DIỄN ĐÀN CỦA CHÚNG TA

TIẾNG NÓI TỰ DO DÂN CHỦ

Hiến Pháp Hàn Quốc

Trích từ anhbasam04.wordpress.com

HIẾN PHÁP CỘNG HÒA HÀN QUỐC *

KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NƯỚC HÀN QUỐC(1)

1. Tên nước:

Hàn Quốc hay còn gọi là Đại Hàn Dân Quốc

2. Thủ đô:

Seoul

3. Quốc khánh:

Ngày 3 tháng 10 (là ngày thành lập nhà nước Hàn Quốc đầu tiên do Daegun lập nên vào năm 2333 trước Công nguyên)

4. Quốc kỳ:

Hình chữ nhật có nền trắng, ở giữa có hình âm dương (màu đỏ ở trên và màu xanh dương ở dưới), bốn góc có 4 quẻ Bát Quái.

5. Diện tích:

100.210 m2 (ước tính năm 2011);

6. Dân số.

48.754.657 người trong đó chủ yếu là người Triều Tiên (99%).

7. Ngôn ngữ:

Tiếng Triều Tiên.

8. Tôn giáo:

Đạo phật 25,3%, Tin lành 20%, Công giáo 7%, Khổng giáo 0,6%, không tôn giáo và các tôn giáo khác 47,1%.

9. Chính thể:

Hàn Quốc hiện là một nước theo chế độ hỗn hợp.

10. Kiểu nhà nước:

Kiểu nhà nước đơn nhất.

11. Các đơn vị hành chính:

Hàn Quốc được phân chia thành 16 tỉnh, thành phố gồm: Seoul (Hán Thành), Busan (Phủ Sơn), Incheon (Nhân Xuyên), Daegu (Đại Khâu), Gwangju (Quang Châu), Daejeon (Đại Điền), Ulsan (Uất Sơn), Gyeonggi (Kinh Kỳ), Gangwon (Giang Nguyên), Nam Chungcheong (Trung thanh Nam), Bắc Chungcheong (Trung thanh Bắc), Bắc Jeolla (Toàn La Bắc), Nam Jeolla (Toàn La Nam), Bắc Gyeongsang (Khánh Thượng Bắc), Nam Gyeongsang (Khánh Thượng Nam), Jeju (Tế Châu).

12. Đảng chính trị:

Ở Hàn Quốc hiện tại có một số đảng chính trị lớn như:

– Đảng Đại Dân tộc (NFP) hay còn gọi là Đảng Saenuri;

– Đảng Dân chủ Thống nhất (DUP);

– Đảng Tiến bộ Thống nhất (UPP);

– Đảng Tự do Tiến bộ (LFP) .

13. Độ tuổi được tham gia bầu cử:

Công dân Hàn Quốc từ đủ 19 tuổi, không phạm tội đến mức bị bắt giam thì có quyền bầu cử đại biểu Quốc hội.

14. Hệ thống pháp luật:

Hệ thống pháp luật Hàn Quốc được phỏng theo hệ thống luật dân sự của Đức. Trong hệ thống dân luật, luật pháp Hàn Quốc thuộc nhóm hệ thống dân luật Đức cùng với Đức, Áo, Thụy Sĩ, Hi Lạp, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, và Đài Loan.

15. Bộ máy nhà nước

i) Cơ quan hành pháp

Cơ quan hành pháp ở Hàn Quốc do Tổng thống đứng đầu. Tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu lên theo nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu Nhà nước và là tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang. Tổng thống có quyền tuyên bố chiến tranh, đề xuất các dự án luật, tuyên bố tình trạng khẩn cấp hoặc thiết quân luật (với sự chấp thuận của Quốc hội). Tuy nhiên, Tổng thống không có quyền giải tán Quốc hội.

Giúp việc cho Tổng thống là bộ máy Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu. Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm với sự phê chuẩn của Quốc hội. Thủ tướng có quyền đề xuất bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm các thành viên của Chính phủ. Trong trường hợp Tổng thống không thể thực hiện được nhiệm vụ của mình, Thủ tướng là người thực hiện vai trò của Tổng thống cho đến khi Tổng thống trở lại nhiệm vụ hoặc một Tổng thống mới được bầu.

ii) Cơ quan lập pháp

Quyền lập pháp được trao cho Quốc hội bao gồm các nghị sĩ được bầu theo phương thức phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Số lượng nghị sĩ Quốc hội được luật quy định, nhưng tối thiểu phải là 200 đại biểu. Nhiệm kỳ của các nghị sĩ Quốc hội là bốn năm.

Quốc hội có thẩm quyền lập pháp, các quyền về ngân sách quốc gia, phê chuẩn các điều ước quốc tế, phê chuẩn nhân sự nhà nước cao cấp.

Các kỳ họp của Quốc hội có thể là thường lệ (mỗi năm một lần kéo dài không quá 100 ngày) hoặc bất thường (theo yêu cầu của Tổng thống hoặc của một nhóm đảng, kéo dài không quá 30 ngày). Các phiên họp được tổ chức công khai trừ trường hợp Chủ tịch Quốc hội hoặc đa số thành viên quyết định khác.

iii) Cơ quan tư pháp

Các cơ quan tư pháp ở Hàn Quốc gồm Tòa án Hiến pháp, Tòa án Tối cao, tòa phúc thẩm vùng, tòa địa phương và các tòa án đặc biệt.

Tòa án Hiến pháp có quyền ra các phán quyết về tính hợp hiến và các vụ việc liên quan đến luận tội các quan chức cao cấp. Tòa án Hiến pháp gồm 9 thẩm phán trong đó 3 thành viên do Chánh án Tòa án Tối cao đề xuất, 3 thành viên do Quốc hội đề xuất và 3 thành viên do Tổng thống đề xuất. Các thẩm phán Tòa án Hiến pháp có nhiệm kỳ 6 năm và có thể được bầu lại nhưng không được quá 56 tuổi trừ trường hợp là Chánh án thì không được quá 70 tuổi.

Tòa án Tối cao là cấp chung thẩm đối với mọi kháng nghị của các vụ việc theo pháp luật Hàn Quốc. Tòa án Tối cao có 14 thẩm phán với nhiệm kỳ là 6 năm với điều kiện là phải từ đủ 40 tuổi trở lên và phải có ít nhất 15 năm kinh nghiệm trong nghề luật. Các thẩm phán có thể được tái cử trừ trường hợp là Chánh án Tòa án Tối cao.

16. Quá trình xây dựng Hiến pháp:

Hiến pháp đầu tiên của Hàn Quốc được ban hành vào ngày 17 tháng 7 năm 1948 sau khi giành được độc lập từ Đế quốc Nhật Bản. Bản Hiến pháp này cho đến nay đã được sửa đổi 9 lần, trong đó có 5 lần sửa đổi lớn, gần như là viết lại hoàn toàn, đó là các bản Hiến pháp năm 1960, 1962, 1980 và 1987. Như vậy, từ khi bản Hiến pháp đầu tiên được ban hành (1948) cho đến bản Hiến pháp gần đây nhất (1987), tính trung bình cứ gần 4 năm, Hiến pháp của Hàn Quốc lại được sửa đổi một lần. Việc sửa đổi hiến pháp ở Hàn Quốc mặc dù diễn ra nhiều lần nhưng chủ yếu là xoay quanh các vấn đề về lựa chọn mô hình chế độ đại nghị hay tổng thống, kéo dài hay rút ngắn nhiệm kỳ Tổng thống, bầu Tổng thống trực tiếp hay gián tiếp.

Hiến pháp 1948 được sửa đổi lần đầu tiên vào năm 1952 khi Tổng thống Syngman Rhee muốn kéo dài nhiệm kỳ của mình. Trong lần sửa đổi này, chế độ đơn viện đã được thay thế bằng chế độ lưỡng viện và việc Tổng thống do Quốc hội bầu ra như trước đây được thay thế bằng việc Tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra.

Vào năm 1954, Tổng thống Rhee lại tiến hành sửa đổi Hiến pháp để cho phép mình được hưởng nhiệm kỳ Tổng thống vô giới hạn. Tuy nhiên, vào năm 1960, Tổng thống Rhee đã thất cử khi không nhận được sự ủng hộ của dân chúng trong kỳ bầu cử tổng thống.

Sau khi chính quyền của Tổng thống Rhee sụp đổ, nhu cầu sửa đổi Hiến pháp lại xuất hiện và do vậy nền Cộng hòa thứ Hai của Hàn Quốc đã ra đời với một bản Hiến pháp dân chủ vào năm 1960. Theo bản Hiến pháp này, chính thể cộng hòa tổng thống trước đó đã được thay thế bởi chính thể cộng hòa đại nghị. Cũng trong năm 1960, lần sửa đổi Hiến pháp thứ tư đã diễn ra, theo đó Hiến pháp đã quy định về việc trừng phạt các hành vi gian lận bầu cử, tham nhũng và phân bổ tài sản công sai quy định.

Tuy nhiên, do cuộc đảo chính vào năm 1961 của Park Chung Hee, nên bản Hiến pháp 1960 đã bị vô hiệu hóa và vào năm 1962 Hiến pháp của nền Cộng hòa thứ Ba đã được thông qua với các điều khoản gần như được viết lại hoàn toàn so với bản Hiến pháp trước đó. Bản Hiến pháp này có nhiều nội dung tương tự như Hiến pháp của Hoa Kỳ với mô hình cộng hòa tổng thống. Đến năm 1969, Hiến pháp đã được sửa đổi lần thứ sáu theo đó số lần được nắm giữ nhiệm kỳ tổng thống đã được tăng lên 3 lần nhằm tạo cơ sở cho Park Chung Hee có thể tiếp tục giữ vị trí Tổng thống.

Vào năm 1972, Tổng thống Park mở rộng thêm quyền hành của mình bằng bản Hiến pháp của nền Cộng hòa thứ Tư, còn gọi là Hiến pháp Yusin. Bản Hiến pháp này quy định nhiệm kỳ tổng thống không giới hạn và quyền lực tập trung cao độ hơn nữa vào tay Tổng thống. Tổng thống có thể chỉ định một phần ba số ghế ở Quốc hội, có thể giải tán Quốc hội, có quyền ban hành các sắc lệnh khẩn cấp để có thể dễ dàng đàn áp các nhóm hoặc các cá nhân đối lập.

Sau khi Tổng thống Park Chung Hee bị chết do ám sát vào năm 1979, nền Cộng hòa thứ Năm được bắt đầu bởi bản Hiến pháp 1980 dưới thời Tổng thống Chung Doo Hwan. Đây cũng là lần thứ ba bản Hiến pháp được viết lại một cách hoàn toàn. Theo quy định của bản Hiến pháp này, vị thế của Tổng thống yếu hơn so với trước đây. Tổng thống được bầu một cách gián tiếp với nhiệm kỳ duy nhất bảy năm.

Do các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ lên cao vào năm 1987 (Phong trào Dân chủ tháng Sáu) tại Hàn Quốc, bản Hiến pháp mới của nền Cộng hòa thứ Sáu đã ra đời vào năm 1987. Đạo luật sửa đổi hiến pháp được Quốc hội thông qua vào ngày 12 tháng 10 năm 1987 và nhận được 93% phiếu ủng hộ trong cuộc trưng cầu ý dân vào ngày 28 tháng 10 năm 1987. Bản Hiến pháp 1987 đã có hiệu lực từ ngày 25 tháng 2 năm 1988 khi ông Roh Tae-woo nhậm chức Tổng thống. Theo bản Hiến pháp này, Tổng thống có nhiệm kỳ duy nhất năm năm và do nhân dân trực tiếp bầu ra. Quyền lực của Quốc hội được tăng lên so với trước đây. Quyền và tự do của con người được ghi nhận và bảo đảm đầy đủ hơn. Đặc biệt, Tòa án Hiến pháp đã được thành lập theo mô hình của Châu Âu là điểm đến của các công dân khi cần bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của mình.

LỜI MỞ ĐẦU

Chúng ta, nhân dân Hàn Quốc, tự hào về lịch sử huy hoàng và truyền thống xa xưa, giữ vững cơ sở của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Hàn Quốc ra đời từ Phong trào Độc lập ngày 1 tháng 3 năm 1919 và những lý tưởng dân chủ của Cuộc nổi dậy ngày 19 tháng 4 năm 1960 chống lại bất công, đặt ra nhiệm vụ cải cách dân chủ và thống nhất hòa bình đất nước chúng ta và quyết tâm củng cố đoàn kết quốc gia với công lý, nhân đạo và tình anh em, và

Để xóa bỏ tất cả các tệ nạn xã hội và bất công, và

Để có gắng tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người và tạo ra sự phát triển tối đa khả năng cá nhân trong mọi lĩnh vực, bao gồm đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, bằng cách tăng cường hơn nữa các quyền tự do cơ bản và trật tự dân chủ là điều kiện cho sáng tạo cá nhân và sự hài hòa của cộng đồng, và

Để giúp cho mỗi người dân thực thi những nhiệm vụ và trách nhiệm cùng với tự do và các quyền lợi, và

Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả công dân và đóng góp cho hòa bình vững bền của thế giới và sự thịnh vượng chung của nhân loại và do đó bảo đảm an ninh, tự do và hạnh phúc cho chính chúng ta và con cháu của chúng ta mãi mãi, theo đây sửa đổi Hiến pháp thông qua trưng cầu dân ý sau một nghị quyết của Quốc hội, được thông qua và ban hành vào ngày 12 tháng 7 năm 1948, và được sửa đổi tám lần sau đó.

29/10/1987

Chương I:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

(1) Hàn Quốc là một nước cộng hòa dân chủ.

(2) Chủ quyền Cộng hòa Hàn Quốc thuộc về nhân dân, và tất cả các quyền lực nhà nước phải được bắt nguồn từ nhân dân.

Điều 2

(1) Quốc tịch nước Cộng hòa Hàn Quốc sẽ do luật(2) định.

(2) Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ công dân ở nước ngoài theo luật định.

Điều 3

Lãnh thổ của Hàn Quốc gồm bán đảo Triều Tiên và các đảo lân cận.

Điều 4

Cộng hòa Hàn Quốc sẽ tìm cách thống nhất quốc gia, sẽ hình thành và thực hiện chính sách thống nhất hòa bình dựa trên nguyên tắc tự do và dân chủ.

Điều 5

(1) Cộng hòa Hàn Quốc nỗ lực để duy trì hòa bình quốc tế và phản đối mọi cuộc chiến tranh xâm lược.

(2) Các lực lượng vũ trang được giao sứ mệnh thiêng liêng là bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ đất nước, và tính trung lập chính trị của các lực lượng vũ trang phải được duy trì.

Điều 6

(1) Các điều ước được ký kết và ban hành theo đúng quy định của Hiến pháp và được các quy tắc chung của luật pháp quốc tế công nhận sẽ có hiệu lực như luật pháp quốc gia của Hàn Quốc.

(2) Địa vị của người nước ngoài được bảo đảm theo quy định của luật pháp quốc tế và các điều ước quốc tế.

Điều 7

(1) Tất cả công chức là công bộc của toàn thể nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

(2) Địa vị và tính trung lập chính trị của công chức phải được đảm bảo theo luật định.

Điều 8

(1) Việc thành lập các đảng chính trị là tự do, và hệ thống đa đảng phải được đảm bảo.

(2) Các chính đảng phải bảo đảm tính dân chủ trong mục tiêu, tổ chức và hoạt động, và phải có cách thức tổ chức cần thiết để người dân có thể tham gia vào quá trình hình thành nên ý chí chính trị.

(3) Các chính đảng được Nhà nước bảo hộ và có thể được Nhà nước cung cấp ngân sách hoạt động theo luật định.

(4) Nếu mục đích hoặc các hoạt động của một chính đảng trái với những trật tự dân chủ cơ bản, Chính phủ có thể kiện ra Tòa án Hiến pháp và đảng đó có thể bị giải thể theo quyết định của Tòa án Hiến pháp.

Điều 9

Nhà nước phải nỗ lực để duy trì và phát triển các di sản văn hóa và nâng cao văn hóa quốc gia.

Chương II:

CÁC QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG DÂN

Điều 10

Mọi công dân đều được bảo đảm về giá trị và phẩm giá con người và có quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhà nước có trách nhiệm khẳng định và đảm bảo các quyền con người cơ bản và bất khả xâm phạm của cá nhân.

Điều 11

(1) Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không có sự phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, hoặc văn hóa do giới tính, tôn giáo, hoặc địa vị xã hội.

(2) Chế độ đẳng cấp đặc quyền sẽ không được công nhận hay thiết lập dưới mọi hình thức.

(3) Việc trao các giải thưởng hoặc danh hiệu dưới mọi hình thức sẽ chỉ được ghi nhận đối với cá nhân người nhận và không có đặc quyền nào phát sinh từ đó.

Điều 12

(1) Mọi công dân đều được hưởng tự do cá nhân. Không ai bị bắt, giam giữ, khám xét, tịch thu tài sản hoặc bị thẩm vấn ngoại trừ những trường hợp theo luật định. Không ai bị trừng phạt, bị giám sát phòng ngừa, hoặc phải lao động cưỡng bức, ngoại trừ các trường hợp do luật định và thông qua các thủ tục hợp pháp.

(2) Không công dân nào bị tra tấn hoặc bị bắt buộc phải làm chứng chống lại mình trong vụ án hình sự.

(3) Trong trường hợp bắt, giam giữ, tịch thu tài sản hoặc khám xét thì cần phải có lệnh của thẩm phán thông qua các thủ tục luật định và trên cơ sở phải có yêu cầu của một công tố viên trừ trường hợp một nghi phạm hình sự bị bắt quả tang, hoặc trường hợp có nguy cơ một người bị tình nghi phạm tội có thể bị phạt tù ba năm trở lên có thể trốn thoát hoặc hủy hoại chứng cứ, cơ quan điều tra có thể yêu cầu một lệnh bắt khẩn cấp.

(4) Bất kỳ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ đều có quyền có luật sư tư vấn ngay lập tức. Khi một bị cáo không có đủ khả năng để tìm được bào chữa, Nhà nước sẽ chỉ định luật sư cho bị cáo theo luật định.

(5) Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ mà không được thông báo về lý do và không được quyền có luật sư giúp đỡ. Gia đình v.v.. của người bị bắt hoặc bị giam giữ được xác định theo luật định phải được thông báo không chậm trễ về lý do, thời gian và địa điểm của việc bắt hay giam giữ.

(6) Bất kỳ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ đều có quyền yêu cầu Toà án xem xét tính hợp pháp của việc bắt hoặc giam giữ.

(7) Trong trường hợp có việc nhận tội mà được coi là trái với ý chí của bị cáo do bị tra tấn, bị sử dụng bạo lực, bị đe dọa, bắt giữ kéo dài vô lý, gian lận, hoặc hành động tương tự, hoặc trong trường hợp lời nhận tội đó là bằng chứng duy nhất chống lại bị đơn trong một phiên tòa chính thức, thì lời nhận tội đó sẽ không được thừa nhận là chứng cứ phạm tội, bị cáo cũng không bị trừng phạt vì lời thú nhận như vậy.

Điều 13

(1) Không công dân nào bị truy tố vì một hành vi không cấu thành tội phạm theo luật đang có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi, cũng không ai phải chịu xét xử hai lần.

(2) Không công dân nào phải chịu sự áp đặt hạn chế đối với các quyền chính trị, và cũng không ai bị tước quyền sở hữu bởi các quy định pháp luật hồi tố.

(3) Không công dân nào phải bị xử lý bất lợi đối với một hành động không phải do mình mà do một thân nhân của mình thực hiện.

Điều 14

Mọi công dân được hưởng các quyền tự do cư trú và tự do đi lại theo ý muốn.

Điều 15

Mọi công dân được hưởng quyền tự do nghề nghiệp.

Điều 16

Nơi cư trú của mọi công dân được đảm bảo không bị xâm phạm. Trong trường hợp cần khám xét hoặc thu giữ tại nơi cư trú, cần phải xuất trình lệnh của một thẩm phán được ban hành theo yêu cầu của công tố viên.

Điều 17

Đời tư của mọi công dân không thể bị xâm phạm.

Điều 18

Bí mật thư tín của mọi công dân không thể bị xâm phạm.

Điều 19

Mọi công dân được bảo đảm tự do xử sự theo đúng lương tâm.

Điều 20

(1) Mọi công dân được đảm bảo quyền tự do tôn giáo.

(2) Không một tôn giáo nào được thừa nhận là quốc giáo, nhà thờ và nhà nước được tách biệt.

Điều 21

(1) Mọi công dân được đảm bảo các quyền tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội.

(2) Không cho phép áp dụng chế độ cấp phép hoặc kiểm duyệt ngôn luận và báo chí cũng như chế độ xin phép cho hội họp và lập hội.

(3) Các tiêu chuẩn về dịch vụ tin tức và các phương tiện phát sóng, các vấn đề cần thiết để đảm bảo những chức năng của báo chí do luật định.

(4) Ngôn luận và báo chí không được xâm hại danh dự hoặc quyền của người khác cũng như không được làm xói mòn luân lý cộng đồng và đạo đức xã hội. Trong trường hợp ngôn luận hoặc báo chí xâm hại danh dự, quyền lợi của người khác, những người đó có thể khiếu kiện đòi bồi thường về các thiệt hại do hành vi đó gây ra.

Điều 22

(1) Mọi công dân đều có quyền tự do học tập và sáng tạo nghệ thuật.

(2) Các quyền của tác giả, nhà phát minh, nhà khoa học, kỹ sư và các nghệ sĩ được bảo vệ theo luật định.

Điều 23

(1) Quyền sở hữu của mọi công dân được bảo đảm. Nội dung và các giới hạn của quyền này do luật định.

(2) Việc thực hiện quyền sở hữu phải phù hợp với lợi ích công cộng.

(3) Việc sung công, trưng dụng hoặc hạn chế sở hữu tư nhân vì nhu cầu công cộng và việc bồi thường do các hành vi này được thực hiện theo luật định. Tuy nhiên, trong trường hợp này, phải có sự bồi thường thỏa đáng.

Điều 24

Mọi công dân đều có quyền bầu cử theo các điều kiện do luật định.

Điều 25

Mọi công dân đều có quyền giữ các chức vụ công theo các điều kiện do luật định.

Điều 26

(1) Mọi công dân đều có quyền kiến nghị bằng văn bản đến bất kỳ cơ quan nhà nước nào theo các điều kiện do luật định.

(2) Nhà nước có nghĩa vụ xem xét tất cả các kiến nghị đó.

Điều 27

(1) Mọi công dân có quyền được xét xử phù hợp với luật định bởi các thẩm phán đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Hiến pháp và luật.

(2) Công dân không phải là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc đang làm việc cho các lực lượng quân sự sẽ không bị xét xử bởi một tòa án quân sự trong lãnh thổ của Hàn Quốc, ngoại trừ trường hợp phạm tội hình sự theo luật định liên quan đến thông tin quân sự quan trọng, việc đặt lính gác, các điểm gác, hay cung cấp thực phẩm và đồ uống độc hại, tù nhân chiến tranh, các vật dụng và phương tiện quân sự và trong trường hợp công bố thiết quân luật bất thường.

(3) Mọi công dân có quyền được xét xử nhanh chóng. Trong trường hợp không có lý do chính đáng để trì hoãn, bị cáo có quyền được xét xử công khai không chậm trễ.

(4) Bị cáo được coi là vô tội cho đến khi một phán quyết là có tội được tuyên.

(5) Nạn nhân của một tội phạm có quyền trình bày trong quá trình diễn ra phiên tòa về vụ việc có liên quan theo các điều kiện do luật định.

Điều 28

Trong trường hợp một nghi can hoặc một bị cáo bị giam giữ nhưng không bị kết tội theo luật định hoặc là được tòa tuyên trắng án, người đó có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường một cách thỏa đáng theo các điều kiện do luật định.

Điều 29

(1) Trong trường hợp một người phải chịu thiệt hại do hành vi trái pháp luật bởi một công chức trong quá trình thực thi công vụ, người đó có quyền yêu cầu Nhà nước hoặc tổ chức công quyền bồi thường một cách thỏa đáng theo các điều kiện do luật định. Trong trường hợp này, công chức có liên quan không được miễn trừ khỏi trách nhiệm pháp lý.

(2) Trong trường hợp một người đang thực thi nghĩa vụ quân sự hoặc đang làm việc cho lực lượng quân sự, đang là cảnh sát hoặc các trường hợp khác theo luật định bị thiệt hại liên quan đến việc thực hiện công vụ như chiến đấu thì người đó không có quyền yêu cầu Nhà nước hay tổ chức công quyền bồi thường đối với hành vi trái pháp luật của công chức khi thi hành công vụ, mà chỉ được bồi thường theo luật định.

Điều 30

Công dân bị thương tích cơ thể hay tử vong do hành vi phạm tội của người khác có thể nhận được viện trợ từ Nhà nước theo các điều kiện do luật định.

Điều 31

(1) Mọi công dân có quyền bình đẳng trong việc được giáo dục tương ứng với khả năng của mình.

(2) Mọi công dân đang nuôi dưỡng con cái có trách nhiệm cung cấp cho con mình ít nhất là giáo dục tiểu học và các bậc học khác theo luật định.

(3) Giáo dục bắt buộc là miễn phí.

(4) Tính độc lập, chuyên nghiệp và trung lập về chính trị của giáo dục cũng như quyền tự chủ của các tổ chức giáo dục đại học được đảm bảo theo các điều kiện do luật định.

(5) Nhà nước khuyến khích giáo dục suốt đời.

(6) Các vấn đề cơ bản liên quan đến hệ thống giáo dục, bao gồm giáo dục trong trường học và giáo dục suốt đời, vấn đề quản trị, tài chính và địa vị của giáo viên do luật định.

Điều 32

(1) Mọi công dân đều có quyền làm việc. Nhà nước phải nỗ lực mở rộng cơ hội việc làm của người lao động và đảm bảo tiền lương tối ưu thông qua các phương tiện xã hội và kinh tế và thực thi một hệ thống tiền lương tối thiểu theo các điều kiện do luật định.

(2) Mọi công dân có nghĩa vụ lao động. Nhà nước phải ban hành luật quy định về phạm vi và các điều kiện của nghĩa vụ lao động phù hợp với các nguyên tắc dân chủ.

(3) Các tiêu chuẩn của điều kiện làm việc sẽ do luật định theo phương thức đảm bảo phẩm giá con người.

(4) Lao động nữ sẽ được hưởng sự bảo vệ đặc biệt, và họ không bị phân biệt đối xử về việc làm, tiền lương và điều kiện làm việc.

(5) Lao động trẻ em được hưởng sự bảo vệ đặc biệt sẽ dành cho.

(6) Những người đã phụng sự cho quốc gia, các cựu chiến binh và cảnh sát bị thương, các thành viên gia đình của các quân nhân và cảnh sát đã hi sinh sẽ nhận được sự ưu tiên về cơ hội việc làm theo các điều kiện do luật định.

Điều 33

(1) Để nâng cao điều kiện làm việc, người lao động có quyền lập hội độc lập, thương lượng tập thể và hành động tập thể.

(2) Chỉ những công chức được luật cho phép mới có quyền lập hội, thương lượng tập thể và hành động tập thể.

(3) Quyền hành động tập thể của công nhân trong các ngành công nghiệp quốc phòng quan trọng có thể bị hạn chế hoặc bị cấm theo các điều kiện do luật định.

Điều 34

(1) Mọi công dân đều có quyền có cuộc sống xứng đáng của con người.

(2) Nhà nước có nhiệm vụ nỗ lực thúc đẩy an sinh và phúc lợi xã hội.

(3) Nhà nước phải nỗ lực thúc đẩy phúc lợi và quyền của phụ nữ.

(4) Nhà nước có nghĩa vụ thực hiện chính sách nâng cao phúc lợi của người cao tuổi và trẻ em.

(5) Công dân không có khả năng kiếm sống do khuyết tật về thể chất, bệnh tật, tuổi già, hoặc các lý do khác được Nhà nước bảo hộ theo các điều kiện do luật định.

(6) Nhà nước phải nỗ lực ngăn chặn thiên tai và bảo vệ công dân khỏi tác hại của thiên tại.

Điều 35

(1) Mọi công dân đều có quyền được hưởng một môi trường lành mạnh và thoải mái. Nhà nước và mọi công dân đều phải nỗ lực bảo vệ môi trường.

(2) Nội dung của các quyền về môi trường sẽ do luật định.

(3) Nhà nước phải nỗ lực để đảm bảo nhà ở đầy đủ cho mọi công dân thông qua các chính sách phát triển nhà ở và chính sách tương tự.

Điều 36

(1) Hôn nhân và cuộc sống gia đình được hình thành và duy trì trên cơ sở nhân phẩm cá nhân và sự bình đẳng về giới, và trong thẩm quyền của mình Nhà nước phải thực hiện mọi việc có thể để đạt được mục tiêu đó.

(2) Nhà nước phải nỗ lực bảo vệ các bà mẹ.

(3) Nhà nước bảo đảm sức khỏe cho mọi công dân.

Điều 37

(1) Các quyền và tự do của công dân không thể bị bỏ qua với lý do chúng không được liệt kê trong Hiến pháp.

(2) Các quyền và tự do của công dân chỉ có thể bị giới hạn theo luật khi cần thiết vì lý do bảo đảm an ninh quốc gia, duy trì pháp luật và trật tự hoặc vì lợi ích công cộng. Ngay cả khi áp đặt các hạn chế như vậy, không được vi phạm các yếu tố thiết yếu của các quyền và tự do.

Điều 38

Mọi công dân có nghĩa vụ nộp thuế theo các điều kiện do luật định.

Điều 39

(1) Mọi công dân có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc theo các điều kiện do luật định.

(2) Không công dân nào bị đối xử bất lợi do thực hiện các nghĩa vụ quân sự của mình.

Chương III:

QUỐC HỘI

Điều 40

Quyền lập pháp được trao cho Quốc hội.

Điều 41

(1) Quốc hội bao gồm các đại biểu do nhân dân bầu ra theo phương thức phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

(2) Số lượng đại biểu Quốc hội do luật định nhưng không được ít hơn 200 người.

(3) Các đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, tỷ lệ đại diện và các vấn đề khác liên quan đến bầu cử Quốc hội sẽ do luật định.

Điều 42

Nhiệm kỳ đại biểu Quốc hội là bốn năm.

Điều 43

Các đại biểu Quốc hội không thể đồng thời giữ bất kỳ chức vụ nào khác theo luật định.

Điều 44

(1) Trong thời gian kỳ họp của Quốc hội, không đại biểu Quốc hội nào bị bắt hoặc giam giữ mà không có sự đồng ý của Quốc hội, ngoại trừ trường hợp phạm tội quả tang.

(2) Trong trường hợp một đại biểu Quốc hội bị bắt hoặc giam giữ trước khi khai mạc một kỳ họp Quốc hội, đại biểu đó phải được trả tự do trong thời gian của kỳ họp theo yêu cầu của Quốc hội, ngoại trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Điều 45

Không đại biểu Quốc hội nào phải chịu trách nhiệm bên ngoài Quốc hội về các ý kiến chính thức đã phát biểu hoặc về việc bỏ phiếu của mình tại Quốc hội.

Điều 46

(1) Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ duy trì chuẩn mực cao về liêm chính.

(2) Đại biểu Quốc hội phải ưu tiên lợi ích quốc gia và thực hiện các nhiệm vụ của mình phù hợp với lương tâm.

(3) Đại biểu Quốc hội không được thông qua việc lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình để đòi hỏi các lợi ích về tài sản hoặc chức vụ, hay giúp người khác làm điều tương tự qua các hợp đồng hoặc qua việc xử lý công việc của Nhà nước, các tổ chức công quyền hoặc các ngành công nghiệp.

Điều 47

(1) Phiên họp thường lệ của Quốc hội được triệu tập mỗi năm một lần theo các điều kiện do luật định, và các phiên bất thường của Quốc hội có thể được triệu tập theo yêu cầu của Tổng thống hoặc ít nhất một phần tư tổng số đại biểu.

(2) Thời gian của kỳ họp thường lệ không được vượt quá một trăm ngày và thời gian của kỳ họp bất thường không quá ba mươi ngày.

(3) Nếu Tổng thống yêu cầu triệu tập một kỳ họp bất thường, thời gian và lý do yêu cầu kỳ họp phải được nêu rõ.

Điều 48

Quốc hội bầu ra một Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch.

Điều 49

Trừ trường hợp Hiến pháp hoặc luật quy định khác, sự có mặt của đa số trong tổng số đại biểu và sự đồng thuận của đa số đại biểu có mặt là điều kiện cần thiết để Quốc hội ra các quyết định. Trong trường hợp có số phiếu ngang nhau, vấn đề được coi là không được Quốc hội thông qua.

Điều 50

(1) Các kỳ họp của Quốc hội được công khai cho công chúng, trừ trường hợp đa số thành viên có mặt quyết định, hoặc khi Chủ tịch Quốc hội xét thấy cần thiết vì lợi ích an ninh quốc gia thì Quốc hội có thể họp kín.

(2) Việc công khai tiến trình của các phiên họp kín sẽ do luật định.

Điều 51

Dự án luật và các vấn đề khác trình Quốc hội thảo luận không thể bị loại bỏ do chúng không được thông qua trong kỳ họp mà chúng đã được trình, ngoại trừ trong trường hợp nhiệm kỳ của các đại biểu Quốc hội đã hết.

Điều 52

Quyền đệ trình các dự án luật thuộc về các đại biểu Quốc hội và cơ quan Hành pháp.

Điều 53

(1) Dự án luật đã được Quốc hội thông qua phải được gửi đến cơ quan Hành pháp, và Tổng thống phải công bố dự án luật đó trong thời hạn mười lăm ngày.

(2) Trong trường hợp phản đối dự luật, trong thời hạn nêu tại khoản (1),Tổng thống có thể chuyển dự luật trở lại Quốc hội với văn bản giải thích sự phản đối của mình và yêu cầu xem xét lại. Tổng thống cũng có thể thực hiện việc này trong thời gian Quốc hội không họp.

(3) Tổng thống không được yêu cầu Quốc hội xem xét lại từng phần của dự luật hoặc kèm theo các đề xuất sửa đổi.

(4) Trong trường hợp có yêu cầu, Quốc hội phải xem xét lại dự luật, nếu Quốc hội lại thông qua bản gốc dự luật với sự có mặt của hơn một nửa tổng số thành viên và với sự nhất trí của tối thiểu hai phần ba đại biểu có mặt, dự án luật đó sẽ trở thành luật.

(5) Nếu Tổng Thống không công bố dự luật, hoặc không có yêu cầu Quốc hội xem xét lại dự luật trong thời hạn nêu tại khoản (1), dự án luật đó sẽ trở thành luật.

(6) Đối với các dự án luật đã được chung quyết theo quy định tại khoản (4) và (5), Tổng thống phải công bố luật một cách không chậm trễ. Nếu Tổng Thống không công bố một đạo luật trong thời hạn năm ngày sau khi đã trở thành luật theo quy định tại khoản (5), hoặc sau khi nó đã được gửi trở lại cơ quan Hành pháp theo quy định tại khoản (4), Chủ tịch Quốc hội sẽ công bố đạo luật này.

(7) Trừ khi có quy định khác, một đạo luật có hiệu lực từ thời điểm hai mươi ngày sau ngày được công bố.

Điều 54

(1) Quốc hội thảo luận và quyết định về dự luật ngân sách quốc gia.

(2) Cơ quan Hành pháp soạn thảo dự luật ngân sách cho mỗi năm tài chính và đệ trình Quốc hội trong thời hạn chín mươi ngày trước ngày bắt đầu của năm tài chính mới. Quốc hội quyết định về dự luật ngân sách quốc gia trong vòng ba mươi ngày trước ngày bắt đầu năm tài chính mới.

(3) Nếu dự luật ngân sách quốc gia không được thông qua trước khi bắt đầu năm tài chính, trên cơ sở ngân sách của năm tài chính trước đó, cơ quan Hành pháp có thể giải ngân cho các mục đích sau đây cho đến khi dự luật ngân sách được thông qua bởi Quốc hội:

1) Duy trì và vận hành hoạt động của các cơ quan và các cơ sở được thành lập theo Hiến pháp hoặc các đạo luật;

2) Thực hiện các khoản chi bắt buộc theo quy định của pháp luật; và

3) Tiếp tục các dự án trước đó đã được phê duyệt trong ngân sách.

Điều 55

(1) Trong trường hợp cần phải thực hiện một khoản chi trong thời gian dài hơn một năm tài chính, cơ quan Hành pháp cần có sự chấp thuận của Quốc hội với khoảng thời hạn chi được xác định cụ thể.

(2) Quốc hội phê duyệt tổng thể việc duy trì một quỹ dự trữ. Việc chi tiêu của quỹ dự trữ sẽ được phê chuẩn trong kỳ họp tiếp theo của Quốc hội.

Điều 56

Khi cần thiết phải sửa đổi ngân sách, Cơ quan Hành pháp có thể xây dựng một dự luật ngân sách bổ sung sửa đổi và đệ trình Quốc hội.

Điều 57

Khi không có sự đồng ý của Cơ quan Hành pháp, Quốc hội sẽ không được tăng số tiền của bất kỳ khoản chi nào cũng như không tạo ra bất kỳ mục chi mới nào trong ngân sách đã được Cơ quan Hành pháp đệ trình.

Điều 58

Khi Cơ quan Hành pháp lập kế hoạch phát hành trái phiếu quốc gia hoặc ký kết hợp đồng mà có thể phát sinh nghĩa vụ tài chính đối với quốc gia ngoài ngân sách, thì cần phải được Quốc hội phê chuẩn trước.

Điều 59

Các loại thuế và mức thuế sẽ do luật định.

Điều 60

(1) Quốc hội có quyền thông qua việc ký kết và phê chuẩn các điều ước quốc tế liên quan đến tương trợ và hỗ trợ an ninh; các điều ước quốc tế liên quan đến các tổ chức quốc tế quan trọng; các điều ước hữu nghị, thương mại và hàng hải; các điều ước quốc tế liên quan đến bất kỳ sự hạn chế nào về chủ quyền; các điều ước hòa bình; các điều ước quốc tế phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng đối với Nhà nước hoặc nhân dân; và các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề lập pháp.

(2) Quốc hội cũng có quyền phê chuẩn việc tuyên bố chiến tranh, việc gửi lực lượng vũ trang ra nước ngoài và việc đóng quân của lực lượng đồng minh nước ngoài trên lãnh thổ Hàn Quốc.

Điều 61

(1) Quốc hội có thể kiểm tra công việc của nhà nước hoặc điều tra những vấn đề cụ thể trong hoạt động của nhà nước, có quyền yêu cầu việc đệ trình các tài liệu liên quan trực tiếp đến các vấn đề đó, có quyền yêu cầu sự có mặt của một nhân chứng để cung cấp chứng cứ hoặc báo cáo quan điểm.

(2) Các thủ tục và các vấn đề cần thiết khác liên quan đến việc kiểm tra và điều tra hành chính nhà nước sẽ do luật định.

Điều 62

(1) Thủ tướng Chính phủ, các thành viên của Hội đồng Nhà nước, hoặc các đại diện của Chính phủ có thể tham dự các cuộc họp của Quốc hội hoặc các ủy ban Quốc hội và báo cáo về công việc quản lý nhà nước, hoặc nêu các ý kiến và trả lời các câu hỏi.

(2) Khi có yêu cầu của Quốc hội hoặc các ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên của Hội đồng Nhà nước, các đại diện của Chính phủ phải tham dự bất kỳ cuộc họp nào của Quốc hội và trả lời các câu hỏi. Nếu Thủ tướng Chính phủ hoặc thành viên Hội đồng Nhà nước được yêu cầu tham dự, Thủ tướng Chính phủ hoặc thành viên Hội đồng Nhà nước có thể có các thành viên Hội đồng Nhà nước hoặc các đại diện của Chính phủ tham dự các cuộc họp của Quốc hội và trả lời câu hỏi.

Điều 63

(1) Quốc hội có thể thông qua một đề nghị bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ hoặc một thành viên Hội đồng Nhà nước.

(2) Để đưa ra một đề nghị bãi nhiệm như quy định tại khoản (1) cần phải có sự nhất trí của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội và đề nghị đó chỉ được thông qua với số phiếu nhất trí của đa số trong tổng số các đại biểu Quốc hội.

Điều 64

(1) Quốc hội có thể xây dựng các quy định về thủ tục làm việc và các nội quy của mình nhưng không được mâu thuẫn với luật.

(2) Quốc hội có thể xem xét các tư cách của các đại biểu và có thể có thể thực hiện các hình thức kỷ luật đối với các đại biểu.

(3) Việc bãi nhiệm một đại biểu Quốc hội cần phải có sự chấp thuận của tối thiểu hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội trong một cuộc biểu quyết.

(4) Các quyết định được thực hiện theo quy định tại khoản (2) và (3) sẽ không thể được đưa ra xem xét tại tòa án.

Điều 65

(1) Trong trường hợp Tổng thống, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên của Hội đồng Nhà nước, Bộ trưởng, các thẩm phán Tòa án Hiến pháp, các thẩm phán, các thành viên của Ủy ban Bầu cử Trung ương, Chủ tịch và các thành viên của Ban Kiểm toán và Thanh tra, và các công chức khác theo luật định đã vi phạm Hiến pháp hay luật khác trong khi thực thi công vụ, Quốc hội có thể thông qua một đề xuất để đàn hạch.

(2) Đề xuất đàn hạch theo quy định tại khoản (1) có thể được đề nghị bởi tối thiểu một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội và cần có sự chấp thuận của đa số trong tổng số đại biểu Quốc hội để thông qua. Riêng đối với trường hợp đề xuất đàn hạch Tổng thống, cần được đề nghị bởi đa số trong tổng số đại biểu Quốc hội và phải được chấp thuận bởi tối thiểu là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội.

(3) Khi một đề xuất đàn hạch được thông qua, người bị đề xuất đàn hạch sẽ bị đình chỉ thực hiện quyền hạn của mình cho đến khi việc đàn hạch được kết luận.

(4) Hệ quả của quyết định đàn hạch không được mở rộng ra ngoài việc bãi nhiệm khỏi công vụ nhưng không miễn trừ người bị đàn hạch khỏi trách nhiệm dân sự hoặc hình sự.

Chương IV:

CƠ QUAN HÀNH PHÁP

Mục 1:

Tổng thống

Điều 66

(1) Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và đại diện nhà nước trong quan hệ đối ngoại.

(2) Tổng thống có các nghĩa vụ và trách nhiệm bảo đảm độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và duy trì Nhà nước và Hiến pháp.

(3) Tổng thống có trách nhiệm theo đuổi một cách chân thành việc thống nhất hòa bình đất nước.

(4) Quyền Hành pháp được trao cho nhánh Hành pháp do Tổng thống đứng đầu.

Điều 67

(1) Tổng thống do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

(2) Trong trường hợp có hơn hai người nhận được số phiếu lớn nhất như nhau trong cuộc bầu cử như nêu tại khoản (1), người nhận được số phiếu lớn hơn tại một phiên họp công khai của Quốc hội có sự tham dự bởi đa số của tổng số đại biểu Quốc hội sẽ trúng cử.

(3) Nếu chỉ có một ứng cử viên tổng thống, người này sẽ không được bầu làm Tổng thống trừ khi nhận được tối thiểu là một phần ba số phiếu của tất cả các cử tri có đủ điều kiện bầu cử.

(4) Các công dân đủ điều kiện được bầu vào Quốc hội và đã từ đủ bốn mươi tuổi vào ngày bầu cử tổng thống, có thể được bầu làm tổng thống.

(5) Các vấn đề liên quan đến bầu cử tổng thống do luật định.

Điều 68

(1) Tổng thống kế nhiệm phải được bầu xong trong vòng từ bảy mươi đến bốn mươi ngày trước ngày nhiệm kỳ Tổng thống đương nhiệm kết thúc.

(2) Trong trường hợp chức vụ Tổng thống bị bỏ trống hoặc Tổng thống đã được bầu đã chết, hoặc bị miễn nhiệm bởi một phán quyết của tòa án hoặc vì bất kỳ lý do nào khác, một người kế nhiệm sẽ được bầu trong vòng sáu mươi ngày.

Điều 69

Vào thời điểm nhậm chức, Tổng thống sẽ có lời tuyên thệ như sau: “Tôi trịnh trọng tuyên thệ trước nhân dân rằng tôi sẽ trung thành thực thi nhiệm vụ của Tổng thống bằng việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ đất nước, theo đuổi việc thống nhất tổ quốc một cách hòa bình, thúc đẩy tự do và thịnh vượng của nhân dân và nỗ lực phát triển văn hóa dân tộc.”

Điều 70

Nhiệm kỳ Tổng thống là năm năm và Tổng thống không thể được bầu lại.

Điều 71

Nếu chức vụ Tổng thống bị bỏ trống hoặc Tổng thống không thể thực thi nhiệm vụ của mình vì bất kỳ lí do nào, Thủ tướng hoặc các thành viên của Hội đồng Nhà nước sẽ thực thi công việc của Tổng thống lần lượt theo thứ tự do luật định.

Điều 72

Tổng thống có thể đệ trình các chính sách quan trọng liên quan đến ngoại giao, quốc phòng, thống nhất đất nước và các vấn đề khác liên quan đến vận mệnh quốc gia để trưng cầu ý dân nếu thấy cần thiết.

Điều 73

Tổng thống ký kết và phê chuẩn các điều ước, bổ nhiệm và đón nhận các phái đoàn ngoại giao, tuyên chiến và ký các hiệp định hòa bình.

Điều 74

(1) Tổng thống là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang theo các điều kiện quy định bởi Hiến pháp và luật.

(2) Việc hình thành và cách thức tổ chức các lực lượng vũ trang do luật định.

Điều 75

Tổng thống có thể ban hành sắc lệnh tổng thống liên quan đến các vấn đề mà Tổng thống được ủy quyền theo luật định với phạm vi được xác định cụ thể và đối với các vấn đề cần thiết phải thực thi các luật.

Điều 76

(1) Trong thời gian đất nước có nội loạn, có hiểm họa ngoại xâm, thảm họa thiên nhiên hoặc khủng hoảng tài chính hoặc kinh tế, Tổng thống có thể thực thi các biện pháp tài chính và kinh tế tối thiểu cần thiết hoặc ban hành các sắc lệnh có hiệu lực như luật khi cần phải có các biện pháp khẩn cấp để duy trì an ninh quốc gia an toàn và trật tự công cộng và không có thời gian đợi quyết định của Quốc hội.

(2) Trong trường hợp có các hoạt động thù địch ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và không thể triệu tập Quốc hội, Tổng thống có thể ban hành các sắc lệnh có hiệu lực như luật khi cần thiết để bảo đảm sự toàn vẹn của quốc gia.

(3) Trong trường hợp thực thi các hành động hoặc ban hành các sắc lệnh theo quy định tại khoản (1) và (2), Tổng thống sẽ nhanh chóng thông báo cho Quốc hội để Quốc hội thông qua.

(4) Nếu Quốc hội không thông qua, các hành động và sắc lệnh sẽ bị hủy bỏ. Trong các trường hợp đó, các luật bị sửa đổi hoặc bị bãi bỏ bởi sắc lệnh có liên quan sẽ tự động phục hồi hiệu lực áp dụng ban đầu vào thời điểm các sắc lệnh không được thông qua.

(5) Tổng thống phải nhanh chóng công bố các bước thực thi theo quy định tại các khoản (3) và (4).

Điều 77

(1) Khi cần thiết phải đối phó về mặt quân sự hoặc để duy trì trật tự và an toàn công cộng và nhằm huy động lực lượng quân sự vào thời điểm chiến tranh, xung đột vũ trang hoặc tình trạng khẩn cấp tương tự, Tổng thống có thể tuyên bố thiết quân luật theo các điều kiện do luật định.

(2) Thiết quân luật sẽ có hai dạng: thiết quân luật bất thường và thiết quân luật phòng vệ.

(3) Trong trường hợp thiết quân luật bất thường, các biện pháp đặc biệt có thể được thực hiện bao gồm những việc liên quan đến lệnh bắt giam, tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và lập hội hoặc các quyền của Cơ quan Hành pháp và Cơ quan Tư pháp theo các điều kiện do luật định.

(4) Khi Tổng thống ban bố thiết quân luật, Tổng thống cần phải thông báo ngay lập tức cho Quốc hội.

(5) Khi Quốc hội yêu cầu bãi bỏ thiết quân luật với sự đồng ý của đa số phiếu của tổng số đại biểu Quốc hội, Tổng thống phải phục tùng.

Điều 78

Tổng thống bổ nhiệm và bãi miễn các công chức theo các điều kiện quy định bởi Hiến pháp và luật.

Điều 79

(1) Tổng thống có thể quyết định đặc xá, giảm án, phục hồi các quyền theo các điều kiện do luật định.

(2) Tổng thống cần sự đồng thuận của Quốc hội khi quyết định đặc xá.

(3) Các vấn đề liên quan đến đặc xá, giảm án, phục hồi các quyền do luật định.

Điều 80

Tổng thống trao các tước vị và danh hiệu theo các điều kiện do luật định.

Điều 81

Tổng thống có thể tham gia và trình bày trước Quốc hội hoặc nêu quan điểm của mình bằng văn bản.

Điều 82

Các quyết định của Tổng thống theo luật định được thực hiện dưới hình thức văn bản và các văn kiện đó phải được tiếp ký bởi Thủ tướng và các thành viên Hội đồng Nhà nước có liên quan. Điều này cũng áp dụng đối với các vấn đề quân sự.

Điều 83

Tổng thống không thế đồng thời giữ chức vụ Thủ tướng, thành viên Hội đồng Nhà nước, người đứng đầu một Bộ hoặc các vị trí công vụ hoặc tư nhân nào khác theo luật định.

Điều 84

Tổng thống không thể bị truy tố về hình sự trong thời gian tại vị trừ tội phản quốc hoặc hoạt động lật đổ.

Điều 85

Các vấn đề liên quan đến địa vị và ưu đãi đối với các cựu Tổng thống do luật định.

Mục 2:

Chính phủ

Tiểu mục 1:

Thủ tướng và các thành viên Hội đồng Nhà nước

Điều 86

(1) Thủ tướng được Tổng thống bổ nhiệm và Quốc hội phê chuẩn.

(2) Thủ tướng có trách nhiệm hỗ trợ Tổng thống và điều hành các Bộ theo chỉ đạo của Tổng thống.

(3) Không có người nào trong quân đội có thể được bổ nhiệm làm Thủ tướng trừ khi người đó đã từ nhiệm.

Điều 87

(1) Các thành viên của Hội đồng Nhà nước được Tổng thống bổ nhiệm theo đề xuất của Thủ tướng.

(2) Các thành viên của Hội đồng Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ Tổng thống trong việc thực hiện các công việc của nhà nước và có trách nhiệm thảo luận về các công việc của nhà nước khi tham gia tập thể Hội đồng Nhà nước.

(3) Thủ tướng có thể đề nghị Tổng thống miễn nhiệm thành viên Hội đồng Nhà nước.

(4) Không thành viên nào của quân đội có thể được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng Nhà nước trừ khi người đó đã từ nhiệm.

Tiểu mục 2:

Hội đồng Nhà nước

Điều 88

(1) Hội đồng Nhà nước thảo luận các chính sách quan trọng thuộc thẩm quyền của cơ quan Hành pháp.

(2) Hội đồng Nhà nước bao gồm Tổng thống, Thủ tướng và các thành viên khác với số lượng tối thiểu là mười lăm và tối đa là ba mươi người.

(3) Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Thủ tướng là Phó Chủ tịch.

Điều 89

Hội đồng Nhà nước sẽ thảo luận các vấn đề sau đây:

1) Các kế hoạch cơ bản của quốc gia và các chính sách chung của Hành pháp;

2) Tuyên chiến, kí kết hiệp định hòa bình, và các vấn đề quan trọng khác liên quan đến chính sách đối ngoại.

3) Soạn thảo các sửa đổi Hiến pháp, các đề xuất trưng cầu ý dân, các điều ước, các dự luật và các sắc lệnh tổng thống;

4) Ngân sách, các khoản chi tiêu, các kế hoạch cơ bản sử dụng tài sản nhà nước, các hợp đồng phát sinh nghĩa vụ tài chính của Nhà nước và các vấn đề tài chính quan trọng khác;

5) Các sắc lệnh, các quyết định tài chính và kinh tế khẩn cấp của Tổng thống, các tuyên bố áp dụng và bãi bỏ thiết quân luật;

6) Các vấn đề quân sự quan trọng;

7) Yêu cầu triệu tập các phiên họp bất thường của Quốc hội;

8) Trao tặng danh hiệu;

9) Quyết định đặc xá, giảm án và phục hồi các quyền;

10) Xác định thẩm quyền giữa các Bộ;

11) Các kế hoạch cơ bản liên quan đến trao quyền và ủy quyền trong cơ quan Hành pháp;

12) Phân tích và đánh gia hoạt động quản lý Nhà nước;

13) Thành lập và điều phối các chính sách cơ bản của các Bộ;

14) Thực hiện thủ tục giải tán một chính đảng;

15) Xem xét các kiến nghị liên quan đến các chính sách hành chính được đệ trình hoặc chuyển đến Hành pháp;

16) Bổ nhiệm Tổng Chưởng lý, Tổng tham mưu trưởng Liên quân, Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang, hiệu trưởng các trường đại học quốc gia, các đại sứ, các công chức và các nhà quản lý các doanh nghiệp nhà nước quan trọng theo luật định; và

17) Các vấn đề khác do Tổng thống, Thủ tướng hoặc một thành viên Hội đồng Nhà nước đệ trình.

Điều 90

(1) Hội đồng Cố vấn Chính trị gia Lão thành bao gồm các chính trị gia lão thành, có thể được thành lập để cố vấn cho Tổng thống về các vấn đề quan trọng của quốc gia.

(2) Tổng thống tiền nhiệm kế trước sẽ là Chủ tịch của Hội đồng Cố vấn Chính trị gia Lão thành; khi không có Tổng thống tiền nhiệm kế trước, Tổng thống sẽ bổ nhiệm Chủ tịch.

(3) Tổ chức, chức năng và các vấn đề cần thiết khác của Hội đồng Cố vấn Chính trị gia Lão thành do luật định.

Điều 91

(1) Hội đồng An ninh Quốc gia được thành lập để cố vấn cho Tổng thống về việc hình thành các chính sách đối nội, đối ngoại và quân sự liên quan đến an ninh quốc gia trước khi chuyển đến để Hội đồng Nhà nước thảo luận.

(2) Các cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia do Tổng thống chủ tọa.

(3) Tổ chức, chức năng và các vấn đề cần thiết khác của Hội đồng An ninh Quốc gia do luật định.

Điều 92

(1) Hội đồng Cố vấn về Thống nhất Dân chủ và Hòa bình có thể được thành lập để cố vấn cho Tổng thống về việc hình thành chính sách thống nhất hòa bình.

(2) Tổ chức, chức năng và các vấn đề cần thiết khác của Hội đồng Cố vấn về Thống nhất Dân chủ và Hòa bình được luật quy định.

Điều 93

(1) Hội đồng Cố vấn Kinh tế Quốc gia có thể được thành lập để cố vấn cho Tổng thống về việc hình thành các chính sách quan trọng cho việc phát triển kinh tế quốc gia.

(2) Tổ chức, chức năng và các vấn đề cần thiết khác của Hội đồng Cố vấn Kinh tế Quốc gia do luật quy định.

Tiểu mục 3:

Các Bộ

Điều 94

Bộ trưởng được Tổng thống bổ nhiệm trong số các thành viên của Hội đồng Nhà nước theo đề nghị của Thủ tướng.

Điều 95

Theo thẩm quyền được quy định bởi luật hoặc sắc lệnh của Tổng thống hoặc thuộc thẩm quyền đương nhiên của mình, Thủ tướng hoặc Bộ trưởng có thể ban hành pháp lệnh của Thủ tướng hoặc của Bộ về các vấn đề thuộc phạm thẩm quyền của mình.

Điều 96

Việc thành lập, tổ chức và chức năng của mỗi Bộ do luật định.

Tiểu mục 4:

Ban Kiểm toán và Thanh tra

Điều 97

Ban Kiểm toán và Thanh tra được thành lập trực thuộc Tổng thống để thanh tra và kiểm tra việc thực hiện các khoản thu và chi của Nhà nước, tài khoản quốc gia, và các tổ chức khác theo luật định và việc thực thi công việc của các cơ quan hành pháp và công chức.

Điều 98

(1) Ban Kiểm toán và Thanh tra gồm có tối thiểu là năm và tối đa là mười một thành viên bao gồm cả Chủ tịch.

(2) Chủ tịch Ban do Tổng thống bổ nhiệm với sự phê chuẩn của Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch là bốn năm và chỉ có thể được tái bổ nhiệm một lần.

(3) Các thành viên của Ban được Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch. Nhiệm kỳ của các thành viên là bốn năm và chỉ có thể được tái bổ nhiệm một lần.

Điều 99

Ban Kiểm toán và Thanh tra sẽ thanh tra việc đóng các tài khoản thu chi hàng năm và báo cáo kết quả cho Tổng thống và Quốc hội trong năm tiếp sau.

Điều 100

Tổ chức và chức năng của Ban Kiểm toán và Thanh tra, tiêu chuẩn của các thành viên, phạm vi các công chức thuộc đối tượng bị thanh tra và những vấn đề cần thiết khác sẽ do luật định.

Chương V :

TOA ÁN

(1) Quyền lực tư pháp được trao cho tòa án bao gồm các thẩm phán.

(2) Các tòa án bao gồm Tòa án Tối cao là tòa án cao nhất của Nhà nước, và các tòa án các cấp.

(3) Tiêu chuẩn của các thẩm phán do luật định.

Điều 102

(1) Các bộ phận phụ trách chuyên môn có thể được thành lập trong Tòa án Tối cao.

(2) Tòa án Tối cao có các thẩm phán Tòa án Tối cao. Luật sẽ quy định các điều kiện để bổ nhiệm các thẩm phán khác vào Tòa án Tối cao.

(3) Cơ cấu tổ chức của Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới do luật định.

Điều 103

Thẩm phán xét xử độc lập theo lương tâm và theo đúng quy định của Hiến pháp và luật.

Điều 104

(1) Chánh án Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội.

(2) Các Thẩm phán Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm theo đề xuất của Chánh án và với sự đồng ý của Quốc hội.

(3) Các Thẩm phán khác do Chánh án Tòa án Tối cao bổ nhiệm với sự đồng ý của Hội nghị Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Điều 105

(1) Nhiệm kỳ của Chánh án là sáu năm và không thể được tái bổ nhiệm.

(2) Nhiệm kỳ của thẩm phán của Tòa án Tối cao là sáu năm và có thể được tái bổ nhiệm theo luật định.

(3) Nhiệm kỳ của các thẩm phán khác là mười năm và có thể được tái bổ nhiệm theo các điều kiện do luật định.

(4) Tuổi nghỉ hưu của các thẩm phán sẽ luật định.

Điều 106

(1) Không thẩm phán nào bị bãi miễn ngoại trừ trường hợp bị đàn hạch hoặc bị kết án phạt tù không kèm bắt buộc lao động hoặc bị kết án nặng hơn. Không thẩm phán nào bị ngưng chức vụ, bị giảm lương, hoặc phải chịu bất kỳ hình thức bất lợi nào trừ khi bị kỷ luật.

(2) Trong trường hợp một thẩm phán không thể tiếp tục thực thi công việc do hạn chế về thể chất hoặc tinh thần, người này có thể từ nhiệm theo các điều kiện do luật định.

Điều 107

(1) Khi tính hợp hiến của một đạo luật được xem xét tại tòa, tòa án sẽ đề nghị Tòa án Hiến pháp ra phán quyết và sẽ xét xử căn cứ vào phán quyết đó.

(2) Tòa án Tối cao có quyền đưa ra phán quyết cuối cùng về tính hợp hiến hoặc tính hợp pháp của các nghị định, quy định hoặc hành vi hành chính, khi tính hợp hiến hoặc hợp pháp của chúng được xem xét tại tòa.

(3) Thủ tục khiếu nại hành chính có thể được thực hiện trước khi tiến hành một phiên tòa tư pháp. Thủ tục khiếu nại hành chính do luật định và phải phù hợp với các nguyên tắc của trình tự tố tụng.

Điều 108

Trong khuôn khổ luật định, Tòa án Tối cao có thể xây dựng các quy định về trình tự tư pháp, kỷ luật nội bộ và các quy định về các vấn đề hành chính của tòa án.

Điều 109

Việc xét xử và các phán quyết của toà án phải được công khai. Trường hợp phiên tòa có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia hay tổn hại đến an toàn và trật tự công cộng, hoặc có thể tổn hại đến luân lý cộng đồng các phiên tòa có thể được xử kín theo quyết định của tòa án.

Điều 110

(1) Các tòa án quân sự có thể được thành lập như là các tòa đặc biệt để thực thi thẩm quyền tư pháp đối với các vụ án quân sự.

(2) Tòa án Tối cao có quyền phán quyết chung thẩm đối với các bản án của tòa án quân sự.

(3) Tổ chức và thẩm quyền của tòa án quân sự, các tiêu chuẩn của thẩm phán tòa án quân sự do luật quy định.

(4) Trừ các vụ án bị tuyên tử hình, các vụ án quân sự trong thời gian thiết quân luật bất thường không thể bị kháng cáo trong các vụ án do quân nhân, công chức quốc phòng phạm tội; các vụ án gián điệp quân sự; và các tội phạm khác được luật quy định liên quan đến việc canh gác, đặt vị trí gác, cung cấp thức ăn hoặc đồ uống độc hại, tù nhân chiến tranh.

Chương VI:

TÒA ÁN HIÉN PHÁP

Điều 111

(1) Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền về các vụ việc sau:

1) Tính hợp hiến của luật theo đề nghị của các tòa án;

2) Đàn hạch;

3) Giải tán một chính đảng;

4) Tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước với chính quyền địa phương, và giữa các cơ quan nhà nước địa phương, và

5) Các vụ việc liên quan đến Hiến pháp do luật định.

(2) Tòa án Hiến pháp có chín thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm và phải đáp ứng đủ các điều kiện trở thành thẩm phán.

(3) Trong số các thẩm phán được quy định tại đoạn (2), ba người được bổ nhiệm trong số những người được Quốc hội lựa chọn, và ba người do Chánh án Tòa án Tối cáo đề cử.

(4) Tổng thống bổ nhiệm người đứng đầu Tòa án Hiến pháp từ một trong số các thẩm phán với sự chấp thuận của Quốc hội.

Điều 112

(1) Nhiệm kỳ thẩm phán của Tòa án Hiến pháp là sáu năm có thể được tái bổ nhiệm theo các điều kiện do luật định.

(2) Các thẩm phán Tòa án Hiến pháp không được tham gia vào bất kỳ chính đảng nào hay tham gia vào các hoạt động chính trị.

(3) Thẩm phán Tòa án Hiến pháp không thể bị bãi miễn trừ trường hợp bị đàn hạch hoặc bị kết án phạt tù không kèm bắt buộc lao động hoặc hình phạt nặng hơn.

Điều 113

(1) Để ra một phán quyết tại Tòa án Hiến pháp về tính bất hợp hiến của một đạo luật, quyết định đàn hạch, quyết định giải tán một chính đảng hoặc ra các quyết định chung quyết về các vụ việc liên quan đến Hiến pháp, phải có mặt đồng thời của ít nhất sáu thẩm phán.

(2) Trong khuôn khổ luật định, Tòa án Hiến pháp có thể xây dựng các quy định về thủ tự làm việc, kỷ luật nội bộ và các quy định về các vấn đề hành chính của tòa án.

(3) Tổ chức, chức năng và các vấn đề cần thiết khác của Tòa án Hiến pháp sẽ do luật định.

Chương VII:

ĐIỀU HÀNH BẦU CỬ

Điều 114

(1) Các Ủy ban Bầu cử được thành lập với mục đích điều hành công bằng các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân toàn quốc và xử lý các vấn đề hành chính liên quan đến các chính đảng.

(2) Ủy ban Bầu cử Quốc gia gồm có ba thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, ba thành viên do Quốc hội lựa chọn và ba thành viên do Chánh án Tòa án Tối cao lựa chọn. Chủ tịch của Ủy ban được bầu trong số các thành viên.

(3) Nhiệm kỳ của thành viên Ủy ban là sáu năm.

(4) Các thành viên Ủy ban không được tham gia các chính đảng hoặc tham gia vào các hoạt động chính trị.

(5) Không thành viên nào của Ủy ban có thể bị bãi miễn trừ khi bị đàn hạch hoặc bị kết án phạt tù không kèm lao động bắt buộc hoặc nặng hơn.

(6) Trong phạm vi các quy định của luật và các sắc lệnh, Ủy ban Bầu cử Quốc gia có thể ban hành nghị định và các quy định liên quan đến quản lý bầu cử, các cuộc trưng cầu ý dân và các vấn đề hành chính liên quan đến các chính đảng và cũng có thể thiết lập các quy định liên quan đến kỷ luật nội bộ phù hợp với các quy định của luật.

(7) Tổ chức, chức năng và các vấn đề quan trọng khác của Ủy ban Bầu cử các cấp sẽ do luật định.

Điều 115

(1) Ủy ban Bầu cử mỗi cấp có thể đưa ra các hướng dẫn cần thiết cho các cơ quan nhà nước liên quan đến các công việc hành chính về bầu cử và trưng cầu ý dân, chẳng hạn như việc chuẩn bị danh sách cử tri.

(2) Khi nhận được các hướng dẫn nói trên, các cơ quan nhà nước liên quan phải đảm bảo tuân thủ.

Điều 116

(1) Các chiến dịch tranh cử được thực hiện dưới sự điều hành của Ủy ban Bầu cử mỗi cấp trong phạm vi luật định. Sự bình đẳng về cơ hội cần phải được bảo đảm.

(2) Trừ khi luật quy định khác, các chính đảng và các ứng cử viên không phải chịu chi phí cho các cuộc bầu cử.

Chương VIII:

TỰ QUẢN ĐỊA PHƯƠNG

Điều 117

(1) Trong phạm vi luật hoặc các văn bản dưới luật quy định, chính quyền địa phương sẽ giải quyết các vấn đề hành chính liên quan đến an sinh của dân cư địa phương, quản lý tài sản và có thể ban hành các quy định liên quan đến tự quản địa phương.

(2) Các loại chính quyền địa phương sẽ do luật định.

Điều 118

(1) Trong chính quyền địa phương sẽ có một hội đồng.

(2) Tổ chức và thẩm quyền của các hội đồng địa phương, việc bầu cử các thành viên, thủ tục bầu cử người đứng đầu chính quyền địa phương và các vấn đề khác liên quan đến tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương sẽ do luật định.

Chương IX:

KINH TẾ

Điều 119

(1) Trật tự kinh tế của Cộng hòa Hàn Quốc được dựa trên sự tôn trọng tự do và sáng tạo của các doanh nghiệp và cá nhân trong các hoạt động kinh tế.

(2) Nhà nước có thể kiểm soát và điều phối các hoạt động kinh tế nhằm duy trì sự tăng trưởng cân bằng và ổn định của nền kinh tế quốc dân, nhằm phân phối thu nhập, ngăn chặn sự thống lĩnh thị trường và lạm quyền kinh tế và để dân chủ hóa nền kinh tế thông qua sự hòa hợp giữa các chủ thể kinh tế.

Điều 120

(1) Giấy phép khai thác, phát triển và tận dụng khoáng sản và các nguồn tài nguyên quan trọng trong lòng đất khác, tài nguyên dưới biển, thủy điện và năng lượng tự nhiên sẵn có cho mục đích kinh tế có thể được trao trong một thời hạn theo các điều kiện do luật định.

(2) Đất đai và các tài nguyên thiên nhiên được Nhà nước bảo vệ và Nhà nước phải xây dựng một kế hoạch cần thiết để đảm bảo sự phát triển và tận dụng tài nguyên.

Điều 121

(1) Nhà nước phải nỗ lực thực hiện nguyên tắc đất nông nghiệp thuộc về nông dân. Phát canh thu tô bị cấm.

(2) Việc cho thuê đất nông nghiệp, phó thác quản lý đất nông nghiệp để tăng sản lượng nông nghiệp và bảo đảm việc sử dụng hợp lý đất nông nghiệp hoặc do các hoàn cảnh không thể tránh khỏi sẽ được thực hiện theo các điều kiện do luật định.

Điều 122

Theo các điều kiện do luật định, Nhà nước có thể đặt ra các giới hạn hoặc nghĩa vụ cần thiết cho việc sử dụng, phát triển và bảo quản hiệu quả và cân bằng nguồn đất đai của quốc gia, vì đó là nền tảng của các hoạt động sản xuất và đời sống hàng ngày của mọi công dân.

Điều 123

(1) Nhà nước phải xây dựng và thực hiện một kế hoạch để phát triển và hỗ trợ toàn diện cộng đồng nông dân và ngư dân nhằm bảo vệ và thúc đẩy nông nghiệp và ngư nghiệp.

(2) Nhà nước có trách nhiệm thúc đẩy kinh tế các khu vực để bảo đảm sự phát triển cân bằng ở mọi khu vực.

(3) Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ và thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

(4) Nhằm bảo vệ lợi ích của nông dân và ngư dân, Nhà nước thúc đẩy sự ổn định giá nông sản và hải sản bằng cách duy trì sự cân đối giữa cung và cầu và phát triển hệ thống tiếp thị và phân phối nông sản và hải sản.

(5) Nhà nước ủng hộ việc thành lập và bảo đảm các hoạt động và sự phát triển độc lập của các tổ chức do nông dân, ngư dân và thương nhân thành lập trên cơ sở tự nguyện để tham gia vào công nghiệp nhỏ và vừa.

Điều 124

Nhà nước bảo đảm các hoạt động bảo vệ người tiêu dùng nhằm khuyến khích các hoạt động tiêu dùng ích lợi và thúc đẩy chất lượng sản phẩm theo các điều kiện do luật định.

Điều 125

Nhà nước hỗ trợ ngoại thương, có thể kiểm soát và điều phối ngoại thương.

Điều 126

Các doanh nghiệp tư nhân không thể bị quốc hữu hóa hoặc chuyển sử hữu bởi một chính quyền địa phương, cũng như việc quản lý chúng không bị kiểm soát hay điều hành bởi Nhà nước, trừ các trường hợp do luật định nhằm đáp ừng các nhu cấu khẩn cấp vì quốc phòng hoặc vì nền kinh tế quốc dân.

Điều 127

(1) Nhà nước nỗ lực thúc đẩy kinh tế quốc dân thông qua phát triển khoa học và công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực và khuyến khích sáng tạo.

(2) Nhà nước thiết lập một hệ thống tiêu chuẩn quốc gia.

(3) Tổng thống có thể thiết lập các cơ quan tư vấn cần thiết để thực hiện mục tiêu nhắc đến ở khoản (1).

Chương X:

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Điều 128

(1) Quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp thuộc về đa số của tổng số thành viên Quốc hội và Tổng thống.

(2) Các sửa đổi Hiến pháp để kéo dài nhiệm kỳ của Tổng thống hoặc để cho phép Tổng thống tái cử không được áp dụng đối với Tổng thống đương nhiệm vào thời điểm có các đề xuất sửa đổi đó.

Điều 129

Các đề xuất sửa đổi Hiến pháp phải được Tổng thống công bố ra công chúng tối thiểu trong hai mươi ngày.

Điều 130

(1) Quốc hội phải ra quyết định về các đề xuất sửa đổi Hiến pháp trong vòng sáu mươi ngày sau khi các đề xuất này được công bố, và đề xuất đó chỉ được thông qua khi có sự đồng thuận của tối thiểu hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội.

(2) Các đề xuất sửa đổi Hiến pháp được đưa ra trưng cầu ý dân không muộn hơn ba mươi ngày sau khi được Quốc hội thông qua, và đề xuất đó chỉ được thông qua khi nhận được sự ủng hộ của ít nhất một nửa số phiếu hợp lệ trên tổng số cử tri đủ điều kiện bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội.

(3) Khi các đề xuất sửa đổi Hiến pháp nhận được sự chấp thuận như quy định tại khoản (2), các sửa đổi Hiến pháp sẽ được chung quyết và Tổng thống công bố mà không được trì hoãn.

PHỤ LỤC

Điều 1

Hiến pháp này có hiệu lực vào ngày 25 tháng 2 năm 1988. Việc ban hành hoặc sửa đổi các đạo luật cần thiết để áp dụng hiến pháp này hoặc việc tổ chức các cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội theo Hiến pháp này, các việc chuẩn bị khác để áp dụng Hiến pháp này có thể được triển khai trước khi Hiến pháp có hiệu lực.

Điều 2

(1) Cuộc bầu cử Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp này sẽ được tổ chức không muộn hơn bốn mươi ngày trước ngày Hiến pháp có hiệu lực.

(2) Nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp này bắt đầu vào ngày Hiến pháp có hiệu lực.

Điều 3

(1) Cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên theo Hiến pháp này được tổ chức trong vòng sáu tháng từ khi công bố Hiến pháp. Nhiệm kỳ các đại biểu Quốc hội đầu tiên theo Hiến pháp này bắt đầu vào ngày đầu tiên triệu tập Quốc hội theo Hiến pháp.

(2) Nhiệm kỳ các đại biểu Quốc hội hiện hành vào thời điểm Hiến pháp này được công bố kết thúc vào ngày trước ngày triệu tập phiên họp thứ nhất của Quốc hội theo quy định tại khoản (1).

Điều 4

(1) Các công chức và viên chức trong các doanh nghiệp được bổ nhiệm bởi Chính phủ, đang tại vị vào thời điểm Hiến pháp này có hiệu lực, được coi là đã được bổ nhiệm theo Hiến pháp này, trừ khi thủ tục bầu cử hoặc người có thẩm quyền bổ nhiệm công chức đó được thay đổi theo Hiến pháp này. Chánh án Tòa án Tối cao, Chủ tịch Ban Kiểm toán và Thanh tra tiếp tục tại vị đến khi người kế nhiệm họ được chọn ra theo Hiến pháp này và nhiệm kỳ của họ kết thúc vào ngày trước khi người kế nhiệm họ bắt đầu công việc.

(2) Các thẩm phán gắn với Tòa án Tối cao mà không phải là Chánh án hoặc các Thẩm phán Tòa án Tối cao đang tại vị vào thời điểm Hiến pháp này có hiệu lực, được coi là đã được bổ nhiệm theo Hiến pháp này, cho dù có quy định tại khoản (1).

(3) Các điều khoản của Hiến pháp này quy định nhiệm kỳ của công chức hoặc giới hạn số lượng nhiệm kỳ mà công chức có thể đảm nhiệm, có hiệu lực vào ngày bầu cử đầu tiên hoặc bổ nhiệm đầu tiên các công chức đó theo Hiến pháp này.

Điều 5

Các luật, nghị định, pháp lệnh và điều ước có hiệu lực vào thời điểm Hiến pháp này có hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực trừ khi chúng trái với Hiến pháp này.

Điều 6

Các cơ quan cũ tồn tại vào thời điểm Hiến pháp này có hiệu lực, mà đang thực hiện các chức năng thuộc thẩm quyền của cơ quan mới được thành lập theo quy định của Hiến pháp này, thì tiếp tục được tồn tại và thực thi các chức năng như vậy đến khi các cơ quan mới được thành lập theo Hiến pháp này.

* Nguồn:Tuyển tập HIẾN PHÁP MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI (Tập 2), Văn phòng Quốc hội – Trung tâm thông tin, thư viện và nghiên cứu khoa học, năm 2012.

(1) Tổng hợp từ Wikipedia, CIA Fact Book và Gerhard Robbers, Encyclopedia of World Constitutions, (Infobase Publishing), 2006.

(2) Luật được hiểu là “đạo luật” do Quốc hội ban hành (Chú thích của người dịch).

Để lại ý kiến của bạn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Thống Kê Khách Thăm

free counters

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 427 other followers

VN Tôi Đâu-Anh Là Ai?

%d bloggers like this: