DIỄN ĐÀN CỦA CHÚNG TA

TIẾNG NÓI TỰ DO DÂN CHỦ

Góp ý cho Dự thảo sửa đổi của Đỗ A. Tuấn

Hienphap.net. Bấm vào link này để xem đầy đủ và rõ ràng: Gop-Y-Du-Thao-Hien-Phap-DỖ-ANH-TUẤN

ĐÔI LỜI CỦA NGƯỜI SOẠN

Bản góp ý Hiến pháp này là tài sản trí tuệ của nhân dân Việt Nam, mọi người dân đều có quyền sử dụng, chia sẻ toàn bộ hoặc một phần, có quyền sửa đổi nhằm mang lại tự do, dân chủ, văn minh, tiến bộ cho nhân dân Việt Nam.

Hiến pháp là văn bản pháp lý quan trọng, là sự thỏa thuận việc nhân dân trao quyền lực cho nhà nước. Do vậy, việc góp ý cho Hiến Pháp thể hiện quyền làm chủ của người dân.

Bản góp ý Hiến pháp này có tham khảo một số bản hiến pháp văn minh, tiến bộ như hiến pháp Mỹ, hiến pháp Pháp, hiến pháp Việt Nam 1946bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 của nhân sỹ trí thức đăng tải trên trang http://boxitvn.net

Bản góp ý Hiến pháp này được sửa từ dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, là một góc chiếu tới hiến pháp 1992 nên chưa thực sự là một sửa đổi toàn diện, hoàn chỉnh và văn minh. Để có 1 bản Hiến pháp văn minh và tiến bộ hơn nữa, cần phải có sự góp ý của toàn thể nhân dân để tổ chức nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập (mà hiến pháp Mỹ được coi là một trong những bản hiến pháp thể hiện rõ việc tổ chức nhà nước theo thuyết này)

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO
(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

Hiến pháp không cần những lời lẽ văn hoa, bay bướm này

 

Nước VN ra đời từ rất lâu trước đó, đồng thời, rất nhiều triều đại cũng đã chiến thắng giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước, hình thành nên nước VN từ trước đó rất lâu. Do vậy, việc đưa ĐCS hay thời điểm 1930 vào hiến pháp là rất vô lý.

LỜI NÓI ĐẦU

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam luôn phải lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam d o Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Với khát vọng độc lập, tự do, bằng tinh thần tự lực, tự cường, cùng với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè và nhân dân thế giới, nhân dân ta đã giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và làm nghĩa vụ quốc tế; xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới, giành được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử.

 

 

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Thừa, lời nói đầu nên thể hiện tinh thần của bản hiến pháp hiện tại, không nên liệt kê lại các hiến pháp đã có. Hơn nữa vì các bản hiến pháp này không phù hợp nữa nên mới bị thay đổi.

Hiến pháp không phải là nơi tuyên dương công trạng của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào vì HP là thỏa thuận trao quyền của nhân dân cho nhà nước. Thế giới của người sống phải do những người đang tồn tại quyết định.
Các chi tiết trong đoạn này nên dành cho luật.

Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Mỗi bản Hiến pháp đều ghi nhận những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân Việt Nam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước.Giờ đây, khi đất nước đã độc lập, nhân dân Việt Nam quyết tâm xây dựng một bản Hiến pháp của một đất nước tự do, dân chủ nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân, xây dựng những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển không ngừng của đất nước.ới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện chủ quyền nhân dân, Hiến pháp này tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân và chủ quyền quốc gia; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; thực hiện công bằng xã hội; tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.Chúng tôi, nhân dân Việt Nam, với truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam tự do, dân chủ và giàu mạnh trịnh trọng tuyên bố: và thi hành Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Phải đưa tinh thần tự do, dân chủ vào trong xây dựng hiến pháp. Có tự do mới có sáng tạo, có sáng tạo mới có thành công trong nền kinh tế tri thức

 

 

 

 

Nhân dân tạo ra HP nhưng Nhà nước phải thi hành và bảo vệ HP bởi vì nội dung chủ yếu của HP là về tổ chức nhà nước (chứ không phải nhân dân phải thi hành HP); các mục tiêu đó là của nhà nước phải thi hành (nếu không muốn bị nhân dân thay đổi nhà nước)

Thể hiện rõ tinh thần HP là văn bản trao quyền của nhân dân cho nhà nước. Đồng thời, thực tế cho thấy một đất nước tự do, dân chủ là một đất nước phát triển.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

VN là nước duy nhất trên TG đưa XHCN vào tên gọi (mặc dù trên thực tế, XHCN chưa bao giờ có ở VN) = không thể tự nhận một thứ mà mình không có. Chế độ chính trị của VN do nhân dân VN tự lựa chọn, chế độ chính trị có thể thay đổi, song Hiến pháp có thể không đổi, tên nước có thể không đổi.

Điều 1 (sửa đổi, bổ sung Điều 1)Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước tự do, dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Luật quốc tế bao giờ cũng công nhận các vùng trong đường biên giới, do vậy không cần liệt kê các vùng này trong Hiến pháp. Đưa những điều này vào Hiến pháp vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa vì luật thế giới công nhận, thiếu vì còn vùng đất dưới đáy biển, trong lòng đất (giả sử sau này VN có chủ quyền tại một vùng khác không quy định trong Hiến pháp này thì sao???)

 

Không hiểu sao trong dự thảo sửa đổi lại tước đi 2 chữ “tự do” vô cùng quý giá. Câu đầu tiên trong Hiến pháp 1946 khẳng định tự do cho nhân dân; lời nói đầu khẳng định Hiến pháp 1946 được xây dựng trên nguyên tắc “Đảm bảo các quyền tự do dân chủ”; Điều 10 Hiến pháp 1946 khẳng định rất nhiều quyền tự do của công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận và tự do xuất bản.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Nông dân, công nhân, trí thức không phải là tất cả nhân dân. Còn doanh nhân, thương nhân, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, công an, quân đội, lái xe….họ không phải công nhân, không phải nông dân cũng chẳng là trí thức, chẳng lẽ họ không có quyền làm chủ???. Tại một đất nước văn minh, dân chủ, mọi người dân đều bình đẳng và được đảm bảo quyền làm chủ của mình

Việc bỏ cụm từ “xã hội chủ nghĩa” đã nói ở Điều 1

Theo quy định của Hiến pháp này, quyền lực nhà nước bao trùm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lực này quá lớn và sẽ nảy sinh ra siêu nhà nước, đe dọa quyền làm chủ của nhân dân. Sẽ dẫn đến tình trạng nhà nước có quá nhiều quyền lực, mọi người đều tìm mọi cách đưa gia đình, họ hàng mình vào trong nhà nước, khi đó sẽ dẫn đến mất công bằng, dân chủ trong xã hội.

Điều 2 (sửa đổi, bổ sung Điều 2)Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền, xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nguyên tắc nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.Quyn lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.Quyền lực nhà nước được kiểm soát bởi hệ thống tam quyền phân lập gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. 

Xây dựng, tổ chức hệ thống nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập là một thành tựu triết học được đúc rút từ quá trình đấu tranh dân chủ, xây dựng nhà nước của các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cần học tập những điều này, chứ không phải trao cả 3 quyền lực này cho nhà nước.

Nên xây dựng khái niệm “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” thành một nguyên tắc rõ ràng (thể hiện rõ trong hiến pháp Pháp).

Đây là một câu nói hoàn toàn sáo rỗng, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của mỗi người là do sự nỗ lực bản thân và môi trường xung quanh. Câu nói này đã xuất hiện trong hiến pháp từ lâu, nhưng thực tế cho thấy là nhà nước vẫn chưa thực hiện được.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

Đảng có phải là “đội tiên phong của dân tộc”, “trung thành với lợi ích dân tộc” hay không thì phải để lịch sử và người dân nhìn nhận, Hiến pháp không phải là nơi để tuyên dương, khẳng định như vậy

Điều 2 Hiến pháp này khẳng định “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, thế nhưng đến điều 4 lại khẳng định ĐCS Việt Nam“là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”??? Rõ ràng là với gần 3,1 triệu đảng viên, chiếm 3,73% dân số cả nước, Đảng không phải là toàn bộ nhân dân nên không có quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quyền lực này, nếu muốn phải do nhân dân trao qua bầu cử dân chủ chứ không thể quy định cứng nhắc trong Hiến pháp được. Quy định này hoàn toàn tiêu diệt tự do chính trị.

Quy định này rất sáo rỗng, Đảng chịu sự giám sát kiểu gì, chịu trách nhiệm kiểu gì?? Đảng sai lầm tập thể nhưng chỉ có cá nhân chịu trách nhiệm. (Đúng ra ĐCS phải chịu trách nhiệm tập thể). Đồng thời, hình phạt cho sai lầm lại do chính ĐCS quyết định. Điều này hoàn toàn vô lý.

Điều 3 (sửa đổi, bổ sung Điều 3)Nhà nước phải bảo đảm và phát huy quyền làm chủ tự do, dân chủ của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.Điều 4 (sửa đổi, bổ sung Điều 4)1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 

2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

 

3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Các đảng phái chính trị được tự do thành lập và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ. Quyền đối lập chính trị được tôn trọng.

 Pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các đảng phái chính trị.

 

VN đã tham gia ký kết “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” Quyền tham gia chính trị bao gồm quyền tự do thành lập, theo hoặc không theo một đảng chính trị, và quyền bầu cử. (Điều 25); Vậy nên quy định trong Hiến pháp điều này không có gì đặc biệt

Đương nhiên vì Đảng viên cũng là công dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay chưa có luật riêng về Đảng và Đảng viên

Các sửa đổi, bổ sung mang tính kỹ thuật, tuy nhiên có nhấn mạnh đến trách nhiệm của nhà nước trong việc đảm bảo quyền công dân

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Lý do bỏ nêu tại điều 1

Trong “kiến nghị sửa đổi” tại điều 3 cũng có nêu, tuy nhiên, đó là trách nhiệm của nhà nước, đưa vào hiến pháp rất sáo rỗng (thực tế còn phức tạp)

Văn hóa đã bao trùm hết cả phong tục, tập quán, truyền thống rồi

Điều 5 (sửa đổi, bổ sung Điều 5)1. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc  dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, hoà nhập vào sự phát triển chung của đất nước.

 

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

Hiện tại, hoạt động của Hội đồng nhân dân rất mờ nhạt, chỉ mạnh trong dịp bầu cử hoặc trong các kỳ tiếp xúc cử tri, không mang tính thường xuyên. Một số nơi thí điểm bỏ HĐND, vậy có vi phạm hiến pháp không?? Đề nghị bỏ HĐND

GIẢI TRÌNH

Điều này rất nguy hiểm, “nhân dân thực hiện quyền lực…. thông qua quốc hội” = là một sai lầm nghiêm trọng. Nếu điều này là sự thực, QH là cơ quan lập pháp, kết hợp với điều 2 “Quyền lực nhà nước là thống nhất…trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” như vậy toàn bộ quyền lực của nhân dân rơi vào tay nhà nước, tạo nên một siêu nhà nước. Tư tưởng rõ ràng là đại biểu QH là đại diện cho nhân dân. Chú ý là “đại diện” chứ không phải “là nhân dân”. Nhân dân có quyền làm chủ bằng nhiều hình thức, trong đó quyền tự do ngôn luận, tự do biểu tình…. là những quyền rất quan trọng. Nhân dân có quyền thay đổi toàn bộ quốc hội và quyền phúc quyết Hiến pháp thông qua trưng cầu dân ý.
Giả sử QH bị lũng đoạn, các ĐBQH cấu kết với nhau ra một bản hiến pháp phi dân chủ, ra luật, ra nghị quyết đàn áp nhân dân thì nhân dân cũng phải chịu sao????

 

Điều 6 (sửa đổi, bổ sung Điều 6)Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.  Quốc hội là nơi duy nhất ra các văn bản pháp luật. Quyền lập pháp được nhân dân ủy quyền cho quốc hội

Ủng hộ điều 34 kiến nghị sửa đổi hiến pháp của trang http://boxitvn.net (chú ý là quyền lập pháp chứ không phải là quyền lập hiến)

 

Các cơ quan khác là cơ quan nào? Quy định này rất mập mờ, gây ảo tưởng cho nhân dân về việc thực hiện quyền làm chủ của mình.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Lý do bỏ HĐND được nêu tại điều 6

Hiểu sai vấn đề. Hiến pháp là thỏa thuận của nhân dân trao quyền cho NN, là quy định của nhân dân về tổ chức bộ máy NN, không phải dùng để quản lý xã hội. NN có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia trước sự xâm hại.

Đoạn này viết không rõ ràng, xin viết lại ở đoạn dưới, cụ thể hơn. “không xứng đáng” là một khái niệm rất mập mờ.

Điều 7 (sửa đổi, bổ sung Điều 7)1. Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.2. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.2. Đại biểu Quốc hội bị 5.000 cử tri hoặc 1/5 đại biểu Quốc hội yêu cầu sẽ bị Quốc hội xem xét bãi nhiệm, Đại biểu Quốc hội sẽ bị bãi nhiệm khi có 15.000 cử tri hoặc 2/3 số đại biểu Quốc hội đồng ý. Đại biểu Quốc hội sẽ bị bãi miễn khi bị buộc tội phản quốc, tội nhận hối lộ cùng những tội nghiêm trọng khác. 

Thừa, khi xây dựng nhà nước tam quyền phân lập, các nhánh quyền lực chế ước, giám sát lẫn nhau; ai sai phải bị xử lý, không tốt dân không bầu

 
Điều 8 (sửa đổi, bổ sung Điều 8)

1. Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, qun lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.

2. Nền hành chính quốc gia, chế độ công vụ được tổ chức và hoàn thiện để phục vụ nhân dân. Cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; chống tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, phòng, chống các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

 

Những quy định này rất thừa, ai sai thì bị pháp luật xử. Giả sử Quốc hội ban hành Hiến pháp sai, luật sai (sẽ đến lúc không còn phù hợp), khi đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ bằng cách đấu tranh chống lại hiến pháp, luật đó.

Toàn bộ đoạn này chỉ là cụ thể hóa Hiến pháp, trao quyền bãi miễn đại biểu QH cho nhân dân, thể hiện cao độ tính dân chủ và khả năng làm chủ của nhân dân, quy định này chắc chắn nâng cao sự giám sát của nhân dân đối với các đại biểu, đồng thời nâng cao trách nhiệm của đại biểu QH.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

 chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Phân chia xã hội thành giai cấp chỉ mang lại cho nhân dân hận thù (sách CNXH ngoài giai cấp CN, các giai cấp còn lại đều không tốt hết)

Hiến pháp viết như kiểu xin-cho, các tổ chức xã hội luôn có quyền hoạt động, đó là nguồn gốc của một xã hội dân sự. Ngay chính điều 26 hiến pháp này, điều 10 hiến pháp 1946 khẳng định công dân có quyền tự do lập hội. Tự do nghĩa là phải được tạo điều kiện sao?????

Nhân dân không cần vận động, tự nhân dân sẽ thực hiện quyền làm chủ nếu như có tự do, dân chủ thực sự.

MTTQVN là cơ sở chính trị nên dẫn đến việc MTTQVN giới thiệu nhân sự bầu đại biểu QH, trong khi MTTQVN lại chỉ giới thiệu đảng viên, người ngoài đảng chỉ được giới thiệu số ít ~10%. Trong khi QH là của nhân dân. Rất vô lý.

Điều 9 (sửa đổi, bổ sung Điều 9)1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận có nhiệm vụ thúc đẩy và hòa giải dân tộc, phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, giám sát và tham gia phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức.3. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động. 

Nhân dân không cần nhất trí về chính trị, có đấu tranh mới có phát triển, có khác biệt suy nghĩ mới nảy sinh phân tích để nhân dân tự tìm ra cái gì đúng, cái gì sai.
Chính quyền tự củng cố chính mình, không phải việc của MTTQVN, việc của MTTQ là giám sát nhà nước, phản biện xã hội, nhà nước làm sai thì cùng nhân dân thay đổi nhà nước.

Chiến tranh đã lùi rất xa, hòa giải dân tộc là nhân đạo, là chính nghĩa, đem con dân Việt, trí tuệ Việt về xây dựng quê hương, đất nước. Sự thù hằn chẳng có gì tốt đẹp cả. VN đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Pháp, Nhật từ bao giờ, “không hận thù” với TQ dù đã qua cuộc chiến 1974, 1979, 1988 (và hàng chục cuộc chiến trong lịch sử). Vậy cớ gì còn chưa hòa giải với VNCH????

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Bỏ cụm từ giai cấp được nói ở điều 9, ngoài ra từ “người lao động” đủ bao hàm “công nhân” rồi

Lý do bỏ xã hội chủ nghĩa đã nói tại điều 1

Không thể biết như thế nào là “bình đẳng” “lợi hay hại”. Boxit Tây Nguyên là một ví dụ.

Ở xã hội xây dựng nhà nước pháp quyền, đương nhiên mọi vi phạm đều xử lý theo pháp luật.

Điều 10 (sửa đổi, bổ sung Điều 10)Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Điều 11 (sửa đổi, bổ sung Điều 13)1. Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.2. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị theo pháp luật.

Điều 12 (sửa đổi, bổ sung Điều 14)

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nht quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng  đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

 

Quy định này rất bó buộc vai trò quốc tế của VN. Khi vai trò quốc tế tăng cao, VD như tham gia gìn giữ hòa bình theo nghị quyết của Liên Hợp Quốc tại một quốc gia đang xung đột sắc tộc. Khi đó Hiến pháp VN hoàn toàn không cho phép. Nghĩa vụ quốc tế lúc đó buộc phải can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác (để đảm bảo số người chết ít hơn). Khi đó mới có góp phần vào sự nghiệp hòa bình thế giới, dân chủ và tiến bộ xã hội TG được.

Ở xã hội dân chủ, tự do, một người lao động hoàn toàn có thể đơn lẻ kiện một ông chủ lớn vi phạm luật lao động. Các ý sau rất thừa, không thích hợp với bản hiến pháp.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Lý do bỏ cụm từ xã hội chủ nghĩa được nói tại điều 1

Cái này là đương nhiên, tự do của mỗi người chỉ bị giới hạn bởi tự do của người khác và của toàn xã hội. Tuy nhiên, đưa một loạt trường hợp rất mập mờ để giới hạn quyền công dân là vô lý. Cái này gọi là “bẫy pháp lý”. (Xin giải thích: “trật tự, an toàn xã hội” là khái niệm rất rộng và thường bị lợi dụng => rất dễ dàng vin vào đây để loại bỏ quyền tự do biểu tình, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận….);

Viết như thế này như kiểu nhà nước ban ơn cho nhân dân về quyền con người, trong khi ngay tại câu đầu tiên trong tuyên ngôn độc lập đã có nhắc đến quyền con người “Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được” và nhắc đến “Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791”. Viết lại ở đoạn dưới.

Điều 13 (ghép và giữ nguyên các điều 141, 142, 143, sửa đổi, bổ sung Điều 145)1. Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.2. Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.3. Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca”.4. Ngày Quốc khánh là Ngày tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.

Điều 14 (giữ nguyên Điều 144)

Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.

Điều 15 (sửa đổi, bổ sung Điều 50)

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

1. Nhà nước Cộng hòa Việt Nam tôn trọng, bảo vệ, quyền con người, quyền công dân.

2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.

“đạo đức, sức khỏe cộng đồng” là khái niệm vô cùng mập mờ và không hề rõ ràng => rất dễ dàng vin vào đây để loại bỏ quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo. Đây chính là cánh cửa để loại bỏ quyền con người, quyền công dân sau này. Có lý nào một bản hiến pháp văn minh lại có những cái bẫy như thế????
Nếu thực sự muốn hạn chế, phải đưa các trường hợp cụ thể ra. Chính vì lẽ đó. Phải xóa bỏ toàn bộ đoạn này.

 

 

Việt Nam đã tham gia ký “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị”

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Đây là cánh cửa thứ 2 nhằm ngăn chặn và loại bỏ quyền con người, quyền công dân (cánh cửa 1 nói ở điều 15). => rất dễ vin vào đây để loại bỏ quyền tự do biểu tình, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận. VD, nhà nước ký kết 1 thỏa thuận, dân không đồng ý, tổ chức biểu tình, nhà nước ngăn cấm vì cho rằng thỏa thuận đó mang lại lợi ích cho quốc gia (thật tiếc là ý chí nhà nước lúc này lại khác ý muốn của nhân dân)

Vừa thừa vừa thiếu. Thừa vì khi đảm bảo được quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của mọi người dân trước pháp luật thì tất cả những điều này sẽ được đảm bảo. Thiếu vì tuy liệt kê nhiều song vẫn không đủ, văn từ thì to tát nhưng không cụ thể. Đề nghị đưa từ điều 12 đến hết điều 31 trong kiến nghị sửa đổi hiến pháp của trí thức vào, hoặc đưa từ điều 3 đến hết điều 29 tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 vào (thế mới biết trình độ lập pháp nước ta so với thế giới chậm bao nhiêu năm???)

Điều 16 (mới)1. Mọi người có quyền tự do và có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do của người khác.2. Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.Điều 17 (sửa đổi, bổ sung Điều 52)1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

 

Quyền, lợi ích của người khác đã được ghép vào phần 1, đảm bảo không xóa đi điều này. Hi
Đưa “Quyền, lợi ích của người khác” đặt lẫn với “lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc” giống như một cái bẫy pháp lý vậy.
Muốn hạn chế quyền công dân, phải vạch ra các trường hợp cụ thể, không thể đưa chung chung như thế này được.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Nhiều nước không tham gia hiệp ước dẫn độ tội phạm. Điều này mâu thuẫn với hiệu lực của luật hình sự khi công dân VN phạm tội nghiêm trọng ở nước ngoài. Vd 1 người gốc VN đi ra nước ngoài, sau nhiều năm có quốc tịch nước ngoài, giết người ở đó và trốn về VN. Trừng phạt người này thế nào?
Sau này VN phê chuẩn hiệp ước dẫn độ tội phạm thì sẽ phải sửa Hiến pháp này (hoặc hiến pháp này ngăn cản việc ký kết hiệp ước dẫn độ). Cần phải cân nhắc, bàn bạc kỹ điều khoản này.

Lý do bỏ cụm từ xã hội chủ nghĩa được nói ở điều 1

Công dân có quyền tự do, có quyền làm những điều mà pháp luật không cấm (nguyên tắc của nhà nước pháp quyền).
Nghĩa vụ công dân có thể quy định, xong quyền công dân thì luật không thể quy định hết được. Nếu công dân chỉ thực hiện quyền theo hiến pháp, pháp luật; kết hợp với quyền hành pháp là của nhà nước (Điều 2) thì liệu công dân có quyền tự do không????

Điều 18 (sửa đổi, bổ sung Điều 49)1. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được luật quy định.2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giao nộp cho Nhà nước khác.???3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài.Điều 19 (sửa đổi, bổ sung Điều 75)

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình, quê hương, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Điều 20 (sửa đổi, bổ sung Điều 51)

1. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.

2. Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.

3. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.

 

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận của con dân VN, họ không cần sự khuyến khích hay tạo điều kiện để giữ gìn văn hóa. Đồng thời có quyền xây dựng quê hương, đất nước chứ không chỉ cần được khuyến khích hay tạo điều kiện như ban đầu. Quan điểm rõ ràng là nước Việt Nam là của mọi người dân Việt Nam, không phải là của riêng bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Do vậy không ai có quyền ngăn cản người Việt Nam góp phần xây dựng quê hương VN.

Theo điều 4 “kiến nghị sửa đổi” tại trang http://boxitvn.net

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Toàn bộ nội dung này thuộc về quyền tự do cá nhân, tự do đối với thân thể họ, không cần quy định trong hiến pháp, các nội dung này chỉ cần quy định trong 1 luật về hiến tạng là đủ.

Ý này đã được bao trùm ở ý trên rồi, khi đã có quyền bất khả xâm phạm thì đương nhiên là chỉ được “xâm phạm” khi được người đó đồng ý.

Điều 21 (mới)Mọi người có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.Điều 22 (sửa đổi, bổ sung Điều 71)1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.2. Nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người.

3. Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm khác trên cơ thể người phải được người đó đồng ý.

Điều 23 (sửa đổi, bổ sung Điều 73)

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Không được phép thu thập, lưu giữ, sử dụng và phổ biến thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác nếu không được người đó đồng ý.

2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định. Quốc hội có trách nhiệm quy định cụ thể các trường hợp công dân bị xâm phạm này

Thực tế hiện nay chưa hề có luật nào quy định việc bóc mở, kiểm soát thư từ, email, nghe trộm điện thoại, thế nhưng chắc chắn rằng việc này đang diễn ra mà người dân không được biết. Vậy khi nào? Trong trường hợp gì và thẩm quyền, thủ tục như thế nào để xâm phạm bí mật thư tín công dân????

Mặc dù “quyền sống” sẽ mở đường cho việc loại bỏ án tử hình tại VN, tuy nhiên tôi ủng hộ loại bỏ hình phạt này (nó quá dã man). Phần bổ sung là từ tuyên ngôn độc lập. Không hiểu sao từ “tự do” luôn bị tước bỏ???

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Đổi từ; nhằm tăng trách nhiệm của nhà nước. Thực tế hiện nay, việc truyền giảng đạo, thực hành nghi lễ tôn giáo….đôi khi bị gây nhiều khó khăn

Quy định này đã có trong khoản 1, khoản 2 của điều này, còn ý còn lại, ai vi phạm pháp luật thì xử lý theo pháp luật.

Thừa, khoản 1 đã quy định rồi

Điều 24 (giữ nguyên Điều 68)Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.Điều 25 (sửa đổi, bổ sung Điều 70)1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.2. Nhà nước tôn trọng và có trách nhiệm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Điều 26 (sửa đổi, bổ sung Điều 69)

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)

1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới.

 

1. “Theo quy định của pháp luật” nghĩa là khi không có luật thì công dân không được thực hiện các quyền tự do này sao??? Nước Mỹ không có luật báo chí vì đối với họ, báo chí có quyền tự do.
2. Từ xưa đến nay, luật là để hạn chế quyền tự do, chứ không phải phát huy tự do. Điều khoản này sẽ phát sinh ra những điều luật hủy diệt quyền tự do của công dân = cái quyền mà ngay tuyên ngôn độc lập cũng nhắc đến mấy lần

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 (Điều 13)

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Lý do bỏ hội đồng nhân dân được nói ở Điều 6

Đây là quyền đương nhiên, một số trường hợp, nhà nước buộc phải tổ chức trưng cầu dân ý (theo nguyên tắc chính quyền là của nhân dân). Không ai có quyền ngăn cản quyền này, do vậy không cần quy định trong HP. Nhân dân đang thực hiện quyền làm chủ của mình kia mà?!

Hiến pháp viết như kiểu cơ chế xin – cho. Tham gia quản lý nhà nước là quyền tham gia chính trị, một quyền trong nhân quyền (quyền không ai có thể tước bỏ được)

Điều 28 (sửa đổi, bổ sung Điều 54)Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.Điều 29 (sửa đổi, bổ sung Điều 53)1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của địa phương và cả nước một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu mà họ tự do lựa chọn trong các cuộc bầu cử.2. Nhà nước to điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội;  thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

Điều 30 (sửa đổi, bổ sung Điều 53)

Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Điều 31 (sửa đổi, bổ sung Điều 74)

1. Mọi người có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.

Ý 2,3 được sửa và phân tích ở trang sau

Quyền này nằm trong quyền tự do ngôn luận và quyền tham gia quản lý nhà nước nên không cần đưa vào Hiến pháp

Nâng việc công khai, minh bạch thành một nguyên tắc trong quản lý nhà nước.

Theo Điều 24 “kiến nghị sửa đổi hiến pháp” = K1 Điều 21 tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Lại thêm một phần viết như kiểu xin-cho. Hiện tại, luật khiếu nại, tố cáo với nhiều thủ tục rườm rà, thời gian giải quyết lâu làm người dân nản lòng trong việc đòi hỏi công lý. Tiến tới nhà nước pháp quyền, cơ quan tư pháp là nơi duy nhất đưa ra các phán quyết, phân xử, mọi vụ việc đều đưa ra tòa án phân xử (việc kiện chính quyền ra tòa hành chính, kinh tế… sẽ dễ dàng hơn). Khi đó sẽ loại bỏ hoàn toàn cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong nhà nước pháp quyền, chính quyền có thể bị kiện theo thủ tục thông thường, và người bị thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án phân xử để được bồi thường thích đáng. Phân xử bằng tòa án, đó là cái đích cuối cùng (hiện nay, muốn được bồi thường, cá nhân bị thiệt hại cũng vẫn phải tiến hành các thủ tục kiện để lượng giá phần bồi thường – việc hòa giải thành rất ít)

 

Điều 31 (sửa đổi, bổ sung Điều 74)2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.Không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng.3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác. 

Việc trả thù người khiếu nại, tố cáo (sau này nếu đồng ý bỏ thủ tục khiếu nại, tố cáo mà chỉ còn việc khởi kiện sẽ dùng từ khác) nếu có sẽ do luật hình sự điều chỉnh. Còn tại bản hiến pháp này, quy định nghiêm cấm việc trả thù, nhưng thực tế, vì chưa minh bạch, chưa dân chủ và chưa có tự do nên việc trả thù người khiếu nại, tố cáo vẫn cứ diễn ra. Thực tế chứng minh điều khoản này không có nhiều giá trị trong cuộc sống.

Hiến pháp Mỹ (điều bổ sung thứ 5)

Quy định “lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo, làm hại người khác” vô hình chung làm giảm sức khiếu nại, tố cáo, giảm sự giám sát của công dân đối với nhà nước, giảm quyền tự do ngôn luận của công dân. VD: người dân phát hiện sai phạm và làm đơn khiếu nại tố cáo, nhưng khi điều tra, việc kết luận sai phạm ở mức độ nào, bị xử lý như thế nào, hình sự hay hành chính là vấn đề mà người dân không thể biết hết được (hy vọng không kết luận dân tố cáo sai).
Mặt khác, nếu thực sự cố tình tố cáo sai đã có luật hình sự điều chỉnh. Vậy nên bỏ ra khỏi hiến pháp.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Điều 10 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948”

“Người làm trái” mang ý nghĩa lỗi cố ý, nhưng thực tế hiện nay, rất khó chứng minh lỗi tư pháp gây oan, sai là cố ý. Do vậy, kết luận cuối cùng thường hay rơi vào trạng thái “hòa cả làng” và xử lý rất nhẹ do không kết luận được chi tiết “làm trái”. Do vậy cần sửa thành “người chịu trách nhiệm” để người chịu trách nhiệm có lỗi vô ý phải bị xử lý, nâng cao tinh thần trách nhiệm.

Chuyển từ quyền của người bị tạm giữ thành những nghĩa vụ của cơ quan tư pháp, thực tế hiện nay cho thấy việc đòi hỏi quyền này của người bị oan sai còn chưa được thỏa đáng, còn quá nhiều oan ức không được giải tỏa.

Điều 32 (sửa đổi, bổ sung Điều 72)1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và khách quan. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa. được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình. Trong vòng 24 giờ kể từ khi bị bắt, người bị bắt phải được đưa ra trước một tòa án để xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ việc bắt giữ.4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền phải được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật chịu trách nhiệm trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.

 

Cách viết “có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa” trên thực tế thường bị lách bằng cách lòe bịp, nói dối….để người ta “tự nguyện từ chối người bào chữa”, vì vậy, cần viết lại như đoạn dưới, chuyển từ quyền của người bị tạm giữ thành những nghĩa vụ của cơ quan tư pháp theo Điều 11 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948”, Điều 16 của “kiến nghị sửa đổi Hiến pháp”

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Loại bỏ vì sửa luôn cả điều 57 và 58, trong đó loại bỏ nguyên tắc cơ bản là “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”

Viết thế này rõ ràng hơn, không mập mờ và văn minh hơn, sòng phẳng hơn. Thúc đẩy một thị trường tự do như Singapore sẽ thúc đẩy kinh tế đất nước. Một thị trường tự do là xu thế của kinh tế thế giới.

Điều 33 (sửa đổi, bổ sung Điều 58)1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt,  tư  liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 57 và Điều 58. Không ai bị tước đoạt tài sản một cách tuỳ tiện. Đất đai có thể thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng hoặc sở hữu nhà nước.2. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.Điều 34 (sửa đổi, bổ sung Điều 57)1. Mọi người có quyền tự do kinh doanh.

2. Nhà nước bảo hộ quyền bình đẳng tự do kinh doanh của mọi thành phần kinh tế.

Điều 35 (sửa đổi, bổ sung Điều 67)

Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội.

Điều 36 (sửa đổi, bổ sung Điều 62)

1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.

2. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để công dân có nơi ở.

Điều 37 (sửa đổi, bổ sung Điều 73)

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở hợp pháp.

2. Không ai được tự ý vào chỗ ở hợp pháp của người khác nếu không được người đó đồng ý.

Việc khám xét chỗ ở do luật định.

Điều 25 “kiến nghị sửa đổi hiến pháp” = Điều 22 tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948

Điều 21 “Kiến nghị sửa đổi hiến pháp” ~ Điều 17 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948”. Khải niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” đã gây ra hàng triệu vụ khiếu kiện trên khắp cả nước. Chính sách đất đai xây dựng trên khái niệm này đã chứng tỏ không phù hợp với cuộc sống, gây ra bất công, bất ổn định xã hội. Công nhận đa hình thức sở hữu và coi đất đai là một loại tài sản thông thường là hướng đi của một xã hội văn minh. Thúc đẩy tự do, phát triển kinh tế, hạn chế bất công xã hội.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Điều 16 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” và điều 20 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp” .

Cá nhân tôi nghĩ nên loại bỏ những điều này khỏi hiến pháp do những điều này dành cho luật.

Đã có chế tài trong luật hình sự để xử lý, tuy nhiên, đưa vào Hiến Pháp cho nó sang (cá nhân tôi nghĩ nên loại bỏ do những điều này dành cho luật)

Điều 38 (sửa đổi, bổ sung Điều 55, Điều 56)1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc.2. Nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng người lao động chưa thành niên trái pháp luật.Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo h vệ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Điều 40 (sửa đổi, bổ sung Điều 65)

1. Trẻ em có quyền được gia đình, nhà trường, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.

2. Nghiêm cấm hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.

Điều 41 (sửa đổi, bổ sung Điều 39, Điều 61)

1. Công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe; bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh.

2. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa đến cuộc sống và sức khỏe của người khác và cộng đồng.

Không bằng Điều 23 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948”. Kiến nghị thay bằng điều 26 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”  như sau:

Điều 26. Quyền lao động và nghiệp đoàn

1. Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp.

          2. Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.

          3. Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm.

4. Mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình.

5. Quyền đình công của người lao động được bảo đảm bằng luật.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

 chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Điều 27 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” và điều 29 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp” .

VN đã cam kết bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) khi gia nhập WTO. Việc bảo hộ SHTT là con đường duy nhất nhằm phát triển, khai thông sức sáng tạo Việt, phát triển giáo dục và trí tuệ Việt. Còn hiện tượng crack, còn ăn cắp thương hiệu, ăn cắp bản quyền thì sẽ chẳng có nhiều người tâm huyết dấn thân vào con đường lao động trí óc, nghiên cứu phần mềm….để phát triển nền kinh tế tri thức cho đất nước. (người ta có đủ tiền mua ô tô chỉ bằng việc ngồi và viết phần mềm, bill gates trở thành tỷ phú nhờ phần mềm = đó là những ví dụ cho việc bảo vệ SHTT). Dẫu biết rằng cần phải có lộ trình khi kinh tế VN còn khó khăn, ít tiền mua bản quyền. Đề xuất đổi từ “bảo hộ” sang dùng từ “bảo vệ” nhằm nâng cao trách nhiệm của nhà nước.

Điều 42 (sửa đổi, bổ sung Điều 59) Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập. Giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí.Điều 43 (sửa đổi, bổ sung Điều 60)1. Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; sáng tạo văn học, nghệ thuật.2. Quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước bảo h vệ.

Điều 44 (mới)

Mọi người có quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa.

Điều 45 (mới)

Điều 27 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” và điều 29 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp” .

Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp.Điều 46 (mới)

1. Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành.

Rất kỳ lạ là đoạn 8, khoản 8, điều 1 của Hiến pháp Mỹ còn viết hay hơn chúng ta về bảo vệ sở hữu trí tuệ

2. Mọi người có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.

 

“Nghĩa vụ học tập” ở cấp tiểu học hoặc cấp phổ thông là có thể hiểu được, nhưng không thể có “Nghĩa vụ học tập” ở cấp cao hơn được. Khi đó, học hay không là quyền công dân (có thể người ta không học làm bác sỹ mà tự sáng tạo nghệ thuật hoặc đi buôn)=> xóa bỏ. Kiến nghị thay bằng Điều 26 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” hoặc điều 26 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Điều này rất vô lý. Vd: tại một làng ra một hương ước về việc “nộp treo” (lấy gái làng phải nộp treo 5 triệu). Tôi không chấp nhận việc nộp treo vì cho rằng nó rất lạc hậu, có thể vì tôi nghèo. Nhưng theo Hiến pháp, tôi lại phải chấp hành????

Loại bỏ việc Chính phủ ra các nghị định xử phạt với mức phạt rất cao trong nhiều lĩnh vực, ngăn chặn việc đưa ra mức phí cao, không hợp lý (xăng dầu và giao thông là ví dụ) mà người dân (đại diện là quốc hội không có khả năng phủ quyết). Không để việc thu thuế và phí của người dân chiếm 26,3% GDP như hiện nay (cao nhất khu vực)

Điều 49 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”

Điều 46 (mới)1. Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành.2. Mọi người có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.Điều 47 (sửa đổi, bổ sung Điều 76)Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

Điều 48 (sửa đổi, bổ sung Điều 77)

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân; việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định.

Điều 49 (sửa đổi, bổ sung Điều 79)

Công dân có nghĩa vụ chấp hành  tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.

Điều 50 (sửa đổi, bổ sung Điều 80)

Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế. Các loại và mức thuế được xác định bằng luật.

Mọi quy định thu tiền của công dân nộp ngân sách nhà nước đều phải được quốc hội thông qua

Người Mỹ không tin vào khả năng có một bản hiến pháp hoàn hảo, trường tồn vượt thời gian. Khi xã hội phát triển, hiến pháp, luật cũng phải thay đổi theo, do vậy yêu cầu cứng nhắc công dân phải chấp hành hiến pháp, luật là vô cùng vô lý. Chúng ta không có quyền áp đặt một thể chế chính trị, một bản hiến pháp cho thế hệ tương lai (học thuyết chủ quyền nhân dân). Tư tưởng này được nhìn nhận rất rõ nếu chính phủ ra một văn bản sai, quốc hội ra một luật sai trái, không phù hợp với cuộc sống nhân dân. Khi đó việc không chấp hành luật đó được khuyến khích để tạo ra một xã hội văn minh hơn, tốt đẹp hơn (cho nhân dân, nhà nước và Quốc hội)

GIẢI TRÌNH

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Thời đại @ mà lại xây dựng nền kinh tế độc lập. Mọi quốc gia luôn phụ thuộc vào nhau. Vd để làm 1 chiếc Boeing, linh kiện được sản xuất từ hàng chục quốc gia khác nhau. TG ngày càng tạo ra các nhóm, liên minh thương mại, không có cớ gì xây dựng kinh tế độc lập cả. Thay vào đó, xây dựng nền kinh tế tự do, tự chủ mới là con đường đưa kinh tế nước ta cất cánh. Singapore là một nền kinh tế tự do, đó là điều chúng ta phải học hỏi.

 

Điều 51 (giữ nguyên Điều 81)Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà  nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam.Điều 52 (giữ nguyên Điều 82)Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, trường hợp khác do Quốc hội quyết định.Điều 53 (sửa đổi, bổ sung Điều 15, Điều 43)

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế tự do độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.

Điều 54 (sửa đổi, bổ sung các điều 15, 16, 19, 20, 21 và 25)

1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường đnh hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế.

2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật.

Lý do bỏ chủ nghĩa xã hội nói ở điều 1. Còn kinh tế thị trường là kinh tế thị trường, việc sử dụng bàn tay của nhà nước tác động nhiều khi làm chệch hướng phát triển. Thực tế cho thấy kinh tế XHCN thì “tem, phiếu”, mở cửa thì “thịt chả muốn ăn” phải “ăn kiêng”. Đây là vd cho thấy quản lý nhà nước không tạo ra nhiều của cải bằng để nền kinh tế tự vận động.

Để lại một khoảng hở cho QH quyết định những TH phức tạp, có vấn đề.

Lý do bỏ chủ nghĩa xã hội nói ở điều 1. Điều 16 Hiến pháp 1946 không có cụm “chủ nghĩa xã hội” và cụm “xem xét”

Ngay cả ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển nhất, việc tranh cãi giữa việc sử dụng bàn tay của nhà nước (để bảo hộ kinh tế trong nước) với việc để nền kinh tế phát triển tự do vẫn đang diễn ra. Tuy nhiên, cá nhân tôi ủng hộ việc phát triển một nền kinh tế thị trường tự do.

GIẢI TRÌNH

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Khó có thể biết thế nào là đầy đủ, hơn nữa trách nhiệm được quy định trong các luật cụ thể. Mặt khác, khi luật sai, khuyến khích các đơn vị, cá nhân không thực hiện.

Ngăn chặn tình trạng thu hồi rồi định giá và áp giá đền bù như hiện nay (toàn bộ do nhà nước thực hiện). Kết quả cuối cùng là người nông dân được đền bù với mức giá rẻ mạt.

Điều 17 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” công nhận quyền sở hữu tài sản của công dân, đó là quyền đương nhiên nên không cần nhà nước phải công nhận, không phải xin-cho. Do vậy, đã được viết lại (chữ xanh).

Điều 55 (sửa đổi, bổ sung Điều 24, Điều 26)1. Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo quy luật thị trường; thc hiện sự phân công, phân cấp quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp, thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm phát triển hợp lý, hài hòa giữa các vùng, địa phương và tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.2. Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức hợp tác kinh tế với các quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và cùng có lợi, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế.Điều 56 (sửa đổi, bổ sung các điều 22, 23 và 25)1. Tổ chức, cá nhân được tự do kinh doanh, thc hiện đầy đủ và có nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật.

2. Nhà nước thực hiện chính sách chống độc quyền về hàng hóa và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh.

3. Tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân được Nhà nước thừa nhận, bảo hộ và không bị quốc hữu hóa. Công dân có quyền sở hữu tài sản hợp pháp.

Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có phải bồi thường xứng đáng tài sản của cá nhân, tổ chức theo giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định.

Quan điểm cá nhân là: Chống độc quyền hàng hóa nhưng ủng hộ độc quyền nhãn hiệu, kiểu dáng và một số sản phẩm sở hữu trí tuệ trong thời gian nhất định

Viết như thế này nhằm tăng tính cứng rắn trong bản hiến pháp. Cụm từ “hoàn thiện” luôn đặt ra một khoảng hở cho nhà nước vin vào đó để đổ lỗi “hiện tại chưa hoàn thiện” như hiện nay. Toàn bộ các ý sau là trách nhiệm đương nhiên của nhà nước, không cần đưa vào hiến pháp. Mặt khác, các phần việc này để cho chính nền kinh tế thị trường tự điều tiết.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI THÍCH (ý tô vàng)

Kiến nghị thứ 3 về sở hữu đất đai và Điều 21 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”

Đất đai được quy định riêng.

Theo kiến nghị thứ 3 về sở hữu đất đai và Điều 21 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”, thay thu hồi bằng trưng mua, phù hợp với quyền sở hữu tài sản của công dân + trách nhiệm trưng mua, bồi thường của nhà nước theo Khoản 3 Điều 56

Xóa bỏ quyền sử dụng đất như hiện nay (theo kiểu đất đai là sở hữu toàn dân), công nhận đa hình thức sở hữu về đất đai theo Kiến nghị thứ 3 về sở hữu đất đai và Điều 21 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”

Thừa

Điều 57 (sửa đổi, bổ sung Điều 17, Điều 18)Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đi diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật.Đất đai có thể thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng hoặc sở hữu nhà nước.Điều 58 (sửa đổi, bổ sung Điều 18)1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo quy hoạch và pháp luật.

2. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn. Người sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích; được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các nghĩa vụ liên quan theo quy định của luật. Quyn sử dụng đất là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ.

3. Nhà nước thu hồi trưng mua đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường xứng đáng theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế – xã hội.

=> Xin phân tích ý “là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Ở đây có sự đánh lộn xòng 2 khái niệm, cố tình cho rằng “nhà nước” là “toàn dân”, trong khi ý kiến của toàn dân phải được thể hiện bằng trưng cầu dân ý (một số TH, do nhân dân ủy quyền trước, ý kiến toàn dân là ý kiến của QH). Quy định lộn xòng này đã dẫn đến việc nhà nước chỉ cần ra 1 văn bản là có thể thu hồi đất đai của dân. Đến đây, nếu ai lại hiểu nhầm rằng “nhà nước” = trung ương thì lại quá nhầm. Văn bản đó có thể do cấp thấp hơn rất nhiều (có thể từ cấp huyện, cấp tỉnh) ban hành. Lúc này, “nhà nước” có nghĩa là một số lãnh đạo cấp huyện, cấp tỉnh quản lý. Ủng hộ kiến nghị thứ 3 về sở hữu đất đai và Điều 21 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”

Dự án (tư nhân) xây chung cư, xây khu đô thị….được coi là dự án phát triển KT-XH. Vậy nông dân bị thu hồi đất cho những tư nhân này. => Quá vô lý. “có bồi thường” là một từ rất mơ hồ, người nông dân phải cảnh giác trước ngôn từ như thế này.

Nhà nước là một cụm từ rất chung chung, đã được phân tích tại điều 57, do vậy ở đây thay bằng từ Quốc hội. Lý do: tiền thuế là của nhân dân, do nhân dân đóng góp, mọi hoạt động kinh doanh sinh lợi của nhà nước cũng đều có nguồn vốn ban đầu là tiền thuế của nhân dân. Tiền thuế là của nhân dân, vậy phải do nhân dân (qua các đại diện của mình là Quốc hội) quản lý. Phán xét việc sử dụng ngân sách hiệu quả hay không thì phải chờ kết quả đầu tư (rất lâu sau đó), và nhiều khi sử dụng không công bằng để ưu tiên phát triển một số lĩnh vực cần kíp trước. Quốc hội duyệt chi ngân sách thể hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Phần tô màu xanh lơ là phần cần phải cân nhắc. Quan điểm cá nhân tôi là sửa hiến pháp theo Điều 27 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”

GIẢI TRÌNH

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

Quy định này rất thừa. Tham nhũng đã có luật hình sự và luật phòng chống tham nhũng xử lý. Để thất thoát tài sản nhà nước cũng bị xử lý bằng hành chính, hình sự. Quy định này dễ bị suy ngược lại là tham nhũng rất nhiều hoặc mặc nhiên thừa nhận tham nhũng cấp thấp, tham nhũng tư nhân

GIẢI TRÌNH

Điều 59 (mới)1. Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác được Nhà nước Quốc hội thống nhất quản lý, sử dụng hiu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Hàng năm, Quốc hội duyệt ngân sách thu, chi cho chính phủ hoạt động.2. Ngân sách nhà nước là thống nhất gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Thu chi ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật.Điều 60 (sửa đổi, bổ sung Điều 27)Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, phòng chống lãng phí, tham nhũng trong hoạt động kinh tế – xã hội và quản lý nhà nước.

Điều 61 (sửa đổi, bổ sung Điều 55, Điều 56)

1. Tổ chức, cá nhân được khuyến khích, tạo điều kiện để tạo việc làm, có thu nhập thỏa đáng cho người lao động.

Điều 25 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” và điều 27 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”

2. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định. Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình.

Cá nhân tôi nghĩ không nên có quy định này trong Hiến pháp, lý do là nó rất thừa, trong khi đó không có căn cứ gì để thực hiện được đầy đủ trong cuộc sống. Thất nghiệp ở một tỷ lệ nhất định còn là liều thuốc kích thích nền kinh tế phát triển nhanh hơn. Khi kinh tế suy thoái, thấy rõ là quy định này không thực tế. Phần “thu nhập” được viết lại ở dưới

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Quy định này rất thừa, có chỉ để cho hay, thực tế, đó là chức năng, nhiệm vụ thông thường của nhà nước, là mục đích khi nhân dân lập ra và dùng hiến pháp để trao quyền lực cho nhà nước. Đồng thời, khi có tranh cử tự do, chính phủ nào làm tốt, được nhân dân tin tưởng thì sẽ bỏ phiếu bầu và tồn tại lâu dài, chính phủ nào làm không tốt sẽ bị nhân dân bãi miễn. Khi đó, quy định này sẽ rất thừa.

Nâng cao chất lượng dân số là khái niệm rất chung chung và vô cùng tối nghĩa (quan điểm cá nhân). Xin hỏi quốc gia nào có chất lượng dân số cao và quốc gia nào có chất lượng dân số thấp???? Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Gia đình và công dân (theo cách viết cũ) làm thế nào để “nâng cao chất lượng dân số”????

Điều 62 (sửa đổi, bổ sung Điều 39, Điều 40)1. Nhà nước ban hành chính sách đầu tư, phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân; huy động các nguồn lực để xây dựng nền y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả; phát triển nền y học Việt Nam theo hướng kết hợp đông y và tây y, phòng bệnh và chữa bệnh; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân và tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe; ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào miền núi, hải đảo, dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn khác.2. Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có tTrách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, bảo đảm quy mô, cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số. là trách nhiệm của toàn xã hội.Điều 63 (sửa đổi, bổ sung Điều 67)1. Nhà nước phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ, công bằng, bền vững, trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. đảm bảo công dân được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ.

2. Nhà nước và xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công với nước.

Đương nhiên

Điều 25 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” và điều 27 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp” viết hay hơn. Có thể viết gộp lại với khoản 2 Điều 61 do trùng ý.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Hiến pháp không cần những lời hoa mỹ này, Hiến pháp là bộ luật gốc, quy định về thiết chế nhà nước, những điều này quá cụ thể, không thích hợp với hiến pháp

Tiếp tục có những cái bẫy pháp lý tiếp theo để có thể vin vào đây để loại bỏ quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo của công dân. “lối sống tốt đẹp của người Việt Nam” hiện tại có thực sự tốt đẹp hay không?? Thì chính người Việt có thể tự trả lời, không cần tới các chuyên gia văn hóa, vậy có nên phá bỏ cái “lối sống” hiện tại của người Việt không? “lợi ích quốc gia” đã phân tích tại Điều 16

Hiến pháp không cần những lời hoa mỹ này

Hiến pháp không cần những lời hoa mỹ này

Điều 64 (sửa đổi, bổ sung các điều 30, 31, 32, 33 và 34)1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển của đất nước. Nhà nước và xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhân văn, dân chủ, tiến bộ; bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.2. Phát triển văn học, nghệ thuật đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân, góp phần bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn của người Việt Nam; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội.3. Xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có văn hóa, có ý thức làm chủ, có trách nhiệm công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.4. Nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, truyền bá tư tưởng, xuất bản phẩm và các  hình thức khác có nội dung phản động, đồi trụy; mê tín, dị đoan.

Phản động là một từ mà cách hiểu hiện nay khác rất nhiều so với nghĩa gốc trong từ điển. Hiện tại, phản động nghĩa là chống nhà nước và chống đảng (thậm chí vạch ra cái sai của Đảng, của Nhà nước cũng bị coi là phản động).
Nếu cách hiểu “đồi trụy” nghĩa là tự do, thoải mái trong chuyện sex. Tôi nghĩ cách hiểu này đã quá lạc hậu. Rồi sẽ đến lúc chúng ta thấy cái “đồi trụy” theo cách hiểu đó nó ở mọi nơi xung quanh. Với nhiều nước, mại dâm đã được thừa nhận nhiều năm thì ở VN, QH vẫn tranh cãi chuyện này, phe thắng là “không công nhận”.
Tuy nhiên, thực tế là mỗi người đều tự biết: “bản thân mình đã từng mua dâm hay chưa??” Cá nhân tôi ủng hộ quan điểm của đại biểu Dương Trung Quốc về chuyện này.

Điều 19 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” cho phép con người tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Thừa, đây là chức năng của giáo dục.

Thừa, viết quá chi tiết. Nhưng lại sai về tư duy. Dự thảo dựa trên nguyên tắc nhà nước quản lý giáo dục (quy định này rất cứng nhắc, nó ngăn cản việc tư nhân hóa giáo dục). Khi tư nhân hóa giáo dục, điều khoản này sẽ phải viết lại, hoặc điều khoản này ngăn cản tư nhân hóa giáo dục. Đề nghị cần thay đổi cách tư duy, được viết như ở đoạn thêm vào. Cho phép mọi người có quyền được tham gia hệ thống giáo dục. Các nước có nền giáo dục phát triển là các nước mà hệ thống giáo dục tự do, cho phép cả cá nhân, tổ chức tham gia. Con người có quyền

Điều 65 (sửa đổi, bổ sung Điều 35, Điều 37) Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.Điều 66 (sửa đổi, bổ sung Điều 35, Điều 36)1. Phát triển giáo dục nhằm hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân; nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đào tạo người lao động có nghề, năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.2. Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân, ưu tiên đầu tư và tạo điều kiện thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; quy định phổ cập giáo dục; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý; ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn khác.

Mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền tham gia vào hệ thống giáo dục. Nhà nước có trách nhiệm đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá đa dạng, phù hợp với định hướng phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

3. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng. Người khuyết tật và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học văn hoá và học nghề phù hợp.

Ủng hộ xã hội hóa giáo dục. Nhà nước quản lý về tiêu chuẩn chung, quản lý đạt một mức nhất định đối với từng ngành nghề, lĩnh vực nhất định, phần còn lại, để xã hội tự do, con người có quyền học cái gì mà họ thích. Coi nhà trường giống như doanh nghiệp. Nhà trường tự chịu trách nhiệm với tương lai tồn tại của chính họ.

Quy định này ngàn lần chính xác. Tuy nhiên, đề xuất cần phải cho nhân dân tự mở trường, mở lớp và coi nhà trường giống như doanh nghiệp (bán tri thức). Doanh nghiệp nào giỏi sẽ tồn tại, yếu kém sẽ bị xã hội đào thải. Không như hiện nay, một trường ĐH chỉ có vài chục SV nhưng vẫn tồn tại.


GIẢI TRÌNH

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

 chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

Toàn bộ điều 67 rất thừa. Hiến pháp không cần ghi như vậy. Riêng khoản 3, đề xuất viết theo Điều 27 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” (rất nhiều điều trong dự thảo HP này đã có nội dung na ná như Điều 27 “tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948” )

Thừa, luật môi trường và luật hình sự có rồi.

Thừa, đây là chức năng đương nhiên của nhà nước.

Đoạn 2 khoản 2 được viết gộp với khoản 1.

Điều 67 (sửa đổi, bổ sung Điều 37, Điều 38)1. Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt, là động lực thúc đẩy phát triển đất nước. Phát triển khoa học và công nghệ nhằm nâng cao trình độ quản lý, phát triển văn hóa, kinh tế tri thức, thúc đẩy tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và sức khỏe của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh.2. Nhà nước thúc đẩy phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ; đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trên thế giới; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ; bảo đảm quyền tự do nghiên cứu và sáng tạo khoa học, công nghệ.3. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và được hưởng thụ lợi ích từ các hoạt động khoa học, công nghệ.Điều 68 (mới)

1. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân. Ưu tiên phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch của tổ chức.

2. Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học; phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích.

3. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

Ở đây quy định nhiệm vụ của “lực lượng vũ trang”. Lực lượng vũ trang hiện nay được hiểu là gồm Quân đội và công an (cảnh sát và an ninh). Tuy nhiên, ủng hộ quan điểm của nhân sỹ trí thức trong “kiến nghị sửa đổi Hiến pháp” rằng đưa cảnh sát và an ninh ra khỏi lực lượng vũ trang (kiến nghị số năm và điều 7), chuyển thành lực lượng dân sự (cách hiểu lực lượng vũ trang nghĩa là lực lượng cầm súng là chưa chính xác).
Khi đó, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang (quân đội) là bảo vệ tổ quốc và nhân dân, không phải để bảo vệ bất cứ cá nhân hay tổ chức nào (Xương máu của nhân dân phải để bảo vệ nhân dân)
Lực lượng vũ trang sẽ không được làm kinh tế như hiện nay (nhằm chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa), do vậy không có nhiệm vụ “xây dựng”

GIẢI TRÌNH

Lý do bỏ chủ nghĩa xã hội nói ở điều 1

Bỏ cụm từ “từng bước hiện đại” do nó không thể hiện sự mạnh mẽ, có cảm giác như quân đội chưa hiện đại hoặc còn đang lạc hậu.
Lực lượng dự bị cần đảm bảo khả năng thay thế, số lượng, chất lượng tùy theo yêu cầu mỗi thời kỳ, xây dựng “hùng hậu” để làm gì??

Cụm từ này rất thừa.

Hậu tố “nhân dân” trong các tên gọi thể hiện tính chất của lực lượng, phần hậu tố này rất đa dạng ở các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, cá nhân tôi đề xuất loại bỏ các hậu tố này. Lý do, cần phải càng ngày càng chuyên nghiệp hóa lực lượng này.

Điều 69 (sửa đổi, bổ sung Điều 44)Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân.Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do luật định.Điều 70 (sửa đổi, bổ sung Điều 45)

Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân;, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Điều 71 (sửa đổi, bổ sung Điều 46)

Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ được xây dựng hùng hậu, rộng khắp, cùng với Quân đội nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

Triều Tiên là một ví dụ về quân đội “hùng hậu” nhưng đất nước và người dân nghèo đói

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Việc xóa bỏ cụm “nhân dân Việt Nam cách mạng” đã phân tích tại điều 71 (rất thừa), xóa bỏ cụm “từng bước hiện đại” cũng đã phân tích tại điều 71

Nước có tốt thì nhân dân mới tin yêu, mới tự hào, nhà nước phải làm cho nhân dân tự hào vì là người Việt Nam.
“Chủ nghĩa anh hùng cách mạng” là điều mà cá nhân tôi không khuyến khích.
Việc giáo dục quốc phòng và an ninh là việc đương nhiên. Truyền hình thực tế cũng có thể làm. Xóa bỏ những buổi tập quân sự nhiều lý thuyết tốn thời gian tại các trường phổ thông hiện nay (có cả hình thức học hát trong khóa giáo dục quốc phòng).
Nếu cần thiết, bố trí một khóa rèn luyện nghiêm túc vào 1 tháng hè tại trường ĐH. Đối với người không đi học, phải thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Điều 72 (sửa đổi, bổ sung Điều 47)Công an nhân dân Việt Nam cách mạng được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, tng bước hiện đại, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.Điều 73 (giữ nguyên Điều 48)Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội; xây dựng công nghiệp quốc phòng, bo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sỹ, công nhân, nhân viên quốc phòng; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.

Để trang bị cho lực lượng vũ trang, nguyên tắc là cái gì chưa sản xuất được hoặc không muốn sản xuất thì tìm mua (thực tế nhiều nước đã có, ngay cả Nga và Ấn Độ, những nước có nền khoa học quân sự rất mạnh). Viết vào hiến pháp “bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang” là không chính xác do nhu cầu đối với lực lượng vũ trang có thể nói là “vô hạn”.
Đề nghị chuyên nghiệp hóa lực lượng vũ trang, không để LLVT làm kinh tế như hiện nay (ngân hàng MB, viễn thông Viettel, Xăng dầu MP….)

LLVT hưởng lương từ ngân sách nhà nước, do vậy, nhà nước phải cân đối phù hợp giữa ngân sách Quốc hội cấp với nhu cầu phát triển LLVT, đưa cụm từ “bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần” vào là không hợp lý. Mặt khác, trong tình trạng chiến tranh, việc đảm bảo các nhu cầu đó còn khó hơn (thực tế đã chứng minh). Do vậy, cần loại bỏ cụm từ này khỏi Hiến pháp.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Nguyên tắc hàng đầu là chính quyền thuộc về nhân dân, mặt khác, QH là cơ quan được nhân dân ủy quyền, vậy nên không nên dùng các từ ngữ như “cao nhất”

Đổi từ nhằm tăng tính chính xác

Quyền lập hiến thuộc về nhân dân. Loại bỏ quyền lập hiến này của QH nhằm tránh việc hình thành siêu nhà nước, các đại biểu QH cấu kết với nhau ra bản Hiến pháp phi dân chủ
Đã được phân tích cụ thể tại điều 2, điều 4, điều 6.
QH có trách nhiệm giám sát nhà nước, nhưng quyền giám sát tối cao lại là của nhân dân qua một xã hội dân sự, quyền phúc quyết, quyền tự do báo chí, quyền biểu tình….Nhân dân giám sát cả QH cơ mà.

Điều 74 (sửa đổi, bổ sung Điều 83)Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất đại diện của nhân dân được nhân dân ủy quyền lập pháp, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.Điều 75 (sửa đổi, bổ sung Điều 84)Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;

2. Thực hiện quyền giám sát ti cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét  báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hi đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;

QH là cơ quan lập pháp, đại diện cho nhân dân, QH không làm thay, do vậy xóa bỏ “chỉ tiêu”, để cho chính phủ tự do hoạt động, điều hành, làm tốt dân theo, làm không tốt thì QH bỏ phiếu bất tín nhiệm và thay ngay. Loại bỏ chỉ tiêu là sẽ loại bỏ bệnh thành tích đã lan tràn trong xã hội.

 

Hội đồng hiến pháp sau khi thành lập sẽ hoạt động độc lập, chỉ tuân theo hiến pháp, không chịu sự giám sát của QH, hoạt động như tòa án hiến pháp ở một số nước (điều 69, 70 “kiến nghị sửa đổi” của trí thức).

Khoản 4 tiếp theo trang sau

Như đã trình bày, những việc giám sát tối cao là của nhân dân

Tước bỏ quyền lập hiến và sửa hiến pháp của QH, lý do đã được phân tích.

Theo điều 34 “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH THÊM

Rất nhiều điều quan trọng lại chỉ được gộp vào một ý rất nhỏ.

Bỏ hậu tố “nhân dân” đã được phân tích tại điều 69. Ở đây, cần phải chuyên nghiệp hóa hoạt động của tòa án, cụm từ “nhân dân” xuất hiện trong từ “tòa án” từ năm 1950 (theo sắc lệnh số 85) sau khi Miền Bắc VN bãi bỏ các ngạch học quan tư pháp + xóa bỏ bộ máy tư pháp cũ (Lê nin cho rằng bộ máy tư pháp là công cụ đàn áp????)
Đề xuất phải lập những chương riêng theo “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”.

Thống nhất với điều 59

4. Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định nguyên tắc phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách trung ương; phê chuẩn quyết toán ngân sách trung ương; xem xét báo cáo tổng hợp dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước; Phê duyệt ngân sách hàng năm của chính phủ.5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, chính quyền địa phương và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó  Chủ  tịch Quốc hội, các Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, các Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Thm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh do chủ tịch nước lập; danh sách thành viên  bầu Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia;

Quyền quyết định Phó chủ tịch nước trao cho chủ tịch

Thẩm quyền đối với các vị trí này đề xuất trao cho chủ tịch nước theo Khoản 3 điều 93

Viết thêm cho cụ thể hơn về HĐ QPAN, Thay đổi lại cách hình thành hội đồng HP và hội đồng bầu cử quốc gia cho hợp lý

Thẩm quyền phê chuẩn đối với các vị trí này đề xuất trao cho chủ tịch nước theo Khoản 3 điều 93; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các vị trí phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên chính phủ trao quyền cho thủ tướng

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

“Lấy phiếu tín nhiệm” là công việc bỏ phiếu hàng ngày của QH, không cần đưa vào. Cách viết cũ sẽ triệt tiêu mọi quyền lực của các nhánh khác, đưa QH trở thành “siêu quyền lực” (dễ dẫn đến các thành viên QH câu kết với nhau, bảo vệ lợi ích của nhau). Cách viết mới hạn chế quyền lực này của QH, QH không thể làm như vậy với chủ tịch nước

Cách viết này rất mù mờ, “các biện pháp đặc biệt khác” là biện pháp gì???? Ở đây như xuất hiện thêm một cái bẫy pháp lý nhằm có khả năng tước bỏ quyền công dân. Vd, QH làm nhiều điều sai trái nhưng chưa đến hạn bầu cử mới, nhân dân biểu tình phản đối trên diện rộng, QH cho chính quyền đàn áp nhân dân và gọi đó là “các biện pháp đặc biệt”?????

8. Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với ngưi giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn thủ tướng, phó thủ tướng và các thành viên chính phủ;9. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;10. Bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;11. Quyết định đại xá;12. Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

13. Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

QH lại được viết như một thực thể siêu quyền lực, không có sự chế ước lẫn nhau (nguyên tắc của tam quyền phân lập). Nên nhớ QH chỉ là các đại biểu của nhân dân, do dân bầu ra. Ở đây, QH lại có quyền chế ước cả Tòa án và VKS tối cao – các cơ quan tư pháp (trong khi 2 cơ quan này chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật). Theo cách viết cũ còn cả khi trái với nghị quyết của QH, vậy khi QH bị lũng đoạn, QH ra một nghị quyết còn đứng trên cả HP thì sao?? Lấy ai là người đối trọng với quyền lực của QH?? (Lại vô cùng chú ý khi 90% thành viên QH là Đảng viên, vậy QH là ý dân hay ý ĐCS???)

Tham khảo khoản 2 điều 54 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”

Nên gọi đúng tên của cuộc bỏ phiếu “khi có vấn đề” là bỏ phiếu “bất tín nhiệm”

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Loại bỏ quyền này của QH, trao quyền này cho chủ tịch nước, lý do chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, là người đứng đầu nhà nước và thực hiện nhiệm vụ đối ngoại

Khoảng hở quyền lực tại thời điểm 12 tháng này sẽ làm cho QH trở nên vô cùng đáng sợ. Ai kiểm soát QH, đại biểu QH liên kết lại thống trị đất nước, thống trị nhân dân thì sao??? Thế mới thấy giá trị của “tam quyền phân lập” là như thế nào.

Rất buồn cười là “trưng cầu ý dân” là quyền làm chủ nhà nước của nhân dân (theo thuyết “chính quyền nhân dân”), ấy thế nhưng cái quyền đó lại được viết như thể QH ban ơn cho nhân dân. Cần viết lại như câu dưới để thể hiện rõ trách nhiệm của QH, trả lại quyền làm chủ đất nước cho nhân dân

14. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế về chiến tranh và hòa bình, các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia, quyn và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tư cách thành viên của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực, thương mại quốc tế;15. Quyết định trưng cầu ý dân.Mọi vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia đều phải trưng cầu ý dân.Điu 76 (sửa đổi, bổ sung Điều 85)1. Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội là năm năm.

2. Chậm nhất trước Ssáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, nhanh nhất không quá 90 ngày, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong.

3. Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoc kéo dài nhiệm kỳ của mình theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vic kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá mười hai tháng, trừ trường hợp chiến tranh.

“Trường hợp đặc biệt” là trường hợp nào, quy định ở đâu?? Toàn bộ điều khoản này là cửa ngõ để QH tăng nhiệm kỳ. Hơn nữa, thủ tục lại vô cùng đơn giản. Vì vậy, cần loại bỏ phần quy định kéo dài nhiệm kỳ của QH (12 tháng trong chính trị là khoảng thời gian rất dài). Hơn nữa, giả sử có thời hạn kéo dài 12 tháng này của QH, vậy khi đó các chức danh khác như chủ tịch nước, thủ tướng, chánh án, thẩm phán tòa án tối cao, VKS tối cao…. có kéo dài không?

Viết thêm cho cụ thể

Dự thảo Hiến pháp này định trao cho QH quyền “quyết định… quyền công dân” => vô cùng vô lý, công dân có những quyền mà không ai có thể tước bỏ được. Dân không cần QH quyết định mới có những quyền đó. Trách nhiệm của nhà nước là phải bảo đảm cho công dân tự do thực hiện các quyền đó.

Hiến pháp tự giới hạn quyền phê chuẩn của QH vào 1 lĩnh vực chiến tranh và hòa bình là vô lý.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Cả khoản 3 được viết rất mù mờ, viết lại thành 10 ủy viên UBTV cho gọn.

Theo cách viết cũ, việc UBTVQH chủ trì họp QH là vô lý. Đó là việc của chủ tịch QH.
Theo cách viết mới, khi QH không họp thì chủ trì ai??? Quan điểm là mọi ĐBQH đều ngang quyền nhau vì họ đều là đại biểu của nhân dân mà mọi công dân đều bình đẳng, do đó UBTVQH chỉ là cơ quan xử lý sự vụ khi QH không họp chứ không phải cơ quan điều hành, có quyền lực cao hơn các ĐBQH khác như hiện nay.
Đề nghị xóa bỏ toàn bộ pháp lệnh, xây dựng nhà nước pháp quyền thì chỉ có luật và HP.

Điu 77 (sửa đổi, bổ sung Điều 92)Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; tổ chức việc thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội.Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch.Điu 78 (sửa đổi, bổ sung Điều 90)1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội, c  2 Phó Chủ tịch Quốc hội và c 10 Ủy viên.

3. Số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Thành viên Uỷ ban thường vụ  Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ. Không ai trong Quốc hội là thành viên chính phủ.

4. Uỷ ban thường vụ Quốc hội của mỗi khoá Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội mới ngay trong ngày Quốc hội khóa mới họp phiên đầu tiên.

Điều 79 (sửa đổi, bổ sung Điều 91)

Khi Quốc hội không họp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội;

Xóa bỏ sự vô lý hiện nay là những văn bản dưới luật như vậy có giá trị thi hành hơn luật

2. Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

Viết cho chính xác điều kiện để UBTV QH có những quyền này.

Viết cho cụ thể thêm

Mặt khác, không chỉ ủy viên UBTV QH không được làm thành viên CP mà toàn bộ thành viên QH không được là thành viên CP nhằm đảm bảo sự tách biệt giữa các nhánh quyền lực và đảm bảo ngăn ngừa sự thông đồng giữa các nhánh đó nhằm xâm hại lợi ích nhân dân

Hiến pháp quá chi tiết, những quy định này nên dành cho luật tổ chức QH

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Tại nhà nước pháp quyền, quản lý XH bằng pháp luật thì pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH không phải là luật và càng không thể sánh với nghị quyết của QH (K2Đ75), chỉ dành quyền giám sát đối với “nghị quyết của QH” cho QH, không dành cho UBTVQH.

Không cần toàn bộ điều này khi QH là cơ quan duy nhất ra văn bản pháp luật. Đồng thời không cho phép can thiệp vào quyết định của tòa án tối cao và VKS tối cao.
Việc bỏ hậu tố “nhân dân” giải thích ở điều 75.
Việc bãi bỏ văn bản ở cấp chính phủ, thủ tướng phải do Tòa án tối cao quyết định.
Đoạn cuối được viết theo kiểu cho phép pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH (nhóm nhỏ người) đứng trên cả Tòa án tối cao và VKS tối cao, đứng trên cả chính phủ và thủ tướng CP. Điều này vô cùng vô lý.

3. Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ  ban  thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân  dân ti cao, Kiểm toán Nhà nước;4. Đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;5. Lãnh đạo công tác của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội;6. Hướng dẫn và giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội  đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân;

Ở đây, càng hạn chế quyền của UBTVQH bao nhiêu thì đất nước càng tránh được những sự việc một nhóm người (hơn chục người) chỉ cần ra 1 văn bản là có khả năng lũng đoạn đất nước, đứng trên pháp luật (pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH còn cao hơn quyết định của Tòa án tối cao và VKS tối cao).

Tòa án và VKS xét xử chỉ tuân theo pháp luật, không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào can thiệp vào quyết định của tòa án. Nếu không, QH dễ điều khiển cơ quan tư pháp để bảo vệ lợi ích của mình.

Không cần điều này nữa do chủ trương loại bỏ HĐND các cấp (đã nói tại điều 6)

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

QH không có quyền quyết định trưng cầu ý dân, đã được phân tích tại K15, Đ75. “Trưng cầu ý dân” là nghĩa vụ của QH nếu như muốn văn bản quan trọng của mình có tính pháp lý và được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân một cách chính thức (dựa trên bỏ phiếu tự do chứ không phải bới những lời tuyên truyền)

Nhiệm vụ giống MTTQVN đã phân tích việc hòa giải tại điều 9. Cụm từ “thực hiện quyền” cần phải bỏ vì nó dễ nảy sinh câu hỏi: “quyền gì?? Thực hiện thế nào??” và lại phải thêm 1 văn bản quy định điều này hoặc không ra văn bản để vô hiệu hóa điều này.

7. Quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi có sự yêu cầu của 2/3 dân số của các đơn vị hành chính đó;8. Trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;9. Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;10. Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;11. Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.

Điều 80 (sửa đổi, bổ sung Điều 94)

1. Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Chủ tịch Hội đồng dân tộc, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng dân tộc do Quốc hội bầu; các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng dân tộc do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

2. Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác hòa giải dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số.

3. Chủ tịch Hội đồng dân tộc được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc. Khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng dân tộc khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc.

4. Hội đồng dân tộc có những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các Uỷ ban của Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều 81.

Viết lại cho ngắn gọn hơn, thể hiện trách nhiệm của nhà nước hơn.

Viết lại và thay đổi cách hình thành hội đồng dân tộc, không để quyền lực nhiều trong tay UBTVQH (UBTVQH chỉ có một số quyền nhất định khi QH không họp).

Tránh tình trạng nhập, chia tách liên tục như hiện nay, và việc nhập, chia tách tại HN đã có dư luận xấu về việc một nhóm lợi ích đã lũng đoạn để hưởng lợi từ sự hợp nhất HN này.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Quan điểm là các ủy ban của QH phải do QH lập, không trao quyền này cho UBTVQH (càng đọc càng thấy dự thảo trao rất nhiều quyền cho UBTVQH)

Xóa bỏ để không bó buộc hình thức duy nhất của văn bản là “kiến nghị” mới được trả lời

Các nhiệm vụ bị gạch bỏ là các nhiệm vụ đương nhiên của đại biểu QH, tuy nhiên, những quyền này ĐBQH có thể tự thực hiện mà không cần phải được trao quyền (do ĐBQH là đại biểu của nhân dân)

Điều 81 (sửa đổi, bổ sung Điều 95)1. Ủy ban của Quốc hội gồm Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên. Chủ nhiệm Ủy ban do Quốc hội bầu; các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên Ủy ban do y ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn theo sự đề nghị của chủ nhiệm.2. Ủy ban của Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ theo chuyên môn, giám sát các nội dung thuộc lĩnh vực chuyên môn của ủy ban và các nội dung khác theo trách nhiệm của đại biểu quốc hội. thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật và dự án khác, báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do  luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban.3. Việc thành lập, giải thể các Ủy ban do Quốc hội quyết địnhĐiều 82 (sửa đổi, bổ sung Điều 96)

1. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin hoặc giải trình.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời kiến nghị của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, báo cáo hoặc giải trình về các vấn đề mà Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội yêu cầu.

Được giải thích như khoản 3, khoản 4 điều 79 về việc đảm bảo cho Tòa án và Viện kiểm soát có sự độc lập nhằm hạn chế quyền lực các nhánh. Tòa án, VKS xét xử công khai, chỉ tuân theo pháp luật, không phải giải trình + cung cấp thông tin, trong khi tài liệu về vụ án thì lúc nào cũng sẵn sàng.

Cách viết mới không bó buộc nhiệm vụ của ĐBQH trong các ủy ban theo cách viết cũ

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Quy định rất mơ hồ, chung chung, trong chế độ dân chủ, đại biểu QH buộc phải liên hệ chặt với nhân dân nếu không muốn bị  thất cử

Khi đã trả lời công khai thì việc trả lời bằng miệng hay bằng văn bản không còn quan trọng

Xóa bỏ chế độ này do việc thu thập ý kiến có thể thực hiện qua internet, và ĐBQH có thể diễn thuyết ở mọi nơi, chế độ này và các thủ tục của nó gây khó khăn cho ĐBQH

Điều 83 (mới)Khi cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định.Điều 84 (sửa đổi, bổ sung Điều 97)1. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước và của nhân dân ở đơn vị bầu đại biểu.2. Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; thc hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri.; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó.

3. Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.

Điều 85 (sửa đổi, bổ sung Điều 98)

1. Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch, phó chủ tịch nước, Chủ tịch, phó chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

2. Người bị chất vấn phải trả lời công khai trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban thường vụ  Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản.

3. Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định vòng 30 ngày.

Viết lại cho cụ thể hơn. Tránh để dây dưa kéo dài.

Việc bỏ hậu tố “nhân dân” đã giải thích ở điều 69 và điều 75

Khoản 3 viết rất thừa

Việc loại bỏ chế độ “khiếu nại, tố cáo” chuyển hoàn toàn sang chế độ kiện hành chính đã được phân tích ở điều 31, hơn nữa, những trách nhiệm này là đương nhiên của ĐBQH

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Loại bỏ thẩm quyền “đồng ý” của UBTVQH, kết hợp việc nới lỏng khả năng triệu tập họp QH bất thường,  nhằm quy thẩm quyền quyết định, đồng ý chỉ là QH. Mặt khác, cũng loại bỏ bớt “quyền miễn trừ truy tố” như với cách viết cũ nhằm tăng trách nhiệm của ĐBQH

Điều này sẽ trở thành thừa khi mà “không ai trong QH là thành viên chính phủ” đã phân tích tại điều 78, đồng thời theo khoản 6 điều 1 hiến pháp Mỹ. Còn các vấn đề tuân thủ khác của các cơ quan thì luật sẽ quy định trách nhiệm thực hiện theo yêu cầu của ĐBQH.

Viết rất thừa, rõ ràng ĐBQH phải thể hiện mình có trách nhiệm mới được nhân dân bầu ra.

Rõ ràng là hội đồng dân tộc và ủy ban của QH là do QH lập ra mà lại phải quy định như thế này.

Điều 86 (sửa đổi, bổ sung Điều 99)Không có sự đồng ý của 2/3 đại biểu Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội trừ trường hợp phạm tội phản quốc, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; nếu vì hoặc phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.Điều 87 (sửa đổi, bổ sung Điều 100)1. Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu; có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội.2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu.

3. Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đĐại biểu Quốc hội được hưởng một mức tiền lương xứng đáng từ ngân sách quốc gia, trong thời gian làm đại biểu quốc hội, khoản tiển lương đó sẽ không bị giảm.

Quy định tại Khoản 5 điều 38 “kiến nghị sửa đổi hiến pháp”, khoản 6 điều 1 hiến pháp Mỹ (có sự khác nhau lớn, đề nghị nghiên cứu kỹ thêm)
Cá nhân tôi đề xuất thực hiện như này.

Viết theo kiểu cũ cứ như kiểu xin-cho. ĐBQH là đại diện nhân dân, có quyền điều hành ngân khố quốc gia (cũng chính là tiền thuế nhân dân đóng góp). Do vậy, ĐBQH được nhân dân bảo trợ, không cần nhà nước phải “đảm bảo kinh phí hoạt động”.
Đề xuất viết theo khoản 6 điều 1 hiến pháp Mỹ.
Khoản tiền này sẽ công khai để kích thích người dân làm ĐBQH, đồng thời, không phải lo lắng về tương lai khi làm ĐBQH do số tiền lương đó không bị giảm

 

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Cách viết cũ có khoảng hở thời gian, rất mơ hồ. Đổi lại cách viết cho thật cụ thể, tránh để tình trạng dây dưa, QH khóa trước vi phạm về thời gian nhiệm kỳ. Kiến nghị quy định thời gian và ngày tháng luôn như Khoản 1 điều bổ sung thứ 20 hiến pháp Mỹ

Bỏ theo khoản 2 điều 79, lý do phân tích nói ở điều 79

Bỏ theo khoản 2 điều 79, lý do phân tích nói ở điều 79

Đã ghép khoản 2 vào khoản 1.

Việc bỏ hậu tố nhân dân đã được phân tích tại điều 69 và 75.

Điều 88 (sửa đổi, bổ sung Điều 86)1. Quốc hội họp công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội quyết định họp kín.2. Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba năm tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường.  Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập kỳ họp Quốc hội.3. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới đưc triệu tập chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội,phải họp ngay sau khi QH khóa trước hết nhiệm kỳ, do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội khoá mới.Điều 89 (sửa đổi, bổ sung Điều 87)

1. Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật trước Quốc hội.

2. Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật trước Quốc hội.

Điều 90 (sửa đổi, bổ sung Điều 88, Điều 93)

1. Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ trường hợp Hiến pháp quy định phải có ít nhất hai phần ba hoặc ba phần tư tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành.

2. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải được Chủ tịch nước công bố chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày được thông qua.

Quy trách nhiệm này cho Chủ tịch nước

Trao quyền cho ĐBQH vì đó là đại diện cho nhân dân, cất lên tiếng nói của nhân dân (ủng hộ hoặc phản đối) về bất cứ luật nào. Điều này phù hợp với vai trò của QH là cơ quan lập pháp

Giảm sự khó khăn trong thủ tục họp bất thường

Tăng thực quyền điều hành cho Chủ tịch QH

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Bỏ toàn bộ pháp lệnh theo khoản 2 điều 79, toàn bộ lý do phân tích tại điều 79, Tước bỏ nhiều quyền của UBTVQH như phân tích tại điều 79, không có lý do gì biện minh cho việc chỉ có vài người (UBTVQH) lại có quyền ra văn bản có tính pháp lý áp dụng cho mọi người trong xã hội

Lý do phân tích ở điều 1

Quan điểm chủ đạo là tăng quyền cho Chủ tịch nước, tạo tính chủ động, trách nhiệm cho Chủ tịch nước, tránh thủ tục rườm rà trong bỏ phiếu tại QH.

Điều 91 (giữ nguyên Điều 101)Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.Điều 92 (giữ nguyên Điều 102)Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới.

Điều 93 (sửa đổi, bổ sung Điều 103)

Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh luật trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh luật được thông qua; nếu pháp lệnh luật đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất vẫn phải công bố;

2. Đề nghị Quốc hội buphê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

3. Đề nghị Quốc hội bầu Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá;

 

Chú ý so sánh với khoản 7 điều 75 để tránh nhầm lẫn. Cách viết mới đơn giản hơn cách viết cũ, thay đổi về thẩm quyền và cách hình thành cơ quan tư pháp, loại bỏ uy thế của nghị quyết của QH

Trao toàn bộ quyền điều hành chính phủ cho Thủ tướng theo điều 103.

Đề nghị viết theo khoản 7 điều 1 Hiến pháp Mỹ hoặc theo điều 44, 45 kiến nghị sửa đổi hiến pháp.

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Vi phạm điều 15 tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 “Không ai bị tước quốc tịch hoặc bị khước từ quyền được đổi quốc tịch một cách tuỳ tiện”. Quốc tịch VN là quyền công dân, không ai có thể tự cho phép mình cái quyền đó. Còn TH khi đã trao quốc tịch cho người nước ngoài thì không có quyền rút lại do người đứng đầu nhà nước chỉ được nói 1 lần, không có quyền sửa, thay đổi

Nâng thẩm quyền trong điều này lên đến QH, không cho phép UBTVQH quyết định, lý do phân tích theo Điều 75, điều 79.

4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;5. Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an  ninh; quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp tướng trong các lực lượng vũ trang nhân dân, đô đốc, phó đô đốc, chuẩn đô đốc hải quân; bổ nhiệm Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh. Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;6. Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác; trình Quốc hội phê chuẩn điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 75; quyết định phê chuẩn hoặc gia nhập điều ước quốc tế theo thẩm quyền do Quốc hội quy định.

Lý do bỏ cụm “xã hội chủ nghĩa” đã được phân tích ở điều 1

Quân đội để phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân (nhân dân có quyền tự do chính trị), do vậy, lực lượng quân đội cần phải phi chính trị hóa, giữ vai trò độc lập chính trị, không theo hay ủng hộ bất cứ đảng phái nào (vì nhiều người dân không theo bất kỳ đảng phái nào), do vậy không cần đến tổng cục chính trị quân đội. Theo kiến nghị thứ 5, điều 6, điều 7 “kiến nghị sửa đổi hiến pháp” của nhân sĩ trí thức.

Lý do bỏ hậu tố “nhân dân” đã nói ở điều 69 và điều 75

Trao lại việc quyết định các điều ước quốc tế cho QH, tránh việc người đứng đầu nhà nước ký kết các văn bản sai trái mà người dân, QH không biết, ảnh hưởng đến chủ quyền đất nước.

GIẢI TRÌNH

XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Xem lại khoản 8 điều 79 và khoản 5 điều 93 để đảm bảo chính xác.

Thống nhất theo khoản 7 điều 75 và khoản 2 điều 93, trao quyền quyết định về phó chủ tịch nước cho Chủ tịch nước

Viết rất thừa, đương nhiên là Chủ tịch nước chỉ làm những gì cần thiết thôi.

Điều 94 (sửa đổi, bổ sung Điều 104)1. Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn.Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.2. Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội, trong trường hợp Quốc hội không thể họp được trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh; động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt trong trường hợp có chiến tranh do Quốc hội giao.Điều 95 (sửa đổi, bổ sung Điều 105)

Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, của Chính phủ.

Khi cần thiết, Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.

Điều 96 (giữ nguyên Điều 106)

Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Điều 97 (giữ nguyên Điều 107)

Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch uỷ nhiệm thay Chủ tịch làm một số nhiệm vụ.

Điều 98 (giữ nguyên Điều 108)

Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch.

Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới.

Bổ sung chi tiết nhỏ.

Không cho phép việc ủy quyền do vai trò quan trọng của chủ tịch nước, khi mà mỗi lời chủ tịch nước nói ra mang tính không thể thay đổi, được quốc tế ghi nhận, thể hiện quan điểm và định hướng của cả nước

GIẢI TRÌNH XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Lý do bỏ cụm “xã hội chủ nghĩa” đã được nói đến ở điều 1

Thực tế cho thấy “làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số” là một chế độ làm việc thiếu (vô) trách nhiệm. Lúc thành công, ai cũng được khen, nhưng lúc thất bại, trách nhiệm được đổ dồn hết người này đến người khác, mỗi người chỉ nhận một phần nhỏ trách nhiệm, do vậy, các hình thức kỷ luật khi thất bại chủ yếu xuề xòa, cả nể. Chính cơ chế hoạt động này gây tụt lùi đất nước.

Viết cho cụ thể hơn về số lượng phó thủ tướng chính phủ

Điều 99 (sửa đổi, bổ sung Điều 109)Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.Điều 100 (sửa đổi, bổ sung Điều 110)Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các  2 Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định. Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.

Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ  tướng Chính phủ với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.

Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng. Khi Thủ tướng vắng  mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ.

Thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm cá nhân trước Chính phủ, Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ.

 

Loại bỏ hoàn toàn chế độ chịu trách nhiệm tập thể, các bộ trưởng, các thành viên chính phủ chỉ phải chịu trách nhiệm cá nhân về công việc của mình

Viết lại cho rõ nghĩa hơn do Chủ tịch nước có quyền lực về nhân sự đối với chính phủ.

Xây dựng nhà nước tam quyền phân lập là một sự tiến bộ trong lịch sử chính trị thế giới. Do vậy, cần xây dựng chính phủ trở thành cơ quan hành pháp, tách biệt khỏi các quyền lập pháp (của QH) và quyền tư pháp (của tòa án và viện kiểm sát). Đồng thời không để chính phủ trở thành cơ quan chấp hành của Quốc hội. Sẽ không thể có tam quyền phân lập khi tổ chức bộ máy nhà nước theo kiểu này.

GIẢI TRÌNH

XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Hiến pháp không cần tổ chức thi hành, hiến pháp cần bảo vệ, mọi hoạt động của nhà nước đều phải tuân theo hiến pháp

Công dân có quyền sở hữu tài sản, do vậy, nhà nước có nhiệm vụ phải bảo vệ. Về cơ bản, tài sản công dân chính là tài sản quốc gia.

Toàn bộ đoạn này viết rất thừa mà lại thiếu. Chỉ là diễn giải ý “quản lý nên hành chính quốc gia”. Các công việc cụ thể như thế này chỉ nên quy định trong luật tổ chức chính phủ

Điều 101 (sửa đổi, bổ sung Điều 112)Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:1. Tổ chức Bảo vệ, thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban  thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội;2. Thống nhất qQuản lý nền hành chính quốc gia, xây dựng và tổ chức thực hiện chế độ công vụ; quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức; phân công, phân cấp trong hệ thống hành chính nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; kiểm tra  Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, tạo điều kiện để Hội  đồng  nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính các đơn vị hành chính lãnh thổ; tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra, kiểm tra, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước và giải quyết khiếu nại, tố cáo;Quốc hội có trách nhiệm quy định các nhiệm vụ cụ thể của Chính phủ.

3. Bảo vệ tài sản công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;

4. Thng nhất quản lý việc xXây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; qun lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước;

5. Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;

Đoạn này đưa vào cho sang. Đó là trách nhiệm của nhà nước.

Việc sử dụng “có hiệu quả” đã được phân tích tại điều 59

Tạo một luật tổ chức chính phủ, trong đó quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của chính phủ, các cơ quan chính phủ (hiện tại đã có luật này rồi, nhưng theo hiến pháp mới sẽ phải sửa đổi lại)

Lý do bỏ pháp lệnh được nói và phân tích tại điều 79

 

GIẢI TRÌNH

XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Không thể dùng từ “thống nhất” khi mà quy định Chủ tịch nước thống lĩnh các lực lượng vũ trang (khoản 5 điều 93)

Loại bỏ sự phối hợp này, biến mặt trận tổ quốc thành lực lượng tương đối độc lập về chính trị, là lực lượng phản biện xã hội.
Còn viết như cũ, mọi tổ chức chính trị-xã hội chỉ phục vụ chính phủ là sự rất vô lý. Họ phải phục vụ nhân dân

Chính phủ chỉ có quyền nhân danh chính phủ mà thôi, đồng thời, liên quan đến vấn đề đối ngoại, phải có sự phê chuẩn của chủ tịch nước và cuối cùng là sự phê chuẩn của QH.

Không nói mập mờ kiểu “biện pháp khác”, phải có quy định các biện pháp rõ ràng, không để xâm phạm quyền tự do công dân

6. Thng nhất qQuản lý về quốc phòng, an ninh, nn quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;7. Thống nhất quản lý công tác đối ngoại; theo ủy quyền của Chủ tịch nước đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 93; đĐàm phán, ký, gia nhập, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ khi có sự phê chuẩn của Chủ tịch nước; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;8. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.Điều 102 (giữ nguyên Điều 113)Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới thành lập phê chuẩn Thủ tướng Chính phủ mới.

Theo Khoản 7 điều 75, khoản 2 điều 93, thẩm quyền thành lập thủ tướng chính phủ là của chủ tịch nước. Và QH chỉ phê chuẩn sự chọn lựa đó của chủ tịch nước. Ủng hộ việc bầu chủ tịch nước như Điều 59 kiến nghị sửa đổi của nhân sĩ trí thức.

Lý do bỏ cụm “xã hội chủ nghĩa” đã phân tích tại điều 1

1.Theo khoản 14 điều 75, khoản 6 điều 93, công tác đối ngoại thuộc thẩm quyền QH và Chủ tịch nước.
2.Điều 91 nói: “Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước”, nên chính phủ không thể nhân danh (đại diện, thay mặt) nhà nước được

1 câu nhưng bị lặp từ, lặp ý

Trách nhiệm xây dựng là trách nhiệm đương nhiên

GIẢI TRÌNH

XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Thống nhất với khoản 2 điều 93, Khoản 3 Điều 78 (không ai trong QH là thành viên chính phủ)

Theo khoản 7 điều 101, chính phủ không có quyền nhân danh nhà nước, do vậy thủ tướng chính phủ cũng không có quyền này.

Các chức vụ cụ thể này đã được thay bằng cụm “mọi nhân viên trong cơ quan hành pháp”

Thống nhất với khoản 2 điều 93. Trong đó trao quyền quyết định nhân sự của chính phủ cho thủ tướng

Điều 103 (sửa đổi, bổ sung Điều 114)Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch nước đề cử được Quốc hội phê chuẩn bầu trong số đại biểu Quốc hội, là người đứng đầu Chính phủ.Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:1. Định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ; lãnh đạo hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia;2. Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; trình Quốc hội phê chuẩn quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ và mọi nhân viên trong cơ quan hành pháp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng và chức vụ tương đương trong các cơ quan của Chính phủ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

3. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc  trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;

Viết “khi có sự phê chuẩn của chủ tịch nước” để thống nhất theo khoản 7 điều 101

4. Chỉ đạo việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước, đàm phán, ký hoặc gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ khi có sự phê chuẩn của chủ tịch nước; chỉ đạo thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

 Thực hiện giống như bài phát biểu hàng tuần của tổng thống Mỹ

5. Thực hiện chế độ báo cáo hàng tuần trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết.

Không cần đoạn này do đã bỏ Hội đồng nhân dân đã phân tích tại điều 6.
Mặt khác, để hạn chế quyền của một nhóm người trong ủy ban thường vụ QH, quyền bãi bỏ văn bản phải là của QH.

Viết rất thừa, đã “hệ thống hành chính” lại còn “từ TW đến địa phương”, và “đảm bảo tính thông suốt”, đầy lúc có thông suốt đâu?? Đó chính là nhiệm vụ đương nhiên của thủ tướng

GIẢI TRÌNH

XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Viết rất thừa, đã “là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ” rồi lại còn “lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ”

Chuyện này không đưa vào hiến pháp, để chế độ tự động. Chính phủ họp mà không mời thì sao???? Mặt khác, Mặt trận tổ quốc có chức năng phản biện xã hội nên cũng không buộc chính phủ phải mời.

Do quy định chế độ làm việc của chính phủ không còn là chế độ làm việc tập thể nên loại bỏ “chính phủ” khỏi câu này.

Quy định rõ đối tượng mà bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ phải chịu trách nhiệm.

Điều 104 (sửa đổi, bổ sung Điều 116, Điều 117)1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ  quan  ngang bộ, lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công trước Thủ tướng, Chủ tịch nước và Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội khi Quốc hội không họp.2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Chính phủ; thực hiện chế độ báo  cáo trước nhân dân trước Thủ tướng, Chủ tịch nước và Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội khi Quốc hội không họp về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý.Điều 105 (sửa đổi Điều 115, Điều 116)Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của luật và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó.

Điều 106 (sửa đổi, bổ sung Điều 111)

Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội được mời tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan.

Rất vô lý là văn bản “pháp luật” lại có thể được ban hành từ cấp thấp đến vậy??? Hoàn toàn mâu thuẫn với điều 6. Vd nhỏ: Bộ trưởng giao thông ra văn bản “pháp luật” xử phạt phương tiện không đủ điều kiện an toàn. Nhưng phương tiện như thế nào là an toàn lại do bộ KH và công nghệ quyết định => chồng chéo, vô lý

Không hiểu cái từ “nhân dân” ở đây ám chỉ đối tượng nào??? Đã bao giờ các bộ trưởng báo cáo trước “nhân dân” bao giờ chưa hay chỉ báo cáo trước QH và UBTVQH, thủ tướng và chủ tịch nước??
Liệu cái từ “nhân dân” ở đây có mang nghĩa “toàn dân” giống như câu “đất đai là sở hữu của toàn dân” đã phân tích tại điều 57 hay không??

GIẢI TRÌNH

XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Cách tổ chức tòa án như hiện tại (mỗi huyện một tòa án, mỗi vụ án lại có vài thầm phán xét xử) vừa tốn người lại vừa tốn cơ sở vật chất, số vụ án xét xử mỗi năm (chia theo đầu người) của mỗi tòa thường thấp, khó nâng cao trình độ thẩm phán

Lý do bỏ hậu tố “nhân dân” đã phân tích tại điều 69, điều 75

Điều bổ sung, sửa đổi thứ 6 của Hiến pháp Mỹ viết hay hơn. Điều 10, điều 11 tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948.

Hiến pháp viết cứ như thừa nhận sự thật hiển nhiên là quyết định của Tòa án có thể bị can thiệp được vậy???

Điều 107 (sửa đổi, bổ sung Điều 126, Điều 127)1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cáo và các Tòa án khác do luật định, đảm bảo mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có ít nhất 1 tòa án nhưng không quá 5 tòa án.2. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.3. Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt để luận tội chủ tịch nước hoặc chủ tịch quốc hội, tuy nhiên, hình phạt cao nhất trong trường hợp này là cách chức, tuy nhiên, người bị kết luận có tội có thể bị truy tố, xét xử và trừng phạt theo luật định.

Điều 108 (sửa đổi, bổ sung các điều 129, 130, 131, 132 và 133)

1. Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp do luật định.

2. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ  chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.

3. Toà án nhân dân xét xử nhanh chóng, công khai tại nơi xảy ra sự việc, trừ trường hợp do luật định.

4. Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp do luật định.

Loại bỏ quy định về hội thẩm trong tòa án. Không để chế độ xét xử tập thể và trách nhiệm oan sai được chia nhỏ như hiện nay (khoản 4). Đưa chế độ bồi thẩm đoàn là bên buộc tội+luật sư là bên bào chữa, quan tòa ở giữa phân xử. Hội thẩm nhân dân hiện nay không có nhiều tác dụng.

“Tình hình đặc biệt” là một khái niệm mơ hồ. Đoạn bổ sung đề nghị viết như Khoản 3 điều 1 hiến pháp Mỹ

Đảo lại trật tự ưu tiên, đặt “nhân dân” lên trước “nhà nước”, không thế sao lại gọi “nhà nước của dân, do dân, vì dân”??

Lý do bỏ cụm “xã hội chủ nghĩa” nói ở điều 1

Việc bỏ hậu tố “nhân dân” được phân tích tại điều 69 và điều 75, việc bỏ cụm “xã hội chủ nghĩa” được phân tích tại điều 1

Trong điều 11 bộ luật tố tụng hình sự đã đảm bảo quyền có luật sư bào chữa của “người bị tạm giữ”, cớ sao Hiến pháp lại tước bỏ

GIẢI TRÌNH

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

5. Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa được bảo đảm.6. Chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm được bảo đảm.7. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm. Bị can, bị cáo Mọi người đều có thể tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình; đương sự có thể tự mình, nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ lợi ích hợp pháp.Điều 109 (sửa đổi, bổ sung Điều 134)1. Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác.

3. Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết, hướng dẫn thc tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

Điều 110 (sửa đổi, bổ sung Điều 128, Điều 135)

1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân  tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án khác do luật định.

2. Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Chánh án các Tòa án khác báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân theo quy định của luật chánh án tòa án tối cao.

3. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Thẩm phán; việc bầu và nhiệm kỳ của Hội thẩm Tòa án nhân dân do luật định.

Việc bỏ hội đồng nhân dân đã phân tích tại điều 6. Việc báo cáo trước chánh án tòa án tối cao là báo cáo theo ngành dọc.

Tòa tối cao hướng dẫn công tác xét xử, điều này kết hợp với việc công khai bản án sẽ tạo ra “tiền lệ pháp” = pháp luật cải tiến liên tục, nhanh chóng phát hiện ra lỗi, kẽ hở của luật

Viết lại cho gọn hơn ở ngay phần trước

Không giới hạn việc bào chữa chỉ là bị can, bị cáo mà mọi người, chỉ cần có dính líu đến pháp luật đều có quyền này.

Đề nghị chế độ “thẩm phán suốt đời”, bỏ “hội thẩm nhân dân” (chú ý khoản 3 điều 93)

Việc bổ nhiệm đã quy định tại điều 93, về nhiệm kỳ, cần cân nhắc tư duy nhiệm kỳ của hiến pháp VN với tư duy “thẩm phán suốt đời” trong khoản 1 điều 3 hiến pháp Mỹ

GIẢI TRÌNH

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Việc bỏ hậu tố “nhân dân” đã phân tích tại điều 69 và điều 75

Viết tương tự khoản 2 điều 110, phần phân tích cũng đã chỉ rõ ở đó

Cả đoạn này được viết lại nhằm thể hiện rõ trách nhiệm của VKS;

Hiến pháp phải được nền tư pháp (tòa án và VKS) bảo vệ.
Đảo lại trật tự ưu tiên bảo vệ là “cá nhân, tổ chức, nhà nước” như khoản 2 điều 107

Đổi từ “thực hành” sang từ “thực hiện” để thể hiện rõ quyền và trách nhiệm của VKS.

Điều 111 (sửa đổi, bổ sung Điều 136)Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.Điều 112 (sửa đổi, bổ sung Điều 126, Điều 137)1. Viện kiểm sát nhân dân thực hành hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.2. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định. Mỗi tòa án có tương ứng một viện kiểm sát.

3. Viện kiểm sát nhân dân nhiệm vụ trách nhiệm bảo vệ hiến pháp, pháp luật, quyền con người, quyền công dân; bảo  vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Điều 113 (sửa đổi, bổ sung các điều 138, 139, 140)

1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quc hội bầu Chủ tịch nước bổ nhiệm. Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, nhim kỳ của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định.

2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trướcUỷ ban thường vụ  Quốc hội và Chủ tịch nước. Viện trưởng các Viện kiểm sát khác báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân theo quy định của luật Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.

Viết lại theo điều 93, thẩm quyền về nhân sự đối với viện trưởng VKS là do Chủ tịch nước. Về nhiệm kỳ, ủng hộ “nhiệm kỳ suốt đời” như điều 110

Theo điều 107, về sửa đổi số lượng tòa án tại mỗi tỉnh, cơ cấu lại hệ thống TA, VKS, đảm bảo không dàn trải như hiện nay, thời gian xử án lâu, người bị thiệt là nhân dân – khi bị giam giữ quá lâu trước khi bị kết án (những TH kết án vô tội mới thực sự là khắc nghiệt)

Bỏ đoạn viết thừa

GIẢI TRÌNH

XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào;

chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Thay từ “thực hành”  bằng từ “thực hiện” nhằm tăng tính trách nhiệm, quyền lực của VKS (Đ112)

Lý do bỏ hậu tố “nhân dân” đã phân tích tại điều 69 và điều 75

Lý do bỏ cụm “hội đồng nhân dân” được nói ở điều 6

Lý do bỏ cụm “xã hội chủ nghĩa” được nói ở điều 1

Ủng hộ “nhiệm kỳ suốt đời” như Đ110 và Đ113

Cũng giống như thẩm phán, kiểm sát viên “chỉ tuân theo pháp luật” giống điều 108 (nhưng không hiểu sao lại bỏ mất chữ “chỉ” rất quan trọng)

Điều 114 (sửa đổi, bổ sung Điều 138)1. Vin kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân ti cao.2. Khi thực hành hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên chỉ tuân theo pháp luật và  chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.3. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Kiểm sát viên do luật định.Điều 115 (sửa đổi, bổ sung Điều 118)

1. Các đơn vị hành chính lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;

Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường, xã; quận chia thành phường.

2. Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính lãnh thổ do luật định phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị hành chính lãnh thổ và phân cấp quản lý.

Đoạn này vừa viết thừa, vừa viết mập mờ, dễ trở thành cái bẫy với quyền tự do dân chủ, tinh thần thượng tôn pháp luật dễ bị chà đạp bởi: 1. câu “VKS nhân dân do viện trưởng lãnh đạo” là rất thừa. 2. Cụm “chịu sự lãnh đạo” ở đây là chịu lãnh đạo về cái gì???? hành chính, tổ chức, nhân sự hay về quan điểm pháp luật??? Cả 2 sự lãnh đạo này đều dễ dàng dẫn tới việc Kiểm sát viên không hoàn toàn tuân theo pháp luật mà theo sự chỉ đạo của viện trưởng

GIẢI TRÌNH

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

Loại bỏ HĐND đã nói ở điều 6. Hiện nay thành viên HĐND phần lớn là thành viên UBND nên việc giám sát, chịu trách nhiệm trước HĐND của UBND cũng chỉ là hình thức

Đại biểu QH làm những việc này rồi theo Đ84, Đ85

Loại bỏ chế độ chịu trách nhiệm tập thể như điều 100 đã phân tích. Chỉ để lại chế độ quyết định tập thể của hội đồng quốc phòng, an ninh và QH.

Điều 116 (sửa đổi, bổ sung các điều 119, 120, 123 và 124)1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, các vấn đề quan trọng của địa  phương và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước tại địa phương.2. Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và các thành viên Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Ủy ban nhân dân và chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ được giao trước Hội đồng nhân dâncơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

Điều 117 (sửa đổi, bổ sung Điều 121)

Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước.

Điều 118 (sửa đổi, bổ sung Điều 122)

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và thủ  trưởng các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân hoặc trả lời bằng văn bản.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước ở địa phương. Người đứng đầu cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu.

Tại nhà nước dân chủ “của dân, do dân, vì dân”, mọi công dân đều có thể làm việc này, không cần tới đại biểu HĐND

GIẢI TRÌNH

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

Viết thừa như điều 106, việc mời họp hay không thì không nên đưa vào hiến pháp. Cần thiết thì đưa vào luật tổ chức chính phủ. Phân tích như Điều 9 và khoản 8 điều 101

1 bẫy pháp lý khi lại lấy sự điều chỉnh của luật làm thước đo (trong khi luật lại do QH ban hành và dưới HP)

Hội đồng hiến pháp mà chỉ có chức năng “kiến nghị”, “đề nghị” và dưới QH thì thật vô lý, cần nâng tầm lên “Tòa án hiến pháp”, như kiến nghị thứ 4, Điều 69, Điều 70 trong “kiến nghị sửa đổi hiến pháp” của nhân sĩ trí thức.

MTTQ không cần phối hợp với chính quyền, MTTQ cần trở thành một xã hội dân sự độc lập, có khả năng phản biện chính phủ

Việc bỏ HĐND đã phân tích tại điều 6 và 116

Điều 119 (sửa đổi, bổ sung Điều 125)Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương được mời tham dự kỳ họp Hi đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.Hi đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức  này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.Điều 120 (mới)1. Hi đồng Tòa án Hiến pháp là cơ quan do Quốc hội thành lập, gồm Chủ tịch Chánh án, các Phó Chủ tịchcác 9 y viên thẩm phán.

2. Hi đồng Tòa án Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chủ  tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành; kiến nghị Quốc hội xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp; yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân ti cao, Viện kiểm sát nhân dân ti cao sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp; kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình Quốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn.

3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng Hiến pháp và số lượng, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng Hiến pháp do luật định.

GIẢI TRÌNH

XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Điều 121 (mới)1. Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.2. Hội đồng bầu cử quốc gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng bầu cử quốc gia và số lượng, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia do luật định.Điều 122 (mới)

1. Kiểm toán Nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công của tất cả các cơ quan nhà nước. Quốc hội có thể sử dụng bất cứ đơn vị kiểm toán độc lập nào nếu xét thấy cần thiết.

2. Tổng Kiểm toán Nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán Nhà nước, do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán Nhà nước do luật định.

Tổng Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Kiểm toán Nhà nước do luật định.

Điều 123 (sửa đổi, bổ sung Điều 146)

Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.

Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.

Hiện tại, việc sử dụng tài sản công có hợp lý hay không? Có lãng phí hay không thì không có số liệu thống kê nào chỉ ra. Kiểm toán nhà nước hiện đã hoạt động xong trước khối lượng công việc quá lớn, kiểm toán nhà nước cũng phải làm từng bước. Đoạn này được viết nhằm cho phép xã hội hóa công tác kiểm toán, mở đường sử dụng các công ty kiểm toán độc lập. Mặt khác, việc sử dụng hiệu quả ngân sách của QH và các cơ quan tư pháp vẫn chưa có số liệu khẳng định. Các chuyên gia nói sử dụng vốn ở VN là một sự lãng phí

Việc bỏ HĐND đã nói và phân tích ở điều 6, và điều 116.

Ý thứ nhất là đủ rồi, không cần ý thứ 2, 3.
Kết hợp với việc hình thành tòa án hiến pháp ở điều 120, ý 2 và ý 3 đều không cần thiết nữa

Việc bỏ cụm “xã hội chủ nghĩa” đã được nói tới ở điều 1

Loại bỏ các phó chủ tịch cho tinh giảm bộ máy. Kiến nghị hội đồng bầu cử quốc gia tổ chức bầu chủ tịch nước như điều 59 “kiến nghị sửa đổi hiến pháp” của 72 nhân sĩ trí thức trên trang http://boxitvn.net về bầu cử tổng thống và phó tổng thống.

GIẢI TRÌNH

XÓA BỎ

GÓP Ý DỰ THẢO

(chữ xanh có gạch chân là phần thêm vào; chữ đỏ có gạch ngang là phần xóa bỏ)

GIẢI TRÌNH

Dự thảo này sao lại để hiến pháp có thể dễ dàng sửa đổi đến thế: chủ tịch nước, chính phủ cần phải loại bỏ khỏi việc sửa Hiến pháp do họ thuộc bên hành pháp.

Đổi từ 2/3 sang ¾, nguyên nhân: không thể để hiến pháp được thông qua với số phiếu ít như vậy được. 1/3 đại biểu QH không đồng ý tương đương với hàng trăm người

Điều 124 (sửa đổi, bổ sung Điều 147)Việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp được quy định như sau:1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành;2. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp. Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định;3. Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến nhân dân và trình Quốc hội về dự thảo Hiến pháp;

4. Dự thảo Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba ba phần tư tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.

5. Hiến pháp phải được trưng cầu ý dân, nếu hiến pháp được ba phần tư số ý kiến nhân dân đồng ý thì hiến pháp chính thức có hiệu lực thi hành.

 

Đề nghị tổ chức trưng cầu dân ý như Điều 80, 81, “kiến nghị sửa đổi Hiến pháp” của nhân sĩ trí thức

Hiến pháp là văn bản quan trọng, cần sự phúc quyết của nhân dân để tạo đồng thuận, tạo tính chính danh cho nhà nước, do vậy, buộc phải trưng cầu dân ý. Thiếu trưng cầu dân ý, hiến pháp không có giá trị thi hành

 

 

 

 

 

KHÔNG AI CÓ THỂ MỘT MÌNH XÂY DỰNG LÊN ĐẤT NƯỚC NÀY. ĐÓ LÀ CÔNG SỨC CỦA CẢ DÂN TỘC

Advertisements

Để lại ý kiến của bạn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Thống Kê Khách Thăm

free counters

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 427 other followers

VN Tôi Đâu-Anh Là Ai?

%d bloggers like this: