DIỄN ĐÀN CỦA CHÚNG TA

TIẾNG NÓI TỰ DO DÂN CHỦ

Các bài viết về chiến lược & chiến thuật

CHIỀN LƯỢC & CHIẾN THUẬT CỦA TRUNG QUỐC

Các bài viết về chiến lược & chiến thuật của Trung Quốc:

2013

  1. SGTT (17-1-2013): Trung Quốc tiến ra đại dương.
  2. GDVN (4-2-2013): “Trung Quốc gây căng thẳng Đông Á, nhưng nhằm vào Biển Đông”.
  3. RFI (17-2-2013): Cảng Gwadar Pakistan, viên ngọc trong chiến lược biển của Trung Quốc.

2012

  1. VNN (10-1-2012): Nguồn gốc cụm từ “Lợi ích Cốt lõi” của Trung Quốc.
  2. RFI (52-2012): 2012 : Trung Quốc chủ trương giảm tăng trưởng, ổn định xã hội, phát triển quân sự.
  3. VNN (183-2012): Cú huých mới cho cải tổ ở Trung Quốc.
  4. RFA (174-2012): Phải chăng Trung Quốc đang dịu giọng?
  5. TN (85-2012): Bắc Kinh “lấy thịt đè người” trong tranh chấp biển Đông.
  6. VNE (175-2012): ‘Chiến thuật của Trung Quốc đang gây bất ngờ’.
  7. BVN (185-2012): Trung Quốc biến sự kiện Scarborough thành mô hình độc chiếm Biển Đông.
  8. VNN (265-2012): Vì sao TQ dùng chiến lược ‘mơ hồ’ ở Biển Đông?
  9. VNN (67-2012): Chín con rồng đang khuấy động Biển Đông.
  10. BVN (97-2012): Động thái Trung Quốc ngoài Đông Hải.
  11. NCBĐ (127-2012): Đã đến lúc chấm dứt sự mơ hồ chiến lược tại Biển Đông.
  12. RFA (197-2012): TQ sẽ làm gì sau vụ 30 tàu cá tại bãi Chữ Thập?
  13. BVN (237-2012): Chừng nào “Trung Quốc lật ngửa lá bài”?
  14. RFI (247-2012): Bắc Kinh với chính sách ‘sự đã rồi’ tại Biển Đông.
  15. VND (257-2012): Nghịch lý của chiến lược hải quân Trung Quốc.
  16. BVN (267-2012): Chính sách ngoại giao dùng kinh tế để gây sức ép của Trung Quốc.
  17. BBC (267-2012): TQ ‘có những quyết định sai lầm’.
  18. NVO (18-2012): Trung Quốc gây hấn để thực hiện mưu đồ lớn hơn.
  19. VOA (28-2012): Trung Quốc mở ‘mặt trận’ dầu khí ở Biển Ðông.
  20. ĐVO (48-2012): Trung Quốc dùng chiến thuật ‘biển người’ ở Biển Đông.
  21. ĐVO (78-2012): Chiến lược ‘gặm nhấm’ Biển Đông của Trung Quốc.
  22. PTT (258-2012): Ý đồ của Trung Quốc trong “Điểm cốt lõi của vấn đề Biển Đông”.
  23. NCBĐ (308-2012): Chiến lược quốc tế của Trung Quốc trong cục diện biến động của thế giới.
  24. ĐVO (189-2012): Trung Quốc nhân rộng chính sách ngoại giao ‘cây gậy nhỏ’ ở Đông hải.
  25. BVN (289-2012): Tiến hành chiến tranh bằng các phương tiện phi qui ước: Thủ đoạn chính trị của Trung Quốc trong việc sử dụng các lực lượng biển.
  26. VOA (410-2012): Chiến lược ‘giành tất cả’ của Trung Quốc sẽ không đạt hiệu quả.
  27. RFI (311-2012): Senkaku/Điếu Ngư : Trung Quốc áp dụng “chiến tranh hao mòn”.
  28. RFA (512-2012): Thuyết đấu trí.

 

*****

Trung Quốc tiến ra đại dương

SGTT.VN – 17-1-2013

Bài 1: Đối ngoại Trung Quốc

Về mặt kinh tế, từ thời điểm 2000, Bắc Kinh đặt chỉ tiêu GDP đến năm 2020 tăng 4 lần trên con số 4.3 ngàn tỷ USD (2000). Nếu với đà gia tăng GDP khoảng 10%/năm hiện nay thì mục tiêu này của TQ có thể đạt sớm hơn 2020.

Hải quân Trung Quốc đang nâng cấp các tàu ngầm của họ. Ảnh: http://pacificfreeze.ips-dc.org

Trong kế hoạch xây dựng hải quân biển xanh (blue water), Trung Quốc muốn vô hiệu hóa hệ thống chống tên lửa TMD của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Duơng bằng cách phát triển các tàu ngầm hạt nhân.

Những tàu ngầm có vũ khí hạt nhân sẽ phá vỡ hệ thống phòng thủ TMD của Nhật – Mỹ. Trung Quốc sẽ tập trung sâu hơn vào năng lực chiến tranh bất đối xứng để chống lại sự vượt trội về kỹ thuật của Mỹ.

Phong trào đòi độc lập của Đài Loan bị thoái trào qua tuyển cử và sự mơ hồ của Mỹ trong việc đảm bảo an ninh cho Đài Loan, khiến Trung Quốc tin rằng Mỹ sẽ không ủng hộ cho một tuyên bố độc lập chính thức của đảo quốc này.

Dẫu vậy tháng 1/2010, Đài Loan vẫn tìm cách được mua gói vũ khí 6.4 tỷ USD cùng với các tên lửa Patriot và Harpoon tiên tiến nhất của Mỹ, [1] không kể gói 60 chiếc F16.

Đã có nhiều nghiên cứu nhằm làm tối thiểu các khác biệt, hiểu nhầm về quan điểm của hai bên Trung-Mỹ về vấn đề Đài Loan các bên đã tiến hành, một phần nhằm tránh các cuộc “cướp cò”[2] cho không chỉ ba phía liên quan.

Trung Quốc sử dụng Bắc Hàn như một sức mặc cả để phi hạt nhân hóa Đông Bắc Á.

Dù tự ưu tiên phát triển năng lực bằng hạt nhân, TQ sử dụng Bắc Hàn theo từng cấp độ của “con ngáo ộp” để hạn chế khả năng tiếp cận kỹ thuật và hạ thấp sự hợp lý của phát triển nguyên tử từ phía Nam Hàn và Nhật Bản.

Như vậy, Trung Quốc nỗ lực để Bán đảo Triều Tiên và vùng biển Nhật Bản là phi hạt nhân nhưng đang vấp phải sự bất kham của Bình Nhưỡng, khi rút ra khỏi Hội Đàm Sáu Bên vào 2009.

Kế hoạch trung hạn của Bắc Kinh ở thời điểm 2012 là duy trì nguyên trạng quan hệ với các nước phương Tây: kiềm chế sao cho không bộc lộ sự đột biến trên bình diện kinh tế, quân sự và ủng hộ các sáng kiến Âu Mỹ liên quan đến vấn đề nguyên tử Iran, giảm nguy nhiễm môi trường, sở hữu trí tuệ.

Chia cắt Ấn Độ và Pakistan trong quan hệ với Mỹ thông qua ngoại giao kinh tế, siết chặt quan hệ với Pakistan để làm đối trọng với sức mạnh hạt nhân Ấn Độ, Trung Quốc phóng đại khả năng nguyên tử của Pakistan để Ấn Độ tập trung sức mạnh đối phó về huớng Tây (Pakistan).

Gần đây, (2012) Trung Quốc quay sang đấu dịu với Ấn Độ và thắt chặt quan hệ kinh tế với Pakistan.

Trong năm 2001, Trung Quốc cam kết viện trợ kinh tế cho Pakistan là 620 triệu USD còn năm 2009 các khoản đầu tư vào năng lượng của Trung Quốc vào Pakistan là 700 triệu USD[3].

Ve vãn Đông Nam Á và Nam Á và Iran bằng hợp tác kinh tế và ngoại giao với một loạt các gói ODA, hoặc thông qua các tổ chức quốc tế, Trung Quốc còn theo đuổi chiến lược “Chuỗi Ngọc Trai” để có đường ra cảng biển từ Đông Nam Á và Nam Á, gia tăng thương mại với Châu Phi.

Năm 2007, tổng giá trị thương mại Trung – Phi Châu là 7 tỷ USD đưa Châu Phi lên hàng đối tác thứ hai của Trung Quốc.

Trung Quốc tập trung vào các nước Châu Phi giàu năng lượng và các nước không dân chủ như Congo, Nigeria và Sudan.

Họ sử dụng quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo An LHQ để bảo vệ các đối tác như Zimbabwe, như ngăn cản quốc tế cấm vận chế độ Mugabe 2008. Trung Quốc đã bỏ phiếu trắng bốn lần về xung đột Dafur vào 2004, 2005 và 2006.

Năm 2009 Trung Quốc đã bỏ phiếu trắng cho cấm vận chống Etrirea, đối tác lâu năm của Trung Quốc. Etrirea cũng như Sudan là khu vực giàu tài nguyên, quan trọng về địa lý chiến lược và là một nước vùng biển Đỏ giáp ranh Sudan.

Tại vùng Vịnh, Trung Quốc có quyền lợi vững chắc khi ủng hộ chế độ hiện thời tại Iran.

Trung Quốc là nhà cung cấp vũ khí chính yếu của Iran với những thỏa thuận đối tác năng lượng quan trọng, trong đó có dự án dầu khí Yadaravan, 51% của Trung Quốc.

Thỏa thuận có tổng giá trị 100 tỷ USD với giếng dầu được kỳ vọng sản xuất 300,000 thùng dầu mỗi ngày .

Cân bằng lực lượng với Mỹ thông qua trục liên kết với Nga- Iran- Bắc Hàn cũng là một trọng tâm của Trung Quốc.

Trung Quốc hoặc Nga không thể đơn phương đối đầu với Mỹ bằng sức mạnh quân sự. Do vậy, cấu trúc chiến lược chi phối thế kỷ 21 là “đối tác chiến luợc” thay vì đồng minh quân sự có ràng buộc và chính thức.

Bắc Kinh và Moscow vẫn có thể thể hiện mình như những thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trên các diễn đàn khu vực và đa phương thay vì chỉ là những “kẻ phủ quyết” hay “phá bĩnh”.

Bắc Hàn không thể trực tiếp đối đầu với Mỹ nhưng nước này là một mối nguy hiển nhiên cho bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản.

Bắc Kinh đã bỏ nhiều công sức trong quan hệ với Moscow và Bình Nhưỡng và là thành viên trụ cột của nhóm SCO (Shanghai Cooperation Onganization).

Trung Quốc lôi kéo Đông Nam Á ra khỏi vòng ảnh hưởng của Mỹ-Nhật và vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc bằng ngoại giao kinh tế.

Trung Quốc tham gia vào diễn đàn ARF (1993), Hội thảo ASEAN (1996) và Thỏa thuận tự do thương mại (FTA) Trung Quốc – ASEAN (2003) đã cho phép Trung Quốc gắn kết cao hơn với Đông Nam Á.

Khu vực này vốn là nơi tập trung sản xuất công nghiệp do Nhật chi phối và hầu hết các nước ASEAN đang hợp tác với Mỹ về quân sự.

Dù cho Trung Quốc đe dọa đến các năng lực của các ngành công nghiệp sơ cấp và thứ cấp của ASEAN, ngược lại FTA cho phép các nước Đông Nam Á gia tăng khả năng thâm nhập vào thị trường nội bộ lớn nhất thế giới.

Bắc Kinh đã đầu tư nhiều thứ vào ngoại giao tư bản trong hai thập kỷ qua nhằm xử lý các bất đồng với các nước trong Biển Đông như Malaysia, Philippines và Việt Nam.

Tham khảo:

[1] Reuter (2010) “Obama proposes his arm sales to Taiwan”, 29 Jan 2010,www.reuters.com/article/2010/01/29/taiwan-arms-usa-idUSN2914735520100129(đọc 15/1202012) và “China says defence spending rise slows to 7.5 percent”, 4 march 2010

[2] Gregory J.Moore, The role of misperceptions and perceptual gaps in theTaiwan Strait Crisis of 1995-1996, Shiping Hua, Sujian Guo, China in Twenty First Century,Palgrave , Macmilan, 2012. Trang 181

[3] Asia Economic News 2001, “China pledges $620 million in aid to Pakistan: official”, 21 May 2001

Bài 2: Chiến lược địa chính trị và triển khai hải quân

Tiếp theo những kế hoạch tổng thể trên, giới làm chính sách Bắc Kinh từng có lúc ưu tiên cho sự mềm mỏng ngoại giao, chờ đợi thời cơ, song ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc đại Hán từ xa xưa và cả thời kỳ Mao Trạch Đông[1] khiến cho chính sách của quốc gia này ngày càng tiến xa hơn trong bước phiêu lưu quân sự và xâm lấn của họ.

Chính sách càng mạnh bạo, phương cách càng bớt đi tính ngoại giao và gia tăng tính quân sự.

Gia tăng quân sự ra ngoài nước trong thế giới hiện đại, tại đây phần của không quân và hải quân sẽ là chính yếu.

Chính giới TQ tác động đến dân chúng TQ nhằm chuẩn bị quân lực và dân tộc hóa các hoạt động lấn chiếm của mình.

Chủ nghĩa dân tộc được đưa lên một mức cao, sẽ chính là nhiên liệu đẩy sự phiêu lưu của TQ đi xa hơn, mang dáng vẻ hợp lý (nội địa) hơn cho lý do hành xử của guồng máy chính quyền.

Hải quân Trung Quốc thừa hưởng chiến lược hải quân cũ của Thống chế M.V.Frunze vào thập kỷ 1920 – trường phái Sô Viết cũ (old school) vốn cho rằng hải quân là một bộ phận của quân đội nói chung và phải hỗ trợ lục quân tại các vùng cận sông biển.

Theo lý thuyết này, lãnh đạo hải quân Liên Xô Vladimir Nikolay đưa ra cách đánh “hạm nhỏ đánh trận nhỏ” vào 1927.

Hầu hết các sĩ quan của trường phái này đã không còn trong quân đội sau cuộc chỉnh huấn 1937 của Stalin. Tuy nhiên, ảnh hưởng của lý luận này vẫn còn đó mãi đến khi Stalin qua đời 1953.

Một thời gian từ 1949 đến 1960, thiết kế dòng chính của hải quân TQ đi theo cách của Nga Sô Viết với các đặc điểm của một chế độ mới là: cần phải trấn áp chống đối nội bộ, sẵn sàng chống lại tấn công của các nước ngoài, lưu dụng nhân sự chế độ cũ, thiếu hụt tài chính và kỹ thuật trong khi các tàu chiến thù địch lừng lững ngoài khơi.

Năm 1950, Liên Xô điều 500 sĩ quan kỹ thuật sang hỗ trợ TQ, đến 1953 con số này là 2,000. Ngược lại cũng có hàng ngàn sĩ quan TQ sang Liên Xô học tập trong đó có tướng Xiao Jingguang.

Khi thị sát hải quân tháng 2.1953 trong chiến tranh Triều Tiên, Mao phát biểu “chúng ta cần có hải quân mạnh để chống bọn đế quốc xâm lược”.

Tháng 10/1953, Mao lệnh cho Hải quân các nhiệm vụ chống can thiệp của Quốc dân đảng bảo đảm thông biển, chuẩn bị chiếm Đài Loan và đề kháng tấn công từ biển.

Sau đó TQ đã chiếm được các đảo nhỏ từ Đài Loan trừ Kim Môn, Mã Tổ. Giai đoạn này vẫn là giai đoạn của phòng thủ bờ biển (coastal defense) cho Hải quân TQ.

Đến năm 1954, TQ mới nghĩ đến phát triển hải quân nước xanh (blue water), và vẫn chưa nói đến sự độc lập của hải quân với lục quân.

Giai đoạn những năm 1950 và 1960 Bắc Kinh tập trung vào võ khí hạt nhân và tàu ngầm để phóng hạt nhân.

Ảnh hưởng lớn của trường phái Sô Viết “hạm nhỏ đánh trận nhỏ” ngày đó cũng vì lý do cơ sở vật chất và tài chính của Trung Quốc còn yếu kém.

Khi sang Liên Xô năm 1958 học tại Voroshilov viện Hải Quân ở Leningrad, Lưu Hoa Thanh[2] chịu ảnh hưởng nặng Tổng Tư Lệnh Hải Quân Liên Xô S.G.Gorshkov (1956-1985).

Giai đoạn này Gorshkov tranh cãi với Krushev (người đề cao vai trò võ khí hạt nhân) bằng học thuyết thống lĩnh biển (sea supremacy) quyết tâm thu hút một phần nguồn lực vốn lý ra đã đành trọn cho võ khí nguyên tử.

Gorskov khẳng định “Nhằm bảo vệ quyền lợi Liên Xô trong thế giới, hải quân cần có vai trò chiến lược và độc lập không chịu sự chỉ huy của một bộ chỉ huy lục quân – hải quân chung nhất, và hải quân phải có khả năng hoàn tất các công việc chiến lược vì quyền lợi quốc gia trên biển”.

Giai đoạn 1960 đến 1976, TQ có nỗi lo sợ từ phía Bắc do đã có những cuộc đụng độ trên bộ. Giai đoạn này hải quân TQ vẫn hoạt động như một trợ thủ của lục quân một khi có nguy cơ từ Liên Xô.

Trở về Trung Quốc, Lưu Hoa Thanh trở thành Tổng tư lệnh Hải Quân và mau chóng phát triển những ý tưởng của Gorshkov trong khoảng thời gian thập kỷ 1980, khi người Trung Quốc mở cửa và phát triển kinh tế.

Đến đầu năm 1982, Lưu Hoa Thanh ra lệnh cho Học viện Nghiên cứu Hải quân tìm hiểu về phòng thủ ngoài khơi (offshore defense) và vẽ lên hai phòng tuyến.

Phòng tuyến 1 đi qua quần đảo Kurile, Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, Đài Loan, Philippines, Borneo và Natuna Besar.

Phòng tuyến 2 bao trùm ra ngoài phòng tuyến 1 một diện tích khoảng 80% phòng tuyến 1 đã bao phủ.

Từ đó trở đi, hải quân TQ đã có hẳn một không gian giả định cho việc phòng thủ ngoài khơi (offshore defense) thay hẳn khái niệm phòng thủ bờ từ thời Liên Xô.

Năm 1986, Trung Quốc tổ chức hàng loạt hội thảo để bàn luận giữa trường phái cũ (old school), hải quân nước nâu (brown water navy) phòng thủ bờ biển (coastal defense) thành ra hải quân nước xanh (blue water navy) vào tháng 2.1987.

Nhật báo Quân đội Giải phóng đăng bài của Cai Xiaohong, lần đầu tiên khẳng định Hải Quân là “công cụ chiến lược” và các biển và đại dương là “không gian chiến lược mới”.

Trung Quốc từ đó đã tách hẳn Hải quân ra khỏi nhiệm vụ phụ thuộc quân đội nói chung và lục quân nói riêng và khẳng định “nhằm chiến thẳng các cuộc chiến hiện đại trên biển, chúng ta phải phối hợp không quân, tàu chiến và tàu ngầm và tạo thành một mũi tiến công tổng hợp”[3].

Theo niên giám Anh: “The Military Balance” trong 10 năm lục quân Trung Quốc đã giảm tỷ lệ võ trang từ 80.9% (1980) xuống 77.97% (1985) và đến 75.9%(1992) trong khi các năm tương ứng đó (1980, 1985 và 1992) Trung Quốc tăng từ 11.01% lên 12.85% và 15.55% (cho hải quân) và 8.09% lên 9.11% và 8.58% (cho không quân).

Chi tiết không được công bố nhưng theo số lượng võ khí nhập từ nước ngoài về, ưu tiên Trung Quốc dành cho hải quân và không quân là điều không khó nhận ra.

Các võ khí mới có bốn khu trục hạm Sovremenny, bốn tàu ngầm lớp Kilo, 48 máy bay SU27SK, một giấy phép sản xuất 200 chiến đấu cơ tương tự và thêm 55 chiếc SU30MKK. Trung Quốc đã nhập cả dàn S300PMU1 và Sam TorM.

Tỷ lệ mua sắm cho lục quân, hải quân và không quân là ngót ngét 2:3:5. Các chuyến ra đại dương của Hải quân Trung Quốc trong vòng 10 năm (1992-2002) là 30 lần so với tổng các chuyến đi 30 năm trước cộng lại.

Giữa thập kỷ 80, Trung Quốc đã gia tăng yêu sách chủ quyền cho vùng lãnh hải từ 12 hải lý lên 200 hải lý.

Hai tuyến phòng thủ số 1 và số 2 của TQ tự dựng – Nguồn http://www.globalsecurity.org

Trung Quốc đòi hỏi điện tích 4.7 triệu km2 trong biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Biển Đông.

Trung Quốc cho rằng 30% trong tổng số 800.000 km2 Biển Đông (South China Sea) “của Trung Quốc” đã bị nước khác lấn chiếm, trong đó khoảng 420,000 km2 là do Philippines, 70,000 km2 là do Việt Nam, 270,000 km2 (Malaysia), 50,000 km2 (Indonesia) và 3,000 km2 (Brunei).

Tại Biển Đông Trung Quốc (Biển Nhật Bản), và Hoàng Hải, Trung Quốc tranh chấp 30,000 km2 với Bắc Hàn, 170,000 km2 với Nam Hàn.

Với Nhật Bản, Trung Quốc có vùng tranh chấp 65,000 km2,trong đó có Điếu Ngư/Senkaku và 5 đảo nhỏ cùng bãi San’an.

Ngoài ra Trung Nhật còn bất đồng ở vùng thềm lục địa, liên quan 770.000 km2 mặt biển. Không muốn chia sẻ thềm lục địa với Nhật, Trung Quốc muốn lấy đường biển đi qua Okinawa làm đường ranh giới.

Trong khi Nhật chấp nhận chia thềm lục địa với Trung Quốc và lấy đường trung gian của Đảo Nanniu làm đường ranh giới. Để phản đối điều này, từ năm 1998 đến 2002 Trung Quốc đã cho tàu vào vùng EEZ của Nhật đến 40 lần!

Lý do tranh giành của Trung Quốc ở biển Nhật Bản và Biển Đông là vì lợi ích kinh tế ở khu vực này.

Hải quân Trung Quốc đã tuyên bố khảo sát toàn bộ Biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Biển Đông.

Trong đó một trữ lượng 45 tỉ tấn khí tự nhiên và dầu mỏ là nằm ở Biển Đông (trị giá 1,500 tỉ USD).

Khu vực Trường Sa và Biển Nhật Bản là khu vực giàu dầu mỏ nhất – 13.7 đến 17.7 tỉ tấn dầu, trị giá 500 tỉ USD. Theo China Daily 13.12.1992, từ 1995 Trung Quốc đã nhập khẩu dầu. Trung Quốc đang chạy đua với thời gian để giành các vùng này.

Lược đồ xung đột biển giữa TQ với 29 nước xung quanh từ 1949 đến đầu thập kỷ 2010 – Ảnh: theinternationalpolicy.com

Âm mưu vừa chạy đua thời gian, nhưng TQ cũng vừa sử dụng thời gian kéo dài để gia tăng vị thế.

Theo khái niệm “hiệu lực thời gian” (time effect) trong luật Quốc tế, nếu một quốc gia quản lý thực tế một lãnh thổ tranh chấp trong một thời gian nào đó, quốc gia đó sẽ có thể tuyên bố làm chủ vùng lãnh thổ đó. Thông thường thời gian đó là 50 năm.

Một số học giả tại viện Hàn lâm khoa học xã hội Trung Quốc còn kêu gọi nếu Trung Quốc không nhanh chóng “giải quyết” Trường Sa, đây sẽ là mối nguy cho Trung Quốc[4].

Họ còn dự đoán chắc chắn rằng từ 10 đến 30 năm nữa sẽ phải có đụng độ lớn tại Biển Đông. Ngược lại sự gia tăng căng thẳng tại Biển Đông sẽ làm giảm nguy cơ đối đầu của Trung Quốc và Đài Loan vì có thể hai nước này có chung kẻ thù, miễn là Đài Loan không tuyên bố độc lập.

Tại đây nổi bật sự hung hãn có toan tính sao cho cả trên phương diện quân sự và tận dụng luật pháp để họ có lợi tối đa.

Tham khảo:

[1]http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20121213-quan-he-viet-trung-viet-nam-duoi-cai-nhin-cua-%E2%80%9Cthien-trieu%E2%80%9D-trung-quoc
[2]Lưu Hoa Thanh là người đề ra lý thuyết hai phòng tuyến và chuỗi ngọc trai của TQ.
[3] Tạp chí Conmilit tháng 4/1992, trang 35
[4]Maritime Strategies in Asia, trang 225

Bài cuối: Mộng bành trướng và tiềm lực quân sự

Tháng 10/1992, tại đại hội Đảng lần thứ 14, Tổng bí thư Giang Trạch Dân nhấn mạnh “nhiệm vụ của quân đội Trung Quốc từ đây trở đi là bảo vệ thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi trên biển”.

Đây là lần đầu tiên một chủ tịch quân ủy Trung Quốc (TQ) nói về “quyền trên biển”. Nếu như “toàn vẹn lãnh thổ” trong vùng không bị phá vỡ bởi ý muốn độc lập của Đài Loan, thì mục tiêu chiến đấu để tranh biển của TQ sẽ là nhằm đến các đối tượng đe dọa quyền lợi biển của TQ, tức Philippines, Việt Nam, sau đó là Nhật, Ấn.

Các Hạm Đội

TQ còn đi xa hơn khi dự liệu Nhật và Ấn sẽ đưa hải quân vào Biển Đông để hỗ trợ các quốc gia chống lại TQ nếu xảy ra sự cố ở Biển Đông nhằm giảm áp lực của TQ ở Biển Nhật Bảnbảo vệ các khu vực mà Ấn đã khai thác cùng Malaysia và Việt Nam ở Biển Đông.

Trong thời quan chiến tranh lạnh, Hạm đội Bắc Hải (NSF- đóng tại Thanh Đảo) có nhiệm vụ ngăn chặn hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô nam tiến, do vậy phải phối hợp chặt với lục quân.

Hạm đội Đông Hải (ESP-đóng tại Ninh Ba) chủ yếu tiếp trợ hậu cần và huấn luyện. Sau khi mối nguy Xô Viết không còn nữa, đã có dấu hiệu TQ đầu tư cho ba hạm đội này đồng đều nhau.

Khí tài trọng yếu nhất là các khu trục hạm lớp Luhai 112 và 113 vẫn ở Hạm Đội Bắc Hải. Nhưng đã có chỉ dấu của việc chuyển hướng xuống phía Nam.

Năm 2002, khu trục hạm lớn nhất Luhai 6,000 tấn đã chính thức về biên chế Hạm đội Nam Hải (SSF- đóng tại Trạm Giang).

Các tầm bắn của của tên lửa đạn đạo đối hạm của TQ Nguồn: Tạp chí Stratford 2010

Cũng trong giai đoạn 2002, Hạm đội Bắc Hải vẫn là hạm đội trang bị tốt nhất. Ít nhất ba trong số năm tàu ngầm hạt nhân lớp Ha và một SSBN (tàu ngầm hạt nhân có tên lửa đạn đạo) nằm trong biên chế NSF.

Theo bố trí thì Hạm đội Đông Hải và Hạm Đội Bắc Hải sẽ đảm trách chặn Nhật Bản tiến về nam. Đồng thời hạm Đội Đông Hải chịu trách nhiệm tiếp vận cho Hạm Đội Nam Hải hoạt động ở biển Đông và Ấn Độ Dương và Hạm Đội Đông Hải sẽ nhận nhiệm vụ tấn công Đài Loan.

Đặc biệt hải quân TQ đã thành lập một căn cứ tàu ngầm quy mô lớn tại đảo Hải Nam, cho phép Hạm Đội Nam Hải triển khai nhanh hơn các khu vực phía Nam, trong đó có Biển Đông.

TQ có cổng chính hướng ra Thái Bình Dương và cổng sau lưng nằm trong Nội Á. Suốt lịch sử, bạn và thù của TQ không đến từ cổng chính. Người Mông Cổ, Tartars, Thổ và các bộ lạc đã đến và tấn công TQ từ cổng lục địa, không phải biển.

Sự thịnh vượng và các mối phiền nhiễu đến từ cả hai cổng. Tuy nhiên, chỉ ở cổng giáp biển mà TQ đã bừng tỉnh và cải cách, và cũng chính bởi sự bừng tỉnh này đã khiến TQ tìm mọi cách để thống trị Biển Đông, qua Ấn Độ Dương bằng nhiều cách.

Các chiến lược chuỗi ngọc trai, chiến lược phong tỏa biển, phòng tuyến hai lớp tranh giành biển và đảo với Nhật, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, các nước Đông Nam Á, cộng với đe dọa các đối tác khai thác biển của Việt Nam và phớt lờ luật pháp quốc tế chính là những mảnh nhỏ của bức tranh tổng thể. Bức tranh của một cường quốc mới nổi bị ám thị về quá khứ, lo âu về vị thế mới và được đốt nóng bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn thường xuất hiện sau thời gian dài trong vị thế nhược tiểu.

Các khu vực lâm chiến giả định của ba hạm đội hải quân TQ – Nguồn: Tạp chí Stratford 2010

Những bất cập kỹ thuật

Cho dù là một lực lượng hải quân mạnh nhất nhì châu Á với tầm ảnh hưởng lớn ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, hải quân TQ vẫn đang đứng trước những bất cập kỹ thuật mà giới hải dương học gần đây từng đề cập đến.

Chính hải quân TQ nhận ra các thiếu sót về khí tài và những khó khăn để điều chỉnh mặt thiếu sót này.

Tướng Tào Cương Xuyên, chủ nhiệm Tổng cục Quân khí và sau này là bộ trưởng bộ quốc phòng TQ đã từng than phiền rằng lương bổng thấp đã khiến quân đội nước này khó giữ các nhà khoa học và nghiên cứu giỏi và ông này cũng cho rằng công việc phát triển khí giới là một công việc không dễ dàng [1]

Công tác bảo trì và cung ứng khó khăn vì có nhiều hạng mục nhập từ nước ngoài, theo đó gieo ảnh hưởng về thiết kế đối với các tàu mới đóng. Do vậy huấn luyện nhân sự để bảo trì, tiếp liệu và kể cả thử vận hành đều gặp các thách thức không nhỏ. Những thiếu sót này làm giảm hiệu năng của hệ thống tàu chiến và càng trầm trọng hơn khi TQ có thói quen xây dựng các lớp tàu nhỏ từng loạt từ hai đến bốn chiếc.

Giới hải quân TQ đang ra sức cải tiến tính phù hợp của hệ thống và mẫu số chung để bảo trì thiết bị cũng như các hệ quả của mua sắm trong hạn chế ngân sách, xây dựng tàu với thiết bị hỗn tạp và hạn chế bảo trì đại trà do lượng sản xuất các lớp tàu quá ít.

Sự cố tàu ngầm lớp Ming 361 làm tổn thất 70 thủy thủ năm 2003 [2] cũng được quy cho công tác bảo trì chưa đạt chuẩn.

Khả năng đối chọi trên không

Muốn được xem là siêu cường biển hiện đại thì phải mạnh về không lực, cả máy bay có và không người lái, cũng như về tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo.

Hải quân TQ đã cố gắng nâng cấp bằng cách đưa vào hoạt động tàu Luyang II lớp DDG. Hệ thống dạng Aegis của con tàu này là loạt đầu tiên của hải quân TQ có thể cung cấp năng lực không đối không trên diện rộng tốt hơn cho họ.

Những chiến hạm đời trước chỉ có khả năng tự vệ điểm. Hệ thống phòng thủ điểm (point-defense) được thiết kế để tự vệ đối với chính các con tàu trang bị hệ thống còn hệ thống phòng thủ diện (area-defense) sẽ có khả năng bảo vệ một nhóm các con tàu.

Khác biệt nằm ở chỗ hệ thống phòng thủ diện có tầm và khả năng phát hiện, tiến đánh nhiều mục tiêu cùng lúc.

Các tàu lớp Luda và Jianghu không có hệ thống đối không (surface to air); và bốn con tàu lớp Sovremenny mua từ Nga có hệ thống SA-N-7 phòng thủ điểm.

Các tàu lớp Luhu, Luhai, Jiangwei trang bị tên lửa Crotale của Pháp hay phiên bản TQ, tức HQ-6/7 cũng là những hệ thống phòng thủ điểm.

Còn các tàu lớp Luyang I và Luzhou rồi Luyang II dù có tên lửa AAW, nhưng cũng thiếu khả năng phòng thủ diện rộng.

Khả năng đánh tàu ngầm (ASW) cũng là một điểm yếu của hải quân TQ. Khả năng phát hiện tàu ngầm, đặc biệt là từ phía tàu trên mặt nước là không đơn giản. hải quân TQ chưa có khả năng tận dụng các kỹ thuật ASW có sẵn, đặc biệt trong điều kiện phát hiện thụ động dù các kỹ thuật này đã có mặt 40 năm.

Ngoài ra hải quân TQ cũng không có các nguồn lực chống tàu ngầm trên không (airborne ASW), họ chỉ có vài chục máy bay theo nhiệm vụ này. Các thông tin cho thấy hải quân TQ chưa triển khai hệ thống dò âm thanh tại vùng biển của họ.

Trong hai thập kỷ qua, TQ đã cố gắng cải tiến hạ tầng thông tin. Các cải tiến kỹ thuật đã tạo động lực cho thương mại hóa khoa học và họ đã cố kết hợp những tiến bộ này với thương mại, ngân hàng, vận tải và gia tăng sức vận hành của các mạng thông tin hàng không, hàng hải, tàu lửa trên cơ sở điện toán. Công nghiệp điện tử phục vụ chiến tranh của TQ dành ưu tiên cho radar trên tàu, các thiết bị và hệ thống thám báo điện tử đi cùng tàu chiến. Công ty xuất nhập khẩu điện tử và công ty xuất nhập khẩu cơ giới chính xác phải hỗ trợ đặc biệt cho phát triển tên lửa cho hải quân TQ.

Kết luận

Tính từ khi vẫn còn trao đổi khoa học kỹ thuật với Liên Xô và ứng dụng học thuyết phòng thủ bờ biển (coastal defense) đến nay, TQ đã lập ra một hệ thống lý luận liên quan đến hải dương, hải quân bao gồm kỹ thuật, tầm bắn, lý do kinh tế, địa chính trị, tuyên truyền để ủng hộ cho việc khống chế biển và cả các đại dương.

Trong đó, TQ cũng chuẩn bị những công việc liên quan pháp luật và cử học giả bảo vệ ý đồ của mình, dẫu rằng các lý lẽ về đường chữ U và quyền lịch sử là hoàn toàn không phù hợp với UNCLOS. Không giấu việc muốn ngoi lên vị trí một siêu cường bằng kinh tế, quân sự, địa chính trị và cả sức mạnh mềm, TQ đã tự cho phép mình vẽ lên và thực hiện những vành đai trên biển, trên không và trên bộ sao cho đạt được các mục đích họ đã đề ra.

Chủ nghĩa dân tộc được đề cao, làm nhiên liệu thúc đẩy và làm có vẻ hợp lý cho các hoạt động bất chấp luật pháp quốc tế nhìn từ trong nội bộ TQ.

Điều này cực kỳ nguy hiểm vì TQ đang trượt trên một con đường khác với đa phần thế giới, lại thiếu sự chấp nhận phản biện, nên cuộc phiêu lưu đó sẽ vẫn tiếp diễn.

Tham khảo:

– Tư liệu Hội thảo Biển Đông KS Sheraton, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam, 18-21/11/2012

– Tướng Daniel Schaeffer, Quá trình chiếm đoạt Biển Đông của TQ thông qua việc hiện thực hóa đường chín đoạn, 12/2012

– Geoffrey Till and Patrick C. Bratton, Sea Powers and the Asia Pacific, Routledge 2012

– Shiping Hua, Sujian Guo, China in Twenty First Century,Palgrave , Macmilan, 2012.

– Jurgen Schwarz, Wilfried A.Herrmann & Hanns- Frank Seller, Maritime Strategies in Asia, White Lotus, 2002

– Vijay Sakhuja ,Asian Maritime Power in the 21rst century, 2011, SEAS

-Bernard D Cole, The Great Wall at sea, Naval Institute, 2012

– Michael K.Connors, Remy Davidson and Jorn Dosch, The new global politics of the Asia pacific, Routledge 2012

– Gavin Menzies,1421 The year China discovered the world, Bantam Books, 2007

– Peter Nolan, Is China buying the world, Polity 2012


[1]Defense white paper, 2008, http://xinhuanet.com/english/2009-01/20/content_10688124.htm(17/6/2009)

[2]http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/3001099.stm

 

 

“Trung Quốc gây căng thẳng Đông Á, nhưng nhằm vào Biển Đông”

 

GDVN – Thứ hai 04/02/2013

 

Tạp chí “Thời đại” Mỹ đã góp phần vạch trần bộ mặt thật tham vọng biến biển Đông thành “ao nhà” của Trung Quốc.

 

Tàu vận tải đổ bộ cỡ lớn 071 Tỉnh Cương Sơn của Hạm đội Nam Hải, Hải quân Trung Quốc

Gần đây, tờ tạp chí “Thời đại” Mỹ đã có bài viết, phê phán Trung Quốc đã gây ra căng thẳng cho tình hình khu vực Đông Bắc Á, đồng thời cho rằng Trung Quốc như một “thùng thuốc súng” có thể bùng nổ bất cứ lúc nào, giống như tình hình châu Âu trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Tạp chí “Thời đại” cho rằng, vị thế địa-chính trị của Trung Quốc ngày càng tăng lên, các nước cảm thấy lo ngại về sự trỗi dậy này, một số nước đã xảy ra khẩu chiến với Trung Quốc, tranh chấp quyền biển ở Đông Á liên tiếp xảy ra, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng đã bị tác động ảnh hưởng

Tạp chí “Thời đại” còn cho rằng, tình hình Đông Á căng thẳng tương tự như tình hình châu Âu trước đây một thế kỷ. Trung Quốc coi biển Đông là một “ao nhà”, gây ra sự bất mãn cho các nước xung quanh, giống như bán đảo Balkan của châu Âu trước đây, là một “thùng thuốc súng” có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Những năm gần đây, các nước đã nhiều lần bày tỏ sự lo ngại về tình hình “mối đe dọa từ Trung Quốc”, trong đó có quan điểm lo ngại về sự “suy yếu” tương đối của Mỹ trong mối tương quan với sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc.

Trung Quốc chế tàu hộ vệ hạng nhẹ Type 056 dùng cho tác chiến biển gần

Trung Quốc luôn công khai tuyên truyền họ đi theo “con đường phát triển hòa bình”, “hợp tác cùng thắng”, nhưng truyền thông cùng một số phát ngôn chính thức của Trung Quốc lại tỏ ra chẳng coi luật pháp quốc tế ra gì, coi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển là thứ “vô giá trị” khi áp dụng cho tranh chấp ở biển Đông.

Đồng thời, Trung Quốc cũng ra sức chế tạo đủ mọi loại vũ khí, trang bị, nhất là những thứ dùng cho tác chiến biển gần, hơn nữa thường xuyên tổ chức các cuộc tập trận với các khoa mục như tác chiến đổ bộ đoạt đảo … nhằm răn đe, đe dọa vũ lực.

Ngoài ra, mặc dù là nước có khả năng kiểm soát truyền thông rất tốt, nhưng Trung Quốc lại luôn để cho các vị gọi là chuyên gia, học giả cùng báo chí thường xuyên lên tiếng đe dọa dùng vũ lực tấn công láng giềng.

Giới chuyên gia cũng nhận định cho rằng, mục đích chính của Trung Quốc là thực hiện tham vọng “đường lưỡi bò” bao trọn Biển Đông, còn vùng đảo Senkaku, Trung Quốc biết rằng sẽ rất khó đoạt được từ tay Nhật Bản.

Đông Bình

 

 

Cảng Gwadar Pakistan, viên ngọc trong chiến lược biển
của Trung Quốc

RFI – Chủ nhật 17 Tháng Hai 2013

Đức Tâm

Cảng biển Gwadar có vị trí chiến lược rất quan trọng

Với việc tiếp quản hoạt động cảng Gwadar của Pakistan, Trung Quốc đã tiến thêm một bước quan trọng trong chiến lược bảo đảm nguồn cung ứng dầu khí từ Trung Đông, đồng thời mở rộng sự kiềm tỏa, bao vây Ấn Độ, đối thủ cạnh tranh đáng gờm tại Nam Á.

Ngày 30/01/2013, chính quyền Pakistan đã chấp thuận đợt chuyển giao cuối cùng quyền quản lý hoạt động cảng Gwadar từ tập đoàn Singapore PSA International cho công ty Nhà nước Trung Quốc China Oversea Port Holding.

Cảng Gwadar nằm trong biển Ả Rập, thuộc tỉnh Balutchistan (tây nam Pakistan), nơi tình hình thường xuyên căng thẳng do các bạo động, xung đột giữa các cộng đồng tôn giáo.

Cảng này còn nằm gần eo biển Ormuz, nơi luân chuyển một phần ba tổng khối lượng dầu khí thế giới được vận chuyển bằng đường biển. Đối với một cường quốc kinh tế phải nhập khẩu dầu khí từ Trung Đông và châu Phi, làm chủ được cảng Gwadar là một quyết định có tính chiến lược rất cao. Việc phát triển một hành lang nối liền cảng Gwadar với phía tây Trung Quốc, khu vực biên giới chung với Pakistan, cho phép rút ngắn hàng ngàn cây số trong việc tiếp tế nguồn năng lượng sống còn cho nền kinh tế Trung Quốc.

Thực ra, trước đó, Trung Quốc đã chi tới 3/4 tổng đầu tư 250 triệu đô la cho dự án xây cảng Gwadar, nhưng vào năm 2007, công ty Singapore lại giành được quyền thuê các cơ sở của cảng này.

Mặc dù Bắc Kinh và Islamabad còn phải ký một thỏa thuận khai thác, nhưng đây chỉ là thủ tục. Gwadar là cảng nằm ở cực phía tây trong chiến lược « chuỗi ngọc trai » của Trung Quốc: Chiến lược này có mục tiêu thuê hoặc mua một loạt các cảng trong khu vực để bao vây Ấn Độ.

Theo hướng này, tại Nepal, Bắc Kinh đang xây dựng một « cảng cạn », thực chất là một bãi chứa các thùng hàng – container, nằm trong đất liền nhưng có tuyến giao thông đấu nối với một cảng biển.

Chính quyền Bangdalesh cho biết Trung Quốc là một trong bốn nước ( ba nước kía là Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ) quan tâm đến dự án đầu tư xây cảng nước sâu, khoảng 5 tỷ đô la, ở đảo Sonadia, trong vịnh Bengale.

Năm ngoái, Sri Lanka đã khai trương một cảng nước sâu, gần một tuyến vận tải đường biển đông – tây, nơi mỗi ngày có tới 300 tàu bè qua lại. Trung Quốc chỉ cấp tín dụng và không tham gia trực tiếp vào vốn của dự án. Nhưng, Bắc Kinh lại nắm 85% số vốn của công ty Colombo International Container Terminal, hiện đang xây một kho chứa container ngay tại thủ đô Sri Lanka.

Việc Trung Quốc ngày càng quan tâm đến các cảng biển trong khu vực thể hiện tham vọng của Bắc Kinh không chỉ về kinh tế mà còn về quân sự. Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K.Antony gần đây tuyên bố « lo ngại » trước quyết định của Pakistan chuyển giao quyền quản lý cảng Gwadar cho Trung Quốc.

Đối với ông Andrew Small, chuyên gia về quan hệ giữa Pakistan và Trung Quốc, thuộc German Marshall Fund – Hoa Kỳ, Bắc Kinh có nhiều lợi ích trong việc tăng cường hợp tác giải quyết các vấn đề chủ chốt trong khu vực, cũng như trong việc chống nạn hải tặc.

Trong tất cả các dự án cảng mà Trung Quốc tham gia, Gwadar là nơi có nhiều khả năng nhất để trở thành một cảng quân sự, bởi vì đối với Bắc Kinh dường như Pakistan là quốc gia duy nhất mà mức độ tin tưởng giữa quân đội hai nước khá cao.

Theo đánh giá của giới chuyên gia Pakistan, chính quyền Islamabad có thể còn ưu tiên cho Trung Quốc tiếp cận các cảng quân sự hiện có ở Karachi hay Qasim. Giáo sư Hamayoun Khan, thuộc đại học Quốc phòng Islamabad, nhận định: Trung Quốc có thể thường xuyên sử dụng các cảng này và họ không cần phải xây thêm cảng quân sự mới vào thời điểm hiện nay. Đây cũng là ý kiến của các chuyên gia thân chính quyền Islamabad.

Theo họ, Gwadar là một dự án hợp tác lâu dài để phát triển thương mại giữa Trung Quốc và Pakistan. Các lo ngại của Ấn Độ về việc một nước Trung Quốc hiếu chiến có căn cứ quân sự ở Ấn Độ Dương chỉ là những luận điểm “tuyên truyền”.

Tags: Châu ÁPakistanPhân TíchTrung Quốc

File: 021713-CHINA-1-Chien luoc & Chien thuat cua Trung Quoc.doc

Nguyễn Mạnh Trí

E-Mail: prototri@yahoo.com

http://www.tranhchapbiendong.com

Tu chỉnh: 17  tháng 2 năm 2013

Để lại ý kiến của bạn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: