DIỄN ĐÀN CỦA CHÚNG TA

TIẾNG NÓI TỰ DO DÂN CHỦ

Báo Cáo của Uỷ Ban Thường Vụ QH về Kết Qủa Góp Ý

Ủy ban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội chuyên trách và Văn phòng Quốc hội về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

http://quanlambao.blogspot.com/2013/05/uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-cac-ai-bieu.html

QLB  Số: 410/BC-UBTVQH13

Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2013

BÁO CÁO

Tổng hợp ý kiến của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội chuyên trách và Văn phòng Quốc hội về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Kính gửi: Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992,

Thực hiện Nghị quyết số 38/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội và Kế hoạch số 216/KH-UBDTSĐHP ngày 28/12/2012 của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo tổng hợp ý kiến của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội chuyên trách và Văn phòng Quốc hội về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sau đây gọi là Dự thảo) như sau:

I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VIỆC LẤY Ý KIẾN

Việc lấy ý kiến đóng góp về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý quan trọng trong toàn Đảng, toàn dân, đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển đất nước trong tình hình mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội đã bám sát chỉ đạo của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quốc hội, Kế hoạch của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, triển khai nghiêm túc việc nghiên cứu, đóng góp ý kiến vào Dự thảo với tinh thần trách nhiệm cao, có chất lượng.

Hình thức lấy ý kiến về Dự thảo phong phú, khoa học thông qua tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, các bài viết, lấy phiếu ý kiến… với sự tham gia của các đại biểu Quốc hội khóa XIII, một số đại biểu Quốc hội chuyên trách các khóa trước, đại diện các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà hoạt động thực tiễn thuộc các lĩnh vực khác nhau, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong Văn phòng Quốc hội. Việc tập hợp, tổng hợp ý kiến góp ý đối với Dự thảo được tiến hành nghiêm túc, bảo đảm mọi ý kiến góp ý đều được chuyển đến Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để nghiên cứu, tiếp thu.

Đến nay, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã nhận được 98 ý kiến góp ý của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội chuyên trách và Văn phòng Quốc hội (trong đó có 14 cơ quan, 84 đại biểu Quốc hội chuyên trách). Các ý kiến đều cơ bản tán thành với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, các quan điểm chỉ đạo và đóng góp nhiều ý kiến vào các nội dung của Dự thảo.

II. NHỮNG Ý KIẾN CHUNG VỀ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Có 39 ý kiến góp ý về các vấn đề chung của Dự thảo (trong đó có 13 ý kiến ở cơ quan, 26 ý kiến của cá nhân), cụ thể là:

1. Về phạm vi, mức độ sửa đổi, bổ sung Hiến pháp

– Đánh giá cao nỗ lực của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trong quá trình xây dựng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp và cho rằng Dự thảo có nhiều nội dung đổi mới quan trọng, đã thể chế hóa khá toàn diện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và các Nghị quyết của Đảng từ sau Đại hội XI. Phạm vi, mức độ sửa đổi, bổ sung Hiến pháp toàn diện, phù hợp với kết quả tổng kết thành tựu 25 năm đổi mới đất nước và thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Dự thảo đã kế thừa nội dung các bản Hiến pháp trước đó, khẳng định và làm rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội và có bước phát triển trong việc tiếp thu tư tưởng xây dựng hiến pháp hiện đại như các quy định về quyền lập hiến, phân công và kiểm soát quyền lực, chế độ bảo hiến, quyền con người, quyền công dân (11/39 ý kiến).

– Dự thảo tuy đã được biên tập công phu nhưng xét trên tổng thể cần tiếp tục được đầu tư hoàn thiện trên cơ sở nghiên cứu tiếp thu ý kiến tham gia của nhân dân. Mục tiêu của sửa đổi Hiến pháp phải quán triệt định hướng của Đảng và các yêu cầu đạt được của một văn bản chính trị – pháp lý cao nhất; cần tiếp tục nghiên cứu và thể chế hóa đầy đủ hơn Cương lĩnh 2011 cũng như thể hiện ở mức độ hợp lý hơn trong Dự thảo (01/39 ý kiến).

– Dự thảo sửa đổi Hiến pháp chưa có những quy định sửa đổi mang tính đột phá (01/39 ý kiến).

– Những vấn đề về nguyên tắc cơ bản đã được Hiến pháp hiện hành khẳng định, đã đi vào cuộc sống và được thực tiễn kiểm nghiệm thì không nên thay đổi, nhất là Chương Chế độ chính trị vì Hiến pháp là đạo luật gốc nên khi sửa đổi các quan điểm tư tưởng đã được pháp điển hóa cần phải rất thận trọng, chính xác. Vì vậy, trong sửa đổi Hiến pháp lần này, đề nghị tập trung vào sửa đổi, giải trình làm rõ những đặc thù của đường lối phát triển xã hội Việt Nam như vấn đề dân chủ, nhân quyền ở nước ta, vai trò lãnh đạo của Đảng, đa nguyên đa Đảng, tôn giáo và những vấn đề bức xúc, nổi cộm nếu không được giải quyết có nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ chính trị, hiệu quả quản lý của nhà nước (01/39 ý kiến).

– Một số điểm mới đưa vào Dự thảo nhưng chưa được thực tiễn kiểm nghiệm, chưa đủ căn cứ khoa học, chưa tạo được sự thống nhất (như chương về chính quyền địa phương) (02/39 ý kiến).

– Các chế định trong Hiến pháp năm 1992 cho đến nay vẫn đang phù hợp, qua tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 cho thấy một số chế định chưa được thực thi hiệu quả là do việc thực hiện chưa nghiêm chứ không hẳn là bất cập từ quy định của Hiến pháp. Vì vậy, cần xem xét có phải tại một số nội dung trong Hiến pháp không thực hiện được hay do không thực hiện nghiêm chỉnh để có sự sửa đổi, bổ sung cho hợp lý (01/39 ý kiến).

– Đề nghị đối với một số nội dung mang tính nguyên tắc, trụ cột, không thể thay đổi thì không nên đặt vấn đề sửa đổi, bổ sung, cụ thể là: về chính thể và sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 1); về vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam (Điều 4); về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Quốc khánh (Điều 13); về Thủ đô (Điều 14) (01/39 ý kiến).

– Đề nghị bám sát tư tưởng Hồ Chí Minh về: Xây dựng bộ máy Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; phát huy dân chủ, tôn trọng nhân dân; cán bộ, công chức là công bộc, tận tụy phục vụ nhân dân… Kế thừa Hiến pháp năm 1946 trong nhiều vấn đề về nội dung, hình thức trình bày, kỹ thuật lập hiến (01/39 ý kiến).

– Cần xác định được mục tiêu yêu cầu của Bản hiến pháp sửa đổi lần này là Hiến pháp của thời kỳ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (01/39 ý kiến).

2. Về tên gọi, bố cục của Dự thảo

Về tên gọi

– Tán thành tên gọi của Dự thảo, bởi vì những vấn đề cốt lõi nhất của một bản Hiến pháp đều được kế thừa, phát triển từ Hiến pháp năm 1992. Điểm khác nhau cơ bản giữa bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này và Hiến pháp năm 1992 là nó được hoàn thiện hơn về mọi phương diện để phúc đáp một cách toàn diện yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam (04/39 ý kiến).

– Đề nghị lấy tên là Hiến pháp năm 2013 vì đã được sửa đổi căn bản (06/39 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc tên của bản Hiến pháp lần này là Hiến pháp năm 2013 hay Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) bảo đảm ngắn gọn, rõ ràng và thể hiện những quan điểm về chủ trương, đường lối của Đảng trong việc sửa đổi Hiến pháp (01/39 ý kiến).

– Đề nghị làm rõ mức độ nội dung dự thảo sửa đổi, có bổ sung để cân nhắc thêm về tên gọi cho phù hợp với nội dung (01/39 ý kiến).

Về bố cục

– Dự thảo có bố cục lôgíc, chặt chẽ, thể hiện được những nguyên tắc cơ bản như khẳng định bản chất của Nhà nước ta, cơ cấu hệ thống chính trị, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyền làm chủ của nhân dân thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện; cụ thể hơn về quyền con người, quyền công dân, việc phân công thực hiện quyền lực nhà nước… (05/39 ý kiến).

– Cơ cấu chương, điều nên sắp xếp theo thứ tự: chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Quốc hội; Chủ tịch nước; Chính phủ; Chính quyền địa phương; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; Bảo vệ tổ quốc; Chế độ kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường (01/39 ý kiến); đề nghị tách Chương VIII (Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân) thành hai chương để thể hiện tính độc lập của hai hệ thống cơ quan nhà nước (01/39 ý kiến).

– Cần xây dựng một Chương riêng quy định về Nhà nước tạo điều kiện cho hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội, đặc biệt là các chính sách đối với thanh niên, phụ nữ, giai cấp công nhân, mặt trận và các tổ chức thành viên (01/39 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung một điều quy định “Hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật cao nhất của nước ta. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp, các quy định trái với Hiến pháp đều không có hiệu lực” (01/39 ý kiến).

3. Về kỹ thuật lập hiến

– Dự thảo về cơ bản đã đảm bảo được kỹ thuật lập hiến theo hướng chỉ quy định những vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc, các nội dung được thể hiện khái quát, cô đọng, súc tích (02/39 ý kiến).

– Cần thống nhất cách sử dụng thuật ngữ cho chuẩn, tránh cách dùng văn nói, hạn chế dùng ngôn từ văn chương, cách diễn đạt theo chỉ thị, nghị quyết, nghiêng về giải thích… (8/39 ý kiến).

– Một số quy định quá ngắn gọn, đơn giản có thể dẫn đến việc khó thực hiện trên thực tế (như quy định tại Điều 21 “Mọi người có quyền sống” hay Điều 50 “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế”). Ngược lại, một số nội dung lại được quy định quá chi tiết, chưa phù hợp với yêu cầu khái quát, cô đọng của Hiến pháp; việc gộp các điều, khoản trong một số trường hợp còn khiên cưỡng;… Do đó, đề nghị trước hết cần phải làm rõ nguyên tắc về kỹ thuật trình bày Hiến pháp, để qua đó xác định được những nội dung gì nhất thiết cần phải quy định; những nội dung gì cần phải lược bớt để quy định ở các đạo luật khác sao cho các quy định phải mang tính khái quát, ổn định cao, mang tính nguyên tắc định hướng cho việc hoàn thiện hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật (02/39 ý kiến).

– Bố cục của Dự thảo phải chặt chẽ, lô-gic, không giải thích dài dòng; nội dung phải chắt lọc, toàn diện, khả thi; ngôn ngữ phải trong sáng, phổ thông, chính xác, mang tính pháp lý và sức khái quát cao; kỹ thuật văn bản phải chặt chẽ; quy định phải có độ mở để luật hóa được dễ, không bị bó hẹp (01/39 ý kiến).

– Dự thảo sử dụng chưa thống nhất các thuật ngữ có nội dung giống nhau như: “theo pháp luật” (Điều 11, 12…); “theo quy định của pháp luật” (Điều 23, 24…); “theo quy định của luật” (Điều 58…); “nhà nước bảo hộ” và “pháp luật bảo hộ”; “nghiêm cấm” và “không được”; “lực lượng vũ trang” và “các lực lượng vũ trang”; “chỗ ở,” “nhà ở,” “nơi ở”…, các cụm từ “nhân dân Việt Nam”, “nhân dân ta”, “nước ta”, “nước Việt Nam”, “công dân”, “mọi người”… (04/39 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc việc sử dụng các cụm từ “của dân, do dân và vì dân” “tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”…, vì các cụm từ này lặp lại nhiều lần trong Hiến pháp; một số cụm từ dùng không đúng thuật ngữ, từ điển tiếng Việt như “bãi bỏ bộ, ngành”, “bãi bỏ văn bản của bộ, ngành”, “giải thể bộ”, “nhân dân bầu cử Hội đồng nhân dân”, “cử tri bầu Hội đồng nhân dân” (01/39 ý kiến); cân nhắc việc sử dụng cụm từ “xã hội chủ nghĩa” và các chủ thể gắn liền với cụm từ này sao cho phù hợp vì nội hàm khái niệm này chưa rõ, không những đối với mọi người dân mà ngay cả trong các từ điển Tiếng Việt cũng giải nghĩa không thống nhất, thậm chí có sự khác biệt lớn (01/39 ý kiến).

– Đề nghị thống nhất, nhất quán dùng thuật ngữ “thực hiện” thay cho các kiểu dùng từ “chấp hành”, “tuân thủ”, “thi hành” Hiến pháp và pháp luật, để phù hợp với Lý luận khoa học pháp lý (01/39 ý kiến).

– Đề nghị rà soát lại nội dung các Điều, khoản trong Dự thảo để bảo đảm tính chất của Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước – Hiến pháp không chỉ đơn thuần là những quy định, các quy phạm pháp luật mà còn là tuyên ngôn chính trị của Nhà nước về kinh tế, xã hội, chính trị và tổ chức bộ máy Nhà nước (01/39 ý kiến).

– Dự thảo tiếp tục hiến định vai trò của Đảng bằng 1 điều luật riêng, do vậy không cần nói về vai trò của Đảng ở các điều luật khác để tránh trùng lặp (01/39 ý kiến).

– Nên đặt tên cho các điều (01/39 ý kiến).

III. NHỮNG GÓP Ý CỤ THỂ

1. Về Lời nói đầu

Tổng quan, đánh giá chung

– Có 44 ý kiến góp ý về Lời nói đầu (trong đó có 11 ý kiến ở cơ quan, 33 ý kiến của cá nhân).

– Các ý kiến góp ý tập trung đề nghị viết lại Lời nói đầu ngắn gọn, súc tích hơn; chỉnh sửa lại câu chữ cho chính xác hơn.

Những góp ý chung về Lời nói đầu:

– Tán thành với nội dung của Lời nói đầu, vì đã bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của nhân dân đối với Hiến pháp cũng như thể hiện được đường lối đối nội, đối ngoại và định hướng phát triển của đất nước ta trong thời kỳ mới (01/44 ý kiến).

– Đề nghị viết lại Lời nói đầu cho ngắn gọn và súc tích hơn, bảo đảm văn phong pháp lý; những câu chữ mang tính liệt kê, có mức độ chính xác chưa cao hoặc trùng lắp nên viết lại hoặc loại bỏ bớt (19/44 ý kiến).

– Cần tiếp tục nghiên cứu thể hiện Lời nói đầu mang tính chất hiệu triệu, động viên toàn dân hơn nữa; khẳng định mục đích, ý nghĩa, quan điểm sửa đổi; thể hiện rõ truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của dân tộc; tiếp cận với chủ trương đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế để phát triển đất nước trong giai đoạn mới; khẳng định chủ quyền quốc gia và dân tộc Việt Nam văn hiến; yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong hiện tại và tương lai; lý do sửa đổi Hiến pháp (03/44 ý kiến).

– Cần nghiên cứu viết gọn lại theo hướng chỉ rõ các mốc quan trọng của quá trình lập hiến, vai trò, nhiệm vụ của Hiến pháp, nguyên tắc và mục đích bao trùm của Hiến pháp lần này, nêu bật truyền thống yêu nước của dân tộc ta (01/44 ý kiến).

– Đề nghị viết lại cho khái quát hơn, thể hiện được 4 nội dung chính: truyền thống lịch sử văn hiến của dân tộc; sự lãnh đạo của Đảng đối với những thành tựu dân tộc đã đạt được từ khi có Đảng; ghi nhận ý nghĩa của các bản Hiến pháp đối với sự phát triển của dân tộc qua các thời kỳ; mục đích của bản Hiến pháp sửa đổi lần này đối với sự phát triển của đất nước Việt Nam với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; có thể sửa lại như sau: “Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam. Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta đã tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hi sinh đánh đổ chế độ thực dân phong kiến và đế quốc, xây dựng đất nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp năm 1992, mỗi bản Hiến pháp đều có quyết định sự phát triển của đất nước trong mỗi thời kỳ, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước. Nhân dân Việt Nam với truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng xây dựng và thi hành Hiến pháp với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh” (01/44 ý kiến).

– Đề nghị thể hiện Lời nói đầu như sau: “Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, đấu tranh anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc và xây dựng nền văn hiến Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với khát vọng độc lập, tự do, bằng tinh thần tự lực, tự cường, cùng với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè và nhân dân thế giới, nhân dân ta đã giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và làm nhiệm vụ quốc tế; xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới giành được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử.

Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992. Mỗi bản Hiến pháp đều ghi nhận những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân Việt Nam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử. Bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hiến pháp năm 1992 cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Thực hiện chủ quyền nhân dân, thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với sự góp ý của toàn thể nhân dân Việt Nam xây dựng và thi hành Hiến pháp năm 1992 sửa đổi với các nội dung sau đây.” (01/44 ý kiến).

– Lời nói đầu Hiến pháp cần khái quát cô đọng, viết ngắn gọn, không nên kể lể về lịch sử dài dòng, chỉ nên viết: “Việt Nam một dân tộc anh hùng, có truyền thống yêu nước, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất trong dựng nước và giữ nước.

Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam lại viết nên những trang sử hào hùng, thành lập nên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Kể từ đó đến nay đã có bốn bản Hiến pháp ra đời và phù hợp cho mỗi thời kỳ cách mạng, làm nền tảng quan trọng cho việc xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển toàn diện, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tạo đà cho sự phát triển bền vững.

Trước yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi sẽ là cơ sở, định hướng tạo đà quan trọng để Việt Nam thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (01/44 ý kiến).

Đề xuất nội dung của Lời nói đầu như sau: “Nối tiếp truyền thống mấy nghìn năm bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã xây dựng và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam, nay tiếp tục xây dựng một xã hội chủ nghĩa, một xã hội dân chủ pháp quyền, công bằng, văn minh, vì tự do và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai. Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam quyết định xây dựng và ban hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhằm khẳng định ý chí của nhân dân và chủ quyền quốc gia, phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, xây dựng và thi hành Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.”(01/44 ý kiến).

– Đề nghị viết gọn lại Lời nói đầu như sau:

“Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, hy sinh, làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, giành được những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Mỗi bản hiến pháp đều thể hiện chủ quyền nhân dân và ghi nhận những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân Việt Nam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước.

Hiến pháp này tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân và chủ quyền của quốc gia; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; thực hiện công bằng xã hội; tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Nhân dân Việt Nam, với tuyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, xây dựng và thi hành Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (01/44 ý kiến).

– Lời nói đầu cần viết ngắn gọn hơn, chỉ nên cấu trúc thành 2 câu. Câu 1 xác định rõ mục tiêu của Hiến pháp sửa đổi này; câu 2 xác định rõ chủ thể của Hiến pháp là nhân dân Việt Nam, thông qua cơ quan đại diện cao nhất là Quốc hội soạn thảo và quyết định thông qua bản Hiến pháp này (01/44 ý kiến).

– Đề nghị chia nội dung Lời nói đầu làm hai giai đoạn: Một là từ khi dựng nước, giữ nước. Hai là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (01/44 ý kiến).

– Đề nghị chỉ nêu mốc lịch sử quan trọng từ năm 1930 và thành lập nước năm 1945, các đoạn sau chỉ khái quát chung. Đoạn về khát vọng độc lập cần viết gọn hơn và đi thẳng vào vấn đề. Lời nói đầu không nên giới thiệu bố cục mà cần thể hiện để toát lên mục đích, tư tưởng, tinh thần, giá trị của những nguyên tắc trong Hiến pháp (02/44 ý kiến).

– Trong Lời nói đầu chưa đề cập đến giai đoạn xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước giàu mạnh (từ năm 1975 đến nay). Do vậy, đề nghị nghiên cứu để diễn đạt đầy đủ các giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước. Hơn nữa, đất nước đang trong thời kỳ quá độ mà thời kỳ này còn khá dài, Dự thảo cũng nên nêu bản chất quan trọng này (01/44 ý kiến).

– Lời nói đầu chỉ nên liệt kê Hiến pháp 1946, 1959, 1980, bởi vì Hiến pháp hiện hành 1992 vẫn còn hiệu lực và đây chỉ là bản Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp 1992 chứ không phải Hiến pháp mới (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung nội dung “sửa đổi Hiến pháp lần này tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân và chủ quyền quốc gia” vào Lời nói đầu (01/44 ý kiến).

– Đề nghị thể hiện Lời nói đầu rõ hơn tư tưởng chủ quyền nhân dân. Trong Dự thảo, nhân dân chỉ mới được nhắc đến với tư cách chủ thể đối với Hiến pháp ở khổ cuối cùng của Hiến pháp, nhưng với tư cách là người thực hiện Hiến pháp. Đây là vấn đề cần phải được nghiên cứu, cân nhắc kỹ hơn (01/44 ý kiến).

– Lời nói đầu hơi nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc chiến thắng của dân tộc ta, dẫn đến không đảm bảo tính lịch sử, công bằng (01/44 ý kiến).

– Cần khẳng định trong Lời nói đầu “Nhân dân với quyền lập hiến của mình ban hành Hiến pháp này” (01/44 ý kiến).

Những góp ý cụ thể:

Đoạn 1

– Cách diễn đạt chưa thống nhất, vì đoạn đầu không có “truyền thống yêu nước”, nhưng đến đoạn sau lại có “truyền thống yêu nước” (01/44 ý kiến). Đề nghị bổ sung từ “yêu nước” sau từ “truyền thống” vì trong số các truyền thống quý báu, tốt đẹp của dân tộc Việt Nam có “truyền thống yêu nước nồng nàn” là nội dung quan trọng hàng đầu (03/44 ý kiến).

– Đề nghị thay từ “nhân dân” thành “các thế hệ người Việt Nam” cho rõ và bao quát hơn (02/44 ý kiến); thay từ “chiến đấu” bằng từ “đấu tranh” (02/44 ý kiến); thay từ “mấy” bằng từ “hàng” (01/44 ý kiến).

– Thay cụm từ “trải qua mấy nghìn năm lịch sử” bằng cụm từ “trải qua hơn 4000 năm lịch sử” vì thời gian lịch sử của đất nước đã được ghi chép rõ trong sử liệu (01/44 ý kiến). Cũng có ý kiến đồng tình giữ lại cụm từ “mấy nghìn năm lịch sử” cho phù hợp với thực tiễn lịch sử (01/44 ý kiến).

– Dự thảo dùng cụm từ “Dựng nước và giữ nước” là chưa đầy đủ, vì hàng nghìn năm nay, nhân dân ta không chỉ dựng nước và giữ nước mà còn anh dũng, sáng tạo và đoàn kết quyết tâm xây dựng đất nước hùng cường sánh vai cùng các cường quốc năm châu (01/44 ý kiến).

Đoạn 2

– Đề nghị nêu khái quát theo phương án: “Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh gian khổ, hy sinh làm cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước, làm nghĩa vụ quốc tế; xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới, giành được những thành tựu quan trọng và có ý nghĩa lịch sử” (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung các cụm từ: “Kế thừa truyền thống trọng dân, vì dân, dân là gốc của ông cha ta trong lịch sử”, “lãnh đạo”, “Từ đó đến nay, Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo nhân dân trải qua các cuộc kháng chiến kiến quốc”…vào đoạn này, đồng thời sắp xếp lại nhằm khẳng định truyền thống của cha ông và vai trò lịch sử lãnh đạo của Đảng ta trong gần một thế kỷ qua. Cụ thể là: “Kế thừa truyền thống trọng dân, vì dân, dân là gốc của ông cha ta trong lịch sử, từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 02/9/1945. Từ đó đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân trải qua các cuộc kháng chiến kiến quốc lâu dài và gian khổ, tự lực tự cường; với sự giúp đỡ của bạn bè và nhân dân thế giới; giành thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chiến thắng ngoại xâm, thống nhất đất nước; đổi mới, hội nhập quốc tế và ngày càng đạt được nhiều thành tựu lớn theo định hướng XHCN” (01/44 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc không nên khẳng định “xây dựng chủ nghĩa xã hội” mà nên giữ lại như Hiến pháp năm 1992 “cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, vì giai đoạn này vẫn đang trong thời kỳ quá độ (01/44 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “giành được” bằng cụm từ “đạt được” trong đoạn “…xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới, giành được những thành tựu quan trọng…” cho chuẩn xác hơn (02/44 ý kiến); thay cụm từ “chiến tranh bảo vệ Tổ quốc” bằng cụm từ “chiến tranh chống xâm lược”; bổ sung cụm từ “kiên cường bảo vệ Tổ quốc” vào sau cụm từ “và làm nghĩa vụ quốc tế” (01/44 ý kiến); bổ sung đoạn “Ngày 2/7/1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vào sau đoạn “nhân dân ta đã giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước” (02/44 ý kiến).

– Đề nghị đưa câu cuối đoạn 2 “… và tiến hành công cuộc đổi mới, giành được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử.” xuống cuối đoạn 3 và giải thích thuật ngữ “chủ quyền nhân dân” để có cách hiểu thống nhất (01/44 ý kiến).

Đoạn 3

– Đề nghị bổ sung một số cụm từ và sắp xếp lại đoạn này, nhằm khẳng định vai trò của các bản Hiến pháp trong mỗi thời kỳ lịch sử như sau: “Hiến pháp là đạo luật gốc, cơ bản của hệ thống pháp luật quốc gia. Nhà nước đã ban hành Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001), tạo cơ sở chính trị pháp lý, nền tảng vững chắc phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong mỗi thời kỳ lịch sử” (01/44 ý kiến).

– Đề nghị nghiên cứu thể hiện lại nội dung trong đoạn “Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992” cho phù hợp vì Hiến pháp năm 1992 là giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước chứ không phải là giai đoạn kháng chiến kiến quốc (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập” vào sau cụm từ “kháng chiến kiến quốc” cho phù hợp với tư tưởng của đoạn này là lược sử Hiến pháp nước ta, theo đó Hiến pháp mới chỉ có từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (01/44 ý kiến); thay từ “nước ta” bằng từ “Việt Nam” và dùng từ “Việt Nam” nhất quán trong Hiến pháp (02/44 ý kiến).

– Đề nghị sắp xếp lại nội dung của đoạn 3 và đoạn 4 cho hợp lý, vì nội dung có ý nghĩa khẳng định vai trò của các bản Hiến pháp nhưng tách ra thành hai đoạn nên Đoạn 3 không còn ý nghĩa và Đoạn 4 mất tính lịch sử (01/44 ý kiến).

Đoạn 4

– Đề nghị thể hiện lại thành: “Thực hiện chủ quyền nhân dân, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp này tiếp tục khẳng định…” (01/44 ý kiến).

– Đề nghị viết khái quát, ngắn gọn hơn theo phương án: “Hiến pháp này thể chế hóa cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân và chủ quyền quốc gia; phát huy dân chủ… và hợp tác với các nước trên thế giới” (01/44 ý kiến).

– Ở đầu đoạn, nên cân nhắc việc sắp xếp các trạng ngữ theo thứ tự hợp lý hơn, có thể viết lại là: “(1) Thực hiện chủ quyền nhân dân, (2) dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, (3) thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp…” (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung đầy đủ mệnh đề sau: “… thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam” để thể hiện chính xác hơn (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung một số cụm từ như: “Thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội bổ sung phát triển năm 2011 và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam” để chính xác hơn (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bỏ bớt các cụm từ “Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (vì Điều 4 đã có); chưa nên sử dụng cụm từ “thực hiện chủ quyền nhân dân” (vì khái niệm quá mới; thực tế từ trước đến nay nói về quyền làm chủ của nhân dân thì các văn kiện đều sử dụng từ “phát huy dân chủ” – dân làm chủ, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân); bổ sung cụm từ “bảo vệ chủ quyền quốc gia”, “phát triển kinh tế – xã hội bền vững”… sắp xếp lại cho ngắn gọn và đủ ý hơn như sau: “Tiếp tục thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH, Hiến pháp này tiếp tục khẳng định và phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo vệ chủ quyền quốc gia; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phát triển mọi mặt kinh tế- xã hội bền vững; duy trì phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới” (01/44 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi lại thành: “Nhân dân Việt Nam nguyện một lòng xây dựng một nước Việt Nam nước mạnh, dân giàu, công bằng, dân chủ, văn minh” để không lặp ý với đoạn 1; khẳng định ước nguyện muôn đời của nhân dân ta trong Hiến pháp, lấy đó làm kim chỉ nam và tư tưởng chủ đạo xuyên suốt của Hiến pháp; hơn nữa nội dung về ý nguyện sửa đổi Hiến pháp của nhân dân ta không nên đưa vào là một nội dung quy định Hiến pháp; trong khi đó lại thiếu nội dung về nguyện vọng cơ bản của nhân dân Việt Nam (01/44 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc thêm về đoạn 4, nhất là về đoạn: “thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, vì vừa bó hẹp về không gian, thời gian, vừa có phần mâu thuẫn tên gọi của Nhà nước được khẳng định trong dự thảo – Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” vào sau cụm từ “… thực hiện chủ quyền nhân dân” (01/44 ý kiến); bỏ cụm từ “xây dựng” và “hoàn thiện” trong đoạn “xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền…”; bỏ cụm từ “dưới ánh sáng”, “thực hiện chủ quyền nhân dân” (01/44 ý kiến); bỏ cụm từ “chủ nghĩa Mác – Lê nin”, chỉ cần ghi “dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh…” vì trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lê nin (01/44 ý kiến); bổ sung từ “với truyền thống yêu nước” trước cụm từ “…sức mạnh đại đoàn kết”; bổ sung cụm từ “sự lãnh đạo của Đảng” vào sau cụm từ “Hiến pháp này tiếp tục khẳng định” (01/44 ý kiến); bổ sung từ “dân chủ” vào đoạn “…thực hiện công bằng xã hội” cho bao quát hơn; bổ sung cụm từ “với truyền thống yêu nước” trước cụm từ “phát huy dân chủ” (01/44 ý kiến); đề nghị không sử dụng động từ “tiếp tục”(01/44 ý kiến).

– Đề nghị khẳng định trong đoạn này: “trong giai đoạn mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động là Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tiếp tục khẳng định mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân… công bằng xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…” (01/44 ý kiến).

– Theo Từ điển Tiếng Việt, danh từ “ý chí” có nghĩa là “khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hướng hoạt động của mình khắc phục khó khăn nhằm đạt mục đích đó”. Trong ngữ cảnh, nội hàm cụm từ “ý chí của nhân dân” chưa làm rõ được “mục đích cho hành động và hướng hoạt động” của chủ thể “nhân dân” là gì, do đó, mệnh đề “Hiến pháp này tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân” chưa rõ nghĩa (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bỏ từ “hoàn thiện” trước đoạn “Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa…” do nước ta có đủ tiêu chí của một Nhà nước pháp quyền (01/44 ý kiến).

Đoạn 5

– Đề nghị thể hiện lại cho rõ hơn các đặc tính của nhân dân Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới, không chỉ yêu nước, đoàn kết như dự thảo đã nêu mà con người Việt Nam phải thế hiện trí tuệ, trách nhiệm của mình đối với đất nước. Có thể diễn đạt như sau: “Nhân dân Việt Nam có nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (01/44 ý kiến).

– Việc sử dụng mệnh đề “Nhân dân… xây dựng… Hiến pháp” trong mối liên hệ với khoản 4 Điều 124 của Dự thảo chưa bảo đảm tính chỉnh thể chặt chẽ. Đoạn này quy định nhân dân là chủ thể “xây dựng” Hiến pháp thì nhân dân phải là chủ thể “làm ra”, “thông qua”, “ban hành” Hiến pháp, do đó quy định Hiến pháp được Quốc hội thông qua là chưa lô-gíc (01/44 ý kiến).

– Đề nghị đoạn cuối thể hiện lại như sau “nhân dân Việt Nam có trách nhiệm và nghĩa vụ đoàn kết, quyết tâm xây dựng và thực hiện Hiến pháp” (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bỏ từ “xây dựng” trong đoạn “nhân dân Việt Nam xây dựng và thi hành Hiến pháp” vì Hiến pháp đã được hoàn thành, do đó nhân dân chỉ “thi hành” mà thôi (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bỏ từ “một lòng”; bổ sung từ “phúc quyết”; thay từ “thi hành” bằng “thực hiện”, sửa đổi như sau: “Nhân dân Việt Nam với truyền thống yêu nước, đoàn kết, xây dựng, phúc quyết và thực hiện Hiến pháp này, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (01/44 ý kiến).

– Đề nghị bỏ đoạn này (02/44 ý kiến).

2. Về Chương I, Chế độ chính trị

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Có 93 ý kiến góp ý về Chương I.

– Các ý kiến góp ý tập trung vào các điều 1, 2, 4, 5, 9, 10, 12, 13.

– Về tên chương:

+ Tán thành với tên chương, nội dung chương (03/93 ý kiến)

+ Đề nghị đổi tên chương là “Nguyên tắc cơ bản” (01/93 ý kiến)

+ Đề nghị sửa đổi tên chương thành “Những quy định chung” hoặc giữ nguyên như Hiến pháp hiện hành là “Nước CHXHCN Việt Nam – Chế độ chính trị”, vì những quy định về quốc kỳ, quốc ca, quốc khánh, thủ đô cũng chính là những vấn đề cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (01/93 ý kiến).

– Về nội dung, bố cục của chương:

+ Dự thảo cơ bản tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình chế độ chính trị theo Cương lĩnh năm 2011, Hiến pháp năm 1992 và quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, đồng thời đã làm rõ hơn về một số vấn đề quan trọng liên quan đến thể chế chính trị của Nhà nước ta, đặc biệt là việc bổ sung và phát triển nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” là nguyên tắc quan trọng của Nhà nước pháp quyền tránh việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực; làm rõ hơn, đầy đủ hơn về bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (02/93 ý kiến).

+ Các nội dung được thể hiện ở Chương này cần được sắp xếp với nhau một cách hợp lý hơn, bảo đảm sự gắn kết hơn về mặt nội dung. Chẳng hạn, về nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân được quy định ở Điều 2, nhưng cách thức sử dụng quyền lực thì lại được quy định ở Điều 6, sau cả những quy định về chính sách đoàn kết dân tộc. Điều 2 của Dự thảo Hiến pháp cũng quy định về nguyên tắc Nhà nước pháp quyền nhưng một trong những nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền là Nhà nước tuân thủ pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật lại được quy định tại Điều 8 (01/93 ý kiến).

+ Nội dung trình tự sắp xếp nhiều chỗ còn trùng lặp, còn thiếu sự nhất quán giữa nội dung và hình thức thể hiện, chưa bảo đảm tính thống nhất, khoa học. Những điều quy định về Nhà nước, nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước quy định lên phía trên (01/93 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung quy định về tên nước; về vấn đề dân tộc (cho tương xứng với vai trò của vấn đề dân tộc, nhất là trên cơ sở kinh nghiệm về vấn đề này trong thời gian qua); về đồng tiền quốc gia (01/93 ý kiến).

+ Cần bổ sung các phương diện thể hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân, theo đó đề nghị tách chế định phúc quyết Hiến pháp độc lập với chế định trưng cầu ý dân (tương tự như bản Hiến pháp năm 1946), như vậy phương diện thể hiện quyền dân chủ trực tiếp sẽ bao gồm phúc quyết Hiến pháp, trưng cầu ý dân, bầu trực tiếp một số chức danh trong bộ máy Nhà nước, giám sát và phản biện xã hội… (01/93 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung quy định quyền phúc quyết của công dân, quyền của người chưa thành niên, quyền của người khuyết tật trong Chương này. Đề nghị sửa đổi, bổ sung các điều 15, 24, 26 quy định về quyền con người, quyền công dân, các quyền tự do đi lại, cư trú, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, được nhà nước bảo đảm theo Hiến pháp và luật (01/93 ý kiến).

+ Ghép Điều 2, Điều 3 thành một điều và đưa Khoản 4 Điều 5, Khoản 1 Điều 8 lên thành một điều, đưa Điều 11 lên Điều 3, đưa Điều 12 đưa lên trên Điều 9 (01/93 ý kiến).

Phần thứ hai: những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 1 (18 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 13 ý kiến cá nhân)

– Tán thành với kết cấu và nội dung sửa đổi như Dự thảo (01/18 ý kiến).

– Đề nghị giữ như Hiến pháp năm 1992 (02/18 ý kiến); giữ nguyên Điều 1 của Hiến pháp 1992, nếu sửa thì nên chuyển cụm từ “dân chủ” ra sau cụm từ “độc lập” (01/18 ý kiến).

– Đề nghị nghiên cứu thể hiện Điều này để bảo đảm tính khả thi, tránh tính hiệu ứng khác chiều khi được ban hành (01/18 ý kiến).

– Đề nghị đổi tên nước, đưa nội dung quy định về các thông tin cơ bản của nước ta (tương tự như lý lịch của một con người) bao gồm: tên nước, chế độ chính trị, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, ngày quốc khánh, thủ đô; cụ thể như sau:

“Điều 1

1. Tên nước Việt Nam đầy đủ là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

2. Nước Việt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

3. Nước Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản nhằm thực hiện mục tiêu: nước mạnh, dân giàu, công bằng, dân chủ, văn minh.

4. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có:

a. Quốc kỳ hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

b. Quốc huy hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

c. Quốc ca là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca”.

d. Ngày Quốc khánh là Ngày tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.

đ. Thủ đô là Hà Nội.” (01/18 ý kiến).

– Đề nghị ghi nhận tên nước là “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (01/18 ý kiến).

– Đề nghị lấy lại tên Nước là “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” như Bác Hồ đã lựa chọn từ năm 1945 và theo các bản Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 (02/18 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung giới hạn diện tích quốc gia theo đất liền, hải đảo, vùng biển, vùng trời đến đâu? (01/18 ý kiến).

– Cần quy định rõ về chính thể, chủ quyền quốc gia ngay tại điều này để các điều sau không phải nhắc lại, bảo đảm sự chặt chẽ, chính xác của dự thảo (3/18 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để đảm bảo tính lịch sử (01/18 ý kiến); bổ sung cụm từ “thềm lục địa” sau cụm từ “đất liền, hải đảo,” (02/18 ý kiến); đưa từ “độc lập” lên trước từ “dân chủ” để cho logic, vì không có độc lập thì không thể có dân chủ cũng như quyền làm chủ của nhân dân (03/18 ý kiến); bổ sung cụm từ “lòng đất” sau cụm từ “vùng biển”(01/18 ý kiến); đề nghị đưa Hoàng Sa và Trường Sa vào Hiến pháp để tiếp tục khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là phần lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (04/18 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc cụm từ “dân chủ” , bởi vì không nên nhầm lẫn một chế độ xã hội dân chủ với một nền dân chủ (01/18 ý kiến).

– Đề nghị gộp khoản 1 Điều 5 vào Điều 1; bổ sung cụm từ “thềm lục địa” vào sau cụm từ “vùng biển” và sửa thành: “Nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và là một quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” (01/18 ý kiến); chuyển đoạn “và là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” từ khoản 1 Điều 5 vào cuối Điều 1 (01/18 ý kiến); đề nghị ghép Điều 11 vào Điều 1 để đề cao vai trò Tổ quốc, quốc gia, thể hiện lại cho gọn, súc tích (03/18 ý kiến); đề nghị gộp Điều 5 vào Điều 1(01/18 ý kiến).

– Đề nghị thực hiện trưng cầu ý dân về Điều này (01/18 ý kiến).

Điều 2 (25 ý kiến, trong đó 11 ý kiến ở cơ quan, 14 ý kiến cá nhân)

– Đồng ý như Dự thảo vì đã thể hiện rõ bản chất quyền lực nhà nước ta thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, là lực lượng nòng cốt của xã hội (05/25 ý kiến).

– Đề nghị thiết kế thành các khoản riêng biệt theo đó khoản 1 khẳng định bản chất Nhà nước, chủ thể quyền lực Nhà nước là nhân dân, khoản 2 khẳng định nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước (01/25 ý kiến).

– Đề nghị phân biệt ba khái niệm “tầng lớp”, “đội ngũ” và “giai cấp” cùng được sử dụng tại Điều này, từ đó làm rõ đội ngũ trí thức thuộc giai tầng nào và xác định vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân, đặc biệt trong phát triển kinh tế – xã hội và trong mối quan hệ với Đảng (01/25 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “đội ngũ trí thức” bằng cụm từ “tầng lớp trí thức” (01/25 ý kiến).

– Đề nghị sửa lại nội dung cuối của đoạn 1 thành “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là khối đại đoàn kết toàn dân tộc” vì đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực của phát triển xã hội, đồng thời là nền tảng của quyền lực nhà nước, thể hiện được bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (09/25 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc quy định về “kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” vì thiết kế mô hình tổ chức bộ máy nhà nước như hiện nay chưa bảo đảm sự kiểm soát đó, nội dung kiểm soát quyền lực nhà nước cũng chưa có sự thể hiện tương xứng tại các điều, khoản cụ thể khác của Dự thảo (01/25 ý kiến).

– Đề nghị giải trình rõ hơn về nội hàm khái niệm “quyền tư pháp”, “cơ quan tư pháp”, làm rõ phạm vi quyền tư pháp, phân biệt quyền hành pháp và tư pháp, thẩm quyền của các cơ quan hành pháp và tư pháp trong việc cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về bộ máy Nhà nước cũng như các quy định pháp luật tố tụng và các quy định pháp luật khác 01/25 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “Xã hội Việt Nam xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” để làm rõ thêm đặc thù nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khác với nền dân chủ tư bản chủ nghĩa là tính bình đẳng giữa các tầng lớp xã hội ”(01/25 ý kiến); bỏ cụm từ “mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, vì sử dụng khái niệm “nhân dân” là đủ; nếu để cụm từ này sẽ có tính chất phân biệt, mâu thuẫn với quy định khác trong Dự thảo về khối đại đoàn kết toàn dân tộc (02/25 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi, bổ sung cuối đoạn 1 như sau: “nền tảng là khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”(04/25 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi đoạn 1 như sau: “Nước Việt Nam là nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.” (01/25 ý kiến).

– Đề nghị bỏ từ “nhà nước” trong đoạn “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…” (02/25 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc bổ sung từ “kiểm soát” vì rất khó quy định thống nhất ở các điều liên quan ở các chương cụ thể. Việc Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội nhưng kiểm soát lại Quốc hội thì có bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát đó không (02/25 ý kiến).

– Đề nghị nêu rõ sự phối hợp trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, quy định cụ thể hơn về cơ chế, chế tài để kiểm soát quyền lực nhà nước (01/25 ý kiến).

– Đề nghị thể hiện bổ sung, làm rõ các phương thức kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong đoạn 2 Điều này(01/25 ý kiến).

– Đề nghị nghiên cứu, bổ sung quy định về địa vị pháp lý của giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức(02/25 ý kiến); bổ sung địa vị pháp lý các tầng lớp nhân dân lao động khác như doanh nghiệp, lao động kinh doanh nhỏ… (01/25 ý kiến).

– Các điều khoản trong Dự thảo Hiến pháp chưa thể hiện rõ nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được quy định tại Điều này (01/25 ý kiến).

Điều 3 (9 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến của cơ quan, 5 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị giữ như Hiến pháp hiện hành (03/9 ý kiến).

– Đề nghị ghép nội dung này vào Điều 2 để thống nhất khái niệm về Nhà nước (01/9 ý kiến).

– Nếu viết “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân” thì có thể hiểu nhân dân vẫn bị động trong thực hiện quyền làm chủ. Vì vậy, nên nghiên cứu sửa theo hướng nhân dân là chủ thể của quyền làm chủ đó, ví dụ: “Nhà nước tuân theo ý chí và chịu sự giám sát của nhân dân, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ…” (01/9 ý kiến).

– Đề nghị chuyển cụm từ “tự do” đứng trước cụm từ “ấm no, hạnh phúc” (01/8 ý kiến); bổ sung cụm từ “xã hội” trước cụm từ “dân chủ” (02/9 ý kiến); bổ sung cụm từ “và cơ hội” vào sau cụm từ “có điều kiện” (01/9 ý kiến)..

– Đề nghị bổ sung vào đoạn cuối quy định: “Nghiêm trị mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, quyền và lợi ích hợp pháp của con người và của công dân” (01/9 ý kiến).

Điều 4 (42 ý kiến, trong đó có 11 ý kiến ở cơ quan, 31 ý kiến của cá nhân)

Nhất trí quy định Đảng cộng sản tại Điều 4 (17/42 ý kiến) với các ý lập luận cụ thể như sau: đề nghị quy định rõ ràng hơn về cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng (5/42 ý kiến); bổ sung quy định Đảng phải tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức và xây dựng tổ chức Đảng (01/42 ý kiến); cần thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, làm rõ hơn vấn đề Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; phòng và chống những nguy cơ, suy thoái biến chất của cán bộ, đảng viên… (02/42 ý kiến); quy định rõ hơn về phương thức lãnh đạo của Đảng (03/42 ý kiến); bổ sung quy định về phương thức lãnh đạo của Đảng là Đảng lãnh đạo toàn diện Nhà nước và pháp luật, nhưng Đảng không can thiệp, không làm thay các cơ quan Nhà nước (01/42 ý kiến); quy định rất rõ ràng về việc ai là người chịu trách nhiệm trước Đảng về việc thực hiện quy định tại điều này (01/42 ý kiến); bổ sung nội dung nhằm khẳng định Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội; quy định về cơ chế giám sát hoạt động của Đảng; làm rõ hơn thuật ngữ “gắn bó mật thiết với nhân dân” (01/42 ý kiến).;

– Nhất trí với Điều 4 (13/42 ý kiến) nhưng đề nghị sửa lại như sau:

Khoản 1

+ Nên thể hiện trong Điều lệ Đảng (01/42 ý kiến);

+ Đề nghị bổ sung thêm cụm từ “duy nhất” sau cụm từ “lực lượng” và trước cụm từ “lãnh đạo nhà nước và xã hội” (11/42 ý kiến);

+ Đề nghị bổ sung đoạn “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội” (01/42 ý kiến).

+ Bổ sung các cụm từ “Việt Nam”, “tổ chức”, “duy nhất”, khoản 1 được sửa như sau: “Đảng cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam, chọn Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là tổ chức duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội” (1/42 ý kiến);

+ Đề nghị sửa lại khoản 1 như sau: “Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong và đại biểu trung thành của lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam” (01/42 ý kiến); hoặc “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” hoặc “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (01/42 ý kiến) hoặc “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(01/42 ý kiến) hoặc “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” hoặc “Đảng Cộng sản Việt Nam đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, không ghi lại “chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh” tại Điều này vì đã được thể hiện ở Lời nói đầu (01/42 ý kiến).

+ Bỏ cụm từ “đồng thời là đội tiên phong của…” (07/42 ý kiến); bổ sung từ “chính trị” vào sau từ “tư tưởng”; bỏ cụm từ “đại biểu trung thành” (01/42 ý kiến); chuyển nội dung “lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” xuống cuối khoản 1 (01/42 ý kiến).

Khoản 2

+ Gộp khoản 2 và khoản 3 lại như sau “các tổ chức Đảng và Đảng viên phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước pháp luật về những quyết định của mình” (03/42 ý kiến);

+ Thay đoạn “chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” bằng đoạn “bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân” hoặc “Bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và phản biện của nhân dân” (01/42 ý kiến);

+ Bổ sung thêm cụm từ “là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” , thay từ “mật thiết” bằng từ “máu thịt” (03/42 ý kiến); bổ sung cụm từ “Cộng sản Việt Nam” sau từ “Đảng” tại khoản 2 và 3; bổ sung cụm từ “trước pháp luật” vào sau cụm từ “trước nhân dân” (01/42 ý kiến); bổ sung đoạn “mục đích của Đảng là” vào trước đoạn “phục vụ nhân dân” (01/42 ý kiến); thay cụm từ “về những quyết định của mình” bằng cụm từ “chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (01/42 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung thêm đoạn “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” và trước đoạn “chịu sự giám sát của nhân dân…” nhằm tôn vinh vai trò, vị trí của Đảng, khả năng tập hợp lực lượng quần chúng đại đoàn kết dân tộc càng mạnh lên và nhân dân cảm thấy tin Đảng hơn (01/42 ý kiến); bổ sung cụm từ “theo quy định của pháp luật” sau cụm từ “chịu sự giám sát của nhân dân” tại khoản 2 (02/42 ý kiến);

+ Quy định “chịu trách nhiệm về những quyết định của mình” là chưa đủ, đề nghị quy định rõ “Đảng phải chịu trách nhiệm chung về sự lãnh đạo đất nước” (01/42 ý kiến).

+ Bổ sung thêm 1 đoạn “Đảng thực hiện việc lãnh đạo và hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” (02/41 ý kiến) và “Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; việc giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình, do luật định” (01/42 ý kiến);

+ Đề nghị bỏ khoản 2 vì nội hàm của nó đã nằm trong khoản 3 Điều 4 và khoản 2 Điều 8 (01/42 ý kiến).

Khoản 3

+ Đề nghị thay cụm từ “trong khuôn khổ” bằng từ “theo” (01/42 ý kiến);

+ Đề nghị quy định cơ chế bảo đảm cho việc Đảng chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; ghép nội dung khoản 2 và khoản 3 như sau: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; gắn bó mật thiết với nhân dân; chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình theo luật định” (01/42 ý kiến).

Ý kiến khác

– Đề nghị sắp xếp, bổ sung Điều 4 như sau:

+ Khoản 1: khẳng định mọi hoạt động của Nhà nước và xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho logic hơn

+ Khoản 2: Đảng Cộng sản Việt Nam…

+ Khoản 3: Khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền. Đảng gắn bó…

+ Khoản 4: Các tổ chức của Đảng… (01/42 ý kiến).

– Đề nghị chỉnh lý quy định tại Điều này cho ngắn gọn, sâu sắc hơn, không nên viết lại quy định trong Điều lệ của Đảng (01/42 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung một khoản tại Điều 4 (hoặc bổ sung một điều) quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thực hiện đa Đảng đối lập” vì đây là một điều có tính nguyên tắc về thể chế chính trị để tránh nhận thức và hiểu sai cho là Đảng ta độc đoán (01/42 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung khoản 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam” (02/42 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thêm một khoản quy định Đảng lãnh đạo bằng định hướng phát triển đất nước và công tác tổ chức cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị (1/42 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung khoản 2 sau khoản 1 của Dự thảo như sau:

“2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng đường lối, nghị quyết, chỉ thị và công tác cán bộ. Đảng tạo điều kiện để các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội hoàn thành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” (01/42 ý kiến).

– Đề nghị giữ nguyên như Hiến pháp hiện hành (01/42 ý kiến); giữ nguyên như Hiến pháp hiện hành nhưng đề nghị thay cụm từ “hoạt động” bằng “nghiêm chỉnh chấp hành” (01/42 ý kiến).

– Đề nghị nên xây dựng luật về Đảng, bởi vì tất cả các tổ chức, lực lượng chính trị đều có luật riêng điều chỉnh, trong khi đó Đảng là lực lượng lãnh đạo duy nhất, cao nhất thì không có luật (01/42 ý kiến).

Điều 5 (11 ý kiến, trong đó có 6 ý kiến ở cơ quan, 5 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị sửa đổi, bổ sung và sắp xếp các khoản trong Điều 5 của Dự thảo như sau:

“1. Việt Nam là nước đa dân tộc, vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lớn và lâu dài.

2. Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc Việt Nam; các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam: “bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giúp nhau, phát triển, tiến bộ”.

3. Các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng về chính trị, kinh tế, xã hội; cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

4. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết; giữ gìn, phát huy bản sắc và truyền thống văn hóa tốt đẹp của mình.

5. Nhà nước bảo đảm thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch, nâng cao dân trí, đời sống dân sinh, xây dựng cốt cán của các dân tộc; tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, phát triển tiến kịp trình độ chung.

6. Nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.” (01/11 ý kiến).

– Đề nghị thiết kế nội dung điều này theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, được bổ sung một số cụm từ như sau: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; nghiêm cấm mọi hành vi….” (01/11 ý kiến).

– Theo quy định tại Điều 6 và khoản 1 Điều 116 thì việc dự kiến và thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường là không thể được. Đề nghị phải có báo cáo trình Quốc hội về việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân vừa qua (01/11 ý kiến).

– Đề nghị gộp Điều 5 với Điều 1 (01/11 ý kiến).

– Đề nghị chuyển Điều 5 lên sau Điều 2 (01/11 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị kết hợp khoản 1 với ý 2 Điều 1 thành một điều quy định về độc lập, chủ quyền, thống nhất các dân tộc (01/11 ý kiến).

– Đề nghị sửa lại thành: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc hợp thành dân tộc Việt Nam” để bao quát đầy đủ chủ thể theo thành phần dân tộc, bao gồm cả những người đang sinh sống trong nước cũng như ở nước ngoài (01/11 ý kiến).

– Thay từ “đất nước” bằng từ “lãnh thổ” hoặc sửa lại như sau: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc, các dân tộc cùng nhau đoàn kết bảo vệ và xây dựng đất nước” hoặc sửa thành “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc Việt Nam” do có một bộ phận đông đảo người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài và họ là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam (01/11 ý kiến).

– Thay cụm từ “…Việt Nam là quốc gia thống nhất các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” bằng cụm từ “…Việt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc, các dân tộc cùng nhau đoàn kết bảo vệ và xây dựng đất nước” (01/11 ý kiến); thay từ “đất nước” bằng từ “lãnh thổ” (01/11 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị sửa đổi lại thành “Các dân tộc bình đẳng trước pháp luật, đoàn kết…” (01/11 ý kiến); chuyển từ “đoàn kết” lên trước từ “bình đẳng” (01/11 ý kiến).

– Đề nghị sửa như sau: “Nhà nước thực hiện chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.” (01/11 ý kiến).

– Đề nghị thể hiện lại đoạn cuối khoản này như sau “Nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc” (01/11 ý kiến).

Khoản 3

– Đề nghị bổ sung và sắp xếp lại khoản 3 như sau: “…Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc” (01/11 ý kiến).

+ Chuyển câu “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt” thành khoản 5 Điều 13; khoản này viết lại như sau: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc”; hoặc vận dụng đầy đủ tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và viết lại như sau: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; nghiêm cấm mọi hành vi…” (01/11 ý kiến).

+ Đề nghị bỏ cụm từ “phong tục, tập quán” do cụm từ “bản sắc văn hóa truyền thống” đã bao gồm “phong tục, tập quán” (01/11 ý kiến); bổ sung cụm từ “dân tộc” vào cuối đoạn “văn hoá tốt đẹp của…” (02/11 ý kiến).

– Đề nghị chuyển cụm từ “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt” ở khoản 3, Điều 5 sang thành khoản 5, Điều 13 và bổ sung cụm từ “của mỗi” vào đoạn giữa của Khoản 3, Điều 5 như sau: “…giữ gìn bản sắc của mỗi dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình” (1/11 ý kiến).

Khoản 4

– Đề nghị sửa đổi lại theo hướng chỉ quy định những chính sách đặc thù hoặc một mức độ ưu tiên để giúp dân tộc thiểu số khắc phục tình trạng bất lợi và tụt hậu về trình độ phát triển; khẳng định chủ trương xã hội hóa trong việc giúp đỡ các dân tộc thiểu số, đồng thời nhấn mạnh yếu tố phát huy nội lực của các dân tộc thiểu số, cụ thể như sau: “Ngoài sự bình đẳng về quyền và lợi ích, các dân tộc thiểu số được giúp đỡ mọi mặt để phát triển hòa nhập được với sự phát triển chung của đất nước” (01/11 ý kiến).

– Đề nghị thay vì quy định trách nhiệm của nhà nước, nên quy định quyền được bảo đảm để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực phát triển hội nhập được vào sự phát triển chung (01/11 ý kiến).

– Hiến pháp hiện hành đã nêu rõ chính sách của Nhà nước đối với dân tộc hơn là nội dung sửa đổi mới trong Dự thảo, do đó đề nghị nghiên cứu lại quy định này (01/11 ý kiến).

– Đề nghị sửa khoản này thành: “Nhà nước tạo (hoặc bảo đảm) điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát triển toàn diện, phát huy nội lực, hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước” (02/11 ý kiến) hoặc “Nhà nước thực hiện chính sách đầu tư, hỗ trợ và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát triển toàn diện, từng bước hòa nhập và góp phần vào sự phát triển chung của đất nước”(01/11 ý kiến) hoặc “Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ các dân tộc, các chính sách kinh tế – xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số” (01/11 ý kiến) hoặc “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện, các dân tộc thiểu số được ưu tiên trong sự phát triển chung của đất nước” (01/11 ý kiến).

– Bỏ cụm từ “thiểu số” tại khoản 4 thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc (02/11 ý kiến); thay cụm từ “thiểu số” bằng từ “cùng” (01/11 ý kiến); bổ sung các cụm từ “đầu tư, hỗ trợ”, “ phát triển toàn diện, từng bước”, “và góp phần” vào khoản 4 như sau: “Nhà nước thực hiện chính sách đầu tư, hỗ trợ và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát triển toàn diện, từng bước hòa nhập và góp phần vào sự phát triển chung của đất nước” (01/11 ý kiến).

Điều 6 (9 ý kiến, trong đó có 6 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

– Tán thành với Điều này (01/9 ý kiến).

– Tán thành với Điều này, nhưng đề nghị xem xét thống nhất cách thức thể hiện (cách thể hiện như dự thảo chưa thật thống nhất, nội dung thứ nhất thì nêu chung, đến nội dung thứ hai thì lại nêu cụ thể hơn) (01/9 ý kiến); đề nghị không tách bạch quy định tại Điều này với Điều 28 để bảo đảm tính thống nhất, dễ hiểu (01/9 ý kiến).

– Quy định như dự thảo chưa cụ thể, rõ ràng (01/9 ý kiến).

– Đề nghị nghiên cứu thể chế đầy đủ kết luận Hội nghị Trung ương 5 (Khóa XI): “…Cần tiếp tục hoàn thiện hình thức dân chủ đại diện, bảo đảm nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và cả hệ thống chính trị…”. Bởi vì, Dự thảo mới chỉ đề cập đến việc thực hiện các hình thức dân chủ gián tiếp “thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”, mà chưa đề cập đến cả hệ thống chính trị (01/9 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân, cơ quan khác đều là biểu hiện của dân chủ đại diện” (01/9 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định nhằm thể hiện rõ hơn thuật ngữ “dân chủ trực tiếp”, “dân chủ đại diện” (02/9 ý kiến).

– Đề nghị thay từ “nhà nước” bằng từ “của mình” (02/9 ý kiến); bỏ cụm từ “của Nhà nước” cuối Điều này (01/9 ý kiến).

– Nên quy định rõ hơn việc nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan khác là như thế nào? Thông qua tổ chức chính trị – xã hội khác có được không? (01/9 ý kiến); quy định rõ cơ chế nào để xác lập quyền đại diện của “các cơ quan khác của Nhà nước”, nếu không có cơ chế xác lập quyền đại diện và tất cả đều là đại diện thì sẽ không có cơ quan, người đại diện, chẳng hạn: Quốc hội đại diện cho dân bầu Thủ tướng Chính phủ nếu nhân dân bầu trực tiếp Thủ tướng thì Quốc hội không còn đại diện cho nhân dân bầu Thủ tướng Chính phủ nữa (01/9 ý kiến).

Điều 7 (có 5 ý kiến, trong đó 4 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị cân nhắc quy định trong Hiến pháp về việc đại biểu Quốc hội không chuyên trách chỉ nên tham gia không quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp; bổ sung một khoản (trước khoản 2) quy định “Đại biểu trong nhiệm kỳ hoạt động xét thấy mình không còn đủ tiêu chuẩn, tư cách đạo đức thì xin miễn nhiệm từ chức trước Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp” (01/5 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung đoạn “…khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân và không được đa số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tín nhiệm” vào cuối Điều này (01/5 ý kiến).

– Khoản 2, đề nghị nghiên cứu không ghi trong Hiến pháp nội dung “… Đại biểu quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội…. bãi nhiệm…..” vì cơ chế cử tri bãi nhiệm là khó khả thi (01/5 ý kiến); bỏ cụm từ “xứng đáng với” và thêm từ “đa số” trước từ “nhân dân” (01/5 ý kiến).

– Khoản 2, đề nghị bổ sung quy định làm rõ việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân để trên cơ sở đó Quốc hội xem xét ban hành luật quy định cụ thể các vấn đề quan trọng này. Tham khảo Hiến pháp 1946, tại Điều 41 quy định rõ: “Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó. Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức” (01/5 ý kiến).

Điều 8 (11 ý kiến, trong đó 7 ý kiến của tổ chức, 4 ý kiến cá nhân)

– Cách thể hiện mang tính chất liệt kê vừa thừa, vừa thiếu, vừa không chính xác, chưa khái quát bao hàm hết nội dung, do đó đề nghị viết lại Điều 8 như sau:

“1. Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật; quản lý nhà nước và xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; thực hiện nguyên tắc tập trung, dân chủ.

2. Nền hành chính quốc gia, chế độ công vụ được tổ chức và hoàn thiện để phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật.” (01/11 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị sửa đổi như sau “Nhà nước tổ chức và hoạt động, quản lý xã hội theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” (01/11 ý kiến).

– Đề nghị đưa nội dung “nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp” lên nội dung khoản 1; thay cụm từ ”Nhà nước” bằng cụm từ ”Các cơ quan nhà nước”, bỏ cụm từ “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” ; khoản 2 bỏ cụm từ “hoàn thiện” sau cụm từ “chế độ công vụ được tổ chức” (02/11 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị sửa đổi nội dung “chống tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền” thành “nghiêm cấm mọi hành vi tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền” để tăng tính phòng ngừa, răn đe, đồng thời có cơ sở pháp lý cho việc ban hành các quy định cấm cụ thể trong các văn bản khác (01/11 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “được tổ chức và hoàn thiện” tại khoản 2 và sửa thành “nền hành chính quốc gia, chế độ công vụ phục vụ nhân dân” cho ngắn gọn. Đoạn “Cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, chống tham nhũng, quan liêu, cửa quyền…” nên thay bằng “Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân và thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” (01/11 ý kiến); hoặc bổ sung đầy đủ di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành “Cán bộ, công chức, viên chức phải trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, tận tụy…” (02/11 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “tận tụy” bằng “có trách nhiệm” (02/11 ý kiến); bổ sung cụm từ “từ trung ương đến địa phương” trước cụm từ “để phục vụ”, cụm từ “liêm chính” trước cụm từ “thực hành tiết kiệm” (01/11 ý kiến); thay cụm từ “chống tham nhũng” bằng cụm từ “cần, kiệm, liêm, chính” (01/11 ý kiến); bổ sung cụm từ “lắng nghe ý kiến của nhân dân” trước cụm từ “chịu sự giám sát của nhân dân” (01/11 ý kiến); cân nhắc cụm từ “chống tham nhũng, quan liêu hách dịch cửa quyền” nên viết là “không tham nhũng, …” cho chính xác (01/11 ý kiến).

Khoản 3

– Đề nghị bỏ cụm từ “chống các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật” (01/11 ý kiến); thay từ “cá nhân” bằng cụm từ “cán bộ, công chức, viên chức” cho phù hợp với nội dung quy định tại Điều này (01/11 ý kiến).

Điều 9 (12 ý kiến, trong đó có 6 ý kiến ở cơ quan, 6 ý kiến của cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị giữ như quy định hiện hành của Hiến pháp 1992 (01/12 ý kiến).

– Đề nghị thể hiện lại như sau “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài” (01/12 ý kiến).

– Đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân”, “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị” theo đúng tinh thần Văn kiện Đại hội XI và Cương lĩnh của Đảng (01/12 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “một bộ phận của hệ thống chính trị” sau cụm từ “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”; bổ sung cụm từ “nơi vận động tập hợp sức mạnh, khối đại đoàn kết dân tộc” vào cuối Khoản 1 (02/12 ý kiến).

Khoản 2

– Thay cụm từ “hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, công chức, viên chức.” bằng cụm từ “hoạt động xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” (01/12 ý kiến); bổ sung cụm từ “và các tổ chức chính trị – xã hội” sau cụm từ “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” để khẳng định và phát huy hơn nữa vai trò đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (01/12 ý kiến).

– Tại dòng 6, đề nghị diễn đạt lại như sau: “…giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức. Phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước”. Vì vừa qua thực hiện theo NQTW4 của Đảng, Bộ Chính trị đã giao cho các ban của Đảng và UBMTTQVN xây dựng 2 văn bản mới về quy chế giám sát và phản biện xã hội cho nên diễn đạt như vậy vừa đảm bảo chặt chẽ và thống nhất trong hệ thống văn bản và hệ thống chính trị của nước ta (01/12 ý kiến).

– Đề nghị quy định bổ sung chủ thể “các tổ chức chính trị – xã hội” là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đồng thời không cần quy định quá chi tiết các lĩnh vực phản biện xã hội; cụ thể sửa đổi lại thành: “Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tham gia xây dựng và củng cố Đảng, chính quyền nhân dân, cùng nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, giám sát và phản biện xã hội đối với các hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức.” (01/12 ý kiến).

Khoản 3

– Cần quy định rõ “Chính phủ phải bảo đảm điều kiện để cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình” (01/12 ý kiến).

– Đề nghị cần khẳng định rõ là “Đảng, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hoạt động” (01/12 ý kiến); quy định rõ Nhà nước đảm bảo để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động và phản biện xã hội (01/12 ý kiến).

– Đề nghị thay từ “tạo điều kiện” bằng từ “bảo đảm” hoặc “có trách nhiệm” để khẳng định mạnh mẽ quan điểm của Nhà nước ta đề cao vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (02/12 ý kiến).

Ý kiến khác

– Đề nghị quy định bổ sung mục tiêu “đoàn kết quốc tế” của thiết chế Mặt trận Tổ quốc bên cạnh việc “phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc”(01/12 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thêm cụm từ “Các đoàn thể chính trị – xã hội” sau cụm từ “Mặt trận Tổ quốc”. Như vậy, sắp xếp lại như sau: “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội” để thể hiện được rõ hơn vai trò của các đoàn thể chính trị xã hội (01/12 ý kiến).

– Đề nghị quy định về vấn đề giám sát và phản biện xã hội cụ thể, rõ ràng hơn. Theo tinh thần Nghị quyết TW4 của Đảng về xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội, đề nghị diễn đạt lại đoạn cuối khoản 2 như sau: “…, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức, phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước” (01/12 ý kiến).

– Đề nghị cần có 01 điều riêng trong Hiến pháp về vai trò, vị thế của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam – Tổ chức đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam chưa được thể hiện rõ trong dự thảo HP. Có thể viết như sau: “Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội, đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam, có quyền và trách nhiệm tham gia xây dựng, đề xuất, phản biện, giám sát chính sách pháp luật và đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân” (01/12 ý kiến).

Điều 10 (15 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến của cơ quan, 10 ý kiến cá nhân)

– Tán thành Điều này (02/15 ý kiến).

– Đề nghị bỏ Điều này với lý do:

+ Vì tính chất, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn Việt Nam đã được hiến định tại Điều 9 (Công Đoàn là tổ chức chính trị – xã hội, thành viên của MTTQ Việt Nam).

+ Nếu Hiến pháp quy định về tổ chức Công đoàn, thì các tổ chức chính trị-xã hội khác như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân cũng phải quy định trong Hiến pháp.

+ Tổ chức Công đoàn đã được thể chế hóa bằng Luật Công đoàn Việt Nam (8/15 ý kiến).

– Các tổ chức thuộc Mặt trận gồm công đoàn, thanh niên, nông dân, phụ nữ và hội cựu chiến binh, nếu Dự thảo đã thể hiện thì thể hiện hết còn nếu không thể hiện thì viết một cách khái quát, tổng quan để thể hiện được vai trò của các tổ chức chính trị trong Hiến pháp (05/15 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc lại việc quy định về Công đoàn Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội khác trong Hiến pháp cho phù hợp, nếu có Điều quy định về Công đoàn Việt Nam thì đề nghị quy định bổ sung nội dung “các tổ chức chính trị – xã hội nghề nghiệp được bảo đảm hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật” (01/15 ý kiến).

– Các tổ chức chính trị – xã hội như Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh chưa được quy định cụ thể. Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều này theo hướng quy định vị trí, vai trò, chức năng ,nhiệm vụ của 5 tổ chức chính trị – xã hội hiện nay (01/15 ý kiến). Nếu không quy định cụ thể đối với từng tổ chức thì nên bỏ hẳn Điều 10, chỉ để Điều 9 về Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận là đủ (01/15 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi lại nhằm nhất quán bản chất của tổ chức Công đoàn Việt Nam theo quy định của Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động hiện hành, cụ thể như sau: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (01/15 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định Công đoàn có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những chính sách pháp luật, nhất là chính sách pháp luật tác động trực tiếp đến người lao động và có quyền giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật của các cơ quan nhà nước với tư cách là một tổ chức chính trị – xã hội (01/15 ý kiến).

– Đề nghị bỏ từ “thanh tra” vì tổ chức công đoàn chỉ đại diện quyền lợi cho giai cấp công nhân, không có chức năng thanh tra cơ quan nhà nước (01/15 ý kiến); bổ sung “Tuyên truyền, vận động…” ở câu cuối, thành “Tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (01/15 ý kiến); bổ sung đoạn “các tổ chức chính trị – xã hội nghề nghiệp được đảm bảo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật” (01/15 ý kiến).

Điều 11 (6 ý kiến, trong đó có 3 ý kiến của cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị giữ như Hiến pháp hiện hành (01/6 ý kiến)

– Do nội dung, ý nghĩa quan trọng của Điều này nên đề nghị chuyển lên trước Điều 2 hoặc Điều 3 (02/6 ý kiến) hoặc nối tiếp Điều 1 cho xứng tầm quan trọng của nội dung, hoặc nhập nội dung Điều này (cùng với Điều 48) vào Điều 69 (01/6 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị giữ lại cụm từ “âm mưu” và cụm từ “Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” ở Hiến pháp hiện hành (02/6 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị bổ sung đoạn “xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” sau cụm từ “lãnh thổ” (01/6 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “mọi hành vi chống lại độc lập chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị theo pháp luật” (01/6 ý kiến).

Điều 12 (5 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến của tổ chức, 1 ý kiến cá nhân)

– Tán thành với Điều 12 (01/5 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “vì lợi ích quốc gia dân tộc” vì đây là điểm mới được bổ sung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011). Theo đó, mọi hoạt động đối ngoại là phải tìm cách thực hiện tối đa lợi ích của đất nước và của dân tộc; bổ sung cụm từ “các vùng lãnh thổ, các thực thể chính trị, các tổ chức quốc tế và khu vực” sau đoạn “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển với tất cả các nước” vì trên thực tế Việt Nam có quan hệ không chỉ với các nước mà còn với các vùng lãnh thổ (như Hồng Kông, Đài Loan), các thực thể chính trị (như PLO, Polisario …), các tổ chức quốc tế và khu vực (02/5 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung nội dung “tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới”; bổ sung đoạn “và những nguyên tắc cơ bản khác của Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế” vào sau đoạn “trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi” (01/5 ý kiến).

– Đề nghị nghiên cứu thêm về việc nên giữ hay bỏ cụm từ “các bên cùng có lợi” tại đoạn “không phân biệt chế độ chính trị xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi”. “Các bên cùng có lợi” trong nhiều trường hợp là sách lược trong đàm phán, trong tính toán về lợi ích quốc gia của các nước với nhau, có những trường hợp không thể giải quyết bằng nguyên tắc cùng có lợi được (02/5 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “không phân biệt chế độ chính trị, xã hội” vì trong cương lĩnh không có cụm từ này, cần lưu ý chủ trương hội nhập, nhưng không hòa tan mục tiêu lý tưởng của cách mạng; cân nhắc cụm từ “không phân biệt chế độ chính trị và xã hội” vì chưa phù hợp với các Nghị quyết của Đảng về công tác đối ngoại. Có cử tri băn khoăn quy định này có thể sẽ dẫn đến mất những quan hệ truyền thống, anh em, bạn bè quốc tế, dẫn đến “Diễn biến hòa bình”? (01/5 ý kiến)

Điều 13 (15 ý kiến, trong đó có 8 ý kiến ở cơ quan, 7 ý kiến cá nhân)

– Tán thành với Điều 13 (01/15 ý kiến).

– Quy định quá chi tiết, cần khái quát hơn để đảm bảo tính chính xác (01/15 ý kiến)

– Đề nghị ghép Điều 13 và Điều 14 thành một điều và sắp xếp lại các khoản theo trình tự: Quốc khánh, Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca, Thủ đô (02/15 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị bỏ đoạn “hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài”, chỉ cần thể hiện như Hiến pháp năm 1946 là đủ (01/15 ý kiến).

– Khoản 1 và khoản 2: không nên nêu chi tiết về chiều rộng, chiều dài, ngôi sao ở giữa… của quốc kỳ, quốc huy vì nếu nêu chi tiết thì lại thiếu tỷ lệ chuẩn xác. Khoản này chỉ cần nêu khái quát rồi có hướng dẫn chi tiết về kích cỡ, vị trí, tỷ lệ (01/15 ý kiến); đề nghị bổ sung quy định về tỷ lệ của ngôi sao trong quốc kỳ và quốc huy và nên có mẫu quốc kỳ, quốc huy kèm theo để đảm bảo mẫu quốc kỳ, quốc huy được sử dụng thống nhất trên thực tế (03/15 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị sửa cụm từ “bánh xe răng” thành “bánh răng” (02/15 ý kiến); bổ sung thêm từ “vàng” sau từ “bông lúa” cho chuẩn xác và thống nhất hơn (01/15 ý kiến); thay cụm từ “chung quanh” bằng “xung quanh” (01/15 ý kiến).

– Đề nghị quy định rõ về kích cỡ, số lượng bông lúa, bánh xe, màu sắc, tỷ lệ (02/15 ý kiến).

– Đề nghị xem xét, nghiên cứu thể hiện cho rõ hình ảnh của giai cấp nông dân, công nhân, đội ngũ trí thức trên quốc huy (01/15 ý kiến).

Khoản 3

– Đề nghị bỏ cụm từ “nhạc và lời”, chỉ cần viết bài “Tiến quân ca” là gọn và đủ nghĩa (01/15 ý kiến). Đề nghị ghi rõ tác giả của bài Tiến quân ca để bảo đảm vấn đề bản quyền liên quan, cụ thể là “Quốc ca của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài “ Tiến quân ca” sáng tác của nhạc sĩ Văn Cao” (03/15 ý kiến).

– Đề nghị quy định “Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc của bài Tiến quân ca”, vì lời của bài Tiến quân ca không còn phù hợp với giai đoạn phát triển đất nước hiện nay (01/15 ý kiến).

Khoản 4

– Đề nghị sửa lại thành “Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày 02 tháng 9”(01/15 ý kiến); hoặc “Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập…” (01/15 ý kiến).

Ý kiến khác

– Cần khẳng định quốc hiệu là tên chính thức của quốc gia nhằm khẳng định chủ quyền và chế độ chính trị của nước ta (03/15 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung một khoản quy định về đồng tiền Việt Nam vì đồng tiền Việt Nam là một đơn vị tiền tệ chính thức của nước ta, do ngân hàng Nhà nước phát hành là phương tiện thanh toán pháp quy (02/15 ý kiến).

– Đề nghị ghi rõ Quốc ca sử dụng lời 1 hay lời 2 của bài hát “Tiến quân ca”, vì hiện nay đang dùng lời 1; bổ sung quy định về quốc ngữ (01/15 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung khoản 5 quy định “Hàng năm lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch là Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương” vì Quốc hội đã thông qua ngày này và đã được thực hiện, nhưng chưa được Hiến định (03/15 ý kiến).

Điều 14 (5 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến của cơ quan, 1 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị đưa nội dung Điều này thành khoản 5 Điều 13 (03/5 ý kiến).

– Đề nghị sửa lại Điều này theo hướng chỉ rõ Thủ đô nằm trong thành phố Hà Nội thuộc Vùng Hà Nội (về địa lý Hà Nội đã được sáp nhập thêm tỉnh Hà Tây nên diện tích đã rộng gấp 3 lần) (01/5 ý kiến).

– Đề nghị nên viết lại là “Thành phố Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hoặc “Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt tại Hà Nội” như HP năm 1946 đã thể hiện (02/5 ý kiến).

3. Về Chương II, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Có 82 ý kiến góp ý về Chương II.

– Các ý kiến góp ý tập trung vào các điều 21, 23, 27, 32, 45

– Về tên chương:

+ Nhất trí với tên và bố cục của chương (02/82 ý kiến).

+ Đề nghị lấy tên Chương là “Quyền, nghĩa vụ của con người và công dân” do những quyền, nghĩa vụ con người được thừa nhận trong Hiến pháp chỉ là những quyền, nghĩa vụ cơ bản; những quyền, nghĩa vụ của con người, của công dân không nêu cụ thể trong Hiến pháp vẫn được thừa nhận theo pháp luật; đồng thời thể hiện đầy đủ nội dung của Chương này là bao gồm cả các quy định về nghĩa vụ của con người (01/82ý kiến).

– Về nội dung, bố cục của chương:

+ Đề nghị nghiên cứu sắp xếp các điều trong Chương II theo trật tự là quy định chung về quyền con người, tiếp đến là quyền con người cụ thể theo trật tự quyền dân sự, chính trị, quyền kinh tế, xã hội, văn hóa rồi đến quy định chung về quyền, nghĩa vụ công dân, sau đó là các quyền, nghĩa vụ công dân cụ thể theo thứ tự quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (05/82 ý kiến); đề nghị tách riêng thể hiện 15 điều quy định quyền con người trước sau đó 21 điều quy định quyền và nghĩa vụ công dân sau (04/82 ý kiến); đề nghị xây dựng Chương II thành 2 mục như Hiến pháp năm 1992. Mục A về quyền lợi của công dân; Mục B là công dân phải có nghĩa vụ để phân biệt rõ không lẫn lộn giữa quyền và nghĩa vụ của công dân (03/82 ý kiến).

+ Một số điều trong Chương II quá ngắn gọn như Điều 21 – “Mọi người có quyền sống”; Điều 42 – “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập”. Do đó các điều này cần được sửa đổi sao cho vừa bảo đảm ngắn gọn, vừa bao quát được ý cần diễn đạt. Một số quyền (ví dụ như Điều 35, Điều 44, khoản 1 Điều 46) được thể hiện theo văn phong “cương lĩnh” không rõ nội dung được Hiến pháp bảo vệ và vì vậy khó bảo đảm tính khả thi (01/82 ý kiến).

+ Chỉ nên nêu các nguyên tắc chung, nguyên tắc bất biến thể hiện điều cơ bản nhất, có ý nghĩa lâu dài, trên cơ sở đó điều hành bằng luật cụ thể; thống nhất quan điểm trong Dự thảo là việc hạn chế quyền của con người phải bằng quy định của luật (01/82 ý kiến).

+ Đề nghị nghiên cứu bổ sung và quy định cụ thể hơn về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong một số điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; quy định rõ trong Hiến pháp việc hạn chế quyền con người, quyền công dân chỉ được đặt ra khi có luật do Quốc hội ban hành (01/82 ý kiến).

+ Đề nghị nghiên cứu ghép một số điều với nhau để bảo đảm tính logic, ví dụ: Điều 21 quy định “Mọi người có quyền sống” có thể ghép vào các Điều quy định “có quyền tự do…” và sắp xếp lại các điều cho khoa học như: đưa Điều 18 của Dự thảo lên ngay sau Điều 15; sắp xếp các Điều 65, 66, 67 thành một điều (01/82 ý kiến).

+ Cách thể hiện rời rạc, chỉ mang tính chất liệt kê, nội dung thì thiếu tính quy phạm, không gắn kết được quyền và nghĩa vụ (01/82 ý kiến). Cần phải sắp xếp lại các nhóm, điều chỉnh một số điều cho ngắn gọn hơn, cần có sự thống nhất khi sử dụng ngôn ngữ diễn đạt (04/82 ý kiến).

+ Các điều viết hơi dài, có rất nhiều điều mà nếu có một điều khoản chung, có thể hơi dài một chút nhưng có thể bao hàm được đầy đủ và sau này không phải ghi trong những điều khoản cụ thể, chẳng hạn: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyền con người được nhà nước, xã hội thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Mọi người được tự do thực hiện mọi quyền của mình nếu không bị cấm hay bị hạn chế theo quy định của luật. Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, không ai được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.” Sau đó các điều khác đương nhiên là phải thực hiện theo nguyên tắc này, không cần phải liệt kê từng điều, sẽ ngắn hơn rất nhiều (01/82 ý kiến).

+ Đề nghị cân nhắc việc liệt kê quyền của công dân các lĩnh vực trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội tại Điều 17 và Điều 27 của dự thảo Hiến pháp để bảo đảm đầy đủ, toàn diện (01/82 ý kiến).

+ Quy định quyền và nghĩa vụ trong Dự thảo không tương xứng, chủ yếu quy định quyền, nghĩa vụ thì lại do luật quy định (01/82 ý kiến); quy định nghĩa vụ của công dân hơi ít (02/82 ý kiến); ý kiến khác đề nghị không nên đưa nhiều nghĩa vụ vì dễ gây phản cảm (01/82 ý kiến).

+ Quy định của Dự thảo chưa bao quát đầy đủ, toàn diện các nghĩa vụ tài chính của công dân vì trên thực tế, các cá nhân ngoài nghĩa vụ nộp thuế còn phải thực hiện nhiều nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật như nộp các khoản phí, lệ phí, các khoản đóng góp tài chính mang tính bắt buộc khác. Vì vậy, đề nghị bổ sung các quy định về nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật (01/82 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi, bổ sung các Điều 15, 24 và 26 quy định quyền con người, quyền công dân, các quyền tự do đi lại và cư trú, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình được Nhà nước bảo đảm theo Hiến pháp và luật (không phải là “pháp luật” nói chung để tránh áp dụng tùy tiện) (01/82 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung, làm rõ, thống nhất các quy định về “công dân”, “mọi người”. Trước đây Hiến pháp chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa quyền con người với quyền công dân nên mới ghi nhận chung “quyền và nghĩa vụ công dân”. Dự thảo lần này đã thể hiện rõ quyền con người thì cần phải xác định rõ khi nào là “mọi người” khi nào là “công dân” cho chính xác (03/82 ý kiến).

+ Đề nghị nghiên cứu, bổ sung quy định trong Chương này có các quyền mới như: Quyền phúc quyết Hiến pháp của công dân, có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân; quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân; quyền của người chưa thành niên, quyền của người khuyết tật, người cao tuổi, quyền được bầu trực tiếp Chủ tịch nước (01/82 ý kiến); quyền được xác định lại giới tính, được thừa nhận giới tính đối với những trường hợp sinh ra có khiếm khuyết về sinh học (01/82 ý kiến).

+ Chỉ có một Điều 25 quy định về tín ngưỡng, tôn giáo trong khi cả nước có 24 triệu tín đồ, gần 100% dân số có tín ngưỡng thì đã đủ chưa? (01/82 ý kiến).

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 15 (6 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

– Dự thảo còn quy định chung chung dẫn đến việc lợi dụng xâm phạm quyền con người, nên thêm ý “cấm hành vi ngụy tạo” để hạn chế quyền con người (01/6 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị viết lại khoản 1 như sau: “Quyền con người, quyền công dân được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện” hoặc “Quyền con người, quyền công dân được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” . Khoản 2, đề nghị viết rõ “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn bởi luật định/bởi quy định của luật trong trường hợp…” (01/6 ý kiến).

Khoản 2

– Khoản 2, đề nghị viết lại như sau: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp Chủ tịch nước công bố tình trạng chiến tranh và tình trạng khẩn cấp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng” (02/6 ý kiến).

– Khoản 2, đề nghị bổ sung vào cuối khoản nội dung “Việc giới hạn quyền con người, quyền công dân do luật định” nhằm bảo đảm sự thống nhất với nguyên tắc “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định” được quy định tại khoản 2 Điều 20 (01/6 ý kiến).

– Đề nghị xem xét lại quy định “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe cộng đồng” tại Khoản 2 Điều 15 vì một trong những đặc tính của quyền con người là tính bất khả xâm phạm. Quy định này vô hình chung “siết chặt” hơn quy định về quyền con người và quyền công dân và việc bổ sung có thể “lợi bất cập hại”, dễ gây suy diễn, hiểu lầm và có thể làm phức tạp thêm tình hình đấu tranh về nhân quyền (01/6 ý kiến).

– Đề nghị bỏ từ “có thể”, bởi vì không nên thiết kế một quy phạm tùy nghi trong Hiến pháp (01/6 ý kiến).

Điều 16 (6 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị cân nhắc quy định nghĩa vụ này vì nghĩa vụ nào mà hiến định cần phải có tính xác định cao và tính cụ thể thì mới thuận tiện cho mọi người có thể áp dụng được và cũng thuận tiện cho việc quy định các biện pháp chế tài (01/6 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác” bằng cụm từ “Quyền con người không tách rời với nghĩa vụ con người” (01/6 ý kiến); bổ sung cụm từ “và lợi ích hợp pháp” sau từ “quyền” , vì mỗi người không chỉ có quyền mà còn có lợi ích hợp pháp, và lợi ích hợp pháp phải được tôn trọng (02/6 ý kiến); bổ sung cụm từ “hợp pháp”, sửa thành “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền hợp pháp của người khác” (01/6 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung đoạn “mọi người có quyền được sống” vào cuối khoản này (01/6 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị sửa đổi, bổ sung: “Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xúc phạm, khiếu nại, tố cáo sai sự thật, xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” (01/6 ý kiến).

Điều 17 (5 ý kiến, trong đó có 3 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị viết lại Điều này như sau: “Trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” (01/5 ý kiến)

– Khoản 1, đề nghị thay từ “mọi người” bằng từ “công dân” (01/5 ý kiến).

– Khoản 2, Theo quy định tại khoản này, việc bổ nhiệm cán bộ trung, cao cấp trong các cơ quan trung ương phải có yếu tố đảng viên, cán bộ, công chức không được thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp có được coi là phân biệt đối xử không? Do đó, cần cân nhắc để quy định khoản này có tính khái quát và chặt chẽ (01/5 ý kiến).

– Đề nghị bỏ khoản 2, vì quy định tại khoản 1 mọi người đều bình đẳng trước pháp luật đã bao trùm cả nội dung của khoản 2 hoặc gộp hai khoản thành một (01/5 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thêm khoản 3 như sau: “Nhà nước cần có chính sách đặc thù, phù hợp với một số nhóm công dân cần được hỗ trợ đặc biệt như: trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi” (01/5 ý kiến).

Điều 18 (7 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị cần quy định rõ hơn thế nào là “nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài”, khi công dân đó vi phạm luật pháp nước ngoài nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì xử lý như thế nào? có ảnh hưởng gì đến những hiệp ước mà chúng ta ký kết với các nước hay không? (01/7 ý kiến)

– Khoản 1, đề nghị sửa lại là: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam và không vi phạm pháp luật Việt Nam” (01/7 ý kiến).

– Đề nghị làm rõ thêm quy định tại khoản 2 và 3 đối với trường hợp công dân là người có nhiều quốc tịch (02/7 ý kiến). Đề nghị sửa lại khoản 2 như sau: “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giao nộp cho nhà nước khác, trừ công dân có hai quốc tịch” (01/7 ý kiến).

Khoản 2, đề nghị thay từ “không thể” bằng từ “không bị” (01/7 ý kiến); từ “công dân” bằng cụm từ “người Việt Nam” (02/7 ý kiến); bỏ đoạn “giao nộp cho nhà nước khác” vì giao nộp nhà nước khác cũng là một trong những hình thức trục xuất (01/7 ý kiến).

– Khoản 2, đề nghị quy định cụ thể hơn với trường hợp công dân Việt Nam có 2 quốc tịch (01/7 ý kiến).

Điều 19 (5 ý kiến, trong đó có 3 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Tán thành với sửa đổi, bổ sung tại Điều 19 vì phù hợp với Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (01/5 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “định cư” ở khoản 1 và khoản 2 vì khái niệm “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” có phạm vi hẹp hơn khái niệm “Người Việt Nam ở nước ngoài”. Mặt khác, cụm từ “Người Việt Nam ở nước ngoài” đã được sử dụng trong Nghị quyết 36 “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc phân biệt giữa người Việt Nam định cư hay tạm cư, trong hay ngoài nước chỉ có ý nghĩa tương đối về không gian và thời gian, không hoàn toàn gắn với tư cách pháp lý, pháp nhân (03/5 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị giữ lại câu “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài” theo quy định của Hiến pháp hiện hành (01/5 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung nội dung “là một nguồn lực” theo tinh thần Nghị quyết 36 vào khoản 1 Điều 19 cụ thể: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” (01/5 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị bổ sung cụm từ “và bảo vệ” vào trước cụm từ “quê hương đất nước” (1/5 ý kiến)

Điều 20 (2 ý kiến, trong đó có 1 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

Khoản 2

– Với quy định này thì vô hình chung chúng ta đã bó hẹp lại quyền của công dân, để quy định cho đầy đủ hơn và đảm bảo nguyên tắc này thì nên bổ sung thêm một cụm từ đằng sau đó là quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định hoặc là không trái với quy định của Hiến pháp và luật (01/2 ý kiến).

– Đề nghị sửa từ “luật” thành từ “pháp luật” hoặc cụm từ “các đạo luật do Quốc hội ban hành” (01/2 ý kiến).

Điều 21 (14 ý kiến, trong đó có 6 ý kiến ở cơ quan, 8 ý kiến cá nhân)

– Tán thành với Điều 21 vì quyền này phù hợp với Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam đã gia nhập (02/14 ý kiến).

– Đề nghị không nên để một điều quá ngắn. Nếu giữ lại thì nên bổ sung thêm là “theo Hiến pháp, pháp luật” (01/14 ý kiến).

– Điều này không rõ nghĩa, dễ gây hiểu lầm là không còn án tử hình và không cho phép phá thai…(01/14 ý kiến). Quy định rất chung chung, quy định như vậy có dẫn tới trường hợp vi hiến hay không khi Bộ luật hình sự vẫn quy định khung hình phạt tử hình (01/14 ý kiến).

– Đề nghị phương án sửa điều này lại để không mâu thuẫn với án tử hình như sau:

+ “Không một ai, một cơ quan nào có thể tước đoạt sinh mệnh, tự do hoặc tài sản của một cá nhân mà không theo một quy trình do pháp luật quy định” (01/… ý kiến)

+ “Công dân có quyền sống” (01/14 ý kiến)

+ “Mọi người đều có quyền sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định về tước quyền sống đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng” (02/14 ý kiến)

+ Mọi người có quyền sống, việc tước bỏ quyền sống theo quy định của pháp luật (01/14 ý kiến).

– Điều này chỉ quy định “Mọi người có quyền sống”, chứ không quy định là mọi người có quyền được sống. Do vậy, không mâu thuẫn với việc duy trì án tử hình (01/14 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi, bổ sung nội dung quy định về quyền sống cho đầy đủ như Điều 6 Công ước; chuyển quy định về quyền này ngay sau Điều 16 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp vì quyền sống là quyền đầu tiên của con người, là tiền đề cho các quyền và nghĩa vụ khác (01/14 ý kiến).

– Đề nghị ghép Điều 21 và Điều 26 lại để quy định cho chặt chẽ, ngắn gọn (01/14 ý kiến); ghép Điều 21 và Điều 22 lại thành một điều là “mọi người sinh ra đều bình đẳng và có quyền sống, quyền tự do và nhu cầu hạnh phúc” (02/14 ý kiến); ghép với Điều 15 (4/14 ý kiến); ghép với Điều 32 để quy định như sau “Mọi người có quyền được sống, được bảo đảm an sinh xã hội” (01/14 ý kiến); ghép vào khoản 1 Điều 46 (02/14 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “tự do, bình đẳng, hạnh phúc” để làm rõ nghĩa hơn về quyền sống (01/14 ý kiến); bổ sung thêm cụm từ “và có quyền mưu cầu hạnh phúc” (03/14 ý kiến) hoặc “có quyền được học tập và mưu cầu hạnh phúc” vào cuối (01/14 ý kiến); bổ sung từ “sinh” trước “sống” (01/14 ý kiến).

– Đề nghị nghiên cứu về quyền được chết (trường hợp sống thực vật, bệnh nặng…) (01/14 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung vào phần cuối câu “Không ai bị tước đoạt mạng sống một cách vô cớ” (01/14 ý kiến).

Điều 22 (8 ý kiến, trong đó có 6 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Không nên quy định điều này mà nên thể chế quy định quyền công dân trong hiến pháp (01/8 ý kiến).

– Đề nghị nghiên cứu, bổ sung vấn đề chuyển đổi giới tính cho cụ thể hơn, phù hợp với tình hình xã hội hiện nay (01/8 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị giữ lại quy định Điều 71 (cũ) “Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật”. Việc giữ lại quy định này phù hợp với quy định tại Khoản 1, 2 Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966; có ý nghĩa thực tiễn để đảm bảo quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân thể tại khoản 1 được thực hiện và là cơ sở của quy định về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam trái pháp luật của khoản 3 Điều 32 (04/8 ý kiến); bổ sung quy định “khi chưa có quyết định của tòa án thì không được giữ người quá 48 tiếng” để tránh trường hợp lạm dụng việc tạm giữ, tạm giam trong thời gian dài, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm và thân thể (01/8 ý kiến).

– Bổ sung đoạn 2 của Điều 71 hiện hành, bỏ cụm từ “nhân dân” sau cụm từ “Toà án” và “Viện kiểm sát” (01/8 ý kiến).

– Đề nghị chỉnh sửa là “Mọi công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” cho chính xác hơn (01/8 ý kiến).

Khoản 3

– Đề nghị bổ sung thêm vào cuối khoản đoạn “và theo quy định của luật” (01/8 ý kiến); “hoặc người giám hộ, người đại diện hợp pháp của người đó” (01/8 ý kiến); “người chưa thành niên phải được sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ” (01/8 ý kiến).

Điều 23 (10 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 5 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị viết lại “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình và được pháp luật bảo hộ” (01/10 ý kiến) hoặc “Công dân có quyền bảo vệ bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình” (02/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung “Không được phép thu thập, lưu giữ, sử dụng và phổ biến thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác nếu không được người đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép” nhằm bảo đảm các cơ quan có thẩm quyền, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động điều tra (01/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “nhân phẩm” sau cụm từ “danh dự” (01/10 ý kiến).

– Đề nghị cần cân nhắc thêm cụm từ “bất khả xâm phạm về quyền riêng tư”, vì trên thực tế rất khó phân biệt ranh giới về quyền riêng tư, nếu không thì nó phát sinh những vấn đề khiếu kiện trong quá trình mà thực hiện quyền riêng tư. Cần thể hiện lại như sau: “về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được nhà nước bảo vệ, không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” (01/10 ý kiến.

– Đề nghị bổ sung là mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người đều bị xử lý theo pháp luật (01/10 ý kiến)

Khoản 2

– Đề nghị cần tránh khe hở giải quyết được vấn đề trao quyền rồi, nhưng mà sau đấy vẫn dùng quyền đấy để sẵn sàng bóc mở bất cứ lúc nào (01/10 ý kiến).

– Việc quy định “việc bóc mở kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định” và quy định “việc khám xét chỗ ở do luật định” tại Điều 37 dễ dẫn đến việc hiểu bóc thư tín có thể là không cần phải luật định, cũng không cần phải thẩm quyền của Quốc hội, do đó là các văn bản dưới luật có thể quy định được, trong khi việc khám xét chỗ ở thì do luật định, đề nghị cách viết các điều này phải thống nhất (01/10 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi đoạn 2 như sau: “Trong trường hợp thật sự cần thiết có quyền bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin” (01/10 ý kiến); thay cụm từ “theo quy định của pháp luật” bằng cụm từ “do pháp luật quy định” (01/10 ý kiến).

– Đề nghị quy định rõ các trường hợp được quyền bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin (01/10 ý kiến).

Điều 24 (2 ý kiến, trong đó có 1 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị bổ sung thêm 1 khoản là “”công dân có nghĩa vụ đăng ký thường trú, mọi người có nghĩa vụ thông báo nơi cư trú mới” (01/2 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “theo quy định của pháp luật” bằng mệnh đề “pháp luật sẽ quy định những điều không được làm của công dân” (01/2 ý kiến).

Điều 25 (ý kiến ở 3 cơ quan)

– Đề nghị sửa lại như sau:

“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm”. (01/3 ý kiến).

– Khoản 1, đề nghị bỏ cụm từ “theo hoặc không theo một tôn giáo nào” vì quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” đã bao hàm nội dung này; thay từ “mọi người” thành từ “công dân” cho phù hợp và bảo đảm kế thừa các bản Hiến pháp trước đây. Khoản 2: đề nghị bổ sung quy định về nơi thờ tự “hợp pháp”, do hiện nay một số tôn giáo ở nhiều địa phương có vi phạm trong việc xây dựng, duy tu, sửa chữa cơ sở thờ tự và đang tồn tại một số cơ sở thờ tự trái phép (01/3 ý kiến).

– Khoản 1: Đề nghị bổ sung quy định “không ai có quyền bắt buộc theo hay không theo một tôn giáo nào”; Khoản 2: Đề nghị bổ sung quy định “không ai được xúc phạm đến niềm tin, lý tưởng, giáo lý của các tôn giáo đang sinh hoạt hợp pháp”. Nghiên cứu bổ sung các nội dung sau: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do bỏ đạo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào theo quy định của pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế. Được tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng phải đoàn kết giữa lương và giáo, các giáo phái, phải hòa hợp dân tộc và tôn giáo, bảo đảm an ninh quốc gia (giáo dân “sống theo Đảng, chết theo Chúa”, sống “tốt đời, đẹp đạo”) (01/3 ý kiến).

Điều 26 (1 ý kiến)

– Cần quy định có sự ràng buộc cụ thể khi thực hiện việc gì và đề nghị thêm cụm từ “được trưng cầu” sau từ “biểu tình”.

Điều 27 (13 ý kiến, trong đó có 8 ý kiến ở cơ quan, 5 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị viết lại điều này cho ngắn gọn hơn (01/13 ý kiến).

– Chỉ cần viết: “Công dân nam nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Ngoài sự bình đẳng giữa công dân nam và nữ, nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện (02/13 ý kiến).

Khoản 1

– Quy định “công dân nam, nữ bình đẳng…” vô hình trung đã loại bỏ những công dân là người chuyển giới hoặc người lưỡng giới tính. Do đó, đề nghị sử dụng từ “công dân” hoặc cụm từ “công dân không phân biệt giới tính” để bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả mọi người (03/13 ý kiến).

– Đề nghị viết lại là “Mọi công dân không phân biệt giới tính có quyền bình đẳng” (01/13 ý kiến) hoặc “Công dân bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” (01/13 ý kiến.

– Đề nghị bổ sung thêm câu: “Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nam và nữ trên mọi lĩnh vực” (01/13 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “một cách dân chủ” vào sau ý “tham gia quản lý Nhà nước và xã hội”; bỏ cụm từ “có quyền ngang nhau” bởi vì “bình đẳng” là đủ (01/13 ý kiến); bỏ từ “nam, nữ” (02/13 ý kiến); bổ sung cụm từ “về cơ hội” sau từ bình đẳng” (01/13 ý kiến); đề nghị sửa khoản này như sau: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” (01/13 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị sửa đổi khoản như sau: “Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong gia đình và xã hội.”(01/13 ý kiến).

– Đề nghị bỏ “nhà nước có chính sách đảm bảo quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi mặt” (01/13 ý kiến); đề nghị thêm cụm từ “có trách nhiệm” và cụm từ “học tập” để nhấn mạnh cho rõ nghĩa, cụ thể như sau “… Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện để phụ nữ học tập, phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội” ” (02/13 ý kiến).

– Khoản 2 trùng lặp với khoản 1, đề nghị bỏ khoản này và sẽ cụ thể hóa trong các luật chuyên ngành (01/13 ý kiến).

Khoản 3

– Khó thực hiện vì phụ thuộc vào yếu tố dân trí và kiến thức v.v. (01/13 ý kiến);

– Đề nghị bổ sung thêm về dân tộc, tôn giáo, màu da (01/13 ý kiến).

Điều 28 (3 ý kiến, trong đó có 2 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị ghép Điều này với Điều 30 viết lại là “công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử” (01/3 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung đoạn “trừ trường hợp đang bị giam giữ hoặc bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự” vào cuối Điều này để đảm bảo tính khả thi (01/3 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “theo quy định của pháp luật” vào phần cuối để loại trừ những người chưa bị tước quyền công dân đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc người vi phạm pháp luật (01/3 ý kiến).

Điều 29 (5 ý kiến, trong đó có 2 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

– Khoản 1, đề nghị làm rõ quyền tham gia của công dân trong quản lý nhà nước và xã hội vì khái niệm về quản lý nhà nước và xã hội quá rộng nên khó có khả năng thực hiện được quyền này trong thực tế. Đề nghị nên quy định “Công dân có quyền giám sát các hoạt động quản lý nhà nước ở xã hội và ở địa phương” cho phù hợp với thực tế (01/5 ý kiến); đề nghị bổ sung cụm từ “cơ sở” trước cụm từ “địa phương” (01/5 ý kiến).

– Khoản 2, đề nghị thay cụm từ “tạo điều kiện” bằng cụm từ “tôn trọng và bảo đảm”(01/5 ý kiến) hoặc “bảo đảm điều kiện” (01/5 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thêm khoản 3 là “nghiêm cấm mọi hành vi của tổ chức, cá nhân ngăn cản quyền tham gia quản lý xã hội của công dân” (01/5 ý kiến).

Điều 30 (ý kiến ở 7 cơ quan)

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Việc trưng cầu dân ý được thực hiện theo quy định của pháp luật. Công dân có quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý” (01/7 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định về những trường hợp cụ thể mà nhà nước phải trưng cầu ý dân nhất là những việc ở cơ sở liên quan trực tiếp đến người dân (02/7 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung nội dung về “quyền phúc quyết của nhân dân” như quy định tại Điều 70 Hiến pháp năm 1946, theo đó xác lập nguyên tắc các vấn đề trọng đại nhất thiết phải đưa ra cho nhân dân phúc quyết. Đây là cơ sở tiến tới xây dựng một đạo luật quy định cụ thể cách thức, trình tự, thủ tục thực hiện quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân (02/7 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định nhân dân có quyền kiến nghị hoặc yêu cầu tổ chức trưng cầu ý dân đối với những vấn đề mà nhân dân bức xúc (phải là vấn đề lớn, liên quan đến lợi ích quốc gia, quyền làm chủ của nhân dân,…) (01/7 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thêm quyền công dân là “đánh giá hoạt động của Quốc hội, điều hành của Chính phủ, các chức danh do Quốc hội, HĐND các cấp bầu hoặc phê chuẩn” để thực sự thể hiện dân chủ trực tiếp (01/7 ý kiến).

– Đề nghị thay từ “quyền” bằng từ “nghĩa vụ” (01/7 ý kiến).

– Quy định “công dân có quyền…” ở Điều này không hợp lý, đề nghị quy định thống nhất như Điều 28 (01/7 ý kiến).

– Đề nghị gộp Điều này thành khoản 3 Điều 29 (01/7 ý kiến).

Điều 31 (6 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị giữ nguyên như Điều 74 Hiến pháp năm 1992 (01/5 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị viết lại là: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan tổ chức, cá nhân khác” (02/6 ý kiến) hoặc “công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại” (01/6 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cả quyền khởi kiện (01/6 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “cơ quan nhà nước” bằng cụm từ “cơ quan, tổ chức, cá nhân”; Khoản 3, đề nghị viết lại là: “Người khiếu nại được pháp luật bảo vệ. Nghiêm cấm việc trả thù…” và bỏ từ “làm hại” vì hậu quả của hành vi vu khống, vu cáo đến mức nào thì bị xử lý sẽ do pháp luật quy định (01/6 ý kiến).

– Đề nghị xem xét lại cách diễn đạt từ ngữ cho nhất quán; viết lại khoản 1 như khoản 4, Điều 32; ghép câu “Người bị thiệt hại…pháp luật” của khoản 2 vào khoản 1 (01/6 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị sửa đoạn cuối khoản 2 như sau: “Người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật” (01/6 ý kiến).

Khoản 3

– Đề nghị sửa lại như sau “nghiêm cấm tố cáo để vu khống” (01/6 ý kiến).

Điều 32 (10 ý kiến, trong đó có 8 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị quy định là: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” (01/10 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị sửa đổi thành: “Không ai bị kết án hai lần về một hành vi phạm tội” cho dễ hiểu hơn (02/10 ý kiến) hoặc “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một hành vi phạm tội” (01/10 ý kiến) hoặc “Người bị buộc tội thì phải được Tòa án đưa ra xét xử. Không ai bị kết án 2 lần về cùng một hành vi phạm tội” (01/10 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi khoản 2 vì chưa thể hiện trọn vẹn nội dung quy định tại khoản 3,4 Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Việc diễn đạt quy định “không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” quá ngắn gọn dẫn đến chưa chính xác và chưa chặt chẽ như quy định tại khoản 7 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Đề nghị diễn đạt lại khoản 2 như sau: “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử trong thời hạn do luật định. Không ai bị xét xử hoặc bị trừng phạt hai lần về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án theo quy định của luật” (02/10 ý kiến).

– Đề nghị bỏ câu đầu khoản 2 (01/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “cùng một thời điểm” (01/10 ý kiến).

Khoản 3

– Đề nghị sửa đổi bổ sung khoản 3 về việc người bị truy tố có quyền được nhận sự trợ giúp pháp lý chỉ định miễn phí theo quy định của luật và quyền có sự trợ giúp pháp lý theo lựa chọn của họ, phù hợp với nội dung quy định tại điểm d khoản 3 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 như sau:“Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền được nhận sự trợ giúp pháp lý chỉ định miễn phí theo quy định của luật; có quyền chọn lựa sự trợ giúp pháp lý theo yêu cầu trong các trường hợp khác” (02/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “trừ trường hợp xâm phạm an ninh quốc gia” vào cuối (01/10 ý kiến); bổ sung thêm cụm từ “thi hành án” sau từ “xét xử” (01/10 ý kiến); bỏ cụm từ “có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa”, bởi vì cụm từ này đã được quy định ở Luật trợ giúp pháp lý và Luật luật sư (01/10 ý kiến).

– Khoản này chưa thống nhất với khoản 7 Điều 108 Dự thảo, quy định tại khoản 7 Điều 108 rõ ràng hơn, vì vậy cân nhắc lại khoản này (01/10 ý kiến).

Khoản 4

– Bổ sung từ “nghiêm minh” vào sau từ “xử lý” (01/10 ý kiến); bổ sung từ “yêu cầu” sau cụm từ “có quyền” (01/10 ý kiến).

Điều 33 (4 ý kiến, trong đó có 2 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị sửa đổi khoản 2 như sau: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật thừa nhận, tôn trọng và bảo hộ” (01/4 ý kiến).

– Đề nghị quy định gọn, không liệt kê tất cả các tài sản vừa thừa lại vừa thiếu (01/4 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc đưa nội dung quy định này về Chương III – Kinh tế…. Bởi vì, quyền sở hữu hợp pháp khác với quyền sở hữu tư nhân, nếu nói quyền sở hữu tư nhân tức là nói chế độ sở hữu do đó quy định ở Chương này không hợp lý. Hơn nữa, nếu chỉ nói sở hữu tư nhân được bảo hộ còn sở hữu Nhà nước, sở hữu chung, sở hữu tập thể? (01/4 ý kiến).

– Đề nghị khẳng định trong Hiến pháp quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế (01/4 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quyền sử dụng đất vào quyền sở hữu; bổ sung về việc pháp luật bảo hộ đối với các quyền sở hữu khác (01/4 ý kiến)

Điều 34 (5 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị bỏ, vì trùng lắp với khoản 1 Điều 56 (01/5 ý kiến).

– Đề nghị viết lại Điều này cho gọn là “Mọi người có quyền được tự do kinh doanh và được nhà nước bảo vệ quyền tự do kinh doanh đó theo pháp luật” (01/5 ý kiến) hoặc “Quyền tự do kinh doanh chỉ được giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức và sức khỏe, lợi ích của cộng đồng theo quy định của pháp luật.” (01/5 ý kiến)

– Khoản 1, đề nghị bổ sung“theo quy định của pháp luật” cho thống nhất với Điều 57 là “tổ chức, cá nhân được tự do kinh doanh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước theo quy định của pháp luật” hoặc “theo pháp luật” như HP92 (02/5 ý kiến).

Điều 35 (6 ý kiến, trong đó có 3 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị sửa thành “Công dân có nghĩa vụ tham gia và có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (01/6 ý kiến); “Nhà nước có chính sách để bảo đảm an sinh xã hội cho công dân” hoặc “Công dân có quyền an sinh xã hội, được bảo đảm những nhu cầu cơ bản tối thiểu.”(01/6 ý kiến)

– Đề nghị cân nhắc quy định này, do an sinh xã hội là vấn đề lớn, gồm nhiều mặt: khám, chữa bệnh, học hành, thất nghiệp, nhà ở,… Nhà nước không thể bảo đảm hết mọi mặt được (01/6 ý kiến).

– Bỏ quy định “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước…” là không phù hợp, vì nhóm đối tượng đặc biệt này là những người có công với nước, đóng góp phần xương máu cho Tổ quốc; đề nghị giữ nguyên Điều 67 của Hiến pháp hiện hành (01/6 ý kiến).

– Đề nghị không nên để chữ “có quyền”, nếu không thì phải cân nhắc lại nên quy định như thế nào để đảm bảo được cho dân nhưng không trở thành hình thức mà cũng không để sau này chúng ta lại phải mắc nợ với dân (01/6 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thêm một khoản là Khoản 2 khẳng định thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng được chăm sóc, khen thưởng và hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước (01/6 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung từ chỉ chủ thể “Nhà nước” trước cụm từ “bảo đảm an sinh xã hội”(01/6 ý kiến).

Điều 36 (ý kiến ở 3 cơ quan)

– Khoản 1, đề nghị bổ sung cụm từ “Không được di dân tự do” vào sau cụm từ “có nơi ở hợp pháp”, sửa lại thành “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp, không được di dân tự do” vì hiện nay việc di dân tự do diễn biến phức tạp (01/3 ý kiến).

– Khoản 1, đề nghị bổ sung cho rõ (theo quy định của Luật cư trú) và sửa là: “Công dân có quyền có nhà ở, đất ở, nơi ở hợp pháp” (01/3 ý kiến); thay cụm từ “công dân” bằng cụm từ “mọi người” (01/3 ý kiến).

Điều 37 (ý kiến ở 1 cơ quan)

– Khoản 2, đề nghị bỏ cụm từ “hợp pháp”, tránh áp dụng tùy tiện, xâm phạm quyền cơ bản của công dân.

Điều 38 (7 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị cần quy định rõ hơn đảm bảo ngắn gọn, dễ hiểu (01/7 ý kiến); bổ sung cụm từ “”Nhà nước có chính sách bảo đảm” vào đầu khoản 1 (01/7 ý kiến).

– Đề nghị viết lại như sau: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc. Nhà nước, xã hội, gia đình ưu tiên việc làm phù hợp đối với nữ” (01/7 ý kiến).

– Đề nghị quy định “Công dân có quyền làm việc” hoặc sửa đổi như sau “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi người có quyền làm việc, lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc” (01/7 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung vào cuối khoản này cụm từ “theo quy định của pháp luật” (01/7 ý kiến).

Khoản 2

– Quy định “nghiêm cấm sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật” là chưa đủ vì ngoài đối tượng này còn có người già, phụ nữ có thai, tàn tật v.v. (01/7 ý kiến). Có thể quy định chung là “nghiêm cấm sử dụng lao động trái quy định của pháp luật”, chi tiết sẽ thể hiện trong Luật lao động và các văn bản quy phạm pháp luật khác (01/7 ý kiến).

Hoặc sửa lại là: “Cấm các hành vi không thực hiện chính sách hỗ trợ lao động dành cho phụ nữ với tư cách là người mẹ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; hành vi sử dụng người lao động chưa đủ tuổi thành niên trái pháp luật” (01/7 ý kiến).

Hoặc: Nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng người lao động chưa thành niên trái pháp luật và nghiêm cấm các hành vi không thực hiện các chính sách hỗ trợ dành cho lao động nữ” (01/7 ý kiến).

– Bổ sung khoản 3 như sau: “Nhà nước đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động, quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động” (01/7 ý kiến)

Điều 39 (8 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 4 ý kiến cá nhân)

– Đề xuất sửa đổi Điều 39 như sau:

“1. Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.

2. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn theo luật. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

3. Nghiêm cấm mọi hành vi bạo lực gia đình.”(01/8 ý kiến).

– Đề nghị giữ nguyên câu “gia đình là tế bào của xã hội, cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành công dân tốt, con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà cha mẹ” ở Điều 64 của HP92 trong dự thảo mới vì đây là nền tảng của đạo đức xã hội; giữ lại nội dung của Điều 66 của HP92 về vai trò của thanh niên, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, xã hội đối với thanh niên (01/8 ý kiến).

Khoản 1

– Việc quy định “Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn” không bảo đảm quyền kết hôn và lập gia đình cho người đồng tính, song tính và chuyển giới. Vì vậy, đề nghị sửa lại điều luật này là: “Mọi công dân có quyền kết hôn và ly hôn. Hai người độc thân có quyền kết hôn theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, tôn trọng lẫn nhau”. Đề nghị đưa nội dung:“Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ” đã được quy định tại Điều 64 của Hiến pháp hiện hành vào Điều này để thể hiện đạo lý, văn hóa và trách nhiệm của người Việt Nam (01/8 ý kiến).

– Đề nghị bỏ từ “tiến bộ” vì không rõ nghĩa (01/8 ý kiến); thay các từ “nam” “nữ” bằng cụm từ “mọi người” (02/8 ý kiến) hoặc “công dân” (01/8 ý kiến); bổ sung cụm từ “yêu thương, giúp đỡ” sau cụm từ “lẫn nhau” và bổ sung thêm đoạn cuối “cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc” (01/8 ý kiến); bổ sung cụm từ “theo quy định của pháp luật” vào cuối khoản này (01/8 ý kiến)

– Khoản 2, đề nghị bỏ cụm từ “bảo hộ” vì không phát huy được giá trị thực tế của gia đình; bổ sung từ “hợp pháp” sau từ “gia đình” (01/8 ý kiến)

– Khoản 3, đề nghị bổ sung nội dung “Cấm hôn nhân cận huyết thống” (01/8 ý kiến)

Điều 40 (4 ý kiến, trong đó có 2 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị viết lại như sau: “Trẻ em có quyền được gia đình, nhà trường, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Nhà nước có các chính sách nhằm phát triển toàn diện cho trẻ em đặc biệt là trẻ em gái” (01/4 ý kiến).

– Đề nghị quy định cụ thể để thể hiện rõ trẻ em ở đây là dưới 18 tuổi (01/4 ý kiến).

– Quyền trẻ em chưa thể hiện hết nội dung Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989 mà Việt Nam đã ký kết; đề nghị quy định về quyền được tham gia của trẻ em trong Hiến pháp. Nên sửa khoản 1 lại là: “Trẻ em có quyền được Nhà nước cùng gia đình, nhà trường, xã hội và cộng đồng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” (01/4 ý kiến).

Khoản 2:

– Đề nghị bổ sung nghiêm cấm các hành vi “sao nhãng, bị bắt cóc, bị buôn bán ở trẻ em” (01/4 ý kiến).

– Đề nghị viết lại như sau: “Nghiêm cấm phân biệt đối xử trẻ em, xúi giục, lôi kéo, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (01/4 ý kiến).

Điều 41 (ý kiến ở 2 cơ quan)

Khoản 1

Đề nghị sửa lại là “mọi người có quyền bảo vệ sức khỏe” cho đầy đủ hơn (01/2 ý kiến) hoặc “Mọi người có quyền được bảo vệ sức khỏe; bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh.”01/2 ý kiến).

Điều 42 (8 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị nên có một chế định kèm theo khẳng định nhà nước tạo điều kiện cho công dân được học tập vì đây là trách nhiệm của nhà nước trong điều kiện xây dựng xã hội học tập và xã hội hóa các hoạt động học tập (01/8 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau:

“ 1. Mọi người có quyền và nghĩa vụ học tập, học văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức.

2. Giáo dục tiểu học là bắt buộc, sẵn có và miễn phí cho tất cả mọi người.

3. Nhà nước và xã hội cần tạo điều kiện để học sinh có năng khiếu được học tập để phát triển tài năng.

4. Nhà nước và xã hội cần tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được học văn hóa và học nghề phù hợp” (02/8 ý kiến)

Hoặc sửa đổi thành“Nhà nước có chính sách bảo đảm cho công dân học tập” (01/8 ý kiến).

– Nội dung Điều này mới quy định trách nhiệm của công dân mà chưa làm rõ trách nhiệm của Nhà nước, trên thực tế có nhiều người rất muốn học tập nhưng không thể học được vì nhiều lý do như nghèo, gia cảnh khó khăn, thiếu sự hỗ trợ của Nhà nước. Do đó đề nghị bổ sung nội dung như sau “Nhà nước có trách nhiệm thực hiện chính sách học phí, học bổng phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước” (01/8 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung đoạn: “Học tập là quyền và nghĩa vụ công dân; giáo dục mầm non, bậc tiểu học là giáo dục bắt buộc không phải trả tiền học, không phải trả học phí” (01/8 ý kiến).

– Đề nghị giữ lại câu “ Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí” của Điều 59 Hiến pháp hiện hành (3/8 ý kiến).

– Đề nghị giữ quy định “giáo dục trung học cơ sở là bắt buộc” như quy định hiện hành của Hiến pháp 1992 và bỏ từ “miễn phí”, vì nước ta có một bộ phận cư dân đời sống khá hơn, cho nên không thể bao cấp tất cả (01/8 ý kiến).

– Đề nghị thay từ “công dân” bằng “mọi người” (01/8 ý kiến).

Điều 43 (6 ý kiến, trong đó có 3 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị bổ sung nội dung tại khoản 1:“Mọi người có quyền tự do nghiên cứu khoa học và công nghệ; sáng tạo văn học, nghệ thuật”, phù hợp với khoản 3 Điều 15 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 quy định các nước thành viên cam kết tôn trọng quyền tự do không thể thiếu đối với nghiên cứu khoa học và các hoạt động sáng tạo (02/6 ý kiến).

– Đề nghị viết lại thành “Mọi người có quyền nghiên cứu.., nghệ thuật; công bố kết quả và được nhà nước bảo hộ kết quả theo luật định” (01/6 ý kiến).

– Đề nghị thay “mọi người” bằng “công dân” (01/6 ý kiến); bổ sung “theo quy định của pháp luật”; bổ sung từ “sáng tạo” để phù hợp với Khoản 2 Điều 67 (01/6 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị sửa đổi khoản 2 như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ được nhà nước tôn trọng và bảo vệ” (01/6 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “trong thời gian hạn định”, như vậy sửa khoản 2 thành “Quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước bảo hộ trong thời gian hạn định” cho phù hợp với quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và công ước quốc tế (01/6 ý kiến).

– Đề nghị đưa khoản 3 của Điều 67 lên thành Đoạn 2 của khoản này, gắn quyền nghiên cứu KH&CN, sáng tạo văn học, nghệ thuật với trách nhiệm của Nhà nước; nên viết lại thành “Mọi người có quyền…nghệ thuật. Nhà nước tạo thuận lợi cho mọi người tham gia và được hưởng thụ lợi ích từ các hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và sáng tạo văn học, nghệ thuật” (01/6 ý kiến).

Điều 44 (ý kiến ở 3 cơ quan)

– Tán thành với nội dung Điều 44, phù hợp với quy định tại điểm a,b khoản 1 Điều 15 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (01/3 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi Điều 44 vì cách thể hiện tại Dự thảo chưa thể hiện đúng quy định tại Công ước và tiềm ẩn khả năng suy diễn “quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa” là quyền được hưởng thụ miễn phí các giá trị văn hóa, trong đó giá trị văn hóa bao gồm cả các tác phẩm văn học, nghệ thuật, nghĩa là có nguy cơ mâu thuẫn với quy định tại khoản 2 Điều 43 “quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước bảo hộ”. Đề nghị sửa đổi Điều 44 như sau: “Mọi người có quyền hưởng thụ các tiến bộ khoa học và các ứng dụng tiến bộ khoa học; quyền tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa”, bỏ khoản 3 Điều 67 vì nội dung này đã bao hàm trong Điều 44 được đề xuất viết lại như trên (02/3 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung “mọi người có quyền hưởng thụ, nâng cao, phát triển các giá trị văn hóa…” và thêm “mọi người có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn các cơ sở văn hóa, các giá trị văn hóa” (01/3 ý kiến).

Điều 45 (9 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 5 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị cân nhắc nội dung Điều này, bởi vì quy định “Sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ” nhưng không biết mẹ đẻ, cha đẻ là ai thì sẽ sử dụng ngôn ngữ nào; hoặc quy định “tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”, vậy trường hợp thầy giáo hỏi bằng tiếng Việt, học sinh trả lời bằng tiếng Mường được không? (01/9 ý kiến).

– Đề nghị chỉnh sửa thành “Mọi người ai cũng có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” (01/9 ý kiến) hoặc “Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông, Nhà nước tôn trọng và bảo vệ ngôn ngữ của tất cả các dân tộc” (01/9 ý kiến) hoặc “Công dân có quyền xác định dân tộc, giới tính của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” (01/9 ý kiến)

+ Đề nghị quy định “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình” do quyền sử dụng ngôn ngữ đã được quy định tại khoản 3 Điều 5 (01/9 ý kiến).

– Quy định “Công dân có quyền … sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” như trong Dự thảo sẽ dẫn đến khó khăn khi thực hiện trên thực tế. Đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại điều này thành: “Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông, Nhà nước tôn trọng và bảo vệ ngôn ngữ của các dân tộc khác” (01/9 ý kiến).

– Việc quy định là “công dân có quyền được xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” so với quy định của Toà án tại Điều 133 của hiến pháp hiện hành thì nó hẹp hơn nhưng lại rất rộng ở trong đời sống thường ngày như vậy thì tính khả thi của quy định này rất cần phải xem lại (01/9 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” thành “sử dụng ngôn ngữ dân tộc mình, quyền lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” (03/9 ý kiến); thay từ “tự do” thành “quyền” (01/9 ý kiến); bổ sung từ “được” vào sau cụm từ “có quyền” (01/9 ý kiến).

Điều 46 (ý kiến ở 3 cơ quan)

Khoản 1

– Đề nghị quy định rõ môi trường trong lành là như thế nào? (01/3 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung vào cuối khoản đoạn “và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” (01/3 ý kiến).

Khoản 2

– Quy định tại khoản này và khoản 1 Điều 68 trùng nhau, đề nghị xem xét lại cho phù hợp; nên bỏ khoản này vì Điều 68 đã bao hàm nội dung này (01/3 ý kiến).

Điều 47 (6 ý kiến, trong đó có 3 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị sửa lại là “Mọi người có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất” vì có trường hợp phạm nhân đã mất quyền công dân nhưng trong lòng họ vẫn có Tổ quốc và yêu nước (01/6 ý kiến).

– Đề nghị xác định rõ tội phản bội Tổ quốc là như thế nào (01/6 ý kiến).

– Quy định phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất được viết như văn nói, đề nghị thể hiện lại cho đúng với thuật ngữ pháp lý, chẳng hạn như “… phản bội Tổ quốc là tội đặc biệt nghiêm trọng” (01/6 ý kiến).

– Đề nghị thay đoạn “Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất” bằng đoạn “Phản bộ Tổ quốc sẽ bị nghiêm trị” (01/6 ý kiến); thay “tội nặng nhất” thành “tội lớn”, luật cụ thể sẽ quy định về mức độ (01/6 ý kiến).

– Đề nghị bỏ câu “Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.” (02/6 ý kiến)

Điều 48 (8 ý kiến, trong đó có 3 ý kiến ở cơ quan, 5 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị cân nhắc khi quy định “nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự” trong Dự thảo; có thể quy định rõ hơn, tránh gây hiểu nhầm là công dân được quyền thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự và viết lại như sau:

“Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân;

Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân;

Công dân được (hoặc viết là Trường hợp Nhà nước không gọi thực hiện nghĩa vụ quân sự thì công dân được) thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định”.

– Đề nghị viết lại thành “Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân theo luật định” (01/8 ý kiến).

– Đề nghị sửa lại là “công dân có quyền thực hiện nghĩa vụ quân sự” cho rõ nghĩa (01/8 ý kiến) hoặc “Công dân có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ quân sự” (01/8 ý kiến).

– Đề nghị bỏ câu “việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định” (02/8 ý kiến).

– Đề nghị thay câu “việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định” bằng câu “nếu không được gọi làm nghĩa vụ quân sự tại ngũ thì có nghĩa vụ lao động đóng góp xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo luật định” ; thay từ “phải làm” bằng cụm từ “có trách nhiệm” (01/8 ý kiến); thay cụm từ “làm nghĩa vụ quân sự” thành cụm từ “thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc” (02/8 ý kiến).

Điều 49 (ý kiến ở 1 cơ quan)

– Đề nghị bổ sung cụm từ “tham gia xây dựng nền an ninh nhân dân” và viết lại như sau: “Công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, tham gia xây dựng nền an ninh nhân dân, chấp hành những qui tắc sinh hoạt công cộng”.

Điều 50 (5 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

– Nội dung quy định tại Điều này không chính xác, bởi vì quy định “mọi người” nhưng thực tế chỉ có những đối tượng do luật quy định mới phải nộp thuế (01/5 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật”, vì trên thực tế ngoài nghĩa vụ nộp thuế thì công dân còn thực hiện rất nhiều nghĩa vụ tài chính khác (01/5 ý kiến).

– Đề nghị sửa lại là “Mọi người có thu nhập có nghĩa vụ nộp thuế” để tránh hiểu lầm người không có thu nhập, trẻ em cũng phải nộp thuế (01/5 ý kiến).

– Đề nghị thay từ “công dân” bằng từ “mọi người”; bổ sung cụm từ “ theo quy định của pháp luật” cho chặt chẽ hơn, cụ thể là “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật” (03/5 ý kiến).

Điều 52 (ý kiến ở 1 cơ quan)

– Đề nghị bổ sung cụm từ “nhân phẩm” sau cụm từ “tính mạng” vì đối với người nước ngoài cư trú ở Việt Nam, bên cạnh việc bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam, Nhà nước còn có trách nhiệm bảo hộ nhân phẩm của những người này.

Điều 52 (ý kiến ở 3 cơ quan)

– Đề nghị sửa đổi thành: “Người nước ngoài đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú”. Quy định như vậy đầy đủ, bao quát và chính xác hơn vì cách hiểu “chủ nghĩa xã hội” hiện nay rất khác nhau (02/3 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “sự nghiệp khoa học” bằng “sự tiến bộ xã hội” cho bao quát hơn (01/3 ý kiến).

4. Về Chương III, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Tổng số có 65 ý kiến góp ý vào Chương III, trong đó có 14 ý kiến ở cơ quan, 51 ý kiến của cá nhân.

– Ý kiến tập trung vào các Điều 54, 58, 62.

– Về tên chương:

+ Đề nghị đặt tên Chương là “Phát triển kinh tế – xã hội”, tránh cách viết liệt kê vừa không đủ, vừa dài; bổ sung thêm cụm từ “tài nguyên thiên nhiên” cho phù hợp với nội dung của Chương; đề nghị thể hiện khái quát nhất, cốt lõi nhất, cô đọng nhất các nội dung của Cương lĩnh dưới văn phong Hiến pháp. (01/65 ý kiến).

+ Đề nghị đổi tên Chương thành “Kinh tế và xã hội”. Tiếp tục rà soát lại một số điều, khoản để quy định cho thống nhất với các điều, khoản liên quan tại Chương II; thể hiện lại ngôn ngữ cho đúng văn phong pháp lý. Đề nghị quy định cụ thể, rõ ràng hơn đối với giáo dục, y tế, không nên đặt mục tiêu chung chung “giáo dục tiên tiến, khoa học hiện đại” (01/65 ý kiến).

– Về nội dung:

+ Chưa thể hiện được mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường là quan điểm lớn cần thể hiện trong Hiến pháp, thiếu yếu tố tài nguyên (01/65 ý kiến)

+ Đề nghị xem xét có ghi nhận vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong Hiến pháp không; có tiếp tục hiến định đất đai thuộc sở hữu toàn dân không; sử dụng khái niệm “thu hồi đất” hay “trưng thu/trưng mua” mới chính xác (01/65 ý kiến).

+ Đề nghị tách ra thành Chương “Chế độ kinh tế” riêng như Hiến pháp 1992, nhưng cần bổ sung việc phát triển bền vững, việc bảo vệ tài nguyên môi trường, gắn với phát triển kinh tế xanh (01/65 ý kiến).

+ Đề nghị đưa Điều 54 lên trước Điều 53 để khẳng định mô hình của nền kinh tế (02/65 ý kiến).

+ Đề nghị nghiên cứu sắp xếp các Điều 66 và 67 về thành một Điều có nhiều khoản để cho ngắn gọn, không trùng lặp, rườm rà; đảm bảo quy định có sự thống nhất giữa khoa học và giáo dục; từ đó tạo điều kiện cho đầu tư tập trung, tránh dàn trải nhằm thực hiện được nguyên tắc “Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” (02/65 ý kiến)

+ Đề nghị: Bổ sung một khoản tại Chương III quy định về: (1)Kinh tế tri thức để khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tri thức. (2)Chính sách trọng dụng nhân tài vì đây là chính sách bảo đảm nguồn nhân lực có chất lượng cao trong phát triển kinh tế, cần đề cao để trở thành quốc sách quan trọng (02/65 ý kiến )

+ Việc quy định quyền sử dụng đất là quyền tài sản dễ dẫn đến mâu thuẫn vì đã xác định quyền sử dụng đất là quyền tài sản tức là có quyền sở hữu và các quyền liên quan, việc thu hồi đất là không hợp lý vì quyền tài sản thì nhà nước phải trưng mua, trưng thu (02/65 ý kiến)

+ Đề nghị thuyết minh cụ thể hơn về việc ghép hai chương II và III của Hiến pháp hiện hành thành Chương III như Dự thảo để làm rõ hơn tuyên ngôn của Nhà nước về nội dung kinh tế và các nội dung có liên quan là văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường. (02/65 ý kiến)

+ Những vấn đề về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, công nghệ và môi trường là những phạm trù có thể thay đổi theo thời gian và định hướng phát triển của Đảng, Nhà nước ta trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước, do đó, trong Hiến pháp cần tiếp tục rà soát để quy định khái quát hơn nữa, mang tính nguyên tắc để bảo đảm tính ổn định, lâu dài của Hiến pháp. Vì vậy, các điều 52, 55, 56, 63, 64, 66, 67 cần được viết khái quát, cô đọng để vừa ngắn gọn, vừa bao quát hết được nội hàm cần quy định (02/65 ý kiến)

+ Dự thảo nhấn mạnh đường lối ưu tiên phát triển từng lĩnh vực văn học, nghệ thuật, giáo dục, khoa học và công nghệ (các điều 65, 66 và 67). Tuy nhiên, với quy định như vậy quá chi tiết trong khi không thể bao hàm các lĩnh vực khác cũng rất quan trọng cho sự phát triển của đất nước (02/65 ý kiến).

– Về bố cục Chương:

+ Đề nghị sửa đổi Điều 62 và Điều 66 để làm nổi bật vai trò, trách nhiệm chủ đạo của Nhà nước trong việc đầu tư và phát triển 02 lĩnh vực này; đề nghị thiết kế một điều riêng về chính sách của Nhà nước đối với các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn (người cao tuổi, khuyết tật, trẻ mồ côi, đồng bào sống ở vùng khó khăn) được hưởng chính sách ưu đãi theo luật; ghép Điều 62 và Điều 41 lại theo logic thể hiện quyền, nghĩa vụ rồi đến bảo đảm của Nhà nước như sau:

“- Công dân (hay mọi người) có quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong tiếp cận và được cung cấp các dịch vụ y tế.

– Có nghĩa vụ thực hiện các quy định phòng bệnh, khám, chữa bệnh…

– Nhà nước đảm bảo để mọi người được chăm sóc sức khỏe.

– Nhà nước ban hành chính sách đầu tư …

– Phát triển nền y học Việt Nam.”(01/65 ý kiến)

+ Đề nghị bổ sung các nội dung liên quan nhằm quy định rõ về ngân sách nhà nước, nguyên tắc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, quỹ ngân sách nhà nước như sau:

“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.

Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm.

Thu ngân sách nhà nước phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Không được phép đặt ra các khoản thu, chi trái với quy định của pháp luật.

Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi đã có trong dự toán ngân sách được giao; bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

Các khoản thu, chi của ngân sách nhà nước phải được hạch toán, kế toán, kiểm toán, quyết toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ.

Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao; trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển.

Quỹ ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, có trên tài khoản của ngân sách nhà nước các cấp. Quốc hội quyết định việc thành lập quỹ. Không được phép hình thành các quỹ ngoài NSNN nếu chưa được Quốc hội quyết định”. (01/65 ý kiến)

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 53 (8 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị bổ sung việc xây dựng nền kinh tế tri thức vào điều này (02/8 ý kiến)

– Không nên ghép Điều 15 với Điều 43 vì hai lĩnh vực khác nhau, việc ghép lại như vậy là không phù hợp, nên giữ lại Điều 15 của Hiến pháp hiện hành (01/8 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung cụm từ “phát triển” trước cụm từ “độc lập tự chủ”(01/8 ý kiến), diễn đạt lại điều này cho khái quát, chặt chẽ hơn như sau: Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, tích cực hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế. Phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường (01/8 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “hội nhập quốc tế” bằng cụm từ “hợp tác quốc tế” tại Điều 53 cho phù hợp với chủ trương và thực tiễn hợp tác quốc tế hiện hay của Việt Nam. (01/8 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc lại việc quy định nội dung “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” tại Điều này (01/8 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung mục đích, yêu cầu phát triển bền vững (02/8 ý kiến)

Điều 54 (10 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 5 ý kiến cá nhân)

– Nhất trí với dự thảo (5/10 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung quy định cụ thể các hình thức sở hữu vốn và thành phần kinh tế để làm cơ sở cho việc xây dựng hành lang pháp lý vận hành nền kinh tế theo định hướng đổi mới của Đảng (2/10 ý kiến).

– Đề nghị nên khẳng định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân (4/10 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung nội dung sở hữu nhà nước là nền tảng để đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế đã được quy định trong dự thảo (01/10 ý kiến)

– Đề nghị giữ lại Điều 19 chuyển thành khoản 3 của điều này (01/10 ý kiến)

– Nhất trí với việc sửa Điều 15, Điều 16 Hiến pháp hiện hành nhưng cần sửa đổi, bổ sung một cách hợp lý theo quy định của cương lĩnh, của Đảng đó là thúc đấy xã hội hoá các thành phần kinh tế và sở hữu (01/10 ý kiến)

– Đề nghị chuyển Điều 54 thành Điều 53 để bảo đảm logic; đánh giá cao việc bỏ cụm từ “doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo” và thể hiện bao quát như nội dung tại điều này (01/10 ý kiến). Tuy nhiên có ý kiến đề nghị thể hiện lại vai trò kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể trong Hiến pháp cho thống nhất với Cương lĩnh xây dựng đất nước (01/10 ý kiến).

+ Đề nghị cân nhắc thể hiện các nội dung trong Điều này phù hợp với tính chất của một bản Hiến pháp là văn bản pháp lý tồn tại lâu dài, khác với các nghị quyết của Đảng chỉ áp dụng cho một thời kỳ nhất định;đề nghị bổ sung, sửa đổi Điều này theo hướng chỉ thể hiện nội hàm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Việt Nam mà không đi theo cách thể hiện khẳng định cứng nhắc, cụ thể như sau:

“1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế gồm nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật; trong đó kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo trong một số lĩnh vực có tầm quan trọng đối với an ninh, quốc phòng, tạo ra hàng hóa thiết yếu cho nền kinh tế và những ngành đặc thù.” (01/10 ý kiến)

– Các quy định về chế độ kinh tế chưa phản ánh cụ thể, đầy đủ các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc khắc phục, hạn chế những mặt trái của nền kinh tế thị trường. Vì vậy, đề nghị:

+ Quy định rõ nội hàm khái niệm kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa” là nền kinh tế thị trường được xây dựng và bảo đảm phát triển bởi Nhà nước xã hội nghĩa, có đầy đủ đặc trưng của nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước; thể hiện rõ hơn về chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp.

+ Quy định nhằm nhấn mạnh hơn đến vai trò của nhà nước. Theo đó, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước thể hiện vai trò định hướng, điều tiết, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn liền với giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội, bảo đảm công bằng, an sinh xã hội vì lợi ích của nhân dân.

+ Quy định rõ hơn định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường nhằm tránh cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất, tạo cạnh tranh không bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác (01/10 ý kiến)

Khoản 1:

– Đề nghị bổ sung thêm cho đầy đủ là “nền kinh tế Việt Nam…xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và kinh tế nhà nước được củng cố và phát triển nhất là trong các ngành và lĩnh vực then chốt giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” (02/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối” vào cuối khoản để làm rõ hơn tính chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không chỉ bó hẹp ở quan hệ sở hữu hay thành phần kinh tế. (01/10 ý kiến)

– Đề nghị giữ quy định về mục đích chính sách kinh tế tại Điều 16 của Hiến pháp hiện hành và quy định tại Điều 19 của Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện đầy đủ kết luận của Trung ương khi Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp xin ý kiến Bộ Chính trị về vấn đề này, quy định tại Dự thảo là quá chung chung, khó thực hiện; việc khẳng định rõ nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm mục đích thỏa mãn ngày càng cao về vật chất, tinh thần của nhân dân;cần cân nhắc việc không quy định kinh tế nhà nước làm vai trò chủ đạo, bởi vì nếu không quy định như vậy thì một số bộ phận cấu thành kinh tế nhà nước như doanh nghiệp nhà nước, hệ thống bảo hiểm cũng sẽ bình đẳng cạnh tranh theo quy luật thị trường và tuân thủ pháp luật? (01/10 ý kiến)

Khoản 2:

– Đề nghị thay “lâu dài” thành “bền vững” cho chính xác hơn (01/10 ý kiến); bỏ cụm từ “lâu dài” vì đây là khái niệm chung chung, khó xác định thế nào là lâu dài (01/10 ý kiến); bỏ các cụm từ “cùng phát triển lâu dài, hợp tác”; “và cạnh tranh theo pháp luật” vì trùng lặp với Điều 56 (01/10 ý kiến).

– Đề nghị quy định bổ sung nội dung “các thành phần kinh tế phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”; sửa đổi lại thành “nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để khẳng định tất cả các thành phần kinh tế cũng phải phát triển theo định hướng chủ nghĩa xã hội; bổ sung nội dung “nhà nước đảm bảo và tạo điều kiện thuận lợi bình đẳng để các thành phần kinh tế có thể phát triển, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước” cho rõ ràng hơn; bổ sung nội dung “Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho từng thành phần kinh tế theo yêu cầu phát triển của đất nước trong mỗi thời kỳ” cho đầy đủ; cân nhắc giữ quy định về “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”; giữ quy định về vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể do hiện nay Nhà nước nắm giữ một khối lượng tài sản lớn như đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi thủy sản…, hơn nữa; cân nhắc lại quy định về các thành phần kinh tế “bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật” vì dưới góc độ pháp lý, không có sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế mà chỉ có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (01/10 ý kiến).

Điều 55 (3 ý kiến, trong đó có 2 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị cân nhắc lại quy định “Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo quy luật thị trường” vì thực tế hiện nay nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường nhưng định hướng xã hội chủ nghĩa hay kinh tế thị trường nhưng có quản lý nhà nước, còn quy luật thị trường mới chỉ tồn tại ở mức độ nhất định và được áp dụng trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong giai đoạn quá độ và tiến lên chủ nghĩa xã hội. (01/3 ý kiến); đề nghị bỏ quy định về Nhà nước “xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế” vì muốn bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo quy luật thị trường thì trong quá trình điều hành nền kinh tế tất yếu phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế. (01/3 ý kiến)

– Có ý kiến cho rằng: Điều này nên thể hiện rõ ràng hơn cụ thể cần nhấn mạnh: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều hình thức tổ chức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Mục đích phát triển kinh tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. Ngoài ra chỉ cần nêu rõ các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật. Nếu nêu rõ 4 thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo sẽ không phù hợp với nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, có thể sẽ làm cản trở quá trình phát triển cạnh tranh lành mạnh của các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển tất yếu sẽ có sự thay đổi về cấu trúc nền kinh tế và các thành phần kinh tế. Hiến pháp phải đảm bảo tính ổn định, nếu nêu 4 thành phần kinh tế sẽ khó đảm bảo tỉnh ổn định của Hiến pháp. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo sẽ dẫn đến độc quyền, nhà nước khó kiểm soát trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. (01/3 ý kiến)

Khoản 1

– Đề nghị không bỏ từ “bảo đảm” (01/ 3 ý kiến)

Điều 56 (4 ý kiến, trong đó có 3 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

– Chưa bao quát đầy đủ, toàn diện các nghĩa vụ tài chính của công dân, vì trên thực tế, các cá nhân ngoài nghĩa vụ nộp thuế còn phải thực hiện nhiều nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật (như nộp các khoản phí, lệ phí, các khoản đóng góp tài chính mang tính bắt buộc khác…). Quy định tại Điều này chưa đồng bộ và phù hợp để xác định rõ hơn, đầy đủ và toàn diện hơn trách nhiệm, nghĩa vụ tài chính của công dân đối với đất nước (01/4 ý kiến).

– Đề nghị xem xét giữ nguyên một số nội dung quy định tại Điều 25 HP92 về chính sách khuyến khích thu hút nguồn đầu tư từ nước ngoài. Cụ thể là :

– Tiếp tục khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và công nghệ cao vào Việt Nam.

– Khuyến khích kiều bào ta ở nước ngoài đầu tư về nước (01/4 ý kiến)

– Đề nghị quy định thời điểm nhà nước trưng thu, trưng mua được tính theo giá thị trường để đảm bảo quyền lợi cho người dân; đề nghị nghiên cứu kĩ hơn về khoản này và khoản 3 Điều 58 để quy định cho thống nhất và hợp lý, tránh tình trạng quy định xét về bản chất đều là Nhà nước thu hồi tài sản của người dân, nhưng hình thức đền bù khác nhau (01/4 ý kiến).

– Đề nghị bỏ khoản 1 vì trùng lắp với khoản 1 Điều 34 (02/4 ý kiến).

Điều 57 (8 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

Nhất trí như dự thảo (3/8 ý kiến)

Đề nghị bổ sung tài nguyên rừng vào điều này (01/8 ý kiến)

– Đề nghị sửa lại thành: “Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản ….. là tài sản công thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật”; bỏ câu “do nhà nước đầu tư quản lý”, viết lại là “…là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quán lý theo quy định của pháp luật”; bổ sung “tài nguyên rừng” trước cụm từ “tài nguyên nước” (01/8 ý kiến).

– Đề nghị tiếp tục nghiên cứu, làm rõ thêm quy định về đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, bảo đảm tính ổn định lâu dài; cân nhắc đối với sở hữu đất đai không sử dụng khái niệm “sở hữu toàn dân” vì đây là khái niệm mang tính chính trị, không thể hiện rõ tính chất pháp lý; ngoài ra, xác định rõ hình thức sở hữu đất đang tồn tại trên thực tế để một mặt giữ gìn nguồn đất công, không để bị thất thoát, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc sử dụng đất đai nói chung và cho công tác sản xuất nông nghiệp gắn với khoa học kỹ thuật hiện đại nói riêng; đề nghị xem xét lại quy định về vùng biển và thềm lục địa để tránh trùng lắp vì theo quy định của Luật biển vừa thông qua thì vùng biển Việt Nam đã bao gồm các vùng trong đó có thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán. (01/8 ý kiến)

– Đề nghị thay cụm từ “sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện” bằng cụm từ “thuộc sở hữu nhà nước” (01/8 ý kiến)

– Có ý kiến đề nghị cần thừa nhận sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng cùng tồn tại với sở hữu nhà nước về đất đai để đảm bảo quyền tài sản quan trọng bậc nhất của người dân, góp phần hạn chế tham nhũng (01/8 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung quy định về phạm vi quyền của chủ sở hữu, quyền và nghĩa vụ của người đại diện chủ sở hữu, mối quan hệ giữa người chủ sở hữu và người đại diện chủ sở hữu; cần giải quyết được cơ sở quy định Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đất đai, bởi vì như vậy Nhà nước vừa thực hiện vai trò là đại diện chủ sở hữu, vừa thực hiện vai trò quản lý nhà nước; đề nghị nghiên cứu về việc sở hữu tư nhân hạn chế về đất đai. Theo đó, hạn chế có nghĩa là sở hữu đất đai trong những điều kiện pháp luật cho phép và khi mà Nhà nước cần thu hồi vì mục đích an ninh, quốc phòng hay công cộng khác thì Nhà nước trưng mua đất đó. Theo quy định của Dự thảo thì 5 quyền của người sử dụng đất cũng đã gần như là việc sở hữu (02/8 ý kiến).

Điều 58 (31ý kiến, trong đó có 10 ý kiến ở cơ quan, 21 ý kiến cá nhân)

– Nhất trí như dự thảo (02/31 ý kiến)

– Đề nghị không sử dụng từ “thu hồi đất” vì Nhà nước chỉ “thu hồi đất” trong trường hợp giải quyết hành vi lấn chiếm, sử dụng sai mục đích hay vượt quá hạn mức quy định theo luật định. Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên mặc nhiên người dân là chủ thể hợp pháp của đất đai mà mình đang có quyền quản lý, sử dụng. Do đó, khi cần quỹ đất phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội mang tính chất công ích, cộng đồng … thì Nhà nước phải trưng mua quyền sử dụng đất và bồi thường tài sản trên đất cho người dân. Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của dân để cho chủ đầu tư sử dụng làm các dự án phát triển kinh tế – xã hội thì Nhà nước phải bảo đảm sự công bằng giữa hai bên, không được dùng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất. Trường hợp thu hồi đất vì mục đích kinh doanh, thương mại thì bên tổ chức thu hồi đất phải thỏa thuận và thống nhất với người dân về giá bồi thường (4/31 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung 1 khoản về đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể “Nhà nước bảo đảm về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật” (02/31 ý kiến).

– Đề nghị ghi rõ “giao đất, cho thuê theo hình thức chỉ định chủ đầu tư”; cần bổ sung quy định: “các trường hợp thu hồi đất vì mục đích kinh doanh thương mại, chủ đầu tư phải thỏa thuận với người sử dụng đất để đền bù sát giá thị trường” (01/31 ý kiến).

– Đề nghị không quy định liệt kê mà khẳng định đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu, cá nhân có các quyền sử dụng (01/31 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị thay đoạn “được quản lý theo quy hoạch và pháp luật” bằng “được quản lý theo pháp luật và quy hoạch” (01/31 ý kiến)

– Đề nghị bỏ khoản này vì nội dung này đã được nêu tại Điều 57(01/31 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị thay thừ “bồi bổ” bằng từ “cải tạo” để thống nhất với pháp luật hiện hành; đề nghị bổ sung quy định đối với người sử dụng đất là “quyền được góp vốn bằng quyền sử dụng đất” như sau: “Người sử dụng đất …được chuyển quyền sử dụng đất, quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất” để người dân không bị cưỡng chế thu hồi đất, trưng thu, trưng mua quyền sử dụng đất đối với các dự án phát triển kinh tế – xã hội (01/31 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “được chuyển quyền sử dụng đất” vì quyền này là một nội dung của quyền tài sản đã được khẳng định tại cuối khoản. (01/31 ý kiến)

– Đề nghị bỏ cụm từ “có thời hạn”, ghi rõ “giao đất, cho thuê đất theo hình thức chỉ định chủ đầu tư” (01/31 ý kiến).

Khoản 3

– Đề nghị tách riêng lý do an ninh, quốc phòng, lý do lợi ích công cộng và lợi ích vì các dự án phát triển kinh tế – xã hội để hạn chế tối đa việc làm về vấn đề này (3/31 ý kiến).

– Đề nghị tại khoản 3 thay cụm từ “thu hồi đất” bằng cụm từ “trưng mua quyền sử dụng đất” (5/31 ý kiến)

– Đề nghị sửa khoản 3 như sau: “Nhà nước thu hồi đất theo hình thức trưng mua, trưng dụng do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.” (01/31 ý kiến)

– Đề nghị viết lại như sau: “Nhà nước trưng mua đất do tổ chức, cá nhân sử dụng trong trưởng hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế – xã hội” (01/31 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung quy định: “các trường hợp thu hồi đất vì mục đích kinh doanh thương mại, chủ đầu tư phải thỏa thuận với người sử dụng đất để đền bù sát giá thị trường (01/31ý kiến)

– Đề nghị bỏ cụm từ “các dự án phát triển kinh tế – xã hội” (01/31ý kiến)

– Có ý kiến cho rằng việc Nhà nước thu hồi đất chỉ nên giới hạn vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia để tránh sự lạm dụng, thiệt thòi cho nhân dân, bổ sung quy định: “tổ chức, cá nhân sử dụng lãng phí đất đai sẽ bị xử lý nghiêm khắc” (3/31 ý kiến)

– Với các dự án phát triển kinh tế phải thực hiện theo hình thức trưng mua, trưng dụng và có bồi thường theo giá trị thị trường (02/31 ý kiến)

– Đề nghị quy định cụ thể hơn các trưởng hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội để đảm bảo ổn định xã hội (02/31 ý kiến)

– Nhiều cử tri đề nghị “trong trường hợp cần thiết” là những trường hợp nào? (01/31 ý kiến)

– Đề nghị quy định việc bồi thường khi thu hồi đất phải thực hiện “theo giá thị trường” để bảo đảm người dân không bị thiệt thòi khi bị thu hồi đất; bổ sung các trường hợp Nhà nước thu hồi đất có bồi thường; đề nghị cân nhắc việc bổ sung trường hợp tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai như quy định tại Điều 56 (01/31ý kiến)

– Có ý kiến cho rằng Hiến pháp cần nên quy định rõ: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường theo thời điểm giá của thị trường” (01/31 ý kiến)

– Có ý kiến còn băn khoăn đối với quy định tại khoản 3 của dự thảo và đề nghị đưa vào quy định ở Luật đất đai (02/31 ý kiến).

Điều 59 (6 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị đổi lại thứ tự của khoản 1 và khoản 2 cho logic (02/6 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định: Các khoản thu, chi ngân sách nhà nước hàng năm phải được dự toán và do Quốc hội quyết định (01/6 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị sử dụng khái niệm “dự trữ quốc gia ngoài ngân sách nhà nước” cho chính xác vì nguồn hình thành dự trữ quốc gia đã bao gồm ngân sách nhà nước và các nguồn lực khác ngoài ngân sách nhà nước (01/6 ý kiến); quy định bổ sung tiêu chí “tiết kiệm” đối với hoạt động quản lý nhà nước, cụ thể như sau: “Nhà nước thống nhất quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, công bằng, công khai…” (01/6 ý kiến)

– Đề nghị sử dụng khái niệm “tài chính quốc gia” thay cho khái niệm “tài chính công” vì ở nước ta sự phân định công – tư chưa rạch ròi; bổ sung quy định “chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi đã có trong dự toán ngân sách được giao” (01/6 ý kiến)

Khoản 2

– Không nên dùng khái niệm ngân sách nhà nước mà phân biệt rạch ròi ngân sách quốc gia và ngân sách địa phương (01/6 ý kiến)

– Bổ sung các câu: “ngân sách nhà nước là thống nhất gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương” và “ngân sách Trung ương phải giữ vai trò chủ đạo” (01/6 ý kiến)

– Đề nghị xác định rõ Quốc hội quyết định ngân sách sách quốc gia bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách trung ương trợ cấp cho địa phương, còn chính quyền địa phương có toàn quyền quyết định về ngân sách địa phương nhưng Chính phủ có nhiệm vụ quản lý chính quyền địa phương, thanh tra, kiểm tra theo luật để bảo đảm hiệu quả của việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tạo điều kiện thực hiện tái đầu tư công trên thực tế; đề nghị bỏ quy định tại khoản này vì nhiều nguồn lực khác ngoài ngân sách từ nơi khác cũng được phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương; hơn nữa vì thẩm quyền ngân sách nhà nước để làm cơ sở cho Luật ngân sách nhà nước sau này đã được quy định tại các điều liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội, của Chính phủ. (01/6 ý kiến)

Điều 60 (ý kiến ở 3 tổ chức)

– Đề nghị bổ sung “nghiêm cấm” trước cụm từ “tham nhũng”; thay cụm từ “hoạt động kinh tế -xã hội” bằng “mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” để bao quát hết cả lĩnh vực quốc phòng, an ninh…(01/3 ý kiến); bổ sung cụm từ “có nghĩa vụ” trước đoạn “thực hành tiết kiệm…”; đề nghị mở rộng phạm vi thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí, tham nhũng trong tất cả các lĩnh vực (01/3 ý kiến).

– Có ý kiến cho rằng Hiến pháp quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, phòng chống lãng phí, tham nhũng đối với vi phạm trong hoạt động kinh tế – xã hội và quản lý nhà nước sẽ chưa đầy đủ vì còn có những lĩnh vực khác như đối ngoại, quốc phòng an ninh … Đề nghị phạm vi thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí phải thể hiện ở trên tất cả các lĩnh vực (01/3 ý kiến).

– Đề nghị thay từ “phải” bằng cụm từ “có nghĩa vụ” (01/3 ý kiến).

Điều 61 (ý kiến ở 3 tổ chức)

Đề nghị bổ sung về cấm lao động cưỡng ép, bóc lột, cấm mua bán người và lao động khổ sai; bổ sung quy định về quyền thương lượng thỏa ước; cần có cam kết của Nhà nước về việc giải phóng người lao động khỏi lao động nặng nhọc và thu hẹp khoảng cách giữa lao động chân tay và lao động trí óc (01/3 ý kiến).

– Đề nghị đưa Khoản 2 lên trên Khoản 1 để thể hiện Nhà nước có trách nhiệm (01/3 ý kiến).

Khoản 1

– Đề nghị thay cụm từ “thỏa đáng” bằng cụm từ “chính đáng” (01/3 ý kiến); thay cụm từ “thỏa đáng” bằng cụm từ “tốt hơn” (01/3 ý kiến); thay cụm từ “có thu nhập thỏa đáng” bằng cụm từ “tạo thu nhập”; phân chia công bằng sự thịnh vượng của đất nước cho người dân thì không thể viết là “thu nhập thỏa đáng” được; quy định về chính sách lao động – việc làm của Hiến pháp hiện hành có sự phù hợp hơn (01/3 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị bổ sung đối tượng là “gia đình người có công” để đảm bảo đầy đủ đối tượng được ưu đãi (01/3 ý kiến).

Điều 62 (11 ý kiến, trong đó có 6 ý kiến ở cơ quan, 5 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị giữ như quy định của hiến pháp hiện hành (2/11 ý kiến)

– Đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về xây dựng y tế nhân dân, y tế dự phòng là những nội dung cần thiết, cần quan tâm. (01/11ý kiến)

– Đề nghị bổ sung Khoản 3 như sau: “Nhà nước có trách nhiệm tạo ra và bảo vệ môi trường sống an toàn, sạch, đẹp, văn minh cho mọi người” (01/11 ý kiến)

– Đề nghị sửa đổi như sau:

“1. Nhà nước đầu tư, phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân; huy động các nguồn lực để xây dựng nền y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả; phát triển nền y học Việt Nam theo hướng kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, phòng bệnh và chữa bệnh; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân và tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe; ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào miền núi, hải đảo, dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn khác.

2. Nhà nước, xã hội, gia đình và mọi người có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, thực hiện công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo đảm quy mô, cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số.” (01/11 ý kiến)

Khoản 1

Đề nghị thay cụm từ “hiện đại” bằng cụm từ “nhân dân”(01/ 11 ý kiến)

– Đề nghị nên viết gọn lại và bỏ đoạn “phát triển nền y học Việt Nam theo hướng hết hợp đông y và tây y, phòng bệnh và chữa bệnh” vì quá dài dòng và chi tiết (01/11 ý kiến); bỏ cụm từ “đông y và tây y”, thay bằng cụm từ “y học cổ truyền và y học hiện đại” cho chính xác (2/11 ý kiến); thay cụm từ “sự nghiệp” bằng cụm từ “công tác chăm sóc” (01/11 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “người nghèo” và “bảo vệ”. Đoạn này viết lại như sau: “ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho đồng bào miền núi, hải đảo, dân tộc thiểu số, người nghèo và các vùng đặc biệt khó khăn khác” (02/11 ý kiến)

– Đề nghị cần làm rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đầu tư, phát triển y tế chứ không chỉ ban hành chính sách; nên dùng cụm từ “kết hợp đông y và tây y” vì hiện tại các bệnh viện y học cổ truyền cũng đều dùng các phương pháp, kỹ thuật công nghệ cao của y học hiện đại; Nghị quyết 46-NQ/TW của Bộ Chính trị rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dân số, do vậy, nên cân nhắc thêm ý là chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho đúng là nâng cao chất lượng dân số và sức khỏe nhân dân; đề nghị bổ sung câu “bảo hiểm y tế toàn dân là mục tiêu phấn đấu của chúng ta”; bổ sung nội dung: ưu tiên thực hiện chăm sóc sức khỏe cho đối tượng yếu thế hoặc người dễ bị tổn thương; có ý kiến cho rằng “bảo hiểm y tế toàn dân” là mục tiêu chỉ thực hiện trong một giai đoạn nhất thời là đạt được, cần cân nhắc có nên đưa vào Hiến pháp hay không?; Những vấn đề tranh luận như y học cổ truyền, y học hiện đại hay đông y, tây y, lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì nên giải thích và quy định bằng văn bản luật, không nên ghi vào Hiến pháp; đề nghị viết lại Khoản 1 như sau: “Nhà nước đầu tư, phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân; huy động các nguồn lực để xây dựng nền y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả và phát triển; Phát triển nền y học Việt Nam theo hướng dự phòng kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, phòng bệnh và chữa bệnh; thực hiện bảo hiểm y tế…” (01/11 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị bổ sung cụm từ “người cao tuổi, cha” trước từ “mẹ”, bỏ từ “người” (01/11 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung cụm từ “người khuyết tật” vào sau cụm từ “người cao tuổi” và bổ sung quy định việc ưu tiên giải quyết việc làm đối với người khuyết tật và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (01/11 ý kiến)

– Dự thảo chưa thể hiện rõ và đầy đủ các khía cạnh liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân đối với người mẹ và trẻ em; đề xuất sửa đổi như sau: “Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo đảm cơ hội bình đẳng và hỗ trợ các điều kiện đặc thù giới tính để phụ nữ thực hiện tốt quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và thiên chức người mẹ; Gia đình có trách nhiệm giáo dục thành viên chia sẻ công việc và bảo đảm để phụ nữ thực hiện làm mẹ an toàn; Gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm tạo cơ hội và hỗ trợ điều kiện để trẻ em, nhất là trẻ em giai phát triển toàn diện, bảo đảm thực hiện tốt vai trò người công dân, người mẹ, người cha trong tương lai” (01/11 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “duy trì mức sinh bảo đảm để cân bằng giới tính hợp lý” sau cụm từ “cơ cấu dân số hợp lý”; đề nghị thay cụm từ “công dân” bằng cụm từ “mọi người”, bổ sung cụm từ “người tàn tật” trước cụm từ “thực hiện”, cụm từ “công tác dân số” trước cụm từ “kế hoạch hóa gia đình” (02/11 ý kiến)

– Đề nghị cân nhắc có nên đưa vấn đề lợi nhuận và phi lợi nhuận vào Hiến pháp hay không, không đưa vào thì không được mà đưa vào là khó. Nếu coi ngành y tế có lợi nhuận thì việc bỏ tư tưởng Nhà nước bao cấp khó; nếu phi lợi nhuận trong y tế thì hiện nay nhiều đơn vị lợi dụng để làm lợi cho một số cá nhân; nên quy định không kinh doanh đối với y tế tối thiểu, còn cao hơn thì vẫn được để phục vụ những người có khả năng và điều kiện, không kinh doanh đối với y tế tối thiểu nhưng phải hạch toán kinh tế, chứ không hạch toán kinh doanh (01/11 ý kiến)

Điều 63 (ý kiến ở 4 tổ chức)

Khoản 1:

– Đề nghị bổ sung thêm “phụ nữ mang thai và trẻ em gái” sau cụm từ “người có hoàn cảnh khó khăn” cho đầy đủ (01/4 ý kiến); thay cụm từ “có tính chia sẻ” bằng cụm từ “bảo đảm” (01/4 ý kiến)

– Đề nghị nên viết khái quát hơn, không nên liệt kê các đối tượng cụ thể của trợ giúp xã hội mà có thể viết chung là các nhóm yếu thế hoặc các nhóm dễ bị tổn thương (01 ý kiến); bổ sung thêm đối tượng “nạn nhân chiến tranh” (01 ý kiến); đề nghị sửa “Nhà nước phát triển….” thành “Nhà nước có chính sách phát triển…”; bỏ từ “đa dạng” bởi vì từ “toàn diện” đã bao hàm tính đa dạng; tách vấn đề trợ giúp xã hội thành một mệnh đề khác hoặc có thể tách thành một khoản riêng cho rõ ràng, bổ sung thêm đối tượng trẻ em (02/4 ý kiến).

Khoản 2

– Đề nghị bỏ từ “nước” và bổ sung cụm từ “cách mạng” để nhằm đảm bảo chính xác của thuật ngữ được sử dụng chính thức hiện nay của Đảng và Nhà nước ta, đó là người có công với cách mạng (02/4 ý kiến).

– Đề nghị nên tách người có công thành một điều riêng; bổ sung cụm từ “trẻ em” trước cụm từ “người cao tuổi”; đầu câu nên sửa thành “Nhà nước bảo đảm” (01/4 ý kiến).

– Đề nghị quy định cụ thể về đối tượng được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng; đề nghị bổ sung cụm từ “vùng sâu, vùng xa” sau cụm từ “miền núi” (01/4 ý kiến).

Điều 64 (7 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Việc xác định hệ tư tưởng chính thống trong xã hội là rất khó, Điều 30 của Hiến pháp hiện hành đã quy định hệ tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh như vậy là rất phù hợp, không nên bỏ vì lý do đã có ở Lời nói đầu (01/7 ý kiến).

Khoản 1

– Giữ lại cụm từ “phong cách Hồ Chí Minh” ở hiến pháp hiện hành (1/7 ý kiến)

– Đề nghị nên lấy tư tưởng nền tảng là văn hóa dân tộc; đề nghị sửa thành “văn hóa là một động lực quan trọng và là mục tiêu của phát triển KT-XH”; đề nghị bỏ câu đầu tiên của Khoản 1 (01/7ý kiến).

Khoản 2

– Việc quy định tại khoản 2 cần làm rõ ai “phát triển…”. (01/7 ý kiến)

– Có ý kiến đề nghị thêm cụm từ “Nhà nước có chính sách” vào trước cụm từ “phát triển văn học” (01/7 ý kiến).

Khoản 3

– Đề nghị bổ sung cụm từ “có lòng nhân hậu, thủy chung, có tình đoàn kết” trước đoạn “giàu lòng yêu nước…(01/7 ý kiến).

– Đề nghị sửa lại như sau: “Xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có văn hóa, có ý thức làm chủ, có trách nhiệm công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật; và xây dựng mọi gia đình ở Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ.” (01/7 ý kiến).

– Đề nghị giữ cụm từ “yêu chế độ xã hội chủ nghĩa” như trong Hiến pháp hiện hành, vì nếu người dân Việt Nam nói đến yêu nước thì trải qua hàng ngàn năm đã có, nhưng yêu chế độ xã hội chủ nghĩa thì mới hình thành sau này (01/7 ý kiến).

Khoản 4:

– Đề nghị gom tất cả những hành vi làm tổn hại đến lợi ích quốc gia vào một điều cấm cho ngắn gọn, dễ hiểu; bỏ từ “phá hoại” và thay bằng từ “xâm hại” cho phù hợp hơn (02/7 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung điều cấm về “phân biệt đối xử trên cơ sở giới” sau phần “truyền bá tư tưởng” (01/7 ý kiến).

Điều 65 (3 ý kiến, trong đó có 1 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Giữ lại Đoạn 2 của Điều 35 hiện hành đưa lên đoạn đầu của Điều 65 (01/3 ý kiến)

– Đề nghị thay câu “phát triển giáo dục nhằm hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân” tại Điều 35 hiện hành thành câu “phát triển giáo dục nhằm hình thành và bồi dưỡng nhân cách toàn diện, hài hòa về thể chất và tinh thần của công dân”; thay câu “đào tạo người lao động có nghề, năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” tại Điều 35 hiện hành thành câu “đào tạo người lao động có nghề, có năng lực, tư duy khoa học và kỹ năng làm việc sáng tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” và đưa vào Điều 65 của Dự thảo (01/3 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “và đào tạo” (02/3 ý kiến); nội dung của điều này là chưa đầy đủ, cần thể hiện rõ vai trò của Nhà nước trong phát triển KH&CN, có thể điều chỉnh lại theo một số phương án sau:

+ “Nhà nước phải có chính sách đảm bảo phát triển…là quốc sách hàng đầu”

+ “Nhà nước thúc đẩy sự phát triển giáo dục và đào tạo, coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”

+ “Phát triển giáo dục…hàng đầu. Nhà nước thể chế hóa bằng các cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật tạo điều kiện để đảm bảo phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” (01/3 ý kiến).

Điều 66 (11 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 6 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị nghiên cứu lấy lại nội dung Điều 66 Hiến pháp năm 1992, bổ sung các quy định: quyền của thanh niên; quyền của công dân về thể dục thể thao, phát triển thể lực (3/11 ý kiến)

– Đề nghị thay cụm từ “hội nhập quốc tế” bằng cụm từ “hợp tác quốc tế” cho phù hợp với chủ trương và thực tiễn hợp tác quốc tế hiện hay của Việt Nam. (01/11 ý kiến).

– Đề nghị khôi phục lại Điều 66 Hiến pháp 1992 về thanh niên như sau:”Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho thanh niên học tập, lao động và giải trí, phát triển trí tuệ, năng khiếu và thể lực; chăm lo bồi dưỡng lý tưởng cộng sản chủ nghĩa và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên.

Thanh niên phải làm trọn nhiệm vụ lực lượng xung kích trong phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa”. (02/11 ý kiến)

Khoản 1:

– Đề nghị viết lại thành “phát triển giáo dục nhằm hình thành và xây dựng con người Việt Nam có phẩm chất, trí tuệ và năng lực công dân” cho ngắn gọn, súc tích (01/11 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ: “ … đào tạo người lao động có nghề …” bằng cụm từ: “đào tạo người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp”(02/11 ý kiến)

Khoản 2:

– Đề nghị bổ sung cụm từ “tiến đến nền giáo dục miễn phí” sau cụm từ “học phí hợp lý”, bảo đảm tính nhân văn và tiến bộ của xã hội ta (01/11 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định Nhà nước thống nhất quản lý cả “nội dung” giáo dục quốc dân để bảo đảm Nhà nước bao quát các cấp, bậc học; tạo cơ sở cho các văn bản luật quy định cụ thể về nội dung giáo dục (01/11 ý kiến).

– Đề nghị ghi rõ ưu tiên đầu từ từ ngân sách nhà nước cho giáo dục (01 /11 ý kiến)

Khoản 3

– Đề nghị bỏ cụm từ “và xã hội” (01/11 ý kiến)

Điều 67 (ý kiến ở 3 tổ chức)

– Đề nghị thống nhất dùng cụm từ “khoa học và công nghệ” trong tất các các khoản của điều này cho phù hợp; khẳng định rõ vai trò, trách nhiệm của Nhà nước. Dự thảo mới chỉ dừng lại ở mức độ “thúc đẩy” (Khoản 2) và “tạo điều kiện” (Khoản 3), chưa thấy rõ vai trò của Nhà nước về đầu tư, ưu tiên cho KH&CN (01/3 ý kiến).

– Cần xem xét lại quy định: “Nhà nước phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ” bởi vì việc tập trung phát triển ngành khoa học, công nghệ nào là phải có sự lựa chọn, xác định đâu là ngành trọng tâm, mũi nhọn chứ không phải phát triển dàn đều (01/3 ý kiến).

Khoản 1:

– Quy định mục tiêu cụ thể cho phát triển KH&CN là “nhằm nâng cao trình độ quản lý” sẽ làm yếu đi tính chất hàng đầu của KH&CN; đề nghị bổ sung cụm từ “nhận thức về thế giới quan, nhân sinh quan” sau cụm từ “nhằm nâng cao…” cho rõ nghĩa và logic hơn; bỏ “phát triển văn hóa” và “thúc đẩy tiến bộ xã hội”; xem xét lại sử dụng cụm từ “là động lực thúc đẩy phát triển đất nước” cho nhất quán với các điều khoản khác (Khoản 1 Điều 64 sử dụng cụm từ “là động lực phát triển của đất nước”); nên viết lại thành “KH&CN…then chốt, là động lực phát triển của đất nước. Phát triển…nhằm phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao trình độ quản lý, năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo vệ môi trường và sức khỏe của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh”; sửa câu “KH&CN giữ vai trò then chốt, là động lực thúc đẩy phát triển đất nước” thành “KH&CN giữ vai trò then chốt, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước” (như cách thể hiện trong điều 37 của HP92); bổ sung cụm từ “nhằm tăng trưởng kinh tế” vào trước “…nâng cao trình độ quản lý, phát triển văn hóa…”; sửa lại là “KH&CN giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, là động lực thúc đẩy phát triển đất nước…” cho rõ nghĩa và thống nhất với Cương lĩnh; sửa lại là “Phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa…” ; thay “nhằm nâng cao trình độ quản lý …….. tiến bộ xã hội” bằng “nhằm mục đích phát triển kinh tế – xã hội” cho ngắn gọn, rõ nghĩa; bổ sung thêm “KH&CN giữ vai trò then chốt, là động lực phát triển đất nước toàn diện và bền vững” (01/3 ý kiến).

Khoản 2:

+ Đề nghị thay“thúc đẩy” bằng“có trách nhiệm”; bỏ chữ “đồng bộ”, như vậy sửa lại là “nhà nước có trách nhiệm phát triển các lĩnh vực KH&CN và ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại của thế giới phục vụ có hiệu quả cho phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam bền vững”; bổ sung “…nhà nước có chính sách xã hội hóa, khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu…”; xem xét, thể hiện nhất quán cụm từ “quyền tự do nghiên cứu và sáng tạo khoa học, công nghệ” với “quyền nghiên cứu khoa học, công nghệ” tại khoản 1 Điều 43; sửa lại thành “Nhà nước định hướng, ban hành chính sách phát triển đồng bộ các lĩnh vực KH&CN; ưu tiên và tập trung nguồn lực đầu tư, đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển KH&CN; nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trên thế giới; bảo đảm quyền tự do nghiên cứu khoa học, công nghệ” (01/3 ý kiến).

Khoản 3:

– Đề nghị sửa thành “nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia bình đẳng và được hưởng thụ lợi ích hợp pháp từ các hoạt động khoa học và công nghệ” cho phù hợp hơn; bổ sung cụm từ “bằng cách Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian hạn định” vào cuối câu thành “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và được hưởng thụ lợi ích từ các hoạt động khoa học, công nghệ bằng cách Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian hạn định”; bổ sung nội dung “người tài được tôn vinh và trọng dụng”, chính sách thu hút nhân tài để góp phần khuyến khích phát triển KH&CN; Có thể bổ sung khoản 3 mới (khoản 3 trong dự thảo nên chuyển lên khoản 1 Điều 43): “Nhà nước có chính sách thu hút nhân tài, chăm lo đào tạo, trọng dụng và đãi ngộ hợp lý đội ngũ cán bộ KH&CN” hoặc bổ sung khoản 4 là “Nhà nước tạo điều kiện đặc biệt để thu hút nhân tài nhằm phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng” vì vấn đề thu hút nhân tài là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với bất kể quốc gia nào (01/3 ý kiến).

– Đề nghị bỏ khoản này vì đã được thể hiện trong Điều 44 (01/3 ý kiến)

Điều 68 (6 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Có ý kiến cho rằng nên thay cụm từ “cơ chế” bằng cụm từ “hoạch định” như vậy sẽ hợp lý hơn. Có ý kiến đề nghị cân nhắc nội dung quy định và cách viết tại khoản 1 vì đã trùng với nội dung của mục 2 Điều 46 (01/6 ý kiến)

Khoản 1:

– Đề nghị bổ sung cụm từ “của toàn xã hội”, như vậy sửa khoản này thành “bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của toàn xã hội và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, của cá nhân” nhằm khẳng định tính chất rộng rãi, tính xã hội hóa của công tác bảo vệ môi trường (01 ý kiến); bỏ khoản này vì vừa không rõ nội hàm vừa trùng lặp với quy định tại Điều 46; nên viết lại thành “Bảo vệ môi trường là mục tiêu và là nội dung cơ bản của phát triển bền vững, được thực hiện theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên” (01/6 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “tổ chức, cá nhân” bằng “công dân” vì bảo vệ môi trường là nghĩa vụ của mọi công dân. (01/6 ý kiến)

Khoản 2

– Đề nghị bổ sung cụm từ “tiết kiệm” sau cụm từ “hiệu quả”; bỏ cụm từ “năng lượng sạch, sản xuất sạch” (02/6 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung trách nhiệm của Nhà nước về “tăng cường đầu tư và huy động nguồn lực xã hội cho hoạt động bảo vệ môi trường” ; đề nghị chỉ sử dụng cụm từ chung là “năng lượng tái tạo” thay cho “năng lượng mới, năng lượng sạch” vì đây là thuật ngữ chuyên môn được dùng chung trong quốc tế; bổ sung cụm từ “gắn liền với phát triển kinh tế – xã hội nhằm khẳng định sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội với bảo vệ môi trường” sau câu “Nhà nước có cơ chế chính sách bảo vệ môi trường…tài nguyên”; bổ sung cụm từ “…và thảm họa thiên nhiên” vào cuối Khoản 2 vì đây là những hiện tượng mới cần phải ngăn chặn; sửa “phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai” cho nhất quán với tên dự thảo luật là “phòng, chống thiên tai” ; bỏ đoạn “mọi hoạt động phát triển năng lượng …khuyến khích” vì quá chi tiết, nên để luật quy định (01/6 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung nội dung Nhà nước có cơ chế, chính sách về ứng phó thảm họa thiên nhiên vì đây là hiện tượng mới cần ngăn chặn, cụ thể là bổ sung cụm từ “và thảm họa thiên nhiên” ở cuối khoản này; bổ sung thêm một Điều quy định về quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên khác ngoài đất đai. (01/6 ý kiến)

Khoản 3

– Đề nghị bổ sung thêm “theo quy định của pháp luật” vào cuối khoản cho cụ thể hơn; bỏ quy định này vì quy định xử lý đối với các hành vi vi phạm đã được điều chỉnh trong bộ luật hình sự, bộ luật dân sự và Luật xử lý vi phạm hành chính (01/6 ý kiến).

5. Về Chương IV, Bảo vệ Tổ quốc

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Có 27 ý kiến góp ý vào Chương IV (trong đó có 08 ý kiến ở cơ quan, 19 ý kiến của cá nhân).

– Tán thành với tên Chương, nội dung Chương:

+ Đồng ý như Dự thảo, vì quy định này đã bảo đảm sự nhất quán trong toàn bộ Hiến pháp (tên của Hiến pháp và lời nói đầu đã phản ánh rõ). Hơn nữa, tên Chương I về “Chế độ chính trị” của Dự thảo đã giản lược hợp lý cụm từ này (1/27 ý kiến).

+ Bố cục của Chương là phù hợp, bảo đảm sự kế thừa Hiến pháp năm 1980, 1992 và quan điểm của Đảng về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, mang bản sắc riêng của Hiến pháp nước ta (1/27 ý kiến).

– Không tán thành với tên Chương, nội dung Chương (5/27 ý kiến):

+ Đề nghị giữ tên Chương “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa” như Hiến pháp năm 1980 và năm 1992, vì hiện nay các thế lực thù địch, phản động vẫn theo đuổi âm mưu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mặt khác, quy định như vậy phù hợp với Văn kiện Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX và Đại hội Đảng lần thứ XI (4/27 ý kiến).

+ Đề nghị bỏ chương này, chuyển toàn bộ các điều trong chương này lên chương I, vì quốc phòng, an ninh cũng là vấn đề chính trị (1/27 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi tên Chương, nội dung Chương (2/27 ý kiến):

+ Đề nghị sắp xếp lại các Điều 70 và Điều 71 cho phù hợp hơn (1/27 ý kiến).

+ Đề nghị rà soát lại vì tên chương và nội hàm các điều của chương chưa có sự thống nhất (1/27 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung nội dung mới vào Chương (1/27 ý kiến)

+ Đề nghị nêu rõ khái niệm an ninh, quốc phòng không chỉ theo nghĩa truyền thống mà còn bao gồm các vấn đề phi truyền thống như tội phạm xuyên quốc gia, thiên tai gây hậu quả nghiêm trọng (1/27 ý kiến).

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 69 (05 ý kiến, trong đó có 04 ý kiến ở cơ quan, 01 ý kiến của cá nhân)

– Đồng ý như Dự thảo, vì Dự thảo đã kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992, đồng thời cũng đã thể chế được quan điểm của Đảng trong thời kỳ hội nhập, mở cửa, xác định Việt Nam là thành viên “có tránh nhiệm” trong cộng đồng quốc tế; thể chế được mục tiêu quan trọng của QPAN mà Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định là “góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới” (01/5 ý kiến).

– Đề nghị chuyển khổ thứ nhất của Điều 48 xuống thành đoạn một Điều 69 và được sửa đổi, bổ sung như sau: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân” (01/5 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Nhà nước xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn diện, giữ vững an ninh về mọi mặt nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do luật định” hoặc “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân. Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do luật định” hoặc “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân. Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc phòng và an ninh do luật định” (01/5 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “giữ vững an ninh quốc gia” ở đoạn 1, vì theo Nghị quyết Trung ương 8 (khóa X), bảo vệ Tổ quốc đã bao hàm cả an ninh quốc gia (01/5 ý kiến).

– Đề nghị chuyển cụm từ “góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới” tại khổ 2 xuống Điều 70 vì theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định đây là một trong những nhiệm vụ của lực lượng vũ trang (2/5 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung tại khổ 2 quy định về sức mạnh tổng hợp bảo vệ vững chắc Tổ quốc bao gồm sức mạnh tổng hợp của đất nước và sức mạnh thời đại, tạo cơ sở pháp lý cho nước ta tham gia, hợp tác với các quốc gia khác nhằm tăng cường khả năng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc và góp phần giữ gìn hòa bình thế giới (01/5 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định như sau: “Là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi phải thực hiện nghĩa vụ quân sự; công dân là người Việt Nam đủ 18 tuổi không phân biệt nam – nữ khi đất nước bị xâm lược thì phải có trách nhiệm lên đường nhập ngũ chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, không ngại gian khó, hiểm nguy…cùng với toàn dân xây dựng hậu phương vững chắc, tất cả tiếp sức cho tiền tuyến…” (01/5 ý kiến).

– Đề nghị thay từ “nhiệm vụ” bằng “nghĩa vụ” (01/5 ý kiến).

Điều 70 (09 ý kiến, trong đó có 05 ý kiến ở cơ quan, 04 ý kiến của cá nhân)

– Đồng ý như Dự thảo, vì Dự thảo đã thể hiện được nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang theo Nghị quyết của Đảng và quan điểm “Chủ động, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh” theo Cương lĩnh năm 2011 (01/9 ý kiến).

– Nhất trí với Dự thảo nhưng đề nghị bổ sung quy định rõ hơn: Quân đội nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng cộng sản Việt Nam (01/9 ý kiến).

– Đề nghị giữ nguyên nội dung Điều 45 của Hiến pháp năm 1992 (01/9 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị đất nước, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế” (01/9 ý kiến) hoặc “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, Đảng cộng sản Việt Nam, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước” (2/9 ý kiến).

– Đề nghị giữ như quy định của Hiến pháp năm 1992 là “Lực lượng vũ trang trung thành với Tổ quốc và nhân dân”, vì lợi ích của Đảng trung thành với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân (2/9 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Đảng Cộng sản Việt Nam…” nhằm nhất quán với quy định tại Điều 4 Dự thảo (01/9 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “thực hiện nghĩa vụ quốc tế” bằng cụm từ “góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới” (1/9 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân” bằng cụm từ “trung thành với Tổ quốc, với Đảng, nhà nước và nhân dân” (1/9 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “và thực hiện nghĩa vụ quốc tế” (1/9 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “bảo vệ an ninh chính trị đất nước” trước cụm từ “an ninh quốc gia” (2/9 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định “sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc bao gồm sức mạnh tổng hợp của đất nước và sức mạnh thời đại”, tạo cơ sở pháp lý để nước ta hợp tác với các quốc gia khác nhằm tăng cường khả năng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc và góp phần giữ gìn hòa bình thế giới (1/9 ý kiến).

Điều 71 (11 ý kiến, trong đó có 06 ý kiến ở cơ quan, 05 ý kiến của cá nhân)

– Đồng ý như Dự thảo, vì trách nhiệm xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân không chỉ của Nhà nước mà còn của toàn xã hội, cả hệ thống chính trị và của chính Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; đã kế thừa và cơ bản thể chế được quan điểm của Đảng trong những năm gần đây về nguyên tắc xây dựng, vai trò, nhiệm vụ của quân đội nhân dân và dân quân tự vệ (1/11 ý kiến).

– Đề nghị giữ nguyên như Hiến pháp hiện hành (1/11 ý kiến).

– Đề nghị ghép Điều 71 và Điều 72 thành một điều có 2 khoản, một khoản quy định quân đội một khoản quy định về công an (1/11 ý kiến).

– Đề nghị diễn đạt lại thể hiện rõ ai là chủ thể xây dựng 2 lực lượng quân đội (1/11 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “quân sự” vào cuối Điều này (1/11 ý kiến); thêm cụm từ “bảo vệ nhân dân” vào cuối câu (1/11 ý kiến); bỏ cụm từ “từng bước” (4/11 ý kiến).

– Đề nghị bỏ từ “cách mạng” sau cụm từ “quân đội nhân dân Việt Nam” (3/11 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại với số quân thường trực hợp lý, có sức chiến đấu cao, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” (2/11 ý kiến) hoặc “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” (1/11 ý kiến) hoặc “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại với số quân thường trực hợp lý, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có sức chiến đấu cao, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” (1/11 ý kiến).

– Đề nghị giữ nguyên ý đầu của Điều 46 Hiến pháp hiện hành là “Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, bỏ đi đoạn “cùng với Quân đội nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” (1/11 ý kiến)

Điều 72 (09 ý kiến, trong đó có 06 ý kiến ở cơ quan, 03 ý kiến của cá nhân)

– Đồng ý như Dự thảo, vì Dự thảo đã khái quát được quan điểm xây dựng Công an nhân dân nhưng còn băn khoăn về phương hướng xây dựng Công an xã vì cho rằng, lực lượng này không phải là “chính quy” nên không cần xây dựng “từng bước hiện đại” là phù hợp với nhiệm vụ và khả năng bảo đảm của nước ta; đồng thời không cần bổ sung cụm từ “Nhà nước” vì cũng lập luận như ở Điều 71, trách nhiệm xây dựng Công an nhân dân không chỉ là của Nhà nước (1/9 ý kiến).

– Đề nghị giữ nguyên như Hiến pháp hiện hành (1/9 ý kiến).

– Đề nghị diễn đạt lại thể hiện rõ ai là chủ thể xây dựng 2 lực lượng quân đội (1/9 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và vững mạnh toàn diện; kết hợp lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách, dựa vào nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm” (2/9 ý kiến).

– Đề nghị thêm cụm từ “bảo vệ nhân dân” vào sau cụm từ ‘‘bảo vệ an ninh quốc gia” (1/9 ý kiến) ; bỏ từ “cách mạng” sau cụm từ “công an nhân dân Việt Nam” (3/9 ý kiến); bỏ cụm từ “từng bước” (2/9 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định nhiệm vụ của công an là phòng, chống vi phạm và tội phạm (1/9 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ” trước cụm từ “bảo vệ an ninh quốc gia” (2/9 ý kiến).

Điều 73 (08 ý kiến, trong đó có 04 ý kiến ở cơ quan, 04 ý kiến của cá nhân)

– Cần thể hiện lại cho khái quát, đầy đủ và cô đọng nhất (1/8 ý kiến).

– Đề nghị ở đoạn cuối thay từ “hùng mạnh” bằng cụm từ “vững mạnh”, bỏ cụm từ “không ngừng tăng cường khả năng”, thay từ “đất nước” bằng từ “tổ quốc” (1/8 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “lực lượng vũ trang” bằng từ “quân đội” (1/8 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội; xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sỹ, công nhân, nhân viên quốc phòng; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia” (1/8 ý kiến) hoặc “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần và chính sách hậu phương quân đội, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang được trang bị kỹ thuật từng bước hiện đại, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc” (2/8 ý kiến).

– Đề nghị sửa lại đoạn đầu của Điều này như sau: “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước cách mạng của nhân dân, có trách nhiệm giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân”; bổ sung cụm từ “Công an” sau cụm từ “hậu phương quân đội” (1/8 ý kiến).

– Đề nghị thay đoạn “chính sách hậu phương quân đội” bằng “chính sách hậu phương đối với cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân” (1/8 ý kiến).

– Đề nghị thêm cụm từ “có chính sách” vào sau từ “Nhà nước” ở đoạn đầu (1/8 ý kiến).

– Quy định “xây dựng hậu phương quân đội” chưa bao hàm lực lượng là cán bộ, công nhân viên quốc phòng, hậu phương của quân đội; đồng thời, chưa bao hàm cả đối với ngành công an (1/8 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi đoạn “Xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh. Không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước” bằng đoạn “Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh để bảo vệ Tổ quốc” (1/8 ý kiến).

6. Về Chương V, Quốc hội

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Có 54 ý kiến góp ý vào Chương V (trong đó có 14 ý kiến ở cơ quan, 40 ý kiến của cá nhân).

– Các ý kiến góp ý tập trung vào các điều: Điều 75, Điều 79

– Về nội dung, bố cục của chương:

+ Đề nghị quy định ngắn gọn hơn, cơ bản hơn, sau này sẽ quy định cụ thể trong Luật tổ chức Quốc hội (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị chuyển quyền lập hiến của Quốc hội vào chương cuối cùng (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị nghiên cứu thống nhất tên gọi “Hội đồng dân tộc” thành “Ủy ban Dân tộc” cho đồng bộ với tên gọi của các Ủy ban của Quốc hội (Nếu theo phương án này thì Ủy ban dân tộc của Chính phủ sau cũng cần đổi tên phù hợp với các Bộ để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống bộ máy của Nhà nước ta) (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung một điều về Quyền của đại biểu Quốc hội như sau: “Việc phát ngôn và biểu quyết của đại biểu Quốc hội trong các hội nghị đều không bị truy cứu trách nhiệm” (như Hiến pháp các nước đều quy định) (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị rà soát quy định của Điều 75, 84 và 120 của Dự thảo để đảm bảo thống nhất vì Khoản 5 Điều 91 của Hiến pháp 1992 và Khoản 4 Điều 79 Dự thảo quy định: Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và bãi bỏ văn bản của Tòa án nhân dân tối cao và quyết định đề nghị Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản tại kỳ họp gần nhất. Trong khi đó, khoản 10 Điều 75 của Dự thảo quy định Quốc hội có quyền bãi bỏ (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị có quy định làm rõ vị trí pháp lý của “đại biểu Quốc hội chuyên trách” (5/54 ý kiến); có những quy định cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu Quốc hội chuyên trách (1/54 ý kiến); đề nghị quy định tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ít nhất 50% tổng số đại biểu Quốc hội (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị quy định về Ủy viên thường trực trong Điều 81 và 82 (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị nên có một điều riêng hoặc một khoản trong Điều 84 của Dự thảo với nội dung bổ sung như sau: “Các đại biểu Quốc hội trong một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội; Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn và có thể có Phó đoàn” (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị trong Hiến pháp cần có quy định về Đoàn ĐBQH và làm rõ Đoàn ĐBQH có phải là cơ quan hành chính hay không? (2/54 ý kiến).

+ Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan của Quốc hội chỉ nên đưa vào một Điều trong Hiến pháp. Quy định chi tiết nên đưa vào Luật tổ chức Quốc hội (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị cần làm rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với Quốc hội, đại biểu Quốc hội với Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội… (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị cần nghiên cứu để có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả hơn (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị làm rõ Quốc hội có cơ quan lãnh đạo hay không? Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có phải là cơ quan lãnh đạo hay không? Có ý kiến cho là các đại biểu Quốc hội có địa vị pháp lý như nhau, nhưng cũng có ý kiến cho rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực thì không thể không có lãnh đạo? Do đó, Quốc hội cần có cơ quan lãnh đạo nhưng phải làm rõ hình thức, nội dung lãnh đạo? (1/54 ý kiến).

+ Về vị thế của ĐBQH (Điều 85, 86, 87, 89): Có ý kiến cho rằng, hạt nhân quan trọng góp phần tạo nên thành quả chung trong hoạt động của Quốc hội chính là các đại biểu Quốc hội. Do đó, các quy định liên quan đến quyền, nghĩa vụ, chức năng, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội cần được thể chế hóa và quy định cụ thể, đầy đủ trong Hiến pháp nhằm xác lập cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ (2/54 ý kiến).

+ Về điều kiện bảo đảm thực hiện quyền lực của Quốc hội: Nhiều ý kiến cho rằng, Dự thảo quy định Quốc hội có nhiệm vụ: “Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao…”. Tuy nhiên, Dự thảo chưa bổ sung quy định bảo đảm điều kiện để thực hiện chức năng này. Vì vậy, đề nghị nghiên cứu bổ sung các quy định nhằm bảo đảm đầy đủ điều kiện để thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới các quy định về chế tài xử lý nhằm nâng cao tính nghiêm minh trong thực hiện các kiến nghị sau giám sát của Quốc hội (2/54 ý kiến).

+ Về thẩm quyền của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Có ý kiến cho rằng, ngoài chức năng thẩm tra, cho ý kiến về các dự án luật, cần bổ sung quy định về thẩm quyền của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong việc xem xét, quyết định không trình ra Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội các dự luật chưa bảo đảm chất lượng (2/54 ý kiến).

+ Về giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp: Có ý kiến đề nghị bổ sung một điều quy định thành lập Hội đồng lập pháp với chức năng thực hiện quyền lập pháp theo uỷ quyền của Quốc hội, ban hành các đạo luật chuyên ngành do Quốc hội ủy nhiệm nhằm góp phần (1) Khắc phục tình trạng làm luật không theo kịp sự phát triển của kinh tế – xã hội như hiện nay; (2) Nâng cao chất lượng của các đạo luật (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung thêm nội dung bầu và phê chuẩn nhân sự. Các chức vụ: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng chính phủ, Phó Chủ tịch nước, và các nhân sự cao cấp do Quốc hội bầu phải có ít nhất 2 người trong danh sách bầu cử để bầu lấy 1 người. Các chức danh do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn thì giới thiệu 1 để bầu 1 (2/54 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung quy định thống nhất, làm rõ nội hàm các khái niệm điều trần, giải trình, chất vấn đang được sử dụng trên thực tế; theo đó, đề nghị sử dụng chung khái niệm “chất vấn” để phù hợp với định hướng tăng cường vai trò của các cơ quan của Quốc hội và của Quốc hội, phù hợp với xu hướng đổi mới về chính trị và tương ứng với quá trình đổi mới về kinh tế hiện nay, làm cơ sở cho việc ban hành Luật chất vấn sau này (1/54 ý kiến).

+ Đề nghị nghiên cứu để quy định phân biệt rõ hơn giữa thẩm quyền lập hiến và thẩm quyền lập pháp của Quốc hội (2/54 ý kiến).

+ Đề nghị quy định Quốc hội ban hành luật để điều chỉnh ngân sách nhà nước hằng năm (2/54 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung quy định trường hợp đặc biệt, khẩn cấp cần quyết định những nhiệm vụ liên quan đến chức danh của Chủ tịch Quốc hội thì ai là người thực hiện thay nhiệm vụ này? (1/54 ý kiến).

+ Tại điểm 7, Điều 75 Dự thảo có quy định thẩm quyền của Quốc hội trong việc “phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia”. Tuy nhiên, việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia lại chưa thấy quy định. Nếu việc bổ sung 2 thiết chế này trong Dự thảo là cần thiết, thì cần xem xét quy định rõ thẩm quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của hai cơ quan này vì nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này rất quan trọng và rất khác nếu so sánh với thành viên của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (1/54 ý kiến).

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 74 (10 ý kiến, trong đó có 06 ý kiến ở cơ quan, 04 ý kiến của cá nhân)

– Dự thảo thể hiện sự đổi mới quan niệm về quyền lập hiến, quyền lập pháp của Quốc hội, gián tiếp khẳng định nhân dân cũng là chủ thể của quyền này (1/10 ý kiến).

– Đề nghị không quy định “quyền lập hiến” của Quốc hội và sửa đổi đoạn 2 Điều này như sau: “Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát hoạt động của Chính phủ” (2/10 ý kiến).

– Đồng ý với Dự thảo, đã thể hiện được nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền là Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép (2/10 ý kiến).

– Đề nghị làm rõ quyền lập hiến, lập pháp của nhân dân (1/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” vào cuối đoạn 2 của Điều này (1/10 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, quyền lập pháp, Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (4/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định chế độ làm việc của Quốc hội như sau: “Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số”, bảo đảm phù hợp với tính chất hoạt động của Quốc hội và vị trí, quyền hạn của đại biểu Quốc hội là bình đẳng, ngang nhau, hơn nữa đây là nguyên tắc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung, dân chủ trong hoạt động của Quốc hội đã được quy định tại các bản Hiến pháp trước đó cần được kế thừa (1/10 ý kiến).

– Dự thảo quy định “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến…, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước…”, khoản 11 Điều 79 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của UBTVQH: “Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội”. Như vậy, Quốc hội là cơ quan thông qua Hiến pháp chứ không phải nhân dân. Vì vậy, đề nghị thiết kế lại các điều này theo hướng Hiến pháp là do dân làm ra và quyết định; nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến, việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp là đương nhiên phải được thực hiện; quyền lập hiến là của dân, còn Quốc hội chỉ giữ quyền lập pháp (1/10 ý kiến).

Điều 75 (23 ý kiến, trong đó có 11 ý kiến ở cơ quan, 12 ý kiến của cá nhân)

– Đồng ý như dự thảo (1/23 ý kiến).

– Đề nghị sắp xếp các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội lần lượt theo 3 nhóm chức năng của Quốc hội là lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước (1/23 ý kiến).

– Đề nghị quy định bổ sung quyền của Quốc hội trong việc thành lập, giải thể, chia tách Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và thẩm quyền quyết định phê chuẩn các điều ước quốc tế có điều khoản trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội (1/23 ý kiến).

– Về quy định Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, việc bổ sung quy định này là không cần thiết vì Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vị trí pháp lý và nguyên tắc hoạt động đặc thù, khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Dự thảo Hiến pháp sửa đổi quy định Quốc hội có quyền lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; nếu Thẩm phán là chức danh do Quốc hội phê chuẩn thì cũng cần được Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm (1/23 ý kiến).

– Đề nghị Hiến pháp cần quy định rõ về việc Quốc hội thành lập một số Ủy ban quan trọng (Ủy ban Hiến định) như một số nước khác, trong đó có Ủy ban Dân nguyện và Tòa án Hiến pháp (3/23 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc những nhiệm vụ và quyền hạn khác của Quốc hội đã được quy định trong pháp luật hiện hành thì nên đưa vào Hiến pháp (1/23 ý kiến).

– Nội dung Điều này chưa có quy định về vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (1/23 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thêm thẩm quyền Quốc hội quyết định chính sách xã hội (1/23 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định: “Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt” để thống nhất với quy định tại khoản 3 Điều 107 (1/23 ý kiến).

Đề nghị sửa đổi như sau:

“Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Xem xét, thông qua, sửa đổi Hiến pháp và luật;

2. Giám sát hoạt động của Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ;

3. Thẩm tra và phê chuẩn kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội;

4. Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương;

7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán Nhà nước; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

8. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Chính phủ;

9. Quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt;

10. Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

11.Quyết định đại xá;

12. Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

13. Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

14. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;

15. Quyết định việc trưng cầu ý dân.” (1/23 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghị giữ nguyên nhiệm vụ, quyền hạn “quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh” như Hiến pháp hiện hành (2/23 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “Làm Hiến pháp và sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, làm luật và sửa đổi, bổ sung luật” (1/23 ý kiến) hoặc “Ban hành Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, ban hành luật và sửa đổi luật” (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị thay từ “làm” bằng cụm từ “xây dựng, ban hành” (2/23 ý kiến) hoặc bằng từ “ban hành” hoặc bằng từ “xây dựng” (1/23 ý kiến); thay cụm từ “làm Hiến pháp” bằng cụm từ “lập Hiến” và cụm từ “làm luật và sửa đổi luật” bằng cụm từ “xây dựng, ban hành và sửa đổi luật” (1/23 ý kiến); thay cụm từ “làm Hiến pháp, làm luật” bằng cụm từ “Xây dựng Hiến pháp, ban hành Luật” (4/23 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi như sau:“Xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; soạn thảo hoặc thông qua các dự thảo luật và sửa đổi luật” (2/23 ý kiến).

+ Đề nghị quy định rõ là ngoài Ủy ban thường vụ Quốc hội được Quốc hội ủy quyền lập pháp thì các chủ thể khác như Chính phủ, các bộ, chính quyền địa phương, v.v.. có được Quốc hội ủy quyền lập pháp không hay các chủ thể này có quyền lập pháp trực tiếp từ Hiến pháp; nếu có thì điều kiện đối với việc ủy quyền lập pháp là gì? Đây là vấn đề cần được quy định để có cơ sở kiểm soát quyền lực (2/23 ý kiến).

+ Cần xác định rõ ràng hơn liệu thẩm quyền lập hiến có nên chỉ tập trung vào Quốc hội không? (1/23 ý kiến).

Khoản 3:

+ Đề nghị bỏ cụm từ “cơ bản” vì Hiến pháp chỉ quy định tổng quát Quốc hội quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước là đủ, hơn nữa bỏ cụm từ này còn để tránh suy luận thế nào là cơ bản hay không cơ bản (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị giữ nguyên nội dung khoản 3 Điều 84 của Hiến pháp hiện hành, vì ngắn gọn, đủ ý (2/23 ý kiến).

Khoản 4:

+ Tán thành với dự thảo, Quốc hội phải quyết định mức giới hạn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ là quy định mới, đúng đắn, hợp lý (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị giữ nguyên như Hiến pháp hiện hành, càng quy định chi tiết thì lại càng thiếu, những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền Quốc hội quyết định như chương trình mục tiêu quốc gia không thể liệt kê vào Hiến pháp được (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị thay đoạn “Quốc hội quyết định ngân sách Trung ương” bằng “Quốc hội quyết định dự toán và phân bổ ngân sách Nhà nước” (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị bỏ hoặc diễn đạt lại quy định về Quốc hội “quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia” vì quy định khoản 3 đã bao hàm nội dung này; đồng thời tạo hướng mở cho việc cân nhắc nâng cao vị thế của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là Ngân hàng Trung ương độc lập (2/23 ý kiến).

+ Đề nghị bỏ cụm từ: quyết định nguyên tắc phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, và cụm từ xem xét báo cáo tổng hợp dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước vì đó là các nhiệm vụ cụ thể trong quyền, nhiệm vụ quyết định dự toán, phân bổ, quyết toán ngân sách nhà nước (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đoạn “quyết định nguyên tắc phân chia các khoản thu” bằng đoạn “quyết định tỷ lệ phân chia các nguồn thu giữa các cấp ngân sách” (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị quy định Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước cho phù hợp với thực tế, bảo đảm nguyên tắc ngân sách nhà nước là thống nhất, bởi vì có quyết định dự toán ngân sách nhà nước mới điều tiết được cho ngân sách trung ương và phân bổ được ngân sách cho các cấp, các ngành (1/23 ý kiến).

+ Quy định về việc Quốc hội quyết định chính sách tiền tệ quốc gia chưa rõ nội hàm, thực tế Quốc hội đã ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, do đó cần nghiên cứu kỹ hai luật này để quy định một số nội dung chính sách tiền tệ vào Hiến pháp, chẳng hạn như việc in tiền, loại tiền, mệnh giá đồng tiền và tỷ giá hối đoái… (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung quy định “Quốc hội quyết định các loại lệ phí và phí, vì đây là lĩnh vực thuộc quyền tài sản của công dân (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị làm rõ quy định “Quốc hội quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia”. Thực tế Quốc hội không chỉ xem xét nhiều báo cáo, như báo cáo tổng hợp dự toán, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước, mà xem xét rất nhiều vấn đề; đề nghị rà soát các quy định cụ thể để quy định phù hợp, tránh vừa thừa, vừa thiếu (2/23 ý kiến).

Khoản 3 và 4: Đề nghị bỏ các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội về việc quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia vì nên coi đây là các hoạt động thực thi quyền hành pháp (1/23 ý kiến).

Khoản 6:

+ Đề nghị bổ sung “ủy ban điều tra dư luận xã hội” để thực hiện dân chủ trực tiếp (1/23 ý kiến).

Khoản 7:

+ Đồng ý như dự thảo về quy định Quốc hội bầu “Chủ tịch Hội đồng dân tộc, các Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội”, bảo đảm quyền linh hoạt cho Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc kiện toàn tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội. Hơn nữa, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội không có thẩm quyền quyết định bất kỳ vấn đề gì mà chỉ làm tham mưu cho Quốc hội (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung thẩm quyền của Quốc hội bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên thường trực chuyên trách ở Trung ương, còn các thành viên khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị không quy định về quyền hạn của Quốc hội “phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”, vì đây là chức danh có nghề nghiệp đặc thù, trực tiếp tiến hành hoạt động xét xử, nhân danh Nhà nước ra các phán quyết, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nên giao thẩm quyền này cho Chủ tịch nước (2/23 ý kiến).

Khoản 8:

+ Tán thành với dự thảo (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị chỉnh sửa lại câu chữ, làm rõ việc đánh giá sự tín nhiệm đối với hoạt động của Quốc hội, điều hành của Chính phủ và người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị không quy định vấn đề “lấy phiếu tín nhiệm” trong Hiến pháp, vì về bản chất, đây chỉ là việc thăm dò tín nhiệm trước khi bỏ phiếu bất tín nhiệm (6/23 ý kiến).

+ Đề nghị cân nhắc phạm vi lấy phiếu tín nhiệm (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị không quy định bỏ phiếu tín nhiệm trong Hiến pháp; đề nghị quy định các vấn đề này trong luật và chỉ đối với các chức danh trong cơ quan hành pháp (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị sửa theo hướng “bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” và thu hẹp đối tượng bị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm (chỉ nên bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ) nhằm kiểm soát quyền lực, nâng cao tính khả thi và hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này (1/23 ý kiến).

Khoản 9:

+ Đề nghị đưa quy định về “thẩm quyền thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật” lên trước các quy định về thực hiện quyền giám sát tối cao, quy định tổ chức và hoạt động của các cơ quan; đồng thời bổ sung quy định về việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm người đứng đầu các cơ quan khác đó (1/23 ý kiến).

Khoản 10:

+ Đề nghị quy định “Bổ sung, bãi bỏ, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật…” (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị quy định Tòa án (văn bản dưới luật) hoặc Hội đồng Hiến pháp (Hiến pháp, Luật) khi xem xét tính hợp hiến của văn bản luật (1/23 ý kiến).

Khoản 13:

+ Đề nghị bổ sung đoạn “nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt cho Hội đồng quốc phòng và an ninh trong trường hợp có chiến tranh” sau cụm từ “quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình” bảo đảm tính logic với quy định tại khoản 2 Điều 94 (1/23 ý kiến).

Khoản 14:

+ Tán thành với Dự thảo (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi như sau:“Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn, gia nhập hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế về hòa bình, an ninh, biên giới lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tham gia tổ chức quốc tế phổ cập, tổ chức khu vực quan trọng, điều ước quốc tế đòi hỏi sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành luật hoặc làm phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng”, do trên thực tế có những tổ chức quốc tế không mang tính phổ cập, phạm vi hẹp, mang tính chất chuyên môn, kỹ thuật, không tới mức phải được Quốc hội xem xét, quyết định (1/23 ý kiến) hoặc “14. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, gia nhập hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế về hòa bình, an ninh, biên giới lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tham gia tổ chức quốc tế và khu vực, điều ước quốc tế liên quan đến quyền lập pháp của Quốc hội hoặc làm phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng”, theo đó bổ sung hai loại điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩn hoặc bãi bỏ của Quốc hội là (i) điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký và (ii) điều ước quốc tế mà việc thực hiện đòi hỏi Quốc hội cần ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung luật. Thay cụm từ “chiến tranh và hòa bình” bằng cụm từ “hòa bình và an ninh”, phù hợp với xu thế hòa bình (2/23 ý kiến)

+ Đề nghị thay cụm từ “chiến tranh và hòa bình” bằng cụm từ “quốc phòng, an ninh”, vì các điều ước quốc tế về quốc phòng, an ninh có những nội dung quan trọng, nhạy cảm, cần được Quốc hội quyết định phê chuẩn hoặc bãi bỏ (2/23 ý kiến).

+ Đề nghị quy định cụ thể, tránh chồng chéo với thẩm quyền của Chủ tịch nước (khoản 6 Điều 93) và Chính phủ (khoản 7 Điều 101) (1/23 ý kiến).

Khoản 15:

+ Đề nghị quy định như Hiến pháp năm 1946 (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “15. Quyết định trưng cầu ý dân; bảo đảm thực hiện quyền phúc quyết Hiến pháp của công dân” (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị quy định trực tiếp, Hiến pháp được làm ra phải được trưng cầu ý dân thay vì phải được Quốc hội quyết định rồi mới trưng cầu ý dân (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi khoản này như sau “Quyết định trưng cầu dân ý những vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia và quyền lợi cơ bản của nhân dân” (1/23 ý kiến).

+ Đề nghị quy định cụ thể hơn các trường hợp Quốc hội phải trưng cầu ý dân để bảo đảm quyền biểu quyết của công dân được thực hiện, mà quan trọng trước nhất là phúc quyết về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã được ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; cụ thể như sau: “Quyết định trưng cầu dân ý về Hiến pháp sửa đổi, bổ sung và một số việc khác do luật định” (1/23 ý kiến).

Điều 76 (ý kiến ở 03 cơ quan)

– Đề nghị quy định rõ ‘‘Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; làm việc theo chế độ Hội nghị và quyết định theo đa số. Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội’’ (1/3 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Quốc hội có nhiệm kỳ 5 năm. Thể lệ bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội do luật định. Trong trường hợp đặc biệt, Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Tại phiên họp đầu tiên của mỗi khóa Quốc hội, Quốc hội bầu Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội và căn cứ vào báo cáo của Uỷ ban mà quyết định xác nhận tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội” (1/3 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định“Số đại biểu Quốc hội cố định là 500 đại biểu” cho nhất quán (1/3 ý kiến).

Điều 77 (04 ý kiến, trong đó có 03 ý kiến ở cơ quan, 01 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị bổ sung trách nhiệm của Chủ tịch Quốc hội “thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân những vấn đề quan trọng mà Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội đã nghị quyết” vì sẽ làm rõ hơn tinh thần Quốc hội chịu trách nhiệm trước nhân dân, giải thích công khai những quyết định của mình để nhân dân hiểu và giám sát (1/4 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thẩm quyền ký ban hành pháp lệnh và Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội… cho đầy đủ (1/4 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “giúp Chủ tịch” trong đoạn quy định nhiệm vụ của các Phó Chủ tịch Quốc hội (1/4 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “lãnh đạo” bằng “điều hành” sẽ thể hiện chính xác hơn vai trò của Chủ tịch Quốc hội đối với việc điều hành hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Dự thảo quy định Chủ tịch Quốc hội là người lãnh đạo công tác Ủy ban thường vụ Quốc hội là không hợp lý, không thể hiện được nguyên tắc hoạt động tập thể, quyết định theo đa số của Ủy ban thường vụ Quốc hội (1/4 ý kiến).

 

Điều 78 (ý kiến ở 1 cơ quan)

– Đề nghị bổ sung chức danh Tổng Thư ký Quốc hội và sửa đổi như sau: “Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội và các Ủy viên”.

Điều 79 (15 ý kiến, trong đó có 11 ý kiến ở cơ quan, 04 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị bổ sung quy định về “thẩm quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam của Ủy ban thường vụ Quốc hội”, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Đại sứ ta, giống như quy trình Quốc hội xem xét, bổ nhiệm Đại sứ tại một số nước (1/15 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung khoản 12 như sau: “12. Xem xét, quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam ở nước ngoài trước khi Chủ tịch nước bổ nhiệm và phê chuẩn” để phù hợp với thông lệ quốc tế và thể hiện rõ tầm quan trọng trong quan hệ ngoại giao của đất nước (1/15 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thẩm quyền quyết định về cơ cấu tổ chức của các cơ quan tư pháp, quyết định biên chế, số lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán (1/15 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau:

“Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; (bỏ khoản này nếu thành lập Hội đồng bầu cử độc lập)

2. Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội;

3. Phối hợp với Chính phủ xây dựng chương trình kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm và nhiệm kỳ;

4. Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; (đề nghị chuyển sang Tòa án)

5. Ban hành pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao;

6. Giám sát hoạt động của Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

7. Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân;

8. Chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội;

9. Trong thời gian Quốc hội không họp, phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội;

10. Trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất;

11. Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

12. Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;

13. Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.” (1/15 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghị bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn các Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc và các Ủy viên Hội đồng, Phê chuẩn các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên các Ủy ban của Quốc hội (1/15 ý kiến).

Khoản 2:

+ Nhất trí như dự thảo về thẩm quyền ban hành pháp lệnh của UBTVQH, trong điều kiện Quốc hội hoạt động không thường xuyên, chưa thể ban hành đầy đủ, kịp thời tất cả các luật để điều chỉnh mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội thì việc tiếp tục giao cho UBTVQH ban hành pháp lệnh là cần thiết và phải được Quốc hội giao trong những trường hợp cần thiết (1/15 ý kiến).

+ Đề nghị chuyển chức năng giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh cho Hội đồng Hiến pháp vì thực tế Ủy ban thường vụ Quốc hội rất ít khi thực hiện quy định này (2/15 ý kiến).

+ Đề nghị thay từ “ra” bằng từ “ban hành” (3/15 ý kiến).

Khoản 3: Đề nghị bổ sung thêm Ủy ban điều tra dư luận xã hội và nhiệm vụ khen thưởng tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện chính sách pháp luật của Quốc hội (1/15 ý kiến).

Khoản 5:

+ Đề nghị giữ nguyên như Hiến pháp hiện hành “Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động, công tác của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội”, vì Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đều do Quốc hội thành lập, không phải là cấp trên, cấp dưới (7/15 ý kiến).

+ Đề nghị cân nhắc quy định “Ủy ban thường vụ bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội” do mẫu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 87 “Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội” (1/15 ý kiến); bỏ đoạn “bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội” (2/15 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “5- Lãnh đạo công tác của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và các cơ quan trực thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội” (1/15 ý kiến).

Khoản 6:

+ Đề nghị bổ sung từ “quốc gia” trước từ “nhân dân” ở cuối khoản này (1/15 ý kiến).

+ Đề nghị quy định rõ thẩm quyền hướng dẫn và giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân? Thực tế có nhiều vấn đề khó hướng dẫn (1/15 ý kiến).

+ Đề nghị thay đoạn “giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” bằng đoạn “đình chỉ hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đề nghị Quốc hội xem xét giải tán …” (1/15 ý kiến).

Khoản 7:

+ Tán thành với dự thảo (1/15 ý kiến).

Khoản 8:

+ Đề nghị bổ sung đoạn “quyết định các biện pháp lập pháp cần thiết để bảo vệ Tổ quốc” vào sau đoạn “tuyên bố tình trạng chiến tranh” (2/15 ý kiến).

Khoản 9:

+ Cần xem xét, cân nhắc lại việc sử dụng từ “ban bố” (1/15 ý kiến).

Khoản 11:

+ Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội phải tổ chức thực hiện trưng cầu ý dân, điều tra dư luận xã hội, lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm (1/15 ý kiến).

+ Đề nghị quy định cụ thể hơn vấn đề trưng cầu ý dân (1/15 ý kiến).

Điều 80 (10 ý kiến, trong đó có 08 ý kiến ở cơ quan, 02 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị bổ sung quy định: Hội đồng Dân tộc là cơ quan của Quốc hội, là cơ quan đại diện cho tất cả các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam (2/10 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghị giữ nguyên như quy định hiện hành, các Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban và các thành viên do Quốc hội bầu, như vậy mới đủ thẩm quyền thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Quốc hội giao (7/10 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung vào đoạn cuối cụm từ “…theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng dân tộc” để tăng thêm tính chặt chẽ và là căn cứ khi thực hiện (3/10 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung từ “Quốc hội” sau cụm từ “Hội đồng dân tộc” (1/10 ý kiến).

+ Đề nghị cần phân biệt việc Quốc hội bầu Hội đồng dân tộc, bầu Ủy ban của Quốc hội là việc lập ra các cơ quan này gắn với cơ cấu bên trong của một tổ chức, khác với việc bầu hoặc phê chuẩn chức danh, chức vụ (1/10 ý kiến).

+ Đề nghị bỏ cụm từ “Hội đồng Dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các Ủy viên, Chủ tịch Hội đồng dân tộc do Quốc hội bầu” (1/10 ý kiến).

+ Đề nghị chuyển khoản 1 Điều 80 và khoản 1 Điều 81: “các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng dân tộc do Ủy ban thường vụ Quốc hội bầu”, “các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội bầu” lên quy định tại Điều 79 (1/10 ý kiến).

+ Đề nghị bỏ cụm từ “Chủ tịch Hội đồng dân tộc do Quốc hội bầu” vì đã quy định ở khoản 7 Điều 75 (1/10 ý kiến).

Khoản 2:

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, thực hiện quyền giám sát …” (2/10 ý kiến).

Khoản 3:

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “Trước khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải xin ý kiến thẩm tra của Hội đồng Dân tộc” (2/10 ý kiến).

+ Đề nghị quy định thống nhất Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội đều được mời tham dự các phiên họp Chính phủ khi có nội dung có liên quan (1/10 ý kiến).

+ Đề nghị giữ cách thể hiện như Điều 94 hiện hành vì bảo đảm tính lôgic về mặt nội dung: khi Chính phủ ban hành chính sách dân tộc phải tham khảo ý kiến Hội đồng dân tộc, từ đó mới có cơ sở để quy định Chủ tịch Hội đồng dân tộc được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc (2/10 ý kiến).

+ Đề nghị quy định “Chủ tịch Hội đồng dân tộc có quyền tham dự” thay cho quy định “được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc” (1/10 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung cụm từ “được sự đồng thuận” trước cụm từ “của Hội đồng dân tộc” (1/10 ý kiến).

Điều 81 (16 ý kiến, trong đó có 11 ý kiến ở cơ quan, 05 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị bỏ Điều 83 và sửa đổi Điều 81 như sau: “1. Quốc hội quyết định thành lập, giải thể các Ủy ban của Quốc hội. 2. Ủy ban của Quốc hội gồm Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên. Chủ nhiệm Ủy ban do Quốc hội bầu; các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Mỗi Uỷ ban có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách. 3. Ủy ban của Quốc hội thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật và dự án khác, báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban. 4. Các Ủy ban của Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Uỷ ban mới. 5. Khi cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về những vấn đề nhất định” (2/16 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quyền của Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn về các vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban, giống như thẩm quyền của Hội đồng dân tộc. Hiện nay, các Ủy ban của Quốc hội khi thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật và các dự án khác, bàn về các vấn đề quan trọng… đều mời lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham dự đối với các nội dung thuộc bộ, ngành phụ trách (1/16 ý kiến).

– Đề nghị quy định về thời gian làm việc của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong giai đoạn từ khi được Quốc hội thành lập cho đến khi Quốc hội bầu xong các thành viên của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban khóa mới theo hướng “Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội của mỗi khóa Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội bầu ra các thành viên của Hội đồng dân tộc, Ủy ban khóa mới” (1/16 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghị bổ sung vào đoạn cuối cụm từ “…theo đề nghị của Chủ nhiệm Ủy ban” để tăng thêm tính chặt chẽ và là căn cứ khi thực hiện (3/16 ý kiến).

+ Đề nghị giữ nguyên như quy định hiện hành, Phó Chủ nhiệm Ủy ban và các thành viên do Quốc hội bầu để khẳng định vai trò, địa vị pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các đại biểu Quốc hội (8/16 ý kiến).

+ Đề nghị chức danh Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban do Quốc hội bầu, Ủy viên của các Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn (2/16 ý kiến).

+ Đề nghị cân nhắc không nên quy định quá chi tiết các nội dung về kỹ thuật, quy trình, thủ tục trong Hiến pháp mà nên để luật điều chỉnh (4/16 ý kiến).

+ Đề nghị xác định rõ cơ chế làm việc của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là cơ chế thủ trưởng hay cơ chế hội đồng, theo đó sẽ có thiết kế cơ chế bầu tương ứng đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Ủy ban cũng như các thành viên khác của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; nếu theo cơ chế hội đồng thì nên giữ quy định như Hiến pháp hiện hành (2/16 ý kiến).

+ Đề nghị bỏ cụm từ “Ủy ban của Quốc hội gồm Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên. Chủ nhiệm Ủy ban do Quốc hội bầu” vì đã quy định ở khoản 7 Điều 75 (1/16 ý kiến).

+ Tán thành quy định về việc Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Phó Chủ nhiệm của các Ủy ban Quốc hội và các Ủy viên thường trực do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn, nhưng ai sẽ trình ra để phê chuẩn vì Uỷ ban thường vụ Quốc hội là khóa mới? (3/16 ý kiến).

+ Đề nghị sử dụng thống nhất chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch của cơ quan Quốc hội (3/16 ý kiến).

Khoản 2:

+ Đề nghị cân nhắc việc quy định khoản này, vì sẽ khó khăn cho việc thành lập các Ủy ban có chức năng, nhiệm vụ đặc thù sau này (1/16 ý kiến).

+ Đề nghị giữ lại thẩm quyền của Ủy ban “trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh” (1/16 ý kiến).

Khoản 3:

+ Đề nghị bỏ quy định tại khoản này vì việc giải thể Ủy ban của Quốc hội là đương nhiên, quy định này thường thì chỉ áp dụng đối với các ủy ban lâm thời nên không nên quy định trong Hiến pháp (1/16 ý kiến).

+ Đề nghị chuyển về Điều 75 thì hợp lý hơn, vì thực chất đây là quy định về thẩm quyền của Quốc hội quyết định trong việc thành lập, giải thể các Ủy ban (1/16 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “việc thành lập, giải thể, chia tách, hợp nhất các Ủy ban do Quốc hội quyết định” để phù hợp với thực tế (1/16 ý kiến).

Điều 82 (ý kiến ở 3 cơ quan)

– Đề nghị bổ sung quy định về thẩm quyền của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội nghe giải trình về dự kiến nhân sự các chức danh ở các bộ, ngành thuộc lĩnh vực hoạt động của HĐDT, Ủy ban; trên cơ sở đó, HĐDT, Ủy ban ra báo cáo kiến nghị để Quốc hội có thêm thông tin quyết định (2/3 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghị sửa đoạn “có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ” thành “Các thành viên Chính phủ có nghĩa vụ giải trình…” (1/3 ý kiến).

Khoản 2:

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “Cơ quan, tổ chức….trả lời các ý kiến của Hội đồng Dân tộc…” (1/3 ý kiến).

Điều 83 (ý kiến ở 4 cơ quan)

– Tán thành với dự thảo, qua nghiên cứu Hiến pháp các nước, cần thành lập Ủy ban lâm thời, chỉ giải quyết một vụ việc sau đó giải tán (1/4 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau “Khi cần thiết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc ít nhất 1/3 đại biểu Quốc hội, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về một số vấn đề và báo cáo tại kỳ họp Quốc hội gần nhất” (1/4 ý kiến).

– Đề nghị nên đưa nội dung Điều này lên Điều 75 vì đó là quyền và nhiệm vụ của Quốc hội (1/4 ý kiến).

– Đề nghị gọi tên là uỷ ban chuyên đề (2/4 ý kiến).

Điều 84 (10 ý kiến, trong đó có 04 ý kiến ở cơ quan, 06 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị bổ sung điều kiện bãi nhiệm đại biểu Quốc hội (2/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn đối với Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia (1/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung thêm quy định “đại biểu Quốc hội không đồng thời là thành viên của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao” (4/10 ý kiến).

– Đề nghị hoạt động của đại biểu Quốc hội phải chịu kiểm soát của nhân dân và cử tri (1/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu đại biểu Quốc hội, số lượng, tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách (1/10 ý kiến).

– Đề nghị nêu rõ đại biểu Quốc hội là người đại diện của nhân dân, do cử tri bầu ra, do đó cần quy định đại biểu Quốc hội được quyền xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo (1/10 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định “đại biểu Quốc hội bầu ra cơ quan lãnh đạo và đánh giá sự tín nhiệm” (1/10 ý kiến).

– Đề nghị xem xét lại quy định “đại biểu Quốc hội phải trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri” vì đây là vấn đề khó, nhiều yêu cầu và kiến nghị của cử tri đại biểu không trả lời trực tiếp ngay được, vì không nắm rõ hoặc không thuộc thẩm quyền giải quyết (1/10 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghị bổ sung quy định tại khoản này, thể hiện đại biểu Quốc hội là người đại diện “cho lợi ích quốc gia” (1/10 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung hoặc xây dựng thành một điều riêng quy định như sau: “đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước và của nhân dân ở đơn vị bầu đại biểu. Trong số đại biểu Quốc hội có tỷ lệ thích đáng đối với số đại biểu hoạt động chuyên trách” (2/10 ý kiến).

+ Đề nghị thay từ “và” bằng cụm từ “đặc biệt là” (1/10 ý kiến).

Khoản 2:

+ Đề nghị sửa đổi đoạn đầu thành “Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm liên hệ chặt chẽ với cư tri” (1/10 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc việc bỏ từ “xem xét” trước cụm từ “theo dõi và đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo” (1/10 ý kiến).

Khoản 3:

+ Đề nghị bổ sung cụm từ “có nghĩa vụ” vào sau cụm từ “đại biểu Quốc hội” (1/10 ý kiến).

Điều 85 (06 ý kiến, trong đó có 04 ý kiến ở cơ quan, 02 ý kiến của cá nhân)

Khoản 2:

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “Người bị chất vấn phải trả lời đại biểu Quốc hội. Hình thức trả lời chất vấn do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo quy định của pháp luật” (4/6 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung về việc trả lời chất vấn tại phiên giải trình của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (2/6 ý kiến).

Điều 86 (ý kiến ở 4 cơ quan)

– Đề nghị viết cô đọng hơn về quyền miễn trừ tư pháp của ĐBQH, vì Hiến pháp nên quy định khái quát (1/4 ý kiến).

– Đề nghị đưa các quy định về việc bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội vào các Luật chuyên ngành như Luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Quốc hội (1/4 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau “Không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong trường hợp Quốc hội không họp thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội…” hoặc “Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp mà không có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội;….” (2/4 ý kiến) hoặc “Đại biểu Quốc hội có quyền bất khả xâm phạm trong khi thi hành nhiệm vụ. Không có sự đồng ý…” (1/4 ý kiến).

Điều 87 (ý kiến ở 5 cơ quan)

– Đề nghị cân nhắc lại quy định “đại biểu Quốc hội có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội” vì như hiện nay số lượng thành viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban là có hạn trong khi tất cả các đại biểu đều có nguyện vọng được là thành viên của Hội đồng hoặc Ủy ban, như vậy sẽ khó khả thi trên thực tế (2/5 ý kiến).

Khoản 2: Đề nghị nghiên cứu, bổ sung trách nhiệm của các cơ quan Đảng, đoàn thể, doanh nghiệp…cho đầy đủ (1/5 ý kiến).

Khoản 3:

+ Đề nghị sửa đổi như sau: ‘‘Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật’’ (1/5 ý kiến).

+ Đề nghị quy định thống nhất giữa khoản này “Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội” với khoản 5 Điều 79 “Ủy ban thường vụ bảo đảm điều kiện hoạt động đại biểu Quốc hội” (1/5 ý kiến).

Điều 88 (07 ý kiến, trong đó có 04 ý kiến ở cơ quan, 03 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị chuyển lên sau Điều 76 để nội dung về hoạt động chung của Quốc hội được liên tục (1/7 ý kiến).

– Đề nghị không nên quy định Quốc hội mỗi năm họp 02 lần, Hiến pháp chỉ nên quy định những nguyên tắc cơ bản, những thiết chế lớn của Quốc hội (3/7 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghị bổ sung quy định cho phép công dân được dự nghe hoặc tổ chức truyền thanh, truyền hình trực tiếp các phiên họp công khai của Quốc hội. Bởi lẽ, việc thực hiện này vừa thể hiện được tính dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan dân cử, vừa là sự giám sát của cử tri đối với hoạt động của Quốc hội, tại Điều 30 Hiến pháp 1946 đã quy định: “Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe…” (1/7 ý kiến).

Khoản 2:

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “Quốc hội họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ” để làm phân biệt rõ với trường hợp họp bất thường (1/7 ý kiến).

+ Đề nghị quy định Quốc hội họp mỗi năm 3 hoặc 4 kỳ, mỗi kỳ kéo dài khoảng 15 ngày để bảo đảm chất lượng của các kỳ họp, tránh tốn kém, hình thức và tạo điều kiện để các đại biểu kiêm nhiệm có thể tham gia các kỳ họp đầy đủ, đồng thời vẫn bảo đảm giải quyết các công việc được giao (1/7 ý kiến).

+ Đề nghị quy định Quốc hội họp ít nhất mỗi năm 2 kỳ để cho linh hoạt, việc tăng thêm kỳ họp tùy thuộc vào điều kiện, thời gian do Luật tổ chức Quốc hội quy định (1/7 ý kiến).

Điều 89 (04 ý kiến, trong đó có 03 ý kiến ở cơ quan, 01 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị bổ sung nội dung “Cơ quản chủ trì dự án luật phải có trách nhiệm, chủ động phối hợp với các cơ quan thẩm quyền trong việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giải thích khi luật, pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành” (1/4 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghị bổ sung đoạn “và kèm theo văn bản dự thảo hướng dẫn thực hiện” (1/4 ý kiến).

+ Đề nghị sửa cụm từ “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận” thành “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội” để thống nhất với các văn kiện khác (1/4 ý kiến).

Khoản 3:

+ Đề nghị bổ sung như sau: “3. Thủ tục trình Quốc hội dự án luật, kiến nghị về luật do luật định” (1/4 ý kiến).

Điều 90 (07 ý kiến, trong đó có 04 ý kiến ở cơ quan, 03 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị giữ nguyên quy định của Hiến pháp hiện hành về điều kiện bãi nhiệm đại biểu Quốc hội khi được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (2/7 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghi bỏ cụm từ “trừ trường hợp” trước từ “Hiến pháp” và từ “quy định” sau từ “Hiến pháp” cho gọn và rõ hơn (1/7 ý kiến).

+ Đề nghị tách đoạn “trừ trường hợp Hiến pháp quy định phải có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” thành một khoản riêng và nói rõ là áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 124 (3/7 ý kiến).

Khoản 2:

+ Đề nghị lấy mốc thời gian công bố các văn bản trên kể từ ngày bế mạc kỳ họp Quốc hội hoặc từ ngày kết thúc phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội thay vì kể từ ngày được thông qua để có đủ thời gian làm các thủ tục, phù hợp với thực tế (1/7 ý kiến).

7. Về Chương VI, Chủ tịch nước

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Có 26 ý kiến góp ý vào Chương VI (trong đó có 07 ý kiến ở cơ quan, 19 ý kiến của cá nhân).

– Đề nghị sửa đổi tên Chương, nội dung Chương

+ Đề nghị quy định Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội xem xét lại các luật, nghị quyết của Quốc hội đã thông qua (1/26 ý kiến).

+ Đề nghị phân biệt rõ chức danh chỉ huy Quân đội nào do Chủ tịch nước với tư cách là thống lĩnh lực lượng vũ trang bổ nhiệm, cụ thể như đối với Tư lệnh quân đoàn, Tư lệnh quân khu… là thuộc thẩm quyền Chủ tịch nước bổ nhiệm; đối với những chức danh thuộc quản lý nhà nước về quốc phòng thuộc thẩm quyền của Thủ tướng bổ nhiệm (1/26 ý kiến).

+ Đề nghị nghiên cứu để quy định rõ hơn tính “kiểm soát” của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với Quốc hội và Chính phủ theo hướng Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội thảo luận, biểu quyết lại những những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến khác hoặc Chủ tịch nước cho rằng chưa bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất với hệ thống pháp luật, có quyền triệu tập và chủ trì phiên họp của Chính phủ (1/26 ý kiến).

+ Đề nghị: (1) Quy định rõ Chủ tịch nước thuộc bộ phận nào trong 3 nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp). (2) Đề nghị quy định thẩm quyền của Chủ tịch nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao và quy định Chính phủ chỉ điều hành về kinh tế – xã hội của đất nước. (3) Chủ tịch nước là người đứng đầu quốc gia (1/26 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung làm rõ mối quan hệ giữa Chủ tịch nước và các cơ quan trong việc thực hiện quyền hành pháp (1/26 ý kiến).

+ Đề nghị cân nhắc việc đặt Điều 94 trong chương này, vì không logic (1/26 ý kiến).

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 91 (10 ý kiến, trong đó có 04 ý kiến ở cơ quan, 06 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị quy định Chủ tịch nước có chức năng thống lĩnh công tác tư pháp và hành pháp thay cho công tác đối nội và đối ngoại (1/10 ý kiến).

– Đề nghị cân nhắc nhất thể hóa hai vị trí người đứng đầu Đảng và người đứng đầu Nhà nước, do từ góc độ quốc phòng, an ninh, Tổng Bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương, là người thực sự thống lĩnh các lực lượng vũ trang, trong khi đó thẩm quyền bổ nhiệm các chức danh trong quân đội thì lại thuộc về Chủ tịch nước và Thủ tướng (10/10 ý kiến).

– Quy định Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội đồng bảo vệ Hiến pháp vì Chủ tịch nước với tư cách là nguyên thủ quốc gia có đủ uy tín, quyền lực để thực hiện được nhiệm vụ này (1/10 ý kiến).

Điều 92 (07 ý kiến, trong đó có 02 ý kiến ở cơ quan, 05 ý kiến của cá nhân)

– Tán thành với dự thảo (1/7 ý kiến).

– Đề nghị quy định cụ thể về tiêu chuẩn, độ tuổi, thời gian đảm nhiệm chức vụ này cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế (1/7 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định “Chủ tịch nước không giữ chức vụ quá 2 nhiệm kỳ liên tục” (2/7 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “Chủ tịch nước do Quốc hội bầu” vì đã quy định ở khoản 7 Điều 75 (1/7 ý kiến).

+ Đề nghị thay cụm từ “bầu Chủ tịch nước mới” bằng “bầu Chủ tịch nước kế nhiệm” sẽ phù hợp hơn (1/7 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi đoạn 2 như sau “Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội mỗi năm một lần và báo cáo hoạt động của cả nhiệm kỳ” (1/7 ý kiến).

Điều 93 (08 ý kiến, trong đó có 04 ý kiến ở cơ quan, 04 ý kiến của cá nhân)

– Tán thành quy định quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc “bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán các tòa án khác” thể hiện sự tôn nghiêm của pháp luật, đề cao trách nhiệm của Thẩm phán (1/8 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung một khoản quy định Chủ tịch nước trực tiếp chủ trì, quản lý khối tư pháp và quyết định những vấn đề cụ thể về công tác tư pháp, vì vừa qua mảng này chưa có ai nào phụ trách (1/8 ý kiến).

– Đề nghị quy định tăng thêm thẩm quyền của Chủ tịch nước (1/8 ý kiến).

Khoản 3:

+ Tán thành quy định Chủ tịch nước bổ nhiệm tất cả các Thẩm phán là phù hợp với địa vị pháp lý của Thẩm phán, là người nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra bản án, quyết định nên cần phải do người đứng đầu Nhà nước bổ nhiệm, đây cũng là định hướng phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp (1/8 ý kiến).

+ Đề nghị không quy định thẩm quyền của Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức “thẩm phán các tòa án khác”, do số lượng Thẩm phán các Tòa án khác trên cả nước rất lớn, khó bổ nhiệm kịp thời, đúng thời hạn, dễ mang tính hình thức, nếu thực hiện theo quy định này thì không bảo đảm tính kịp thời về thời gian bổ nhiệm, nhất là trong bổ nhiệm lại (2/8 ý kiến).

Khoản 5:

+ Tán thành việc quy định rõ quyền quyết định phong hàm, cấp sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang nhân dân, Đô đốc, Phó Đô đốc, Chuẩn Đô đốc hải quân; bổ nhiệm Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam là cần thiết, phù hợp với nhiệm vụ của Chủ tịch nước trong việc thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng, an ninh (1/8 ý kiến).

+ Đề nghị bỏ quy định phong hàm cấp sỹ quan (1/8 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung quy định Chủ tịch nước bổ nhiệm tư lệnh quân khu, tư lệnh quân đoàn, binh chủng vì Chủ tịch nước thống lĩnh lực lượng vũ trang (1/8 ý kiến).

+ Đề nghị làm rõ quy định “thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân” (1/8 ý kiến).

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “5. Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong, thăng hàm, cấp sĩ quan cấp tướng trong các lực lượng vũ trang nhân dân, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm các chức vụ có quân hàm cấp tướng trừ các chức vụ thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an và các chức danh do Quốc hội phê chuẩn. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh. Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, căn cứ vào quyết nghị của Hội đồng Quốc phòng và An ninh ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương” (2/8 ý kiến).

+ Đề nghị không quy định “trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được”, vì số lượng thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội không nhiều, làm việc theo chế độ chuyên trách nên việc họp là trách nhiệm chính trị thường xuyên, không cần trù liệu trường hợp không thể họp được (1/8 ý kiến).

Điều 94 (04 ý kiến, trong đó có 03 ý kiến ở cơ quan, 01 ý kiến của cá nhân)

– Đồng ý với dự thảo, vì thiết chế Hội đồng quốc phòng và an ninh hoạt động không thường xuyên, là biểu tượng tập trung quyền lực nhà nước khi đất nước trong tình trạng chiến tranh nhằm tránh chồng chéo với chức năng các cơ quan của Đảng, Nhà nước (1/4 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định “Hội đồng quốc phòng và an ninh hoạt động thường xuyên”, vì trên thực tế, thiết chế này gặp nhiều lúng túng trong việc xác định nội dung, phương thức hoạt động; chỉ tổ chức họp phiên đầu tiên và phiên kết thúc nhiệm kỳ; thiếu một cơ quan giúp việc chuyên nghiệp (1/4 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “1. Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn. Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số. Một đạo luật về Hội đồng quốc phòng và an ninh được Quốc hội ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quốc phòng và an ninh. 2. Trong trường hợp có chiến tranh, Hội đồng quốc phòng và An ninh động viên mọi lực lượng và khả năng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao” (1/4 ý kiến) hoặc “1. Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn. Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số. 2. Trong trường hợp có chiến tranh, Hội đồng quốc phòng và an ninh động viên mọi lực lượng và khả năng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao. 3. Một đạo luật về Hội đồng quốc phòng và an ninh được Quốc hội ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quốc phòng và an ninh. 4. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng quốc phòng và an ninh do luật định” (1/4 ý kiến).

Khoản 1:

+ Đề nghị nghiên cứu đưa nội dung tại đoạn 2 về Chương Bảo vệ Tổ quốc cho hợp lý, vì Hội đồng quốc phòng, an ninh có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc (2/4 ý kiến).

+ Nếu quy định Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh là Chủ tịch nước thì phải khẳng định: “Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh” hoặc “Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh” (1/4 ý kiến).

Điều 95 (05 ý kiến, trong đó có 03 ý kiến ở cơ quan, 02 ý kiến của cá nhân)

– Đồng ý với quy định như Dự thảo (2/5 ý kiến).

– Quy định tại Điều này về quyền của Chủ tịch nước khi tham dự phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ, nhưng chưa quy định khi dự phiên họp của Chính phủ thì Chủ tịch nước giữ vai trò, quyền hạn như thế nào? đề nghị quy định “Tham dự họp các phiên họp của Chính phủ, khi cần thiết Chủ tịch nước chủ trì các phiên họp của Chính phủ bàn về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước” (4/5 ý kiến).

– Đề nghị tăng hơn nữa thẩm quyền của Chủ tịch nước cho xứng tầm là nguyên thủ quốc gia. Hiện nay có 3 nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng Chủ tịch nước không biết nằm ở nhánh nào? (1/5 ý kiến).

Điều 96 (ý kiến của 01 cá nhân)

– Đề nghị bổ sung cụm từ “theo luật định” vào cuối điều này (1/1 ý kiến).

Điều 98 (05 ý kiến, trong đó có 02 ý kiến ở cơ quan, 03 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài thì Phó Chủ tịch nước đảm nhiệm quyền Chủ tịch. Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước thì Phó Chủ tịch giữ quyền Chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới” (1/5 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định trong trường hợp khuyết cả Chủ tịch nước và Phó Chủ tịch nước (1/5 ý kiến).

– Đề nghị xác định rõ thời gian Chủ tịch nước không làm việc (3/5 ý kiến).

8. Về Chương VII, Chính phủ

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Có 18 ý kiến góp ý vào Chương VII (trong đó có 10 ý kiến ở cơ quan, 08 ý kiến của cá nhân).

– Tán thành với tên Chương, nội dung Chương VII đã quy định bảo đảm hợp lý vị trí của Chính phủ trong tổ chức quyền lực tương ứng với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền tư pháp (1/18 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi tên Chương, nội dung Chương

+ Đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa quyền hành pháp và quyền lập pháp trong việc ban hành văn bản Luật, chẳng hạn Chính phủ có quyền đề nghị Quốc hội chưa thông qua dự án Luật hoặc quyền rút lại dự án Luật do Chính phủ trình trong những trường hợp do luật định; đề xuất với Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội xem xét lại đạo luật đã được thông qua. Vì theo nguyên tắc quyền lực nhà nước có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước, Chính phủ (quyền hành pháp) có quyền kiểm soát Quốc hội (quyền lập pháp) (1/18 ý kiến).

+ Đề nghị làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và tư cách cơ quan thực hiện quyền hành pháp; phân định rõ trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ, cá nhân Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ với trách nhiệm của tập thể Chính phủ; trách nhiệm cá nhân Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ trước Thủ tưởng Chính phủ (2/18 ý kiến).

+ Đề nghị nghiên cứu để quy định rõ hơn tính “kiểm soát” của Chính phủ trong mối quan hệ với Quốc hội, ví dụ như quy định Chính phủ có quyền rút lại dự án luật đã trình Quốc hội nếu cho rằng dự án luật đó không đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước của Chính phủ (3/18 ý kiến).

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 99 (ý kiến ở 5 cơ quan)

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước” (1/5 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Chính phủ là cơ quan hành pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (3/5 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi như sau: “Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành của Quốc hội” (1/5 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “là cơ quan chấp hành của Quốc hội” để bảo đảm sự độc lập tương đối của Chính phủ với hai cơ quan còn lại thực hiện quyền lập pháp và tư pháp, có như vậy sự phân công quyền lực mới có ý nghĩa; đồng thời trong nội hàm của “hành pháp” cũng có nội dung chấp hành Quốc hội trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc Chính phủ tổ chức thực thi luật, Nghị quyết của Quốc hội… do vậy không nhất thiết phải khẳng định lại (1/5 ý kiến).

Điều 100 (03 ý kiến, trong đó có 01 ý kiến ở cơ quan, 02 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị sửa đổi đoạn 1 như sau: “Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và các thành viên khác”. Quy định như vậy mới thể hiện được nguyên tắc kết hợp về chế độ tập thể với chế độ Thủ tướng, trong đó đề cao vai trò cá nhân của Thủ tướng và các Bộ trưởng. Đây cũng là nguyên tắc hiến định nhiều nước trên thế giới thể hiện trong hiến pháp của mình (1/3 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi đoạn 6 như sau: “Thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm cá nhân trước Chính phủ, Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ” (1/3 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định về “trách nhiệm chính trị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội” (1/3 ý kiến).

– Đề nghị bỏ cụm từ “giúp Thủ tướng” trong đoạn quy định nhiệm vụ của các Phó Thủ tướng (1/3 ý kiến).

Điều 101 (05 ý kiến, trong đó có 04 ý kiến ở cơ quan, 01 ý kiến của cá nhân)

Khoản 1:

+ Đề nghị bổ sung cụm từ “ban hành chính sách theo thẩm quyền luật định” vào cuối khoản cho đầy đủ, rõ ràng hơn (1/5 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung nhiệm vụ “theo dõi tình hình thi hành pháp luật của Chính phủ” (1/5 ý kiến).

Khoản 7:

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “Thống nhất quản lý công tác đối ngoại; phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ theo thẩm quyền do Quốc hội quy định; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên …” (2/5 ý kiến).

+ Đề nghị sửa lại là “… nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên…” để thống nhất với các điều khoản khác (1/5 ý kiến).

 

Điều 102 (ý kiến của 01 cá nhân)

Đề nghị thay cụm từ “thành lập Chính phủ mới” bằng “thành lập Chính phủ nhiệm kỳ mới”

Điều 103 (08 ý kiến, trong đó có 07 ý kiến ở cơ quan, 01 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị chuyển nội dung “đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ” (khoản 2) và “quyết định việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ” (Khoản 4) trong nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng sang nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, bởi vì đây là những vấn đề hệ trọng, liên quan chặt chẽ đến các thể chế, chính sách cần được thảo luận tập thể, quyết định theo đa số (1/8 ý kiến).

– Đề nghị nghiên cứu xem xét bỏ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ để tránh lạm quyền; phát huy dân chủ và trách nhiệm của từng thành viên Chính phủ trong quản lý Nhà nước. Thực tế từ trước đến nay Báo cáo hằng năm trước Quốc hội chỉ có của Chính phủ, chứ không có của Thủ tướng. Vả lại, kinh nghiệm các nước như Trung Quốc, Lào…Hiến pháp cũng chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ mà không quy định nhiệm vụ quyền hạn của Thủ tướng (1/8 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi đoạn đầu như sau: “Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội” (2/8 ý kiến).

Khoản 2: Đề nghị quy định Thủ tướng có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức thứ trưởng vì đây là các chức danh có chức năng quản lý Nhà nước, còn việc bổ nhiệm các chức vụ và phong quân hàm trong lực lượng vũ trang (trừ sĩ quan cấp tướng) nên giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an là phù hợp và sẽ tránh được sự chồng chéo với thẩm quyền của Chủ tịch nước (2/8 ý kiến).

Khoản 3: Đề nghị không quy định thẩm quyền của Chính phủ đình chỉ việc thi hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mà nên quy định thẩm quyền này cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Chính phủ chỉ phát hiện và kiến nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc chính Hội đồng nhân dân xử lý những sai phạm (1/8 ý kiến).

Khoản 4:

+ Đề nghị sửa đổi như sau:“Đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 93; đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ và điều ước quốc tế với người đứng đầu Chính phủ khác; chỉ đạo thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” (2/8 ý kiến).

+ Quy định “chỉ đạo việc đàm phán, ký hoặc gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ” tại khoản này là thừa vì khoản 7 Điều 101 đã quy định (1/8 ý kiến).

 

Khoản 5:

+ Đề nghị sửa đổi như sau: “thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý” (1/8 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung cụm từ “thuộc thẩm quyền và trách nhiệm” vào đoạn cuối, cụ thể là “…Về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền và trách nhiệm mà Chính phủ phải giải quyết” (1/8 ý kiến).

+ Đề nghị thay cụm từ “mà Chính phủ phải giải quyết” bằng cụm từ “thuộc trách nhiệm quản lý” (1/8 ý kiến).

Điều 104 (03 ý kiến, trong đó có 02 ý kiến ở cơ quan, 01 ý kiến của cá nhân)

– Đề nghị bổ sung quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ không phải là đại biểu Quốc hội để tăng số lượng đại biểu chuyên trách và làm việc chuyên nghiệp (1/3 ý kiến).

– Khoản 2: Đề nghị sửa đổi như sau “Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Chính phủ, phải thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý” (2/3 ý kiến).

Điều 105 (01 ý kiến, trong đó có 01 ý kiến ở cơ quan, 0 ý kiến của cá nhân)

Đề nghị sửa đổi như sau: “…ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện nhiệm vụ …” (1/1 ý kiến).

Điều 106 (ý kiến ở 1 cơ quan)

Đề nghị sửa đổi như sau “Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và những người đứng đầu của các đoàn thể được mời tham gia phiên họp của Chính phủ khi bàn về những vấn đề có liên quan”.

9. Về Chương VIII, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Tổng số có 20 ý kiến góp ý vào Chương VIII (trong đó có 3 ý kiến ở cơ quan, 17 ý kiến của cá nhân).

– Về nội dung, bố cục của chương:

+ Tán thành với dự thảo (01/20 ý kiến)

+ Đề nghị dự thảo giữ nguyên quy định cơ quan Tòa án (02/20 ý kiến) và Viện kiểm sát (01/20 ý kiến) như Hiến pháp năm 1992; xác định rõ Ủy ban kiểm sát là cơ chế lãnh đạo tập thể của Viện kiểm sát (01/20 ý kiến).

+ Đề nghị không quy định Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất, vì theo nguyên tắc tố tụng thì chỉ có hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm; hơn nữa, các bản án khi có hiệu lực pháp luật thì có giá trị pháp lý như nhau, không có bản án của cấp nào cao hơn cấp nào (01/20 ý kiến).

+ Đề nghị nghiên cứu, xem xét lấy lại chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát trước đây (02/20 ý kiến)

+ Không tán thành với quy định chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố (01/20 ý kiến)

+ Đề nghị quy định Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền công tố, bỏ chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp (01/20 ý kiến).

+ Viện kiểm sát là một công cụ để kiểm sát quyền lực, do đó, có thể chuyển Viện kiểm sát về Chương X để nó đứng song song với các cơ quan như kiểm toán, Ủy ban phòng, chống tham nhũng quốc gia (03/20 ý kiến)

+ Đề nghị quy định nội dung Chương này chi tiết hơn (01/20 ý kiến).

+ Nêu rõ những loại “Tòa án khác”, “Viện kiểm sát khác” (01/20 ý kiến)

+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có được ban hành văn bản không? (01/20 ý kiến).

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 107 (3 ý kiến, trong đó có 2 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị bổ sung khoản 1 là: “, giữ vị trí trung tâm thực hiện quyền tư pháp”; thay cụm từ “Tòa án khác” bằng cụm từ “Tòa án cấp dưới” (01/3 ý kiến).

– Đề nghị sửa đổi khoản 2: “Tòa án nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong phạm vi chức năng của mình có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công lý…” (01/3 ý kiến)

– Không tán thành khoản 3: Đề nghị cân nhắc bỏ quy định về thành lập Tòa án đặc biệt để bảo đảm Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử duy nhất thực hiện quyền tư pháp, bảo đảm quyền công dân trên cơ sở tiêu chí mọi người có quyền được xét xử bởi Tòa án theo thủ tục tố tụng luật định (01/3 ý kiến).

Điều 108 (6 ý kiến, trong đó có 3 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị bổ sung “Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán” (01/6 ý kiến)

Khoản 5

– Bổ sung như sau: “Nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm. Phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa” (01/6 ý kiến)

– Đề nghị bỏ khoản này vì đây là một nguyên tắc trong tố tụng mới đang được nghiên cứu và bước đầu được áp dụng trong quá trình cải cách tư pháp ở nước ta (01/6 ý kiến);

Khoản 6

– Đề nghị thay từ “chế độ” bằng từ “trình tự” (01/6 ý kiến)

– Đề nghị bỏ khoản này (01/6 ý kiến)

Khoản 7

– Đề nghị không phải là nguyên tắc mà là quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự, do đó cần đưa về Chương II (03/6 ý kiến)

– Thay cụm từ “lợi ích hợp pháp” bằng cụm từ “quyền và lợi ích hợp pháp” (01/6 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung một khoản quy định Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được kéo dài thời gian công tác cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu lại các chức danh này (01/6 ý kiến).

Điều 109 (2 ý kiến, trong đó có 1 ý kiến ở cơ quan, 1 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị bổ sung cuối câu như sau “, thực hiện quyền tư pháp” (01/2 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung quy định: “Trường hợp pháp luật chưa quy định thì quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao có giá trị áp dụng bắt buộc đối với TAND cấp dưới” để bước đầu thực thi án lệ ở Việt Nam (01/2 ý kiến).

Điều 110 (4 ý kiến, trong đó có 1 ý kiến ở cơ quan, 3 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị bổ sung: “… việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án khác do luật định”. (01/4 ý kiến)

Khoản 2

– Đề nghị bổ sung quy định chế độ chịu trách nhiệm, nhiệm vụ báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân khác và đề nghị sửa lại là “Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm về báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước; Chánh án các Tòa án khác chịu trách nhiệm báo cáo công tác theo quy định của luật” (01/4 ý kiến)

– Quốc hội có nên bổ nhiệm các thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hay không hay chỉ bầu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao còn các chức danh khác giao Chủ tịch nước thực hiện (01/4 ý kiến)

Khoản 3: đề nghị bổ sung từ “bãi nhiệm” sau chữ “bầu” (01/4 ý kiến)

Điều 111 (1 ý kiến)

Đề nghị bỏ từ “nhân dân”; thay từ “hữu quan” bằng từ “liên quan”.

Điều 112 (3 ý kiến, trong đó có 1 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị bổ sung “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp và những việc khác theo quy định của luật hoặc và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong một số lĩnh vực theo quy định của pháp luật hoặc nghị quyết của Quốc hội” (01/3 ý kiến)

– Đề nghị cân nhắc quy định Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp, vì Điều 107 đã quy định Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (01/3 ý kiến)

– Đề nghị xác định rõ Viện kiểm sát nhân dân thuộc cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp (01/3 ý kiến)

– Đề nghị xác định Viện kiểm sát là cơ quan tư pháp. Trong Nghị quyết 49 về cải cách tư pháp trong đó công an, kiểm sát, tòa án, bộ phận điều tra và thi hành án đều là cơ quan tư pháp, nếu chỉ quy định Tòa án là cơ quan tư pháp thì chưa chính xác. Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung quyền công tố và những nội dung liên quan được thể hiện Nghị quyết 49 về cải cách tư pháp (01/3 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung vào cuối khoản này quy định “Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan độc lập, không phụ thuộc vào chính quyền địa phương các cấp” (01/3 ý kiến)

Khoản 2

– Đề nghị quy định cụ thể hơn về nguyên tắc tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát để làm cơ sở cho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ chính trị của mình (01/3 ý kiến)

Khoản 3

– Đề nghị quy định Viện kiểm sát xử lý các vi phạm hành chính và thực hiện kiểm sát văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thống nhất, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật (01/3 ý kiến)

Điều 114 (3 ý kiến, trong đó có 1 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Cần phải nâng cao vị thế của thẩm phán Toàn án nhân dân tối cao để đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp (01/3 ý kiến)

Khoản 1 đề nghị quy định như sau: “Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo, Ủy ban kiểm sát là cơ chế lãnh đạo tập thể của Viện kiểm sát do Viện trưởng là người đứng đầu. Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát tối cao. Việc thành lập Ủy ban kiểm sát, những vấn đề Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền quyết định, những vấn đề quan trọng mà Ủy ban kiểm sát phải thảo luận, quyết định theo đa số, theo luật định” (01/3 ý kiến)

Khoản 2 cần phải xem xét, nghiên cứu kỹ việc quy định viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp để sau này không bị vướng khi sửa Luật tố tụng hình sự và các Luật tổ chức Viện kiểm sát, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự (02/3 ý kiến)

10. Về Chương IX, chính quyền địa phương

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Tổng số có 55 ý kiến góp ý vào Chương IX (trong đó có 9 ý kiến ở cơ quan, 46 ý kiến của cá nhân).

– Ý kiến tập trung vào các Điều: 115, 117

– Về tên chương:

+ Tán thành đổi tên Chương thành “Chính quyền địa phương” (04/55 ý kiến)

+ Không tán thành đổi tên Chương (01/55 ý kiến)

+ Đề nghị sửa lại tên Chương là “Ủy ban hành chính” (03/55 ý kiến)

– Về nội dung, bố cục của chương:

+ Cần tổ chức các hội thảo khoa học, tiếp thu ý kiến chuyên gia trước khi đưa ra các phương án thiết kế cho Chương này. (01/55 ý kiến)

+ Đề nghị không bỏ HĐND cấp huyện để duy trì quyền làm chủ của nhân dân ở cấp chính quyền này (02/55 ý kiến)

+ Đề nghị xác lập nguyên tắc: ở đâu lập bộ máy hành chính thì ở đó phải có tổ chức dân cử là HĐND thực hiện giám sát và tham gia quản lý xã hội (03/55 ý kiến)

+ Đề nghị quy định rõ Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân do cơ quan nào bầu hoặc bổ nhiệm để dẫn chiếu tới trách nhiệm là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và lý giải mối quan hệ này trong điều kiện không còn Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường (01/55 ý kiến)

– Các ý kiến đề nghị sửa đổi:

+ Đề nghị làm rõ hơn hai khái niệm “đơn vị hành chính lãnh thổ” và “đơn vị hành chính nhà nước”; xác định vị trí của đơn vị hành chính lãnh thổ cho phép biến đổi mô hình tổ chức bộ máy linh hoạt, năng động, phù hợp yêu cầu quản lý theo vùng đô thị, nông thôn (sẽ được thể chế hóa trong luật về chính quyền địa phương) (01/55 ý kiến)

+ Đề nghị quy định xây dựng mô hình chính quyền địa phương theo hướng làm rõ mối quan hệ giữa trung ương và địa phương, xác định nguyên tắc phân cấp (trong đó có nội dung liên quan đến ngân sách quốc gia tại Điều 59) (01/55 ý kiến); xác định vị thế, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cho phù hợp với tính chất của chính quyền địa phương nằm trong cơ cấu hành chính (Hội đồng nhân dân không phải là cơ quan cấp dưới của Quốc hội) (01/55 ý kiến); xây dựng mô hình chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm (01/55 ý kiến)

+ Đề nghị thiết kế chính quyền địa phương tự quản, có vị thế tương đối độc lập; bổ sung quy định về chính quyền đô thị… Chỉ quy định những vấn đề nguyên tắc trong Hiến pháp, như nguyên tắc phân cấp giữa trung ương và địa phương, nguyên tắc cho phép tiến tới tổ chức chính quyền địa phương có sự phân biệt đặc thù giữa chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo, đặc khu kinh tế… (01/55 ý kiến)

+ Đề nghị giữ lại chương về Hội đồng nhân dân như quy định của Hiến pháp hiện hành và xác định rõ vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân trong Hiến pháp để làm cơ sở quy định trong các luật sau này (03/55 ý kiến)

+ Đề nghị vẫn tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường theo chính quyền 4 cấp là tỉnh, huyện, xã và khi cụ thể hóa bằng Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân sửa đổi sắp tới theo Hiến pháp thì bổ sung những đặc điểm mà quản lý đô thị khác với nông thôn vào trong nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở vùng có tính chất quản lý đô thị (03/55 ý kiến)

+ Đề nghị không bỏ Hội đồng nhân dân cấp huyện mà phải nâng cao được vai trò trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (02/55 ý kiến). Cần tổng kết, đánh giá trước khi thực hiện việc bỏ Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường (03/55 ý kiến)

+ Đề nghị bỏ Hội đồng nhân dân cấp huyện và tăng chuyên trách ở Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (01/55 ý kiến). Đề nghị xây dựng chính quyền địa phương theo hướng chỉ còn cấp tỉnh – cấp xã, phường (bỏ cấp huyện, quận; thực tế ở Việt Nam rất nhiều năm nay có những tỉnh không có cấp huyện như ở một số đảo- ví dụ Côn Đảo, Phú Quốc…); Từ đó, tăng tính thực quyền của đại biểu HĐND các cấp (2 cấp: tỉnh, xã) so với hiện nay (01/55 ý kiến)

+ Để tránh chồng chéo, “hai vai”, vừa tốn kém ngân sách nhà nước, vừa không hiệu quả khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đề nghị nghiên cứu giảm số lượng đại biểu HĐND kiêm nhiệm, tăng số lượng, trách nhiệm, quyền hạn của đại biểu HĐND chuyên trách cấp tỉnh, cấp xã, phường. Thực hiện theo mô hình này, ngân sách Nhà nước sẽ không phải “nuôi” hệ thống đại biểu HĐND 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) kiêm nhiệm như hiện nay (vừa cồng kềnh tốn kém, vừa không có hiệu quả vì đại biểu không có thực quyền) (01/55 ý kiến)

+ Để đảm bảo tính thực quyền, đề nghị chỉ bố trí đại biểu HĐND cấp tỉnh, xã, phường chuyên trách, không bố trí kiêm nhiệm. Từ đó, số lượng sẽ giảm hơn hiện nay. Tuy nhiên, cần quy định đại biểu HĐND phải có vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn, phương tiện làm việc tương đương cấp Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc cấp xã, phường. Họ sẽ làm việc 100% thời gian để thực hiện nhiệm vụ đại biểu, vì thế sẽ góp phần nâng cao hơn chất lượng hoạt động của HĐND cấp tỉnh, xã, phường so với hiện nay (01/55 ý kiến)

+ Cần tiếp tục khẳng định trong Hiến pháp năm 1992 nơi nào có Ủy ban nhân dân, Ủy ban hành chính thì nơi đó phải có Hội đồng nhân dân là thiết chế dân chủ để kiểm soát lại cơ quan này (01/55 ý kiến)

+ Cần cân nhắc kỹ việc đưa khái niệm, mô hình “chính quyền đô thị” vào Hiến pháp, vì chưa được thực tiễn kiểm nghiệm (01/55 ý kiến)

– Các ý kiến đề nghị bổ sung nội dung mới:

+ Đề nghị đưa nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân vào trong chương này (01/55 ý kiến)

+ Cần quy định nguyên tắc để xác định đơn vị hành chính cấp tỉnh và giao Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định để làm căn cứ khoa học và thực thi khi chia tách và sáp nhật, thành lập mới các đơn vị hành chính (01/55 ý kiến)

+ Đề nghị quy định trong Hiến pháp về mô hình phát triển đô thị, bảo đảm phát triển hài hòa giữa nông thôn và thành thị (01/55 ý kiến). Bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về phân biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tạo cơ sở pháp lý cho Luật tổ chức chính quyền địa phương, quy định sự khác biệt cụ thể giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị sẽ tạo sự thống nhất trong luật pháp, trong Nhà nước pháp quyền (01/55 ý kiến). Bổ sung quy định việc thành lập “khu hành chính kinh tế đặc biệt” trong trường hợp cần thiết (01/55 ý kiến)

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 115 (16 ý kiến, trong đó có 7 ý kiến ở cơ quan, 9 ý kiến cá nhân)

Khoản 1

– Đề nghị bỏ quy định phân chia thành cấp huyện, quận (01 ý kiến); Đề nghị thay đoạn “thành phố thuộc tỉnh, thị xã” bằng đoạn “thành phố, thị xã thuộc tỉnh” (01/16 ý kiến)

– Đề nghị diễn đạt lại nội dung cho rõ hơn, cụ thể là: Tỉnh chia thành huyện, thành phố và thị xã thuộc tỉnh. Thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã thuộc thành phố; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh và thị xã chi thành phường và xã; quận chia thành phường (01/16 ý kiến)

– Đề nghị sửa lại là: “Các đơn vị hành chính lãnh thổ bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời” (01/16 ý kiến)

– Bổ sung vào cuối khoản: Đối với các đô thị đặc biệt thành phố trực thuộc Trung ương thì việc phân chia cấp hành chính sẽ do Quốc hội quyết định, ghi rõ nguyên tắc bộ máy chính quyền địa phương (01/16 ý kiến)

Khoản 2

– Đề nghị quy định thành lập Hội đồng nhân dân theo từng cấp như Hiến pháp năm 1992. (06/16 ý kiến)

– Đề nghị xem xét lại quy định tại khoản này, vì hiện nay đang thí điểm thực hiện việc không tổ chức HĐND ở một số cấp (01/16 ý kiến)

– Đề nghị khẳng định rõ thành lập HĐND ở mấy cấp; đồng thời cần xem xét thấu đáo việc bỏ HĐND ở bất kỳ cấp nào, vì đây là hình thức “tước” quyền lực của nhân dân được quy định tại Điều 6 (01/16 ý kiến) và trái Điều 2 (01/16 ý kiến)

– Đề nghị thay cụm từ “Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân” bằng “các tổ chức chính quyền địa phương” sẽ phù hợp với những quan điểm, định hướng của Đảng được nêu trong các văn kiện của Đảng, Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hiện nay Nhà nước đang chỉ đạo thực hiện điểm mô hình không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường; lập đề án trước chính quyền địa phương theo hướng phân biệt chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn. Nếu việc tiến hành thành công thì quy định như trên sẽ không bị vướng khi sửa đổi Luật Hội đồng nhân dân năm 2013 (01/16 ý kiến)

– Đề nghị sửa như sau: “Việc thành lập HĐND và UBND ở các đơn vị hành chính lãnh thổ do luật định phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi, hải đảo” (01/16 ý kiến ) hoặc “HĐND và UBND được thành lập ở đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã” (01/16 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung vào cuối điều này là: khi cần thiết Quốc hội thành lập đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt (01/16 ý kiến)

Điều 116 (ý kiến ở 4 ở cơ quan)

Khoản 1

– Ý kiến không tán thành: Việc quy định Hội đồng nhân dân quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, các vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước tại địa phương là không đầy đủ, không phù hợp với thực tế. Bởi vì, các biện pháp chỉ là một khâu trong quá trình tổ chức thực hiện, còn vấn đề quan trọng là quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quyết định các mục tiêu kinh tế – xã hội, quyết định những vấn đề quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội thuộc thẩm quyền của địa phương (01/4 ý kiến)

– Đề nghị thay “nhân dân” bằng cử tri” cho chính xác; cụ thể sửa lại là “Hội đồng nhân dân…, do cử tri địa phương bầu ra…”. (01/4 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung từ “quyết định” trước cụm từ “các vấn đề quan trọng của địa phương” (02/4 ý kiến)

– Đề nghị nghiên cứu thêm các đối tượng giám sát vì HĐND và đại biểu HĐND không chỉ có quyền giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước tại địa phương mà có quyền giám sát hoạt động của mọi tổ chức và cá nhân ở địa phương trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. (01/4 ý kiến)

Khoản 2

– Đề nghị sửa lại là “Chủ tịch UBND và các thành viên UBND phải chịu trách nhiệm về tập thể và cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ được giao trước HĐND, trước cơ quan hành chính cấp trên và trước nhân dân địa phương”. (02/4 ý kiến)

– Đề nghị giữ nguyên quy định “UBND do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND” như Điều 123 Hiến pháp năm 1992 (02/4 ý kiến)

Điều 117 (7 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

– Đề nghị bổ sung nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân “phổ biến” chính sách, pháp luật vào đoạn 2. (01/7 ý kiến)

– Đề nghị diễn đạt lại, vì nhân dân không phải là chủ thể tham gia quản lý Nhà nước (01/7 ý kiến)

– Bổ sung quy định đại biểu HĐND có quyền xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo (02/7 ý kiến)

– Đề nghị quy định bổ sung mối quan hệ giữa trung ương và địa phương, liên kết vùng (01/7 ý kiến); Nghiên cứu bổ sung quy định tăng cường việc phân cấp quản lý nhà nước cho địa phương, khẳng định vai trò tự quản và năng động của địa phương (01/7 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung điều kiện bãi nhiệm đại biểu HĐND (01/7 ý kiến)

Điều 118 (ý kiến ở 3 cơ quan)

Đoạn 1

– Sửa câu cuối thành: “Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân ngay trong kỳ họp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày sau khi kỳ họp kết thúc” (02/3 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung cụm từ “cùng cấp”, sửa lại là “Đại biểu Hội đồng nhân dân…Ủy ban nhân dân cùng cấp…” (01/3 ý kiến)

– Trường hợp không tổ chức HĐND cấp huyện thì đề nghị bổ sung: “Ở những nơi không có HĐND cấp huyện thì HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chủ tịch UBND cấp huyện” (02/3 ý kiến)

Đoạn 2

Đề nghị quy định thống nhất như khoản 3 Điều 85 để tăng quyền hạn cho đại biểu HĐND; thể hiện lại để làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước ở địa phương (02/3 ý kiến)

11. Về Chương X, Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Tổng số có 49 ý kiến góp ý vào Chương X (trong đó có 12 ý kiến ở cơ quan, 37 ý kiến của cá nhân).

– Ý kiến tập trung vào các Điều: 120, 121

– Về nội dung, bố cục của chương:

+ Tán thành với việc hiến định các thiết chế Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước. (04/49 ý kiến)

+ Đề nghị thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập hoặc Hội đồng bảo hiến để kiểm soát, phán quyết và xử lý kịp thời những vấn đề vi hiến của các cơ quan nhà nước, viên chức nhà nước, các đại biểu dân cử và mọi người dân. Hơn nữa, nước ta đang thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, nên để bảo đảm nhân dân có thể kiểm soát quyền lực thì phải thông qua thiết chế Tòa án Hiến pháp. (03/49 ý kiến)

+ Đề nghị thành lập Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng Bảo hiến có quyền lực phán quyết độc lập bằng bản án hoặc bằng quyết định hủy bỏ những văn bản vi hiến của mọi chủ thể; hủy bỏ các bản án của Tòa án nhân dân các cấp có vi phạm HP và pháp luật; có quyền phán xét cả các hành vi vi hiến của tổ chức và cá nhân. (02/49 ý kiến)

+ Đề nghị tiếp tục tổng kết cơ chế bảo hiến hiện hành, hoàn thiện nó hơn trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (01/49 ý kiến)

+ Đề nghị không quy định Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử QG (04 ý kiến); có thể giao chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia cho Ủy ban về công tác tổ chức và nhân sự của Quốc hội (Ban công tác đại biểu hiện nay) (01/49 ý kiến)

+ Đề nghị đặt vị trí Chương này sau Chương V (Quốc hội) cho phù hợp (01/49 ý kiến); Việc ghép 3 cơ quan Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán Nhà nước vào một chương là không phù hợp (01/49 ý kiến)

+ Đề nghị tách thành 3 chương độc lập (01/49 ý kiến)

+ Đề nghị làm rõ 3 thiết chế mới này thuộc nhánh quyền lực nào (01/49 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung nội dung mới vào Chương:

+ Đề nghị bổ sung quy định ghi nhận quyền phán quyết của cả 3 thiết chế mới theo hướng tăng thẩm quyền hơn nữa cho các cơ quan này (01/49 ý kiến)

+ Đề nghị xem xét, quy định về thanh tra độc lập, góp phần kiểm soát xã hội hiệu quả. (01/49 ý kiến)

+ Đề nghị xem xét bổ sung quy định tạo hướng mở để nâng cao vị thế của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là Ngân hàng Trung ương quốc gia (01/49 ý kiến)

+ Đề nghị bổ sung vào chương này một cơ quan gọi là Ủy ban chống tham nhũng quốc gia và điều này sẽ quy định là “Ủy ban chống tham nhũng quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động phòng, chống tham nhũng, khởi tố, điều tra, truy tố các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp. Chủ tịch Ủy ban phòng, chống tham nhũng quốc gia là người đứng đầu Ủy ban do Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Ủy ban phòng, chống tham nhũng quốc gia do luật định” (02/49 ý kiến).

 

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 120 (32 ý kiến, trong đó có 11 ý kiến ở cơ quan, 21 ý kiến cá nhân)

– Tán thành với Dự thảo (04/32 ý kiến).

– Việc thành lập Hội đồng bảo hiến cần được cân nhắc thận trọng, đặc biệt là vấn đề cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến. Đồng thời cần sớm hoàn thiện cơ chế, thủ tục của việc phát hiện, hủy bỏ, bãi bỏ các văn bản trái với Hiến pháp. Cần tổng kết thật kỹ lưỡng việc thực hiện cơ chế bảo hiến trong thời gian qua. (01/32 ý kiến)

– Quốc hội không thể tự làm luật, tự giải thích và tự quyết định xem nó hợp hiến hay không. Thẩm quyền này phải thuộc Hội đồng Hiến pháp. Tuy nhiên, quy định về Hội đồng hiến pháp trong dự thảo chưa thể hiện tính khách quan. (01/32 ý kiến)

– Ở nước ta, cơ chế bảo hiến được thực hiện khá tốt, do đó không cần phải thành lập cơ quan bảo hiến riêng, tránh trùng lắp với chức năng của các cơ quan của Quốc hội gây tốn kém, hình thức (03/32 ý kiến)

– Dự thảo quy định Hội đồng Hiến pháp chỉ có thẩm quyền “kiến nghị” là chưa phù hợp, biến cơ quan này thành cơ quan thuần túy tư vấn cho Quốc hội, chưa đủ mạnh để trở thành thiết chế kiểm soát quyền lực, khó bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp (08/32 ý kiến); Đề nghị không quy định thẩm quyền “yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của mình” (01/32 ý kiến)

– Sửa lại tên gọi của thiết chế này là Hội đồng bảo vệ Hiến pháp (02/32 ý kiến)

– Đề nghị Hiến pháp quy định Hội đồng Hiến pháp theo hướng nguyên tắc chung, về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ thì giao có luật quy định (01/32 ý kiến)

– Sửa lại quy định về chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo với nhiệm vụ của các cơ quan của Quốc hội (02/32 ý kiến); quy định cơ chế giám sát hoạt động của Hội đồng Hiến pháp (01/32 ý kiến); đề nghị phân biệt và khẳng định chức năng tiền kiểm và chức năng hậu kiểm của Hội đồng này với các cơ quan của Quốc hội, nên chăng chỉ tập trung vào chức năng hậu kiểm (01/32 ý kiến). Chỉ nên ghi vắn tắt chức năng của cơ quan này là “phán quyết các trường hợp vi hiến”, những nội dung khác nên thể chế hóa bằng luật (01/32 ý kiến)

Khoản 1

– Đề nghị quy định rõ quyền hạn của Hội đồng Hiến pháp là “Hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. (01/32 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung: “Hội đồng Hiến pháp hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (01/32 ý kiến)

– Cần làm rõ thêm nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Hiến pháp trong việc kiểm tra, kết luận về tính hợp hiến của luật, nghị quyết của Quốc hội nhằm bảo đảm tính thống nhất với Điều 32 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (01/32 ý kiến)

Khoản 2

– Đề nghị sửa là “… kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một bên ký kết hoặc gia nhập” nhằm thiết kế chức năng kiểm tra của Hội đồng Hiến pháp theo nguyên tắc độc lập và bao quát, không gắn với quy trình xem xét, quyết định ký kết, gia nhập điều ước quốc tế và không hạn chế về loại điều ước quốc tế (danh nghĩa Nhà nước hay Chính phủ). Hội đồng Hiến pháp có thể kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế ở bất kỳ giai đoạn nào, trong hay sau quy trình ký kết, gia nhập điều ước quốc tế. (02/32 ý kiến)

Khoản 3

– Đề nghị bổ sung quy định về tiêu chuẩn thành viên Hội đồng Hiến pháp để bảo đảm chất lượng thành viên Hội đồng. Hội đồng Hiến pháp phải hoạt động độc lập, không phải là cơ quan tư vấn cho Quốc hội. Thành phần của Hội đồng Hiến pháp không nên chỉ toàn đại biểu Quốc hội mà cần có sự tham gia của những người có nhiều kinh nghiệm về chính trị, pháp luật (01/32 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung thẩm quyền của Hội đồng Hiến pháp trong việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, tạo cơ chế gắn thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật với việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh cho Hội đồng Hiến pháp thực hiện (02/32 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung thẩm quyền tạm hoãn thi hành, đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ văn bản vi hiến. (10/32 ý kiến)

– Giao cho Chủ tịch nước làm Chủ tịch Hội đồng để bảo đảm quyền năng của Hội đồng được thực thi nghiêm túc (01/32 ý kiến)

– Bên cạnh thiết chế này, đề nghị thành lập Tòa án Hiến pháp thực hiện hoạt động tài phán đối với các trường hợp vi hiến (01/32 ý kiến)

Điều 121 (11 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 6 ý kiến cá nhân)

– Việc thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia là cần thiết, góp phần giải quyết nhiều vấn đề còn vướng mắc hiện nay liên quan đến công tác bầu cử như xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử, kết quả bầu cử; góp phần tăng cường tính chuyên nghiệp của các cơ quan trong bộ máy nhà nước (03/11 ý kiến)

– Việt Nam chưa có tổ chức chuyên nghiên cứu và hoàn thiện về chế định bầu cử, trưng cầu dân ý và phúc quyết Hiến pháp một cách độc lập. Do đó, việc bổ sung Hội đồng bầu cử quốc gia là cần thiết để góp phần hoàn thiện hơn nữa chế độ dân chủ (01/11 ý kiến)

– Đề nghị bỏ Điều này, vì vấn đề này chưa rõ, chưa có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn. Do đó, việc công bố và chủ trì tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội cần được bổ sung vào nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội (04/11 ý kiến). Thành lập cơ quan này là không cần thiết, vì ở Việt Nam không xảy ra việc khiếu nại kết quả bầu cử do chỉ có 1 đảng phái chính trị tổ chức bầu cử (01/11 ý kiến). Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp diễn ra 5 năm 1 lần và đã có luật hợp nhất giữa bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nên không cần thành lập cơ quan này (01/11 ý kiến)

– Đề nghị bổ sung nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia, vì trên thực tế, các cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Hội đồng nhân dân hiện nay được tiến hành 5 năm một lần, chủ yếu tập trung vào một khoảng thời gian nhất định (02/11 ý kiến)

– Đề nghị quy định rõ Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan hoạt động thường xuyên hay cơ quan lâm thời. Nếu là cơ quan lâm thời, đề nghị bổ sung: “Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan lâm thời, được thành lập… ngày trước khi diễn ra ngày bầu cử và tự giải tán sau… ngày khi cuộc bầu cử kết thúc”. (02 ý kiến); làm rõ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có còn thực hiện công tác bầu cử nữa không (01/11 ý kiến); nêu rõ điều kiện cho thành viên chuyên trách và thành viên kiêm nhiệm (01/11 ý kiến).

– Đề nghị nêu rõ Hội đồng bầu cử quốc gia có nhiệm kỳ 5 năm theo quy định của pháp luật về bầu cử (01/11 ý kiến)

Điều 122 (7 ý kiến, trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 2 ý kiến cá nhân)

Khoản 1: Đề nghị bỏ câu “Tổng kiểm toán do Quốc hội bầu” vì đã quy định ở khoản 7 Điều 75 (01/7 ý kiến)

– Đề nghị xem lại quy định về chế định của KTNN vì quy định KTNN “thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công” là thu hẹp hơn so với quy định của Luật kiểm toán. Theo quy định của Dự thảo thì KTNN sẽ không được kiểm toán khối doanh nghiệp nhà nước, đất đai, tài nguyên… Đề nghị giữ như quy định hiện hành và bổ sung việc kiểm toán đối với đất đai và tài nguyên vì đây là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý. (02/7 ý kiến)

– Quy định Kiểm toán chịu trách nhiệm trước Quốc hội và trước Chính phủ là quy định không rõ mô hình. Kiểm toán cần phải được tổ chức độc lập với Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ thì mới bảo đảm tính khách quan trong việc kiểm soát chi tiêu và sử dụng ngân sách Nhà nước. Cơ quan Kiểm toán phải do Quốc hội thành lập. (02/7 ý kiến)

– Đề nghị nêu rõ Kiểm toán Nhà nước trực thuộc cơ quan nào (01/7 ý kiến).

– Đề nghị quy định rõ nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán là 7 năm (khác với nhiệm kỳ của Quốc hội) để bảo đảm tính độc lập tương đối của hoạt động kiểm toán (01/7 ý kiến).

– Bổ sung quy định cơ chế kiểm soát, quyền lực của Kiểm toán Nhà nước, tránh lạm quyền (02/7 ý kiến).

12. Về Chương XI, hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp

Phần thứ nhất: Tổng quan, đánh giá chung

– Tổng số có 13 ý kiến góp ý vào Chương XI (trong đó có 5 ý kiến ở cơ quan, 8 ý kiến của cá nhân).

– Về bố cục, nội dung:

+ Đề nghị hiến định hình thức văn bản sửa đổi, bổ sung Hiến pháp (01/13 ý kiến).

+ Đề nghị quy định rõ cơ chế kiểm soát quyền lập hiến (sửa đổi, bổ sung Hiến pháp) (01/13 ý kiến).

+ Đề nghị bổ sung quy định về hiệu lực thi hành của Hiến pháp (01/13 ý kiến).

Phần thứ hai: Những góp ý về các điều, khoản cụ thể

Điều 123 (ý kiến của 2 cá nhân)

– Đề nghị bổ sung quy định rõ các hành vi vi phạm hiến pháp (vi phạm về nội dung, về hình thức hay vi phạm không thực hiện Hiến pháp) (01/2 ý kiến).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “bằng pháp luật” vào cuối điều này (01/2 ý kiến).

Điều 124 (9 ý kiến, trong đó có 4 ý kiến ở cơ quan, 5 ý kiến cá nhân).

Khoản 3: sửa cụm từ “dự thảo Hiến pháp” thành “dự thảo sửa đổi Hiến pháp” (01/9 ý kiến).

Khoản 4

– Đề nghị quy định phù hợp với khoản 2 Điều 76 theo hướng: Tùy từng trường hợp cụ thể, Quốc hội quyết định áp dụng hình thức bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết, không ấn định hình thức “biểu quyết” như quy định của Dự thảo nhằm bảo đảm tính linh hoạt, rộng đường cho quá trình thực hiện (01/9 ý kiến).

– Đề nghị sửa như sau: “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành và phải được đưa ra trưng cầu ý dân” hoặc “Sau đó, dự thảo Hiến pháp phải được đem ra cho toàn dân phê chuẩn bằng hình thức bỏ phiếu thông qua; khi có hơn 50% cử tri đồng ý thì Hiến pháp đó mới có hiệu lực” (03/9 ý kiến).

– Đề nghị thay cụm từ “làm Hiến pháp” bằng “xây dựng Hiến pháp” hoặc “việc sửa đổi Hiến pháp” trong toàn bộ điều này cho chuẩn xác về mặt ngôn ngữ (02/9 ý kiến).

– Bổ sung làm rõ vai trò của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân trong việc làm Hiến pháp, sửa đổi bổ sung Hiến pháp (01/9 ý kiến).

– Bổ sung “quyền phúc quyết Hiến pháp” của công dân (02/9 ý kiến).

– Đề nghị đặt ra giới hạn trong việc sửa đổi Hiến pháp (như không được sửa đổi Điều 1, Điều 2 của Hiến pháp) (01/9 ý kiến).

Trên đây là tổng hợp ý kiến của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội chuyên trách và Văn phòng Quốc hội tham gia vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, xin báo cáo Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Nơi nhận:

– Ủy ban DTSĐHP;

– Thành viên UBTVQH;

– Thường trực HĐDT, các UB của QH;

– Các cơ quan thuộc UBTVQH;

– Thường trực Ban biên tập DTSĐHP;

– VPQH;

– Lưu HC, TH.

 

TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Uông Chu Lưu

 

Để lại ý kiến của bạn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Thống Kê Khách Thăm

free counters

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 427 other followers

VN Tôi Đâu-Anh Là Ai?

%d bloggers like this: