DIỄN ĐÀN CỦA CHÚNG TA

TIẾNG NÓI TỰ DO DÂN CHỦ

Hiến Pháp Hoa Kỳ

Trích Từ Ba Sàm website

1 – Hoa Kỳ

Toàn văn Hiến pháp

+ Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?

+ HIẾN PHÁP HOA KỲ: Mặt Hàng Xuât Khẩu Quan Trọng Nhât Của MỸ

Luật 101- MỌI ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT VỀ PHÁP LUẬT HOA KỲ

_______________________________

Toàn văn Hiến pháp

Tuyển tập HIẾN PHÁP MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI(*)

LỜI GIỚI THIỆU

Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, việc nghiên cứu, tìm hiểu hiến pháp của các nước trên thế giới có ý nghĩa rất quan trọng. Hiến pháp thường là văn bản thiết yếu, chứa đựng những quy phạm cơ bản nhất của hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và các quyền cơ bản của công dân. Bản thân các bản văn hiến pháp cũng chứa đựng trong đó những giá trị và ý nghĩa pháp lý, chính trị, văn hóa, lịch sử sâu sắc của từng quốc gia. Vì vậy, đã có những bản văn hiến pháp trở nên phổ biến, có giá trị tham khảo trên phạm vi toàn cầu.

Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về hiến pháp các nước trên thế giới của các đại biểu Quốc hội cũng như của đông đảo các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu Khoa học, Văn phòng Quốc hội đã tổ chức biên soạn cuốn sách: “Tuyển tập Hiến pháp của một số nước trên thế giới”.

Trong những nỗ lực đầu tiên, chúng tôi mạnh dạn biên dịch và giới thiệu 5 bản Hiến pháp của các quốc gia: Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Các bản hiến pháp này được lựa chọn trên cơ sở xem xét đến yếu tố đa dạng về mô hình nhà nước, kiểu hệ thống pháp luật, vị trí địa lý và cả mối quan hệ của các quốc gia này với Việt Nam. Ngoài bản văn hiến pháp của mỗi quốc gia, cuốn sách này cũng giới thiệu các thông tin cơ bản về các quốc gia đó để giúp các độc giả có điều kiện tìm hiểu thêm về bối cảnh tồn tại của các bản hiến pháp.

Chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các độc giả, nhất là các đại biểu Quốc hội phục vụ cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ của mình.

Quá trình biên dịch và biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót, Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu Khoa học rất mong nhận được sự góp ý của các vị đại biểu Quốc hội và các độc giả. Những góp ý quý báu đó sẽ là cơ sở để những tuyển tập tiếp theo hoàn thiện hơn, phục vụ hữu hiệu hơn nhu cầu của các vị đại biểu Quốc hội và các độc giả.

TRUNG TÂM THÔNG TIN, THƯ VIỆN VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

I. KHÁI QUÁT VỀ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ (1)

1 – Tên nước: Hợp chủng quốc Hoa kỳ, tên thường gọi là Hoa Kỳ hoặc Mỹ (United States of America).

2 – Thủ đô: Washington D.C.

3 – Quốc khánh: Ngày 04 tháng 07.

4 – Quốc kỳ: Quốc kỳ Hoa Kỳ có hai phần: Một phần nhỏ ở góc trái trên cùng có hình ảnh của 50 ngôi sao trên nền màu xanh dương, tượng trưng cho 50 tiểu bang hiện tại. Phần chính gồm 7 sọc đỏ và 6 sọc trắng, tượng trưng cho 13 tiểu bang sơ khai.

5 – Diện tích: 9,631,418 km2.

6 – Dân số: 302,782.000 (2007).

7 – Kiểu nhà nước: Cộng hòa lập hiến.

8 – Phân chia hành chính: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có 50 tiểu bang và một quận liên bang gồm:

Alabama, Alaska, Arizona, Arkansas, California, Col­orado, Connecticut, Delaware, Florida, Georgia, Hawaii, Idaho, Illinois, Indiana, Iowa, Kansas, Kentucky, Louisiana, Maine, Maryland, Massachusetts, Michigan, Minnesota, Mississippi, Missouri, Montana, Nebraska, Nevada, New Hampshire, New Jersey, New Mexico, New York, North Carolina, North Dakota, Ohio, Oklahoma, Oregon, Pennsylvania, Rhode Island, South Carolina, South Dakota, Tennessee, Texas, Utah, Vermont, Vir­ginia, Washington, West Virginia, Wisconsin, Wyoming và Quận Columbia.

9 – Đảng chính trị

Hệ thống hai đảng tồn tại lâu dài trong lịch sử nước Mỹ là Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Ngoài hai đảng lớn này, các đảng phái khác cũng có hoạt động tích cực ở cấp liên bang và địa phương như Đảng tự do, Đảng xanh.

10 – Độ tuổi tham gia bầu cử: từ tròn18 tuổi.

11- Hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, hay còn gọi hệ thống thông luật.

12 – Bộ máy nhà nước

i) Cơ quan lập pháp

Nghị viện Hoa Kỳ là gồm hai viện là Thượng nghị viện và Hạ nghị viện.

Thượng nghị viện có 100 nghị sĩ, được bầu từ các bang, mỗi bang được bầu 2 nghị sĩ. Một phần ba số Thượng nghị sĩ được bầu lại cứ 2 năm một lần. Nhiệm kỳ của Thượng nghị sĩ là 6 năm. Phó Tổng thống đương nhiên là Chủ tịch Thượng nghị viện. Những người được bầu làm thượng nghị sĩ phải ở độ tuổi từ 30 trở lên và có 9 năm là công dân Hoa Kỳ, đồng thời khi được bầu phải là cư dân của bang mà người đó được tuyển chọn.

Hạ nghị viện gồm 435 nghị sĩ có nhiệm kỳ 2 năm. Số Hạ nghị sĩ được bầu theo tỷ lệ số dân ở mỗi bang nhưng ít nhất mỗi bang phải có 1 nghị sĩ. Chủ tịch Hạ viện do Hạ viện bầu ra. Những người có thể được bầu làm hạ nghị sĩ phải từ 25 tuổi trở lên và phải là công dân của Hoa Kỳ ít nhất 7 năm và vào thời điểm được bầu phải là cư dân ở bang mà người đó được lựa chọn.

ii) Cơ quan hành pháp

Đứng đầu cơ quan hành pháp là Tổng thống. Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ do nhân dân bầu ra thông qua đại cử tri đoàn với nhiệm kỳ 4 năm nhưng không được tại chức quá hai nhiệm kỳ. Điều kiện để ứng cử tổng thống bao gồm: i) phải là công dân Hoa Kỳ sinh ra ở Hoa Kỳ; ii) ít nhất là 35 tuổi và cư trú ít nhất 14 năm tại Hoa Kỳ.

Tổng thống có những quyền hạn rộng lớn để điều hành công việc quốc gia và các hoạt động của chính quyền liên bang. Tổng thống có thể ban hành các quy định, quy chế và chỉ thị, được gọi là những chế tài hành pháp, có hiệu lực bắt buộc đối với các cơ quan liên bang mà không cần có sự tán thành của Nghị viện. Tổng thống có thể phủ quyết bất kỳ một dự luật nào đã được Nghị viện thông qua và dự luật đó sẽ không trở thành luật trừ khi có hai phần ba thành viên trong mỗi viện phủ quyết để gạt bỏ sự phủ quyết của Tổng thống. Tổng thống là tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Hợp chúng quốc Hoa Kỳ; có thể huy động các đơn vị cận vệ quốc gia của bang phục vụ cho liên bang. Trong thời gian chiến tranh hay trong tình trạng khan cấp, Nghị viện có thể trao cho tổng thống những quyền thậm chí còn rộng hơn nữa để điều hành nền kinh tế quốc dân và bảo vệ an ninh quốc gia.

Tổng thống bổ nhiệm (và Thượng viện phê chuẩn) người đứng đầu các bộ và các cơ quan hành pháp, bổ nhiệm các viên chức khác giúp Tổng thống quản trị và thi hành chính sách cũng như pháp luật liên bang.

iii) Hệ thống tư pháp

Gồm có Tòa án tối cao (trong đó các thẩm phán được Tổng thống bổ nhiệm với sự chấp thuận của Thượng viện), 13 tòa phúc thẩm, 94 tòa các quận và 2 tòa xét xử đặc biệt.

Tòa án Tối cao là tòa án cấp cao nhất của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và là tòa án duy nhất do Hiến pháp đặc biệt lập ra. Quyết định của Tòa án Tối cao thì không thể được chuyển

lên phúc thẩm ở bất kỳ tòa án nào khác. Nghị viện có quyền ấn định số thẩm phán trong Tòa án Tối cao và với những giới hạn được đặt ra, quyết định loại vụ việc nào Tòa án Tối cao có thể xét xử, nhưng Nghị viện không thể thay đổi các quyền mà chính Hiến pháp đã trao cho Tòa án Tối cao.

Cấp cao thứ hai trong việc xét xử liên bang là các tòa phúc thẩm, được thiết lập từ năm 1891 để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp các vụ xét xử và giảm bớt gánh nặng cho Tòa án Tối cao. Nghị viện đã lập ra 12 tòa phúc thấm cho các khu vực và Tòa Phúc thẩm Hợp chúng quốc cho liên bang.

Các tòa án phúc thẩm xem xét lại các quyết định của tòa án quận (các tòa xét xử với quyền tài phán liên bang) trong phạm vi khu vực của mình. Các tòa phúc thẩm cũng có quyền xem xét lại các lệnh của các cơ quan quản lý độc lập, trong những trường hợp các cơ chế rà soát nội bộ của các cơ quan đã được sử dụng hết và vẫn còn sự bất đồng đáng kể đối với những quan điểm pháp lý. Ngoài ra, Tòa Phúc thẩm liên bang có quyền tài phán trong cả nước – xét xử phúc thẩm những vụ đặc biệt, như những vụ liên quan đến luật cấp bằng sáng chế và những vụ đã được quyết định bởi những tòa có quyền tài phán đặc biệt, bởi Tòa Thương mại quốc tế và Tòa án về Các yêu sách liên bang.

Dưới các tòa phúc thẩm là các tòa án quận. Năm mươi bang và lãnh thổ của Hợp chúng quốc được chia thành 94 quận sao cho những người liên quan tới việc kiện cáo có thể được hưởng sự xét xử một cách dễ dàng. Mỗi tòa án quận có ít nhất 2 thẩm phán, nhiều tòa có vài thẩm phán, và những quận đông dân nhất có hơn 2 tá thẩm phán. Tuỳ thuộc vào các vụ thụ lý, một thẩm phán của quận này có thể tạm thời làm thẩm phán của một quận khác. Nghị viện ấn định đường ranh giới của các quận theo dân số, diện tích và khối lượng công việc. Một số bang nhỏ tạo thành một quận, trong khi các bang lớn như New York, California và Texas, mỗi bang có bốn quận.

Hầu hết các vụ kiện tụng và tranh chấp do những tòa án quận xét xử đều liên quan tới những sai phạm ở cấp liên bang như lạm dụng thư từ, trộm cắp tài sản liên bang, vi phạm các luật về vệ sinh thực phẩm, hoạt động ngân hàng và các hành vi làm tiền giả. Đây là những tòa án liên bang duy nhất nơi các hội thẩm đoàn “lớn” sẽ kết tội những kẻ bị buộc tội, và các hội thẩm đoàn “nhỏ” sẽ quyết định vụ nào đưa ra xử.

Ngoài các tòa án liên bang thuộc quyền tài phán chung, đôi khi Quốc hội cũng có thể thiết lập các tòa án cho những mục đích đặc biệt. Các thẩm phán của những tòa án này, cũng giống như đồng nghiệp của họ ở các tòa án liên bang khác, có nhiệm kỳ cả đời, do sự bổ nhiệm của tổng thống và được sự phê chuẩn của Thượng viện. Hiện nay, có 2 tòa án đặc biệt có quyền tài phán trong cả nước đối với một số loại nhất định các vụ án. Tòa Thương mại Quốc tế sẽ xử những vụ liên quan đến thương mại và thuế quan quốc tế. Tòa án về Các yêu sách liên bang có quyền tài phán đối với hầu hết các yêu sách về thiệt hại tiền bạc đối với Hợp chúng quốc, những tranh chấp về các hợp đồng liên bang, những việc chính quyền liên bang “chiếm giữ” tài sản riêng một cách không hợp pháp, và nhiều loại yêu sách khác đối với Hợp chúng quốc.

II. HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ(2)

LỜI MỞ ĐẦU

Chúng tôi, nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, với mục đích xây dựng một Liên Bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, duy trì an ninh trong nước, tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng chung, giữ vững nền tự do cho bản thân và con cháu chúng ta, quyết định thiết lập Hiến pháp này cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

ĐIỀU I

Khoản 1

Toàn bộ quyền lực lập pháp được thừa nhận tại bản Hiến pháp này sẽ được trao cho Nghị viện Hoa Kỳ. Nghị viện gồm có Thượng viện và Hạ viện.

Khoản 2

(1) Hạ viện gồm có các thành viên được nhân dân ở các bang bầu ra theo định kỳ 2 năm một lần. Cử tri ở mỗi bang phải có phẩm chất cần thiết như là phẩm chất của cử tri ở bang có cơ quan lập pháp đông đảo nhất.

(2) Những người có thể được bầu làm hạ nghị sĩ phải từ 25 tuổi trở lên, phải là công dân của Hoa Kỳ ít nhất 7 năm và vào thời điểm được bầu phải là cư dân ở bang mà người đó được lựa chọn.

(3) Số lượng các Hạ nghị sĩ và các loại thuế trực thu sẽ được phân bổ theo các bang [mà có thể tính gộp vào trong Liên bang tùy theo số lượng tương ứng được xác định bằng cách tính tổng số gồm những người tự do, kể cả những người làm việc theo thời hạn và 3/5 số những người còn lại, không tính những người da đỏ vốn không nộp thuế](3). Công việc kiểm kê dân số sẽ được tiến hành trong vòng ba năm sau cuộc họp đầu tiên của Nghị viện Hoa Kỳ và sau đấy cứ 10 năm một lần theo luật định. Mỗi hạ nghị sĩ sẽ đại diện cho không quá 30.000 người nhưng mỗi bang sẽ có ít nhất một hạ nghị sĩ. Và trước khi việc thống kê và điều tra dân số được tiến hành, thì bang New Hampshire sẽ được quyền bầu ba đại biểu, bang Massachusetts được bầu tám đại biểu, bang đảo Rhodes và Providence Plantations được bầu một đại biểu, bang Connecticut được bầu năm đại biểu, bang New York được bầu sáu đại biểu, bang New Jersey bốn đại biểu, bang Pennsynvania tám đại biểu, bang Delaware một đại biểu, bang Maryland sáu đại biểu, bang Virginia mười đại biểu, bang Bắc Carolina năm đại biểu, bang Nam Carolina năm đại biểu và bang Georgia ba đại biểu.

(4) Khi một vị trí hạ nghị sĩ ở bất cứ một bang nào bị khuyết thì chính quyền ở đó sẽ ban hành lệnh bầu cử để bổ sung vào những chỗ trống đó.

(5) Hạ viện sẽ bầu ra Chủ tịch và các quan chức khác của Viện và họ là những người duy nhất có quyền đàn hạch(4) các quan chức.

Khoản 3

(1) Thượng viện Hoa Kỳ gồm có hai thượng nghị sĩ của mỗi bang [do cơ quan lập pháp bang đó bầu ra](5với nhiệm kỳ 6 năm và mỗi thượng nghị sĩ sẽ có một phiếu khi biểu quyết.

(2) Ngay sau khi Thượng viện nhóm họp sau cuộc bầu cử đầu tiên, các thượng nghị sĩ sẽ được phân chia đồng đều thành ba cấp. Thượng nghị sĩ cấp 1 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ hai của nhiệm kỳ, thượng nghị sĩ cấp 2 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ tư, thượng nghị sĩ cấp 3 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ 6, sao cho sau mỗi hai năm có thể bầu lại một phần ba tổng số thượng nghị sĩ; [và khi có ghế khuyết do thượng nghị sĩ từ chức hoặc nguyên nhân nào khác trong thời gian các cơ quan lập pháp của bang không họp, thì cơ quan hành pháp của bang đó có thể tạm thời bổ nhiệm các vị trí này cho tới khi cơ quan lập pháp của bang nhóm họp và quyết định bổ sung vị trí khuyết đó](6).

(3) Những người được bầu làm thượng nghị sĩ phải từ 30 tuổi trở lên, có 9 năm là công dân Hoa Kỳ, đồng thời khi được bầu phải là cư dân của bang mà người đó được tuyển chọn.

(4) Phó Tổng thống Hoa Kỳ là Chủ tịch Thượng viện, nhưng không có quyền bỏ phiếu, trừ trường hợp số phiếu thuận và số phiếu chống ngang nhau khi biểu quyết.

(5) Thượng viện lựa chọn những quan chức khác của Viện và cả Chủ tịch Thượng viện Lâm thời khi Phó Tổng thống Hoa Kỳ vắng mặt hoặc khi Phó Tổng thống đảm nhận chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ.

(6) Thượng viện là nơi duy nhất có quyền thực hiện các cuộc đàn hạch. Khi nhóm họp để thực hiện nhiệm vụ này, các thượng nghị sĩ sẽ phải tiến hành tuyên thệ hoặc thề nguyện. Trong trường hợp đàn hạch Tổng thống, Chánh án Tòa án Tối cao sẽ chủ tọa phiên họp. Không một ai bị xem là có tội nếu không có sự đồng ý của hai phần ba các thượng nghị sĩ có mặt.

(7) Phán quyết áp dụng trong những cuộc đàn hạch này không vượt quá hình thức cách chức và tước quyền của bị cáo đang đảm nhận một chức tước danh dự, có lợi tức hoặc có lợi lộc trong chính quyền Hợp chúng quốc, tuy vậy họ vẫn có thể bị truy tố, xét xử, kết án và trừng phạt theo luật định.

Khoản 4

(1) Thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành bầu cử thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ do cơ quan lập pháp của mỗi bang qui định. Nhưng vào bất cứ thời điểm nào, Nghị viện bằng các văn bản luật của mình, cũng có thể đặt ra hoặc thay đổi các quy định đó, chỉ trừ qui định về địa điểm bầu thượng nghị sĩ.

(2) Nghị viện sẽ nhóm họp ít nhất mỗi năm một lần [khai mạc vào ngày thứ hai đầu tiên của tháng 12](7), trừ trường hợp Nghị viện có quyết định khác bằng một đạo luật.

Khoản 5

(1) Mỗi Viện có thấm quyền định đoạt về giá trị cuộc bầu cử các thành viên của Viện mình, về kết quả của cuộc bầu cử và về tư cách trúng cử của các nghị sĩ. Để thực hiện công việc này đòi hỏi phải có đa số các nghị sĩ của Viện tham gia, nhưng với một số lượng các nghị sĩ ít hơn thì Viện có thể hoãn họp và có thể được trao quyền buộc các thành viên vắng mặt phải tham gia bằng các phương thức và hình phạt do mỗi Viện tự quy định.

(2) Mỗi Viện có thể tự mình ban hành quy chế về trình tự, thủ tục hoạt động của Viện mình, thi hành kỷ luật đối với những thành viên có hành vi sai phạm và trục xuất thành viên vi phạm khi có sự đồng ý của hai phần ba số thành viên.

(3) Mỗi Viện ấn hành một tờ công báo xuất bản theo định kỳ công bố về công việc mình thực hiện trừ những việc mà Viện cho là cần phải giữ bí mật. Những phiếu thuận và phiếu chống của các thành viên thuộc hai Viện về mọi vấn đề sẽ được công bố trên công báo khi có yêu cầu của một phần năm các thành viên có mặt.

(4) Trong thời gian khóa họp của Nghị viện, nếu không được sự đồng ý của Viện kia, thì không một Viện nào có thể nghỉ họp quá ba ngày hoặc chuyển sang địa điểm khác với địa điểm mà hai Viện đã quyết định.

Khoản 6

(1) Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ được nhận một khoản trợ cấp cho công việc của mình theo luật định do Ngân khố của Hợp chúng quốc chi trả(8). Trong mọi trường hợp, trừ khi có tội phản quốc, trọng tội và tội vi phạm nền an ninh, họ được hưởng đặc quyền không bị bắt giam trong thời gian tham dự khóa họp của Viện, trong khi đi tới cuộc họp và trở về nhà từ cuộc họp. Các nghị sĩ cũng không bị truy vấn ở những nơi khác về những lời phát biểu và tranh luận của mình trong cả hai Viện.

(2) Trong thời gian được bầu làm thượng nghị sĩ hoặc hạ nghị sĩ, không một ai được bổ nhiệm vào một chức vụ dân sự trong chính quyền Hoa Kỳ mà chức vụ đó được thành lập sau này hoặc có số lương bổng được gia tăng trong cùng nhiệm kỳ. Và không một người nào đang giữ một chức vụ trong Chính quyền Hợp chúng quốc được trở thành nghị sĩ trong thời gian còn tại chức.

Khoản 7

(1) Tất cả dự luật có tác động làm tăng nguồn thu Nhà nước phải do Hạ viện đề xuất, nhưng Thượng viện có quyền đề xuất bổ sung hoặc chấp thuận những điều sửa đổi đối với dự án luật này tương tự như đối với các dự án luật khác.

(2) Mỗi dự luật đã được Hạ viện và Thượng viện thông qua trước khi trở thành luật đều phải đệ trình lên Tổng thống Hoa Kỳ. Nếu tán thành, Tổng thống sẽ ký xác nhận, nếu không Tổng thống sẽ trả dự án luật lại Viện đã đề xuất dự luật đó cùng với ý kiến không tán thành. Viện này sẽ thông báo rộng rãi ý kiến không tán thành trong công báo của mình và tiến hành xem xét lại dự luật. Nếu sau khi xem xét lại và hai phần ba thành viên của Viện đó đồng ý thông qua dự luật, thì nó sẽ được gửi cho Viện kia, kèm theo ý kiến không tán thành. Viện thứ hai cũng sẽ tiến hành xem xét. Nếu được hai phần ba thành viên của Viện đó phê chuấn, thì nó sẽ trở thành luật. Nhưng trong các trường hợp này, phiếu bầu của các nghị sĩ cả hai Viện đều phải ghi rõ tên và ý kiến tán thành hay không tán thành. Tên của những người tán thành và không tán thành dự luật sẽ được đưa vào công báo của mỗi Viện. Những dự luật mà Tống thống không gửi trả lại trong vòng 10 ngày (không kể chủ nhật) sau khi đệ trình lên sẽ trở thành đạo luật giống như trường hợp Tống thống đã ký phê chuẩn, trừ trường hợp Quốc hội đang không nhóm họp nên Tổng thống không thể gửi trả lại cho Quốc hội được và trong trường hợp đó thì dự án sẽ không trở thành luật.

(3) Tất cả các nghị quyết, lệnh hoặc biểu quyết cần sự nhất trí đồng thời của cả Thượng viện và Hạ viện (trừ trường hợp Nghị viện nghỉ họp), đều phải được đệ trình lên Tống thống Hoa Kỳ, và trước khi có hiệu lực, chúng cũng phải có sự phê chuấn của Tống thống, hoặc nếu Tống thống không chấp thuận, thì cần phải có sự chấp thuận lần thứ hai của hai viện với sự nhất trí của ít nhất hai phần ba thành viên của mỗi viện, theo đúng các qui chế và giới hạn được qui định cho các trường hợp về dự luật.

Khoản 8

(1) Nghị viện có quyền đặt ra và thu các khoản thuế, thuế quan, thuế môn bài để trả các khoản nợ và chi phí cho quốc phòng và phúc lợi công cộng của Hoa Kỳ. Các khoản thuế quan và thuế môn bài đều phải thống nhất trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ;

(2) Vay tiền theo tín dụng cho Hoa Kỳ;

(3) Qui định về thương mại với nước ngoài, giữa các bang với nhau và với các bộ lạc Da đỏ;

(4) Thiết lập quy tắc thống nhất về việc nhập quốc tịch và luật thống nhất trong toàn lãnh thổ Hoa Kỳ về các vấn đề phá sản;

(5) Quyết định việc đúc và in tiền, qui định giá trị của đồng tiền trong nước và đồng tiền nước ngoài, xác định tiêu chuẩn đo lường;

(6) Trù liệu ra các hình phạt đối với những vụ làm giả trái phiếu và đồng tiền đang lưu hành ở Hoa Kỳ;

(7) Thiết lập các bưu điện và mạng lưới bưu điện;

(8) Thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và các nghệ thuật hữu ích bằng cách đảm bảo quyền sở hữu của các tác giả và nhà phát minh đối với các tác phẩm và phát minh trong thời gian hạn định;

(9) Thiết lập các tòa án dưới quyền của Tòa án tối cao;

(10) Xác định và trừng phạt các tội cướp biển và trọng tội xảy ra trên biển và những sự vi phạm luật pháp quốc tế;

(11) Tuyên chiến, chuẩn cấp các giấy phép tịch thu và trưng thu để trừng phạt kẻ thù và quy định các thể thức chiếm đoạt tài sản trên bộ và mặt biển;

(12) Xây dựng và chu cấp cho quân đội, nhưng việc chi tiêu các khoản kinh phí này chỉ trong thời hạn không quá hai năm;

(13) Thiết lập và duy trì hải quân;

(14) Quy định các luật lệ và các qui chế về lực lượng lục quân và hải quân;

(15) Trù liệu việc triệu tập dân quân của các tiểu bang nhằm thực thi luật pháp của Liên bang, trấn áp các cuộc phiến loạn và đấy lùi xâm lăng;

(16) Trù liệu việc tổ chức, vũ trang và duy trì kỷ luật các lực lượng dân quân của các bang, và trù liệu việc lãnh đạo các lực lượng này khi được huy động vào lực lượng liên bang Hoa Kỳ, trong khi vẫn giành cho các tiểu bang quyền bố nhiệm cụ thể các sỹ quan và quyền huấn luyện lực lượng dự bị của mỗi bang theo kỷ luật mà Nghị viện đã quy định;

(17) Thực thi độc quyền lập pháp trong mọi trường hợp đối với những khu vực (có diện tích không quá 10 dặm vuông) mà các tiểu bang thỏa thuận nhượng lại cho chính phủ Liên bang và sau khi được Nghị viện Liên bang chấp thuận, khu này sẽ trở thành địa điểm của Chính phủ Liên bang, và thực thi quyền lực liên bang tại tất cả những địa điểm được Chính phủ Liên bang mua lại với sự thỏa thuận của cơ quan lập pháp tiểu bang để xây dựng các thành trì, kho vũ khí, xưởng chế tạo vũ khí, kho cảng và các cơ sở cần thiết khác;

(18) Xây dựng mọi điều luật cần thiết và phù hợp để thực thi những quyền lực nói trên, cũng như tất cả những quyền lực khác đã được Hiến pháp này trao cho Nhà nước Hoa Kỳ, hoặc cho bất cứ một cơ quan và quan chức nào khác của Nhà nước.

Khoản 9

(1) Việc nhập cư hoặc nhập khẩu của những người hiện đang sống ở bất cứ bang nào sẽ được cân nhắc để chấp nhận, sẽ không bị Quốc hội cấm đoán cho đến trước năm 1808, nhưng sẽ đánh thuế không quá 10 đôla cho mỗi người nhập cư.

(2) Đặc quyền được xét xử công minh trước khi bị giam giữ(9) không bị tước đoạt, trừ trường hợp có phiến loạn và xâm lược và do yêu cầu nhằm đảm bảo nền an ninh chung.

(3) Không một đạo luật nào tổn hại tới quyền tự do của người dân và không một đạo luật hồi tố nào có thể được thông qua.

(4) Không đặt ra các loại thếu thân hoặc các loại thuế trực thu khác, nếu không tương xứng với cuộc điều tra dân số kể trên trong điều này(10).

(5) Không đặt ra bất kỳ loại thuế xuất khẩu nào đối với hàng hóa xuất khẩu từ bất cứ bang nào;

(6) Không được đặt ra bất kỳ sự ưu tiên nào đối với bến cảng của bất cứ bang nào so với những bang khác trong các quy chế về thương mại và thu nhập. Tàu thuyền từ một bang nào đó sẽ không bị bắt buộc phải cập bến, chịu sự kiểm tra và nộp thuế ở một bang khác.

(7) Không được rút bất cứ khoản tiền nào từ Ngân khố, trừ trường hợp đã được chuẩn y theo quy định của một đạo luật. Bản báo cáo tài chính thu chi thường kỳ của những khoản tiền công cộng phải được công bố thường xuyên.

(8) Hoa Kỳ không phong tặng các tước hiệu quý tộc. Những người đảm nhận những chức vụ có thu nhập hoặc được trao tín nhiệm theo chức vụ đó của Hợp chủng quốc nếu không được sự đồng ý của Nghị viện, không được phép nhận bất cứ quà tặng, lương bổng, hoặc bất cứ danh hiệu, tước vị nào do vua chúa hoặc chính phủ nước ngoài nào trao tặng.

Khoản 10

(1) Không một bang nào được phép tham gia vào bất cứ một hiệp ước, khối đồng minh hoặc liên hiệp nào; không được phép cấp giấy phép trưng dụng, bắt giữ tàu thuyền nước ngoài; không được đúc tiền hoặc phát hành trái phiếu; hoàn toàn không được dùng các đồng tiền vàng và bạc để thanh toán các khoản nợ; không được thông qua luật vi phạm dân quyền và các đạo luật có hiệu lực hồi tố hoặc luật có phương hại đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng; không được phong tặng các tước hiệu quý tộc.

(2) Nếu không được sự đồng ý của Nghị viện, không một bang nào được đặt ra thuế và thuế quan đánh vào hàng nhập khấu và xuất khấu, trừ trường hợp hết sức cần thiết cho việc thực hiện các điều luật về thanh tra, và tất cả các khoản thu từ thuế đánh vào hàng nhập khấu hoặc xuất khấu do một bang nào đó đặt ra sẽ phải đóng góp cho Ngân khố Hoa Kỳ, đồng thời tất cả các luật này đều phải đệ trình lên cho Nghị viện liên bang xét duyệt và kiểm soát.

(3) Nếu không được sự đồng ý của Nghị viện, không một bang nào được đánh thuế tàu, duy trì quân đội và tàu chiến trong thời kỳ hòa bình, ký kết hiệp định hoặc thỏa ước với một bang khác hoặc với lực lượng nước ngoài hoặc tham gia chiến tranh, ngoại trừ trường hợp thực sự bị xâm lược hoặc lâm vào tình trạng một nguy cơ cấp bách không thể trì hoãn.

ĐIỀU II

Khoản 1

(1) Quyền hành pháp được trao cho Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tổng thống giữ chức vụ của mình trong nhiệm kỳ 4 năm và cùng với Phó Tổng thống có cùng nhiệm kỳ được bầu ra theo thể thức sau đây:

(2) Theo thể thức mà cơ quan lập pháp ở bang đó qui định, mỗi bang sẽ cử ra một số lượng đại cử tri bằng tống số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ mà bang được bầu trong Nghị viện Liên bang nhưng thực tế không một thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ hoặc một quan chức nào đảm nhiệm chức vụ có lợi tức hoặc tín nhiệm của Hợp chúng quốc được chọn làm đại cử tri.

(3) [Các đại cử tri sẽ họp ở bang của mình và bỏ phiếu bầu hai người và ít nhất một trong hai người không phải là cư dân trong cùng bang đó. Họ sẽ lập bản danh sách về những người đi bầu và số phiếu bầu của mỗi người, ký và xác nhận vào danh sách, gắn xi niêm phong và chuyển lên Chính phủ Hoa Kỳ, đệ trình lên Chủ tịch Thượng viện. Với sự có mặt của Thượng viện và Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện sẽ mở tất cả cứ liệu đã được xác nhận và sẽ đếm số lượng phiếu bầu. Người có nhiều phiếu bầu nhất sẽ là Tổng thống, nếu như số phiếu bầu này chiếm đa số trong tổng số các đại cử tri được bầu ra, và nếu từ hai người trở lên có đa số phiếu bầu và có số phiếu bầu bằng nhau, thì Hạ viện sẽ ngay lập tức bỏ phiếu để bầu một trong những người đó làm Tổng thống. Nếu không người nào có đa số phiếu bầu, thì Hạ viện cũng theo thể thức như vậy, chọn 5 người có số phiếu bầu nhiều nhất trong danh sách để bầu ra Tổng thống. Nhưng trong việc bầu Tổng thống, việc bầu cử được tính theo từng tiểu bang, mỗi đại diện đến từ các bang sẽ có một phiếu bầu. Số lượng đại biểu cần thiết để thực hiện điều này là phải có một hoặc nhiều nghị sĩ đến từ hai phần ba tổng số các bang và để trúng cử tổng thống thì phải được sự ủng hộ của đa số các bang. Trong mọi trường hợp, sau khi bầu Tổng thống, người có số phiếu nhiều nhất do các đại cử tri bầu cho sẽ là Phó Tổng thống. Nhưng nếu từ hai người trở lên có số phiếu bầu bằng nhau, thì Thượng viện sẽ chọn trong số đó để bỏ phiếu bầu ra Phó Tổng thống](11).

(4) Nghị viện có thể quyết định thời gian bầu các đại cử tri, ngày mà các đại cử tri sẽ bỏ phiếu để bầu cử và ngày đó phải cùng một ngày trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.

(5) Người có đủ tiêu chuẩn được bầu làm Tổng thống phải là công dân sinh ra tại Hoa Kỳ hoặc là công dân Hoa Kỳ

trong thời gian xây dựng Hiến pháp này, từ 35 tuối trở lên và đã có 14 năm cư trú ở Hoa Kỳ.

(6) Trong trường hợp Tổng thống bị cách chức hoặc qua đời, từ chức hoặc không đủ năng lực trong việc thực thi quyền lực và nhiệm vụ của mình(12), thì mọi quyền lực và nhiệm vụ sẽ chuyển giao cho Phó Tổng thống. Trong trường hợp cả Tổng thống và Phó Tổng thống bị truất quyền, tử vong, từ chức hoặc không đủ năng lực, thì Nghị viện có quyền tuyên bố bằng một đạo luật cử một quan chức thực hiện quyền hạn của Tống thống cho đến khi tình trạng vô năng lực của Tổng thống được chấm dứt hoặc có một Tổng thống mới đã được bầu ra.

(7) Trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống sẽ được nhận một khoản tiền lương trả cho công việc của mình, khoản tiền này sẽ không tăng và cũng không giảm trong suốt nhiệm kỳ này và Tổng thống cũng không có quyền được nhận bất cứ một khoản tiền nào khác của Hoa Kỳ hoặc bất cứ một bang nào.

(8) Trước khi nhậm chức, Tổng thống sẽ tuyên thệ hay thề nguyền như sau: “Tôi long trọng tuyên thệ (hoặc thề) rằng tôi sẽ giữ chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ với lòng trung thành và tận dụng hết khả năng của mình để duy trì, giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ”.

Khoản 2

(1) Tổng thống là Tổng tư lệnh các lực lượng lục quân và hải quân Hoa Kỳ và của lực lượng dân quân ở một số bang khi lực lượng này được triệu tập để phục vụ Hợp chủng quốc. Tổng thống có thể trưng cầu ý kiến, bằng văn bản, của các quan chức ở các Bộ thuộc cơ quan hành pháp đối với bất cứ vấn đề nào liên quan tới nhiệm vụ của những cơ quan đó và Tổng thống có quyền hủy bỏ bản án hoặc ân xá đối với những hành vi chống lại Hoa Kỳ, ngoại trừ các trường hợp bị đàn hạch.

(2) Theo thỏa thuận và sự đồng ý của Thượng viện với sự nhất trí của hai phần ba số thượng nghị sĩ có mặt, Tổng thống có quyền ký kết các điều ước. Và cũng theo thỏa thuận, đồng ý của Thượng viện, Tổng thống sẽ bổ nhiệm các đại sứ, các công sứ, lãnh sự, các chánh án của Tòa án tối cao và những quan chức khác của Hoa Kỳ mà sự bổ nhiệm này chưa được quy định tại Hiến pháp này nhưng sẽ được quy định tại các đạo luật. Nghị viện, thông qua các đạo luật, có thể trao quyền bổ nhiệm các quan chức thuộc cấp cho bản thân Tổng thống, cho các tòa án hoặc cho các bộ trưởng.

(3) Tổng thống có quyền bổ sung vào những chỗ trống có thể xảy ra trong thời gian giữa hai kỳ họp của Thượng viện bằng cách cấp giấy ủy nhiệm có thời hạn đến cuối kỳ họp sau của Thượng viện.

Khoản 3

Theo thường lệ, Tổng thống sẽ thông báo cho Nghị viện về tình hình của Liên bang và đề nghị Nghị viện xem xét những biện pháp mà Tổng thống thấy cần thiết và thích hợp. Tổng thống có quyền, trong trường hợp bất thường, triệu tập hai Viện hoặc một trong hai Viện. Trong trường hợp hai Viện bất đồng về thời gian hoãn họp, Tổng thống sẽ quyết định về thời gian hoãn họp đến thời điểm mà Tổng thống cho là thích hợp. Tổng thống sẽ tiếp kiến các đại sứ và các công sứ. Tổng thống đôn đốc việc thi hành pháp luật một cách đúng đắn và sẽ giao phó nhiệm vụ cho tất cả các quan chức của Hoa Kỳ.

Khoản 4

Tổng thống, Phó Tổng thống và các quan chức nhà nước của Hoa Kỳ sẽ bị cách chức theo kết quả của cuộc đàn hạch hoặc kết án với các tội danh phản bội tổ quốc, nhận hối lộ hoặc những tội nghiêm trọng khác.

ĐIỀU III

Khoản 1

Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những tòa án cấp dưới mà Nghị viện có thể thiết lập trong một số trường hợp. Các chánh án của Tòa án tối cao và các tòa án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình đến suốt đời nếu luôn luôn có hành vi chính đáng, và trong thời gian đã nêu trên, họ được nhận khoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đi trong thời gian tại chức.

Khoản 2

(1) Quyền lực tư pháp có hiệu lực đối với tất cả các vụ việc trên phương diện luật pháp và công lý, theo quy định của Hiến pháp này và các điều luật của Hoa Kỳ, các hiệp ước đã hoặc sẽ ký dưới thấm quyền của Chính phủ; đối với các trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, đối với các trường hợp liên quan tới luật pháp hàng hải và hải quân; đối với các tranh tụng trong đó Chính phủ Hợp chúng quốc là một bên tranh chấp; đối với các cuộc tranh chấp giữa hai bang trở lên(13), giữa một bang với các công dân của bang khác, giữa các công dân của các bang khác nhau, giữa các công dân trong một bang tranh chấp đất đai do các bang khác nhau cấp, giữa một bang hoặc các công dân của bang đó với ngoại quốc hoặc với công dân hoặc thần dân ngoại quốc.

(2) Trong các trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, và các trường hợp mà một bang là một bên tranh chấp, thì Tòa án tối cao phải mở phiên tòa sơ thấm. Trong những trường hợp khác, Tòa án Tối cao có thấm quyền xét xử phúc thẩm cả về góc độ pháp luật và sự kiện pháp lý của vụ án theo những ngoại lệ và quy tắc do Nghị viện quy định.

(3) Trừ những trường hợp bị xem xét theo hình thức đàn hạch, việc xét xử các tội sẽ phải thông qua Bồi thẩm đoàn và phiên tòa xét xử sẽ mở tại bang nơi đã xảy ra vụ việc phạm tội. Nhưng nếu vụ việc không xảy ra ở bất cứ bang nào, thì phiên tòa được thực hiện ở địa điểm được xác định theo quyết định của Nghị viện thông qua một đạo luật.

Khoản 3

(1) Tội phản quốc chống lại Hợp chủng quốc bao gồm hành vi gây chiến tranh tấn công nước này hoặc ủng hộ, trợ giúp và úy lạo kẻ thù. Không một ai bị kết án phản bội tổ quốc, trừ phi có hai người làm chứng về hành vi phạm tội hoặc có sự thú tội công khai trước tòa.

(2) Nghị viện có quyền xác định hình phạt cho tội phản bội tổ quốc. Nhưng các phán quyết đưa đến sự hành hình hoặc tịch thu tài sản chỉ được áp dụng trong trường hợp tội nhân còn sống.

ĐIỀU IV(14)

Khoản 1

Mỗi bang đều phải tin tưởng tuyệt đối vào các điều luật, hồ sơ và thủ tục tố tụng của các bang khác. Nghị viện bằng những luật có tính chất chung quy định cách thức chứng thực các điều luật, hồ sơ và thủ tục tố tụng đó, cũng như hiệu lực của chúng.

Khoản 2

(1) Công dân của mỗi bang sẽ được hưởng mọi đặc quyền và quyền bất khả xâm phạm như công dân của các bang khác.

(2) Cá nhân bị truy tố về tội phản quốc, trọng tội hoặc một tội nào khác mà trốn tránh pháp luật mà bị tìm thấy ở một bang khác, thì theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của bang mà người đó chạy trốn, sẽ bị trao trả lại và dẫn độ về bang có thẩm quyền xét xử.

(3) [Không một cá nhân nào vốn bị giam cầm, quản thúc, khổ sai ở một bang bỏ trốn sang một bang khác lại có thể dựa vào luật lệ và qui chế ở địa phương mới để trốn tránh những hình phạt nói trên, mà phải được trao trả lại theo yêu cầu của bên mà cá nhân đó buộc phải làm việc và lao động](15).

Khoản 3

(1) Những bang mới có thể được Nghị viện chấp nhận gia nhập vào Liên bang này; nhưng không một bang mới nào được thành lập hoặc dựng nên dưới thẩm quyền của bất cứ bang nào khác; cũng không một bang nào sẽ được hình thành bằng cách sáp nhập hai bang trở lên hoặc các vùng của các bang khác nếu không được sự đồng ý của cơ quan lập pháp ở các bang có liên quan cũng như của Nghị viện.

(2) Nghị viện có quyền hoạch định và xây dựng các luật lệ và qui chế cần thiết liên quan tới lãnh thổ hoặc sở hữu khác thuộc về Hoa Kỳ; và không một điều nào trong Hiến pháp này được giải thích làm tổn hại đến bất cứ tuyên bố nào về tài sản của Hoa Kỳ hay của bất cứ một bang cụ thể nào khác.

Khoản 4

Hợp chủng quốc sẽ đảm bảo cho mỗi bang trong Liên bang này một thể chế chính quyền cộng hoà; và sẽ bảo vệ mỗi bang chống lại các cuộc xâm lăng cũng như tình trạng bạo lực trong bang khi có yêu cầu của cơ quan lập pháp hoặc hành pháp (khi cơ quan lập pháp không thể nhóm họp) của bang đó.

ĐIỀU V

Nghị viện Liên bang, khi có hai phần ba thành viên của cả hai Viện xét thấy cần thiết, đề xuất các tu chính hiến pháp, hoặc theo yêu cầu của các cơ quan lập pháp ở hai phần ba các bang, phải triệu tập Đại hội để đề xuất các tu chính Hiến pháp; trong cả hai trường hợp, các tu chính án đều có hiệu lực như một bộ phận của Hiến pháp khi được phê chuẩn bởi các cơ quan lập pháp của ba phần tư các bang, hoặc bởi Đại hội của ba phần tư các bang, theo một thể thức phê chuẩn do Nghị viện đề nghị với điều kiện là không một tu chính án nào được chấp thuận trước năm 1808 nếu có ảnh hưởng đến đoạn 1 và đoạn 4 của khoản 9, Điều 1; và không một bang nào bị tước quyền bình đẳng trong việc biểu quyết tại Thượng nghị viện nếu không có sự thỏa thuận của tiểu bang đó.

ĐIỀU VI

(1) Mọi khoản nợ đã ký kết và những cam kết có trước khi thông qua Hiến pháp này vẫn có hiệu lực đối với Liên bang được thành lập trong khuôn khố Hiến pháp này cũng như đối với Liên minh cũ.

(2) Hiến pháp này, các đạo luật của Hoa Kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi điều ước đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ là luật tối cao của quốc gia. Quan tòa ở các bang đều phải tuân theo những luật này; bất cứ một điều gì trong Hiến pháp hoặc luật của các bang mà trái ngược với Hiến pháp Liên bang đều không có giá trị.

(3) Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ, các thành viên của cơ quan lập pháp các bang, các quan chức trong cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp của Liên bang lẫn tiểu bang đều phải tuyên thệ hoặc xác nhận sự ủng hộ Hiến pháp này. Nhưng không một điều kiện tôn giáo nào bị coi là bắt buộc như là tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào các chức vụ, công sở của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

ĐIỀU VII

Sự phê chuẩn của các hội nghị ở chín tiểu bang được coi là điều kiện cần thiết đối với việc thiết lập bản Hiến pháp này giữa các tiểu bang đã phê chuẩn.

Hiến pháp được đại biểu các bang có mặt nhất trí thông qua trong đại hội vào ngày 17 tháng 9 năm 1787 Thiên chúa Giáng sinh, vào năm độc lập thứ 12 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

III. CÁC TU CHÍNH ÁN TRONG HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

Các điều khoản bổ sung và tu chính cho bản Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ do Nghị viện đề xuất và được các cơ quan lập pháp của các tiểu bang phê chuẩn theo đúng Điều V của Hiến pháp nguyên thủy(16).

ĐIỀU I(17)

Nghị viện không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí, quyền của dân chúng được hội họp hòa bình và kiến nghị chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.

ĐIỀU II

Xét thấy lực lượng dân quân có tổ chức nghiêm chỉnh là rất cần thiết cho nền an ninh của một quốc gia tự do, quyền của dân chúng được giữ và sử dụng vũ khí sẽ không bị vi phạm.

ĐIỀU III

Không một quân nhân nào trong thời bình được đóng quân trong bất cứ nhà dân nào nếu không được sự đồng ý của gia chủ, và ngay trong thời chiến cũng chỉ được phép theo phương thức do pháp luật qui định.

ĐIỀU IV

Quyền của con người được đảm bảo về thân thể, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và thu giữ sẽ không bị vi phạm. Không một lệnh bắt giam hoặc khám xét

nào được cấp nếu không có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận trong đó đặc biệt miêu tả rõ địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ.

ĐIỀU V

Không một ai bị buộc phải trả lời về một tội nghiêm trọng hay một tội xấu xa khác nếu không có sự tường trình và cáo trạng của Bồi thấm đoàn, trừ những trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân hoặc trong lực lượng dân quân, khi đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc trong tình trạng cộng động đang gặp nguy hiểm. Không một ai bị xét xử hai lần về cùng một tội có nguy hại đến tính mạng và thân thể; không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại bản thân mình trong một vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản, nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng.

ĐIỀU VI

Trong mọi vụ truy tố hình sự, bị cáo có quyền được xét xử một cách nhanh chóng và công khai bởi một Bồi thấm đoàn công bằng của bang và của khu vực nơi hành vi phạm tội xảy ra theo cách phân chia khu vực đã được xác định trước bởi các đạo luật; bị cáo phải được thông báo về tính chất và lý do buộc tội, được đối chất với các nhân chứng chống lại mình, được quyền triệu tập những nhân chứng để biện minh và được sự giúp đỡ của luật sư bào chữa.

ĐIỀU VII

Trong những vụ kiện tụng theo thông luật, nếu giá trị tranh chấp quá 20 đôla, thì quyền được xét xử bởi Bồi thẩm đoàn sẽ được tôn trọng và không một vụ việc nào đã được Bồi thẩm đoàn xét xử lại phải xem xét lại lần nữa ở bất cứ tòa án nào của Hoa Kỳ, mà phải căn cứ theo các quy tắc của thông luật.

ĐIỀU VIII

Không được đòi hỏi những khoản tiền bảo lãnh quá cao, không áp đặt những khoản tiền phạt quá mức và không áp dụng những hình phạt dã man và khác thường.

ĐIỀU IX

Việc liệt kê cụ thể các quyền trong Hiến pháp này không đồng nghĩa với việc phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân.

ĐIỀU X

Những quyền lực không được Hiến pháp trao cho Liên bang và không ngăn cấm các bang thực hiện, thì thuộc về các bang tương ứng hoặc thuộc về nhân dân.

ĐIỀU XI

Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ không được diễn giải với mục đích mở rộng quyền xét xử tới các vụ tố tụng về luật pháp hay công lý chống lại một trong các bang của Hợp chúng quốc theo sự khởi kiện hoặc truy tố của công dân của một bang khác hoặc của công dân hoặc thần dân của ngoại quốc.

ĐIỀU XII(18)

Các đại cử tri sẽ họp lại trong từng bang của họ và bầu Tổng thống và Phó Tổng thống bằng lá phiếu của mình mà trong đó ít nhất một trong hai người này sẽ không phải là cư dân cùng một bang với họ. Họ phải ghi vào lá phiếu tên người được bầu là Tổng thống và trên lá phiếu khác tên người được bầu làm Phó Tổng thống. Và họ sẽ lập ra các bản danh sách khác nhau những người bầu cho Tổng thống, những người bầu cho Phó Tổng thống và cả số phiếu bầu cho mỗi người. Họ sẽ ký xác nhận vào những danh sách này, niêm phong và chuyển lên Chính phủ Hoa Kỳ, trình lên Chủ tịch Thượng viện. Chủ tịch Thượng viện trước sự hiện diện của Thượng viện và Hạ viện, sẽ mở tất cả các hồ sơ đã được chứng nhận và tiến hành kiểm phiếu. Người có số phiếu nhiều nhất trong cuộc bầu cử cho vị trí Tổng thống sẽ đắc cử Tổng thống nếu số phiếu này chiếm đa số trong tổng số các đại cử tri được chỉ định; nếu không ai đạt số phiếu như vậy thì Hạ viện sẽ ngay lập tức bỏ phiếu bầu Tổng thống trong số những người có số phiếu bầu cao nhất, nhưng không quá 3 người. Nhưng trong việc bầu Tổng thống theo thể thức này, việc bỏ phiếu sẽ được tính theo các bang, đại diện của mỗi bang có một phiếu bầu. Số hạ nghị sĩ cần thiết phải có mặt để thực hiện cuộc bầu cử này là phải có đủ đại diện đến từ hai phần ba tổng số các bang và mỗi bang phải có ít nhất một nghị sĩ; và để trúng cử tổng thống, ứng cử viên phải nhận được sự ủng hộ của đa số trên tổng số các bang của Hợp chủng quốc. [Trong trường hợp Hạ viện đã được trao quyền bầu cử mà không bầu ra Tổng thống trước ngày thứ tư của tháng 3 năm tiếp theo, thì Phó Tổng thống sẽ giữ quyền Tổng thống, cũng giống như trường hợp Tổng thống qua đời hoặc không đủ năng lực như Hiến pháp quy định](19). Người có số phiếu bầu nhiều nhất bầu cho vị trí Phó Tổng thống sẽ đắc cử Phó Tổng thống nếu số phiếu này là đa số phiếu của tống số đại cử tri được chỉ định. Trong trường hợp không có ai được đa số phiếu, thì Thượng viện bầu ra Phó Tổng thống trong số hai người có số phiếu cao nhất trong danh sách. Số thượng nghị sĩ cần thiết phải có mặt để thực hiện cuộc bầu cử này là từ hai phần ba tổng số các thượng nghị sĩ; và để trúng cử chức vụ phó tổng thống, ứng cử viên phải nhận được sự ủng hộ của đa số trên tổng số các thượng nghị sĩ. Người nào không đủ tiêu chuẩn hợp hiến để đảm nhận chức vụ Tổng thống thì cũng không đủ tiêu chuẩn để được chọn làm Phó Tổng thống Hoa Kỳ.

ĐIỀU XIII(20)

Khoản 1

Không một chế độ nô lệ hoặc lao dịch cưỡng bức nào được tồn tại ở Hoa Kỳ hoặc bất kỳ nơi nào thuộc thẩm quyền của Hoa Kỳ, ngoại trừ trường hợp trừng phạt thích đáng đối với tội phạm hình sự mà đương sự phạm phải.

Khoản 2

Nghị viện có quyền ban hành luật lệ thích ứng để buộc thi hành điều này.

ĐIỀU XIV(21)

Khoản 1

Tất cả những người sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ hoặc được nhập quốc tịch ở Hoa Kỳ và thuộc thẩm quyền tài phán ở đó, đều là công dân của Hoa Kỳ và của bang mà họ sinh sống. Không một bang nào được ban hành hoặc thực thi bất cứ đạo luật nào nhằm hạn chế đặc quyền hoặc quyền bất khả xâm phạm của công dân Hoa Kỳ. Cũng không một bang nào có thể tước đoạt sinh mệnh, tự do hoặc tài sản của một cá nhân mà không theo một quy trình do luật định. Các bang cũng không thể phủ nhận quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng của một cá nhân trong phạm vi thẩm quyền tài phán của bang đó.

Khoản 2

Số Hạ nghị sĩ được phân bố cho các bang dựa trên tổng số nhân khẩu của các tiểu bang, [ngoại trừ những người da đỏ không phải nộp thuế]. Nhưng trong bất cứ một cuộc bầu cử đại cử tri để bầu Tổng thống và Phó Tổng thống Hoa Kỳ, bầu cử các Hạ nghị sĩ trong Nghị viện Liên bang, các quan chức hành pháp và tư pháp của bang hoặc các thành viên của cơ quan lập pháp nơi đó, nếu quyền bầu cử của nam công dân từ 21 trở lên(22) và là công dân Hoa Kỳ bị phủ nhận hoặc hoặc bị tước bỏ vì lý do nào đó trừ các trường hợp những người tham gia phiến loạn hoặc phạm các tội khác, thì số đại cử tri ở đó sẽ bị giảm bớt theo tỷ lệ giữa tống số nam công dân và số nam công dân ở độ tuối 21 tại bang đó.

Khoản 3

Những người đã tuyên thệ ủng hộ Hiến pháp của Hoa Kỳ với tư cách là thành viên của Quốc hội, hoặc một quan chức của Hoa Kỳ, hoặc một thành viên của một cơ quan lập pháp của bang, hoặc quan chức hành chính hay tư pháp của bất cứ một bang nhưng lại tham gia các cuộc nổi dậy hay phiến loạn chống lại Hiến pháp hoặc trợ giúp hay úy lạo kẻ thù, thì không thể là thượng nghị sĩ hoặc hạ nghị sĩ trong Quốc hội, hoặc đại cử tri để bầu Tổng thống và Phó Tổng thống, hoặc phụ trách một cơ quan dân sự hay quân sự nào của Hoa Kỳ hay của một bang nào đó. Nhưng Quốc hội có thể với 2/3 số phiếu của hai phần ba thành viên mỗi Viện để bác bỏ sự nghiêm cấm nói trên.

Khoản 4

Giá trị của những khoản nợ công cộng của Hoa Kỳ, được thực hiện theo sự cho phép của các đạo luật, kể cả những khoản nợ để trả cho các khoản phụ cấp và tiền thưởng cho công việc phục vụ trấn áp các cuộc nổi dậy và phiến loạn, không bị truy vấn. Tuy nhiên cả Liên bang và bất cứ bang nào đều không thừa nhận hoặc thanh toán các khoản nợ hay trái vụ liên quan tới việc hỗ trợ cho các cuộc nổi dậy và phiến loạn chống lại Hoa Kỳ, hoặc đối với những yêu cầu bồi thường cho tình trạng mất mát nô lệ hoặc giải phóng nô lệ. Những khoản tiền, nghĩa vụ và yêu cầu loại này phải bị coi là phi pháp và không có giá trị.

Khoản 5

Nghị viện có quyền triển khai thực hiện điều khoản này bằng các luật lệ thích ứng.

ĐIỀU XV(23)

Khoản 1

Quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế, dựa vào lý do chủng tộc, màu da hay tình trạng nô lệ trước đây.

Khoản 2

Nghị viện có quyền triển khai thực hiện điều khoản này bằng các luật lệ thích ứng.

ĐIỀU XVI(24)

Nghị viện liên bang có quyền ban hành và thu các khoản thuế thu nhập có từ bất cứ nguồn nào mà không phải phân bổ tỷ lệ giữa các bang và không dựa vào bất cứ sự thống kê và điều tra dân số nào.

ĐIỀU XVII(25)

Thượng viện của Hoa Kỳ sẽ gồm có hai thượng nghị sĩ của mỗi bang do dân chúng ở đó bầu ra với nhiệm kỳ 6 năm và mỗi thượng nghị sĩ sẽ có một lá phiếu biểu quyết. Đại cử tri ở mỗi bang phải có đủ phẩm chất cần thiết như là phẩm chất của đại cử tri của ngành đông đảo nhất của các cơ quan lập pháp tiểu bang.

Khi có chỗ khuyết trong số đại diện của tiểu bang trong Thượng viện, cơ quan hành pháp của bang đó sẽ ban hành lệnh bầu cử để bổ sung vào chỗ khuyết, với điều kiện là cơ quan lập pháp của bang đó trao quyền tạm thời cho cơ quan hành pháp cho đến khi nhân dân bầu chọn được người bổ sung vào những chỗ khuyết theo luật lệ sẵn có.

Điều khoản này sẽ không được diễn giải làm ảnh hưởng đến việc bầu cử hoặc nhiệm kỳ của thượng nghị sĩ được bầu ra, cho đến khi nó có hiệu lực như một bộ phận của Hiến pháp.

ĐIỀU XVIII(26)

Khoản 1

Một năm sau khi phê chuẩn điều khoản này của Hiến pháp, việc sản xuất, mua bán hoặc chuyên chở các loại rượu có cồn ở trong nước, nhập khẩu từ nước ngoài, xuất khẩu từ Hoa Kỳ và các lãnh thổ thuộc thẩm quyền của Hoa Kỳ đều bị cấm.

Khoản 2

Nghị viện Liên bang và các tiểu bang có quyền lực như nhau khi thi hành điều khoản này của Hiến pháp bằng những đạo luật thích hợp

Khoản 3

Điều khoản này sẽ không có hiệu lực trừ phi được phê chuẩn bởi cơ quan lập pháp của các bang như một tu chính đối với Hiến pháp trong vòng 7 năm kể từ ngày Quốc hội chuyển đến các bang như Hiến pháp quy định.

ĐIỀU XIX(27)

Khoản 1

Quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi Liên bang hoặc bất cứ bang nào với lý do giới tính.

Khoản 2

Nghị viện có quyền triển khai thực hiện điều khoản này bằng các luật lệ thích ứng.

ĐIỀU XX(28)

Khoản 1

Nhiệm kỳ của Tổng thống và Phó Tổng thống sẽ kết thúc vào đúng trưa ngày thứ 20 tháng giêng, và nhiệm kỳ của các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ kết thúc vào đúng trưa của ngày thứ 3 của tháng giêng vào những năm mà những nhiệm kỳ trên sẽ kết thúc nếu điều khoản này vẫn chưa được phê chuẩn và nhiệm kỳ của những người kế nhiệm họ sẽ bắt đầu từ thời điểm đó.

Khoản 2

Nghị viện sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần và kỳ họp sẽ bắt đầu vào giữa trưa ngày thứ 3 của tháng Giêng, trừ trường hợp họ ra một đạo luật để xác định một ngày khác.

Khoản 3

Nếu vào thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ đã được ấn định mà Tổng thống đắc cử qua đời, thì Phó Tổng thống đắc cử sẽ trở thành Tổng thống. Nếu trước thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ đã được ấn định mà Tổng thống chưa đắc cử hoặc Tổng thống đã đắc cử nhưng không đủ tư cách, thì Phó Tổng thống đắc cử sẽ đảm đương cương vị Tổng thống cho đến khi Tổng thống được xác định là có đủ tư cách. Nghị viện trên cơ sở việc ra một đạo luật có thể quyết định về trường hợp khi cả Tổng thống đắc cử và Phó Tổng thống đắc cử đều không đủ điều kiện, tuyên bố người sẽ đứng ra đảm đương quyền Tổng thống hoặc xác định cách thức để chọn người đảm đương chức vụ Tổng thống cho đến khi Tổng thống hay Phó Tổng thống có đủ tư cách.

Khoản 4

Nghị viện trên cơ sở ra một đạo luật có thể quy định trong trường hợp có sự qua đời của bất cứ cá nhân nào trong những người mà Hạ viện có thể chọn làm Tổng thống khi Hạ viện được trao quyền lựa chọn đó; và trong trường hợp có sự qua đời của bất cứ cá nhân nào trong những người mà Thượng viện có thể chọn làm Phó Tổng thống khi Thượng viện được trao quyền lựa chọn đó.

Khoản 5

Khoản 1 và khoản 2 sẽ có hiệu lực bắt đầu vào ngày 15 tháng 10 sau khi điều khoản này được phê chuẩn.

Khoản 6

Điều này của Hiến pháp sẽ không có hiệu lực trừ phi được phê chuẩn như những điều bổ sung của Hiến pháp bởi cơ quan lập pháp của ba phần tư các tiểu bang trong 7 năm kể từ ngày được đệ trình.

ĐIỀU XXI(29)

Khoản 1

Kể từ nay, điều bổ sung sửa đổi số 18 của Hiến pháp bị bãi bỏ.

Khoản 2

Việc chuyên chở hay nhập khau nhằm cung cấp và sử dụng rượu có cồn ở bất cứ bang nào hoặc lãnh thổ và vùng thuộc sở hữu của Hoa Kỳ mà vi phạm luật ở những nơi đó sẽ bị nghiêm cấm.

Khoản 3

Điều này sẽ không có hiệu lực trừ phi nó được các đại hội của các bang phê chuẩn như một điều bổ sung của Hiến pháp, theo qui định của Hiến pháp, trong vòng 7 năm kể từ ngày Nghị viện chuyển đến các bang.

ĐIỀU XXII(30)

Khoản 1

Không người nào được bầu giữ chức vụ Tổng thống quá hai nhiệm kỳ và không người nào đã đảm đương chức vụ Tổng thống hoặc là quyền Tổng thống quá hai năm trong nhiệm kỳ mà người khác đã đắc cử Tổng thống được bầu vào chức vụ Tổng thống hơn một nhiệm kỳ. Nhưng điều khoản này không áp dụng đối với những người đang giữ chức Tổng thống khi điều khoản này được Quốc hội đề nghị và sẽ không ngăn cản bất cứ ai có thể giữ chức Tổng thống hoặc quyền Tổng thống trong thời gian điều khoản này có hiệu lực đúng vào nhiệm kỳ của họ, vì vậy họ sẽ tiếp tục cương vị Tổng thống hay quyền Tổng thống trong thời gian nhiệm kỳ còn lại.

Khoản 2

Điều này sẽ không có hiệu lực trừ khi nó được cơ quan lập pháp của ba phần tư các bang phê chuẩn như một điều bổ sung vào Hiến pháp trong vòng 7 năm kể từ ngày Quốc hội chuyển tới các bang.

ĐIỀU XXIII(31)

Khoản 1

Theo phương thức do Nghị viện liên bang quyết định, Quận được dùng làm thủ phủ chính của Chính phủ nhà nước Hợp chúng quốc sẽ được chỉ định:

– Số đại cử tri bầu Tổng thống và Phó Tổng thống mà Quận có được bằng tổng số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ trong Quốc hội nếu đó là một bang, nhưng nếu số đại cử tri không nhiều hơn so với bang ít dân số nhất, thì họ sẽ được ghép vào số đại cử tri do các bang bổ nhiệm, nhưng xuất phát từ mục đích của cuộc bầu Tổng thống và Phó Tổng thống, thì họ sẽ được coi là các đại cử tri do một bang bổ nhiệm, và họ sẽ họp với nhau ở khu vực bầu cử và hoàn thành trách nhiệm do Tu chính án số XII của Hiến pháp qui định.

Khoản 2

Nghị viện có quyền triển khai thực hiện điều khoản này bằng các luật lệ thích ứng.

ĐIỀU XXIV(32)

Khoản 1

Quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ trong các vòng bầu cử sơ bộ, hoặc trong các cuộc bầu cử Tổng thống hay Phó Tổng thống, cuộc bầu đại cử tri để bầu Tổng thống, Phó Tổng thống, thượng nghị sĩ hay hạ nghị sĩ trong Nghị viện Liên bang, sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi Liên bang hay một tiểu bang nào với lý do không có khả năng nộp thuế thân hoặc thuế khác.

Khoản 2

Nghị viện có quyền triển khai thực hiện điều khoản này bằng các luật lệ thích ứng.

ĐIỀU XXV(33)

Khoản 1

Trong trường hợp Tổng thống bị phế truất, qua đời hoặc từ chức, Phó Tổng thống sẽ trở thành Tổng thống.

Khoản 2

Trong trường hợp vị trí Phó Tổng thống bị khuyết, Tổng thống sẽ chỉ định một người làm Phó Tổng thống, nhưng phải được đa số nghị sĩ trong cả hai viện của Nghị viện đồng ý thông qua một cuộc biểu quyết.

Khoản 3

Trong trường hợp Tổng thống chuyển đến Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố rằng Tổng thống không thể thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình thì những quyền lực và trách nhiệm của Tổng thống do Phó Tổng thống thực thi với tư cách quyền Tổng thống cho đến khi Tổng thống chuyển đến Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện một văn bản với nội dung ngược lại.

Khoản 4

Trong mọi trường hợp khi Phó Tổng thống và đa số các quan chức chủ chốt của cơ quan hành pháp hay cơ quan tương đương nào khác được Nghị viện thành lập bằng luật, chuyển lên Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố rằng Tổng thống không thể thực thi những quyền lực và trách nhiệm của mình, thì Phó Tổng thống sẽ ngay lập tức nắm quyền lực và trách nhiệm đó với tư cách quyền Tổng thống.

Sau đó, khi Tổng thống chuyển lên Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố về sự đầy đủ năng lực của mình, Tổng thống có thể tiếp tục thực thi quyền lực và nhiệm vụ với điều kiện trong vòng 4 ngày Phó Tổng thống và đa số các quan chức chủ chốt của cơ quan hành pháp hay cơ quan tương đương mà Quốc hội đã qui định chuyển đến Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố về việc Tổng thống có đủ năng lực thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình. Nếu không phải trong kỳ họp, trong vòng 48 tiếng đồng hồ Nghị viện sẽ phải họp để giải quyết vấn đề đó. Nếu trong vòng 21 ngày sau khi nhận được văn bản tuyên bố nói trên hoặc sau khi nghị viện được yêu cầu phải nhóm họp, Nghị viện quyết định với đa số hai phần ba ở cả hai viện rằng Tổng thống không đủ khả năng để thực hiện chức năng và nhiệm vụ Tổng thống của mình thì Phó tổng thống sẽ tiếp tục thực thi công việc đó với tư cách là quyền Tổng thống. Trong trường hợp ngược lại, Tổng thống sẽ tiếp tục thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình.

ĐIỀU XXVI(34)

Khoản 1

Quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên sẽ không bị tước bỏ hoặc hạn chế bởi Liên bang hay bất cứ bang nào với lý do tuổi tác.

Khoản 2

Nghị viện có quyền triển khai thực hiện điều khoản này bằng các luật lệ thích ứng.

ĐIỀU XXVII(35)

Trước cuộc bầu cử hạ nghị sĩ, không một điều luật nào nhằm thay đổi các khoản trợ cấp cho công việc của thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ có hiệu lực.

—-

* Nguồn:Tuyển tập HIẾN PHÁP MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, nhà xuất bản Thống Kê, năm 2009.

(1) Những thông tin trong phần này được tổng hợp từ Richard C. Schroeder, Khái

quát về chính quyền Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, (bản tiếng Việt do Trần Thị Thái Hà dịch), (NXB Chính trị quốc gia, 1999) và trang thông tin the World Factbook của Centre Intelligence Agency.

(2) Bản Hiến pháp này được dịch theo bản tiếng Anh đăng tải trên Trang thông tin của Hạ nghị viện Hoa Kỳ: http ://www.house. gov. Trong quá trình chuyển ngữ, chúng tôi có tham khảo bản dịch trên Trang thông tin của Đại sứ quan Hoa Kỳ tại Việt Nam http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/.

(3) Phần của điều khoản này liên quan đến hình thức bầu cử các hạ nghị sĩ ở các bang khác nhau đã bị sửa đối bởi Điều 2 của Tu chính án XIV; các nội dung liên quan đến đánh thuế thu nhập cá nhân mà chưa được phân bố cũng đã được sửa đối, bố sung theo Tu chính án XVI.

(4) Đàn hạch (impeachment) là hoạt động của cơ quan lập pháp xem xét việc bãi nhiệm chức vụ của một quan chức nhà nước với những cáo buộc về những hành vi sai trái (Tham khảo tại Black’s Law Dictionary, 7th edition, p.755).

(5) Phần này đã được sửa đối, bố sung theo Khoản 1 của Tu chính án XVII.

(6) Phần này đã được sửa đổi, bổ sung theo Tu chính án số XVIII.

(7) Phần này đã được sửa đối, bố sung theo Tu chính án số XX.

(8) Phần này đã được sửa đổi, bổ sung theo Tu chính án số XXVII.

(9) Nguyên văn: Habeas Courpus – là hành vi pháp lý qua đó một người có thể tránh được việc bị giam giữ trái pháp luật đối với mình hoặc người khác. Habeas Courpus là một công cụ có tính lịch sử quan trọng trong việc bảo vệ quyền tự do cá nhân đối với các hành vi chuyên quyền của nhà nước.

(10) Phần này đã được sửa đổi, bổ sung theo Tu chính án XVI.

(11) Khoản này đã bị hủy bỏ theo Tu chính án số XII.

(12) Phần này đã được sửa đối, bổ sung theo Tu chính án số

(13) Phần này đã được sửa đối, bố sung theo Tu chính án XI.

(14) Hầu hết nội dung của điều này đều lấy nguyên bản từ các Điều khoản Hợp bang cũ.

(15) Khoản này đã được sửa đổi, bổ sung theo Tu chính án XIII.

(16) Mười điều bổ sung sửa đổi đầu tiên, hay còn được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền, được đề xuất ngày 25/9/1789 và được phê chuẩn ngày 15/12/1791.

(17) Chỉ có các Tu chính án số XIII, XIV, XV và XVI được đánh số theo đứng thứ tự ở đây vào thời điểm được thông qua.

(18) Tu chính này được vào ngày 9/12/1803 và được thông qua vào ngày 27/7/1804.

(19) Câu này đã bị hủy bỏ theo quy định tại Khoản ba, Tu chính án số XX.

(20) Tu chính này được đề xuất vào ngày 31/1/1865 và được thông qua vào ngày 6/12/1865.

(21) Tu chính này được đề xuất vào ngày 13/6/1866 và được thông qua vào ngày 9/7/1868.

(22) Xem thêm Tu chính án số XIX và Khoản 1, Tu chính án số XXVI.

(23) Tu chính này được đề xuất vào ngày 26/2/1869 và được thông qua vào ngày 3/2/1870.

(24) Tu chính này được đề xuất vào ngày 12/7/1909 và được thông qua vào ngày 3/2/1913.

(25) Tu chính này đề xuất vào ngày 13/5/1912 và được thông qua vào ngày 8/4/1913.

(26) Tu chính này được đề xuất vào ngày 18/12/1917 và được thông qua vào ngày

16/1/1919, sau đó đã bị bãi bỏ theo Khoản 1 của Tu chính án số XXI.

(27) Tu chính này được đề xuất vào ngày 4/6/1919 và được thông qua vào ngày 18/8/1920.

(28) Tu chính này được đề xuất vào ngày 2/3/1932 và được thông qua vào ngày 23/1/1933.

(29) Tu chính này được đề xuất vào ngày 20/2/1933 và được thông qua vào ngày 5/12/1933.

(30) Tu chính này được đề xuất vào ngày 24/3/1947 và được thông qua vào ngày

27/2/1951.

(31) Tu chính này được đề xuất vào ngày 16/6/1960 và được thông qua vào ngày 29/3/1961.

(32) Tu chính này được đề xuất vào ngày 27/8/1962 và được thông qua vào ngày 23/1/1964.

(33) Tu chính này được đề xuất vào ngày 6/7/1965 và được thông qua vào ngày

10/2/1967.

(34) Tu chính này được đề xuất vào ngày 23/3/1971 và được thông qua vào ngày 1/7/1971

(35) Tu chính này được đề xuất vào ngày 25/9/1789 và được thông qua vào ngày 7/5/1992

Advertisements

Để lại ý kiến của bạn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Thống Kê Khách Thăm

free counters

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 427 other followers

VN Tôi Đâu-Anh Là Ai?

%d bloggers like this: