DIỄN ĐÀN CỦA CHÚNG TA

TIẾNG NÓI TỰ DO DÂN CHỦ

Các bản Hiến pháp làm nên lịch sử

Các bản Hiến pháp làm nên lịch sử (phần 1) – Thế giới & Việt Nam

Hienphap. March 25, 2013.
Hiến pháp California 1933.

Được sự cho phép của ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Alpha Books, đồng thời là một nhà nghiên cứu hiến pháp, Báo TG&VN xin giới thiệu một số bình luận về các bản hiến pháp làm nên lịch sử được in trong cuốn sách Constitutions That Made History. Những bản Hiến pháp này không chỉ làm nên lịch sử mà sẽ tiếp tục làm nên lịch sử, bởi vì việc nghiên cứu nó sẽ tác động đến quá trình xây dựng hiến pháp trong tương lai.

Hiến pháp Connecticut 1638-1639

Vào năm 1638-1639, những người tự do của những đồn điền ven sông ở Hartford, Windsor và Wethersfied (Mỹ) đã thông qua Các sắc luật cơ bản. Với Lời nói đầu và 11 “sắc luật” ngắn gọn, hiến pháp của họ đã phác hoạ ra cấu trúc của một nhà nước phúc lợi chung của Connecticut.

Theo nhà nghiên cứu người Mỹ Patricia E. Larkin, mặc dù ông Reverend Hooker – mục sư cao nhất của Connecticut – là người tạo nguồn cảm hứng cho Các sắc luật cơ bản, song ông Roger Ludlow mới là người soạn thảo thực tế. Được giáo dục tại Anh, Roger Ludlow, tại thời điểm đó là người duy nhất ở Connecticut được đào tạo về luật. Người ta nghĩ rằng Ludlow đã tiếp nhận những giáo lý của Giáo đoàn Tin lành của mục sư Hooker và đưa nó vào Các Sắc luật cơ bản. Dựa vào thể chế đạo Tin lành, Các sắc luật cơ bản là một hiến pháp dân sự được tạo ra phục vụ nhu cầu trần tục của cộng đồng tôn giáo. Mục đích của Các sắc luật cơ bản là ủng hộ, bổ sung cho Giáo đoàn Tin lành và đưa ra hướng dẫn cho chính phủ của những người Tin lành ở các đồn điền ven sông. Tuy nhiên, không phải mọi cư dân của Hartford, Windsor, Weathersfield đều được hưởng lợi theo Các sắc luật cơ bản mà các quyền dân sự dường như chỉ được dành riêng cho một số ít người có đặc quyền.

Một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của hiến pháp này là sự thiếu vắng các viện dẫn về thẩm quyền ở trần thế. Theo Các sắc luật cơ bản của Connecticut, phần Lời nói đầu hoàn toàn phớt lờ quyền của Nhà Vua nước Anh. Không có một sự phân chia nào giữa nhà thờ và nhà nước. Chúa sử dụng thẩm quyền tối cao của mình qua những người theo đạo Tin lành ở Connecticut giống như bậc thượng đẳng thực hiện sự thống trị qua nhà thờ của họ. Theo đó, Connecticut, dưới Các sắc luật cơ bản, là một cộng hoà tự trị, không phải là một thuộc địa của Nhà Vua Anh.

Theo Các sắc luật cơ bản, quyền lực tập trung vào Đại toà án, bao gồm Thống đốc, các quan toà, và các phó Thống đốc. Đại toà án có quyền ban hành sắc luật điều chỉnh vấn đề giáo hội, xã hội và đạo đức của cộng đồng cũng như các vấn đề hình sự và hiến pháp. Chính phủ được thiết lập theo Các sắc luật cơ bản vận hành trơn tru suốt hơn 20 năm. Hiến pháp này cũng rất linh hoạt, cho phép mở rộng lãnh thổ và chấp nhận thêm những thành thị mới. Hơn nữa, các thành thị tự trị địa phương rất cần thiết để quản lý các công việc riêng của cộng đồng ở thành thị…

Nói chung, Chính phủ được thành lập theo Các sắc luật cơ bản này vẫn được duy trì và tiếp tục cho đến năm 1818 khi Connecticut thông qua bản Hiến pháp bang thay thế. Như vậy, mặc dù là một bản thành văn rất ngắn, song Sắc luật cơ bản 1638-1639 của Connecticut đóng vai trò rất quan trọng trong lịch sử của chủ nghĩa lập hiến. Hiến pháp này được xem là văn bản hiến pháp đầu tiên tạo ra một nhà nước chính trị.

Hiến pháp Ba Lan 1791

Theo ông Waclaw Szyszkowski, nguyên Chủ nhiệm Khoa Luật Trường Đại học Nicolas Corpernicus (Ba Lan), Hiến pháp Ba Lan là sản phẩm của Quốc hội (Sejm) 4 năm từ năm 1788 đến năm 1792. Kỳ Quốc hội này của Ba Lan được xem là đã thực hiện nhiều cải cách hiện đại phản ánh những bài học của thời kỳ Khai sáng. Các thành viên của Quốc hội đã xem Hiến pháp như là giai đoạn đầu tiên của cải cách, từ đó dẫn đến việc xây dựng, ban hành tất cả các đạo luật.

Mục tiêu đầu tiên của Hiến pháp Ba Lan, do yêu cầu phân chia quyền lực năm 1772, là thiết lập quân chủ lập hiến thay thế hệ thống bầu cử. Các tác giả soạn thảo hiến pháp muốn chấm dứt hệ thống phủ quyết theo số đông, hệ thống theo đó đòi hỏi sự bỏ phiếu nhất trí hoàn toàn khi thông qua bất cứ đạo luật nào tại Quốc hội.

Ba Lan cũng dựa vào kinh nghiệm của người Mỹ. Hiến pháp Ba Lan giống Hiến pháp Mỹ 1787 ở chỗ thừa nhận chủ quyền của nhân dân như là nguồn của mọi loại luật. Hiến pháp Mỹ 1787 đã làm rõ điểm này bằng cách mở đầu bằng các từ trong Lời nói đầu: “Chúng tôi Nhân dân hợp chủng quốc Hoa Kỳ…”. Đoạn này đã được đưa vào Điều 5 Hiến pháp Ba Lan như sau: “Tất cả quyền lực trong xã hội dân sự phải xuất phát từ ý chí của nhân dân…”.

Hơn nữa, mục tiêu của cả hai bản Hiến pháp Mỹ và Ba Lan, như đã chỉ ra ở phần Lời nói đầu, thể hiện những mục đích rất giống nhau. Tương tự như người Mỹ, những người Ba Lan đưa vào Hiến pháp của họ: “giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào ảnh hưởng của ngoại quốc; nâng cao hơn nữa cuộc sống độc lập với bên ngoài và tự do trong nội bộ dân tộc; nhằm mục đích sử dụng các quyền tự nhiên của chúng ta với sự nhiệt tình và kiên định”…

Cả hai Hiến pháp đều tương tự nhau trong việc tổ chức cơ quan lập pháp hai viện. Ba Lan cũng đã dựa vào kinh nghiệm của nước Mỹ để đưa ra những định hướng về thủ tục cũng như nội dung, hay theo tiền lệ của nước Mỹ trong việc chuẩn bị Hiến pháp trong các buổi họp kín… Tuy nhiên, Hiến pháp Ba Lan không làm được như Hiến pháp Mỹ. Điều 2 Hiến pháp Ba Lan đã thừa nhận những quyền đặc biệt và những đặc quyền của quý tộc. Tầng lớp quý tộc ở Ba Lan chiếm 10% dân số trong khi tầng lớp quý tộc ở Anh, Pháp, Đức chiếm chưa đầy 2%. Song, Hiến pháp Ba Lan đã đưa ra được cách thức để cho người bình dân cũng có thể trở thành quý tộc như là phần thưởng cho các thành tích quân sự, dân sự. Ba Lan cũng không thể chấp nhận hệ thống liên bang như của Mỹ. Ba Lan đã sống hàng thế kỷ dưới Liên bang liên minh Ba Lan – Lithuania, và vào thời điểm năm 1791 đủ để Ba Lan có thể xây dựng một nhà nước đơn nhất.

Tóm lại, Hiến pháp Ba Lan mùng 3/5/1791 là một bản hiến pháp quan trọng mang tầm vóc lịch sử. Hiến pháp này đã thể hiện sự thỏa hiệp giữa các nguyên tắc quân chủ và các ý tưởng Khai sáng. Tuy là một trong những bản hiến pháp tồn tại ngắn nhất, song Hiến pháp Ba Lan vẫn là biểu tượng của tự do và hy vọng của nhân dân trong giai đoạn chịu sự chi phối của ngoại bang.

Hiến pháp Bỉ 1831

Trong suốt thế kỷ 19, Hiến pháp Bỉ năm 1831 được xem là kiểu mẫu hiến pháp của cả châu Âu. Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1833, Hiến pháp Hy lạp 1844 và 1864, Hiến pháp Luxembourg năm 1848, Hiến pháp Phổ năm 1850 và Hiến pháp Bulgaria năm 1864 đều là những Hiến pháp chịu ảnh hưởng trực tiếp từ mô hình của Hiến pháp Bỉ.

Tính chất trường tồn của bản hiến văn này cũng là điều đáng ghi nhận. Chỉ Hiến pháp Mỹ 1787 và Hiến pháp Na Uy 1814 là có lịch sử dài hơn Hiến pháp Bỉ. Nguyên nhân là do Hiến pháp Bỉ đã sửa đổi căn bản những qui định về các quyền sử dụng tiếng nói trong những thập niên 70, 80 của thế kỷ 19. Hiến pháp Bỉ 1831 đã đáp ứng được sự kiểm nghiệm khắc nghiệt của thời gian để trường tồn do bản thân Hiến pháp đã được quy định một cách chặt chẽ. Hiến pháp Bỉ 1831 đã xây dựng nên một nhà nước thống nhất. Những sửa đổi mới đây đã phần nào tạo ra một cấu trúc nhà nước gần giống với liên bang.

Hiến pháp Bỉ do cơ quan lập hiến là Nghị viện dự thảo từ tháng 11/1830 tới tháng 2/1831. Nó là sản phẩm tư tưởng triết học chính trị của những người lãnh đạo phong trào ly khai tháng 7/1830. Nó cũng là kết quả của một sự kết hợp giữa lực lượng bảo thủ và các giai cấp trung gian tự do, đứng đầu là các luật sư và các thương nhân.

Tư tưởng lập hiến vượt trội của Hiến pháp Bỉ 1831 là đã nêu ra thành nguyên tắc như tính tối cao của ngành lập pháp, quyền quân chủ hạn chế, mở rộng quyền tự do dân sự cũng như có sự phân chia giữa giáo hội và việc phân tách giữa nhà thờ và nhà nước. Mặc dù Hiến pháp Bỉ đã ghi nhận vai trò của quân chủ kế truyền, song Hiến pháp này cũng ghi nhận thẩm quyền chế ngự của Nghị viện đối với nhà Vua. Chẳng hạn, Hiến pháp chỉ rõ Leopold I của Sexe – Coburg là Quốc vương và người kế ngôi là con trai trưởng. Đồng thời, Hiến pháp cũng nêu rõ trong trường hợp không có con trai, Quốc vương sẽ không thể truyền ngôi cho người kế vị nếu không có sự đồng thuận của Nghị viện. Điều 78 quy định liên quan đến giới hạn của nền quân chủ đó là “Đức vua không có quyền lực nào khác ngoài những quyền mà Hiến pháp và các luật đặc biệt đã trao cho ông ta”.

Ngoài ra, Cấu trúc Hiến pháp của Bỉ cũng cho phép sự hiện đại hoá về luật pháp và thực thi lâu dài qui định hạn chế sửa đổi Hiến pháp. Vì vậy, Hiến pháp Bỉ được sửa đổi rất ít – chỉ vào những năm 1893, 1921, 1970 và 1980.

Nói chung, tuy không thể so sánh về mức độ dân chủ với thời điểm hiện nay, nhưng Hiến pháp Bỉ năm 1831 vẫn được coi là một trong những bản Hiến pháp dân chủ nhất trên thế giới tại thời điểm ban hành.

(Còn nữa)

Nguồn: http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/thegioi/2013/3/B625B3C9512B016B/

Các bản Hiến pháp làm nên lịch sử (phần 2)

Ảnh minh họa.

Những bản Hiến pháp này không chỉ làm nên lịch sử mà sẽ tiếp tục làm nên lịch sử, bởi vì việc nghiên cứu nó sẽ tác động đến quá trình xây dựng hiến pháp trong tương lai.

Hiến pháp Mexico 1917

Theo Giáo sư Ger F. Vander Tang ở Đại học Erasmus (Hà Lan), bản Hiến pháp Mexico năm 1917 là bản Hiến pháp cách mạng đầu tiên của thế kỷ 20, nhấn mạnh đến quyền văn hoá và kinh tế đối lập với quyền công dân và chính trị. Ngoài ra, văn kiện này còn mang tính cách mạng như một bản Hiến pháp theo chủ nghĩa dân tộc được ban hành nhằm bảo vệ công dân của mình chống lại sự bóc lột của nước ngoài cũng như chủ nghĩa thực dân mới. Điều 123 về phúc lợi xã hội và lao động, được coi là điều đối mới và có ảnh hưởng nhất của bản Hiến pháp năm 1917. Đây cũng là bản Hiến pháp đầu tiên hạn chế và khước từ những đặc ân mang tính tôn giáo.

Bản Hiến pháp Mexico năm 1917 là bản Hiến pháp dài nhất thế giới vào thời gian đó. Tuy ngày nay bị người ta chỉ trích về sự dài dòng và quá tỉ mỉ, nhưng bản Hiến pháp này đã thể hiện được nỗ lực giải quyết những khó khăn của đất nước khi đó. Tuy nó giống một bộ luật hơn là một bản Hiến pháp điển hình, song theo các nhà nghiên cứu hiến pháp, văn kiện này cũng trình bày được chi tiết những ước muốn và khát vọng của những người soạn thảo ra nó, dù họ không đưa ra được những giải pháp thực tiễn để giải quyết vấn đề.

Nói chung, Hiến pháp Mexico năm 1917 vừa là mục đích, vừa là kết quả của một cuộc Cách mạng đã từng xuyên suốt lịch sử của cả một đất nước kể từ khi lật đổ nền độc tài Portirio Diaz năm 1910. Ông Venustiano Carranza, một trong những vị tướng của cuộc cách mạng, đã trở thành Tổng thống Mexico năm 1915. Ông cũng chính là người đưa ra ý tưởng soạn thảo cho bản Hiến pháp này. Kết quả của quá trình xây dựng hiến pháp này được gọi là “chiến thắng pháp lý của cuộc Cách mạng Mexico, sự biến động xã hội vĩ đại đầu tiên của thế kỷ 20”. Đối với một số người, bản Hiến pháp này chính là một cuộc Cách mạng vì sau gần một thế kỷ, với rất nhiều thay đổi, bản Hiến pháp này – chứ không phải mô hình của Mác – vẫn được công nhận như một hình mẫu Hiến pháp cấp tiến.

Hiến pháp CHLB XHCN Nga Xô Viết 1918

Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Xã hội Chủ nghĩa Nga Xô viết (RSFSR) 1918 là hiến pháp Mác xít – Leninít đầu tiên. Nó được định hướng đến một xã hội mới và các mục tiêu tương lai xuất phát từ học thuyết đó. Điều 9 của Hiến pháp chứa đựng mục tiêu tối cao của Cách mạng vô sản: bãi bỏ việc người bóc lột người và thiết lập chủ nghĩa xã hội; xây dựng chủ nghĩa xã hội, loại bỏ sự phân chia giai cấp và sự áp bức của nhà nước sẽ chấm dứt.

Có thể nói, khái niệm tập trung dân chủ, lúc đó làm nền tảng cho tất cả các mô hình hiến pháp Xô viết, được thể hiện rõ trong Hiến pháp 1918. Đặc điểm đáng lưu ý nhất của Hiến pháp là chính quyền tập thể với quyền lực được trao cho Quốc hội. Thêm vào đó, Hội đồng Nhân dân ở Điều 37 được “giao nhiệm vụ định hướng chung cho các công việc của nền cộng hoà”. Điều 62 của Hiến pháp Nga 1918 cũng nêu trách nhiệm thực hiện các hướng dẫn của các cơ quan nhà nước cấp trên cũng như quyền của cơ quan cấp trên được xem xét lại và hủy bỏ các quyết định…

Tuy nhiên, bản Hiến pháp này thiếu vắng sự thừa nhận vị trí lãnh đạo của Đảng Bolshevik – sau đó được đổi tên thành Đảng Cộng sản Nga vào tháng 5/1918. Theo Giáo sư Ger F. Vander Tang, có rất nhiều lời chỉ trích rằng sự thiếu sót này đã thể hiện khoảng trống giữa cấu trúc quyền lực theo hiến pháp và quyền lực trên thực tế của RSFSR. Các bản hiến pháp Xô viết sau đó mới nêu thêm vai trò của Đảng Cộng sản.

Một điểm khác biệt nữa giữa Hiến pháp Nga 1918 và các bản hiến pháp sau này là về quyền con người. Hiến pháp Nga sau này dành nhiều quan tâm hơn cho các quyền văn hoá, xã hội trong khi bản hiến pháp đầu tiên chỉ đưa ra các quyền chính trị hạn chế trong chương V và chỉ cho “tất cả người cần lao của Nga”. Các quyền được bảo đảm là một số quyền liên quan ngôn luận, báo chí và tụ họp cũng như “tự do tôn giáo và tuyên truyền chống tôn giáo”. Những quyền ” thiếu vắng ” là các quyền nhân thân và một số quyền tự do ví dụ quyền bảo đảm không bị bắt giữ một cách tuỳ tiện, quyền được hưởng thủ tục tố tụng bảo đảm trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, theo Điều 32, thậm chí những quyền đã được trao có thể bị tước đoạt nếu nó được sử dụng “làm phương hại đến các lợi ích của cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Quốc hội Xô viết toàn Nga lần thứ V thông qua bản hiến pháp với sự nhất trí rất cao vào ngày 10/7/1918. Cùng lúc, các nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp này được đưa vào tất cả các trường học và các học viện giáo dục để nghiên cứu và học tập. Theo đó, nước Nga được tuyên bố “Là một nền Cộng hoà Xô viết đại diện của công, nông, binh”.

Lấy hình mẫu mô hình Hiến pháp RSFSR trong những năm đầu tiên sau Cách mạng 1918, 5 bản Hiến pháp của Cộng hoà Xô viết Ukraine, Belorusia, Azerbaijan, Armenia và Georgia lần lượt ra đời. Mô hình này sau đó đã được mở rộng sang các nước Cộng hòa Xô viết khác.

Hiến pháp Đức 1919

Thường được biết đến với cái tên Hiến pháp Weimar bởi vì Weimar là một thị trấn nhỏ nơi Hiến pháp nhà nước Đức 1919 được chuẩn bị. Văn kiện này được biết đến rộng rãi như là một bản hiến pháp dân chủ nhất trên thế giới. Nó là một trong những bản hiến pháp quy định quyền bỏ phiếu phổ thông của người trưởng thành, quy định đại diện tỷ lệ, trưng cầu dân ý, khiếu nại và những quyền con người rộng rãi khác.

Các quyền tự do cá nhân được nêu trong hiến chương này bao gồm quyền tự do di cư; bảo đảm bí mật thư tín, điện thoại; quyền tự do ngôn luận – không chỉ liên quan với chính phủ mà tại cả nơi làm việc. Quyền thành lập và tham gia các hiệp hội được bảo đảm cũng như quyền khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền. Về phương diện hạn chế quyền lực nhà nước không có điều khoản nào có ý nghĩa hơn Điều 114: “Những người bị tước đoạt tự do sẽ được thông báo – chậm nhất là vào ngày hôm sau – về thẩm quyền và lý do để ban hành lệnh tước đoạt tự do đó; ngay sau đó họ được trao quyền khiếu nại chống lại việc tước quyền tự do”.

Hai lĩnh vực nhân quyền được bảo vệ là lĩnh vực tôn giáo và giáo dục. Hiến pháp Đức quy định quyền tài sản của các tổ chức tôn giáo được bảo vệ, các tổ chức tôn giáo có quyền bình đẳng như nhau. Điều 144 đặt toàn bộ hệ thống giáo dục dưới sự giám sát chung của nhà nước và Điều 145 quy định việc đến trường là bắt buộc. Những bảo đảm khác bao gồm quyền tư hữu, quyền tự do ký kết hợp đồng và quyền thừa kế, được bảo hiểm y tế suốt đời, thậm chí Điều 163 còn nêu rõ: “Mọi người Đức có cơ hội được bảo đảm cuộc sống bằng lao động kinh tế. Nếu người đó không tìm thấy cơ hội việc làm thích hợp, nhà nước sẽ tạo việc làm cho người đó”.

Tuy nhiên, bản hiến pháp này đã ra đời trong tình huống rất bất lợi. Nước Đức bại trận trong Thế chiến I, nỗi nhục quốc thể, khủng hoảng kinh tế trầm trọng, xáo trộn xã hội và lãnh đạo chính trị chưa có kinh nghiệm là những nguyên nhân chính gây ra những khiếm khuyết của chế độ dân chủ đầu tiên của Đức. Hiệp ước hoà bình kết thúc Thế chiến I đã chất lên nước Đức gánh nặng nợ chiến tranh, tước đi 15% diện tích đất trồng trọt, 10% dân số và tất cả các thuộc địa nước ngoài… Nhà nước mới đã không vượt qua được những trở ngại này. Đến năm 1932, sự yếu kém của nước Đức đã mở đường cho sự nổi lên của Hitler và kết thúc mô hình hiến pháp này.

Liệu có bất kỳ một hiến pháp dân chủ nào có thể đương đầu với các vấn đề của nước Đức từ năm 1818 đến năm 1933 là câu hỏi mở, nhưng những sắp xếp hiến pháp phức tạp của hiến pháp Weimar là một nhân tố không thể thiếu trong sự kết thúc của nền dân chủ đó.

Mặc dù Hiến pháp Weimar được ngợi ca đúng về những đặc điểm dân chủ của nó, song cấu trúc các tổ chức chính trị của nó lại có nhiều khiếm khuyết. Nó chứa đựng những thoả hiệp không thể thực hiện được giữa sự thống nhất và nhà nước liên bang, giữa hệ thống tổng thống và nghị viện, giữa đại diện và dân chủ trực tiếp. Có hai khiếm khuyết hiến định góp phần làm xói mòn văn kiện này. Thứ nhất là tồn tại hai hệ thống hành pháp song song. Hệ thống này tạo ra tổng thống mạnh, độc lập với Nghị viện, và quyền lực của ông ta mâu thuẫn với nhánh hành pháp khác, đó là Thủ tướng, người lãnh đạo nghị viện. Thứ hai là các quy định phản dân chủ trao quyền lực trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 48. Vào năm 1925, anh hùng trong Thế chiến I Paul von Hinderburg, người có quan điểm lúc ủng hộ, lúc phản đối chế độ dân chủ, đã được bầu làm Tổng thống. Với sự nổi dậy của lực lượng phản dân chủ, ông ta đã viện dẫn đến Điều 48 và trao quyền lực cho mình điều hành đất nước bằng sắc lệnh. Chính điều này đã làm yếu thêm quốc gia và mở đường cho Hitler lên nắm chính quyền.

Tuy có nhiều khiếm khuyết cấu trúc, nhưng Hiến pháp Weimar vẫn được đánh giá cao về sự đóng góp đối với nhân quyền. Ý nghĩa pháp lý và kết quả để lại của văn kiện này là ảnh hưởng dân chủ của nó trên toàn thế giới. Mặc dù nó có thể không phải là khuôn mẫu trực tiếp cho các bản hiến pháp chịu ảnh hưởng của nó, nhưng nó là bản hiến pháp được nghiên cứu để tìm ra những ý tưởng khởi nguồn và những đặc điểm tiên phong và có giá trị cung cấp các hướng dẫn mang tính dân chủ. Tóm lại, văn kiện này là hiến pháp có nhiều bài học cho hậu thế.

B.T

 

Advertisements

Để lại ý kiến của bạn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Thống Kê Khách Thăm

free counters

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 428 other followers

VN Tôi Đâu-Anh Là Ai?

%d bloggers like this: