những vấn đề trước kia chưa rõ ràng để đáp ứng được những đòi hỏi của tình hình thực tiễn, thể chế hóa kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng. Các nội dung qui định đã phản ánh đầy đủ và chính xác các nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc.143

1.2. Số ý kiến không tán thành tên, nội dung Chương: 289/433.008 ý kiến.

– Một số ý kiến đề nghị giữ nguyên tên Chương như Hiến pháp năm 1992 là: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”144. Lý do: Để khẳng định rõ ràng mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thể hiện niềm tự hào dân tộc.145

– Có một số ý kiến cho rằng, Dự thảo đã bỏ đi một nội dung quan trọng thể hiện bản chất và phương châm hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là tính nhân dân và dựa vào dân. Lý do: Một nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992 quy định là: “kết hợp sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân với sức mạnh của toàn dân” (Điều 46 Hiến pháp năm 1992), “Lực lượng Công an nhân dân dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội (Điều 47 Hiến pháp năm 1992), nhưng Dự thảo đã bỏ nội dung này. Đề nghị giữ lại nội dung trên trong Dự thảo146.

1.3. Số ý kiến đề nghị sửa đổi tên, nội dung Chương: 295.359/433.008 ý kiến.

– Đổi tên chương thành: An ninh và Quốc phòng hoặc Bảo vệ Tổ quốc và An ninh Quốc gia147

Lý do: Vẫn có sự lúng túng, lẫn lộn, thiếu nhất quán trong việc sử dụng 3 khái niệm: bảo vệ Tổ quốc, quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia. Chẳng hạn tên gọi của Chương IV là Bảo vệ Tổ quốc, nhưng nội dung các Điều 69-73 lại phân biệt thành hai lĩnh vực là bảo vệ tổ quốc và giữ vững (Điều 69)/bảo vệ (Điều 72) an ninh quốc gia. Nếu phân biệt thành 2 lĩnh vực là quốc phòng và an ninh, thì nên thay đổi tên gọi của Chương IV.148

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

Về xác định sự nghiệp và trách nhiệm bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đa số các ý kiến cho rằng Điều 69 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã thể hiện được nhiệm vụ và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và thực hiện vai trò của quốc gia trong bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị, bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự xã hội cần được thể chế rõ hơn trong Hiến pháp nhằm đáp ứng các đòi hỏi của thực tế hiện nay149; trách nhiệm bảo vệ tổ quốc, bảo vệ an ninh trật tự cần được xác định là sự nghiệp của toàn đảng, toàn quân, nhà nước và nhân dân150; vấn đề kết hợp sức mạnh quốc gia với sức mạnh quốc tế, hợp tác quốc tế trong bảo vệ tổ quốc và an ninh cần được cân nhắc đến trong giai đoạn hiện nay.151

Trách nhiệm và sự trung thành của lực lượng vũ trang đối với tổ quốc, nhân dân và Đảng là vấn đề quan trọng đã được khẳng định trong Hiến pháp. Đại đa số các ý kiến tại các cơ quan, đơn vị và ý kiến cá nhân đồng tình với việc thể chế sự trung thành của quân đội nhân dân và công an nhân dân đối với tổ quốc, nhân dân và Đảng cộng sản trong các Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Dự thảo.152 Một số ý kiến đề nghị làm rõ nét, sâu sắc hơn nữa hơn sự trung thành tuyệt đối của lực lượng vũ trang đối với Nhà nước, đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.153 Bên cạnh đó, có nhiều ý kiến thuộc các bộ, ngành, địa phương cho rằng nên thay đổi trật tự các cụm từ như sau “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Đảng cộng sản Việt Nam”154 hoặc “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân”155 vì Đảng hoạt động trên nền tảng của Tổ quốc và nhân dân, phục vụ lợi ích của tổ quốc và nhân dân, tổ quốc cần được đặt lên vị trí cao nhất và trang trọng nhất. Một số ý kiến cá nhân đề nghị giữ nguyên quy định cũ của Hiến pháp năm 1992 hoặc không đưa nội dung liên quan đến “Đảng Cộng sản Việt Nam” trong các điều này vì đã được thể hiện và đảm bảo thông qua Điều 4 và các cơ chế khác trong Hiến pháp.156

Một số ý kiến đề cần định danh rõ “lực lượng vũ trang” gồm có quân đội nhân dân và công an nhân dân157 và đề nghị định hướng xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân đi thẳng lên hiện đại sau giai đoạn phát triển vừa qua.158

Dự thảo cần thể hiện sâu sắc và đầy đủ hơn chính sách cơ bản về an ninh quốc phòng, hậu phương quân đội, hậu phương công an; phương hướng kết hợp an ninh – quốc phòng với phát triển kinh tế – xã hội159; phát triển công nghiệp quốc phòng và công nghiệp an ninh.160

Nhiều kiến nghị cụ thể được đưa ra nhằm cụ thể hóa các kiến nghị đã nêu, một số kiến nghị đưa ra các phương án cụ thể cho từng điều khoản.

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-4).

CHƯƠNG V: QUỐC HỘI

1. Tổng số ý kiến góp ý: 1.517.335 lượt ý kiến.

Các ý kiến tập trung vào các điều sau đây Điều 74 (180,383 ý kiến); Điều Điều 75 (250,382 ý kiến), Điều 79 (217,950 ý kiến), Điều 81 (69,028 ý kiến), Điều 84 (90,293 ý kiến).

1.1. Số ý kiến tán thành tên, nội dung Chương: 1.517.335/1.517.335 ý kiến.

1.2. Số ý kiến không tán thành tên, nội dung Chương: 00/1.517.335 ý kiến.

1.3. Số ý kiến đề nghị sửa đổi tên, nội dung Chương: 490.783/1.517.335 ý kiến.

Đề nghị đổi tên Chương thành “Hệ thống lập pháp”, trong đó bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; đồng thời chuyển nội dung quy định về Hội đồng nhân dân các cấp tại Chương IX vào Chương này161 (15 ý kiến).

1.4. Số ý kiến đề nghị bổ sung nội dung mới vào Chương: 57.208/1.517.335 ý kiến.

+ Đề nghị trao cho Quốc hội quyền “Cho phép chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện thí điểm những chủ trương, chính sách chưa được quy định trong luật”162, “Quốc hội quyết định việc điều động lực lượng vũ trang ra nước ngoài hoạt động và việc rút lực lượng vũ trang về nước”163.

+ Đề nghị trao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội164 hoặc Chủ tịch nước165 quyền quyết định thay cho Quốc hội một số vấn đề quan trọng như: tuyên bố tình trạng chiến tranh,… khi Quốc hội không họp được.

+ Đề nghị thành lập Uỷ ban Phòng, chống tham nhũng Trung ương trực thuộc Quốc hội giúp Quốc hội thực hiện chức năng phòng chống tham nhũng166.

+ Đề nghị bổ sung thẩm quyền của Quốc hội thành lập Tòa án đặc biệt167.

+ Đề nghị bổ sung nội dung mới: “Lấy ý kiến và phiếu tín nhiệm của cử tri nơi bầu đại biểu Quốc hội khi đại biểu Quốc hội có những hành vi gây bức xúc trong dư luận để Quốc hội xem xét, bãi miễn tư cách đại biểu Quốc hội”168.

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

Các ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, địa phương đều nhất trí với tên gọi của Chương V: Quốc hội như trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.Các nội dung cơ bản của Chương V được sự nhất trí và đồng tình cao trong các Bộ, ngành và địa phương.

Nội dung Chương V quy định về Quốc hội trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, khẳng định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Việc quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không mâu thuẫn với nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; vị trí, vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội được quy định rõ ràng. Dự thảo đã quy rõ hơn, khả thi và phù hợp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa quyền quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước để xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ.

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành, địa phương đều có những góp ý, đề xuất đối với các nội dung của Chương. Nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã triển khai rộng rãi trong địa phương và thu hút được hàng trăm ngàn ý kiến đóng góp đối với Dự thảo Hiến pháp từ các cơ quan, đơn vị, tổ chức và nhân dân và tổng hợp vào văn bản góp ý về chương V thể hiện mức độ đồng tình cao với Dự thảo Hiến pháp.

Các ý kiến góp ý về Chương V tập trung vào những nội dung lớn sau đây:

2.1. Vị trí và chức năng của Quốc hội

Đa số thể hiện sự đồng tình đối với Dự thảo trong quy định về vị trí, tính chất và chức năng của Quốc hội với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước, thực hiện các quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; bên cạnh đó, nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc điều chỉnh theo các hướng sau:

– Vị trí, chức năng của Quốc hội cần đặt trong mối quan hệ với quyền lực nhân dân và nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước. Vì vậy, nhất trí quy định Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân nhưng cần cân nhắc khi ghi nhận Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhà nước.169 Đề nghị xem xét khẳng định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước”170. Một số ý kiến kiến nghị sửa quy định của Điều 74 Dự thảo cần thể hiện rõ hơn mối quan hệ mật thiết, gắn bó và trách nhiệm giữa Quốc hội với nhân dân171.

– Về quyền lập hiến, lập pháp của Quốc hội, phần lớn các ý kiến đều đồng tình với dự thảo. Một số ý kiến đề nghị cân nhắc việc ghi nhận quyền lập hiến của Quốc hội trong mối quan hệ với quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân172. Có ý kiến đề nghị quy định quyền lập hiến thuộc về nhân dân173. Một số ý kiến đề nghị nêu rõ Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp174.

Đối với chức năng lập pháp của Quốc hội, cần thể hiện rõ Quốc hội là cơ quan thông qua175 luật/xây dựng176/ban hành177 luật chứ không phải cơ quan duy nhất làm luật178. Thẩm quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cần được thể hiện rõ trong Hiến pháp179.

2.2. Phân định chức năng, thẩm quyền và mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ

Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ theo nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực cần phải thể hiện rõ trong việc xác định thẩm quyền và trách nhiệm của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội liên quan đến các thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước đặc biệt là về chính sách, kinh tế, xã hội và ngân sách nhằm tôn trọng sự độc lập tương đối và tính chủ động trong việc thực hiện chức năng hành pháp của Chính phủ và phân công rành mạch giữa Quốc hội với Chính phủ. Nếu những quy định của Hiến pháp không rõ ràng có thể dẫn đến việc Quốc hội quyết định những vấn đề sang phạm vi của hành pháp về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và mất đi sự chủ động và trách nhiệm của Chính phủ trong điều hành đất nước.

Đề nghị quy định rõ hơn về thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia như mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách phát triển kinh tế xã hội lớn… tạo cơ sở cho việc thực hiện của Chính phủ, đồng thời đảm bảo nguyên tắc Quốc hội quyết định chính sách còn Chính phủ là cơ quan thực hiện180. Quy định theo hướng Quốc hội chỉ quyết định những nguyên tắc cơ bản về phát triển kinh tế – xã hội làm cơ sở để Chính phủ quyết định các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ cụ thể 181. Dự thảo quy định “Quốc hội quyết định chính sách tiền tệ quốc gia”, quy định này hạn chế tính chủ động của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt trong giai đoạn hiện nay182.

Cần rà soát, điều chỉnh lại các quy định của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp về quyền kiểm soát của Quốc hội đối với Chính phủ theo hướng bảo đảm tính chủ động, linh hoạt cần thiết cho Chính phủ trong quản lý, điều hành các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối nội, đối ngoại của đất nước và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế183.

2.3. Một số nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội cần được cân nhắc hoặc điều chỉnh

– Đề nghị cân nhắc bỏ quy định thẩm quyền “phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức…Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”184. Bởi đây là các chức danh chuyên môn và nên để Chủ tịch nước được quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao185 và cần thống nhất hóa thủ tục bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao186, do đó, đề nghị sửa đổi theo hướng quy định cùng một trình tự, thẩm quyền bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm đối với các chức danh pháp lý Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao187.

– Việc quy định và phân định thẩm quyền giữa Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính địa phương trong Dự thảo Hiến pháp chưa hợp lý có thể dẫn đến tình trạng thành lập, sáp nhập một cách dễ dãi và khó kiểm soát đối với các đơn vị hành chính ở địa phương đồng thời tạo gánh nặng công việc lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Vì vậy, đề nghị quy định toàn bộ thẩm quyền điều chỉnh địa giới hành chính địa phương cho Quốc hội 188. Một số ý kiến cho rằng quy định như Điều 79 Dự thảo sẽ tạo gánh nặng công việc rất lớn cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội189 hoặc kiến nghị nên trao quyền này cho Chính phủ190. Nhiều ý kiến đề nghị bổ sung các quy định Quốc hội có quyền thành lập, sáp nhập, giải thể đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt”191.

– Về thẩm quyền phê chuẩn việc ký kết, tham gia các điều ước quốc tế và giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế của Quốc hội cần nghiên cứu điều chỉnh:

+ Tăng cường vai trò của Quốc hội đối với những vấn đề lớn, quan trọng của đất nước, tăng cường kiểm soát của Quốc hội đối với công tác ký kết, tham gia hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế (ví dụ như phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn, gia nhập hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế về hòa bình, an ninh, biên giới lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tham gia tổ chức quốc tế phổ cập, tổ chức khu vực quan trọng, điều ước quốc tế đòi hỏi sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành luật, hoặc làm phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng)192.

Cần quy định rõ các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩn hoặc bãi bỏ của Quốc hội, đó là các điều ước quốc tế về chiến tranh và hòa bình, các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tư cách thành viên của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực, thương mại quốc tế193.

+ Tránh việc sẽ tạo gánh nặng công việc quá mức cho Quốc hội trong điều kiện Quốc hội không làm việc thường xuyên và gây chậm trễ trong công tác đối ngoại của nhà nước194. Một số ý kiến kiến nghị quy định rõ quyền hạn giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế của Quốc hội.

– Thẩm quyền của Quốc hội trong thành lập, giám sát, quy định tổ chức và hoạt động, quyết định nhân sự đối với Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập195. Cần nghiên cứu bổ sung quyền của Quốc hội thành lập Tòa án đặc biệt196. Có một số ý kiến không tán thành thành lập Hội đồng Hiến pháp197.

2.4. Về cơ cấu tổ chức của Quốc hội

– Cần minh định rõ vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nhiều ý kiến đề nghị bỏ hoặc hạn chế198 thẩm quyền ban hành pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội199; đề nghị thay từ “ra pháp lệnh” bằng từ “ban hành pháp lệnh”200.

+ Đề nghị điều chỉnh lại mối quan hệ giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đặc biệt cân nhắc sửa đổi hoặc bỏ quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong hướng dẫn, giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân, bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh (hiện không phù hợp với chức năng của cơ quan này)201, đề nghị chỉ giữ lại quyền hạn, nhiệm vụ của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc “giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân”, còn các nhiệm vụ, quyền hạn khác như “hướng dẫn hoạt động, bãi bỏ nghị quyết, giải tán Hội đồng nhân dân…” đề nghị giao cho Chính phủ thực hiện202. Chức năng giải thích Hiến pháp, luật nên trao cho Hội đồng Hiến pháp203.

– Tổ chức của các cơ quan của Quốc hội về cơ bản được nhất trí cao tuy nhiên có ý kiến đề nghị bỏ quy định tại Điều 80 của Dự thảo204 hoặc giữ nguyên như quy định của Điều 94 Hiến pháp hiện hành205, vì Hội đồng dân tộc của Quốc hội cũng giống như các Ủy ban khác của Quốc hội nên không cần quy định thành điều riêng và nên đặt tên là Ủy ban Dân tộc (của Quốc hội)206.

Cần làm rõ về trật tự hình thành và tiêu chuẩn thành viên của các cơ quan này trong Hiến pháp như đề nghị phê chuẩn các phó chủ tịch, thành viên của Hội đồng Dân tộc207 và các Ủy ban của Quốc hội như “các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chủ nhiệm Ủy ban”208”. Có ý kiến đề nghị giữ nguyên như quy định hiện nay209 đồng thời có ý kiến đề xuất ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội bầu các ủy viên của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội 210.

– Cần xác định rõ những vấn đề nào do Hiến pháp quy định, còn những vấn đề cụ thể khác do luật quy định (nên cân nhắc về mức độ cụ thể hóa trong các Điều từ 77 đến Điều 85)211.

2.5. Về đại biểu Quốc hội

Các ý kiến đề nghị làm rõ và sâu sắc hơn vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội trong mối liên hệ với nhân dân và các cơ quan, tổ chức hữu quan212 như: thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân và cử tri, chịu sự giám sát của nhân dân và cử tri; trả lời yêu cầu và kiến nghị của nhân dân và cử tri213; theo dõi, đôn đốc cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại214, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo”215.

Nhiều ý kiến đề nghị quy định rõ về tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách216 quy định về nguyên tắc kiêm nhiệm217, số đại biểu chuyên trách không dưới 50% số đại biểu Quốc hội 218 hoặc “Số thành viên Chính phủ chỉ được chiếm tối đa 1/3 trong tổng số thành viên của Quốc hội”219. Đề nghị bổ sung một khoản vào Điều 84: “Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách hoặc kiêm nhiệm. Số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định220 hoặc theo luật định”221.

Có ý kiến đề nghị cần đưa tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách vào Dự thảo Hiến pháp, Đề nghị quy định đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách222 nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và độc lập của cơ quan này223 như: “Đại biểu quốc hội phải là chuyên trách, không kiêm nhiệm, khi trúng cử đại biểu Quốc hội thì không giữ chức vụ trong chính quyền”224. Với vai trò ngày càng được nâng cao, nhiệm vụ ngày càng nhiều như hiện nay đòi hỏi các đại biểu Quốc Hội phải hoạt động chuyên trách, không được kiêm nhiệm những chức danh của cơ quan hành pháp, tư pháp”225 mới có thể hoàn thành trách nhiệm của mình226, khi hoạt động kiêm nhiệm thì vai trò giám sát sẽ không cao vì vừa đá bóng, vừa thổi còi227.

2.6. Kỹ thuật lập hiến

Nhiều ý kiến đóng góp chi tiết vào kỹ thuật lập hiến, trình bày và cơ cấu các điều khoản của Chương được tổng hợp chi tiết trong Phụ lục của Báo cáo.

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-5).

CHƯƠNG VI: CHỦ TỊCH NƯỚC

1. Tổng số ý kiến góp ý: 725.640 lượt ý kiến

Tổng số có 725.640 lượt ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức và cá nhân vào Chương VI, trong đó: các ý kiến góp ý vào Điều 91 (95.750 ý kiến) Điều 92 (89.965 ý kiến); Điều 93 (121.081 ý kiến), Điều 94 (75.705 ý kiến), Điều 95 (86.727 ý kiến), Điều 96 (79.565 ý kiến), Điều 97 (83.798 ý kiến) và Điều 98 (93.049 ý kiến).

1.1. Số ý kiến tán thành tên, nội dung Chương: Đa số các ý kiến đều tán thành tên Chương.

1.2. Số ý kiến không tán thành tên, nội dung Chương:

Có ý kiến cho rằng chế định về Chủ tịch nước không nên thay đổi để không phải sửa đổi, bổ sung các luật chuyên ngành228.

1.3. Số ý kiến đề nghị bổ sung nội dung mới vào Chương

– Đề nghị bổ sung quy định về Hội đồng tư pháp quốc gia để giúp Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến cơ quan tư pháp, điều hòa, phối hợp hoạt động tư pháp, hành pháp229.

– Đề nghị bổ sung quyền của Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét lại đạo luật chưa đảm bảo tính khả thi230.

– Đề nghị bổ sung quy định: Chủ tịch nước, trong thời gian Quốc hội không họp, theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ và phê chuẩn của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có quyền tạm đình chỉ công tác của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm người giữ quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cho đến khi Quốc hội họp231

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

– Về địa vị pháp lý của Chủ tịch nước (Điều 91) (95.750 ý kiến)

Đề nghị quy định “Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội, đối ngoại”232; là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội, đối ngoại, thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh”233; đề nghị quy định Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam234, quy định rõ vai trò của Tổng bí thư Đảng và quan hệ phối hợp công việc giữa Chủ tịch nước và Tổng Bí thư235.

– Về việc bầu chức danh Chủ tịch nước, trách nhiệm, nhiệm kỳ của Chủ tịch nước (Điều 92) (89.965 ý kiến)

+ Đề nghị quy định: “Chủ tịch nước do nhân dân bầu trong số đại biểu Quốc hội”236. Quốc hội giới thiệu danh sách 3 ứng cử viên để các đại biểu Quốc hội tiến hành bầu 01 ứng viên có số phiếu tín nhiệm cao nhất237. Chủ tịch nước do nhân dân bầu trực tiếp, trong số những Uỷ viên Bộ Chính trị, có nhiệm kỳ 05 năm, có toàn quyền quản lý nhà nước và đất nước238. Chủ tịch nước do cử tri cả nước bầu ra thông qua tuyển cử phổ thông đầu phiếu239.

+ Đề nghị quy định rõ Chủ tịch nước đảm nhiệm không quá hai nhiệm kỳ liên tục theo nhiệm kỳ của Quốc hội240.

– Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước (Điều 93) (121.081 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung quy định “Trong khi Quốc hội chưa có quyết định thì Chủ tịch nước chưa ký Lệnh công bố Pháp lệnh đó”; bổ sung quy định về thẩm quyền của Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề xuất của Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét lại đạo luật đã thông qua241. Chủ tịch nước có quyền phủ quyết pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội242.

+ Chủ tịch nước có quyền triệu tập phiên họp Chính phủ, yêu cầu Quốc hội thảo luận hoặc xem xét một dự luật khi ban hành243.

+ Đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định “quyền bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ nếu văn bản đó không phù hợp với Hiến pháp và pháp luật”244; quyền bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành trái với lệnh, quyết định của Chủ tịch nước245.

+ Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề xuất của Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét lại đạo luật đã thông qua khi có dấu hiệu vi hiến; hủy bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nếu văn bản đó trái Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội246.

+ Chủ tịch nước có quyền “đề cử” và với sự phê chuẩn của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;247 Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với các Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao, còn lại các chức danh Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán của Tòa án nhân dân từ cấp tỉnh trở xuống nên giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao248.

+ Đề nghị quy định Chủ tịch nước là người trực tiếp quyết định và công bố quyết định về tình trạng chiến tranh; ra lệnh tổng động viên và động viên cục bộ; tình trạng khẩn cấp; là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân249.

+ Đề nghị bổ sung thẩm quyền “Cử, triệu hồi đại sứ…; uỷ quyền đàm phán ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu nhà nước khác cho các cơ quan có liên quan…”250; quy định quyền “quyết định đàm phán, ký kết điều ước quốc tế”251; đề nghị sửa đổi đoạn “đàm phán, ký kết điều ước quốc tế” thành “quyết định đàm phán, ký kết điều ước quốc tế”; cần sửa cụm từ “đàm phán, ký kết” thành “đàm phán, ký” ở khoản 6 Điều 93252. Bổ sung quyền của Chủ tịch nước: “Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn, gia nhập hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế về hòa bình, an ninh, biên giới lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tham gia tổ chức quốc tế phổ cập, tổ chức khu vực quan trọng, điều ước quốc tế đòi hỏi sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành luật, hoặc làm phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng”253; Đề xuất giảm thủ tục hành chính quy định Chủ tịch nước “trình Quốc hội phê chuẩn điều ước quốc tế”, đề nghị bổ sung làm rõ thẩm quyền Chủ tịch nước đối với điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước mà Chủ tịch nước không trực tiếp ký254.

+ Về quyền của Chủ tịch nước quyết định phong hàm, cấp đại sứ 255; Phong hàm, cấp sĩ quan, cấp tướng; bổ nhiệm… cho lực lượng (công an nhân dân) vũ trang nhân dân256.

+ Đề nghị quy định quyền “ân xá” của Chủ tịch nước257; quyền phủ quyết các bản án của Tòa án nhân dân tối cao đã có hiệu lực”258.

– Về một số quy định khác liên quan đến Hội đồng quốc phòng – an ninh; sự tham gia của Chủ tịch nước trong phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, về quyền ban hành văn bản pháp luật của Chủ tịch nước, về địa vị pháp lý của Phó Chủ tịch nước (Điều 94 – Điều 98) (418.844 ý kiến).

+ Về Hội đồng Quốc phòng – an ninh (Điều 94) (75.705 ý kiến)

Quy định cụ thể hơn quyền hạn của Hội đồng Quốc phòng và an ninh; quy định rõ cơ cấu của Hội đồng Quốc phòng và an ninh259; quy định quyền quyết định các biện pháp nhằm bảo đảm an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội cả khi có chiến tranh và không có chiến tranh260; đề nghị đổi tên Hội đồng Quốc phòng và an ninh thành Hội đồng An ninh quốc gia261; Đề nghị chuyển quy định về Hội đồng Quốc phòng và An ninh về Chương X cùng với Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán Nhà nước262.

+ Về việc tham dự phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ (Điều 95) (86.727 ý kiến)

Đề nghị bổ sung các quy định: Chủ tịch nước có quyền yêu cầu và chủ trì họp Chính phủ bàn về các vấn đề của đất nước”263; có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ; quyền triệu tập và chủ trì phiên họp của Chính phủ để bàn về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước”264; quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về nhưng vấn đề bức xúc, hệ trọng của đất nước265.

– Về thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật của Chủ tịch nước (Điều 96) (79.565 ý kiến)

+ Đề nghị quy định “Chủ tịch nước ban hành sắc lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo luật định”266. Đề nghị bổ sung thêm cụm từ “theo quy định của pháp luật” tại Điều 96 “Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật”267.

– Về chức danh Phó Chủ tịch nước (Điều 97) (83.798 ý kiến) và (Điều 98) (93.049 ý kiến)

+ Đề nghị quy định “Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài thì Phó Chủ tịch nước tạm giữ quyền Chủ tịch nước”268; nếu quy định “Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước” thì nên bỏ các Điều 97 và Điều 98 đề cập đến Phó Chủ tịch nước.269

+ Đề nghị quy định thời gian cụ thể đối với quy định: “Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài thì Phó Chủ tịch giữ quyền Chủ tịch”. Quy định rõ khi Chủ tịch nước không làm việc được thời gian dài là bao nhiêu lâu270.

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-6).

CHƯƠNG VII: CHÍNH PHỦ

1. Tổng số ý kiến góp ý: 552.837 ý kiến

– Tổng số có 552.837 ý kiến, trong đó 64.243 ý kiến của cơ quan, tổ chức và 488.594 ý kiến cá nhân.

– Các ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung tập trung vào Điều 99 (2.473 ý kiến); Điều 101 (1.419 ý kiến), Điều 103 (2.143 ý kiến), Điều 104 (1.274 ý kiến).

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

2.1. Về Chính phủ

2.1.1. Về vị trí của Chính phủ (Điều 99 Dự thảo): 2.473 ý kiến

Đề nghị bỏ đoạn “là cơ quan chấp hành của Quốc hội”271: 2.384 ý kiến.

Lý do: Chính phủ là cơ quan hành pháp nên Chính phủ đương nhiên triển khai thực hiện các Nghị quyết, luật của Quốc hội hay nói cách khác hành pháp đã bao gồm chấp hành. Hơn nữa thuật ngữ “chấp hành” dễ gây hiểu nhầm Chính phủ là cấp dưới của Quốc hội trái với nguyên tắc phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước272. Theo đó, đề nghị quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp” nhằm thể hiện đúng vị trí, vai trò, quyền hạn của Chính phủ và bảo đảm phát huy quyền chủ động, sáng tạo của cơ quan hành pháp, bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát đối với Quốc hội trong thực thi quyền lập pháp.

2.1.2. Về thành viên Chính phủ

– Về cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ: Đề nghị quy định cụ thể số lượng thành viên của Chính phủ273 và quy định rõ “Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội quyết định và Thủ tướng Chính phủ phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Quốc hội về sự điều hành, cơ cấu thành viên trong Chính phủ”.274

– Đề nghị bổ sung làm rõ nội dung nào báo cáo trước Quốc hội, nội dung nào báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, nội dung nào báo cáo trước Chủ tịch nước.275

– Đề nghị phân định rõ trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong cơ chế hoạt động tập thể của Chính phủ và phát huy vai trò của cá nhân.276

Trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ đối với hoạt động của Chính phủ với tư cách là người đứng đầu Chính phủ; trách nhiệm của cá nhân Thủ tướng về những nhiệm vụ được giao và cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ.277

Trách nhiệm của Phó Thủ tướng Chính phủ theo hai tư cách: (1) là thành viên của Chính phủ. Theo tư cách này, Phó Thủ tướng Chính phủ không phải là người giúp việc của Thủ tướng Chính phủ. Phó Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Chính phủ về những mảng công việc mà Chính phủ giao cho giải quyết; (2) giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thủ tướng Chính phủ theo phân công của Thủ tướng Chính phủ. Khi thực hiện những nhiệm vụ này, Phó Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ.278

– Trách nhiệm của Bộ trưởng trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công.279

– Đề nghị quy định cụ thể Chính phủ có mấy Phó Thủ tướng Chính phủ và phụ trách các lĩnh vực nào280, đồng thời bổ sung quy định về Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ nhằm xác định rõ trách nhiệm Hiến định của Phó Thủ tướng Chính phủ.281

2.1.3. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ (Điều 101): 1.419 ý kiến.

– Đề nghị không quy định liệt kê cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn Chính phủ mà nên quy định khái quát đầy đủ theo hai nhóm: nhóm nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện chức năng hành pháp và nhóm nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện chức năng cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, vì nếu Hiến pháp liệt kê chi tiết, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ như Dự thảo thì không tạo được sự chủ động, linh hoạt trong việc điều hành nền hành chính trong điều kiện kinh tế thị trường của Chính phủ; nên để các luật liệt kê cụ thể để nếu cần thì sửa đổi, bổ sung dễ dàng hơn.282

– Đề nghị nghiên cứu quy định về chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ như sau: “Chính phủ xây dựng và thực hiện chính sách quốc gia; tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật; quản lý nhà nước các lĩnh vực của đời sống xã hội và tổ chức cung cấp dịch vụ công cơ bản, thiết yếu”, bởi quy định chức năng như vậy là phù hợp với vị trí, tính chất của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và quy định này phản ánh sự thay đổi về chất, chuyển từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý nhà nước bằng pháp luật của Chính phủ đồng thời, đây là cơ sở và căn cứ để quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong Luật Tổ chức Chính phủ.283

– Về mối quan hệ giữa Chính phủ với các cơ quan khác và chính quyền địa phương:

+ Đề nghị nêu rõ hơn nữa mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội như phân định rõ thẩm quyền của Chính phủ và Quốc hội trong việc quyết định các chính sách quan trọng của quốc gia; Chính phủ có quyền đề nghị Quốc hội chưa thông qua một dự luật nếu chưa bảo đảm tính khả thi, vì theo nguyên tắc quyền lực nhà nước, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước thì Chính phủ (quyền hành pháp) có quyền kiểm soát Quốc hội (quyền lập pháp).284

+ Đề nghị phân định rõ thẩm quyền của Chính phủ với Quốc hội, Chủ tịch nước trong quản lý thống nhất về công tác đối ngoại và việc ký kết, đàm phán các điều ước quốc tế.285

+ Đề nghị xác định rõ thẩm quyền của Chính phủ và Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với chính quyền địa phương trong việc hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Hội đồng nhân dân; đình chỉ, bãi bỏ văn bản của Hội đồng nhân dân trái với Hiến pháp và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, giải tán Hội đồng nhân dân khi vi phạm nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân địa phương, để bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính.286

2.1.4. Về trách nhiệm của Chính phủ

– Đề nghị làm rõ trách nhiệm báo cáo công tác của Chính phủ trước Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ trong trường hợp Quốc hội không họp, đề nghị làm rõ trách nhiệm của Chính phủ trước nhân dân mà không chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội.287

– Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch nước và chỉnh sửa lại theo hướng “Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Chủ tịch nước và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và toàn thể nhân dân” nhằm bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với Điều 93 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.

2.2. Về Thủ tướng Chính phủ

2.2.1. Về vị trí, vai trò của Thủ tướng Chính phủ

Đề nghị xác định rõ “Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu cơ quan hành pháp và đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương”288. Dự thảo chưa thể hiện rõ thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ; lãnh đạo hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, đảm bảo tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia.289

2.2.2. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ

– Đề nghị thiết kế lại nhiệm vụ quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ theo hướng bảo đảm nhóm nhiệm vụ là người đứng đầu cơ quan hành pháp và nhóm nhiệm vụ là người đứng đầu hệ thống hành chính, đồng thời bổ sung thêm một số thẩm quyền riêng của Thủ tướng Chính phủ để đảm bảo điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời ứng phó với các tình huống phát sinh mới.290

– Đề nghị bổ sung quy định về thẩm quyền của Thủ tướng trong việc quyết định, chỉ đạo việc đàm phán ký kết điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.291

– Dự thảo còn quy định chưa rõ trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ. Do vậy, một mặt sẽ không phát huy được trách nhiệm cá nhân, mặt khác khó phân biệt được trách nhiệm của tập thể (Chính phủ) và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng trong việc điều hành nền hành chính nhà nước.292 Đề nghị nên tăng quyền hạn cho người đứng đầu hệ thống hành chính, trong đó cần có đầy đủ thực quyền trong việc bổ nhiệm, điều động, cách chức người đứng đầu cấp dưới, kể cả đơn vị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trong trường hợp Quốc hội không họp có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước quyết định đình chỉ công tác của Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; đề nghị bổ nhiệm giữ quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Vì về nguyên tắc, trong một nhà nước đơn nhất, hệ thống hành chính phải thông suốt, phải có tính trật tự, thứ bậc để nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả quản lý, hạn chế tình trạng cục bộ địa phương.293

2.2.3. Về trách nhiệm của Thủ tướng

– Đề nghị bổ sung thêm trách nhiệm báo cáo công tác của Thủ tướng Chính phủ trước nhân dân294.

– Đề nghị sửa đổi bổ sung theo hướng: Thủ tướng Chính phủ do nhân dân bầu (105 kiến).295

2.3. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng

– Đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa Bộ trưởng, thành viên Chính phủ với chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo, điều hành về ngành, lĩnh vực được phân công.296

– Đề nghị quy định cụ thể phương thức báo cáo trước nhân dân của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tương tự như phương thức báo cáo của Thủ tướng Chính phủ quy định tại khoản 5 Điều 103, tức là cần quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.297

2.4. Đề nghị bổ sung thêm quy định về vai trò chủ động của Mặt trận, Đoàn thể chính trị xã hội trung ương đề xuất được dự họp một số phiên họp của Chính phủ để phản biện ý kiến298. Đồng thời đề nghị bổ sung Điều 106 “một số các tổ chức xã hội đặc thù khác” được tham dự phiên họp của Chính phủ, lý do: vì các tổ chức này cũng có những quyền lợi và nghĩa vụ trong xã hội.299

3. Góp ý về các điều khoản cụ thể (xem Phụ lục B-7).

CHƯƠNG VIII: TÒA ÁN NHÂN DÂN, VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1. Tổng số ý kiến góp ý: 1.272.267 ý kiến

1.1. Tổng số ý kiến tán thành: 1.226.338 ý kiến

Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý: Điều 107, 108, 109, 110, 111 và Điều 112.

1.2. Số ý kiến đề nghị sửa đổi tên, nội dung Chương

– Đề nghị đổi tên chương VIII là “Tòa án và Viện Công tố” (lý do: theo tinh thần Nghị quyết số 49); tên là “Hệ thống tư pháp” (lý do: chuyển Viện kiểm sát vào Chương X); tên là: Cơ quan tư pháp quốc gia (có 04 bộ/ngành/địa phương có ý kiến, với 07 ý kiến)300.

– Đề nghị nên bỏ từ “nhân dân” sửa tên chương thành “Tòa án và Viện kiểm sát” vì trong hệ thống Tòa án và Viện kiểm sát ngoài Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thì còn Tòa án Quân sự và Viện kiểm sát Quân sự, nên nếu quy định tên chương như trong dự thảo là chưa bao hàm hết301.

– Đề nghị tách các quy định về Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân thành các chương khác nhau trong Hiến pháp. Vì Tòa án là cơ quan tư pháp, Viện kiểm sát là cơ quan thực hiện quyền công tố và kiểm sát tư pháp, đây là thiết chế độc lập và không phải là cơ quan tư pháp302 (có 26 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến: với 9.212 ý kiến).

1.3. Số ý kiến đề nghị bổ sung nội dung mới vào Chương

– Đề nghị bổ sung quy định về Toà bảo hiến (không nằm trong hệ thống Tòa án hiện nay) để xét xử những hành vi vi hiến và vi phạm pháp luật của cơ quan hành chính.

Lý do: Tòa Hiến pháp với vị trí độc lập so với các cơ quan hành pháp, tư pháp; với nhiệm vụ bảo vệ việc tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp, bảo đảm mọi quy định của luật, văn bản dưới luật mà vi phạm quyền lập hiến, trái với quy định của Hiến pháp phải được đưa ra xét xử tại Tòa án Hiến pháp sẽ đảm bảo tính nghiêm minh của đạo luật gốc303 (có 4 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến: với 4 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung vào Chương VIII một điều khoản riêng quy định vị trí vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân để thể hiện việc nhân dân tham gia vào việc thực hiện quyền lực nhà nước (quyền tư pháp)304.

– Nên bổ sung một Điều về thẩm phán – nhân vật trung tâm của quyền tư pháp, của cải cách tư pháp (03/9 ý kiến)305:

Điều … (bổ sung mới)

1. Thẩm phán là công dân Việt Nam từ đủ 25 tuổi trở lên, có bằng đại học luật, làm việc theo chuyên môn luật ít nhất 5 năm.

Luật có thể quy định những yêu cầu khác đối với Thẩm phán.

2. Thẩm phán không thể bị bãi miễn.

3. Quyền hạn của Thẩm phán chỉ có thể bị chấm dứt hoặc đình chỉ theo trình tự và điều kiện do Luật định.

– Đề nghị giữ lại nội dung “Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” (theo Điều 132 của Hiến pháp 1992)306 (có 3 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến: với 3 ý kiến).

– Bổ sung thêm một khoản như sau: “Hoạt động của liên đoàn luật sư Việt Nam có nhiệm vụ góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” 307 (có 1 tỉnh có ý kiến: với 321 ý kiến).

– Đề nghị giữ lại Điều 133 của Hiến pháp năm 1992 là: “Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Toà án” thành Khoản 8 Điều 108. Lý do: Bởi vì các dân tộc đều bình đẳng và có quyền lợi trước pháp luật308 (có 13 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến: với 226 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thêm khoản 8 Điều 108 như sau: “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải đảm bảo sự đúng đắn của bản án và chịu trách nhiệm trước pháp luật về bản án do mình quyết định”309.

– Đề nghị bổ sung Điều 111 nội dung: “Mọi hành vi xét xử trái pháp luật, xét xử oan sai phải bị xử lý nghiêm minh”310 hoặc “Hội thẩm, thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về xiệc xét xử oan sai cho bị cáo”311.

– Đề nghị bổ sung vào cuối Điều 111 quy định “Các cơ quan thi hành án có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật. Mọi hành vi xét xử trái pháp luật, xét xử oan sai phải xử lý nghiêm minh”. Lý do: Đảm bảo việc mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được thi hành312 (có 4 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến: với 04 ý kiến).

– Đề nghị thể hiện nguyên tắc tính độc lập của Viện kiểm sát như sau: “Trong hoạt động của mình Viện kiểm sát nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm mọi hành động can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân” và khẳng định một nguyên tắc quan trọng như “Các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành” 313 (có 3 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến: với 03 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung một khoản vào Điều 112 quy định: “Viện Kiểm sát nhân dân làm trái luật, vi phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích công dân thì người đứng đầu bị xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn phải khắc phục hậu quả” 314.

– Đề nghị giữ nguyên khoản 2 Điều 138 Hiến pháp năm 1992 quy định về việc thành lập Ủy ban kiểm sát. Do đó, đề nghị bổ sung nội dung mới vào thành khoản 4 Điều 112 quy định về việc thành lập Ủy ban kiểm sát ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Vì thực tế Ủy ban kiểm sát đã giữ vị trí và vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, các thành viên Ủy ban kiểm sát đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính dân chủ, trí tuệ tập thể, đã giải quyết nhiều vấn đề quan trọng mà phải thảo luận, quyết định theo đa số. Đây cũng là cơ chế thực hiện kết hợp nguyên tắc Thủ trưởng chế với chế độ bàn bạc tập thể khi Viện Kiểm sát quyết định những vấn đề quan trọng315 (có 6 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến: với 06 ý kiến).

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

2.1. Về tên gọi và chức năng của Tòa án

– Qua tổng kết, có nhiều ý kiến đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 107 theo hướng quy định rõ các Tòa án nhân dân gồm những tòa án nào? Nếu theo phương án thành lập tòa án khu vực theo hướng cải cách tư pháp hiện nay thì cũng quy định rõ. Còn nếu hệ thống tòa án nhân dân như hiện nay (gồm cả các tòa án nhân dân địa phương, các tòa án quân sự thì nên quy định rõ như sau: “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án nhân địa phương, các tòa án quân sự và các tòa án khác theo luật định”.316 (27 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến với 32 ý kiến).

– Nhiều ý kiến đề nghị khoản 3 Điều 109 đề nghị sửa đổi như sau: “Toà án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiến xét xử, giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và phát triển án lệ” 317 (có 38 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 617 ý kiến). Lý do:

+ Về phát triển án lệ: việc bổ sung này phù hợp với Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển án lệ trong công tác xét xử. Mặt khác, chức năng này gắn liền với nhiệm vụ tổng kết thực tiễn xét xử. Vì qua việc tổng kết công tác xét xử, TANDTC có thể tổng kết, phát triển án lệ giúp các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật.

+ Về giải thích pháp luật: Việc nghiên cứu, áp dụng pháp luật của Tòa án trong quá trình xét xử đòi hỏi phải rất sâu sắc, toàn diện, khách quan và chính xác. Do vậy, việc giao chức năng này cho Tòa án nhân dân tối cao là hoàn toàn hợp lý.

2.2. Về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án

– Qua tổng kết có nhiều ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “trừ trường hợp do luật định” tại Khoản 4 Điều 108. Vì quy định như vậy không minh bạch, mặt khác theo mô hình tố tụng nào, bản chất nhà nước nào chăng nữa thì nguyên tắc xét xử theo tập thể và quyết định theo đa số đều là nguyên tắc phổ biến318 (có 11 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến).

– Có nhiều ý kiến đề nghị sửa Khoản 5 Điều 108 như sau: “Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa được bảo đảm. Phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”319 để phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp (có 15 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 32 ý kiến).

– Có nhiều ý kiến đề nghị chuyển quy định về quyền bào chữa tại khoản 7 Điều 108 sang thành khoản 5 Điều 32 của Chương II về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Vì như vậy sẽ phù hợp hơn vì quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa là một trong những quyền và tự do cơ bản của công dân320 (có 12 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 1.060 ý kiến).

2.3. Về chức năng và vị trí của Viện kiểm sát nhân dân

Về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân, có 3 luồng ý kiến chính sau:

Thứ nhất, Đề nghị quy định rõ Viện kiểm sát chỉ thực hiện chức năng công tố mà không thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp hoặc Viện kiểm sát nhân dân nên chuyển thành Viện công tố và chỉ thực hành quyền công tố. Vì Viện Kiểm sát nhân dân vừa thực hiện chức năng công tố vừa thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là chưa phù hợp với các chủ trương cải cách tư pháp lâu dài, ảnh hưởng không nhỏ đến nguyên tắc độc lập xét xử của tòa án. Sự ảnh hưởng của quyền năng kiểm sát dẫn đến bảo thủ quyền năng công tố làm cho quyền năng xét xử, quyền năng điều tra của cơ quan điều tra dễ bị ảnh hưởng. Mặt khác, trong quan hệ tố tụng Viện kiểm sát vừa là một bên tranh tụng vừa là cơ quan kiểm sát hoạt động xét xử là không khách quan. Hơn nữa, hiện nay hoạt động của các cơ quan tư pháp đã có thanh tra chuyên ngành và có cơ chế giám sát trong nội bộ ngành. Do đó, có thêm sự kiểm sát của VKSND sẽ dẫn đến sự chồng chéo, lãng phí, không hiệu quả. Thực tế trong thời gian qua cho thấy khi có tình trạng vi phạm xảy ra, thì việc xác định trách nhiệm của cơ quan kiểm sát rất khó. Do vậy, chức năng “kiểm soát hoạt động tư pháp” nên giao cho một cơ quan độc lập khác thuộc Quốc Hội 321 (có 25 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 464 ý kiến).

Thứ hai, đề nghị bổ sung quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và những việc khác theo quy định của pháp luật” 322. Lý do: ngoài chức năng công tố và kiểm sát tư pháp thì Viện kiểm sát còn thực hiện các công việc khác như: dẫn độ tội phạm và thực hiện tương trợ tư pháp, chuyển giao thi hành án với nước ngoài, thống kê tư pháp, điều tra tội phạm.. (có 25 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 453 ý kiến).

Thứ ba, đề nghị khôi phục lại chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật (kiểm sát chung) như trước đây. Vì Viện kiểm sát là cơ quan trực thuộc Quốc hội, độc lập với hệ thống cơ quan hành pháp mới đảm bảo việc giám sát các cơ quan hành pháp một cách khách quan. Thực tiễn từ khi thành lập đến 2001, Viện kiểm sát đã làm rất tốt chức năng này323 (có 12 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 12 ý kiến).

2.4. Về việc bầu Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, nhiệm kỳ Thẩm phán

– Nhiều ý kiến đề nghị khoản 1 Điều 110 cần bổ sung cụm từ “trong số đại biểu Quốc hội” vào cuối câu “Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu” như sau: “Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án khác do luật định”. Lý do: Vì chức danh này phải là đại biểu Quốc hội324 (có 16 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 16 ý kiến).

Tương tự cũng có nhiều ý kiến đề nghị bổ sung sửa khoản 1 Điều 113 quy định rõ: “Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội” 325 (có 29 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 399 ý kiến)

– Nhiều ý kiến đề nghị bổ sung vào khoản 3 Điều 110 quy định “Việc bổ nhiệm thẩm phán các cấp không có thời hạn” (tức bổ nhiệm suốt đời) hoặc nhiệm kỳ từ 10 đến 15 năm. Lý do: bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm pháp326 (có 16 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 16 ý kiến). Lý do: quy định như vậy sẽ phù hợp với nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

2.5. Về kỹ thuật lập pháp

– Nhiều ý kiến đề nghị sửa Điều 111: thay cụm từ “hữu quan” bằng cụm từ “có liên quan”, thành: “Bản án, quyết định của Toà án…; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”327. Lý do: thay từ hán việt bằng từ thuần việt (có 11 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 11 ý kiến).

– Nhiều ý kiến đề nghị Điều 111 viết ngắn gọn lại thành: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành”328 (có 11 bộ/ngành/tỉnh có ý kiến, với 11 ý kiến).

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-8).

CHƯƠNG IX: CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

1. Tổng số ý kiến góp ý: 1.021.819 lượt ý kiến.

Các ý kiến tập trung chủ yếu vào Điều 115 và Điều 116, nhất là các vấn đề sau: (1) cách phân định đơn vị hành chính lãnh thổ; (2) quy định nguyên tắc thành lập mới, chia tách đơn vị hành chính lãnh thổ; (3) giải mã khái niệm chính quyền địa phương và mô hình chính quyền địa phương; (4) việc quy định nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương và cơ chế kiểm soát của trung ương với chính quyền địa phương; (5) việc xác định tính chất của Hội đồng nhân dân và (6) việc đổi tên và xác định nguyên tắc vận hành của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

Nhiều bộ, ngành, địa phương bày tỏ tán thành cao với tên chương329. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị đổi tên Chương thành “Chính quyền địa phương các cấp” cho dễ hiểu hoặc chặt chẽ hơn330 hoặc thành “Chính quyền địa phương: Tỉnh, huyện, xã”331 hoặc giữ nguyên tên chương như Hiến pháp hiện hành.332

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

– Đề nghị quy định nguyên tắc, điều kiện, tiêu chí, thẩm quyền, thủ tục chia tách, sáp nhập các đơn vị hành chính, khắc phục sự phát triển manh mún, khép kín, thiếu tính chiến lược, tính bền vững, khắc phục tình trạng chia tách đơn vị hành chính cấp huyện và xã tràn lan như thời gian qua.333

– Đề nghị làm rõ khái niệm “chính quyền địa phương” (gồm những cơ quan nào). Dự thảo nên quy định chính quyền địa phương có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính. Chính quyền địa phương không bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát ở địa phương334. Trong khi đó, có ý kiến đề nghị quy định chính quyền địa phương có cả Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và huyện.335

– Đề nghị bổ sung quy định việc bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp, quy định rõ nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương336. Đồng thời bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về kiểm tra, giám sát của chính quyền trung ương đối với chính quyền địa phương; giám sát của cử tri, của cơ quan tư pháp đối với chính quyền.337

– Đề nghị làm rõ mô hình tổ chức của chính quyền địa phương trong Hiến pháp, phân biệt chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn338. Có ý kiến đề nghị quy định như mô hình Nghị quyết 26 năm 2008 của Quốc hội339. Trong khi đó, có ý kiến đề nghị giữ nguyên mô hình chính quyền địa phương của Hiến pháp hiện hành (mọi đơn vị hành chính lãnh thổ đều phải tổ chức đủ cả Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân).340

– Đề nghị đổi tên Uỷ ban nhân dân thành Uỷ ban hành chính341 hoặc cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương342 cho phù hợp với tính chất của cơ quan này và cũng là thuật ngữ đã được sử dụng trong Hiến pháp năm 1946 và 1959343. Đề nghị chuyển cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương hoạt động theo chế độ thủ trưởng hoặc tăng thẩm quyền người đứng đầu Uỷ ban hành chính.344

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến của bộ, ngành, địa phương cho rằng quy định về các đơn vị, các cấp hành chính ở địa phương như Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là cứng nhắc và máy móc. Đề nghị cần để mở các quy định nhằm tránh gây khó khăn cho việc áp dụng trên thực tế.345 Đề nghị chỉ ghi khái quát các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh do luật định346, chấp nhận quan niệm trong thành phố trực thuộc trung ương có thành phố.347 Đề nghị bổ sung quy định về đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (ví dụ như trường hợp Phú Quốc hiện nay).348

Nhiều ý kiến của bộ, ngành, địa phương đề nghị bỏ quy định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.349 Quy định hiện hành đã tạo ra sự nhận thức không thống nhất về địa vị pháp lý và mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân với các cơ quan nhà nước khác, làm cho khó xác định tính chất và vị trí của Hội đồng nhân dân. Trong khi đó, có ý kiến đề nghị tiếp tục khẳng định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương350. Đề nghị bổ sung quyền quyết định ngân sách địa phương cho Hội đồng nhân dân.351

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-9).

CHƯƠNG X: HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP, HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA, KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

1. Tổng số ý kiến góp ý: 845.371 lượt ý kiến.

Các ý kiến tập trung chủ yếu vào tên chương và các quy định liên quan tới Hội đồng hiến pháp (Điều 120).

Một số bộ, ngành, địa phương bày tỏ tán thành toàn bộ với tên chương và các nội dung trong dự thảo.352 Tuy nhiên, nhiều ý kiến ở các bộ, ngành, địa phương còn chưa tán thành hoàn toàn với tên chương và các nội dung cụ thể trong Chương. Có ý kiến đề nghị đổi tên chương thành “Các cơ quan thuộc Quốc hội” hoặc “Các cơ quan do Quốc hội thành lập”353. Có ý kiến đề nghị bỏ chương X, gộp các điều tại chương này vào chương V về Quốc hội, do các cơ quan này thuộc Quốc hội354. Có ý kiến đề nghị chuyển thành một chương độc lập sau chương quy định về Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.355

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

Nhiều ý kiến ở các bộ, ngành, địa phương bày tỏ tán đồng cao với việc thành lập Hội đồng Hiến pháp.356 Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng vị thế và thẩm quyền của Hội đồng Hiến pháp còn rất hạn chế và đề nghị củng cố thêm vị thế và thẩm quyền của cơ quan này như:357 Phải đảm bảo tính chuyên trách, độc lập358 và bổ sung chức năng phán quyết;359 bổ sung quyền áp dụng các biện pháp chế tài360 như đình chỉ hoặc tạm đình chỉ việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp, trái luật của người, cơ quan có thẩm quyền từ cấp Chủ tịch nước ban hành trở xuống; “sửa đổi, hủy bỏ đối với các văn bản quy phạm pháp luật”; buộc chủ thể có hành vi vi hiến phải sửa chữa, khắc phục hoặc bãi bỏ…

Một số ý kiến ở bộ, ngành, địa phương đề nghị thành lập Tòa án Hiến pháp (có tính độc lập và chuyên nghiệp, có chức năng phán quyết)361 thay cho Hội đồng Hiến pháp để việc bảo vệ Hiến pháp được hiệu quả hơn và phù hợp với tinh thần của Nghị quyết Đại hội XI của Đảng: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

Nhiều ý kiến ở bộ, ngành, địa phương đề nghị không thành lập Hội đồng hiến pháp362 vì: vị thế và thẩm quyền của Hội đồng còn hạn chế; có ý kiến cho rằng, cơ chế hiện có đã đủ để bảo vệ hiến pháp; việc thành lập thiết chế này có thể tạo ra sự trùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước.

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-10).

CHƯƠNG XI: HIỆU LỰC CỦA HIẾN PHÁP VÀ VIỆC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

1. Tổng số ý kiến góp ý: 742.311 ý kiến

1.1. Tán thành với nội dung của Chương363: 69.213 ý kiến

1.2. Số ý kiến đề nghị sửa đổi tên Chương, nội dung Chương

Lý do: Đề nghị sửa tên của Chương thành “Hiệu lực của Hiến pháp, việc ban hành Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp”. Lý do: Vì trong nội dung của Chương có đề cập đến việc “Làm Hiến pháp”.364

Đề nghị sửa tiêu đề Chương thành “Hiệu lực của Hiến pháp và việc làm, sửa đổi Hiến pháp” để phù hợp với nội dung của các Điều trong Chương.365

1.3. Số ý kiến đề nghị bổ sung nội dung mới vào Chương

– Cần bổ sung thêm vào chương hiệu lực một số điều quy định về quy trình sửa đổi Hiến pháp. Trong chương này cần phải quy định các vấn đề sau đây: Ai có quyền đưa sáng kiến sửa đổi Hiến pháp; thủ tục soạn thảo, thảo luận, lấy ý kiến nhân dân, phê chuẩn Hiến pháp như thế nào? Giới hạn sửa đổi Hiến pháp (những điều nào không được sửa đổi) và thủ tục công bố.366

– Cần bổ sung quy định về việc các cơ quan soạn thảo văn bản luật, dưới luật, hoặc các cơ quan khác hay cá nhân khi phát hiện điểm bất hợp lý, hoặc cần thiết phải bổ sung các quy định của Hiến pháp thì có quyền gửi ý kiến của mình đến cơ quan, người có quyền đề nghị làm, sửa đổi Hiến pháp. Trên cơ sở những ý kiến này cơ quan, người có quyền đề nghị làm, sửa đổi Hiến pháp quyết định việc có đề nghị hay không đề nghị làm, sửa đổi Hiến pháp.367

– Liên quan đến quyền lập hiến và sửa đổi Hiến pháp, Điều 124 cần phải bổ sung thêm quy định: “Công dân có quyền lập hiến, lập pháp thông qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội” và “Việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp phải được trưng cầu dân ý. Sau khi trưng cầu dân ý, Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp”. Quy định như vậy để đảm bảo rằng mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và đảm bảo được nguyên tắc hiến định: lập hiến là quyền của dân, Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhân dân thực hiện việc này. Quốc hội chỉ là cơ quan đại diện cho quyền lực của nhân dân, việc lập hiến phải được quy định là quyền của công dân.368

2. Những nội dung được nhiều ý kiến thảo luận, góp ý

2.1. Về đề nghị đổi tên Chương

Ý kiến góp ý cho rằng cần phải đổi tên Chương để phù hợp với nội dung của các Điều trong Chương, vì trong nội dung của Chương có đề cập đến việc “Làm Hiến pháp” và cần bổ sung thêm vào chương này một số điều quy định về quy trình sửa đổi Hiến pháp và đặt tên chương. Đề nghị sửa tên Chương cụ thể như sau:

– Hiệu lực của Hiến pháp, việc ban hành Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp;369

– Hiệu lực của Hiến pháp và việc làm, sửa đổi Hiến pháp;370

– Hiệu lực và quy trình sửa đổi Hiến pháp;371

– Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp.372

2.2. Về đề nghị xác định rõ thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp

Các ý kiến góp ý cho rằng cần phải xác định cụ thể và hợp lý thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp373 để đảm bảo có đủ thời gian xem xét, sửa đổi các đạo luật khác có liên quan, cụ thể như sau:

– Hiến pháp nên quy định cụ thể có hiệu lực từ 2015;374

– Bản Hiến pháp này Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ…, nhất trí thông qua trong phiên họp ngày… tháng… năm 2013, vào lúc… giờ… phút”.375

2.3. Về chủ thể và thủ tục đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp

Các ý kiến góp ý cho rằng Quyền lập hiến là của nhân dân, bằng hiến pháp, nhân dân giao quyền cho nhà nước (trong đó có Quốc hội), Hiến pháp quy định việc thành lập bộ máy nhà nước. Do đó, Quốc hội không thực hiện quyền lập hiến mà nhân dân thực hiện quyền lập hiến, điều đó cũng thể hiện chủ quyền nhân dân, thể hiện bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân376. Do đó, việc làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp phải theo thủ tục đặc biệt.377

Cụ thể, đề nghị sửa đổi Điều 124 như sau: “Công dân có quyền lập hiến, lập pháp thông qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội”.378

2.4. Quy trình soạn thảo, sửa đổi Hiến pháp, về trưng cầu ý dân ý

Các ý kiến góp ý cho rằng cần quy định rõ trình tự, thủ tục thực hiện trưng cầu dân ý379. Đề nghị quy định các điều kiện, trường hợp trưng cầu ý dân (ví dụ như khi 2/3 người dân đồng ý) hoặc đề nghị quy định trước khi sửa đổi Hiến pháp phải trưng cầu ý kiến nhân dân,380 chứ không phải lệ thuộc vào quyết định của Quốc hội như quy định tại Dự thảo.381

Để thể hiện đầy đủ chủ quyền nhân dân, đề nghị quy định theo hướng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp sau khi được Quốc hội thông qua với đa số tuyệt đối thì phải được trưng cầu ý dân trước khi có hiệu lực.382

Đề nghị sửa đổi khoản 4 Điều 124 quy định “Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định” thành “Hiến pháp phải được trưng cầu ý dân”383 hoặc “Việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp phải được trưng cầu dân ý”.

2.5. Về xử lý hành vi vi phạm Hiến pháp

Dự thảo có quy định “Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý”, tuy nhiên lại không quy định bị xử lý như thế nào384, đề nghị thêm cụm từ “theo quy định của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vào cuối câu cho đầy đủ385 hoặc viết lại là: “Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý theo Hiến pháp và pháp luật”386.

Đề xuất cụ thể: trong Chương X, đề nghị thành lập Tòa án Hiến pháp.

3. Những ý kiến góp ý cụ thể (xem Phụ lục B-11).

III. TỔNG HỢP PHẦN ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ CỦA CÁC BỘ, NGÀNH VÀ ĐỊA PHƯƠNG VỀ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Nội dung của phần này được tổng hợp từ mục đề xuất, kiến nghị trong báo cáo của 13/30387 Bộ, ngành và 39/63388 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, gồm các nội dung sau:

1. Về tên gọi, bố cục của Hiến pháp

Một số ý kiến đề xuất nên lấy tên gọi Hiến pháp là “Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013”389 vì bản Hiến pháp lần này đã sửa đổi một cách cơ bản nội dung của Hiến pháp năm 1992.

2. Về Lời nói đầu

Nhiều đề xuất, kiến nghị cho rằng, cần biên tập lại Lời nói đầu của Dự thảo sao cho cô động, súc tích hơn nhưng vẫn thể hiện được sự đầy đủ, bao quát của một bản Hiến pháp390

3. Về Chế độ chính trị

– Nhiều đề xuất cho rằng Hiến pháp cần phải thể hiện được nước ta là một nước độc lập, dân chủ (chuyển cụm từ “độc lập” lên trước từ “dân chủ” trong Điều 1)391 và thể hiện được chủ quyền cả “trong lòng đất”.392

– Liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều ý kiến tập trung đề xuất Hiến pháp cần khẳng định Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội (bổ sung từ “duy nhất” tại Khoản 1 Điều 4).

– Về Quốc kỳ, Quốc ca của nước Cộng hòa xã hội chủ ngĩa Việt Nam, nhiều kiến nghị là cần quy định cụ thể về tỷ lệ kích thước của ngôi sao vàng năm cánh;393 quy định về tác giả bài hát Quốc ca là nhạc sỹ Văn Cao.394

4. Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

– Trong Chương này, nhiều ý kiến đề xuất làm rõ nội hàm “quyền sống” được quy định tại Điều 21, nhất là khi nhà nước ta vẫn đang áp dụng hình phạt tử hình đối với các tội phạm rất nghiêm trọng.395

– Liên quan đến quyền được xét xử trong trường hợp phạm tội, Hiến pháp cần sửa đổi để thể hiện rõ quy định không ai bị kết án hai lần vì cùng một hành vi phạm tội (Điều 32).396

– Quyền kết hôn và ly hôn (Điều 39) nên để luật quy định.

– Về quyền và nghĩa vụ học tập của công dân (Điều 42), rất nhiều đề xuất cho răng cần giữ nguyên nội dung này như Hiến pháp năm 1992, đặc biệt là giữ quy định bậc học tiểu học là miễn phí.

5. Về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường

– Nhiều bộ, ngành và địa phương kiến nghị Hiến pháp nước ta cần thể hiện vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế (Điều 54).397

– Các đề xuất cũng tập trung nhiều vào vấn đề thu hồi đất cho các “dự án phát triển kinh tế – xã hội” (Điều 58). Nhiều ý kiến cho răng, nên bỏ quy định thu hồi đất cho các “dự án phát triển kinh tế – xã hội”.398

6. Về Quốc hội

Trong các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhiều kiến nghị liên quan đến chức năng lập pháp, cần thay cụm từ”làm” bằng cụm từ “xây dựng” tại Điều 75399; thay cụm từ “ra pháp lệnh” thành “ban hành pháp lệnh”tại Điều 79.400

7. Về Chủ tịch nước

Đề xuất, kiến nghị tập trung vào vấn đề cần nghiên cứu bổ sung các quy định để tăng thêm quyền hạn cho Chủ tịch nước, khẳng định vị trí Nguyên thủ quốc gia401, như quyền tự mình hoặc theo đề xuất của Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét lại đạo luật đã thông qua, quyền bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật, kiến nghị thành lập Hội đồng Tư pháp quốc gia do Chủ tịch Nước là Chủ tịch Hội đồng…

8. Về Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng

– Rất nhiều ý kiến đề xuất, kiến nghị liên quan đến vị trí, chức năng của Chính phủ, trong đó đề nghị Dự thảo sửa đổi Hiến pháp bỏ cụm từ Chính phủ“là cơ quan chấp hành của Quốc hội” nhằm bảo đảm nguyên tắc kiểm soát quyền lực ở Nhà nước ta giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.402

– Nhiều ý kiến cho rằng chế định Thủ tướng Chính phủ cần quy định rõ “Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội”.403

9. Về Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Nhiều kiến nghị tập trung vào vấn đề cần có quy định về “và phát triển án lệ” của Tòa án.404

10. Về chính quyền địa phương

– Dự thảo sửa đổi Hiến pháp cần quy định cụ thể và khẳng định rõ: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có ở 3 cấp chính quyền địa phương.405

– Nhiều đề xuất là không nên quy định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”.

11. Về Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước

– Nhiều kiến nghị cho rằng, quy định về vai trò của Hội đồng Hiến pháp như trong Dự thảo là còn quá mờ nhạt, khi phat hiện văn bản quy phạm pháp luật vi hiến, Hội đồng cần có quyền quyết định việc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật, mà không chỉ dừng lại ở việc “kiến nghị” như trong Dự thảo.406

– Liên quan đến Kiểm toán Nhà nước, nhiều ý kiến đề nghị quy định nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán Nhà nước theo nhiệm kỳ Quốc hội.407

12. Các vấn đề khác

– Ngoài các đề xuất, kiến nghị đối với các nội dung cụ thể của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhiều bộ, ngành và địa phương có các đề xuất liên quan đến việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo, chẳng hạn kiến nghị về tiếp tục tổ chức lấy ý kiến lần hai, hoặc tiếp tục tiếp nhận, tổng hợp ý kiến đóng góp cho Dự thảo sau thời hạn do Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp quy định (31/3/2013).408

– Đối với vấn đề tiếp thu ý kiến góp ý, rất nhiều đề xuất, kiến nghị cho rằng việc tổ chức lấy ý kiến đã được thực hiện công phu, toàn diện; các ý kiến đóng góp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị đều sát thực, hợp lý. Do vậy, đề nghị Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp xem xét, tổng hợp và chỉnh lý cho phù hợp, đầy đủ và khách quan409.

– Về kỹ thuật lập hiến, nhiều đề xuất, kiến nghị cho rằng Hiến pháp là một đạo luật gốc, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Do vậy, các quy định cần thể hiện tính khái quát, ổn định lâu dài, quy định, câu chữ phải xứng tầm là quy phạm, ngôn ngữ Hiến pháp.

Phần thứ ba
ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TIẾP THU,
CHỈNH LÝ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 1992

Trên cơ sở tổng hợp ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, địa phương, ý kiến thảo luận của Chính phủ và Phiếu lấy ý kiến của các Thành viên Chính phủ tại Phiên họp chuyên đề ngày 28/3/2013 về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp và Dự thảo Báo cáo của Chính phủ do Thường trực Ban Chỉ đạo của Chính phủ trình, Chính phủ thống nhất một số đánh giá chung và từ đó đưa ra đề xuất, kiến nghị về 7 nhóm vấn đề, trong đó, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ có đóng góp sâu về 02 chương, cụ thể là Chương VII – Chính phủ và Chương IX- Chính quyền địa phương.

A. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Về ưu điểm: Dự thảo đã bám sát các quan điểm, định hướng nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp được xác định tại Nghị quyết Đại hội Đảng XI, Nghị quyết Hội nghị TW2 và Kết luận của Hội nghị TW5 khoá XI. Với 09 vấn đề cơ bản được nghiên cứu sửa đổi theo hướng dẫn của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Dự thảo đã thể hiện rõ quy mô, phạm vi sửa đổi (cả về nội dung, cơ cấu các chương, điều và kỹ thuật lập hiến) của một bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp nhằm thể chế hoá Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu và phù hợp với tình hình mới của đất nước.

Dự thảo đã ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản, nền tảng (như nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân gắn với tính thượng tôn Hiến pháp; nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân). Các nguyên tắc này cho thấy Hiến pháp của nước ta vừa thể hiện sự tiếp thu có chọn lọc các giá trị chung của nhân loại về Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền, vừa bảo đảm tính kế thừa với sự điều chỉnh hợp lý những giá trị đặc thù về chính trị – pháp lý của Hiến pháp thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Dự thảo cũng đã ghi nhận và thể hiện khá nhất quán các nguyên tắc vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; khẳng định khái quát ở tầm hiến định vai trò và các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước để đảm bảo mọi tổ chức, cá nhân được tự do kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật, mọi thành phần kinh tế cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật.

Về hạn chế : Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, Dự thảo cũng còn một số hạn chế cơ bản sau đây:

Một là, Dự thảo vẫn chưa quy định rõ, đầy đủ cơ chế “kiểm soát” quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy đã định danh được cơ quan thực hiện mỗi quyền, nhưng Dự thảo chưa làm rõ nội dung và giới hạn của mỗi quyền; do đó chưa phân công được thật rõ ràng, rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, chẳng hạn như chưa giải quyết được các vướng mắc, bất cập trong việc phân định thẩm quyền quyết định chính sách giữa Quốc hội và Chính phủ; còn thiếu các quy định nhằm thực hiện việc kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong khi thực hiện quyền lực nhà nước, ngay cả các cơ quan mới được hiến định như Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia… cũng chưa được giao những nhiệm vụ, quyền hạn cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả việc kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Hai là, Dự thảo chưa thể hiện rõ nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương để làm cơ sở cho việc thể chế hoá chủ trương “bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm” của chính quyền địa phương trong nền hành chính quốc gia thống nhất của một nhà nước đơn nhất theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI.

Ba là, Dự thảo chưa tính đến các trường hợp ngoại lệ, nhiều thiết chế được quy định chỉ phù hợp để hoạt động trong điều kiện bình thường, chưa bảo đảm sự ứng phó kịp thời của các cơ quan nhà nước trong những điều kiện đặc biệt mà mọi quốc gia đều phải sẵn sàng đương đầu (vấn đề thiên tai, địch họa, đại dịch bệnh…); việc ghi nhận các nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong các tình huống đặc biệt cũng chưa chặt chẽ.

Bốn là, về kỹ thuật lập hiến, Dự thảo vẫn còn nhiều nội dung được quy định quá chi tiết, làm thay chức năng của các đạo luật, đặc biệt là ở Chương II và các chương về bộ máy nhà nước; một số điều vẫn giữ nguyên văn phong nghị quyết nhất là ở chương III, làm giảm phần nào tính quy phạm của Hiến pháp.

B. CÁC KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

I. NHÓM KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 1: Hoàn thiện Chương VII – Chính phủ

Yêu cầu chung về hoàn thiện Chương:

+ Xác định rõ vị trí, địa vị pháp lý của Chính phủ với tư cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp trong tổ chức quyền lực nhà nước.

+ Tăng cường trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng.

+ Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ phải cụ thể hóa mối quan hệ phân công, phối hợp, kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước giữa Chính phủ với Quốc hội, Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các thiết chế hiến định độc lập.

1. Về Chính phủ

1.1. Vị trí của Chính phủ (Điều 99 Dự thảo)

1.1.1. Yêu cầu hoàn thiện: Làm rõ và hoàn thiện quy định về vị trí của Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp phù hợp với nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát trong việc thực hiện quyền lực nhà nước đã được khẳng định tại Điều 2.

1.1.2. Đề xuất phương án hoàn thiện Điều 99 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 109) như sau 410:

“Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, báo cáo công tác với Quốc hội, và trong thời gian Quốc hội không họp, báo cáo công tác với Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chính phủ báo cáo công tác với Chủ tịch nước”.

1.1.3. Cơ sở của kiến nghị, đề xuất

– Đoạn 1 – Về việc không quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”. Qua tổng hợp có 02 loại ý kiến:

+ Loại ý kiến thứ nhất tán thành với Dự thảo vẫn giữ quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội411;

+ Loại ý kiến thứ hai đề nghị không quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”. Loại ý kiến này được tổng hợp từ số lượng lớn ý kiến của các bộ, ngành, địa phương412 và tại Hội thảo góp ý dự thảo Báo cáo của Chính phủ về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Ban chỉ đạo của Chính phủ tổ chức ngày 25/3/2013. Các lập luận chính của loại ý kiến này là:

(i) Quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội là không cần thiết bởi vì trong chức năng “hành pháp” và “hành chính” đã thể hiện rõ trách nhiệm của Chính phủ chấp hành Hiến pháp, luật do Quốc hội thông qua. Về bản chất, việc Chính phủ tổ chức thực thi pháp luật chính là hoạt động chấp hành ý chí của nhân dân được thể hiện trong các đạo luật do Quốc hội ban hành, phù hợp với nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất và thuộc về nhân dân.

(ii) Hơn nữa, việc quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, trên thực tế đã đặt Chính phủ vào vai trò thụ động của cơ quan chấp hành của Quốc hội như Báo cáo số 32/BC-CP ngày 29/02/2012 của Chính phủ về tổng kết thi hành Hiến pháp 1992 (viết tắt là Báo cáo 32) đã phân tích413, không phù hợp với vị trí độc lập tương đối của cơ quan thực hiện quyền hành pháp theo nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp được khẳng định tại Điều 2 Dự thảo. Trong mọi quốc gia, Chính phủ luôn giữ vai trò là cơ quan trung tâm trong việc khởi xướng, hoạch định và điều hành chính sách quốc gia. Sự hợp tác trên cơ sở phân công rành mạch và kiểm soát chặt chẽ giữa Quốc hội (lập pháp) và Chính phủ (hành pháp) chính là động lực cho việc vận hành tốt nền quản trị quốc gia, là động lực phát triển của cả bộ máy nhà nước.

(iii) Trong điều kiện Quốc hội nước ta hoạt động chưa thường xuyên, vai trò chủ động của Chính phủ với tư cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp càng cần phải được coi trọng để đáp ứng các yêu cầu điều hành kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh và đối ngoại của đất nước.

Chính phủ đã thảo luận và đồng tình cao (24/25) với loại ý kiến thứ 2 – không quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

– Đoạn 2 – Về quy định chế độ báo cáo của Chính phủ trước Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Theo Dự thảo, Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội giữa hai kỳ họp của Quốc hội, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất với đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Do vậy, về nguyên tắc, Chính phủ chỉ phải báo cáo công tác trước Quốc hội. Xuất phát từ thực tiễn là Quốc hội không hoạt động thường xuyên nên đã hình thành cơ chế báo cáo công tác của Chính phủ trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội khi Quốc hội không họp. Tuy nhiên, Hiến pháp hiện hành không quy định rõ về trách nhiệm báo cáo của Chính phủ trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ khi Quốc hội không họp, nên trên thực tế Chính phủ vẫn đang phải báo cáo trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội như một cơ quan, một cấp quyền lực trung gian giữa Chính phủ và Quốc hội ngay cả khi Quốc hội họp. Điều này là không hợp lý trong tổ chức quyền lực nhà nước theo quan điểm phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp414.

Vì vậy, đề xuất bổ sung đoạn “và trong thời gian Quốc hội không họp” vào đoạn 2 Điều 99 Dự thảo.

1.2. Về cơ cấu, thành phần, chế độ làm việc và chịu trách nhiệm của Chính phủ và các thành viên Chính phủ (Điều 100 Dự thảo)

1.2.1. Yêu cầu hoàn thiện: Cần làm rõ vị trí và chế độ trách nhiệm tập thể của Chính phủ và chế độ trách nhiệm cá nhân của các thành viên Chính phủ, đặc biệt là Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng.

1.2.2. Hướng hoàn thiện: Quy định vị trí, trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ bảo đảm tương xứng với vị trí là người đứng đầu Chính phủ và đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước; chế độ làm việc của Chính phủ phù hợp với tính chất của cơ quan thực hiện quyền hành pháp, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất; vị trí, trách nhiệm của các Phó Thủ tướng Chính phủ với 2 tư cách – là thành viên Chính phủ và là người được Thủ tướng Chính phủ phân công trách nhiệm giúp Thủ tướng thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng; vị trí, trách nhiệm của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cũng với 2 tư cách – là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu, chịu trách nhiệm về ngành, lĩnh vực được giao quản lý; đồng thời có quy định để đảm bảo sự điều hành thông suốt, liên tục của Chính phủ trong những điều kiện đột xuất, khẩn cấp (như thiên tai, địch họa, dịch bệnh,…) nhằm khắc phục các bất cập của Hiến pháp năm 1992 như Báo cáo 32 của Chính phủ đã nêu415.

1.2.3. Đề xuất phương án hoàn thiện Điều 100 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 110 và Điều 117)

“Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do luật định.

Những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ phải được quyết định theo đa số.

Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao cho Thủ tướng Chính phủ; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp và với Chủ tịch nước.

Phó Thủ tướng Chính phủ thực hiện nhiệm vụ của thành viên Chính phủ, giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ được phân công. Khi Thủ tướng Chính phủ vắng mặt thì Phó Thủ tướng Chính phủ thường trực được Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm thay mặt Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Chính phủ.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và trước Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ”.

1.2.4. Cơ sở của kiến nghị, đề xuất

– Đoạn 2 – Về quy định “cơ cấu, số lượng thành viên của Chính phủ do luật định”: so với Dự thảo, thay đoạn cuối “do Quốc hội quyết định” bằng “do luật định” để đảm bảo tính ổn định cao hơn về cơ cấu tổ chức của Chính phủ đồng thời tạo sự phù hợp, đồng bộ với đề xuất sửa đổi liên quan đến khoản 6 Điều 75: Quốc hội ban hành luật quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ… (xem Nhóm kiến nghị, đề xuất thứ 3).

– Đoạn 3 – Hiến pháp năm 1992 tại Điều 110 không quy định chế độ làm việc của Chính phủ nhưng tại Điều 115 đoạn 2 quy định “Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số”. Dự thảo khái quát hóa quy định này thành “Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số” và đưa vào đoạn 3 Điều 100. Chính phủ cho rằng quy định như Dự thảo (i) là không cần thiết và không tương thích với các chương khác của Dự thảo vì Dự thảo không có quy định khái quát chế độ làm việc của Quốc hội, Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân; (ii) là chưa chính xác, chưa đầy đủ vì chế độ làm việc của Chính phủ, trên thực tế, bao gồm nhiều phương thức làm việc với những cách thức ra quyết định và chế độ trách nhiệm khác nhau, trong đó các phiên họp Chính phủ để thảo luận tập thể là một phương thức quan trọng nhưng không phải là duy nhất.

Vì vậy, để tạo sự thống nhất, đồng bộ giữa các chương, Chính phủ tán thành chuyển đoạn 2 Điều 115 Hiến pháp hiện hành lên đoạn 3 Điều 100 Dự thảo nhưng chỉ quy định nguyên tắc ra quyết định theo đa số của Chính phủ đối với các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, thể hiện chế độ trách nhiệm tập thể của Chính phủ (tương thích với quy định tại khoản 1 Điều 90 Dự thảo về nguyên tắc Quốc hội biểu quyết thông qua luật, nghị quyết hay quy định tại khoản 4 Điều 108 về nguyên tắc xét xử của Tòa án nhân dân và quyết định theo đa số).

– Đoạn 4, 5 và 6 – bổ sung các quy định làm rõ hơn so với Dự thảo vai trò, trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động của Chính phủ và chế độ trách nhiệm cá nhân của từng thành viên Chính phủ. Cụ thể, đoạn 5 và 6 bổ sung quy định Phó Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đều phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ- người đứng đầu Chính phủ- đây là vấn đề mà Dự thảo đã bỏ qua, không quy định (kể cả Phó Thủ tướng là người được Thủ tướng phân công giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ, nhưng Dự thảo cũng không quy định Phó Thủ tướng phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về việc thực hiện các việc được phân công, trong đó có việc phụ trách một số lĩnh vực, là điều bất hợp lý). Quy định như đề xuất trên đây nhằm tăng cường trách nhiệm cá nhân của từng thành viên Chính phủ trước người đứng đầu Chính phủ, trước tập thể Chính phủ và trước Quốc hội.

1.3. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ (Điều 101 Dự thảo)

1.3.1. Yêu cầu hoàn thiện: (i) yêu cầu hoàn thiện về nội dung: quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ phải đảm bảo phù hợp với vị trí của Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp và cơ quan hành chính nhà nước cao nhất416; (ii) yêu cầu về kỹ thuật lập hiến: quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ phải có tính khái quát cao, có độ mở để vừa không cản trở, hạn chế sự năng động, chủ động và khả năng phản ứng nhanh nhạy, linh hoạt trong hoạt động của Chính phủ – đặc điểm cơ bản của cơ quan thực hiện quyền hành pháp, vừa không dẫn tới khả năng thiếu ổn định của Hiến pháp.417

1.3.2. Hướng hoàn thiện

– Quy định đầy đủ nhưng khái quát những nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu của Chính phủ theo hai nhóm (i) để thực hiện chức năng của cơ quan thực hiện quyền hành pháp và (ii) để thực hiện chức năng của cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.

– Các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Chính phủ cần góp phần cụ thể hóa mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện quyền lực nhà nước giữa Chính phủ với Quốc hội, Chủ tịch nước, Toà án và quan hệ phân cấp với chính quyền địa phương.

– Về kỹ thuật lập hiến: Đảm bảo sự tương thích về mức độ khái quát và bao quát trong tương quan về quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Tòa án.

1.3.3. Đề xuất phương án hoàn thiện Điều 101 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 112) (viết mới)

“Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Tổ chức và bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật.

2. Đề xuất, xây dựng chính sách, trình dự án luật, dự toán ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; đề nghị Quốc hội chưa thông qua dự án luật chưa đảm bảo tính khả thi; kiến nghị Chủ tịch nước, trước khi công bố, đề nghị Quốc hội xem xét lại đạo luật chưa đảm bảo tính khả thi418.

3. Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, an ninh quốc gia và quốc phòng.

4. Đề xuất và trình Quốc hội về việc thành lập, sáp nhập, giải thể bộ, cơ quan ngang bộ; việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính – lãnh thổ; việc thành lập, giải thể các đơn vị hành chính – lãnh thổ khác theo quy định tại khoản 1 Điều 115.

5. Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thống nhất quản lý về cán bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; hướng dẫn, kiểm tra chính quyền địa phương thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó vi phạm pháp luật nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn đến lợi ích của nhân dân và đề nghị Quốc hội xem xét giải tán419.

6. Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

7. Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định việc đàm phán, ký, gia nhập, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài”.

1.3.4. Cơ sở của kiến nghị, đề xuất

– Về phạm vi, nội dung các nhiệm vụ, quyền hạn: Các quy định của Dự thảo Hiến pháp xác định chưa rõ, chưa đủ các nhiệm vụ của Chính phủ với tư cách là cơ quan “thực hiện quyền hành pháp” đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý vĩ mô, nhất là chất lượng xây dựng chính sách, thể chế, quy hoạch, năng lực dự báo và khả năng phản ứng chính sách trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

– Về khoản 2 – Chính phủ với tư cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, trực tiếp tổ chức thi hành các luật, pháp lệnh, là cơ quan có điều kiện hiểu rõ nhất về tính hợp lý, tính khả thi của các luật, pháp lệnh, là cơ quan phải chịu trách nhiệm đến cùng về chất lượng, tính khả thi, hợp lý của các chính sách và các dự án luật trình Quốc hội. Do vậy, cần bổ sung cho Chính phủ quyền đề xuất với Quốc hội chưa thông qua dự án luật chưa đảm bảo tính khả thi; quyền kiến nghị với Chủ tịch nước, trước khi công bố, đề nghị Quốc hội xem xét lại đạo luật chưa đảm bảo tính khả thi. Đây là một cơ chế để cụ thể hóa Điều 2 Dự thảo liên quan đến việc kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp. Trong Dự thảo đã có nhiều quy định tăng cường kiểm soát của Quốc hội, kể cả UBTVQH là cơ quan thường trực của Quốc hội đối với Chủ tịch nước và Chính phủ nhưng lại chưa có quy định nào xác lập cơ chế kiểm soát tương ứng của cơ quan thực hiện quyền hành pháp đối với cơ quan thực hiện quyền lập pháp.

– Về khoản 4 – về thẩm quyền quyết định việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Qua tổng hợp báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương có hai loại ý kiến khác so với Dự thảo của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp cụ thể là :

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng chỉ có Quốc hội có thẩm quyền xem xét và quyết định việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới của tất cả các đơn vị hành chính – lãnh thổ420 vì đây là việc hệ trọng, tác động nhiều mặt đến đời sống nhân dân, định hướng, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, đồng thời ảnh hưởng đến tính ổn định về địa giới hành chính của địa phương. Vì vậy, thẩm quyền này phải được giao cho Quốc hội quyết định trên cơ sở đề án do Chính phủ trình. Một đạo luật sẽ quy định tiêu chí, trình tự, thủ tục thực hiện việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới của tất cả các đơn vị hành chính – lãnh thổ, bao gồm cả việc lấy ý kiến nhân dân các địa phương liên quan (như đề xuất tại khoản 2 Điều 115).

Loại ý kiến thứ hai đề nghị giữ nguyên như Hiến pháp 1992, nghĩa là thẩm quyền này thuộc về Chính phủ nhưng bổ sung quy định tiêu chí, trình tự, thủ tục thực hiện phải do luật định trên cơ sở lấy ý kiến nhân dân địa phương. (xem khoản 2 Điều 115). Quy định như vậy phù hợp với trách nhiệm của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất đồng thời khắc phục được những bất cập trong thực tiễn chia, tách các đơn vị hành chính thời gian qua do chưa có Luật quy định về tiêu chí, điều kiện và quy trình thực hiện, đặc biệt là chưa tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ra quyết định421.

Do số lượng thành viên Chính phủ tán thành các phương án đều không quá bán, mức độ chênh lệch giữa các phương án là không lớn (loại ý kiến thứ 1 là 12/25 và loại ý kiến thứ hai là 10/25) nên Chính phủ đề xuất 2 Phương án như sau:

Phương án 1: Quốc hội có thẩm quyền quyết định việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới của tất cả các đơn vị hành chính – lãnh thổ và thiết kế lại khoản 4 Điều 101 như sau:

“Điều 101: Chính phủ có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

4. Đề xuất và trình Quốc hội về việc thành lập, sáp nhập, giải thể bộ, cơ quan ngang bộ; việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính- lãnh thổ; việc thành lập, giải thể các đơn vị hành chính –lãnh thổ khác quy định tại khoản 1 Điều 115”.

Phương án 2: Quốc hội quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chính phủ quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đồng thời bổ sung quy định “việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính các đơn vị hành chính – lãnh thổ phải được thực hiện trên cơ sở lấy ý kiến nhân dân địa phương và theo các tiêu chí, trình tự, thủ tục do luật định”.

– Về khoản 5 – xác định nhiệm vụ, quyền hạn và quan hệ trách nhiệm của Chính phủ đối với Chính quyền địa phương: Dự thảo hiện nay vẫn giữ nguyên các quy định chứa đựng những mâu thuẫn, chồng chéo về thẩm quyền của UBTVQH và Chính phủ trong quan hệ với chính quyền địa phương, đặc biệt là với Hội đồng nhân dân, như đã được nêu trong Báo cáo 32 422.

Chính quyền địa phương có chức năng quan trọng nhất là tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương, trong đó Hội đồng nhân dân với tư cách là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương phải chịu trách nhiệm ban hành các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật tại địa phương. Hội đồng nhân dân cùng với cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một mắt xích của nền hành chính quốc gia, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

Sau khi thảo luận:

+ Đa số thành viên Chính phủ tán thành (18/25) đề xuất chuyển từ Ủy ban thường vụ Quốc hội sang Chính phủ nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thẩm quyền bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

+ Chính phủ tán thành cao (24/25) đề xuất chuyển từ Ủy ban thường vụ Quốc hội sang Quốc hội thẩm quyền giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân, đồng thời bổ sung quyền của Chính phủ đình chỉ hoạt động của Hội đồng nhân dân đó và đề nghị Quốc hội xem xét giải tán; đề nghị bổ sung cụm từ “vi phạm pháp luật nghiêm trọng” trước cụm từ ”làm thiệt hại lớn đến lợi ích của nhân dân”.

– Về khoản 6 – “Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội”. Nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thuộc về chức năng của cả cơ quan thực hiện quyền hành pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Để thực hiện được nhiệm vụ quan trọng này, Chính phủ phải có đủ các thiết chế có quyền năng phát hiện, phòng chống và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu Tòa án xử lý theo luật định các vi phạm pháp luật được phát hiện trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật. Các thiết chế đó là cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và công tố. Tuy nhiên, hiện nay Viện kiểm sát vẫn đang là một thiết chế chưa được xác định rõ là cơ quan thực hiện quyền lực nào trong tổ chức quyền lực nhà nước và vẫn tạm xếp trong Chương về Tòa án nhân dân- cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đã xác định hướng lâu dài là nghiên cứu chuyển Viện Kiểm sát nhân dân thành Viện công tố, mà về nguyên lý vận hành của quyền hành pháp trong nhà nước pháp quyền, công tố phải là một chức năng của quyền hành pháp. Điều này cần phải được tính tới khi xác định vị trí của Viện Kiểm sát vì Hiến pháp sửa đổi được xây dựng để phù hợp với sự phát triển lâu dài sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta.

– Về khoản 7 – Các đề xuất sửa đổi, bổ sung liên quan đến điều ước quốc tế được xem xét, đề xuất trong một thể thống nhất, phân định rõ ràng hơn về thẩm quyền của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn423. Đối với Chính phủ, những sửa đổi chủ yếu có tính kỹ thuật, như bỏ đoạn “trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 93” vì không cần thiết do Chính phủ chỉ có thẩm quyền ký các điều ước quốc tế cấp Nhà nước khi được Chủ tịch nước ủy quyền; bỏ chữ “kết” sau chữ “ký”; hay bổ sung “tổ chức” và “quyết định” cho phù hợp với thiết chế tập thể Chính phủ.

2. Về Thủ tướng Chính phủ (Điều 103 Dự thảo)

2.1. Về vị trí, chức năng của Thủ tướng Chính phủ

2.1.1. Yêu cầu hoàn thiện: Quy định về vị trí của Thủ tướng tại điều này phải thống nhất với quy định về chế độ trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ tại Điều 100, phân định rõ trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng về những nhiệm vụ được giao cho Thủ tướng Chính phủ và trách nhiệm của Thủ tướng về hoạt động chung của Chính phủ với vị trí là người đứng đầu Chính phủ và đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước.

2.1.2. Hướng hoàn thiện

Bổ sung quy định vị trí của Thủ tướng Chính phủ là “người đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước” nhằm khẳng định vai trò lãnh đạo, điều hành hoạt động thông suốt của cả bộ máy hành chính từ trung ương đến cơ sở. Quy định này làm cơ sở cho việc thiết kế nhóm nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với vai trò của người đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước.

2.2. Về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thủ tướng Chính phủ

2.2.1. Yêu cầu hoàn thiện

Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ bảo đảm để Thủ tướng thực hiện đầy đủ, hiệu quả hai vai trò – người đứng đầu cơ quan hành pháp và người đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước424, đảm bảo Thủ tướng Chính phủ tập trung vào:

– Lãnh đạo, định hướng chính sách để trình Quốc hội ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền của Chính phủ và của Thủ tướng Chính phủ các văn bản pháp luật nhằm giải quyết những vấn đề vĩ mô, vừa có tính chiến lược (các đạo luật) vừa bảo đảm tính nhạy bén, kịp thời và khả thi (các văn bản lập quy) nhất là trong việc giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá trình điều hành đất nước .

– Lãnh đạo việc thiết lập và duy trì trật tự, kỷ cương, kỷ luật trong hệ thống hành chính quốc gia nhưng không bị sa vào giải quyết các vấn đề sự vụ, phù hợp với xu hướng phân công, phân cấp, uỷ quyền hợp lý, hiệu quả giữa Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng, đảm bảo Thủ tướng có đủ quyền hạn để giải quyết các vấn đề vượt quá thẩm quyền của Bộ trưởng và trực tiếp chỉ đạo xử lý đối với một số công việc lớn, đột xuất, các sự cố nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh lớn cần phải có sự chỉ đạo tập trung, huy động nguồn lực và phối hợp hoạt động của nhiều Bộ, ngành, địa phương425.

2.2.2. Hướng hoàn thiện: Thiết kế các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thủ tướng Chính phủ theo các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

– Nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện chức năng lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ;

– Nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện chức năng điều hành hệ thống hành chính quốc gia;

– Nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương;

– Nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện thẩm quyền riêng của Thủ tướng Chính phủ trong việc ban hành và áp dụng các biện pháp cần thiết để xử lý các vấn đề đột xuất, khẩn cấp trong quá trình điều hành kinh tế – xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia;

– Nhiệm vụ, quyền hạn thể hiện rõ trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, trước nhân dân.

2.2.3. Đề xuất phương án hoàn thiện Điều 103 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 114)

“Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, là người đứng đầu Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước.

Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Định hướng và điều hành hoạt động của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật.

2. Chỉ đạo việc đàm phán, ký điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; chỉ đạo thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; thay mặt Chính phủ thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn về điều ước quốc tế theo phân công của Chính phủ426.

3. Lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia.

4. Trình Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; trong thời gian Quốc hội không họp, có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước quyết định tạm đình chỉ chức vụ Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; trong trường hợp khuyết Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và trong thời gian Quốc hội không họp, có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước quyết định bổ nhiệm người giữ quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cho đến khi Quốc hội họp427; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng, các chức vụ tương đương trong bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương; phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm, quyết định điều động, cách chức người đứng đầu Cơ quan hành chính nhà nước/Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

5. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Cơ quan hành chính nhà nước/Ủy ban hành chính, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước/Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Chính phủ xem xét bãi bỏ.

6. Quy định và áp dụng các biện pháp cần thiết trong trường hợp khẩn cấp không thuộc tình trạng khẩn cấp và các biện pháp đặc biệt bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia theo quy định tại khoản 13 Điều 75.

7. Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ”.

2.2.4. Cơ sở của kiến nghị, đề xuất

Việc sửa đổi như trên nhằm khắc phục các hạn chế của Dự thảo, cụ thể:

– Quy định tại Dự thảo mới chỉ ghi nhận cụ thể vị trí, chức năng của Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ, còn vị trí đứng đầu cơ quan hành chính thì chưa khẳng định cụ thể mà còn lẫn trong các quy định chưa đầy đủ về nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ.

– Về khoản 2 – Do Chính phủ là thiết chế tập thể nên trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ về công tác điều ước quốc tế, Chính phủ có thể phân công Thủ tướng Chính phủ với vai trò là người lãnh đạo, điều hành công tác của Chính phủ, thực hiện một số nhiệm vụ và quyền hạn, nhất là đối với những vấn đề mà Chính phủ không nhất thiết phải thảo luận và quyết định tập thể. Vấn đề này đã qua kiểm nghiệm thực tế vận hành tốt nên Chính phủ đề xuất quy định trong Hiến pháp.

– Về khoản 4 và khoản 6 – Đề xuất bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ về công tác nhân sự của Chính phủ (khoản 4) và về quy định, áp dụng các biện pháp cần thiết (khoản 5) để tạo sự chủ động và bảo đảm việc điều hành của Thủ tướng Chính phủ trong những tình huống đặc biệt, đột xuất, khẩn cấp.

– Về khoản 5 – Trong mối quan hệ trung ương với địa phương, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ phải phù hợp với quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ như đã đề xuất tại Điều 100. Tuy nhiên, cần lưu ý để đảm bảo tính đồng bộ với các đề xuất ở Chương Chính quyền địa phương, đoạn cuối khoản 5 chưa xác định cụ thể tên cơ quan hành chính nhà nước và chức danh của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh.

– Về khoản 7 – Bổ sung so với Dự thảo “các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ” vào nội dung các vấn đề mà Thủ tướng Chính phủ thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân nhằm thể hiện đầy đủ hơn trách nhiệm của Thủ tướng về hoạt động chung của Chính phủ và trách nhiệm về những nhiệm vụ được giao cho cá nhân Thủ tướng.

3. Về Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (Điều 104 Dự thảo)

3.1. Yêu cầu hoàn thiện

Thể hiện được vị trí của Bộ trưởng là cầu nối giữa chức năng hành pháp và chức năng quản lý hành chính nhà nước; cụ thể là, một mặt Bộ trưởng cùng với tập thể Chính phủ thực hiện chức năng hành pháp, tham gia đề xuất, hoạch định chính sách, mặt khác Bộ trưởng đồng thời là người đứng đầu, trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo hoạt động của bộ máy hành chính trực thuộc. Phù hợp với Điều 100, cần xác định rõ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội và nhân dân đối với lĩnh vực, ngành mình được phân công phụ trách428.

3.2. Đề xuất phương án hoàn thiện Điều 104 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 116, Điều 117)

Khoản 1 bổ sung và sửa thành:

“Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”.

Khoản 2 Điều 104 sửa lại thành:

“Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý”.

3.3. Cơ sở của kiến nghị, đề xuất

– Về khoản 1 – Việc bổ sung quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ “tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc” để tạo sự thống nhất với nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm thi hành pháp luật của tập thể Chính phủ. Nhiệm vụ, quyền hạn này của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cùng với thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật, kiểm tra việc thi hành các văn bản pháp luật và xử lý văn bản pháp luật có vi phạm quy định tại Điều 105 Dự thảo và chế độ báo cáo công tác quy định tại khoản 2 Điều 104 làm rõ và đầy đủ hơn trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách là “tư lệnh”ngành, lĩnh vực.

– Về khoản 2 – Bổ sung so với Dự thảo quy định về tính chịu trách nhiệm của Bộ trưởng trước Thủ tướng Chính phủ429 – người có quyền hạn và chịu trách nhiệm về việc “trình Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức… Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ” (khoản 2 Điều 103).

4. Về thẩm quyền ban hành và kiểm tra việc thi hành văn bản pháp luật (Điều 105 Dự thảo (sửa đổi Điều 115, Điều 116)

4.1. Yêu cầu hoàn thiện:

Để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả của việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn ban hành và kiểm tra việc thi hành văn bản pháp luật cần bổ sung quyền hạn xử lý văn bản trái pháp luật được phát hiện trong quá trình kiểm tra và giao cho luật quy định về thẩm quyền ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật.

4.2. Đề xuất phương án hoàn thiện Điều 105 Dự thảo (sửa đổi Điều 115, Điều 116)

“Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý theo quy định của luật đối với các văn bản trái pháp luật được phát hiện”.

4.3. Cơ sở của kiến nghị, đề xuất

Việc trao thẩm quyền ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là cần thiết và hợp lý để đảm bảo cho các chủ thể này thực hiện hiệu quả chức năng hành pháp và hành chính nhà nước. Tuy nhiên, ở tầm hiến định, Dự thảo chỉ quy định thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về xử lý văn bản trái pháp luật do các bộ, ngành, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành, do đó, cần bổ sung tại điều này quy định “ xử lý theo quy định của luật” để giao cho luật quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành, kiểm tra và xử lý của các cơ quan khác.

II. NHÓM KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT THỨ 2: Hoàn thiện Chương IX – Chính quyền địa phương

1. Quy định về các đơn vị hành chính lãnh thổ (khoản 1 Điều 115)

1.1. Yêu cầu hoàn thiện

– Bảo đảm kế thừa quy định về phân chia các đơn vị hành chính lãnh thổ nhằm tạo ra sự thống nhất, đồng bộ và ổn định trong cả nước cho việc tổ chức đơn vị hành chính, tuy nhiên có quy định mở cho khả năng xác lập trong tương lai loại đơn vị hành chính – lãnh thổ mới ở các các đô thị lớn của nước ta trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhưng phải đảm bảo tuân thủ tiêu chí, trình tự, thủ tục chặt chẽ do luật định.

– Hiến định rõ hơn về thẩm quyền, tiêu chí, điều kiện, thủ tục thành lập mới, sáp nhập, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính – lãnh thổ nhằm bảo đảm tính ổn định các đơn vị hành chính – lãnh thổ, tránh tình trạng “nhập – tách” có phần dễ dãi, thiếu căn cứ, tiêu chí minh bạch, công khai, đặc biệt là thiếu sự tham gia ý kiến có tính quyết định của nhân dân như thực tế vừa qua ở nước ta.

1.2. Đề xuất phương án hoàn thiện khoản 1 Điều 115 Dự thảo

Trên cơ sở định hướng sửa đổi, đề nghị tách khoản 1 và khoản 2 Điều 115 Dự thảo thành hai điều độc lập như sau:

– Điều 115ª.

1. Các đơn vị hành chính – lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau430:

  Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

  Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;

Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường, xã; quận chia thành phường.

Việc thành lập, giải thể đơn vị hành chính – lãnh thổ khác do luật định.

2. Việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính các đơn vị hành chính – lãnh thổ quy định tại khoản 1 Điều này phải được thực hiện trên cơ sở lấy ý kiến nhân dân địa phương và theo các tiêu chí, trình tự, thủ tục do luật định.431

1.3. Cơ sở của kiến nghị, đề xuất

– Khoản 1 – Quy định mở về khả năng thành lập các đơn vị hành chính – lãnh thổ mới ngoài những đơn vị đã được xác định cụ thể tại khoản này nhằm tăng khả năng dự báo và tính ổn định của Hiến pháp trong việc đáp ứng nhu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế- xã hội về thiết lập và định danh một số loại đơn vị hành chính – lãnh thổ mới, chẳng hạn như thành phố trong thành phố, khu hành chính- kinh tế đặc biệt với các quy mô khác nhau (trên địa bàn của một hoặc một số đơn vị hành chính – lãnh thổ đang tồn tại theo quy định tại khoản 1).432

– Khoản 2 – Bổ sung quy định: việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính – lãnh thổ phải trên cơ sở tham khảo ý kiến nhân dân địa phương và theo tiêu chí, trình tự, thủ tục luật định433để khắc phục những bất cập đã nêu tại các phần trên của Báo cáo này.

2. Việc tổ chức chính quyền địa phương tại các đơn vị hành chính – lãnh thổ (khoản 2 Điều 115)

2.1. Định hướng hoàn thiện

– Tạo cơ sở hiến định cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, giảm tầng nấc; đảm bảo tổ chức của từng cấp chính quyền phù hợp với đặc thù đô thị, nông thôn để giải quyết những vướng mắc và bất cập trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương hiện nay;

– Thể hiện được nguyên tắc bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc vừa bảo đảm thực hiện nghiêm minh Hiến pháp, pháp luật của trung ương trong một nhà nước đơn nhất, vừa chủ động và có đủ thẩm quyền do Hiến pháp và luật giao để quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng X và XI; bảo đảm đồng thời nguyên tắc chính quyền địa phương tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình và nguyên tắc kiểm tra, kiểm soát của trung ương đối với địa phương, đảm bảo tính thống nhất trong việc thực hiện quyền lực nhà nước cũng như yêu cầu vận hành nền hành chính thống nhất, thông suốt theo các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền.

2.2. Đề xuất phương án hoàn thiện khoản 2 Điều 115

Điều 115b (thành Điều 116)

1. Chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Cơ quan hành chính nhà nước/Ủy ban hành chính được thành lập ở tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn và xã.

2. Việc thành lập Hội đồng nhân dân, Cơ quan hành chính nhà nước/Ủy ban hành chính ở các đơn vị hành chính – lãnh thổ khác phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn và phân cấp quản lý theo quy định của luật.434

3. Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật trong phạm vi địa phương; hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi thẩm quyền do luật định; chịu sự kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

2.3. Cơ sở của kiến nghị, đề xuất

– Về tên gọi các cơ quan của chính quyền địa phương: Dự thảo đưa ra tên gọi của Chương là Chính quyền địa phương nhưng chưa đưa ra định nghĩa hay quy định nào để làm rõ khái niệm này. Do vậy, Chính phủ đề xuất quy định rõ chính quyền địa phương gồm- Hội đồng nhân dân và Cơ quan hành chính nhà nước hoặc Ủy ban hành chính.

Việc chưa xác định tên gọi cụ thể của cơ quan hành chính nhà nước ở mỗi đơn vị hành chính – lãnh thổ mà để cho Luật quy định nhằm tạo khả năng đổi mới, đa dạng hóa mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước địa phương phù hợp với đặc thù của từng mô hình chính quyền đô thị hoặc chính quyền nông thôn. Đây là phương án được một số bộ, ngành, địa phương và nhiều chuyên gia kiến nghị435.

Nếu xác định cơ quan hành chính nhà nước là Ủy ban hành chính thay vì Ủy ban nhân dân như trong Dự thảo thì tính chất, vai trò, chức năng của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được thể hiện rõ hơn, đề cao hơn chế độ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan này, tạo sự đồng bộ, tương thích hơn về chế độ làm việc và chế độ trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước từ Chính phủ đến các cấp chính quyền địa phương. Đây cũng là phương án được nhiều bộ, ngành, địa phương kiến nghị436.

– Về việc tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính – lãnh thổ.: có 02 loại ý kiến:

+ Loại ý kiến thứ nhất tán thành với Dự thảo, quy định mở có tính nguyên tắc “việc thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ở các đơn vị hành chính lãnh thổ do luật định phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị hành chính lãnh thổ và phân cấp quản lý” (khoản 2 Điều 115).

+ Loại ý kiến thứ hai đề xuất quy định rõ việc thành lập chính quyền địa phương đầy đủ (gồm cả Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước/ ủy ban hành chính cùng cấp) tại các đơn vị hành chính – lãnh thổ cơ bản, tự nhiên là tỉnh, thành phố (bao gồm cả thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộc tỉnh), thị xã, thị trấn và xã, phù hợp với kết quả thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân ở quận, huyện phường theo tinh thần Nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15/11/2008 của Quốc hội

Chính phủ biểu quyết: 15/25 tán thành loại ý kiến thứ hai.

– Khoản 2 – Giữ nguyên về cơ bản tinh thần khoản 2 Điều 115 Dự thảo nhưng có nói rõ hơn đặc thù đô thị và nông thôn, đổi tên từ Ủy ban nhân dân thành Ủy ban hành chính hoặc Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

– Khoản 3 – Bổ sung nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách, pháp luật trong phạm vi được phân cấp theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng X và XI; nguyên tắc kiểm tra, kiểm soát của trung ương đối với địa phương đảm bảo tính thống nhất trong việc thực hiện quyền lực nhà nước cũng như yêu cầu vận hành nền hành chính thống nhất, thông suốt theo các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền. Nhất quán với quan điểm về vị trí của Chính phủ, về mối quan hệ giữa Chính phủ với chính quyền địa phương đã thể hiện ở Chương VII, cần xác định rõ Chính quyền địa phương chịu sự kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

Trên cơ sở của Hiến pháp, các đạo luật, trong đó có Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật tổ chức Chính phủ sẽ cụ thể hóa nguyên tắc này theo hướng xác định rõ những loại việc do chính quyền trung ương quyết định và tổ chức thực hiện, những việc do chính quyền địa phương quyết định và tổ chức thực hiện, những việc cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cùng thực hiện theo phân cấp và đảm bảo điều kiện thực hiện trong phạm vi phân cấp.

3. Quy định về vị trí, tính chất, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Điều 116 Dự thảo)

3.1. Yêu cầu và hướng hoàn thiện

– Xác định rõ hơn vị trí, tính chất pháp lý của HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương (do nhân dân địa phương bầu, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân địa phương) và trách nhiệm của cơ quan này trước nhân dân địa phương; xác định rõ hơn nguyên tắc tự chủ của HĐND trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, trong đó có vấn đề về ngân sách địa phương.

– Đối với cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chỉ xác định nguyên tắc chung, còn việc định danh và xác định cụ thể tính chất pháp lý, chế độ làm việc v.v. của cơ quan này sẽ dành cho luật định nhằm dự liệu cho việc đổi mới tổ chức chính quyền địa phương nói chung, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói riêng.

3.2. Đề xuất phương án hoàn thiện Điều 116 Dự thảo

Điều 116 (thành Điều 117)

“1. Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, các vấn đề quan trọng của địa phương; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước tại địa phương.

2. Cơ quan hành chính nhà nước/Ủy ban hành chính chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao”.437

3.3. Cơ sở của kiến nghị, đề xuất

– Về khoản 1 – Có quy định tính chất của Hội đồng nhân dân “là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương” không? Qua tổng hợp có 02 loại ý kiến:

+ Loại ý kiến thứ nhất tán thành với Dự thảo tiếp tục quy định: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương” (khoản 1 Điều 116) vì đây là cơ quan do nhân dân địa phương trực tiếp bầu và giao phó quyền lực của nhân dân.

+ Loại ý kiến thứ hai không quy định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vì quy định này dễ tạo ra sự nhận thức không thống nhất và chưa chuẩn xác về tính chất và địa vị pháp lý của HĐND. Trong Nhà nước đơn nhất không thể phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lực nhà nước ở trung ương và quyền lực nhà nước ở địa phương. Theo tinh thần mới của Điều 6 Dự thảo: nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước. Ở trung ương và mỗi địa phương, không phải chỉ có các cơ quan đại diện nhân dân mới là cơ quan quyền lực nhà nước mà mọi cơ quan nhà nước khác – cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tư pháp.. đều là cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước. Do vậy, đề xuất không tiếp tục quy định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Chính phủ tán thành cao (24/25) với loại ý kiến thứ hai – không quy định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

– Về chức năng, quyền hạn của Hội đồng nhân dân: tán thành quy định như Dự thảo: HĐND có 3 chức năng chính là cơ quan ban hành các biện pháp để bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật trong phạm vi địa phương, chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương và chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước tại địa phương, nhưng để làm rõ hơn nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, đề xuất bổ sung quy định Hội đồng nhân dân “quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương”. Quy định này là phù hợp, tạo sự nhất quán với quy định mới tại khoản 4 Điều 75 về việc Quốc hội chỉ quyết định dự toán và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách trung ương.

4. Quy định về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân

Về cơ bản, Chính phủ nhất trí với các quy định trong Dự thảo, tuy nhiên, nếu như chúng ta chấp nhận đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo hướng, không nhất thiết tổ chức cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (UBND hiện hành) theo mô hình là cơ quan tập thể, thì về mặt kỹ thuật lập hiến, các quy định của Điều 118 này cũng cần có sự chỉnh sửa cho phù hợp. Bên cạnh đó, nội dung quy định này cần lưu ý tới chủ trương cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, theo đó, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân có thể sẽ không được tổ chức theo các đơn vị hành chính mà được tổ chức theo khu vực thì mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân sẽ thay đổi và các quy định như vừa nêu có thể sẽ không còn phù hợp. Ngoài ra, để đảm bảo cho tính khái quát của Hiến pháp, các quy định tại Điều 118 không nhất thiết phải đưa vào trong Hiến pháp mà có thể để các đạo luật về tổ chức chính quyền địa phương quy định.

III. NHÓM KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT THỨ 3: Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định về Quốc hội, Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Hiến pháp có liên quan đến Chính phủ nhằm cụ thể hóa nhất quán nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và nguyên tắc phân cấp, kiểm tra giữa trung ương và địa phương

1. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung

– Tạo sự đồng bộ, thống nhất, tương thích giữa các quy định liên quan về tổ chức bộ máy nhà nước trong Dự thảo nhằm đảm bảo cụ thể hóa các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước.

– Bổ sung yếu tố kiểm soát quyền lực khi thiết kế các nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa Chính phủ và các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.

2. Hướng sửa đổi, bổ sung

2.1. Về mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội (tập trung vào Điều 75 Dự thảo)

Về Điều 75, Chính phủ có 2 loại đề xuất:

2.1.1. Những đề xuất sửa đổi cụ thể nội dung từng khoản

– Đề xuất sửa khoản 1 Điều 75 Dự thảo “Quốc hội làm hiến pháp, sửa đổi hiến pháp; làm luật, sửa đổi luật” theo hướng “Quốc hội thông qua sửa đổi Hiến pháp; thông qua luật, sửa đổi luật”.438

Lý do: theo cách hiểu chung hiện nay thì làm Hiến pháp, làm luật tức là xây dựng Hiến pháp, xây dựng luật bao gồm nhiều công đoạn khác nhau có sự tham gia của nhiều chủ thể với những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau. Do đó, không chỉ riêng Quốc hội “làm” Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và làm luật, sửa đổi luật nhưng quyền hạn riêng có của Quốc hội trong quá trình “làm” đó chính là quyền thông qua Hiến pháp sửa đổi và thông qua luật, sửa đổi luật do đó, nên khẳng định rõ quyền lập hiến và lập pháp của Quốc hội chính là quyền thông qua sửa đổi Hiến pháp và thông qua luật, sửa đổi luật.

Về làm Hiến pháp hay chỉ sửa đổi Hiến pháp: nhiều ý kiến cho rằng, khi chế độ chính trị, mô hình chính thể không thay đổi thì mỗi quốc gia chỉ có một bản Hiến pháp và các bản sửa đổi Hiến pháp. Do vậy, ”làm Hiến pháp” với ý nghĩa là xây dựng một bản Hiến pháp tạo nền tảng pháp lý cho một Nhà nước thì chỉ có 01 lần, đó là khi xây dựng Hiến pháp đầu tiên, ở Việt Nam là Hiến pháp 1946, còn tất cả những lần sau chỉ là sửa đổi, bổ sung Hiến pháp mà không động chạm hoặc thay đổi những nguyên tắc nền tảng về chính trị, kinh tế và mô hình bộ máy nhà nước. Do vậy, Chính phủ đồng tình đề nghị ở khoản này và Điều 124 đều chỉ nên đề cập đến việc sửa đổi Hiến pháp.

– Đề xuất sửa khoản 8 Điều 75: Đề xuất không hiến định việc lấy phiếu tín nhiệm; tuy nhiên, thay vào đó cần quy định quyền của Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn – một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, đồng thời bổ sung quy định về nguyên tắc, điều kiện, phạm vi của việc tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu bất tín nhiệm.439

Lý do: Lấy phiếu tín nhiệm là hoạt động bình thường trong công tác quản lý cán bộ, không phù hợp với tính chất của quyền giám sát chính trị của Quốc hội đối với các chức danh cao cấp nhất của bộ máy nhà nước. Việc lấy phiếu tín nhiệm mới chỉ được quy định bằng một nghị quyết của Quốc hội, chưa qua thực tiễn kiểm nghiệm về tính khả thi và hiệu quả, do đó, đề nghị chưa vội nâng thành quy định của Hiến pháp. Trong khi đó, lại chưa có quy định để Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với những người có vi phạm nghiêm trọng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn được giao, không hoàn thành trách nhiệm trước Nhà nước và nhân dân.

– Đề xuất sửa khoản 9 Điều 75 theo hướng Quốc hội quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đối với tất cả các đơn vị hành chính – lãnh thổ như đã đề xuất tại khoản 4 Điều 101.440

– Đề xuất sửa khoản 10 Điều 75 về thẩm quyền của Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan theo hướng chuyển quyền đình chỉ, bãi bỏ đối với các văn bản vi hiến cho Hội đồng Hiến pháp xem xét, xử lý theo thẩm quyền441.

– Đề xuất sửa đổi khoản 14 Điều 75 liên quan đến điều ước quốc tế:

…… Quốc hội phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế về chiến tranh và hòa bình, các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia, các điều ước quốc tế đặc biệt quan trọng liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; các điều ước quốc tế đặc biệt quan trọng về thương mại;tư cách thành viên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế phổ quát và giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế đó”442.

Lý do: Quy định như Dự thảo là một bước tiến lớn trong việc hiến định sự tham gia mạnh mẽ hơn của Quốc hội vào công tác điều ước quốc tế. Tuy nhiên, quy định của Dự thảo sử dụng phương pháp liệt kê nhưng lại không thống nhất về tiêu chí liệt kê (có tiêu chí về nội dung và tiêu chí về hình thức “các tổ chức quốc tế và khu vực”) nên sẽ gây khó khăn cho thực hiện sau này. Phạm vi thẩm quyền của Quốc hội được mở ra quá rộng, khó bảo đảm tính khả thi, khó đáp ứng đòi hỏi sự nhanh nhạy của thực tiễn, nhất là trong điều kiện Quốc hội không hoạt động thường xuyên, ví dụ quy định Quốc hội phê chuẩn tư cách thành viên của Việt Nam tại tất cả các tổ chức quốc tế và khu vực hay phê chuẩn tất cả các điều ước quốc tế liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân, các điều ước quốc tế về thương mại đều không khả thi vì số lượng các tổ chức quốc tế và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia đều quá lớn. Với đặc thù tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta thì chỉ nên quy định việc phê chuẩn của Quốc hội đối với những điều ước quốc tế thực sự quan trọng, mang tính phổ quát, tác động lớn đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về thương mại quốc tế; cũng tương tự, Quốc hội chỉ nên xem xét và quyết định về tư cách thành viên của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế lớn, phổ quát.

2.1.2. Đề xuất sắp xếp lại và khái quát hóa các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội theo 3 nhóm để thực hiện 3 chức năng của Quốc hội: (i) lập pháp; (ii) quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; (iii) giám sát tối cao, cụ thể:

Điều 75 (mới): Quốc hội có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Thông qua Hiến pháp sửa đổi.

2. Thông qua luật, sửa đổi luật để quy định các chính sách cơ bản, có tính định hướng ổn định lâu dài, hiệu lực tác động trong phạm vi cả nước: chính sách phát triển kinh tế- xã hội; chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, quy định, sửa đổi, bãi bỏ các thứ thuế; chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của nhà nước; chính sách đối ngoại; quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập; quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia.

3. Phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế về chiến tranh và hòa bình, các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia, các điều ước quốc tế đặc biệt quan trọng liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; các điều ước quốc tế đặc biệt quan trọng về thương mại; tư cách thành viên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế phổ quát và giám sát việc thực hiện các điều ước quốc tế đó.

4. Quyết định nguyên tắc các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách trung ương; phê chuẩn quyết toán ngân sách trung ương; xem xét báo cáo tổng hợp dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước.

5. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, các Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, danh sách thành viên Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia.

6. Quyết định, thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính – lãnh thổ; thành lập, giải thể các đơn vị hành chính – lãnh thổ khác quy định tại khoản 1 Điều 115; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật.

7. Quyết định đại xá.

8. Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình.

9. Quyết định trưng cầu ý dân về sửa đổi Hiến pháp và các vấn đề trọng đại của đất nước.

10. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập.

11. Bỏ phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

12. Bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái luật, nghị quyết của Quốc hội; theo đề nghị của Chính phủ xem xét, quyết định giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vi phạm pháp luật nghiêm trọng gây thiệt hại lớn cho nhân dân.

Trong 12 nhiệm vụ, quyền hạn trên: khoản 1 là quyền hạn của Quốc hội cùng với nhân dân thực hiện quyền lập hiến; khoản 2 và khoản 3 là các nhiệm vụ thuộc chức năng lập pháp; từ khoản 4 đến khoản 9 là các nhiệm vụ thuộc chức năng quyết định các vấn đề quan trọng; từ khoản 10 đến khoản 12 là các nhiệm vụ thuộc chức năng giám sát tối cao. Tuy nhiên, còn phải tính tới những trường hợp đặc biệt mà Quốc hội cần ban hành nghị quyết để điều chỉnh một số nội dung của luật để áp dụng hoặc không áp dụng đối với một số đối tượng nhất định trong điều kiện và thời gian nhất định.

Cách thiết kế Điều 75 như trên tạo sự tương thích về cách viết và mức độ khái quát so với Điều 101 về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, tạo điều kiện phân định rõ hơn thẩm quyền của Quốc hội và Chính phủ trong việc quyết định các chính sách- một nhiệm vụ thuộc về cả hai cơ quan. Như vậy, trong các lĩnh vực được liệt kê tại khoản 2, đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội mà Quốc hội chưa ban hành luật để điều chỉnh và những vấn đề thuộc chức năng của Chính phủ thì Chính phủ được ban hành chính sách và văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm ứng phó nhanh, chủ động trước các yêu cầu điều hành đất nước (phù hợp với Điều 105 Dự thảo).

2.2. Về mối quan hệ giữa Chính phủ và Uỷ ban thường vụ Quốc hội (tập trung vào hoàn thiện Điều 79 Dự thảo)

2.2.1. Đề xuất chung: Đề nghị cân nhắc điều chỉnh lại nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH theo hướng đảm bảo UBTVQH được giao và tập trung thực hiện tốt, hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với vị trí hiến định là cơ quan thường trực của Quốc hội, phối hợp, điều hòa hoạt động của các cơ quan của Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp443.

Lý do: Hiến pháp năm 1992 và Dự thảo tiếp tục quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thật phù hợp với vị trí hiến định nói trên, dẫn đến cơ quan này trở thành một cơ quan, một cấp quyền lực trong quan hệ với các cơ quan như Chủ tịch nước, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC và như một cấp trên của các cơ quan khác của Quốc hội vì theo Dự thảo “Uỷ ban thường vụ Quốc hội lãnh đạo công tác của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội”.

2.2.2. Đề xuất cụ thể

– Khoản 2 Điều 79 – Đề nghị không quy định UBTVQH ban hành pháp lệnh (theo đúng tinh thần Nghị quyết 48 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật); chuyển quyền giải thích Hiến pháp sang cho Hội đồng Hiến pháp; giải thích luật sang cho TAND.

– Cân nhắc điều chỉnh khoản 4 Điều 79 về thẩm quyền đình chỉ thi hành văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp sang cho Hội đồng Hiến pháp.

– Đề xuất điều chuyển nhiệm vụ, quyền hạn tại khoản 6 Điều 79: chuyển thẩm quyền bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân trái pháp luật sang cho Chính phủ và chuyển thẩm quyền giải tán Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sang Quốc hội, lý do như đã trình bày tại Điều 75 và Điều 101.

– Đề xuất chuyển nhiệm vụ, quyền hạn tại khoản 7 Điều 79 (quyết định thành lập mới, chia, nhập đơn vị hành chính lãnh thổ dưới cấp tỉnh) sang Quốc hội444.

– Đề xuất chuyển nhiệm vụ, quyền hạn tại khoản 11 Điều 79 (tổ chức trưng cầu ý dân) sang cho Hội đồng bầu cử quốc gia.

2.3. Về mối quan hệ giữa Chính phủ và Chủ tịch nước (tập trung vào Điều 93 Dự thảo)

2.3.1. Đề xuất chung: Tăng cường nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước phù hợp với vị trí nguyên thủ quốc gia và vai trò điều hòa, phối hợp các cơ quan khi thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

2.3.2. Đề xuất cụ thể

– Khoản 1 Điều 93 – Bổ sung quy định Chủ tịch nước, trước khi công bố, có quyền tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, đề nghị Quốc hội xem xét lại luật của Quốc hội chưa bảo đảm tính khả thi445.

Lý do: Quy định này là sự cụ thể hóa nguyên tắc kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

– Khoản 3 Điều 93 – Đề xuất bổ sung quyền của Chủ tịch nước

Chủ tịch nước, trong thời gian Quốc hội không họp, theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ và phê chuẩn của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có quyền tạm đình chỉ công tác Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm người giữ quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cho đến khi Quốc hội họp446.

– Khoản 6 Điều 93 – Bổ sung và làm rõ thẩm quyền của Chủ tịch nước đối với điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước mà Chủ tịch nước không trực tiếp ký như sau:447

“Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; phong hàm đại sứ; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác hoặc quyết định việc đàm phán, ký những điều ước quốc tế này khi Chủ tịch nước không trực tiếp thực hiện; trình Quốc hội phê chuẩn điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 75; quyết định phê chuẩn hoặc gia nhập điều ước quốc tế theo thẩm quyền do luật quy định.”

– Đề xuất bổ sung một điều mới (Điều 94a sau điều về Hội đồng Quốc phòng và an ninh) để hiến định Hội đồng Tư pháp quốc gia do Chủ tịch nước làm Chủ tịch448.

Hội đồng Tư pháp quốc gia có chức năng phối hợp các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp thực hiện các nhiệm vụ hành chính – tư pháp nhằm hỗ trợ, thúc đẩy tính độc lập của tòa án – cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Tổ chức, hoạt động của Hội đồng Tư pháp quốc gia do luật định.

Lý do: Tư pháp độc lập là một nguyên tắc nền tảng của Nhà nước pháp quyền, đòi hỏi các tòa án, thẩm phán xét xử phải độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, cần được hỗ trợ, bảo đảm các điều kiện cần thiết và được bảo vệ khỏi mọi áp lực có thể cản trở tính độc lập. Các cơ chế bảo đảm về mặt hành chính – tư pháp do một cơ quan hành chính (Bộ Tư pháp) hay một cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân tối cao) thực hiện đều có nhiều hạn chế. Vì vậy, phù hợp nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, mô hình Hội đồng Tư pháp quốc gia do Chủ tịch nước đứng đầu có sự tham gia của lãnh đạo các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như các hiệp hội nghề nghiệp luật (luật sư, luật gia) là phù hợp với xu hướng chung của thế giới trong việc bảo đảm, thúc đẩy tư pháp độc lập. Vai trò này của Chủ tịch nước cũng phù hợp với thực tiễn là trong nhiều năm qua, Chủ tịch nước đã là người đứng đầu Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương.

2.4. Về mối quan hệ giữa Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao

Ngoài quy định tại Chương Chủ tịch nước về Hội đồng Tư pháp quốc gia có sự tham gia của đại diện Chính phủ, đề xuất bổ sung Khoản 3 Điều 109 nhiệm vụ, quyền hạn của TAND trong việc giải thích pháp luật và TANDTC ban hành án lệ phù hợp với định hướng trong Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật449.

2.5. Về Hội đồng Hiến pháp (Điều 120 Dự thảo)

Trên cơ sở xem xét 4 loại ý kiến chính của các bộ, ngành, địa phương về Hội đồng Hiến pháp450, Chính phủ tán thành quy định về Hội đồng Hiến pháp nhưng đề nghị bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn và tăng cường vị thế cho Hội đồng, chẳng hạn như bổ sung quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp (Điều 124 khoản 1) và quyền giải thích hiến pháp (vì đây là cơ quan có điều kiện để phát hiện sớm và chính xác những điểm chưa rõ cần giải thích, những bất cập trong các quy định của Hiến pháp cần đề nghị sửa đổi qua thực tiễn thi hành); đặc biệt là bổ sung quyền xem xét và quyết định áp dụng chế tài đối với các văn bản pháp luật vi hiến (ví dụ: thẩm quyền tạm đình chỉ thi hành văn bản vi hiến và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bãi bỏ…).

IV. NHÓM KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT THỨ 4: Hoàn thiện Lời nói đầu

– Nhóm ý kiến 1 – Về cơ bản đề nghị giữ các nội dung đã được thể hiện tại phần Lời nói đầu, tuy nhiên đề nghị biên tập lại sao cho ngắn gọn, súc tích hơn;451 cơ cấu hợp lý hơn các giai đoạn lịch sử; khẳng định và nhấn mạnh vai trò vị trí của nhân dân Việt Nam, phù hợp với bề dầy lịch sử dựng nước và giữ nước

– Nhóm ý kiến 2 – viết gọn lại theo hướng nhập đoạn 3 và 4.452

– Nhóm thứ 3 – Viết gọn lai theo hướng bỏ cả đoạn 3 và 4.

Đề xuất: Giữ lại đoạn 1, đoạn 2 và đoạn cuối của Lời nói đầu theo hướng bảo đảm thể hiện vai trò của hiến pháp trong lịch sử dân tộc và trong Nhà nước pháp quyền, là đạo luật cơ bản của nhà nước và xã hội, do nhân dân đồng lòng xây dựng, thông qua và thi hành; Hiến pháp quy định về quyền lực nhân dân và việc thực hiện quyền lực nhân dân vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

V. NHÓM KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT THỨ 5: Hoàn thiện Chương I – Chế độ chính trị

Chủ quyền quốc gia (Điều 1)

Chính phủ tán thành với ý kiến đề nghị quy định ngắn gọn “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”, vì như vậy là đầy đủ nghĩa, phần liệt kê đã có ở trong Luật.453

Còn nếu giữ phương án liệt kê thì cần điều chỉnh cho chính xác các thuật ngữ, cụ thể: gồm đất liền, đảo, quần đảo, vùng biển, lòng đất.

2. Nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và việc cụ thể hóa nguyên tắc trong Dự thảo

Kiến nghị 1 – Cách thể hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân về bản chất, quyền lực Nhà nước là quyền lực của nhân dân, do toàn dân giao phó cho cơ quan nhà nước thực hiện. Cả 4 bản Hiến pháp đều khẳng định nguyên tắc này nhưng cách thể hiện khác nhau về “nhân dân”:

Hiến pháp 1946 (Điều thứ 1), Hiến pháp 1959 (Điều 4), Hiến pháp 1980 (Điều 6) – chỉ quy định quyền lực thuộc về nhân dân, không phân biệt giai cấp nào là nền tảng của nhân dân.

Hiến pháp 1992 đưa ra quy định về “nền tảng của nhân dân” là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, sau đó sửa đổi nhỏ thành “đội ngũ trí thức” trong lần sửa đổi năm 2001 và giữ nguyên trong Dự thảo.

Qua tổng hợp có 02 loại ý kiến chính:

– Loại ý kiến thứ nhất đề nghị không quy định nền tảng của nhân dân454, như các bản Hiến pháp 1946, 1959 và 1980.

Như vậy, Điều 2 chỉ quy định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” vì quy định này đã thể hiện đầy đủ, bao trùm hết tất cả các giai cấp, tầng lớp, đội ngũ nhân dân.

– Loại ý kiến thứ hai tán thành có quy định nền tảng của nhân dân nhưng với nhiều đề nghị khác nhau về mở rộng phạm vi nền tảng của nhân dân455, chẳng hạn như : nền tảng là khối đại đoàn kết toàn dân; bổ sung doanh nhân, bổ sung các lực lượng tiến bộ trong xã hội vào nền tảng của nhân dân .

Chính phủ tán thành với loại ý kiến thứ nhất.

Kiến nghị 2 – Ghi nhận và đảm bảo thực thi quyền lập hiến của nhân dân456.

Quyền lập hiến là thể hiện cao nhất và đầy đủ nhất chủ quyền nhân dân, gồm: quyền sáng kiến lập hiến, quyền tham gia góp ý trong quá trình dự thảo Hiến pháp/Hiến pháp sửa đổi và cuối cùng là quyền biểu quyết về Hiến pháp/ Hiến pháp sửa đổi thông qua trưng cầu ý dân. Do đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các điều liên quan như sau:

– Lời nói đầu: cần khẳng định nhân dân thông qua Hiến pháp và thi hành Hiến pháp.

– Điều 30: Đề nghị sửa như sau: “Công dân có quyền biểu quyết về Hiến pháp và các việc trọng đại của quốc gia. Trình tự, thủ tục, giá trị hiệu lực của trưng cầu ý dân do luật định”.

– Khoản 15 Điều 75: Đề nghị sửa như sau: Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân về hiến pháp và các việc trọng đại của quốc gia khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

Đồng thời sửa Điều 74, khoản 1 Điều 75 theo hướng Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp (quyền quyết định thông qua luật), còn nhân dân mới là chủ thể của quyền lập hiến, Quốc hội có vai trò quan trọng trong quá trình đề xuất sửa đổi, bổ sung hiến pháp, trong quá trình soạn thảo và cũng là cơ quan có thẩm quyền thông qua hiến pháp sửa đổi trước khi đưa ra nhân dân biểu quyết nhưng Quốc hội không phải là cơ quan thực hiện quyền lập hiến theo nghĩa là cơ quan quyết định cuối cùng về thông qua Hiến pháp sửa đổi.

– Điều 124 – Quy định trưng cầu ý dân về việc sửa đổi Hiến pháp. Qua tổng hợp có 02 loại ý kiến chính:

+ Loại ý kiến thứ nhất tán thành quy định như Dự thảo: “Dự thảo Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định” (khoản 4 Điều 124).457

+ Loại ý kiến thứ hai đề nghị quy định: “Dự thảo Hiến pháp được trưng cầu ý dân sau khi Quốc hội thông qua với ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành”, đồng thời bổ sung quy định: “Trình tự, thủ tục trưng cầu ý dân do luật định”.458

Lý do: Xuất phát từ nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” và quan điểm tăng cường quyền dân chủ trực tiếp của công dân theo Nghị quyết Đại hội Đảng XI, theo đó quyền biểu quyết về hiến pháp thông qua trưng cầu ý dân chính là quyền dân chủ trực tiếp cao nhất và phải là quyền đương nhiên công dân được hưởng, Nhà nước có trách nhiệm tổ chức trưng cầu ý dân về Hiến pháp. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp sẽ bảo đảm vị trí tối thượng của Hiến pháp trong đời sống xã hội. Nếu quy định như Dự thảo thì việc có trưng cầu ý dân về Hiến pháp sửa đổi hay không là thuộc quyền quyết định của Quốc hội, nghĩa là việc thực hiện quyền của nhân dân phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước.

Quy định trưng cầu ý dân về Hiến pháp không áp dụng với Hiến pháp sửa đổi lần này. Sau khi Hiến pháp sửa đổi được thông qua, Quốc hội sẽ ban hành Luật Trưng cầu ý dân làm cơ sở cho việc tổ chức trưng cầu ý dân trong những lần sửa đổi Hiến pháp sau.

Do số lượng thành viên Chính phủ tán thành các phương án đều không quá bán, mức độ chênh lệch giữa các phương án không lớn (12/25 và 10/25) nên Chính phủ đề xuất 2 Phương án như sau:

Phương án 1: Như loại ý kiến thứ nhất nêu trên.

Phương án 2: Như loại ý kiến thứ hai nêu trên.

Kiến nghị 3 – Hoàn thiện các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp khác459

– Bổ sung Quyền của công dân bãi miễn đại biểu nhân dân để đảm bảo thực thi khoản 2 Điều 7:

+ Sửa đổi, bổ sung 02 khoản vào Điều 28 như sau:

Khoản 2 Điều 28 – Cử tri có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Khoản 3 Điều 28 – Trình tự, thủ tục thực hiện quyền bầu cử, ứng cử và bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân do luật định

Lý do: Khoản 2 Điều 7 quy định đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm. Đồng thời khoản 8 Điều 75 cũng đã quy định quyền của Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu, trong đó có nhiều người là đại biểu Quốc hội. Vì vậy, cần bổ sung Quyền của cử tri bãi miễn đại biểu do mình bầu để đảm bảo thực thi đầy đủ quyền dân chủ quan trọng này của cử tri, tạo sự đồng bộ với khoản 2 Điều 7.

3. Vị trí và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Điều 4 – Tất cả các ý kiến đều tán thành việc ghi nhận tại Điều 4 về vị trí và vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản

Qua Hội thảo ngày 25/3/2013 do Ban Chỉ đạo tổ chức, các ý kiến tập trung vào 3 vấn đề:

– Hiến định chế độ trách nhiệm cụ thể của Đảng trước nhân dân;

– Quy định các nguyên tăc lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội;

– Quy định rõ phương thức lãnh đạo của Đảng, nhất là bằng đường lối, chính sách và công tác cán bộ;

Bên cạnh đó, đề nghị Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp cân nhắc một số đề nghị bổ sung, sửa đổi câu chữ trong Điều 4 như đã được tổng hợp tại Phụ lục B-1.

VI. NHÓM KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT THỨ 6: Hoàn thiện các quy định về quyền con người, quyền cơ bản của công dân

1. Ghi nhận nguyên tắc các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được bảo đảm thực hiện bằng luật và cũng chỉ có thể bị hạn chế bằng luật để phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN

– Khoản 2 Điều 15: Đề nghị bỏ cụm từ “trật tự, an toàn xã hội” và “đạo đức xã hội” là điều kiện để hạn chế quyền và sửa thành: “Quyền con người, quyền cơ bản của công dân chỉ có thể bị giới hạn bằng luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia và sức khỏe của cộng đồng”460.

– Sửa cụm từ “theo quy định của pháp luật” thành “theo quy định của luật” tại các điều liên quan đến quy định hoặc giới hạn quyền con người, quyền công dân, cụ thể: Điều 23(2), đoạn 2; Điều 24: Điều 26; Điều 31 (2); Điều 32 (4); Điều 33 (2).

2. Về quy định nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân

Đề xuất không quy định thành nguyên tắc chung tại khoản 1 Điều 20 vì không phải mọi quyền đều đồng thời là nghĩa vụ, không phải quyền nào cũng có nội dung nghĩa vụ đi kèm; việc quy định quyền không tách rời nghĩa vụ phải được đặt trong từng quyền, từng nghĩa vụ cụ thể461.

3. Các quyền và nghĩa vụ cụ thể

– Điều 21 – Mọi người có quyền sống: Cần quy định sao cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam vẫn còn duy trì hình phạt tử hình.

– Khoản 1 Điều 22: đề nghị bổ sung như sau:

Điều 22 (sửa đổi, bổ sung Điều 71)

“1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang”

Lý do: Điều 22 sửa đổi Điều 71 đã bỏ câu:” Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.” Đây là một điều khoản tồn tại xuyên suốt từ Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Theo tinh thần sửa Hiến pháp để tăng cường hơn quyền con người, quyền công dân thì việc lược bỏ câu này là chưa hợp lý.

– Điều 32: đề xuất sửa đổi như sau:

Khoản 1 nên thêm cụm từ “và phải chịu hình phạt” sau cụm từ “Không ai bị coi là có tội”, thành: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”462.

Khoản 3 cần quy định thêm về “Người bị tình nghi phạm tội” vào đối tượng được hưởng sự trợ giúp pháp lý của người bào chữa và chỉnh sửa như sau:

“3. Người bị tình nghi phạm tội, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa”.

Lý do: Quy định như Dự thảo là chưa đầy đủ quyền được hưởng sự trợ giúp pháp lý của những người có liên quan đến tố tụng hình sự. Thực tiễn tố tụng hình sự nước ta cho thấy, quyền được tiếp cận và sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa không nên chỉ giới hạn khi có quyết định bắt người tạm giữ hoặc khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can mà ngay cả khi người bị tình nghi phạm tội bị triệu tập, mời lên cơ quan công an do có đơn tố cáo hoặc thông tin tố giác tội phạm, họ phải được quyền mời người bào chữa tham gia tư vấn, trợ giúp pháp lý ngay từ đầu. Thực trạng hiện nay cho thấy, Cơ quan điều tra các cấp thường từ chối sự có mặt của người bào chữa trong các hoạt động “tiền tố tụng” gây ra sự lo lắng và quan ngại cho những người bị triệu tập, bị câu lưu. Lý do thường được đưa ra là: Vụ án chưa khởi tố, người mới bị tình nghi chưa có tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nên không cần và cũng không được chấp nhận cho phép người bào chữa tham gia. Điều này ảnh hưởng đến quyền của những người bị tình nghi phạm tội vì họ không được hưởng sự trợ giúp pháp lý của người bào chữa ngay từ khi có sự kiện bất lợi là cơ quan tiến hành tố tụng đặt vấn đề “tình nghi” đối với họ.

– Khoản 5 Điều 108: Đề xuất bổ sung cụm từ “Phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa” và sửa thành:

“Nguyên tắc tranh tụng được đảm bảo. Phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”.

Lý do: tranh tụng dân chủ và phán quyết của tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa được coi là khâu đột phá trong cải cách tòa án nói riêng, cải cách tư pháp nói chung. Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng, nguyên tắc này chưa thật sự được nhận thức đúng đắn và coi trọng, tuân thủ, dẫn đến việc tranh tụng tại nhiều phiên tòa mang tính hình thức, không có ý nghĩa quyết định kết quả của việc xét xử.

Việc bổ sung cụm từ “Phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa” là hoàn toàn phù hợp với tinh thầnvà nội dung chủ trương về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

VII. NHÓM KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT THỨ 7: Hoàn thiện Chương III – Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường

1. Về quy định tài sản của công dân với việc Nhà nước trưng mua, trưng dụng có bồi thường theo giá thị trường (khoản 3 Điều 56) và quy định quyền tài sản của công dân là quyền sử dụng đất với việc Nhà nước thu hồi có bồi thường theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 58)

Đa số ý kiến đều cho rằng hai quy định này có mâu thuẫn với nhau vì cùng là tài sản được pháp luật thừa nhận và bảo hộ, nhưng tài sản được Nhà nước trưng mua, trưng dụng thì được bồi thường theo giá thị trường còn quyền tài sản là quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi thì chỉ được bồi thường theo quy định của pháp luật463. Vì vậy, nhiều ý kiến đề nghị464 trong mọi trường hợp Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất hợp pháp, đúng mục đích bị thu hồi đất đều phải được đền bù theo giá thị trường chứ không phải chỉ được bồi thường theo quy định của pháp luật một cách không rõ ràng như quy định trong Dự thảo. Như vậy sẽ bảo đảm sự thống nhất giữa quy định tại khoản 3 Điều 58 với quy định tại khoản 3 Điều 56 (ghi nhận quyền sử dụng đất là quyền tài sản của cá nhân, tổ chức).

2. Về quy định Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân vì lý do “các dự án phát triển kinh tế – xã hội”

Qua tổng hợp có 02 loại ý kiến chính:

– Loại ý kiến thứ nhất tán thành với Dự thảo: ”Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế -xã hội” (khoản 3 Điều 58).

– Loại ý kiến thứ hai đề nghị không quy định trong Hiến pháp lý do thu hồi đất là “các dự án phát triển kinh tế- xã hội” để không xảy ra việc các chủ dự án sản xuất kinh doanh lợi dụng quy định này thu lợi bất chính từ việc thu hồi đất,vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của cá nhân, tổ chức như đã xảy ra trong thực tiễn, gây bức xúc lớn trong nhân dân. Đối với các dự án phát triển kinh tế- xã hội quan trọng, tầm quốc gia thì đã thuộc lý do vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Vì vậy, đề nghị sửa lại khoản 3 Điều 58 như sau“Nhà nước thu hồi đất do tổ chức cá nhân sử dụng có bồi thường theo quy định của luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”.

Luật đất đai và các luật liên quan do Quốc hội thông qua sẽ quy định cụ thể các trường hợp thu hồi đất vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trong đó có quy định danh mục các dự án phát triển kinh tế- xã hội quan trọng do Quốc hội, Chính phủ quyết định thu hồi đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Việc bồi thường trong các trường hợp Nhà nước thu hồi đất phải theo quy định của luật.

Do số lượng thành viên Chính phủ tán thành các phương án đều không quá bán, mức độ chênh lệch giữa các phương án là không lớn (11/25 và 12/25) nên Chính phủ đề xuất 2 Phương án như sau:

Phương án 1: Như loại ý kiến thứ nhất nêu trên.

Phương án 2: Như loại ý kiến thứ hai nêu trên.

VIII. NHÓM KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT THỨ 8: Về kỹ thuật lập hiến

Về mặt kỹ thuật lập hiến, Dự thảo còn có một số điểm chưa hợp lý, một số quy định còn quá chi tiết, chưa xứng tầm của Hiến pháp. Một số quy định của Hiến pháp hoặc quá ngắn gọn súc tích, hoặc quá dài dòng với nhiều cách thức văn phong khác nhau, ngôn ngữ còn đa nghĩa, trừu tượng, đôi chỗ còn chưa chuẩn hóa theo ngôn ngữ pháp lý.

Để bảo đảm tính ổn định lâu dài của Hiến pháp và để Hiến pháp trở thành đúng nghĩa đạo luật gốc, có thể áp dụng trực tiếp các điều khoản của Hiến pháp, để tạo cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời góp phần bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định của Hiến pháp thông qua việc xử lý các hành vi vi hiến, Chính phủ kiến nghị hoàn thiện về kỹ thuật lập hiến của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 theo hướng sau đây:

Một là, xác định phạm vi những vấn đề cần phải quy định trong Hiến pháp465. Việc xác định những vấn đề cần đưa vào Hiến pháp trước hết phải xuất phát từ bản chất và vai trò của Hiến pháp là đạo luật gốc, là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật quốc gia thì Hiến pháp chỉ điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng nhất của quốc gia còn lại thì do luật điều chỉnh. Theo đó, chỉ tập trung điều chỉnh các nguyên tắc, các vấn đề có tính nền tảng của một quốc gia (Nhóm quan hệ xã hội cơ bản về chế độ chính trị (chính thể); Nhóm quan hệ xã hội cơ bản giữa nhà nước và cá nhân; Nhóm quan hệ xã hội về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước). Chẳng hạn như:

– Về nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Đề nghị rà soát lại các Điều từ 80 đến 82 Dự thảo để thu gọn theo hướng chỉ cần một điều với các nội dung: (i) Quốc hội bầu Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; (ii) Chức năng của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Các quy định về thành viên, cách thức bầu thành viên và chế độ làm việc của các thiết chế này sẽ dành cho Luật tổ chức Quốc hội và Quy chế hoạt động của Quốc hội đảm nhiệm.

– Các quy định về Viện kiểm sát nhân dân cần được khái quát và thu gọn lại, chỉ nên quy định vị trí, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân mà không đi sâu quy định nguyên tắc tổ chức, hoạt động của cơ quan này. Vấn đề này sẽ do luật điều chỉnh.

– Về Chính quyền địa phương, các quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Đại biểu Hội đồng nhân dân nên để Luật bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân quy định vì quá chi tiết, chưa đúng tầm Hiến pháp (Điều 117, 118 Dự thảo).

Hai là, bảo đảm tính nhất quán của chính sách và tính thống nhất của các quy định

Trong dự thảo còn có sự mâu thuẫn giữa quy định chung mang tính nguyên tắc và quy định cụ thể hóa nguyên tắc và mâu thuẫn giữa các quy định cụ thể với nhau (Chương II, hoặc khoản 3 Điều 56, khoản 3 Điều 58).

Đề nghị rà soát lại những quy định của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để đảm bảo tính nhất quán466 của các quy định trong Dự thảo Hiến pháp như: nếu đã ghi nhận các quyền con người, quyền cơ bản của công dân phải được hiến định và việc hạn chế các quyền này phải trên cơ sở của luật thì cần rà soát toàn bộ các quyền trong Dự thảo để chỉ quy định trong Hiến pháp những quyền cơ bản. Những quyền không cơ bản như quyền kết hôn, ly hôn (Điều 39), quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 22)… thì để pháp luật quy định.

– Khi đã xác định nguyên tắc: các “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do Hiến pháp và luật quy định”, thì cần nghiên cứu, chỉnh lý lại theo hướng: các quyền tự do như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định luật” mà không phải là ”pháp luật” như Điều 26 Dự thảo…

– Đề nghị sử dụng thống nhất các thuật ngữ tại các điều khác nhau hoặc ngay tại một điều, chẳng hạn như tại Điều 18, khoản 1 dùng “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trong khi khoản 2, khoản 3 lại dùng “Công dân Việt Nam”.

Ba là, bảo đảm văn phong pháp lý trong Hiến pháp, bảo đảm tính minh bạch, tính khả thi, tính dự báo của các quy định467

– Một số quy định tại các chương, đặc biệt là chương III (Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường)… văn phong còn mang tính nghị quyết, chưa phù hợp với ngôn ngữ của văn bản pháp lý, đặc biệt là trong Hiến pháp. Đề nghị nghiên cứu rà soát lại một số điều, đặc biệt là ở các Chương III, Chương IV, V của Dự thảo để bảo đảm ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn đầy đủ các chế định và tính pháp lý cao và đảm bảo sự trong sáng, dễ hiểu, đúng với nội hàm diễn đạt và phù hợp với văn phong pháp lý (Điều 53, 64; 65; 67…). Một số từ không phải là ngôn ngữ pháp lý như: “làm Hiến pháp”, “làm luật” “thứ thuế” (khoản 1, khoản 4 Điều 75); “ra pháp lệnh” (khoản 2 Điều 79); “họp bàn” (Điều 95); “tình hình mọi mặt, lắng nghe” (Điều 119); “được bầu xong” (khoản 2 Điều 8).

– Đề nghị rà soát lại những quy định của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để đảm bảo tính dự báo, tính ổn định của các quy định trong Dự thảo như: việc quy định Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ (khoản 2 Điều 88 Dự thảo) thể hiện sự thiếu tính dự báo, không phù hợp với chủ trương tiến tới Quốc hội hoạt động thường xuyên hơn, chuyên nghiệp hơn.

Trên đây là Báo cáo của Chính phủ về kết quả lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Chính phủ kính trình Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992./.

Nơi nhận:

– Như trên (để b/c);

– Thủ tướng Chính phủ (để b/c);

– Các Phó Thủ tướng CP (để biết);

– Thường trực Ban Chỉ đạo;

– VPCP: BTCN, các PCN;

– Lưu: VT, PL (3b).

TM. CHÍNH PHỦ

KT. THỦ TƯỚNG

PHÓ THỦ TƯỚNG

Nguyễn Xuân Phúc

VỀ KẾT QUẢ TỔNG HỢP Ý KIẾN THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ TẠI PHIẾU LẤY Ý KIẾN

Số ý kiến Thành viên Chính phủ: 26 (không tính Bộ Tài chính).

Số ý kiến thu về: đến 11h ngày 02/4/2013: 25 phiếu, gồm (Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, các Bộ trưởng: Hà Hùng Cường, Nguyễn Bắc Son, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Thị Kim Tiến, Cao Đức Phát, Trịnh Đình Dũng, Nguyễn Minh Quang, Hoàng Tuấn Anh, Bùi Thanh Sơn – Bộ Ngoại giao, Bùi Quang Vinh, Vũ Đức Đam, Nguyễn Thái Bình, Phạm Thị Hải Chuyền, Phạm Ngũ Luận, Nguyễn Quân, Huỳnh Phong Tranh, Đinh La Thăng, Giàng Seo Phử, Trần Đại Quang, Vũ Huy Hoàng).

Còn thiếu: 01 ý kiến của đồng chí Nguyễn Văn Bình.

1. Quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”

– Phương án 1: Quy định như Dự thảo sửa đổi Hiến pháp “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.

Đồng ý: 01/25.

– Phương án 2: Không quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.

Đồng ý: 24/25.

2. Thẩm quyền của Chính phủ quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

– Phương án 1: Quy định như Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: Ủy ban thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ, quyền hạn :”Quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chinh dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”.

Đồng ý: 03/25.

– Phương án 2: Quy định thẩm quyền điều chỉnh địa giới hành chính như tại Hiến pháp năm 1992, cụ thể là: Quốc hội quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chinh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chính phủ quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chinh dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đồng thời bổ sung quy định “Tiêu chí, trình tự, thủ tục quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chinh do luật định trên cơ sở lấy ý kiến nhân dân địa phương”.

Đồng ý: 10/25.

– Phương án 3: Quy định Quốc hội có thẩm quyền quyết định việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới của tất cả các đơn vị hành chính – lãnh thổ đồng thời bố sung quy định “Tiêu chí, trình tự, thủ tục quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chinh do luật định trên cơ sở lấy ý kiến nhân dân địa phương”.

Đồng ý: 12/25.

3. Về tính chất của Hội đồng nhân dân

– Phương án 1: tiếp tục quy định như Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương” (khoản 1 Điều 116).

Đồng ý: 02/25.

– Phương án 2: Không quy định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Đồng ý: 23/25.

4. Về việc điều chỉnh một số nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội liên quan đến Hội đồng nhân dân

– Chuyển nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn hoạt động của HĐND, bãi bỏ nghị quyết trái pháp luật của HĐND cấp tỉnh (khoản 6 Điều 79 Dự thảo) sang cho Chính phủ.

Đồng ý: 18/25.

Không đồng ý: 05/25.

– Giao cho Chính phủ nhiệm vụ, quyền hạn đình chỉ hoạt động HĐND cấp tỉnh vi phạm nghiêm trọng pháp luật gây thiệt hại lớn đến quyền và lợi ích của nhân dân và chuyển thẩm quyền giải tán HĐND đó từ UBTVQH (khoản 6 Điều 79 Dự thảo) sang cho Quốc hội.

Đồng ý: 24/25.

Không đồng ý: 01/25.

5. Về quy định không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường

– Phương án 1 – Quy định như Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: “việc thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ở các đơn vị hành chính lãnh thổ do luật định phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị hành chính lãnh thổ và phân cấp quản lý”

Đồng ý: 10/25.

– Phương án 2 – Quy định không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường hoặc không tổ chức Hội đồng nhân dân ở huyện, quận, phường, xã

Đồng ý: 15/25.

6. Về quy định Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân vì lý do “các dự án phát triển kinh tế – xã hội”.

– Phương án 1: Nhất trí với quy định như trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sủ dụng có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế -xã hội” (khoản 3 Điều 58).

Đồng ý: 11/25.

– Phương án 2: Không nhất trí với quy định này và đề nghị chỉ thu hồi đất “trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” vì trong lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đã bao hàm các dự án phát triển kinh tế -xã hội quan trọng (Danh mục các dự án phát triển kinh tế- xã hội thuộc loại này sẽ do luật định).

Đồng ý: 12/25.

Có 2 ý kiến khác:

+ Không tán thành cả 2 Phương án và đề nghị chỉnh sửa khoản 3 Điều 58 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”. Việc thu hồi đất phục vụ xây dựng các dự án phát triển kinh tế – xã hội theo quy định của Luật đất đai.

+ Không tán thành cả 2 Phương án và có ý kiến khác: các dự án phát triển – kinh tế xã hội quan trọng đã bao hàm trong lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Việc thu hồi đất để phục vụ các dự án này nên do Chính phủ quy định việc bồi thường nhằm bảo đảm quyền lợi của công dân mà không để nhà đầu tư tự thoả thuận với tổ chức, cá nhân bị thu hồi đất.

7. Về quy định trưng cầu ý dân về Hiến pháp

– Phương án 1: đồng ý như quy định tại Dự thảo sửa đổi Hiến pháp: “Dự thảo Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định” (khoản 4 Điều 124).

Đồng ý: 12/25.

– Phương án 2: quy định: “Dự thảo Hiến pháp được trưng cầu ý dân sau khi Quốc hội thông qua với ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” đồng thời bổ sung quy định: “Trình tự, thủ tục trưng cầu ý dân do luật định”

Đồng ý: 10/25.

Ý kiến khác: 03 thành viên Chính phủ không tán thành cả 02 phương án, trong đó 02 đồng chí có ý kiến khác, cụ thể:

+ Đây là vấn đề hết sức mới, nhạy cảm, do vậy, cần nghiên cứu kỹ trước khi đưa vào Hiến pháp lần này.

+ Vấn đề trưng cầu ý dân không nên đặt ra trong Dự thảo Hiến pháp vì với các quy định hiện hành về trình tự, thủ tục xây dựng Hiến pháp của nhà nước ta đã loại bỏ sự cần thiết của việc trưng cầu ý dân (khoản 4 Điều 124).

1 Cụ thể: Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Kiều Đình Thụ tham gia Đoàn kiểm tra tại Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước; Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường tham gia Đoàn kiểm tra tại Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ; Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình, Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Nguyễn Xuân Thắng tham gia Đoàn kiểm tra tại Cần Thơ, Tiền Giang và thành phố Hồ Chí Minh; Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thế Liên tham gia Đoàn kiểm tra tại Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai.

2 Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nội vụ; Cao Bằng, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Điện Biên, Đồng Nai, Hà Nội, Nghệ An, Vĩnh Phúc.

3 07 vấn đề: (1) về quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”; (2) về thẩm quyền của Chính phủ quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (3) về tính chất của Hội đồng nhân dân; (4) về việc điều chỉnh một số nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội liên quan đến Hội đồng nhân dân; (5) về quy định không tổ chức Hội đồng nhân dân ở huyện, quận, phường; (6) về quy định Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân vì lý do “các dự án phát triển kinh tế – xã hội”; (7) về quy định trưng cầu ý dân về Hiến pháp.

4 Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh…

5 Bộ Tư pháp, Lào Cai, Yên Bái…

6 Lào Cai, Cần Thơ…

7 Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư…

8 Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Bến Tre, Bình Dương, Bình Định, Cần Thơ, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hòa Bình, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hải Dương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Kon Tum, Lai Châu, Long An, Lào Cai, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Nam Định, Nghệ An, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Trà Vinh, Tuyên Quang, Tây Ninh, Vĩnh Phúc, Yên Bái,…

9 Có hơn 100 ý kiến đóng góp của các tổ chức, cá nhân trên Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ; có 35 bài viết nghiên cứu của các chuyên gia, 27 ý kiến đóng góp vào các điều, khoản cụ thể trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp,…

10 Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Chính phủ, Ủy ban Dân tộc, Hà Giang, Bình Phước, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Trà Vinh, Sóc Trăng, Ninh Thuận, Kon Tum, Hưng Yên, Hà Nam, Hậu Giang, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cao Bằng, Bình Thuận, Bắc Kạn, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bến Tre, Bạc Liêu, Bình Dương, Phú Thọ, Tuyên Quang, Cà Mau, Bắc Giang, Đồng Nai, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Vĩnh Long, An Giang, Gia Lai, Quảng Bình, Thanh Hóa, Yên Bái, Đắk Nông,…

11 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đài Tiếng nói Việt Nam, Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Sóc Trăng, Quảng Trị, Bình Thuận, Tiền Giang, Cần Thơ, Đăk Lăk, Bình Dương, Quảng Nam, Hải Phòng, Nam Định, Bạc Liêu, Vĩnh Long,…

12 Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam, Kon Tum, Hải phòng, Đà Nẵng, Cao Bằng, Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bình Dương, Nghệ An, Quảng Bình, Gia Lai,…

13 Bộ Tài Chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội Vụ, Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bình Phước, Lào Cai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Trị, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Bến Tre, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Phúc, Điện Biên, Bình Dương, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Đà Nẵng, An Giang, Đắk Nông, Gia Lai, Quảng Bình, Thanh Hóa, Yên Bái,…

14 Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tư pháp, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Trị, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Long An, Sóc Trăng, TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thanh Hóa,…

15 Bộ Nội vụ, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh,…

16 Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Bắc Ninh, Ninh Thuận, Quảng Trị, Sóc Trăng, Trà Vinh, Điện Biên, Hà Tĩnh, Nghệ An, An Giang, Tây Ninh, Thái Bình, TP. Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Đà Nẵng, Kiên Giang, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Sơn La, Phú Thọ, Hưng Yên, An Giang, Gia Lai, Quảng Bình, Bình Phước, Bắc Kạn, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Hải Dương, Bình Định, Cao Bằng, Cần Thơ, Bạc Liêu, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kon Tum, Hòa Bình, Quảng Ngãi, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Phú Thọ, Lai Châu, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Nam Định, Ninh Bình,…

17 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính,…

18 Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Ninh Thuận, Hưng Yên, Lào Cai,…

19 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Giang, Bình Phước, Vĩnh Phúc, Hậu Giang, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu, Gia Lai, Quảng Bình, Yên Bái, Khánh Hòa, Cần Thơ,…

20 Quảng Trị.

21 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Giang, Đắk Nông,…

22 Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tấn xã Việt Nam, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Vĩnh Phúc, Hậu Giang, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cao Bằng, Phú Thọ, Vĩnh Long, Cao Bằng, TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Giang, Yên Bái, Gia Lai, Quảng Bình, Lâm Đồng, Bình Định, Nam Định,…

23 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, Bộ Công an, Thông tấn xã Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam; Lào Cai, Sóc Trăng, Kon Tum, Hưng Yên, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bến Tre, Bạc Liêu, Bình Dương, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Giang, Cà Mau, Lạng Sơn, Lai Châu, Sơn La, Vĩnh Long, An Giang, Quảng Bình, Đắk Nông, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đồng Tháp, Phú Yên, Lâm Đồng, Hải Dương, Thanh Hóa,…

24 Ninh Thuận, Hậu Giang, Phú Thọ, Tuyên Quang, Lai Châu, Quảng Bình,…

25 Hậu Giang, Ninh Thuận, Đà Nẵng, Quảng Bình,…

26 Bộ Tư pháp.

27 Ninh Thuận, Hải Phòng, Quảng Bình,…

28 Ninh Thuận.

29 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bình Thuận,…

30 Bình Phước.

31 Hải Phòng.

32 Bà Rịa – Vũng Tàu, Sơn La,…

33 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.

34 Quảng Trị.

35 Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông; Hà Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Ninh Thuận, Kon Tum, Hưng Yên, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Phú Thọ, Bắc Giang, Cà Mau, Lai Châu, Sơn La, Vĩnh Long, Quảng Bình, Đắk Nông,…

36 Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

37 An Giang.

38 Bến Tre.

39 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ; Bình Thuận, Quảng Bình, Đắk Nông,…

40 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ; Quảng Trị, Đà Nẵng, Bắc Kạn, Bạc Liêu, Lai Châu, Lào Cai, Quảng Bình, Đắk Nông,…

41 Sóc Trăng, Quảng Trị, Bình Phước, Bắc Kạn, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Phú Thọ,…

42 Kiên Giang.

43 Kiên Giang.

44 Kiên Giang.

45 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thanh tra Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Xây dựng, Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Đài truyền hình Việt Nam, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Khoa học và Công nghệ; Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Hòa Bình, Bắc Kạn, Bình Dương, Lào Cai, Lạng Sơn, Lai Châu, Cao Bằng, Bình Dương, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Bình Phước, Đà Nẵng, Quảng Bình, Đắk Nông, Ninh Thuận, Đồng Tháp, Bình Định, Thừa Thiên Huế, Hải Dương, Thái Bình,…

46 Bộ Công thương, Bộ Công an, Thông tấn xã Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Vĩnh Phúc, Sóc Trăng, Kon Tum, Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Thọ, Sơn La, Bắc Ninh, Thanh Hóa, An Giang, Đồng Tháp, Phú Yên, Lâm Đồng, Hải Dương,…

47 Lào Cai, Sóc Trăng, Ninh Thuận, Kiên Giang.

48 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Đà Nẵng.

49 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bắc Kạn.

50 Hải Phòng.

51 Hải Phòng.

52 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Đài truyền hình Việt Nam, Văn phòng Chính phủ, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thanh tra Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ; Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Hòa Bình, Bắc Kạn, Bình Dương, Lào Cai, Lạng Sơn, Lai Châu, Cao Bằng, Bình Dương, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Bình Phước, Đà Nẵng, Quảng Bình, Đắk Nông, Ninh Thuận, Đồng Tháp, Bình Định, Thừa Thiên Huế, Hải Dương, Thái Bình.

53 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

54 Bộ Nội vụ, TP. Hồ Chí Minh, Trà Vinh, Vĩnh Long, Ninh Thuận,…

55 Gia Lai.

56 Bình Phước.

57 Bắc Ninh.

58 Bắc Ninh.

59 Vĩnh Phúc.

60 Bạc Liêu.

61 Bộ Nội vụ.

62 Lào Cai, Lâm Đồng,…

63 Hải Dương.

64 Bộ Quốc phòng, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giao thông và Vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam; Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bình Thuận, Cao Bằng, Đà Nẵng, Đắk Lắk…

65 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Quốc phòng, Thanh tra Chính phủ; Bình Dương, Đà Nẵng, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng, Quảng Bình, Quảng Trị, Tây Ninh, Thanh Hóa, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bến Tre, Bình Định, Bình Phước…

66 Hải Dương, Phú Yên, Tuyên Quang…

67 Bộ Giao thông và Vận tải, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Bình Dương, Gia Lai, Lâm Đồng, Tây Ninh, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang…

68 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; An Giang, Bình Định…

69 Bộ Quốc Phòng; Bình Dương, Gia Lai, Lâm Đồng, Quảng Trị, Tây Ninh, Tuyên Quang…

70 Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công an, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Vĩnh Phúc, Bình Thuận, Đà Nẵng, Lào Cai, Lâm Đồng, Hà Nội, Tây Ninh, Quảng Trị, Quảng Bình, Hải Dương, Cần Thơ…

71 Lâm Đồng, Tây Ninh, Tuyên Quang, Hải Dương…

72 Bộ Khoa học và Công nghệ.

73 Bộ Tài chính, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Hải Phòng…

74 Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

75 Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Gia Lai, Quảng Bình, Yên Bái, Tiền Giang, Bắc Ninh, An Giang…

76 Bộ Kế hoạch và Đầu tư; An Giang, Tiền Giang…

77 Thanh tra Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Yên Bái, Bình Định, Gia Lai, Quảng Bình, Đắk Lắk…

78 Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng; An Giang, Bắc Kạn, Bình Thuận, Bình Phước, Cà Mau, Cao Bằng, Điện Biên, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Nam, Hà Nội, Quảng Bình, Kiên Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Long An, Sóc Trăng, Sơn La, Quảng Trị, Thanh Hoá, Tiền Giang, Vĩnh Phúc, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Định, Cần Thơ, Đắk Lắk,…

79 Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Công an; Bạc Liêu, Bắc Giang, Bình Dương, Gia Lai, Hà Nội, Hậu Giang, Hòa Bình, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Thanh Hoá, Trà Vinh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kon Tum, An Giang, Cà Mau, Cao Bằng, Hưng Yên, Lào Cai…

80 Bộ Tư pháp, An Giang…

81 Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Quảng Bình, Kon Tum…

82 Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Uỷ ban Dân tộc; An Giang, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Cao Bằng, Đà Nẵng, Gia Lai, Hà Giang, Hậu Giang, Hưng Yên, Lạng Sơn, Lào Cai, Ninh Thuận, Quảng Bình, Thanh Hoá…

83 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đài Tiếng nói Việt Nam, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Sóc Trăng, Quảng Trị, Bình Thuận, Tiền Giang, Cần Thơ, Đăk Lăk, Bình Dương, Quảng Nam, Hải Phòng, Nam Định,…

84 Bộ Nội vụ, Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ, Ban Quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban Dân tộc; Gia Lai, Quảng Bình, Yên Bái, Tiền Giang…

85 Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao…

86 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban Dân tộc; Gia Lai, Quảng Bình, Yên Bái, Tiền Giang…

87 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng…

88 Bộ Nội vụ, Thông tấn xã Việt Nam, Quảng Bình…

89 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Đắk Lắk, Gia Lai…

90 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Ủy ban Dân tộc, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Bộ Xây dựng, Đà Nẵng, Bắc Ninh…

91 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Đài tiếng nói Việt Nam, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Gia Lai, Quảng Bình…

92 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng…

93 Bộ Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công an, Đài Tiếng nói Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Xây dựng; Gia Lai, Quảng Bình, An Giang, Bến Tre, Bình Định, Bình Thuận…

94 Đa số ý kiến (trong Báo cáo của 30 Bộ, ngành và 63 địa phương) tham gia đều nhất trí về việc quy định, cũng như các nội dung các quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

95 Bộ Xây dựng, Bộ Công an, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, TP Hồ Chí Minh,…

96 Bộ Nội vụ.

97 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Khánh Hòa, Trà Vinh, Hà Nội, Quảng Ngãi,…

98 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Kiên Giang, Kon Tum, Ninh Thuận, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Quảng Bình, Ninh Bình, Cần Thơ, Đắk Lắk, Điện Biên, Tuyên Quang, Gia Lai, TP Hồ Chí Minh,…

99 Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, Cà Mau, Kon Tum, Lạng Sơn, Ninh Thuận,…

100 Thừa Thiên Huế.

101 Bộ Nội vụ.

102 Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Hà Nội, Hải Phòng, An Giang,…

103 Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, An Giang,…

104 Đài Truyền hình Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Lạng Sơn, Ninh Thuận, Thái Nguyên, Cà Mau, Hậu Giang, Điện Biên.

105 Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Nam Định, Cần Thơ, Bình Dương, Đắk Lắk, Lai Châu, Kon Tum, Lạng Sơn, Ninh Thuận, Hà Nội, Lâm Đồng, Yên Bái,…

106 Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tư pháp, Bắc Kạn, Khánh Hòa, Điện Biên,…

107 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

108 Bộ Tư pháp, Thanh Tra Chính phủ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Khánh Hòa, An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nam, Lai Châu, Cần Thơ,…

109 Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ, Khánh Hòa,…

110 Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tư pháp, Lạng Sơn, Ninh Thuận, Thái Nguyên, Cà Mau, Hậu Giang, Hà Nội, Hải Phòng, An Giang,…

111 Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bình Phước, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh,…

112 Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng, Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao; Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Bình Phước, Hà Giang, Quảng Trị, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thanh Hóa, Quảng Bình, Lâm Đồng, Hà Nội, Bình Dương,…

113 Bộ Thông tin – Truyền thông; Lào Cai, Bắc Kạn, Bến Tre, TP. Hồ Chí Minh,…

114 Đà Nẵng.

115 Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Đà Nẵng, Quảng Trị, Hải Phòng, Quảng Bình,…

116 Bộ Tư pháp, Đài Truyền hình Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giao thông vận tải; Bắc Ninh, Hải Phòng, Bình Phước, Thanh Hóa, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh,…

117 Bộ Tư pháp, Bộ Giao thông vận tải, Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Hải Phòng, Bình Phước, Quảng Trị,…

118 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư pháp, Đài Truyền hình Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ, Hà Giang, Bình Phước, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh,…

119 Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Ủy ban dân tộc và miền núi, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bắc Ninh, Bình Phước, Quảng Trị, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lào Cai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Kạn, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bến Tre, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Cao Bằng, Hải Phòng, Bộ Y tế, Bộ Thông tin – Truyền thông, tỉnh Quảng Bình, Thanh Hóa, Hà Nội, Lâm Đồng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Bộ Tài chính, Đài Truyền hình Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,…

120 Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tây Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Bến Tre, Hải Phòng, Điện Biên, Bắc Kạn, Cà Mau, Gia Lai, Hậu Giang, Nam Định, Thái Nguyên,…

121 Bộ Tài chính, Trà Vinh, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội,…

122 Bộ Nôi vụ, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; Hà Giang, Bạc Liêu, Gia Lai, Hưng Yên, Nam Định, Thái Nguyên, Quảng Trị, Phú Thọ, Hải Phòng,…

123 Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam,…

124 Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế; Điện Biên, Bình Phước, Quảng Trị, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Nam Định,…

125 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Trị, Bình Phước, Bạc Liêu, Lạng Sơn, An Giang, Bến Tre, Đà nẵng, TP Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Cà Mau, Nam Định, Thái Nguyên,…

126 Quảng Trị.

127 Bộ Tài chính, Quảng Trị,…

128 Bộ Giáo dục và Đào tạo.

129 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Quảng Trị,…

130 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Bình Phước, An Giang,…

131 Quảng Trị, Ninh Thuận, Nghệ An, Vĩnh Long, Trà Vinh,…

132 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Kon Tum, Long An,…

133 Bộ Giao thông vận tải, Tây Ninh,…

134 Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng; Lào Cai, Quảng Trị, Điện Biên, Ninh Thuận, Lạng Sơn, Đà Nẵng,…

135 Kon Tum, Long An,…

136 Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Y tế; Cao Bằng, Ninh Thuận, Lạng Sơn,…

137 Bộ Tư pháp.

138 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Đà Nẵng,…

139 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính Phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Thông tấn xã Việt Nam; Quảng Trị, Lào Cai, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Cà Mau, Gia Lai, Nam Định, Nghệ An, Thái Nguyên, Sơn La,…

140 Tiền Giang, Đăk Lăk, Cần Thơ (3.220/3.220), Thừa Thiên Huế, Ngân hàng Nhà nước (17/17), Bình Định, Nam Định (124/140 ý kiến), Ninh Bình (56/299 ý kiến), Đài truyền hình Việt Nam, Đăk Nông (467/467 ý kiến), Hải Dương, Lâm Đồng, Phú Yên, Ủy ban dân tộc, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Vĩnh Phúc, Ninh Thuận (169/169),…

141 Đăk Nông (467/467 ý kiến), Tiền Giang, Đăk Lăk, Cần Thơ, Thừa Thiên Huế, Đài truyền hình Việt Nam, Hà Nội, Phú Yên, Ủy ban Dân tộc, Vĩnh Phúc,…

142 Tiền Giang, Đăk Lăk, Cần Thơ, Thừa Thiên Huế,…

143 Đài truyền hình Việt Nam

144 Bình Định (02 ý kiến,) Bộ Quốc phòng, Sóc Trăng, Quảng Ngãi (2/80 ý kiến), Thừa Thiên Huế (1 ý kiến),…

145 Bộ Quốc phòng, Sóc Trăng,…

146 Tiền Giang

147 Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (3/75 ý kiến)

148 Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

149 Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp; Quảng Trị, Hưng Yên, Phú Thọ, Quảng Bình, Bình Định, Tiền Giang, Hà Giang, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ…

150 Bộ Nội vụ; Cao Bằng (10 ý kiến), Bắc Giang (48/126 ý kiến), Kiên Giang (2 ý kiến), An Giang (1 ý kiến), Quảng Trị, Ninh Thuận, Quảng Ninh, Hà Giang, Tiền Giang…

151Bộ Công an, Bộ Tư pháp; Hưng Yên (2 ý kiến), Cà Mau,…

152 Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Ủy ban dân tộc, Văn phòng Chính phủ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường; Lào Cai, Hưng Yên, Bắc Giang, Ninh Thuận, Quảng Bình, Đồng Tháp, Quảng Ninh, Bình Dương, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Dương, Thái Bình, Tiền Giang, Hà Giang, Nam Định, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ…

153 Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bắc Giang, Đồng Tháp, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bình Định, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Điện Biên, Ninh Thuận, Nam Định…

154 Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Ủy ban Dân tộc, Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và truyền thông, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Ngoại giao, Bình Định, Thanh Hóa; Đăk Nông, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Tây Ninh, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Sóc Trăng, Quảng Nam, Bắc Giang, Cao Bằng, Quảng Bình, An Giang, TP Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Tiền Giang, Hà Giang, Nam Định, Đắk Lắk, Kiên Giang, Quảng Ninh,…

155Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (ý kiến tổ chức), Bộ Quốc phòng, Phú Thọ, Bình Định, Thanh Hóa (10 ý kiến), Kiên Giang (3/13 ý kiến), Quảng Ninh (39/25.962 ý kiến), Hưng Yên (3 ý kiến), Thừa Thiên Huế (3 ý kiến), Đăk Lăk,…

156 Bộ Công an (20/99 ý kiến); Bình Định (1 ý kiến), Quảng Bình (17/91 ý kiến), Thừa Thiên Huế (1 ý kiến), Hải Dương (1 ý kiến), Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội…

157 Tuyên Quang, Bộ Công an, Lào Cai, Ninh Bình, Hải Dương, Lâm Đồng, Ủy ban dân tộc…

158 Bộ Quốc phòng; Quảng Bình, Tiền Giang, Nam Định, Đắk Lắk, Cần Thơ,…

159 Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; Cà Mau, Tiền Giang, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ,…

160 Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài nguyên và Môi trường; Tuyên Quang, Quảng Ninh, Tiền Giang, Thừa Thiên Huế,…

161 Quảng Nam

162 Bộ Công an.

163 Cao Bằng.

164 Nghệ An, Bạc Liêu,…

165 Tiền Giang

166 Tiền Giang, Tuyên Quang,…

167 Kiên Giang, Ninh Thuận,…

168 Tiền Giang (1 ý kiến).

169 Văn phòng Chính phủ , Phú Thọ (714/714 ý kiến trong đó có 14 ý kiến cá nhân); Tuyên Quang (1 ý kiến), Đà Nẵng, Hải Phòng, Kon Tum, Vĩnh Long,…

170 Bộ Tư pháp, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lạng Sơn,…

171 Bộ Công an, Cà Mau, Thái Bình,…

172 Lào Cai, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.

173 Bộ Tư pháp, Thái Bình, Thanh Hóa, Lào Cai, Thừa Thiên Huế, Trà Vinh,…

174 Bắc Giang, Hà Tĩnh, Nghệ An, An Giang; Quảng Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Cao Bằng, Thanh Hóa, Đồng Tháp, Cần Thơ, Băk Kạn, Lào Cai,…

175 Tuyên Quang, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Đăk Lăk, Bình Phước,…

176 Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ xây dựng, Bộ Tài chính, Ủy ban Dân tộc, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Phú Yên, Tuyên Quang, Cà Mau, Cao Bằng, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Ninh, Quảng Trị, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Bắc Ninh, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bắc Kạn, Bình Thuận, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hậu Giang, Hưng Yên, Kon Tum, Ninh Thuận, Long An, Hòa Bình, Điện Biên, Bình Dương, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Vĩnh Long,…

177 Phú Yên, Quảng Ninh, Tiền Giang, Nam Định, Cần Thơ, Bắc Ninh, Ninh Thuận, Lạng Sơn,…

178 Uỷ ban Dân tộc, Phú Yên, Tuyên Quang, Bộ Thông tin và Truyền thông, Cà Mau, Cao Bằng, Hà Tĩnh, Nghệ An, Bộ Xây dựng, Kiên Giang, Quảng Ninh, Tiền Giang, Phú Thọ,…

179 Bộ Công An, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh,…

180 Nghệ An (72 ý kiến).

181 Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

182 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

183 Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Đăk Lăk,…

184 Thái Bình (1 ý kiến), Cà Mau (89 ý kiến), Nghệ An (146 ý kiến), Thanh Hóa (7 ý kiến), Đồng Nai, Nam Định, Cần Thơ, Bình Phước, Bình Thuận, Hưng Yên, Điện Biên,…

185 Đà Nẵng

186 Thái Bình (1 ý kiến), Cà Mau (89 ý kiến), Nghệ An (146 ý kiến), Thanh Hóa (7 ý kiến), Đồng Nai, Tiền Giang (1 ý kiến), Nam Định, Cần Thơ,…

187 Tuyên Quang (1 ý kiến), Nghệ An (318 ý kiến), An Giang, Cần Thơ, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Ninh Thuận,…

188 Bộ Tư pháp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bắc Giang (36 ý kiến), Trà Vinh, Sóc Trăng,…

189 Bộ Xây dựng.

190 Đồng Nai (2/5 ý kiến), Thừa Thiên Huế,…

191 Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh,…

192 Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại Giao, Bình Dương,…

193 Bình Dương.

194 Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao.

195 Bình Dương, Cần Thơ.

196 Kiên Giang, Đăk Lăk, Ninh Thuận,…

197 Bộ Công An, Thừa Thiên Huế (1 ý kiến).

198 Tây Ninh (2 ý kiến).

199Thái Bình, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Nghệ An (71 ý kiến); Thanh tra Chính phủ (6 ý kiến), Kiên Giang (1/1 ý kiến), Bộ Tư pháp (1/67 ý kiến); Thái Nguyên (1217/12.045 ý kiến); Quảng Ninh (829/25.050 ý kiến), Đăk Lăk, Tiền Giang (1 ý kiến), Hải Phòng, Tây Ninh (2 ý kiến), Ninh Thuận, Đà Nẵng,…

200 Tuyên Quang (2 ý kiến), Hà Tĩnh, Nghệ An (15 ý kiến), Bộ Tư pháp (2/67 ý kiến), Đồng Nai (1 ý kiến), Tiền Giang (1 ý kiến), Cần Thơ, Bà rịa – Vũng tàu, Bình Phước, Bắc Ninh, Sóc Trăng, Quảng Nam, Băk Kan, Đà Nẵng, Kon Tum, Ninh Thuận, Phú Yên, Long An, Hòa Bình, Điện Biên,…

201 Bộ Tư pháp, Cà Mau, Tiền Giang (19 ý kiến), Đăk Lăk,…

202 Tuyên Quang (1 ý kiến), Tiền Giang (14 ý kiến),…

203 Bình Dương (02 ý kiến), Bộ Tư pháp (3/67 ý kiến), Đà Nẵng, Bộ Tài chính, Lạng Sơn,…

204 Bà Rịa – Vũng tàu, Quảng Trị, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (3 ý kiến).

205 Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, Ủy ban dân tộc, Hải Phòng, Hưng Yên, Vĩnh Long,…

206 Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (3 ý kiến).

207 Phú Yên (122 ý kiến), Bắc Giang (60 ý kiến),…

208 Bắc Ninh

209 Cà Mau, Bình Dương, Tuyên Quang, Hưng Yên, Vĩnh Long,…

210 Bình Dương (1 ý kiến).

211 Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc, Quảng Ngãi, Thái Nguyên (1.034/12.045 ý kiến), Thanh Hóa,…

212 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Tĩnh, Bình Dương, Bắc Giang, Tuyên Quang, Kiên Giang,…

213 Bình Dương (1 ý kiến).

214 Bắc Giang (66 ý kiến).

215 Bình Dương (1 ý kiến).

216 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Thái Bình, An Giang, Nghệ An, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Cần Thơ,…

217 Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

218 Thái Bình, An Giang, Nghệ An (1342 ý kiến).

219 Cà Mau (1 ý kiến), Bảo Hiểm xã hội Việt Nam.

220 Bà rịa – Vũng tàu.

221 Bình Dương (1 ý kiến), Bộ Xây dựng (1 ý kiến), Cần Thơ (2 ý kiến).

222 Bến Tre, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Thuận, Điện Biên, Lào Cai, Phú Yên, Tuyên Quang, Cà Mau, Nghệ An, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Gia Lai, Quảng Bình, Đồng Tháp, Quảng Trị, Hà Giang, Bà Rịa – Vũng tàu, Cao Bằng

223 Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bình Dương, Nghệ An, Cao Bằng, Cà Mau, Hà Giang (11 ý kiến), Nam Định, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ.

224 Bà rịa – Vũng tàu.

225 Phú Yên (22/456 ý kiến), Tuyên Quang (3 ý kiến), Cà Mau (5 ý kiến), Nghệ An (1204 ý kiến), Lào Cai (19 ý kiến), Hà Giang (11 ý kiến).

226 Bến Tre, Quảng Trị, Lào Cai, Hà Giang

227 Quảng Trị

228 Đắk Nông, Bình Dương, Gia Lai, Hà Giang…

229 Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Nam Định, Kiên Giang, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, 415 lượt ý kiến của các cá nhân tại các tọa đàm, hội thảo, hội nghị, các bài viết nghiên cứu, đóng góp ý kiến trên trang các trang thông tin điện tử.

230 Tuyên Quang, Điện Biên, Trà Vinh, Sóc Trăng, có 445 lượt ý kiến của các cá nhân tại các tọa đàm, hội thảo, hội nghị, các bài viết nghiên cứu, đóng góp ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

231 Bộ Tư pháp, Tuyên Quang, Sóc Trăng, Lâm Đồng…, có 365 ý kiến lượt ý kiến của các cá nhân tại các tọa đàm, hội thảo, hội nghị, các bài viết nghiên cứu, đóng góp ý kiến trên trang các trang thông tin điện tử.

232 Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Ngân hàng nhà nước, Bộ Ngoại giao, Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bắc Ninh, Quảng Trị, Lào Cai, Kon Tum, Quảng Nam, Tuyên Quang, Bình Dương, Phú Thọ, Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hưng Yên, Sóc Trăng…

233 Bộ Tài chính, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Viện Hàn lâm Khoc học xã hội Việt Nam, Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Tuyên Quang, Sóc Trăng,…

234 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lào Cai, Điện Biên, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Cao Bằng, Đà Nẵng, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Kon Tum, Sóc Trăng, Bình Phước, Tuyên Quang, Bình Dương, Phú Thọ, Nghệ An, Đắk Nông, Thừa Thiên Huế,…

235 Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,…

236 Quảng Trị, Bạc Liêu, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bình Dương, Bộ Giao thông vận tải , Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vĩnh Phúc…

237 Đà Nẵng, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu, Bạc Liêu…

238 Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, Bộ Giáo dục và Đào tạo,….

239 Nghệ An, Điện Biên, Hải Phòng, Hưng Yên, Tiền Giang, Bộ Nội vụ, Ninh Thuận, Cần Thơ, Trà Vinh…

240 Bộ Công An, Đà Nẵng, Nghệ An, Tiền Giang,…

241 Tuyên Quang, Điện Biên, Lâm Đồng, Hồ Chí Minh, Bạc Liêu, Kiên Giang, Bộ Tài chính,…

242 Bạc Liêu, Bến Tre, Phú Yên, Ninh Thuận…

243 Bến Tre, Sóc Trăng, Đồng Nai, Kiên Giang, Ninh Thuận,…

244 Bộ Giao thông vận tải, Quảng Trị, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Hải Phòng, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bình Dương, Phú Thọ, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang,…

245 Bộ Công an, Bắc Kạn, Bến Tre, Hưng Yên, Ninh Thuận, Thừa Thiên Huế,…

246 Kon Tum, Bộ Công an, Sóc Trăng, Cần Thơ…

247 Tuyên Quang, Đăk Lăk, Đăk Nông, Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng,…

248 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bà Rịa – Vũng Tàu, Vĩnh Long,…

249 Đà Nẵng, Bộ Quốc phòng, Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Công an, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,…

250 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Kiên Giang, Trà Vinh, Gia Lai, Sóc Trăng, Đồng Nai, Phú Yên…

251 Văn phòng Chính phủ, Cà Mau, Bình Dương, Bộ Ngoại giao…

252 Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bình Dương, Bạc Liêu, Cà Mau,…

253 Bộ Ngoại giao

254 Bộ Tư pháp

255 Bộ Ngoại Giao, Bạc Liêu, Cà Mau,…

256 Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tiền Giang, Điện Biên, Tây Ninh, Kiên Giang, Bắc Ninh, Bình Thuận, Đăk Lăk,…

257 Thanh tra Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công an, Tây Ninh, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Bình Phước, Vĩnh Phúc, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Cao Bằng, Đà Nẵng, Kiên Giang, Ninh Thuận, Tuyên Quang,…

258 Đăk Nông, Trà Vinh, Bến Tre…

259 Bắc Ninh, Bộ Tư pháp, Trà Vinh, Thái Bình,…

260 Bộ Công an, Đăk Lăk,…

261 Bộ Công an

262 Đăk Lăk, Sóc Trăng, An Giang…

263 Bắc Ninh, Trà Vinh, Đăk Nông, Gia Lai,…

264 Bộ Quốc Phòng, Quảng Trị, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hậu Giang, Ninh Thuận, Cần Thơ, An Giang, Lâm Đồng,…

265 Bộ Thông tin truyền thông, Tây Ninh, Lào Cai, Bạc Liêu, Kon Tum,…

266 Tỉnh Quảng Trị, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thái Nguyên, Sơn La, Hải Phòng, Hậu Giang, Kon Tum, Tuyên Quang, Nghệ An,…

267 Đà Nẵng, Bình Thuận, Kiên Giang,…

268 Bà Rịa – Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đà Nẵng, Đắk Nông, Tây Ninh,…

269 Đà Nẵng

270 Điện Biên, Bộ Công an, Đăk Lăk, Ngân hàng nhà nước, Bình Phước, Hà Giang, Lào Cai, Quảng Trị, Vĩnh Phúc, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bình Thuận, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Cao Bằng, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hậu Giang, Hưng Yên, Kon Tum, Ninh Thuận, Quảng Nam, Kiên Giang, Yên Bái, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Bình Dương, Phú Thọ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quảng Ngãi, Nghệ An, Quảng Bình, TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Bộ Nội Vụ, Gia Lai, Đắc Nông, Cần Thơ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long…

271 Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Ngoại giao, Viện Hàn lâm khoa học và Cộng nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Dân tộc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giao thông vận tải (đồng ý với Báo cáo chuyên đề Chính phủ), Kon Tum, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cao Bằng, Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bình Dương, Nghệ An, Quảng Bình, Gia Lai, Lâm Đồng, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Bình Định, Cần Thơ, Đắk Lắk,…

272 Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam, Kon Tum, Hải phòng, Đà Nẵng, Cao Bằng, Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bình Dương, Nghệ An, Quảng Bình, Gia Lai,…

273 Hải Phòng.

274 Đà Nẵng.

275 Bộ Tư pháp, Bộ Công an; Hải Phòng…

276 Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Long An, Quảng Trị…

277 Quảng Ninh, Bắc Giang, Ninh Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Nam Định, Hà Nội…

278 Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ…

279 Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…

280 Quảng Trị.

281 Sơn La, Bộ Tư pháp,…

282 Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Long An,…

283 Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ,…

284 Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Kiên Giang…

285 Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Hòa Bình, Đà Nẵng…

286 Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Quảng Trị, Lâm Đồng, Quảng Bình, Ninh Thuận…

287 Hải Phòng, Ủy ban Dân tộc, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ…

288 Ninh Thuận, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ…

289 Long An.

290 Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ…

291 Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp…

292 Quảng Ninh, Ninh Thuận…

293 Bà Rịa – Vũng Tàu, Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành và chuyên gia, nhà khoa học (ý kiến góp ý vào dự thảo chuyên đề Chính phủ).

294 Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành và chuyên gia, nhà khoa học (ý kiến góp ý vào dự thảo chuyên đề Chính phủ).

295 Quảng Trị, Ninh Thuận, Hưng Yên, Hậu Giang, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắk Kạn, Bình Dương, Vĩnh Long, Hưng Yên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nghệ An…

296 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

297 Lào Cai, Lai châu, Hưng Yên, Bộ Thông tin và Truyền thông, Yên Bái, Thanh Hóa, Gia Lai, Ủy ban Dân tộc…

298 Quảng Trị, Bến Tre…

299 Đồng Tháp.

300 Ninh Thuận, Quảng Nam, Hải Phòng, Tuyên Quang, Quảng Bình,…

301 Thái Bình, Trà Vinh, Cà Mau…

302 Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Thái Bình, An Giang, Đồng Tháp, Đăk Nông, Yên Bái, TP. Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Quảng Nam, Hải Phòng, Tuyên Quang, Bạc Liêu, Nghệ An, Bình Phước, Điện Biên, Hòa Bình, Kon Tum, Long An, Bộ Tư pháp, Hà Nội, Nam Định, Cần Thơ,…

303Tuyên Quang, Nghệ An, Bình Phước, Nam Định,…

304 TP. Hồ Chí Minh

305 Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

306 TP. Hồ Chí Minh, Cà Mau, Bộ Xây dựng,…

307 Nghệ An (321 ý kiến), Tiền Giang, An Giang,…

308 Hà Nội, Sơn La, Nghệ An (214 ý kiến), Quảng Bình, Giai Lai, Hải Phòng, Ninh Thuận, Cao Bằng, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Nam Định, Ủy ban dân tộc…

309 Bạc Liêu, Đăk Lăk, Đăk Nông, Trà Vinh, Lâm Đồng, Tiền Giang …

310 Bắc Ninh, Kiên Giang, Trà Vinh, Lâm Đồng,…

311 Thanh Hóa, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp,…

312 Kon Tum, Hà Nội, Kiên Giang, Thái Nguyên,…

313 Bộ Tài Chính, Quảng Ninh, TP. Hồ Chí Minh,…

314 Điện Biên, Nghệ An, Lâm Đồng,…

315 TP. Hồ Chí Minh, Bình Phước, Phú Thọ, Quảng Ninh, Đắk Nông, Hà Nội,…

316 Hải Dương, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Ninh Bình, An Giang, Bộ Công an, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Gia Lai, Quảng Ninh, Quảng Nam, Tuyên Quang, Hưng Yên, Hải Phòng, Bộ Tư pháp, Ninh Thuận, Điện Biên, Long An, Bình Dương, Bộ Giao thông vận tải, Hà Tĩnh, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Trị, Cao Bằng, Hà Nội, Đà Nẵng, Nam Định (05 ý kiến),…

317 Khánh Hòa, Đắc Lắc, Tiền Giang, Bình Định, Lâm Đồng, Hà Nội, Thái Bình, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Gia Lai, Tây Ninh, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Bình, An Giang, Phú Thọ, Tuyên Quang, Kiên Giang, Bắc Kạn, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bến Tre, Bạc Liêu, Hưng Yên, Điện Biên, Hòa Bình, Bình Phước, Kon Tum, Bộ Giao thông vận tải, Cà Mau, Hà Tĩnh, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Nghệ An (566 ý kiến của cơ quan, đơn vị), Hải Phòng, Cần Thơ, Ngân hàng Nhà nước,…

318 Quảng Ninh, Gia Lai, Đăk Nông, Bắc Kạn, Hải Phòng, Ninh Thuận, TP. Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Bình Phước, Hà Tĩnh,…

319 Hà Nội, Nam Định, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Quảng Trị, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Yên Bái, Hải Phòng, Bình Dương, Tuyên Quang, Điện Biên, Quảng Ngãi, Bộ Giao thông vận tải, Thanh Hóa, Bộ Công an, Cà Mau,…

320 Hà Nội, Bộ Tài Chính, Đồng Tháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Yên Bái, Bắc Kạn, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bộ Tư pháp, Nam Định, Nghệ An,…

321 Hà Nội, Đắk Lắk, Bộ Ngoại giao, Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Gia Lai, Đồng Tháp, Bình Phước, Quảng Nam, Điện Biên, Bến Tre, Phú Thọ, Quảng Bình, Đăk Nông, Nghệ An, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cà Mau, Hải Phòng, Long An, Ngân hàng nhà nước Việt Nam,…

322 Lâm Đồng, Tiền Giang, Thừa Thiên Huế, Ninh Bình, Hải Dương, Thái Bình, Quảng Trị, Đồng Tháp, Sơn La, Tây Ninh, Gia Lai, Vĩnh Long, Cà Mau, Yên Bái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bạc Liêu, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Quảng Ninh, Nghệ An, Điện Biên, Hòa Bình, Bắc Kạn, Kon Tum, Tuyên Quang,…

323 Hà Nội, An Giang, Đắc Lắc, Long An, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Hải Phòng, Vĩnh Long, Lai Châu, Yên Bái, Quảng Bình, Bình Định,…

324 Hà Nội, Bộ Quốc Phòng, Bộ Công an, Tuyên Quang, Quảng Bình, Nam Định, Hải Phòng, Hà Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Bộ Tư pháp, Bắc Kạn, Bắc Giang, Cà Mau, Vĩnh Long, Đăk Nông…

325 Hà Nội, Bộ Tài Chính, Bộ Công an, Gia Lai, Cà Mau, Đắc Nông, Nam Định, Bộ Tư pháp, Lạng Sơn, Yên Bái, Bắc Giang, Bình Dương, Bắc Kạn, Bến Tre, Bắc Ninh, Bình Phước, Bộ Quốc Phòng, Hà Giang, Vĩnh Long, Ninh Thuận, Nghệ An, Quảng Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Lao Cai, Điện Biên, Kon Tum, Kiên Giang, Quảng Bình,…

326 Hải Dương, Bình Định, Lâm Đồng, Hà Nội, Kon Tum, Bộ Tư pháp, Ninh Thuận, Hà Giang, An Giang, Tây Ninh, Quảng Ngãi, Gia Lai, Bắc Kạn, Quảng Bình, Hải Phòng, Kiên Giang,…

327 Quảng Ninh, Bình Dương, Phú Thọ, TP. Hồ Chí Minh, Bạc Liêu, Bình Phước, Tuyên Quang, Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định, Cần Thơ,…

328 Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Điện Biên, Bạc Liêu, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bình Phước, Bộ Quốc Phòng, Bộ Tài Chính, Lâm Đồng, Bình Định, Ninh Bình,…

329 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đài Truyền hình Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế; Cần Thơ, Bắc Ninh, Bình Phước, Hà Giang, Lào Cai, Quảng Trị, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Bến Tre, Bình Thuận, Cao Bằng, Hải Phòng, Hưng Yên, Kiên Giang, Vĩnh Phúc, Điện Biên, Phú Yên, Hòa Bình, Long An, Quảng Ngãi, Nghệ An, Quảng Ninh, An Giang, Thanh Hóa, Gia Lai, Yên Bái, Quảng Bình, Đắk Nông, TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Hải Dương, Thái Bình…

330 Hưng Yên.

331 Bình Định.

332 Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Ninh Bình, Cần Thơ, Thừa Thiên Huế…

333 Bộ Tài chính; Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Nghệ An, Hải Phòng, Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh…

334 Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Văn phòng Chính phủ; Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Nghệ An, Bình Định, Nam Định, Ninh Bình…

335 Hải Phòng.

336 Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Y tế, Văn phòng Chính phủ; Bắc Ninh, Ninh Thuận, Quảng Trị, Sóc Trăng, Trà Vinh, Điện Biên, Hà Tĩnh, Nghệ An, An Giang, Tây Ninh, Điện Biên, Thái Bình, TP Hồ Chí Minh…

337 Bộ Y tế, Bộ Tài chính; Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Ninh Thuận, Quảng Trị, Sóc Trăng, Trà Vinh, Điện Biên, Hà Tĩnh, Nghệ An, An Giang, Tây Ninh…

338 Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao; Bình Thuận, Đà Nẵng, Kiên Giang, Bắc Ninh, Lào Cai, Sóc Trăng, Vĩnh Phúc, Điện Biên, Sơn La, Phú Thọ, Hưng Yên, Nghệ An, Quảng Ninh, An Giang, Gia Lai, Quảng Bình, Bình Phước, Quảng Trị, Bắc Kạn, Hưng Yên, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Hải Dương, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Định, Cao Bằng, Tây Ninh, Cần Thơ, Thừa Thiên Huế…

339 Hà Giang.

340 Bộ Công an; Cao Bằng, Lào Cai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Yên Bái, Nghệ An, Quảng Bình…

341 Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Bình Thuận, Cao Bằng, Đà Nẵng, Hưng Yên, Bạc Liêu, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kon Tum, Ninh Thuận, Quảng Trị, Quảng Nam, Sóc Trăng, Trà Vinh, Điện Biên, Hòa Bình, Quảng Ngãi, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Phú Thọ, Lai Châu, Lạng Sơn, Quảng Ninh, An Giang, Gia Lai, Quảng Bình, Đắk Nông, Tây Ninh, Lâm Đồng, Hải Dương, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Khánh Hòa, Nam Định, Ninh Bình.

342 Bộ Tư pháp, Đà Nẵng, Nam Định…

343 Bộ Nội vụ; Bình Thuận, Cao Bằng, Đà Nẵng, Hưng Yên, Bạc Liêu, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kon Tum, Ninh Thuận, Quảng Trị, Quảng Nam, Sóc Trăng, Trà Vinh, Điện Biên, Hòa Bình, Quảng Ngãi, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Phú Thọ, Lai Châu, Lạng Sơn, Quảng Ninh, An Giang, Gia Lai, Quảng Bình, Đắk Nông, Tây Ninh….

344 Bộ Ngoại giao; TP Hồ Chí Minh…

345 Bộ Nội vụ; TP Hồ Chí Minh, Thái Bình…

346 TP Hồ Chí Minh, Hải Dương, Hà Nội, Bến Tre, Đà Nẵng, Quảng Trị, Điện Biên…

347 TP Hồ Chí Minh, Hải Dương, Đắk Nông…

348 Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Đà Nẵng, Hà Nội, Kiên Giang, Ninh Thuận, Trà Vinh, Nghệ An, Quảng Ninh, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hậu Giang, Hưng Yên, Kon Tum, Phú Thọ, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc…

349 Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao; Sóc Trăng, Kon Tum, Trà Vinh, Cao Bằng, Hậu Giang, Kiên Giang, Ninh Thuận, Điện Biên, Hòa Bình, Quảng Ngãi, Vĩnh Long, Nghệ An, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Hải Dương, Thái Bình, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Sơn La, Phú Thọ, Cà Mau…

350 Đà Nẵng, Bắc Ninh, Kiên Giang, Lào Cai, Đà Nẵng, Sóc Trăng, Long An, Nghệ An, Gia Lai, Quảng Bình, Đắk Nông, Hà Nội…

351 Bình Phước, Bắc Kạn, Hưng Yên, Hà Nội…

352 Bộ Quốc Phòng, Hà Giang…

353 Thanh tra Chính phủ.

354 Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Yên Bái…

355 Tuyên Quang.

356 Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội Vụ, Bộ Y tế, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bình Phước, Lào Cai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Trị, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Bến Tre, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Phúc, Điện Biên, Bình Dương, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Đà Nẵng, An Giang, Đắk Nông, Gia Lai, Quảng Bình, Thanh Hóa, Yên Bái, Bình Định, Cần Thơ, Nam Định, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh….

357 Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội Vụ, Bộ Y tế; Bình Phước, Lào Cai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Trị, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Bến Tre, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Phúc, Điện Biên, Bình Dương, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Đà Nẵng, An Giang, Đắk Nông, Gia Lai, Quảng Bình, Thanh Hóa, Yên Bái…

358 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế; Quảng Trị, Đồng Nai, Lai Châu, Thanh Hóa, Bình Thuận…

359 Bộ Tài chính, Bộ Y tế; Lào Cai, Bến Tre, Bình Thuận, Điện Biên, Phú Thọ, Vĩnh Long…

360 Bà Rịa – Vũng Tàu, Cao Bằng, Ninh Thuận, Quảng Nam, Điện Biên, Trà Vinh, Long An, Tuyên Quang, Cà Mau, Đồng Nai, Lạng Sơn, Sóc Trăng, An Giang, Đắk Nông, Gia Lai, Thanh Hóa…

361 Bảo Hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Nội Vụ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Bắc Kạn, Hậu Giang, Hưng Yên, Kiên Giang, Ninh Thuận, Quảng Nam, Trà Vinh, Điện Biên, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh, Hà Giang, Quảng Trị, Bến Tre, Hòa Bình, Long An, Bình Dương, Tuyên Quang, Bắc Giang, Cà Mau, Đồng Nai, Lai Châu, Vĩnh Long, Đà Nẵng, An Giang, Đắk Nông, Quảng Bình…

362 Bộ Công an, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bình Phước, Hà Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hưng Yên, Kiên Giang, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Phúc, Điện Biên, Hòa Bình, Bình Dương, Tuyên Quang, Cà Mau, Đồng Nai, Vĩnh Long, An Giang, Đắk Nông, Quảng Bình, Tây Ninh, Yên Bái…

363 Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương, Đài truyền hình Việt Nam; Quảng Trị, Hải Phòng, Hà Giang, Sơn La, Kon Tum, Quảng Bình…

364 Quảng Ninh.

365 Quảng Bình.

366 Bộ Tư pháp.

367 Bộ Tư Pháp.

368 Bộ Tư pháp.

369 Quảng Bình.

370 Quảng Ninh.

371 Bộ Tư pháp.

372 Điện Biên, Quảng Ninh…

373 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Lào Cai, Quảng Trị, Trà Vinh, Lạng Sơn, Quảng Bình, Đắk Nông…

374 Lào Cai.

375 Trà Vinh.

376 Điện Biên, Quảng Ninh…

377 Bộ Tư pháp.

378 Bộ Tư pháp.

379 Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Đà Nẵng, Bình Dương, Bình Thuận, Bình Định, Nam Định, Hải Dương…

380 Đà Nẵng.

381 Bộ Tư pháp, Đà Nẵng…

382 Bắc Ninh.

383 Bộ Tư pháp; Quảng Trị, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Long An, Sóc Trăng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thanh Hóa…

384 Bình Phước, Đắk Nông…

385 Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Lào Cai, Hưng Yên, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Vĩnh Long, Kiên Giang, Bến Tre, Tây Ninh, Lâm Đồng, Hà Nội…

386 Ninh Thuận.

387 13/30 Bộ, ngành có phần đề xuất, kiến nghị: Bộ Tư pháp, Bộ quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban dân tộc, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

388 39/63 tỉnh, thành phố có phần đề xuất, kiến nghị: Tuyên Quang, Phú Thọ, Quảng trị, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Cao Bằng, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hậu Giang, Hưng Yên, Kiên Giang, Kon Tum, Hà Nội, Ninh Thuận, Trà Vinh, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Cà Mau, Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La, Vĩnh Long, Quảng Ngãi, TP.Hồ Chí Minh, An Giang, Yên Bái, Gia Lai, Đắk Nông, Hà Nam, Lâm Đồng, Hải Dương, Khánh Hòa, Ninh Bình, Nam Định, Cần Thơ, Thừa Thiên Huế, Đắk Lăk, Tiền Giang.

389 Hậu Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long

390 TP. Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Vĩnh Long, Quảng Ngãi, Gia Lai, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang…

391 Bộ Quốc phòng, Quảng Trị, Bạc Liêu, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Quảng Ngãi, TP.Hồ Chí Minh, Gia Lai, Bộ Công an, Tiền Giang…

392 An Giang, Bộ Công an

393 Bộ Quốc phòng, Quảng Trị, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hà Nam,…

394 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giao thông vận tải, Quảng Ngãi, An Giang, Ủy ban Dân tộc,…

395 Quảng Trị, Bạc Liêu, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Kon Tum, Bộ Giao thông vận tải, Hà Nam,…

396 Bộ Tư pháp, Bạc Liêu, Hà Nam,…

397 Bạc Liêu, Kon Tum, Quảng Ngãi, TP.Hồ Chí Minh, Thừa Thiên Huế, Bộ Công an,…

398 Kon Tum, TP.Hồ Chí Minh, Hà Nam, Ủy ban Dân tộc,…

399 Kon Tum, Sơn La, Hà Nam, Ủy ban Dân tộc, Tiền Giang,…

400 Tuyên Quang, Kon Tum, TP. Hồ Chí Minh, Gia Lai, Quảng Bình, Đồng Tháp, Bình Định,…

401Bộ Tư pháp, Tuyên Quang, Quảng Trị, Hà Nội, Bộ Quốc phòng, Kon Tum, Hà Nam, Quảng Ngãi…

402 Bộ Tư pháp, Tuyên Quang, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Nội vụ, Gia Lai…

403 Bộ Tư pháp, Quảng Trị, Tuyên Quang, Kon Tum, Gia Lai, Hà Nam…

404 Tuyên Quang, Bạc Liêu, Kon Tum, Gia Lai, Hà Nam…

405 Lào Cai, Gia Lai, Ninh Bình…

406 Tuyên Quang, Lào Cai, Bạc Liêu, Kon Tum…

407 Bạc Liêu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Gia Lai…

408 Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Cao Bằng, Khánh Hòa, Kiên Giang, Vĩnh Phúc, Sơn La, Yên Bái,…

409 Bộ Xây dựng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bình Phước, Hà Gang, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hậu Giang, Hưng Yên, Hòa Bình, Lạng Sơn, Nghệ An, Yên Bái, Đắk Nông, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa,…

410 Từ đây, trong các điều, khoản được viện dẫn đều in nghiêng và gạch chân dưới những cụm từ, từ, câu có sửa đổi, bổ sung so với Dự thảo của Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp.

411 Bộ Công thương, Quảng Trị, Lào Cai,…

412 Kon Tum, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cao Bằng, Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bình Dương, Nghệ An, Quảng Bình, Gia Lai, Lâm Đồng, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Bình Định, Cần Thơ, Đắk Lắk, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Xây dựng, Bộ Ngoại giao, Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giao thông vận tải (tổng số là 2.384 ý kiến qua các hội nghị, hội thảo lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp)

413 Trích Báo cáo số 32:” Vị trí của Chính phủ trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước chưa được xác lập do Chính phủ chưa được phân công, phân nhiệm một cách rõ ràng, vì vậy, Chính phủ chưa có được một vị thế riêng, phù hợp với tính chất của cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội” trên thực tế dẫn đến Chính phủ ở thế thụ động (chỉ chấp hành nghị quyết, luật do Quốc hội ban hành), làm hạn chế sự chủ động của Chính phủ trong việc khởi xướng, hoạch định chính sách quốc gia; hạn chế tính năng động, chủ động và sáng tạo của Chính phủ trong điều hành chính sách và tổ chức thực thi pháp luật” (trang 12).

414 Trích Báo cáo số 32: “Quy định Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm báo cáo công tác với UBTVQH chưa thật hợp lý vì UBTVQH không phải là cơ quan thành lập ra Chính phủ, bầu ra Thủ tướng hay phê chuẩn danh sách các thành viên Chính phủ; chưa phân định rõ tính chất của việc UBTVQH xem xét báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giữa hai kỳ họp Quốc hội” (trang 20).

415 Báo cáo 32, trang 31:” Hiến pháp năm 1992 chưa phân định rõ thẩm quyền và có một số quy định chưa phù hợp với nguyên tắc hoạt động của Chính phủ và của Thủ tướng Chính phủ. Hiến pháp năm 1992 đã định hình thiết chế Thủ tướng với nhiều nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau nhưng chưa có sự phân biệt, tách bạch các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ với tư cách là người lãnh đạo Chính phủ và với tư cách một thiết chế độc lập”.

“Hiến pháp1992 chưa phân biệt và tách bạch các vai trò, trách nhiệm khác nhau của Thủ tướng, Bộ trưởng, chưa đề cao, phát huy vai trò, trách nhiệm của Bộ trưởng trong quản lý đối với ngành, lĩnh vực. Có thực tế là trong một số trường hợp, Thủ tướng Chính phủ phải làm thay việc của Bộ trưởng”.

416 Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Hải Phòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Long An, Văn phòng Chính phủ,…

417 Báo cáo 32, trang 14: Quy định về chức năng,nhiệm vụ của Chính phủ chưa phù hợp, chưa phản ánh được quá trình chuyển đổi tất yếu từ một Chính phủ “chấp hành” thụ động bằng mệnh lệnh hành chính trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp sang Chính phủ “hành pháp”chủ động khởi xướng, hoạch định và điều hành chính sách vĩ mô nhanh nhạy, sáng tạo, ứng phó, giải quyết kịp thời các vấn đề cuộc sống đặt ra trong Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường

Báo cáo 32, trang 82: Về kỹ thuật lập hiến, Hiến pháp chủ yếu quy định khái quát các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc chức năng hành pháp của Chính phủ và một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc chức năng hành chính quan trọng nhất còn lại để Luật tổ chức Chính phủ quy định, đảm bảo để Chính phủ có thể quản lý bao quát, toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội.

418 Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Kiên Giang…

419 Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Quảng Trị, Lâm Đồng,…

420 Bộ Tư pháp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bắc Giang…

421 Đồng Nai, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch,…

422 Báo cáo 32, trang 20 – “Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH và Chính phủ đối với Hội đồng nhân dân vừa có sự chồng chéo khó thực hiện trên thực tế, vừa tạo nên sự nhận thức không thống nhất về địa vị của Hội đồng nhân dân (Quốc hội, UBTVQH là cấp trên của Hội đồng nhân dân).

423 Bộ Tư pháp

424 Ninh Thuận, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ,…

425 Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ,…

426 Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp,…

427 Bà Rịa – Vũng Tàu, Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành và chuyên gia, nhà khoa học (ý kiến góp ý vào dự thảo chuyên đề Chính phủ).

428 Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Hải Phòng,…

429 Mặc dù Điều 101 Dự thảo vẫn quy định “thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm cá nhân trước Chính phủ, Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách…

430 Có ý kiến đề nghị thiết kế Điều 115a như sau:

1. Các đơn vị hành chính lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Các đơn vị hành chính lãnh thổ trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt.

2. Tiêu chí, trình tự và thủ tục thành lập mới, chia tách, sáp nhập các đơn vị hành chính lãnh thổ, đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt do luật định.

431 Cũng có một số ý kiến đề nghị, tại khoản 3 này cần quy định rõ hơn là: việc thành lập mới, chia tách, sáp nhập các đơn vị hành chính phải lấy ý kiến nhân dân địa phương.

432 Đà Nẵng, Hà Nội, Kiên Giang, Ninh Thuận, Trà Vinh, Nghệ An, Quảng Ninh, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hậu Giang, Hưng Yên, Kiên Giang, Kon Tum, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bộ Nội vụ; Bộ Kế hoạch và Đầu tư (mô hình các khu hành chính- kinh tế đặc biệt tương đương cấp tỉnh, huyện)

433 Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Nghệ An, Hải Phòng, Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bộ Tài chính,…

434 Cũng có ý kiến đề nghị: cần khẳng định luôn tại Điều này việc không thành lập Hội đồng nhân nhân dân huyện, quận, phường như tinh thần của Nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15/11/2008 về thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường

435 Bộ Tư pháp, Đà Nẵng, các chuyên gia tại Hội thảo về chính quyền địa phương tại Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Hội thảo do Ban chỉ đạo của Chính phủ tổ chức ngày 25/3/2013.

436 Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Bình Thuận, Cao Bằng, Đà Nẵng, Hưng Yên, Bạc Liêu, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kon Tum, Ninh Thuận, Quảng Trị, Quảng Nam, Sóc Trăng, Trà Vinh, Điện Biên, Hòa Bình, Quảng Ngãi, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Phú Thọ, Lai Châu, Lạng Sơn, Quảng Ninh, An Giang, Gia Lai, Quảng Bình, Đắk Nông, Tây Ninh, Lâm Đồng, Hải Dương, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội,…

437 Trường hợp thuật ngữ “cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương” được thay thế bằng thuật ngữ ”Ủy ban hành chính” thì nên bổ sung quy định “Các thành viên khác của Ủy ban hành chính chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch Ủy ban hành chính về việc thực hiện nhiệm vụ được giao” để mở đường cho khả năng áp dụng chế độ thủ trưởng chế trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

438 Uỷ ban Dân tộc, Phú Yên (41 ý kiến); Tuyên Quang (3 ý kiến), Bộ Thông tin và Truyền thông, Cà Mau (28 ý kiến); Cao Bằng (9 ý kiến); Hà Tĩnh; Nghệ An (725 ý kiến); Bộ xây dựng, Kiên Giang (5/5 ý kiến); Quảng Ninh (35 ý kiến), Tuyên Quang (1 ý kiến), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (5 ý kiến), Đăk Lăk, Bình Phước, Thừa Thiên Huế,…

439 Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ,…

440 Bộ Tư pháp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bắc Giang…

441 Bà Rịa – Vũng Tàu, Cao Bằng, Ninh Thuận, Quảng Nam, Điện Biên, Trà Vinh, Long An, Tuyên Quang, Cà Mau, Đồng Nai, Lạng Sơn, Sóc Trăng, An Giang, Đắk Nông, Gia Lai, Thanh Hóa,…

442 Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp,…

443 Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ,…

444 Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2 ý kiến), Sóc Trăng,…

445 Tuyên Quang, Bạc Liêu, Bộ Tư pháp,…

446 Tuyên Quang, Bộ Tư pháp,…

447 Bình Dương

448 Bộ Tư pháp

449 Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ

450 4 nhóm ý kiến là i) Tán thành cần có quy định về Hội đồng Hiến pháp nhưng cần hoàn thiện theo hướng củng cố thêm vị thế và thẩm quyền của cơ quan này,(ii) Đề nghị Không thành lập Hội đồng Hiến pháp; (iii)Đề nghị thành lập Tòa án Hiến pháp (có tính độc lập và chuyên nghiệp); (iv) Đề nghị chuyển giao nhiệm vụ bảo hiến cho các cơ quan khác chuyên trách về pháp luật (UBPL của Quốc hội) hoặc về tư pháp (TANDTC).

451 TP. Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Vĩnh Long, Quảng Ngãi, Gia Lai,…

452 An Giang

453 Các Phương án khác là Phương án 2- Bổ sung và viết lại như sau: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, dân chủ, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, quần đảo,vùng biển, vùng trời và trong lòng đất”; Gộp Điều 11 vào Điều 1 thành Điều 1 gồm 3 khoản.

454 Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư pháp, Quảng Bình, Kon Tum,…

455 Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Uỷ ban Dân tộc; An Giang, Bạc Liêu, Bắc Kạn, Cao Bằng, Đà Nẵng, Gia Lai, Hà Giang, Hậu Giang, Hưng Yên, Lạng Sơn, Lào Cai, Ninh Thuận, Quảng Bình, Thanh Hoá,…

456 Bộ Công an, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Bộ Tư pháp, Bắc Kạn,…

457 Đà Nẵng, Hà Nội, Lâm Đồng, Quảng Trị, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Long An, Sóc Trăng, Nghệ An, Thanh Hóa, An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp,…

458 Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Quảng Ninh, Bình Thuận, Phú Thọ, Hải Dương, Quảng Trị, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Long An, Sóc Trăng, TP Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thanh Hóa, An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Cao Bằng, Đà Nẵng, Hưng Yên, Bình Dương, Bắc Kạn, Hà Nội, Quảng Ninh, Điện Biên, Hải Phòng, Lâm Đồng,…

459 Bộ Kế hoạch và Đầu tư

460 Bộ Tư pháp, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Ngoại giao,…

461 Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp,…

462 Bộ Tư pháp, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam,…

463 Hà Giang, Bình Phước,…

464 Bộ Y tế, Bộ Thông tin – Truyền thông, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bắc Ninh, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bình Phước, Quảng Trị, Lào Cai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Kạn, Bến Tre, Cao Bằng, Hải Phòng,… (188.700/ 285.714 ý kiến).

465 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Kon Tum, Cao Bằng, Hòa Bình, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Bình Dương, Lào Cai, Lạng Sơn, Lai Châu, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Bình Phước, Đà Nẵng, Quảng Bình, Đắk Nông,…

466 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thanh tra Chính phủ, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Hòa Bình, Bắc Kạn, Bình Dương, Lào Cai, Lạng Sơn, Lai Châu, Cao Bằng, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Bình Phước, Đà Nẵng, Quảng Bình, Đắk Nông, Ninh Thuận, Đồng Tháp,…

467 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trà Vinh, Vĩnh Long, Quảng Bình, Hải Phòng, Quảng Bình, Đà Nẵng, Bình Dương, Quảng Nam, Bắc Giang,…

Advertisements

Để lại ý kiến của bạn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Thống Kê Khách Thăm

free counters

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 427 other followers

VN Tôi Đâu-Anh Là Ai?

%d bloggers like this: