Thất vọng về sửa đổi Hiến pháp’

Chính trị Việt NamKhông ít người tỏ ra thất vọng với Hiến pháp dự kiến sắp thông qua

Việc Quốc hội Việt Nam sắp thông qua Hiến pháp sửa đổi sẽ gây thất vọng lớn trong nhân dân, theo một số nhà quan sát từ Việt Nam.

Lý do của sự thất vọng là hầu như những điều người dân góp ý kiến không được đưa ra thảo luận một cách nghiêm túc và và đã bị bác bỏ, theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, cựu thành viên ban tư vấn Thủ tướng Chính phủ.

Trao đổi với BBC hôm 27/10/2013 từ Hà Nội, Tiến sỹ Doanh, người cũng là cựu Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) nói:

“Thí dụ như Hội đồng Hiến pháp không được lập, hay lại đưa lại câu kinh tế nhà nước là chủ đạo, mặc dù rằng kinh tế nhà nước bao gồm những gì, doanh nghiệp nhà nước hiện nay như thế nào, cơ chế quản lý như thế nào.”

“Có nước nào quy định như vậy hay không và quy định kinh tế nhà nước là chủ đạo có phù hợp với quy định rằng các thành phần kinh tế là bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật hay không?”

Tiến sỹ Doanh cho rằng không chỉ có người dân băn khoăn về lần sửa đổi Hiến pháp này, đặc biệt về chất lượng và cách thức, mà ngay trong các đại biểu quốc hội có trách nhiệm cũng có những tâm tư tuy không thể nói ra công khai.

Ông nói: “Hiện nay có thể nói trong rất nhiều đại biểu Quốc hội, họ đang âm thầm phát biểu ý kiến ở tổ, chứ ở hội trường, họ cũng dè dặt, và trong chỗ riêng tư, họ cũng trao đổi.”

“Và người dân rất quan tâm nếu như thông qua Hiến pháp như hiện nay, những vấn đề đang đứng trước Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam, xã hội Việt Nam, sẽ được giải quyết như thế nào.”

‘Không tiếp thu’

“Các cuộc họp ấy tốn ngân sách nhà nước 250 tỷ đồng, không kể chi phí thời gian, cũng như không kể chi phí của các cấp, các ngành tự chi ra, để dẫn đến là hầu như không có ý kiến nào đóng góp đã được tiếp thu cả.”

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh

Tiến sỹ Doanh nói thêm rằng việc sửa đổi Hiến pháp đã gây rất thất vọng còn vì đã lãng phí lớn về mặt ngân sách nhà nước và thời gian trong xã hội nếu tính tới yếu tố hiệu quả.

Về các tổn phí trong đợt lấy ý kiến và thảo luận sửa đổi Hiến pháp, ông nói:

“Các cuộc họp ấy tốn ngân sách nhà nước 250 tỷ đồng, không kể chi phí thời gian, cũng như không kể chi phí của các cấp, các ngành tự chi ra, để dẫn đến là hầu như không có ý kiến nào đóng góp đã được tiếp thu cả.”

Mặt khác, theo Tiến sỹ Doanh, việc kêu gọi một đằng, tiếp thu một nẻo mà hầu như không tiếp thu gì có thể gây nên sự phân vân trong niềm tin của dân với Đảng và chính quyền.

Ông nói: “Khi đưa ra lời kêu gọi sửa đổi Hiến pháp không có bất kỳ sự hạn chế nào, người dân và rất nhiều các giới, kể cả các giới tôn giáo đều đóng góp ý kiến một cách rất chân thành và xây dựng.”

“Sau đó lại bị kết án là suy thoái về đạo đức và suy thoái chính trị và đến bây giờ thì bị bác bỏ hoàn toàn những ý kiến đóng góp đó.”

“Ngay cả dự thảo đầu tiên không có mục, không có câu ‘kinh tế nhà nước là chủ đạo’, thì ngày nay lại được đưa lại nữa, làm cho sự thất vọng của người dân và những người chân thành đóng góp ý kiến là hết sức to lớn.”

Trong khi đó, luật sư Trần Vũ Hải từ Hà Nội nói với BBC trong quần chúng và các giới chuyên môn đã có sự giảm sút sự quan tâm với lần sửa đổi Hiến pháp trong vòng gần một năm qua.

Ông nói: “Hiến pháp sửa đổi không khác gì so với Hiến pháp cũ, mặc dù cũng có một vài điểm sửa đổi có thể bình luận thế này, thế khác, nhưng nói chung đó không phải là những điểm quan trọng với một bản Hiến pháp.”

‘Không còn quan tâm’

“Có thể người ta thấy không khác gì mấy hoặc ý kiến của người ta không được chú ý, nên cũng không quan tâm so với cách đây khoảng nửa năm.”

Luật sư Trần Vũ Hải

Về sự quan tâm của cộng đồng và người dân với dự thảo sửa đổi và lần sửa đổi hiến pháp, luật sư Hải nói:

“Gần đây người ta cũng không quan tâm lắm nữa, bằng chứng là những bài viết về hiến pháp không được độc giả quan tâm, bình luận nhiều. Có thể người ta thấy không khác gì mấy hoặc ý kiến của người ta không được chú ý, nên cũng không quan tâm so với cách đây khoảng nửa năm.”

Hôm Chủ Nhật, trao đổi với BBC, luật sư bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Đài, từ Hà Nội, cho rằng người dân Việt Nam có thể sẽ phải đợi thêm một thời gian nữa để có thể có được một bản hiến pháp do chính họ làm ra.

Ông nói: “Theo tình hình chính trị hiện nay, chúng ta không thể trông chờ vào những người cộng sản tự nguyện để xây dựng nên một bản hiến pháp phục vụ cho lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam, mà cái này hoàn toàn trông chờ vào người dân Việt Nam thôi.”

“Khi người dân chưa hiểu biết hết về quyền lợi của họ và họ cũng chưa dám đứng lên để đòi hỏi quyền lực của mình, thì đây là một tiến trình rất xa.”

Tuy nhiên, luật sư Đài bày tỏ hy vọng rằng trong tương lai gần, Việt Nam sẽ hội đủ điều kiện để tiếp cận một bản Hiến pháp như ý dân.

“Hy vọng trong tương lai không xa người dân sẽ hiểu mình cần phải làm gì để đất nước Việt Nam có thể phát triển, có thể giàu mạnh cũng như có thể hội nhập quốc tế được.”

“Lúc đó mới hy vọng có được một bản Hiến pháp đáp ứng được đòi hỏi tự do, dân chủ của dân,” ông nói với BBC.

Dân biểu tình, cắt đường huyết mạch

Biểu tình, phản đối ở Quảng NgãiMặc dù được lãnh đạo tỉnh yêu cầu, người dân vẫn không giải tán

Hàng ngàn người dân phản đối việc nạo hút cát ở tỉnh Quảng Ngãi, chặn tuyến đường huyết mạch Bắc – Nam, Quốc lộ 1A, trong nhiều giờ trong ngày Chủ nhật 27/10.

Các báo trong nước tường thuật người dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đổ về trung tâm thành phố Quảng Ngãi để phản đối việc chính quyền cho doanh nghiệp nạo hút cát ở cửa biển Cửa Đại của sông Trà Khúc.

Chủ đề liên quan

Đến buổi chiều, họ tràn ra Quốc lộ 1A, khiến giao thông ách tắc trong nhiều giờ liền, buộc lãnh đạo chính quyền Ủy ban Nhân dân Tỉnh phải tổ chức họp báo biện hộ.

Nguyên nhân của cuộc phản đối là cáo buộc hai doanh nghiệp khai thác cát, Công ty Ngọc Việt và công ty Trường Phát Lộc, đã “tận thu cát” gây sạt lở nhà cửa và hồ nuôi tôm của người dân địa phương.

Báo Dân Việt nói tỉnh Quảng Ngãi đã yêu cầu tạm dừng việc nạo vét và hai doanh nghiệp phải xem xét đền bù, nhưng dường như mọi việc chưa ngã ngũ.

Hôm Chủ Nhật, Báo Lao Động cho hay hàng ngàn dân Quãng Ngãi đã “cắt” quốc lộ 1 A khi xuống đường biểu tình:

Tới chiều ngày Chủ Nhật, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã họp báo về sự việc, với Chủ tịch tỉnh trực tiếp kêu gọi người dân giải tán, vẫn theo tờ Lao Động.

“Việc dừng khai thác cát hay không, huyện chưa thể khẳng định vì không thuộc thẩm quyền. Trước mắt, chúng tôi tiếp thu ý kiến của bà con, chuyển lên và chờ UBND tỉnh quyết định”

Chủ tịch UBND huyện Tư Nghĩa

“Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có mặt để mời người dân vào một địa điểm để giải thích, nhưng người dân không chấp hành.

“Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Cao Khoa cũng đã lên loa kêu gọi người dân bình tĩnh, đề nghị giải tán. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Trường Thọ cũng khẳng định, đến giờ phút này UBND tỉnh vẫn chưa cho phép khái thác trở lại dự án nạo vét, thông luồng tận thu cát nhiễm mặn xuất khẩu.”

Trước đó, tờ Người Lao động đã phản ánh quan điểm của chính quyền huyện Tư nghĩa.

“Việc khai thác cát xuất khẩu trên nằm trong dự án thông luồng, nạo vét cửa biển Cửa Đại kết hợp tận thu cát nhiễm mặn và được UBND tỉnh Quảng Ngãi cấp phép cho 2 doanh nghiệp. Do đó, việc 2 doanh nghiệp khai thác cát tại đây là hợp pháp,” ông Huỳnh Chánh, Chủ tịch huyện Tư Nghĩa được tờ báo trích lời nói,

“Việc dừng khai thác cát hay không, huyện chưa thể khẳng định vì không thuộc thẩm quyền. Trước mắt, chúng tôi tiếp thu ý kiến của bà con, chuyển lên và chờ UBND tỉnh quyết định.”

Biểu tình ở Quảng NgãiCuộc biểu tình chia cắt Quốc lộ 1A trong nhiều giờ

Hôm Chủ nhật, báo Lao Động phản ánh: “Đây là lần thứ 2 liên tiếp trong vòng 1 tháng, người dân địa phương này tụ tập đông người, phản ứng tập thể về việc chính quyền cho phép các DN hút cát, xuất khẩu, gây sạt lở bờ biển và ảnh hưởng đến sinh hoạt, đời sống và sản xuất của người dân.”

Bào này trích lời một người dân địa phương nói đã “dồn nén bức xúc lâu nay”.

Theo đánh giá của truyền thông trong nước, cát nhiễm mặn tại Cửa Đại và khu vực mà người dân phản đối doanh nghiệp đã được khai thác từ đầu tháng Bảy tới nay và đã xuất khẩu được khoảng 1 triệu mét khối.

Ý kiến: Tổng bí thư kiêm Chủ tịch QH?

Luật sư Ngô Ngọc Trai.  Bài tham gia Diễn đàn BBC Tiếng Việt. 25 tháng 10, 2013

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2013/10/131025_vn_party_parliament.shtml

Hai lãnh đạo Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Sinh Hùng

Trong khi bàn thảo sửa đổi hiến pháp, ý kiến đề xuất hợp nhất hai chức danh Tổng bí thư và Chủ tịch nước dành được nhiều sự quan tâm, song chưa thấy ai đề xuất hợp nhất hai chức danh Tổng bí thư và Chủ tịch Quốc hội.

Bao nhiêu năm qua, ở các cấp tỉnh huyện xã, bí thư bên đảng đã kiêm nhiệm Chủ tịch hội đồng nhân dân, vậy tại sao việc hợp nhất chỉ dừng lại ở cấp độ địa phương mà không áp dụng ở trung ương? Điều gì cản trở việc này?

Theo thông lệ thế giới, đảng phái là tổ chức của một nhóm người có chung mục tiêu quyền lợi, hoạt động chính yếu nhắm tới là chiếm lĩnh quyền lãnh đạo quốc gia, nguyên lý tổ chức hoạt động là cấp dưới phục tùng cấp trên.

Bình đẳng hay phục tùng?

Trong khi đó cũng theo thông lệ thế giới, Quốc hội là tổ chức của những đại biểu đại diện cho mọi tầng lớp dân chúng chứ không của chỉ riêng một nhóm người nào. Giữa các đại biểu quốc hội là bình đẳng và không có quan hệ phục tùng vì đại biểu đại diện cho dân mà quyền lợi của các nhóm dân cư thì đều chính đáng như nhau.

Các đảng viên có chung mục tiêu quyền lợi, còn các đại biểu quốc hội thông thường không cùng chung mục tiêu quyền lợi.

Lý do là nguồn lực quốc gia luôn hữu hạn trong khi mỗi nhóm dân chúng đều muốn được dành nguồn lực giải quyết vấn đề của nhóm mình. Như thế trong xã hội luôn tồn tại những nhóm người có quyền lợi không đồng nhất hoặc là đối lập nhau, từ đó các đại biểu quốc hội cũng không cùng chung mục tiêu quyền lợi.

Chỉ trong trường hợp chiến tranh các đại biểu quốc hội mới có quyền lợi chung, đứng trước nguy cơ tồn vong của quốc gia, khi đó quyền lợi của các nhóm dân chúng bị xếp lại sau so với quyền lợi chung của dân tộc.

Như vậy theo truyền thống quốc tế, mô thức thành lập và hoạt động của hai tổ chức đảng phái và quốc hội là đối lập nhau.

Phải chăng vì đó nên e ngại quốc tế nghi hoặc chê cười do sự không giống ai của mình nên ở Việt Nam đã không hợp nhất hai chức danh Tổng bí thư và Chủ tịch Quốc hội?

Nhưng vì sự hợp lý thực tiễn nào đó lại hợp nhất người đứng đầu hai cơ quan đảng và cơ quan dân cử ở cấp độ địa phương?

Hóa giải những trở ngại

Đảng Cộng sản Việt Nam bao nhiêu năm qua giữ vai trò lãnh đạo nhưng hiện tình đất nước như bây giờ chứng tỏ đảng đã không biết cách làm tốt vai trò của mình.

Các đại biểu QH không chung quyền lợi là chuyện bình thường

Nắm toàn quyền điều hành hệ thống chính trị nhưng đảng đã không biết cách lập trình hệ thống sao cho sự vận hành được trơn tru hiệu quả.

Rõ ràng là Đảng cộng sản hiện nay không còn tổ chức theo nguyên lý kinh điển truyền thống của các tổ chức đảng phái lâu nay, giống như đảng cộng sản Trung Quốc, đảng của giai cấp công nhân xưa kia nay đã kết nạp cả thành phần tư sản – kẻ thù cũ, doanh nhân cũng trở thành đảng viên.

Đảng hiện nay đã cấp tiến đến mức khó xác định bản chất giai cấp của đảng, không còn đại diện cho riêng một nhóm người, một giai tầng nào.

Điều 4 dự thảo hiến pháp viết rằng Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Nếu đúng thực chất như vậy, tức đảng đại biểu cho toàn dân thì khi đó đảng tiến gần đến với quốc hội cũng là tổ chức đại biểu cho toàn dân, hai tổ chức khi đó có tính chất giống nhau nên đây là một lý do cho phép có thể hợp nhất Ban lãnh đạo đảng với quốc hội.

Vì là chế độ một đảng và giữ vai trò lãnh đạo, cho nên không giống như các đảng phái truyền thống luôn trong trạng thái tranh đấu để giành và giữ quyền lãnh đạo quốc gia, lúc này đảng chỉ tập trung vào việc lãnh đạo và làm chính sách, như thế cũng tương đồng với tính chất vai trò của quốc hội là cơ quan ban hành chính sách. Đây là lý do thứ hai cho thấy có sự tương hợp giữa hai tổ chức cho nên có thể hợp nhất.

Ở đây không cần phải chỉ ra những bất lợi khi duy trì tình trạng cả hai tổ chức cùng có vai trò lãnh đạo và làm chính sách nữa, xin xem lại bài viết có tiêu đề “Canh tân hệ thống”.

Về điểm khác biệt trong nguyên lý tổ chức hoạt động, trong đảng thì cấp dưới phục tùng cấp trên, còn các đại biểu quốc hội thì bình đẳng, vậy hóa giải mâu thuẫn này thế nào?

Có thể hóa giải bằng cách đúng như việc cần phải làm là chỉ thực hiện hợp nhất đối với một số lượng nhỏ người đứng đầu chứ không phải hợp nhất hai tổ chức. Đảng có hàng triệu người trong khi quốc hội có 500 người, đâu phải hợp nhất cả hai nhóm người này.

Hợp nhất thế nào?

“Đảng Cộng sản Việt Nam bao nhiêu năm qua giữ vai trò lãnh đạo nhưng hiện tình đất nước như bây giờ chứng tỏ đảng đã không biết cách làm tốt vai trò của mình”

Đầu tiên là hợp nhất người đứng đầu, Tổng bí thư kiêm Chủ tịch quốc hội. Sau đó là hợp nhất Bộ chính trị với Ủy ban thường vụ quốc hội.

Ủy ban thường vụ quốc hội hiện tại gồm 17 người, bộ chính trị hiện có 16 người tới đây có thể bầu bổ sung thêm một khi đó doanh số là bằng nhau. Các ủy viên trung ương đảng thì vẫn là đại biểu quốc hội như lâu nay.

Đồng thời với việc hợp nhất thì quan trọng không kém là cần thực hiện tách bạch về nhân sự giữa cơ quan làm chính sách với quan thực thi chính sách, giữa cơ quan lãnh đạo với cơ quan chấp hành. Người đứng đầu các cơ quan chính phủ, quân đội, công an chỉ nên cho giữ từ ủy viên trung ương trở xuống.

Để người đứng đầu các cơ quan này giữ cương vị ủy viên bộ chính trị như lâu nay đảng tưởng rằng như thế là nắm chắc được chính quyền, thực ra không phải. Làm vậy giống như đảng đang ôm một cái cột, khi tách bạch như đề xuất tức thu nhỏ cái cột lại thì đảng nắm các cơ quan này như một người cầm cái gậy trong tay, trường hợp nào thì nắm chắc hơn và điều khiển linh hoạt hơn?

Lợi ích đem lại là gì?

Vấn đề cốt yếu nhất là đưa ra được những chính sách đúng đắn, mà muốn thế thì điều cần thiết là không để bất cứ lý do gì chi phối ảnh hưởng khiến cho việc ban hành chính sách không đảm bảo chất lượng được tối ưu.

Lâu nay ở Việt Nam đâu là cơ quan ban hành chính sách? Mọi cơ quan đều làm chính sách. Hiến pháp quy định Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhưng Đảng lại có cương lĩnh phát triển đất nước của mình. Chính phủ là cơ quan chấp hành của cả đảng và quốc hội nhưng tự chính phủ cũng ban hành chính sách.

Thông lệ lâu nay đảng lãnh đạo bằng chủ trương đường lối sau đó quốc hội luật hóa chính sách của đảng rồi chính phủ thực hiện, nhưng có phải đảng được toàn quyền trong hoạt động hay không?

“Làm sao hóa giải mâu thuẫn trong đảng thì cấp dưới phục tùng cấp trên, còn các đại biểu quốc hội thì bình đẳng? “

LS Ngô Ngọc Trai

Liệu khi làm việc đảng có phải ngó nghiêng quan điểm của quốc hội hay lượng định quan điểm của chính phủ là cơ quan thực thi hay không? Điều này có thể có bởi vì các tổ chức gồm những con người khác nhau về cả nhận thức lẫn quyền lợi.

Điểm khác nhau dù là rất nhỏ cũng khiến cho chính sách phải hạ thấp tiêu chí chất lượng để có thể đạt được sự chấp nhận.

Hoặc có khả năng là để chính sách được chấp nhận, cơ quan ban hành đưa ra nội dung rất chung chung và độ mở rất rộng, dành phần không gian quyền hạn cho cơ quan tiếp theo, đảng dành cho quốc hội, quốc hội dành cho chính phủ. Hệ quả của việc này là các cơ quan đều làm chính sách và như thế thì đừng mong có được chất lượng cao.

Khi hợp nhất sẽ giúp việc ban hành chính sách được tập trung ban hành bởi một cơ quan đầu não, tránh tình trạng phân tán về thẩm quyền ban hành chính sách.

Đặc biệt trong xu hướng xây dựng quốc gia pháp quyền, mọi tổ chức đều được thiết lập và hoạt động theo pháp luật thì xem ra Đảng lại ở vào thế yếu so với quốc hội và chính phủ do không được pháp luật bảo hộ nên có thể bị bỏ rơi bất cứ lúc nào.

Để củng cố vị thế của Đảng, Tổng bí thư và Bộ chính trị nên kiêm Chủ tịch quốc hội và Ủy ban thường vụ quốc hội.

Khi đảng đã vững rồi thì phải có trách nhiệm thúc đẩy dân chủ bằng cách rút bớt phạm vi hoạt động, chỉ lãnh đạo bộ máy nhà nước và buông bỏ lãnh đạo xã hội dành phần không gian cho xã hội dân sự phát triển. Đảng toàn trị khi đó thu gọn thành đảng cầm quyền, dân chủ sẽ khai phóng tiềm lực nhân dân, từ đó mà đất nước phát triển.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của trưởng văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự. Xem thêm về tác giả tại trang web http://www.ngongoctrai.com/

VN và TQ: Một mô hình, hai tầm nhìn

Một chuyên gia người Việt trò chuyện với BBC về quá trình phát triển của Việt Nam trong ba thập niên qua.

Ông Vũ Minh Khương, tiến sỹ đại học Harvard và hiện là giảng viên Đại học Quốc gia Singapore, cũng giải thích lý do tại sao Việt Nam không thể đạt được những thành tựu như Trung Quốc dù hai mô hình kinh tế khá giống nhau, đồng thời giải thích mối liên hệ giữa xã hội dân chủ và nền kinh tế và chỉ ra đâu là hướng đi cho Việt Nam trong tương lai giữa bối cảnh đầy khó khăn hiện nay.

Chậm tiến vì chiến thắng

BBC: Vài thập kỷ sau ‘Khai phóng’, Trung Quốc đã vươn mình trở thành nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới và đang leo lên vị trí ngày càng cao trên chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam cũng là quốc gia đã trải qua một quá trình tương tự dưới tên gọi ‘Đổi Mới’. Ông đánh giá thế nào về sự phát triển của Việt Nam so với Trung Quốc trong ba thập kỷ qua?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu cuộc cải cách khi mà tình thế phát triển kinh tế theo đường lối xã hội chủ nghĩa không thành công. Cho nên tính tiếp nhận một cuộc cải cách mới là rất cao trong dân chúng.

Thế nhưng đặc điểm cải cách của hai nước có những khác biệt nhất định.

Ở Trung Quốc họ có một tầm nhìn xa, muốn có một chương trình hiện đại hóa toàn diện để Trung Quốc trở thành một cường quốc hiện đại vào trước năm 2050.

Việt Nam thì cải cách trên tình thế bí bách, bị Liên Xô cắt viện trợ và buộc phải tìm con đường đổi mới, cho nên cải cách mang tính chất thoát khỏi tình cảnh khó khăn hiện tại.

Hơn nữa, Trung Quốc thì trong suốt thời kỳ Cách mạng Văn hóa và xây dựng xã hội chủ nghĩa trước đó thì chưa để lại một thành quả gì mang tính thuyết phục trong việc nâng cao tính chính danh của đảng mình, cho nên họ buộc phải tạo nên một thành quả kinh tế kỳ vĩ.

Việt Nam thì có những chiến thắng huy hoàng trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, nên có thể ỷ lại thắng lợi của những cuộc chiến tranh này để duy trì sự chính danh của mình, cho nên nhiều khi trong cải cách không triệt để, mà chỉ cốt đủ ăn đủ sống. Điều này tạo ra những khiếm khuyết rất căn bản cho cải cách sâu rộng ở Việt Nam.

Vì các đặc điểm đó, cho nên lãnh đạo Việt Nam chưa đủ tầm để xác định một chiến lược kỳ vĩ, chẳng hạn như đưa Việt Nam trở thành một đất nước hùng cường vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày độc lập của mình vào năm 2045 mà thường nặng về những xoay sở để đủ tồn tại, bởi lẽ cái chính danh của quá khứ cũng tạm đủ cho họ tồn tại trong một số thập kỷ tới.

Lợi thế của lạc hậu

“Năng lực học hỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam rất hạn chế; từ việc thu hút nhân tài, đối sánh mình với thế giới ra sao, đến việc thử nghiệm những chính sách dũng cảm, liên tục đổi mới và cải tiến, lắng nghe nhân dân.”

BBC: Người Nhật phải mất hơn 40 năm mới có được vị trí hiện tại trên chuỗi giá trị toàn cầu. Nam Hàn mất 30 năm, trong khi Trung Quốc chỉ tốn hơn 20 năm. Theo ông yếu tố nào dẫn đến điều này, và nó có ý nghĩa thế nào với Việt Nam?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Đặc điểm của các nước đi sau đó là phát triển kinh tế rất thuận lợi. Đây gọi là lợi thế của sự lạc hậu.

Khi mình khai thác lợi thế lạc hậu này bằng cách hội nhập nhanh chóng với thế giới, tiếp nhận công nghệ và kỹ thuật của thế giới để chuyển hóa vào nước mình, cộng với đầu tư nước ngoài thì có thể rút ngắn được khoảng cách phát triển rất nhanh.

Tuy nhiên vẫn rất phải coi trọng tiếp nhận kỹ thuật và tri thức công nghệ, chứ không chỉ đơn thuần là tiếp nhận vốn đầu tư.

Trung Quốc họ hơn mình ở cái đó. Họ rất chú trọng vấn đề nhập khẩu kỹ thuật .Nếu tính về tỷ lệ nhập khẩu kỹ thuật trên GDP thì Trung Quốc đã vượt Mỹ trong thập kỷ vừa rồi.

Còn Việt Nam hầu như không có số liệu, không coi trọng vấn đề này và chỉ loay hoay thu hút đầu tư nước ngoài ở bất kể dạng gì, thiếu một tầm chiến lược xa.

Cho nên ở Việt Nam, có những thành quả trong phát triển kinh tế rất đáng trân trọng, nhưng để có một tầm trỗi dậy của một dân tộc thì chưa có.

Tiến sỹ Vũ Minh Khương nói tang lễ tướng Giáp đã cho thấy sức mạnh chiến lược của Việt Nam, đó là tinh thần dân tộc

Dân chủ và kinh tế

BBC: Trở lại với câu chuyện thành công của Trung Quốc, khi Triệu Tử Dương tiến hành cải cách kinh tế, ông tin rằng cải cách kinh tế phải đi đôi với cải cách về chính trị. Ông có đồng tình với góc nhìn của Triệu Tử Dương hay không? Và theo ông, một nền dân chủ tác động tới nền kinh tế như thế nào?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Tôi nghĩ Triệu Tử Dương có những ý rất đúng. Nhưng tôi vẫn khâm phục Đặng Tiểu Bình bởi tầm nhìn của ông. Bởi vì ưu tiên chiến lược là phải biến Trung Quốc thành một cường quốc, các ý tưởng cụ thể thì có thể tham khảo ở nhiều nguồn khác nhau.

Tuy nhiên cải cách kinh tế phải luôn đi đôi với cải cách xã hội và cải cách chính trị thì mới đảm bảo cho kinh tế phát triển lâu dài, còn những bước đi cụ thể của từng nước thì cái đó là do từng nước quyết định.

Nhưng tôi nghĩ dân chủ là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển. Nước Nhật từ thời cải cách Minh Trị đã nhận ra vấn đề đó. Người dân phải có tiếng nói quyết định trong tất cả những vấn đề trọng đại của đất nước. Có như vậy họ mới gắn bó với công cuộc phát triển, có như vậy đất nước mới thu hút được nhân tài, có như vậy đất nước mới trỗi dậy được.

Thiếu dân chủ giống như một đền thờ thiếu ánh sáng, sẽ có nhiều chuột bọ lúc nhúc trong đó, không thể nào có một sức hút lớn cho một dân tộc, mà nhất là dân tộc có truyền thống văn hiến lâu dài như Việt Nam ta.

“Khi nhiều thế hệ phải hy sinh mà không được đền đáp. Đó là điều chúng ta phải cùng nhau suy nghĩ.”

BBC: Nhân nói về dân chủ, ông đã sống và làm việc ở đây nhiều năm. Singapore là một nền kinh tế thành công, quốc gia với GDP bình quân trên đầu người vào hàng cao nhất thế giới. Nhưng mặt khác, Singapore cũng bị chỉ trích là không có tự do báo chí, không có tự do biểu tình. Một số ý kiến gọi Singapore là “nền dân chủ kiểu phương Đông”. Ông có bình luận gì về khái niệm “nền dân chủ kiểu phương Đông” này, và ông có cho rằng đây là mô hình mà Việt Nam muốn áp dụng trong tương lai không?

Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Tôi đã sống ở Singapore hơn sáu năm. Từng ngày tôi đều cố gắng ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm và học hỏi.

Singapore không phải là hoàn hảo, nhưng có rất nhiều điều cho Việt Nam học tập.

Cái dân chủ tự do ở trong xã hội châu Á này thì phải hiểu rằng là tạo cho con người cái tự do phát huy cao nất năng lực của mình. Cái dân chủ nghĩa là nếu người ta mong muốn làm việc gì đó cho đất nước của mình thì họ hoàn toàn có quyền lập hội, lập tổ chức, thậm chí trở thành đảng đối lập hoặc tham gia vào chính đảng cầm quyền.

Cái hay trong xã hội dân chủ ở đây, là đảng cầm quyền – Đảng Hành động Nhân dân (PAP), rất lo bị mất ghế trong Quốc hội, cho nên luôn luôn tìm kiếm tài năng để thu nhập vào đảng của mình. Nếu để đảng đối lập giành được người đó thì họ phải có người giỏi hơn để có thể thắng cử được. Cho nên trọng dụng nhân tài, chiến lược phát triển và tranh thủ lòng dân là ý thức rất cao trong từng quan chức chính phủ ở Singapore, cho từng cán bộ đảng PAP ở đây.

Yếu tố dân chủ mà theo định nghĩa đó, thì tôi thấy rất mạnh mẽ ở Singapore này. Và cái đó, tôi mong từng ngày sẽ được người Việt Nam ta nghiên cứu, áp dụng. Đó sẽ là khởi đầu cho dân tộc Việt Nam trỗi dậy trong tình thế khó khăn và thách thức hiện nay.

Con đường tương lai

Tiến sỹ Vũ Minh Khương cho rằng Việt Nam vẫn còn thua Trung Quốc rất xa về tầm nhìn

BBC: Hai khó khăn chính của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là khu vực ngân hàng và khối doanh nghiệp nhà nước. Trước mắt, chính phủ đang phải cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, minh bạch hóa khu vực ngân hàng, thậm chí có thể phải giảm bớt sở hữu tại các ngân hàng thương mại để thu hút vốn ngoại. Đây có phải là xu hướng cho thấy trong tương lai, chính phủ sẽ phải giảm đáng kể sự kiểm soát đối với nền kinh tế? Điều này có ý nghĩa gì cho tương lai Việt Nam?

Tôi nhìn lại các điểm hạn chế trong phát triển của Việt Nam thì tôi thấy có ba điểm phải chú ý, hơn là mình nhìn vào một vài vấn đề kỹ thuật mang tính chất ngắn hạn hoặc là rất cụ thể như doanh nghiệp nhà nước hoặc là hệ thống ngân hàng.

Tôi nhìn thấy những vấn đề rất lớn, rất nổi trội mà Việt Nam thua kém rất xa so với Trung Quốc và với nhiều nước khác.

Thứ nhất là không có một chiến lược phát triển dài hạn để nhìn thấy đâu là sức mạnh của dân tộc mình, đâu là cơ hội và thách thức trên thế giới, đâu là mục tiêu mà chúng ta sẽ đi tới trong vòng vài thập kỷ nữa. Tất cả đều không rõ.

Thứ hai là năng lực học hỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam rất hạn chế; từ việc thu hút nhân tài, đối sánh mình với thế giới ra sao, trong việc thử nghiệm những chính sách dũng cảm, trong việc liên tục đổi mới và cải tiến, lắng nghe nhân dân.

Những đặc điểm đó làm đất nước mình ngày càng tụt lùi.

Khi năng lực học hỏi được nâng lên, khi chiến lược phát triển kinh tế được hoạch định sắc bén và triệt để thì đất nước sẽ trỗi dậy. Khi đó những bài toán cụ thể như cải cách ngân hàng ra sao, cải cách doanh nghiệp nhà nước thế nào, hoặc thậm chí những vấn đề rất đơn giản như chống lại chuyển giá của các doanh nghiệp nước ngoài, thì mình đều có những tổ công tác đánh giá trên cái nhìn toàn cầu là tại sao lại như vậy? Ta có thể biến khó khăn thành cơ hội như thế nào ở đất nước mình?

Những điều này tôi nghĩ chúng ta phải nghiên cứu thấu đáo, trên tầm nhìn chiến lược, với năng lực học hỏi rất cao, mà cái cốt lõi là phải thu hút được nhân tài ở khắp nơi.

Tôi rất cảm kích trong đợt lễ tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi thấy đây là một cuộc biểu dương lực lượng của vũ khí chiến lược Việt Nam, đó là tinh thần dân tộc người Việt Nam rất lớn. Đây chỉ là sự thể hiện một phần, một cuộc diễu binh lớn, một sự thể hiện để chứng mình rằng nếu chúng ta không xứng đáng với khát vọng lớn của dân tộc, chúng ta sẽ thất bại.

Đó là cái giá rất đắt, khi nhiều thế hệ phải hy sinh mà không được đền đáp. Đó là điều chúng ta phải cùng nhau suy nghĩ.

Các bài liên quan

Chính trị VN ‘không rõ ai đang cầm lái’

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường và Tổng Bí thư Nguyễn Phú TrọngThủ tướng TQ Lý Khắc Cường và ông Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm VN hôm 14/10

Báo Anh nói Đảng Cộng sản VN gặp nhiều vấn đề nhưng Bắc Kinh có thể có ít bài học để giúp Hà Nội.

Ngoài ra, bài báo cũng nói sau các đấu đá nội bộ, chính trị Việt Nam nay không rõ ai là người ‘cầm quyền thực thụ’.

Tờ Bấm Economist tuần này có bài trên mục bình luận Banyan nói về điều mà tạp chí này gọi là “những khó khăn chung mà hai nước độc đảng đang đối mặt như đấu đá nội bộ, tranh luận về hiến pháp và thực trạng bị dân chỉ trích”.

Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 8 vốn được kỳ vọng là sự kiện quan trọng cho nỗ lực cải cách đã diễn ra tại Việt Nam và kết thúc một cách buồn tẻ và ĐCSVN hiện đang gặp phải nhiều vấn đề.

Dự thảo sửa đổi hiến pháp được đưa ra công chúng góp ý nhưng đa phần đề xuất trong số 26 triệu ý kiến có nội dung mà đảng không thấy lọt tai, đặc biệt là gợi ý bỏ Điều 4.

Tổng Bí thư Đảng, Nguyễn Phú Trọng mới đây khẳng định rằng ‘tuyệt đại đa số người dân Việt Nam’ đồng tình với những điều khoản chủ chốt trong bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi nhưng cũng nói cần đề phòng ‘thế lực xấu’ đòi bỏ Điều 4.

The Economist không phải là cơ quan báo chí hay tổ chức đầu tiên nêu vấn đề về Điều 4 Hiến pháp Việt Nam.

Cuộc tranh luận về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã làm rộ lên một phong trào đòi thực hiện các quyền hiến định và Bấm tính chính danh của Hiến pháp mà đã được “đa số đại biểu Quốc hội tán thành” vừa qua.

Cũng tại Việt Nam, Hội đồng Giám mục Công giáo cũng từng nêu ý kiến rằng “Phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bởi lẽ chủ nghĩa Mác-Lênin tự thân là chủ nghĩa vô thần?”

Về mặt kinh tế, nhiều người biện luận rằng Điều 19 qui định “kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia” vừa lạc hậu lại vừa có tác động xấu.

Tuy nhiên gỡ bỏ khu vực kinh tế nhà nước là việc sẽ làm nhiều người khiếp sợ.

Chẳng những các quan chức trục lợi từ những mối làm ăn mà hệ thống kinh tế nhà nước cũng giúp biện minh cho quyền cai trị độc đảng, bài báo bình luận.

‘Đấu đá phe nhóm’

“Điều 4 Hiến pháp Việt Nam trở thành vấn đề một phần vì hệ quả của thực trạng quản lý kinh tế yếu kém trong những năm gần đây, và một mặt cho thấy sự bất bình của người dân đối với tình trạng tham nhũng tràn lan của quan chức, đặc biệt là các nhân vật nằm cao trong bộ máy chính phủ.”

Trong khi đó những gì diễn ra tại Trung Quốc cũng chẳng giúp ích nhiều, mặc dù tại đây hiến pháp cũng là chủ đề được đưa ra bàn luận.

Điểm khác biệt mấu chốt, theo The Economist, là tại Trung Quốc, những người chỉ trích đảng chỉ đơn thuần muốn Bắc Kinh tôn trọng hiến pháp hiện hành.

“Bản hiến pháp này qui định về sự công bằng, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và hội họp cũng như tòa án độc lập, là tất cả những điều mà Đảng Cộng sản Trung Quốc từ chối không cho công dân của họ được hưởng”.

Thực ra trong hiến pháp Trung Quốc, vai trò đảng lãnh đạo được nói trong phần mào đầu chứ không nằm trong nội dung chính.

Điều 4 Hiến pháp Việt Nam trở thành vấn đề một phần vì hệ quả của thực trạng quản lý kinh tế yếu kém trong những năm gần đây và một mặt cho thấy sự bất bình của người dân đối với tình trạng tham nhũng tràn lan của quan chức, đặc biệt là các nhân vật nằm cao trong bộ máy chính phủ.

Theo tờ báo Anh, chính vì vậy mà trong lần lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội vào mùa xuân năm nay, các dân biểu ở Việt Nam tỏ ra chủ động và sáng tạo hơn so với quốc hội Trung Quốc, khi gần một phần ba dân biểu bỏ phiếu tín nhiệm thấp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Bất bình với chính phủ có tham nhũng cũng lý giải việc nhà nông Đoàn Văn Vươn phản ứng bằng súng tự chế với lực lượng cưỡng chế sai đất của mình và để rồi lĩnh án tù, thế nhưng cũng trở thành hình tượng người hùng.

Dân bất mãn

“Tại Trung Quốc, đấu đá phe nhóm đã cho kết quả người chiến thắng rõ ràng là lãnh đạo đảng Tập Cận Bình. Một phần của vấn đề tại Việt Nam là chẳng ai dường như biết chắc rằng ai là người đang cầm trịch.”

Thực trạng chính quyền cưỡng chế đất của dân cũng xảy ra như cơm bữa tại Trung Quốc và kế hoạch cải cách hệ thống sở hữu đất đai đã và đang bị lạm dụng có thể, hoặc nên, là một trong những quyết định lớn trong hội nghị trung ương tại Trung Quốc sắp tới.

Bài bình luận này cảnh báo chính quyền Việt Nam về điều họ gọi là sẽ không thể trở tay kịp với thực trạng bất mãn của dân trước đảng và chính phủ hiện đang lan tràn trên Internet.

Thực trạng bất mãn ngày càng gia tăng khi người ta thấy lãnh đạo đảng quan tâm ít tới lợi ích quốc gia hơn là bảo vệ quyền lực của mình trước các đối thủ ganh tị.

Tại Trung Quốc, việc hạ bệ Bạc Hy Lai cho thấy cuộc đấu đá tay bo giữa giới chóp bu chính trị tại đây.

Ở Việt Nam, Thủ tướng Dũng, dường như là mục tiêu của một chiến dịch từ các nhà lãnh đạp đảng bảo thủ hơn, chẳng hạn như Chủ tịch Trương Tấn Sang.

Sự khác biệt là ở chỗ tại Trung Quốc, đấu đá phe nhóm đã cho kết quả người chiến thắng rõ ràng là lãnh đạo đảng Tập Cận Bình.

Một phần của vấn đề tại Việt Nam là chẳng ai dường như biết chắc rằng ai là người đang cầm trịch, theo The Economist.

Các bài liên quan

RSF: Việt Nam tận dụng mọi cách đàn áp quyền tự do ngôn luận

Ông Benjamin Ismail, Giám đốc phụ trách ban Á Châu-Thái Bình Dương thuộc Tổ chức Phóng viên Không Biên giới

Ông Benjamin Ismail, Giám đốc phụ trách ban Á Châu-Thái Bình Dương thuộc Tổ chức Phóng viên Không Biên giới

Một tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế có trụ sở tại Pháp tố cáo Việt Nam đang tận dụng mọi cách thức có thể để đàn áp các tiếng nói bất đồng quan điểm với nhà nước qua việc dùng điều luật 258 để truy tố một thanh niên dùng Facebook kêu gọi công lý cho người thân.

Bà Nguyễn thị Kim Lien mẹ của Đinh Nhật Uy (phải) và Đinh Nguyen Kha
Bà Nguyễn thị Kim Lien mẹ của Đinh Nhật Uy (phải) và Đinh Nguyen Kha

Blogger Đinh Nhật Uy sắp bị đưa ra xử tại Tòa án Nhân dân Tỉnh Long An vào ngày 29/10. Anh bị cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’ vì đăng tải lên Facebook cá nhân ý kiến và các hình ảnh chống Trung Quốc xâm lấn Biển Đông, phản đối bản án 4 năm tù của em trai về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ trong vụ xử hai sinh viên chống Trung Quốc, Đinh Nguyên Kha-Nguyễn Phương Uyên được quốc tế lưu ý.

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới RSF nói với VOA Việt ngữ việc truy tố Đinh Nhật Uy cho thấy mức độ đàn áp khốc liệt các quyền tự do căn bản của con người tại Việt Nam bao gồm quyền tự do bày tỏ quan điểm và quyền tự do internet.

Ông Benjamin Ismail, Giám đốc phụ trách ban Á Châu-Thái Bình Dương thuộc Tổ chức Phóng viên Không Biên giới:

“Khi một người dùng mạng xã hội Facebook để đòi công lý và kêu gọi phóng thích cho em trai của mình mà bị nhà cầm quyền bắt và truy tố điều này chứng tỏ sự đàn áp ngày càng nặng tay của Hà Nội và mức độ không chấp nhận chỉ trích của nhà cầm quyền Việt Nam đã lên tới đỉnh điểm.”

Mẹ của blogger Đinh Nhật Uy đã gửi thư mời tất cả mọi người cùng các cơ quan ngoại giao, nhân quyền, và truyền thông quốc tế đến tham dự phiên tòa tại Long An vào thứ ba tuần tới để mục kích sở thị phiên xử mà nhà nước gọi là ‘công khai’. Trong số các bên được mời có đài VOA và sáng lập viên trang Facebook, ông Mark Zuckerberg, với tư cách người có trách nhiệm-nghĩa vụ liên quan.

Cáo trạng nói Đinh Nhật Uy nói bôi nhọ nhà nước bằng các bình luận đăng trên Facebook được nhiều người thích và chia sẻ cũng phê phán phiên tòa xử Đinh Nguyên Kha là bất công trong các cuộc phỏng vấn với báo đài nước ngoài, trong đó có đài VOA.

Ông Benjamin Ismail nói thật đáng tiếc RSF không thể tham dự phiên tòa của Uy theo lời mời của gia đình vì nhà nước Việt Nam không hoan nghênh sự hiện diện của tổ chức bảo vệ nhân quyền này.

Tuy nhiên, ông Ismail cho rằng sáng lập viên Zuckerberg của Facebook nên dự phiên xử của Uy để thấy rằng trong khi trang mạng xã hội toàn cầu do chính ông lập ra giúp mọi người trên thế giới chia sẻ thông tin và biểu đạt quyền tự do ngôn luận thì cũng có nhiều người bị biến thành những nạn nhân bị tù tội chỉ vì sử dụng Facebook tại một số quốc gia như Việt Nam.

RSF nói điều luật 258 là một hình thức khác của sự bóp nghẹt quyền tự do tư tưởng tại Việt Nam sau các điều luật đã bị phê phán nặng nề như 88 (tuyên truyền chống nhà nước) hay 79 (âm mưu lật đổ chính quyền).

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới kêu gọi Việt Nam hủy bỏ tất cả các điều luật mà họ mô tả là vi phạm nhân quyền và bị thế giới lên án này.

Quốc hội Việt Nam nghe ý kiến về bản hiến pháp sửa đổi

 VOA Tiếng Việt. 22.10.2013http://www.voatiengviet.com/content/quoc-hoi-vietnam-nghe-y-kien-ve-ban-hien-phap-sua-doi/1774469.html

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại buổi lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa 13 tại Hà Nội, ngày 21/10/2013.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại buổi lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa 13 tại Hà Nội, ngày 21/10/2013.

 Tin liên hệ

Quốc hội Việt Nam khóa 13 đã khai mạc kỳ họp thứ Sáu hôm 21/10 với các trọng tâm, theo giới phân tích, là thảo luận về bản hiến pháp sửa đổi và luật đất đai.

Một nhà quan sát, cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết, cho VOA Việt Ngữ biết rằng kỳ họp này ‘sẽ kéo dài hơn bình thường và xét về mặt nội dung, đây là một kỳ họp quan trọng’.

“Tại kỳ họp này, các đại biểu quốc hội sẽ bàn thảo và cho ý kiến lần cuối cùng và biểu quyết thông qua bản hiến pháp sửa đổi của Việt Nam. Nếu như chúng ta có một bản hiến pháp ưng ý, một bản hiến pháp đảm bảo quyển dân chủ cho người dân, có một cơ cấu bộ máy nhà nước hợp lý, thì chúng ta có cơ hội để có thể phát triển mạnh hơn nhằm tiến kịp với các nước trên thế giới. Thứ hai nữa là tại kỳ họp này, Quốc hội cũng sẽ bàn thảo và cho ý kiến lần cuối cùng về biểu quyết thông qua một đạo luật sửa đổi mà người dân rất là trông đợi, đó là luật đất đai. Ở Việt Nam, 70% thậm chí trên 70% các vụ khiếu kiện, nhất là các vụ khiếu kiện kéo dài, phức tạp ở Việt Nam hiện nay là liên quan tới lĩnh vực đất đai.”

Tin trong nước loan đi cho biết, trong ngày làm việc thứ hai hôm nay, Quốc hội Việt Nam đã nghe báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội và ý kiến của người dân về vấn đề sửa đổi hiến pháp năm 1992.

Theo ông Thuyết, thời gian qua, bản hiến pháp được đưa về cơ sở và các tổ dân phố để lấy ý kiến, chứ không phải trưng cầu ý dân.

Cựu đại biểu quốc hội này cho rằng việc lấy ý kiến của người dân về bản hiến pháp ‘mang tính hình thức’.

“Thứ nhất, người dân người ta không có điều kiện người ta nghiên cứu nhiều. Thứ hai nữa là những vấn đề lớn mình cũng phải nêu lên để người dân cho ý kiến, và cũng phải có sự tiếp thu. Thế nhưng mà phần lớn các ý kiến phản ảnh lên trên tôi không biết là phản ánh ý kiến người dân trung thực đến đâu nhưng mà nó cũng có vẻ xuôi chiều. Tiếp thu của ủy ban sửa đổi hiến pháp cũng không nhiều.”

Theo báo chí trong nước, hôm 22/10, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều 4 của dự thảo vì ‘đa số ý kiến tán thành’.

Hồi đầu năm nay, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng nói đã xuất hiện những ý kiến có thể bị coi là ‘biểu hiện của suy thoái về nhận thức tư tưởng’trong các góp ý sửa đổi hiến pháp.

Phát biểu của ông Trọng được đưa ra sau khi hàng chục nhân sỹ, trí thức có uy tín ở trong nước gửi bản kiến nghị sửa đổi hiến pháp lên quốc hội, trong đó nhấn mạnh tới các quyền cơ bản của người dân cũng như đòi thay đổi hiến pháp nhấn mạnh tới sự độc tôn của đảng cộng sản Việt Nam.

Ngoài việc đề cập tới các điểm chính nêu ra tại phiên khai mạc Quốc hội, báo chí trong nước còn dẫn lời các đại biểu cho biết họ ‘bất ngờ’ và cảm thấy ‘đáng tiếc’ vì Quốc hội không dành một phút mặc niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong phiên khai mạc.

Tuy nhiên, theo ông Thuyết, Quốc hội Việt Nam ‘chưa có thông lệ về những chuyện như là mặc niệm hay để tang’.

“Nhưng mà thực sự ra đối với một người tầm cỡ như là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người mà trong đám tang của ông, thì sự tiếc thương của người dân, sự bày tỏ tình cảm của người dân cho thấy đó là một người được toàn dân kính trọng. Nếu như quốc hội có thể dành một phút mặc niệm vào phiên khai mạc chính thức thì theo tôi cũng là xứng đáng vì không phải nhiều người được dân kính trọng như thế”.  

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần hôm 4/10, và sau đó đã được án táng tại quê nhà Quảng Bình trong sự tiếc thương của rất nhiều người dân Việt Nam.

Sau khi hồi hưu, ông từng nhiều lần lên tiếng đối với các vấn đề nổi cộm của đất nước, trong đó có dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Ông cũng từng đề nghị không phá hội trường Ba Đình lịch sử nơi từng diễn ra các phiên họp quốc hội.

Các đề nghị đó của ông đã không được chính quyền chấp nhận.

HRW kêu gọi Việt Nam sửa Hiến pháp tôn trọng nhân quyền

Trà Mi-VOAHoàng Long. 24.10.2013

http://www.voatiengviet.com/content/hrw-keu-goi-vietnam-sua-hien-phap-ton-trong-nhan-quyen/1775991.html

Lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 tại Hà Nội, ngày 21/10/2013.

Lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 tại Hà Nội, ngày 21/10/2013.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch gửi thư cho Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, kêu gọi đảm bảo bản hiến pháp được sửa đổi phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền trong khi Quốc hội bỏ phiếu trong phiên họp từ ngày 21 tới 30 tháng này.

Human Rights Watch nói Quốc hội Việt Nam đang đứng trước cơ hội “duy nhất trong cả một thế hệ” để mang lại những thay đổi có ý nghĩa cho hệ thống hiến pháp và luật pháp vốn khước từ những quyền căn bản của người dân một cách có hệ thống như quyền tự do bày tỏ ý kiến, hội họp, hay lập hội.

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách khu vực châu Á của Human Rights Watch phát biểu với VOA Việt ngữ:

“Dĩ nhiên Hiến pháp Việt Nam có nhiều vấn đề lớn chưa đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền mà nổi bật nhất là điều 4 Hiến pháp quy định quyền độc tôn lãnh đạo của đảng cộng sản, cấm đoán quyền tự do chính trị của người dân Việt Nam.”

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nhấn mạnh bản hiến pháp mới phải đáp ứng được các nghĩa vụ pháp lý quốc tế của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của các công ước quốc tế về nhân quyền.

Ông Phil Robertson:

“Hà Nội muốn sửa đổi Hiến pháp là tốt nhưng quan trọng là các sửa đổi này nhất thiết phải tuân theo các chuẩn mực nhân quyền thống nhất của quốc tế.”

Trong một động thái chưa có tiền lệ, dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam được đưa ra lấy ý kiến công chúng vào ngày 2 tháng Giêng năm nay. Tuy nhiên, theo Human Rights Watch, đây lại là nguyên nhân khiến một số blogger và nhà báo bị bắt hay bị nhắm mục tiêu vì nêu lên những ý kiến trái chiều.

Giới lãnh đạo Việt Nam đến nay vẫn chưa tỏ dấu hiệu cho thấy sẽ bớt đàn áp trong các vấn đề về nhân quyền.

Phiên xử Đinh Nhật Uy mở màn chiến dịch tuyên án các blogger vì điều 258

Trà Mi-VOA. 23.10.2013

http://www.voatiengviet.com/content/phien-xu-dinh-nhat-uy-mo-man-chien-dich-tuyen-an-cac-blogger-vietnam/1775263.html

Trong các điểm blogger Ðinh Nhật Uy bị buộc tội có các bài viết bày tỏ quan điểm chống Trung Quốc xâm lấn Biển Đông.

Trong các điểm blogger Ðinh Nhật Uy bị buộc tội có các bài viết bày tỏ quan điểm chống Trung Quốc xâm lấn Biển Đông.

Phiên tòa mở màn cho chiến dịch xét xử các blogger vi phạm điều 258 Bộ luật Hình sự “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước” sẽ khai diễn vào thứ ba tuần sau, 29/10.

Họ nói đây là phiên xử ‘công khai’. Phiên tòa của cháu Uy là phiên xử đầu tiên về điều 258 đối với các blogger. Là mẹ của Uy, tôi mời tất cả mọi người những ai có quan tâm về tham dự để xem họ xử con tôi như thế nào…
Bà Nguyễn Thị Kim Liên, mẹ của blogger Ðinh Nhật Uy.

Gia đình blogger Đinh Nhật Uy vừa gửi thư đến các cơ quan ngoại giao, truyền thông, và nhân quyền quốc tế mời gọi mọi người tham gia phiên xử mà nhà nước gọi là ‘công khai’ tại Tòa án Nhân dân tỉnh Long An, số 116 Trương Định.

Bà Nguyễn Thị Kim Liên, mẹ của Đinh Nhật Uy, phát biểu với VOA Việt ngữ:

“Họ nói đây là phiên xử ‘công khai’. Phiên tòa của cháu Uy là phiên xử đầu tiên về điều 258 đối với các blogger. Là mẹ của Uy, tôi mời tất cả mọi người những ai có quan tâm về tham dự để xem họ xử con tôi như thế nào vì vụ án của Uy được rất nhiều người quan tâm.”

Bà Liên chia sẻ thêm về những trăn trở của bà trước phiên xử con trai mình:

“Chiều nay tôi nộp giấy xin tham dự phiên tòa mà tòa án họ chưa trả lời. Điều thứ hai, tôi gửi giày và quần áo cho con tôi mặc ra tòa, họ trả lại giày, không cho con tôi mang giày (ra tòa) và không cho con tôi bỏ áo vô quần khi ra tòa. Điều thứ ba, nếu họ xử tù nó, tôi nghĩ sau phiên xử này sẽ còn có nhiều người nữa bị vô tù, cô à.”

Tính tới ngày phiên xử diễn ra, Uy bị bắt giam đúng 4 tháng rưỡi. Bà Liên cho biết cuộc thăm gặp Uy gần đây nhất diễn ra hôm 15/10. Bà nói:

“Cháu Uy kêu tôi về an tâm, đừng lo lắng. Uy nói: ‘Hai anh em con chấp nhận làm hai nấc thang cho mọi người bước lên trong cuộc tranh đấu này.’ Điều họ ép buộc cháu tội 258 là mơ hồ, phi lý, cho nên cháu không nhận tội.”

Uy là anh trai của nhà hoạt động vừa lãnh án 4 năm tù giam với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” trong vụ án Đinh Nguyên Kha-Nguyễn Phương Uyên gây chú ý công luận trong và ngoài nước.

Sau khi em trai bị bắt giữ, Uy đã dùng phương tiện truyền thông xã hội như Facebook để đánh động sự quan tâm của công luận, lên tiếng chỉ trích bản án bất công, và kêu gọi bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu chính kiến tại Việt Nam.

Đinh Nhật Uy bị bắt giữa tháng 6 năm nay và là người bị bắt sau cùng trong loạt bắt giữ liên tiếp 3 blogger bị Hà Nội cáo buộc cùng tội danh vi phạm điều 258. Trước Uy có blogger Trương Duy Nhất bị bắt ngày 26/5 và blogger Phạm Viết Đào bị bắt ngày 13/6.

Cáo trạng của Đinh Nhật Uy nói Uy ‘xúc phạm’ đến các tổ chức, cá nhân thông qua việc phản bác phiên tòa buộc tội Đinh Nguyên Kha.

Nhà cầm quyền cáo buộc Uy đăng tin trên Facebook vốn được nhiều người vào xem và chia sẻ “có nội dung cổ suý các cá nhân có hoạt động chống đối nhà nước đã bị các cơ quan chức năng bắt, xử lý” như “ảnh bìa trang Facebook của Uy thực hiện giữa tháng 5/2013 có nội dung kêu gọi hướng về phiên tòa xét xử vụ án Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên, kêu gọi trả tự do cho Kha, Uyên.”

Trong các điểm Uy bị buộc tội có các bài viết bày tỏ quan điểm chống Trung Quốc xâm lấn Biển Đông.

Trong số những vật chứng được dùng để khởi tố Uy có quyển sách nhan đề ‘Chết bởi Trung Quốc’ của dịch giả Trần Diệu Chân và một số áo thun ghi dòng chữ ‘Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam’ hay ‘Xóa đường lưỡi bò-Bảo vệ biển đảo Việt Nam.’

Phiên xử Đinh Nhật Uy mở màn chiến dịch tuyên án các blogger vì điều 258

Cáo trạng của Uy còn bao gồm tội trả lời các đài báo nước ngoài trong đó có đài VOA mà qua đó Uy đã lên án bản án của em trai Đinh Nguyên Kha là phi lý, đi ngược lại các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã ký với thế giới.

Bà Nguyễn Thị Kim Liên, mẹ Đinh Nhật Uy:

“Họ có nêu cuộc phỏng vấn của Uy trả lời cô Trà Mi đài VOA, trong đó Uy nói phiên xử Kha-Uyên rất là vô lý, bất công. Tuy nhiên, nếu không vô lý, bất công thì tại sao cháu Uyên lại được thả?” 

Phiên xử Uy là một phần trong chiến dịch đàn áp tiếp diễn của Hà Nội nhắm vào những người chỉ trích nhà nước. Chính phủ Việt Nam nên chấm dứt các hành động tùy tiện vi phạm quyền tự do căn bản của con người…
Ông Phil Robertson, HRW.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch cho biết đang theo sát phiên xử sắp tới của Đinh Nhật Uy.

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Human Rights Watch, khẳng định:

“Đinh Nhật Uy không có tội gì để bị xử. Nhà cầm quyền Vệit Nam nên bỏ cáo trạng và phóng thích Uy ngay lập tức. Phiên xử Uy là một phần trong chiến dịch đàn áp tiếp diễn của Hà Nội nhắm vào những người chỉ trích nhà nước. Chính phủ Việt Nam nên chấm dứt các hành động tùy tiện vi phạm quyền tự do căn bản của con người trong đó có quyền tự do bày tỏ ý kiến.”

Ủy ban Chống bắt giữ tùy tiện thuộc Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nói  “blogger Đinh Nhật Uy bị bắt vì thể hiện quan điểm là vi phạm quyền căn bản của con người, quyền tự do ngôn luận.”

Từ vụ án này, từ đây người ta sẽ xác định hướng ứng xử đối với các blogger tiếp theo. Việc xét xử tội theo điều 258 không rõ ràng, dễ xâm phạm vào điều 69 quy định quyền tự do dân chủ của công dân trong Hiến pháp 1992 của Việt Nam…
Luật sư Hà Huy Sơn.

Luật sư Hà Huy Sơn, đại diện pháp lý cho blogger Đinh Nhật Uy trong phiên toà sắp tới kêu gọi sự quan tâm hỗ trợ của mọi người, nhất là giới luật sư, đối với vụ án của Uy để bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý.

Trao đổi với VOA Việt ngữ về lời kêu gọi này, luật sư Sơn giải thích:

“Từ vụ án này, từ đây người ta sẽ xác định hướng ứng xử đối với các blogger tiếp theo. Việc xét xử tội theo điều 258 không rõ ràng, dễ xâm phạm vào điều 69 quy định quyền tự do dân chủ của công dân trong Hiến pháp 1992 của Việt Nam, dễ xâm phạm điều 19 Công ước quốc tế 1966 về Quyền Dân sự và Chính trị mà nhà nước Việt Nam tham gia ký kết năm 1982, và nó cũng dễ xâm phạm điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyền Liên hiệp quốc 1948. Đó là những điều căn bản với các vụ án xét xử điều 258 mà tôi thấy cần quan tâm.”

Trang Facebook của Đinh Nhật Uy, chứng cớ chính khiến blogger này bị buộc tội ‘lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’, có ghi rõ tôn chỉ của chủ nhân là không quan tâm đến chuyện chính trị, mà chỉ lên tiếng vì công lý, bảo vệ em trai Đinh Nguyên Kha.


Vụ án Xét lại, phần 3: Đừng kêu oan cho người khác

xetlaichongdang-3-ml.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_APH2001042144808(1)-305.jpg

Từ trái qua: Cựu Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công, TBT Nông Đức Mạnh, Cố vấn ĐCSVN Võ Văn Kiệt tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản VN lần thứ 9 hôm 19/4/2001. AFP photo

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt nhưng cuộc chiến trong lòng những người bị bắt, bị lưu lạc tha phương trong vụ án xét lại chống đảng vẫn không chấm dứt. Trong lòng họ còn rất nhiều điều cần giải tỏa và cho tới nay, năm 2013, đã 46 năm trôi qua nhưng vẫn chưa thấy ai trong chính quyền lên tiếng gợi ý về một cuộc điều tra sâu rộng nhằm đưa vụ án này ra ánh sáng công luận.

Có lẽ vụ bắt giữ ông Lê Hồng Hà đã làm cho những đảng viên cộng sản hôm nay vẫn lấy đó làm tấm gương cảnh báo về sự nguy hiểm nếu đề nghị đem vụ án này ra ánh sáng. Ông Lê Hồng Hà, một nạn nhân khác của vụ án xét lại chống đảng bị bắt vì muốn Trung ương xét lại vụ án oan khuất này kể:

Sau khi tôi đòi thanh minh cho cái vụ ấy thì một số các người lãnh đạo lúc bấy giờ như Lê Đức Anh …tức tối bởi vì thanh minh như thế là tôi muốn phê phán cái sự lãnh đạo của trung ương trước đó là sai. Họ tức tối nên khai trừ tôi và ông Nguyễn Trung Thành. Họ bịa tạo ra một việc là cái tham luận của ông Võ Văn Kiệt ở hội nghị bộ chính trị, nó chẳng phải là tài liệu tối mật gì cả mà dựng lên đấy là tài liệu tối mật.

“Ông Hồng Hà có liên quan đến tài liệu tối mật ấy.” Lúc bấy giờ tôi đã về hưu rồi. Nó lấy lý do đấy là tài liệu tối mật và tôi có liên quan đến tài liệu ấy. Họ khép mình vào tội vi phạm vào bí mật nhà nước. Họ lấy lý do ấy họ xử tù tôi 2 năm.

Lúc bấy giờ một số cán bộ lâu năm, lão thành cũng thừa nhận với tôi là đấy không phải là bí mật gì cả vì nếu là tối mật thì phải có những nội dung dính đến các vấn đề mà pháp lệnh nhà nước qui định. Đằng này chỉ là bản tham luận phát biểu của thủ tướng Võ Văn Kiệt trong hội nghị Bộ chính trị thôi. Nó không có liên quan gì đến các bí mật của nhà nước cả.

Cái giá của sự hối hận

Ông Lê Hồng Hà là một cán bộ công an cao cấp lúc ấy là Vụ trưởng Vụ Tổng hợp thuộc Bộ công an. Năm 1967 khi xảy ra vụ án xét lại chống đảng thì ông không có trách nhiệm điều tra hay phá vụ án này. Lúc ấy ông chỉ làm nhiệm vụ tổng hợp của Bộ công an, tuy không tham gia phá án nhưng ông biết diễn biến của nó.

Theo ông Lê Hồng Hà kể với chúng tôi thì thời gian sau này vào năm 1993, ông Nguyễn Trung Thành, Vụ trưởng Vụ Bảo vệ đảng của Ban Tổ chức Trung Ương nhận thấy sự oan ức của những người bị bắt và cảm thấy hối hận vì đã im lặng nên đã tới gặp ông Lê Hồng Hà và bàn bạc nên đem vụ này ra Trung ương để cứu xét lại cho các nạn nhân bị bắt, tuy nhiên Lê Đức Thọ đã cương quyết không chấp nhận. Ông Lê Hồng Hà kể:

Ông Lê Đức Thọ lúc đó là Trưởng ban Tổ chức Trung ương cùng với một số người coi như là đường lối của đảng đã định ra như thế mà anh lại khác ý kiến, anh không đồng ý, như thế anh có phần sai rồi. Và cái sai ấy là anh giữ quan điểm của anh khác với trung ương mà anh lại đi phổ biến, nói với nhiều người khác như thế là anh phạm pháp. Như thế là chống đảng. Và chống đảng thì tức là coi như phạm pháp.

…cái sai ấy là anh giữ quan điểm của anh khác với trung ương mà anh lại đi phổ biến, nói với nhiều người khác như thế là anh phạm pháp. Như thế là chống đảng. Và chống đảng thì tức là coi như phạm pháp.
– Ông Lê Hồng Hà

Vụ án xét lại chống đảng không chỉ xảy ra trong giới chính trị và quân đội mà còn lan ra báo chí và các nhà văn. Trong số người bị bắt có Vũ Thư Hiên và Bùi Ngọc Tấn. Vũ Thư Hiên là con của Vũ Đình Huỳnh, bị bắt vì cha ông là người có dính líu xa gần với những người khác nhưng với Vũ Thư Hiên thì hoàn toàn bất ngờ, ông chỉ là một biên tập viên của Báo ảnh Việt Nam, do yêu mến văn chương Liên Xô và ảnh hưởng nền văn hóa ấy sau khi từ Moskva về nước.

Tôi bị bắt ngày 24 tháng 12 năm 1967 qua các trại giam như Hỏa Lò, trại quân pháp Bất Bạt, trại Tân Lập, trại Phong Quang tức là có cả nhà tù và trại cải tạo. Tới năm 1976 tôi là người cuối cùng của Vụ án xét lại chống Đảng được ra khỏi nhà tù.

Nhà văn ư? Anh bị bắt!

vnweblogs-250.jpg
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Photo courtesy of vnweblogs

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả của Chuyện kể năm 2.000, cũng là một nạn nhân trong vụ bắt bớ này kể:

Tôi được nghe một anh bạn tôi cũng làm sếp được đi nghe phổ biến thông báo số hai của Lê Đức Thọ về vụ bắt bớ. Trong thông báo có câu mà tôi đã đưa vào tường trình năm 2002 “Bọn chúng từ bất mãn cá nhân đi đến bất mãn đối với đảng, đối với chế độ. Chúng nó ngưu tm ngưu, mã tầm mã”. Như vậy là có tổ chức mà không có tổ chức. Không có tổ chức lại hóa ra có tổ chức. Tinh vi lắm nhưng không che được mắt nhân dân đâu. Cái câu đấy khiến cho cái đám cao cấp ấy họ nói thì cũng sợ người rồi. Thế nhưng bọn tôi thì cũng gay go rồi.

Khác hẳn với thông báo số hai của Lê Đức Thọ những người bị bắt đều biết rõ mục đích của việc thanh trừng này, nhà văn Vũ Thư Hiên kể:

Căn cứ vào những cuộc hỏi cung thì rõ ràng rằng một trong những mục tiêu lớn là hạ bệ tướng Võ Nguyên Giáp. Ngay cả tôi chẳng liên quan gì tới ông Giáp nhưng cũng bị hỏi cung hàng tháng trời về chuyện tôi có nghe thấy những người nào tới nhà như ông Nguyễn Lương Bằng hay ông Đặng Kim Giang…các ông ấy có ai đến nói về chuyện Võ Nguyên Giáp thế này thế kia không?

Thật sự ông Giáp không có biểu hiện gì về cái gọi là chống Đảng cả. Ông ấy hình như chỉ có vài lời phát biểu không đồng tình với chủ trương chống lại xu hướng cùng tồn tại hòa bình của Khrushchyov và chống lại việc sùng bái cá nhân. Võ Nguyên Giáp có thể nói với những người gần gụi với ông ấy nên cái tin này lan ra chứ thực sự ông Giáp không hề quan hệ trực tiếp với ông cụ tôi hay ông Đặng Kim Giang trong thời gian đó.

Đến mùa xuân năm 70 thì đi trại cải tạo Hàng Bồ với lệnh tập trung cải tạo 3 năm vì tội là “phần tử nguy hiểm cho cách mạng chứ không phải tuyên truyền phản cách mạng” nữa.
– Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Nếu nhà văn Vũ Thư Hiên bị bắt vì cha thì nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị bắt vì một lý do hết sức phi lý: vì ông ở Hải Phòng! Nhà văn kể:

Nếu tôi ở Hà nội thì tôi đã không bị bắt. Còn bắt tôi là ông Trần Đông là vì ông muốn lấy tôi làm bậc thang để ông đi lên. Về sau ông lên được chức thứ trưởng bộ Công an chứ lúc ấy ông đang làm giám đốc công an Hải phòng.

Tôi bị giam ở 176 Trần Phú, trại tạm giam Hải phòng ở khu biệt giam. Giam xà lim khoảng chừng một năm thì họ chuyển tôi sang phòng giam chung ở bên 175 Trần Phú. Đến mùa xuân năm 70 thì đi trại cải tạo Hàng Bồ với lệnh tập trung cải tạo 3 năm vì tội là “phần tử nguy hiểm cho cách mạng chứ không phải tuyên truyền phản cách mạng” nữa. Sau 16 tháng 4 năm 72 tức là sau khi B52 đánh trở lại thì họ chuyển tôi lên trại Vĩnh quang thuộc Vĩnh Phú. Đến tháng 4 năm 73 thì được tha. Tức là chưa đến 5 năm nhưng mà tôi đếm 5 cái tết.

Những cuộc bắt bớ này cho thấy vụ án xét lại chống đảng được phát động quy mô và xuyên suốt tới địa phương chứ không khoanh vùng ở các vị trí quan trọng. Tuy nhiên khi việc chú ý tới địa phương chỉ mới manh nha thì phe thân Trung Quốc phải lo đối phó với chuyện khác quan trọng hơn khi thời cơ nổi dậy tại Miền Nam đã chín muồi, bắt đầu một cuộc chiến tranh mà miền Bắc gọi là chiến tranh chống Mỹ.

Quý vị vừa theo dõi phần ba của Vụ án xét lại chống đảng, mới quý vị theo dõi tiếp phần thứ tư cũng là phần cuối có tựa “Những người che mắt lịch sử” sẽ phát vào chương trình kế tiếp.

 

Vụ án xét lại chống đảng, phần 4 – Những người che mắt lịch sử

maclam10242013.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

ldt-305.jpg

Hàng ngồi từ trái sang: Ông Võ Chí Công, Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười.

File photo

Trong tập hai của Bên Thắng Cuộc mang tên Quyền Bính, trong chương “Tướng Giáp”, Huy Đức ghi lại lời kể của Trần Quỳnh, trợ lý Lê Duẩn nói về thành phần bị bắt thời gian này: “Những người không tán thành đường lối chống xét lại của Đảng, một số cán bộ cao cấp và trung cấp theo học ở trường Đảng cao cấp Liên Xô và trường quân sự cao cấp Liên Xô bàn kế hoạch chống lại đường lối của Đảng. Họ lập một nhóm vận động thành lập một tổ chức lấy việc thay đổi Bộ Chính trị làm mục tiêu. Họ nhắm vào những người không đồng tình với Nghị quyết 9, trước hết là những sĩ quan cao cấp trong quân đội và những ủy viên trong Trung ương”.

Thật ra đây chỉ là một mối nhỏ trong guồng chỉ rất lớn của vụ án chính trị nổi tiếng này. Những người bị bắt, bị lưu đày sau gần 50 năm vẫn chưa bao giờ được chính quyền chứng minh hành vi kết tội của họ đối với người bị bắt. Hầu hết nạn nhân của vụ án là người yêu chuộng sự đổi mới hợp lý khi chủ nghĩa tôn sùng cá nhân bị chỉ trích tại Liên Xô cũng chính là lúc Lê Duẩn, Lê Đức Thọ muốn củng cố địa vị của họ bằng sức mạnh theo kiểu Mao Trạch Đông chủ trương.

Nghị quyết 9, sự kết giao nguy hiểm

Nghị quyết 9 cho thấy khuynh hướng theo Trung Quốc và ai không đồng tình với khuynh hướng này thì bị thanh trừng. Quyền lực sẽ bị lu mờ nếu hào quang của Tướng Giáp vẫn còn tỏa sáng trên sân khấu chính trị Việt Nam khiến bằng mọi cách phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ phải thực hiện cho được sự ám toán ông qua một vụ án chính trị là cách hay nhất.

Thời kỳ đó gian khổ lắm vì mang trên đầu các chữ phản: ‘phản Tổ quốc, phản nhân dân, phản đảng’. Gia đình chúng tôi ở bên ngoài thì bị mọi người xa lánh.
-Ô. Hoàng Minh Chính

Ông Hoàng Minh Chính bị bắt đầu tiên, vợ của ông là bà Lê Hồng Ngọc kể lại nỗi gian truân trong thời gian ấy:

Đang làm người lãnh đạo tập đoàn thanh niên được đảng tín nhiệm đưa đi học nước ngoài rồi về sẽ cho chức nọ chức kia. Anh tưởng là anh nói như vậy để giúp đảng nhưng cuối cùng cũng không giải quyết được gì hết mà còn bị tù tội. Thời kỳ đó gian khổ lắm vì mang trên đầu các chữ phản: phản Tổ quốc, phản nhân dân, phản đảng. Gia đình chúng tôi ở bên ngoài thì bị mọi người xa lánh, không ai đến, không ai dám hỏi thăm. Bản thân anh thì hoàn toàn là biệt lập vì cái tội như thế nên cũng nhiều nỗi đau khổ lắm.

Những người vợ

Là vợ của một người thân cận với Chủ tịch Hồ Chí Minh bà Phạm Thị Tề không thể chịu đựng nỗi sự im lặng của người từng được gia đình mình phục vụ. Nhà văn Vũ Thư Hiên kể lại thái độ gan góc của mẹ mình khi không chịu vào Phủ Chủ tịch đề nhờ sự can thiệp của ông Hồ Chí Minh:

IMG-2447-250.jpg
Nhà văn Vũ Thư Hiên và Blogger Người Buôn Gió tại Paris, ảnh chụp năm 2010. Courtesy Blog Người Buôn Gió.

“Không! Mặc dù bà cụ tôi là người gần gũi ông Hồ Chí Minh ngày xưa. Lúc ông ấy mới về Hà Nội thì ông ấy rất ốm. Ông ấy lúc bấy giờ bị lao phổi, ngoài thuốc chữa thì bà cụ tôi phải nấu thức ăn bổ dưỡng để cận vệ mang vào cho ông ấy. Thế nhưng khi đã bắt ông cụ tôi thì bà bảo cái người đó không còn tin được nữa thế nên bà cụ tôi không liên hệ. Sau này tôi gặp ông Hoàng Quốc Thịnh, lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại thương ông ấy nói có một lần ông ấy vào báo cáo với ông Hồ Chí Minh vào giai đoạn ông cụ tôi bị bắt, ông hỏi là tai sao lại bắt những người như anh Huỳnh, cả cuộc đời theo cách mạng như thế? Thì ông ấy (HCM) tỏ vẻ ngạc nhiên hay đóng kịch như là: Tại sao bắt anh Huỳnh? Sao lại bắt?… đại khái như thế? Đấy là lời ông Hoàng Quốc Thịnh nói với tôi.”

Những người đàn bà không bị bắt còn khổ sở hơn chồng của họ. Bà Lê Hồng Ngọc kể lại chuyện ba người đàn bà vợ của các ông Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh và Đặng Kim Giang:

Gia đình rất là gian nan khổ sở. Về mặt kinh tế thì không nói cũng biết rồi, vật chất có gì ngoài củ sắn đâu cho nên tất cả những tem phiếu có được đều giữ lại bù đắp cho anh ấy. Thăm nuôi tiếp tế thì rất lâu mới được đi một lần. Trong tình cảnh ấy tôi nghĩ là rất nhiều chị em như tôi như bà Vũ Đình Huỳnh, bà Đặng Kim Giang. Ba chị em hay đi với nhau lắm. Chúng tôi lên tận trên trại Bất Bạt, trên ấy xa xôi lắm. Họ đánh kẻng mới được đi vào, vào thăm mấy tiếng thì phải đi về.

Theo thư gửi cho nhiều cơ quan chính quyền vào năm 1994, bà Phạm Thị Tề nhắc lại sau Đại hội VI của Đảng, chồng bà là ông Vũ Đình Huỳnh lúc ấy đã được thả ra, có thư gửi tới nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, một lần nữa yêu cầu ông Linh đưa vụ này ra ánh sáng. Thế nhưng không riêng gì ông Huỳnh mà tất cả những người bị bắt hay đã chết, yêu cầu chính đáng ấy không bao giờ được giải quyết.

Sự im lặng đồng lõa

Gia đình rất là gian nan khổ sở. Về mặt kinh tế thì không nói cũng biết rồi, vật chất có gì ngoài củ sắn đâu cho nên tất cả những tem phiếu có được đều giữ lại bù đắp cho anh ấy.
-Bà Lê Hồng Ngọc

Ông Lê Hồng Hà một trong những nạn nhân của vụ án cho biết:

Những năm sau này, từ năm 9091 trở đi họ bắt đầu thấy một số các vấn đề không thỏa đáng. Thế thì họ có giải quyết theo kiểu những người bị tù nhiều năm thì tha rồi. Một số các người bị thiệt hại quyền lợi thì được cho khôi phục lại quyền lợi. Ví dụ một số những ông như Lê Trọng Nghĩa, Hoàng Minh Chính thì người ta khôi phục lại mức lương khá khá hơn thôi. Tuy nhiên họ cũng không tuyên bố là sửa sai. Họ sửa nhưng không tuyên bố.

Ông Hoàng Minh Chính, người trực tiếp mang tinh thần xét lại từ Liên Xô về Việt Nam xứng đáng là người tiên phong vì đã đề nghị đảng cộng sản Việt Nam thay đổi phương hướng trong chính sách của mình nhưng ông đã phải trả một giá rất đắt cho ý tưởng này. Theo lời thuật lại của vợ ông là bà Lê Hồng Ngọc, tên thật Nguyễn Thị Thanh Yến cho biết chồng bà gia nhập đảng cộng sản rất sớm, vào năm 19 tuổi. Người ký giấy giới thiệu cho ông vào đảng là Lê Đức Thọ và cũng chính ông này ký lệnh bắt giam Hoàng Minh Chính vào năm 1967.

Ông bị tù cả thảy 11 năm và 9 năm quản chế, khởi đầu từ 1967 kéo dài đến năm 1990.

Hoàng Minh Chính mất ngày 7 tháng 2 năm 2008. Nói về vụ yêu cầu xét xử những bản án oan sai, trước đó trong một lần trả lời Đài Á Châu Tự Do ông nói:

“Từ trước tới nay tất cả những cái đơn kiện của công dân thực ra họ có trả lời đâu? Mà ở trong nước người ta thường dọi là ‘kiện củ khoai’. Vấn đề này khi kiện thì đối với phương diện pháp lý nói lên rằng có những vu khống như thế và tôi yêu cầu tòa án Việt Nam phải đưa vụ án này ra xét xử. Đấy là nguyên tắc về pháp lý nhưng tin tưởng thì tôi không hề tin tưởng bởi vì từ trước tới nay họ đều im lặng hết.”

Vụ án xét lại chống đảng có thể là vụ án chính trị cuối cùng và lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam tuy nhiên nó sẽ chẳng bao giờ biến mất hay lãng quên bởi sự lẫn trốn trách nhiệm của những nhân vật cao cấp nhất trong đảng qua nhiều đời Tổng bí thư. Minh oan và trả lại sự thật cho các nạn nhân của vụ án là việc làm hoàn toàn có lợi cho đảng.

Mặc dù nếu công khai những sự kiện này ra thì rất nhiều khuôn mặt đang đứng phía sau hậu trường chính trị khó thoát khỏi sự truy cứu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, tuy nhiên việc làm này sẽ giúp Đảng cộng sản được tiếng là dũng cảm, dám nhận trách nhiệm trước dân chúng để bắt đầu một giai đoạn mới hòa nhập vào dòng chảy dân chủ thật sự với  thế giới.

 

Hai giáo dân Trại Gáo bị kết án 6 đến 7 tháng tù

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok.  2013-10-23

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/trial-of-2-catho-i-vinh-10232013055148.html

Hai giáo dân Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải trước tòa ngày 23/10/2013

Hai giáo dân Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải trước tòa ngày 23/10/2013. Photo baonghean.vn

Nghe bài này

Tòa án tại thành phố Vinh hôm nay, 23 tháng 10, đưa ra xét xử hai giáo dân Trại Gáo trong vụ việc dẫn đến căng thẳng giữa chính quyền tỉnh Nghệ An và Tòa giám mục Xã Đoài từ hồi đầu tháng 9 đến nay.

Phản đối bản án và tòa án

Hai người bị đưa ra xét xử tại phiên xử kéo dài chừng ba tiếng đồng hồ vào sáng ngày 23 tháng 10 là hai ông Ngô Văn Khởi, 53 tuổi, và Nguyễn Văn Hải, 43 tuổi. Hai ông bị buộc tội gây rối trật tự công cộng.

Tòa án tuyên ông Ngô Văn Khởi 7 tháng tù giam và ông Nguyễn Văn hải 6 tháng tù giam.

Ngay sau khi nghe tin về bản án, một người con của ông Ngô Văn Khởi lên tiếng:

Gia đình hiện rất bức xúc vì cha tôi và anh Hải không có tội mà tự nhiên ra bản án như thế. Gia đình không đồng tình.

Một vị linh mục tại giáo phận Vinh cũng có ý kiến:

Chúng tôi nhận thấy tốt nhất những người đó phải được trả tự do.

Gia đình hiện rất bức xúc vì cha tôi và anh Hải không có tội mà tự nhiên ra bản án như thế. Gia đình không đồng tình

con của ông Ngô Văn Khởi

Lập luận vô tội

Hai ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải bị bắt hồi ngày 27 tháng 6 vừa qua. Ông Khởi bị bắt khi đang trên đường đi dự đám cưới một người thân. Còn ông Hải bị bắt khi đang đưa một đứa cháu nhỏ đi khám bệnh. Gia đình cả hai người bị bắt đều không hay biết gì đến một tuần lễ sau mới nhận được giấy thông báo của công an tỉnh Nghệ An, cho biết họ bị bắt và khởi tố về tội gây rối trật tự công cộng.

Việc bắt giữ hai ông này được cho biết xuất phát từ vụ một số người mặc thường phục chặn một xe khách hành hương đến linh địa Trại Gáo hồi chiều tối ngày 22 tháng 5. Những người mặc thường phục đó còn đòi lục soát những khách đi trên xe. Thông tin được báo cho Đội An Ninh Trại Gáo. Đội này cùng nhiều giáo dân chạy đến yêu cầu những người mặc thường phục đó cho biết vì sao lại chặn xe, đòi lục soát hành lý như thế. Giữa hai phía đã cải vả nhau và xảy ra xô xát khiến một số người chặn xe bị thương. Những người bị thương được đội an ninh Trại Gáo đưa về nhà một nhà văn hóa xóm, còn số khác bỏ chạy về nhà của viên xã đội gần đó. Tuy nhiên đám đông vẫn truy đuổi theo.

Hình ảnh vụ việc Mỹ Yên trên đài VTV1
Hình ảnh vụ việc Mỹ Yên trên đài VTV1. Screen capture

Hội đồng mục vụ Trại Gáo giáo được phó công an huyện gọi điện yêu cầu giải cứu. Việc giải cứu được tiến hành và lúc đó cũng phát hiện ra những người chặn xe khách hành hương chính là công an vì đồ của họ để trong cốp xe.

Mới hôm qua, gia đình nghe dân làng, một số người trong xóm bên lương, chứ không phải bên giáo được thông báo cho biết. Ngoài ra ông phó chủ tịch xã cũng điện lên cho người trong xóm biết như vậy. Không báo cho gia đình biết (ngày xét xử)

Hội đồng này đã thông báo cho tòa giám mục và đích thân giám mục Nguyễn Thái Hợp cùng vài linh mục khác đã đến để yêu cầu giáo dân và người dân không tiếp tục truy bức những người chặn xe nữa, và đồng thời đưa những công an mặc thường phục bị thương đi.

Vụ việc như thế nhưng hơn một tháng sau hai ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải bị bắt. Gần 50 giáo dân khác cũng bị mời đi làm việc.

Một người con của ông Ngô Văn Khởi trình bày lại thông tin liên quan đến người cha trong vụ việc:

Lúc sự việc xảy ra rồi, bố tôi đang còn đọc kinh mà. Sau một hồi đến gần khuya bố tôi mới ra, sự việc xong xuôi rồi. Khi đó bên chính quyền nhờ Đức Cha sang đưa người về. Đức Cha cũng ‘mở lòng’ ra sang đưa người về. Bây giờ họ ghép cho tội như vậy.

Trong thời gian bị bắt giam gia đình hai ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải được đến trại thăm hai lần. Lần gần nhất hồi ngày 23 tháng 8 vừa qua.

Việc họ làm thế này không có gì trái qui định của pháp luật Việt Nam, nhưng nếu vụ án muốn thuyết phục người dân nhằm giáo dục hay tuyên truyền, hoặc người ta muốn minh bạch hay muốn chứng minh một sự công khai, đàng hoàng hay lẽ phải của công lý, người ta nên thông báo cho gia đình và thông báo sớm để người dân quan tâm đến tham dự phiên tòa

LS Hà Huy Sơn

Đến ngày 22 tháng 10, gia đình nghe thông tin về việc xử hai ông trong ngày 23 như sau:

Mới hôm qua, gia đình nghe dân làng, một số người trong xóm bên lương, chứ không phải bên giáo được thông báo cho biết. Ngoài ra ông phó chủ tịch xã cũng điện lên cho người trong xóm biết như vậy. Không báo cho gia đình biết, lẽ ra xã gửi cho những người khác cũng phải báo cho gia đình biết. Gia đình không có giấy tờ gì nên không thể đi được.

Ý kiến luật sư

Về việc gia đình hai ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải không nhận được giấy mời dự tòa, cũng như vấn đề luật sư bào chữa, luật sư Hà Huy Sơn cho biết:

Theo qui định của Việt Nam thì đối với những người không phải vị thành niên, không bắt buộc phải thông báo cho gia đình. Đối với những mức hình phạt từ 20 năm trở lên đến chung thân, tử hình thì người ta không bắt buộc phía tòa phải mời luật sư cho các bị cáo. Trong trường hợp này tôi nghĩ các bị cáo không có nhu cầu mời luật sư, còn thực chất thế nào tôi không được biết. Việc họ làm thế này không có gì trái qui định của pháp luật Việt Nam, nhưng nếu vụ án muốn thuyết phục người dân nhằm giáo dục hay tuyên truyền, hoặc người ta muốn minh bạch hay muốn chứng minh một sự công khai, đàng hoàng hay lẽ phải của công lý, người ta nên thông báo cho gia đình và thông báo sớm để người dân quan tâm đến tham dự phiên tòa. Còn về mặt pháp luật thôi thấy họ không làm gì trái trong pháp luật qui định.

Căng thẳng giữa chính quyền và giáo hội

Vụ việc bắt giữ hai ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải không dừng lại trong phạm vi giáo họ Trại Gáo, giáo xứ Mỹ Yên. Lý do vì sau nhiều lần làm đơn gửi các cấp chính quyền về tình trạng vô tội của hai ông này, vào cuối tháng 8, gia đình và nhiều giáo dân đã đến Ủy ban Nhân dân xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc là cơ quan quản lý hành chánh tại địa phương để yêu cầu thả người.

Chiều ngày 3 tháng 9, ông chủ tịch xã viết giấy cam kết vào 4 giờ chiều hôm sau sẽ thả hai ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải ra. Tuy nhiên đến giờ hẹn, những giáo dân đến thì họ gặp một lực lượng công an, cảnh sát cơ động và dân quân tự vệ hùng hậu với các công cụ hỗ trợ như chó nghiệp vụ, lựu đạn cay… Một cuộc trấn áp diễn ra và nhiều giáo dân bị đánh đến thương tích nặng nề.

Truyền thông tỉnh Nghệ An và trung ương có những bài viết và phóng sự mà theo các giáo dân cũng như Tòa Giám mục Xã Đoài, Vinh là không đúng sự thật. Các giáo xứ trong giáo phận Vinh trong những tuần lễ sau đó liên tục thắp nến cầu nguyện hiệp thông với giáo xứ Mỹ Yên. Thông tin cho biết những giáo dân bị đánh đến thương tích nặng hồi ngày 4 tháng 9 đến nay vẫn còn phải điều trị.

Người H Mông 4 tỉnh phía Bắc đổ về Hà Nội đòi thả người

http://www.danchimviet.info/archives/80743/nguoi-h-mong-4-tinh-phia-bac-do-ve-ha-noi-doi-tha-nguoi/2013/10

Trong mấy ngày qua, trời Hà Nội mưa và gió lạnh, thông tin về những người H Mông bị bị công an quận Đống Đa đuổi ra khỏi nhà thờ trong đêm giá lạnh đã khiến cộng đồng không thể bàng hoàng, bàng hoàng vì tại sao con em nhân dân sau khi được tuyển vào ngành công an, ngành công an đã đào tạo họ như thế nào, môi trường sống và làm việc ra sao mà chúng nó lại trở nên tàn nhẫn như vậy,…

Sáng 9/10/2013 chúng tôi có mặt tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng để tìm hiểu sự việc, tìm hiểu xem người H Mông đã làm gì mà bị công an tìm cách xua đuổi ra khỏi Hà Nội như vậy,…..thì ra họ về thủ đô là để đòi người, những người bị bắt đi khi họ tham gia đấu tranh với chính quyền những mục tiêu sau của người H Mông.

Đấu tranh cho quyền làm chủ của người dân.

Theo trình bày của người dân H Mông tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng thì tất cả dân tộc H Mông sống trong 4 tỉnh phía Bắc là Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang đều bị đàn áp tàn nhẫn, cấm không cho sống đời sống văn minh mà bắt trở về với các thủ tục lạc hậu của dân tộc H Mông.

Người H Mông không nghe theo chính quyền địa phương bắt họ trở lại phong tục tập quán như xưa, đó là người chết phải treo trên tường 7 ngày 7 đêm và phải bón cơm, phải mổ trâu mổ bò ngồi ăn cùng với xác chết 7 ngày 7 đêm rồi vác xác chết đi chôn không quan tài, 13 ngày sau lại phải mổ trâu bò cúng ma, người H Mông không nghe theo chính quyền xã, huyện sống lại phong tục lạc hậu từ trước năm 1989.

Từ năm 1989 người H Mông thuộc 4 tỉnh phía bắc bao gồm Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang đã xây dựng cho mình một cuộc sống mới, từ bỏ phong tục cổ hủ, lạc hậu, họ đã thống nhất mỗi nơi làm một cái nhà nhỏ để đồ tang lễ để mỗi khi ai chết mang ra dùng.

Người H Mông không chấp nhận chính quyền và công an mang dùi cui điện và còng số 8 đến đàn áp, phá nhà tang lễ và đánh đập người dân, nhiều người bị bắt mang đi.

Đấu tranh cho sự thật, yêu cầu chính quyền phải trả lại tiếng thơm cho anh Dương Văn Minh.

Người H Mông rất biết ơn anh Dương Văn Minh trú quán thôn Ngòi Sen, xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, anh Minh là người đã giúp người H Mông cải đổi đời sống. Người H Mông đã sống và thay đổi phong tục tập quán mới như trên từ năm 1989 là nhờ anh Dương Văn Minh, họ đã sống trong môi trường trong lành và đời sống khỏe mạnh, không còn ám ảnh bởi mà tà cúng tế, mổ trâu bò suốt 7 ngày 7 đêm nữa,…thế nhưng anh Dương Văn Minh lại bị công an bắt giam 5 năm tù với tội tổ chức tôn giáo trái pháp luật.

Người H Mông chính là nhân chứng cho sự thật, cho những việc làm của anh Dương Văn Minh, họ không chấp nhận việc chính quyền bóp méo sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của nhân dân và đòi hỏi chính quyền phải trả lại tiếng thơm cho anh Dương Văn Minh, cấp bằng khen thưởng cho anh Dương Văn Minh, người đã mang lai cho dân tộc H Mông đời sống văn minh, thoát khỏi đói nghèo 25 năm nay.

Người H Mông yêu cầu chính quyền phải điều tra sự thật và truy tố những cán bộ làm sai pháp luật, bồi thường thiệt hại, trả lại những đồ tang lễ, không được phá nhà bảo quản đồ tang lễ để họ trở về với cuộc sống bình an và văn minh.

Ngoài ra người H Mông cũng thách chính quyền là nếu chính quyền bắt họ trở về với những phong tục lạc hậu thì đề nghị chính quyền phải cung cấp trâu bò, tiền, bạc, lợn gà, rượi, gạo….để họ cúng ma làm lễ, chính quyền về sống và cùng thực hiện cúng mà với bà con nhưng phải làm nhà treo xác riêng và chính quyền phải tự vác xác đi chôn. Nếu chính quyền làm được như trên thì họ sẽ quay về với tập tục lạc hậu (xem tại ảnh các ảnh chụp đơn tố cáo của người H Mông kèm theo cuối bài).

Trên đây là 2 lí do căn bản đã dẫn đến sự việc người H Mông bỏ nhà cửa, cuộc sống của mình về Hà Nội để đấu tranh đòi thả người, họ nói “khi nào chính phủ và nhà nước không bắt dân tộc này nữa, không làm cho dân tộc này hoàng mang lo sợ nữa thì chúng tôi sẽ về, tự nhiên chúng tôi sẽ về, chúng tôi có nhà cửa, có cuộc sống của chúng tôi chứ, chẳng qua không công bằng nên chúng tôi phải đi đòi hỏi” (nghe phát biểu của Ma Văn Pá và Lý Văn Anh người dân tộc H Mông)

http://youtu.be/HuwFJ-rNtBs

http://youtu.be/LV8HuuNxK58

Trong một tuần xuống Hà Nội họ lại tiếp tục bị công an tiếp tục đối xử tàn nhẫn, lại có thêm 2 người bị thương,… họ đến nhà thờ xin trú ngụ, nương nhờ trong đêm mưa gió nhưng bị công an quận Đống Đa đến yêu cầu ra vườn hoa…để ngủ.

Người H Mông ở Hà Nội đang bị công an gây cản trở, nhưng nghe họ phát biểu, tôi có niềm tin vào họ, một dân tộc thật thà và mạnh mẽ, họ đấu tranh với một niềm tin xác đáng rằng họ xứng đáng có được một cuộc sống dân chủ, văn minh như họ muốn xây dựng.

Được biết, một số người thương cảm với bà con H’ Mông đã đem chăn, chiếu, mì tôm tới giúp đỡ nhưng công an đã gây khó dễ cho những người muốn trợ giúp. Trước đó, nhà thờ Thái Hà muốn cho bà con ngủ nhờ cũng không được.

Ông Phàng Sao Vàng  bị cách ly và đưa về địa phương

Ông Phàng Sao Vàng bị cách ly và đưa về địa phương

Trong một diễn biến liên quan ông Phàng Sao Vàng –  một người vừa được nhiều tờ báo nhắc tới khi ông tới viếng đại tướng Võ Nguyên Giáp- đã bị bắt đi và sau đó bị ‘hộ tống’ về nhà. Ông Vàng là cựu chiến binh, đồng thời là một dân oan đã khiếu kiện 20 năm nay. Ông Phàng Sao Vàng sinh năm 1936 người H’Mông ở bản Suối Vạch, xã Kim Bon, huyện Phù Yên tỉnh Sơn La là người có mặt gần như thường trực ở Vườn hoa Mai Xuân Thưởng – Lý Tự Trọng nhiều năm nay.

Ông cho biết, vụ việc của ông đã “kéo dài 20 năm, 5 tạ đơn, 5 kg dấu đỏ”.

Sau đây là một số cảnh sinh hoạt của người H Mông tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng sáng ngày 19/10/2013

hmong-1

hmong-2

Tổng hợp theo theo facekook Thanh Tran, Nguyễn Tường Thụy

Hiến pháp mới của Việt Nam sẽ không có những thay đổi căn bản

Thanh Phương, rfi, 23/10/13

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20131022-hien-phap-moi-cua-viet-nam-se-khong-co-nhung-thay-doi-can-ban

Tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội, sáng nay, 22/10/2013, Trưởng ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam, ông Phan Trung Lý đã trình bày Báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội và ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Báo cáo giải trình này cho thấy là bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp, dự trù sẽ được Quốc hội thông qua trong kỳ họp lần này, sẽ không có gì thay đổi căn bản.

Theo trình bày của ông Phan Trung Lý, dù vẫn có ý kiến lấy tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng đa số ý kiến đại biểu và nhân dân đồng ý giữ tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông Lý cho rằng, tên nước hiện nay « đã được Quốc hội lựa chọn ngay sau khi đất nước thống nhất, đã thân quen với nhân dân và được quốc tế công nhận », nên việc giữ tên nước là cần thiết.

Về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đề nghị Quốc hội giữ quy định về nội dung này trong điều 4 của bản dự thảo vì “đa số ý kiến tán thành”. Trưởng ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam đề nghị cần quy định rõ trong Hiến pháp là các lực lượng vũ trang có nghĩa vụ « trung thành của với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước ».

Ông Phan Trung Lý cũng đề nghị không bổ sung quy định về Hội đồng Hiến pháp vào dự thảo, bởi vì theo ông, « đa số đồng ý với việc tiếp tục hoàn thiện, nâng cao cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành », nên không cần thành lập Hội đồng Hiến pháp.

Theo lời ông Phan Trung Lý, Ủy ban dự thảo cũng đề nghị không quy định những nội dung cụ thể và đối tượng của việc trưng cầu ý dân trong Hiến pháp, mà « để luật quy định, tùy vào tình hình thực tiễn của mỗi giai đoạn phát triển đất nước ».

Trong bản dự thảo Hiến pháp được trình bày hôm nay, đất đai vẫn là « sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý» . Ủy ban dự thảo chỉ đề nghị quy định chặt chẽ việc thu hồi đất, tránh ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Theo chương trình kỳ họp, sáng mai, 23/10, các đại biểu sẽ thảo luận ở tổ về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Ngày 5/11 và sáng 18/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường; đến sáng 28/11 sẽ biểu quyết thông qua dự thảo này.

Nhưng không ai chờ đợi là sau các phiên thảo luận đó sẽ có những sửa đổi căn bản trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp và bản dự thảo này như vậy vẫn không tính đến những ý kiến của giới nhân sĩ trí thức, nhất là trong nhóm kiến nghị 72.

Nhóm này vào đầu tháng 6 vừa qua đã ra tuyên bố phản đối bản dự thảo Hiến pháp đã được trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5, tức kỳ họp trước, vì theo họ, bản dự thảo mới này hầu như không thay đổi so với Dự thảo lần đầu đưa ra lấy ý kiến nhân dân từ đầu tháng 1 năm nay. Đặc biệt, nhóm kiến nghị 72 cho rằng, việc hiến định sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội và Nhà nước là « biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần phản dân chủ ».

Các nhân sĩ trí thức trong nhóm này cũng tố cáo « tính hình thức, áp đặt và quá tốn kém » của việc lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp, nhất là mọi ý kiến khác với quan điểm hoặc ý muốn của cơ quan lãnh đạo « đều không được chấp nhận, thậm chí không được công bố và thảo luận công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, mà chỉ bị phê phán, quy kết một chiều.

Ý kiến đa chiều về việc sửa đổi hiến pháp

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok.  2013-10-22

 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/mul-sid-propo-consti-10222013064409.html

10222013-mul-sid-propo-consti.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam

Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam. Files photos

Nghe bài này

Vấn đề dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992 được nêu ra trong ngày thứ hai kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 hiện đang diễn ra tại Hà Nội.

Trong thời gian qua ngoài một số nhóm còn có những cá nhân cũng đưa ra bản góp ý của bản thân. Đó là những ý kiến đa chiều cho một bản dự thảo mới của Việt Nam.

Những ý kiến bổ sung đa chiều

Một trong những bản góp ý cá nhân được đưa lên mạng hồi trung tuần tháng 10 vừa qua đó là của tiến sĩ Trần Nhơn, nguyên thứ trưởng, chủ tịch Hội Thủy Lợi Việt Nam.

Bản góp ý của ông này gồm đầy đủ tất cả các chương và điều về mọi mặt của một bản hiến pháp. Tuy nhiên theo tiến sỹ Trần Nhơn thì ông chỉ phát triển bản góp ý của bản thân dựa theo Kiến nghị của 72 nhân sĩ- trí thức trong nước đưa ra mà thôi. Ông cho biết:

Mọi người dân đều được Nhà nước tạo điều kiện qua đợt này đều được nghiên cứu, hiểu biết, nâng cao nhận thức lên, học hỏi lẫn nhau để góp ý cho cái chung, cái tốt. Tôi cũng làm việc đó thôi. Tôi thấy rằng kiến nghị 72 cũng là một bản kiến nghị tốt. Nhưng có những chỗ chưa được tốt nên tôi suy nghĩ mãi gần một năm nay, tôi bổ khuyết hai điểm đã nêu rõ. Điểm thứ nhất tên nước nên dùng Cộng Hòa Đại Việt, và tôi chứng minh lý do vì sao gọi như thế. Điểm thứ hai là Điều 11. Tôi có đề xuất thay vì đưa cụ thể cờ này nọ, quốc huy kia thì nên giao cho Quốc Hội trình nhân dân biểu quyết thì sẽ khách quan hơn. Tôi chỉ có hai ý kiến đó, còn tất cả theo Kiến nghị 72 vì đó là công trình nghiên cứu của các nhà chuyên môn luật học và các nhà khác. Tôi góp ý trên nền tảng Kiến nghị đó.

Toàn cảnh buổi lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa 13 của Việt Nam hôm 21/10/2013.
Toàn cảnh buổi lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa 13 của Việt Nam hôm 21/10/2013. AFP

Riêng chuyện một cái nhà ngay giữa thủ đô Hà Nội mà không giải quyết đúng như thế thì đối với nhân dân ở địa phương cùng cực, ở nông thôn làm sao người ta có thể phát biểu được

GSTS bác sỹ Trịnh Văn Minh

Kiến nghị từ kinh nghiệm riêng

Một cá nhân khác cũng gửi thư ngỏ góp ý cho dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992 là của giáo sư tiến sỹ bác sỹ Trịnh Văn Minh. Ông này đã nghỉ hưu, chuyên nghiên cứu viết sách y khoa mà thôi. Thế nhưng tình trạng thi hành luật pháp đối với gia đình ông khiến ông phải bức xúc góp ý muốn sửa đổi hiến pháp trước hết phải sửa đổi con người hành pháp và tư pháp. Ông cho biết:

Nhân chuyện góp ý, và có liên quan đến gia đình nhà tôi- cái nhà. Thành ra tôi có viết một bài. Tôi cũng đọc kiến nghị của 72 vị nhân sĩ trí thức thế thôi.

Tôi chỉ muốn luật pháp phải được thực hiện nghiêm minh. Luật pháp đã đặt ra phải được thực hiện. Luật pháp có bộ luật hình sự với rất nhiều điều nhưng thực hiện thì không được bao nhiêu. Những người thi hành pháp luật thì thường làm không theo luật, ăn tiền nhiều hơn làm đúng luật. Trong chuyện giải quyết vấn đề gia đình nhà tôi tôi thấy chưa được đúng. Riêng chuyện một cái nhà ngay giữa thủ đô Hà Nội mà không giải quyết đúng như thế thì đối với nhân dân ở địa phương cùng cực, ở nông thôn làm sao người ta có thể phát biểu được. Thế cho nên tôi cũng mạnh dạn tôi phát biểu.

Điều 9 là điều công nhận có đảng bình đẳng, luật pháp bảo hộ cho sự bình đẳng đó. …‘Các đảng phái chính trị được tự do thành lập và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ. Quyền đối lập chính trị được tôn trọng và pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các đảng phái chính trị

tiến sỹ Tràn Nhơn

Sự ủng hộ

Sự lên tiếng của giáo sư tiến sỹ bác sỹ Trịnh Văn Minh ở Hà Nội qua chuyện riêng gia đình, cũng như ý thức của 72 nhân sĩ trí thức và tiến sỹ Tràn Nhơn, khi thẳng thắn đưa ra góp ý cho dự thảo sửa đổi hiến pháp nhận được sự ủng hộ của người khác. Tiến sỹ Trần Nhơn cho biết:

Vừa rồi có một anh luật sư, Hà Huy Sơn có email góp ý cho tôi. Anh viết thế này “ Cháu cho rằng nếu tất cả những bản dự thảo hiến pháp không có Điều 9 như dự thảo của chú đều gây lộn xộn và hoàn toàn vô nghĩa.” Điều 9 là điều công nhận có đảng bình đẳng, luật pháp bảo hộ cho sự bình đẳng đó. Tôi viết thế này ‘Các đảng phái chính trị được tự do thành lập và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ. Quyền đối lập chính trị được tôn trọng và pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các đảng phái chính trị.

Điều này thì trong Kiến nghị 72 nêu ra rồi còn tôi chỉ nêu ra lại thôi. Anh Hà Huy Sơn thì rất quan tâm đến điều đó.

Mong muốn

Dù có góp ý cụ thể như đã đăng trên mạng, nhưng tiến sỹ Trần Nhơn cũng cho biết ông mong muốn cần dành thêm nhiều thời gian nữa để bàn thảo để đi đến một hiến pháp tốt cho đất nước chứ không thể làm vội:

Nói thì anh nào nói cũng hay, thế nhưng thực hiện thì không được bao nhiêu. Làm thế nào ít nói mà thực hiện tốt để nhân dân được nhờ

Ông Trịnh Văn Minh

Tôi thì tôi muốn để cho có thời gian, bàn luận một cách chu đáo cho đến năm 2015 mới cho ra hiến pháp. Hiến pháp đó gọi là Hiến pháp 2015 chứ không có sửa đổi gì cả.

Tôi nghĩ nếu Đảng Cộng sản Việt Nam nếu làm được lộ trình đó sẽ được ghi công. Ngược lại nếu anh có quyền và làm gì thì làm, lịch sử sẽ đánh giá thôi. Tôi hy vọng Quốc hội không thông qua đợt này mà bàn thảo thêm. Tôi mong rằng phương tiện thông tin đại chúng có thể góp phần để Quốc hội nhận ra những tồn tại của dự thảo để tiếp tục hoàn thiện để thông qua vào một dịp sau. Việc đó lịch sử sẽ đánh giá kỳ họp quốc hội này.

Ông Trịnh Văn Minh cũng bày tỏ:

Nói thì anh nào nói cũng hay, thế nhưng thực hiện thì không được bao nhiêu. Làm thế nào ít nói mà thực hiện tốt để nhân dân được nhờ.

Vào sáng ngày 22 tháng 10, ông Phan Trung Lý, trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992, trình bày báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến của đại biểu quốc hội và ý kiến của người dân về dự thảo đó. Sau khi theo dõi trình bày ấy trên truyền hình, tiến sỹ Trần Nhơn cho biết ông lấy làm thất vọng. Hầu như mọi kiến nghị tâm huyết đã không được lắng nghe. Dẫu thế tiến sỹ Trần Nhơn cũng bày tỏ chút hy vọng đến khi biểu quyết may ra sẽ có thay đổi hợp lòng dân.

Tin, bài liên quan

Họp mặt Phong trào Liên kết Dân chủ 2013 tại Houston

Hiền Vy, thông tín viên RFA.  2013-10-22

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/united-movement-f-democ-vn-10222013164419.html

10222013-houston-hv.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

RFA_IMG_1872-305.jpg

Các diễn giả tại Buổi Hội Luận do Phong Trào Liên Kết Dân Chủ tổ chức tại Houston tháng 10/2013

Photo by Hiền Vy/RFA

Phong Trào Liên Kết Dân Chủ đã tổ chức một Buổi Hội Luận tại Houston, trong kỳ họp mặt của PTLKDC vào cuối tuần 18/19/20 tháng Mười năm 2013.

Buổi Hội Luận chia làm hai phần. Phần đầu có chín diễn giả nói chuyện. Phần thứ hai có những người trẻ trong nước tham dự qua hệ thống Paltalk, trong đó có Nguyễn Phương Uyên.

Giáo sư Nguyễn Đình Minh Quốc, thay mặt ban tổ chức, chào mừng quan khách và chia sẻ lý do có kỳ họp mặt năm nay là “phát huy tình thân hữu, tạo niềm thông cảm, tình đoàn kết giữa anh chị em sinh hoạt trên mạng lưới internet”, cũng như mục đích và việc làm của Phong Trào Liên Kết Dân Chủ:

“Có nhiều phương cách đấu tranh khác nhau. Riêng chúng tôi là những người sinh hoạt trên mạng lưới Internet. Chúng tôi dùng internet để phá tan màng lưới bưng bít thông tin của đảng CSVN, đó là vấn đề ưu tiên nhất của chúng tôi. Chúng tôi chuyển tải tin tức từ trong nước ra hải ngoại. Chúng tôi chỉ cho anh chị em phương cách vượt tường lửa những trang web mà nhà nước Việt Nam ngăn chận,…”

Có nhiều phương cách đấu tranh khác nhau. Riêng chúng tôi là những người sinh hoạt trên mạng lưới Internet. Chúng tôi dùng internet để phá tan màng lưới bưng bít thông tin của đảng CSVN.
– GS. Nguyễn Đình Minh Quốc

Một trong các diễn giả của buổi hội luận là GS Nguyễn Chính Kết, cho rằng công cuộc tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Nhân Quyền tại Việt Nam còn thiếu sự liên kết chặt chẽ:

“Điều quan trọng nhất để chiến thắng trong cuộc đấu tranh này chính là sức mạnh. Và dường như tất cả các cuộc chiến thắng trên thế giới này đều dựa trên sức mạnh. Thế thì, sức mạnh của cộng sản nằm ở đâu? Nó nằm ở trong đầu súng, ở trong vũ khí. Thế còn chúng ta, những người đấu tranh bất bạo động, thì sức mạnh của chúng ta nằm ở đâu? Đương nhiên là nó nằm trong vấn đề chính nghĩa, hay là trong nhiều yếu tố khác. Nhưng cái mà hiện giờ tôi cảm thấy chúng ta thiếu nhất chính là sự liên kết,chính là sự đoàn kết.”

Một diễn giả khác là Linh mục Bác sĩ Phạm Hữu Tâm nhận xét rằng, nhờ sống trong thời đại toàn cầu hóa mà tin tức không còn bị giới hạn:

“Có lẽ người dân Việt Nam đã bớt đi phần nào, hay không còn sợ hãi chế độ cộng sản nữa, là bởi chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa. Tin tức không còn bị bưng bít ở Việt Nam mà được phát tán đi khắp Việt Nam và trên toàn thế giới, để mọi người có tấm lòng, có thể hòa nhịp vào phong trào đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo cho quê hương. Và sự toàn cầu hóa này có thể thực hiện được là nhờ có những tấm lòng trẻ yêu nước, với trình độ tinh học, kỹ thuật cao, như các anh chị em bạn trẻ ở đây…

Bản thân tôi, với tính cách là chủ tịch Ủy Ban Công Lý Hòa Bình, thuộc giáo phận Galveston, Houston, thì tôi luôn luôn khuyến khích và nhắc nhở những anh chị em công giáo về trách nhiệm liên đới xã hội, về trách nhiệm lên tiếng cho công lý và sự thật, lên tiếng bênh vực cho những người nghèo, những người bị bỏ rơi, những người bị đàn áp bất công. Những anh chị em công giáo chúng tôi, sống niềm tin không chỉ đóng kín trong khuôn viên nhà thờ, nhưng chúng tôi cũng phải bước tiếp vào trách nhiệm xã hội, đặc biệt là cho quê hương Việt Nam. Trong thời điểm này, một trong những trách nhiệm liên đới xã hội là lên tiếng về sự bạo tàn, dối trá, gian ác và bất công của chế độ cộng sản Việt Nam.”

RFA_IMG_1907-250.jpg
Những người tham dự buổi hội luận chụp hình tại tượng đài. RFA photo

Bà Huỳnh Thu Lan đến từ Michigan chia sẻ cảm tưởng của mình trước sự can đảm của người Việt trong nước:

Nếu bị đi tù vì lòng yêu nước, đi tù vì tinh thần dân tộc, thì không có gì đáng sợ cả. Nhà tù là một cái xã hội nhỏ, để cho chúng ta trưởng thành hơn…”
– Nguyễn Phương Uyên

“Trước sự can đảm, vùng lên để đòi quyền sống, quyền làm người, của đồng bào tại quốc nội và quan trọng hơn nữa là trước nguy cơ đất nước bị giặc tàu xâm chiếm, chúng ta, người Việt Nam ở hải ngoại, há dễ làm ngơ? Sự hiện diện của anh chị em, của quí vị, ngày hôm nay nói lên lòng quyết tâm dấn thân, và sẵn sàng cùng chung lưng đấu cật với đồng bào tại quê nhà để cùng nhau đấu tranh, dành lại quyền làm người và thiết lập một chính thể tự do dân chủ cho đất nước Việt Nam trong tương lai.”

Còn Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng khẳng định rằng người Việt hải ngoại đóng một vai trò quan trọng trọng việc tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê Mẹ Việt Nam:

“Cần phải cùng một lúc xây dựng ba yếu tố. Nếu đạt được, thì chúng ta sẽ bắt đầu thấy nhen nhúm con đường dân chủ cho đất nước Việt Nam như ở Miến Điện. Thứ nhất là người dân hết sợ và có bản lãnh, phải biết cách tự bảo vệ cho quyền lợi của mình. Thứ hai là có một đội ngũ tiên phong, có tài, có đức, có uy tín trên thế giới, và được tin tưởng ở trong lòng dân. Thứ ba là có những tổ chức hoạt động hữu hiệu, là phương tiện cho những nhà tranh đấu, cũng như là cái vòng đai bảo vệ cho họ. Khi đạt được ba yếu tố đó, đó là ba yếu tố căn bản, để tạo nên xã hội dân sự, hoặc là xã hội công dân. Rất cần thiết! Phải có xã hội công dân vững chãi thì mới cân bằng được ảnh hưởng của chế độ, mà bất kỳ thời nào, bất kỳ nơi nào trên thế gian này, phải đào tạo được ba điều ấy.

Có lẽ người dân Việt Nam đã bớt đi phần nào, hay không còn sợ hãi chế độ cộng sản nữa, là bởi chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa.
– Bác sĩ Phạm Hữu Tâm

Khi người dân ở trong lòng đất nước hãy còn bị kiệt quệ như một con bệnh lâu năm trầm kha, chưa ngóc đầu đứng dậy lên được, thì chúng ta ở hải ngoại phải là chất xúc tác đầu tiên. Chúng ta phải đóng vai trò chủ lực. Đó là nhiệm vụ lịch sử của mình. Không thể trốn chạy bằng cách nói là “Tôi chỉ yểm trợ mà thôi.” Chúng ta phải kích hoạt chuyến xe lịch sử đi về đúng hướng, để rồi người dân trong nước, bắt đầu ngồi dậy được, húp tí cháo, đứng trên đôi chân của mình để rồi bắt đầu lúc đó mới vươn tay ra để dành lại cái quyền của dân tộc, cái vận mạng của chính mình. Nhiệm vụ trong lúc này, từ 3 đến 5 năm nữa là của chúng ta. Không thể chối bỏ. ”

Ngoài sự hiện diện của đồng hương tại tiểu bang Texas, buổi hội luận còn có rất nhiều người đến từ các tiểu bang khác của Hoa Kỳ, cũng như từ nhiều quốc gia trên thế giới như Hòa Lan, Đức, Na Uy, Úc …  Từ Việt Nam, qua hệ thống Paltalk, Nguyễn Phương Uyên tâm sự cùng cử tọa hiện diện trong buổi họp mặt:

” Nếu bị đi tù vì lòng yêu nước, đi tù vì tinh thần dân tộc, thì không có gì đáng sợ cả. Nhà tù là một cái xã hội nhỏ, để cho chúng ta trưởng thành hơn…”

Trước sự can trường của Phương Uyên và những nhà tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam, Cô Thu Sương đến từ Pháp, chia sẻ những suy tư của mình với giới trẻ hải ngoại cũng như giới trẻ trong nước:

“Những việc mà Thu Sương nghĩ là các bạn (tại hải ngoại) có thể làm được là những công việc mang tính cách vận động quốc tế. Và Thu Sương nghĩ là các bạn sẽ có đầy đủ sự khôn ngoan và trí tuệ để hiệp thông với tuổi trẻ quốc nội. Riêng các bạn trẻ trong nước, Thu Sương xin cầu chúc các bạn được chân cứng đá mềm. Các bạn phải vững tâm hơn, vượt qua sự sợ hãi như các em Phương Uyên, Nguyên Kha, Đỗ thị Minh Hạnh và nhiều em khác nữa… đã cất lên tiếng nói và đã phải chịu rất nhiều năm tù tội. Các bạn nhìn qua những hình ảnh đó, những biểu tượng đó, để cố gắng đứng vững hơn và dẹp bỏ sự sợ hãi để đấu tranh…”

Hy vọng gì ở kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa 13?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok.  2013-10-21

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/seni-vot-n-hig-ran-meet-10212013063231.html

 10212013-seni-vot-n-hig-ran-meet.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu khai mạc kỳ họp

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu khai mạc kỳ họp. RFA screen capture/VTV1

Nghe bài này

Quốc hội Khóa 13 của Việt Nam hôm nay ngày 21 tháng 10 khai mạc kỳ họp thứ sáu. Một nội dung quan trọng được cho biết sẽ thông qua Hiến pháp sửa đổi.

Hai cử tri tại Hà Nội là cựu đại tá Nguyễn Đăng Quang và tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn Khải vừa cho công khai lá thư gửi cho quốc hội cùng các vị liên quan đề nghị xem xét tư cách đại biểu của ông chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, và tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Lý do gửi thư và kỳ vọng về kỳ họp vừa khai mạc hôm nay ngày 21 tháng 10 được cựu đại tá Nguyễn Đăng Quang cho biên tập viên Gia Minh biết qua cuộc nói chuyện sau đây. Trước hết ông cho biết:

Đại tá Nguyễn Đăng Quang: Thư đó bản thân tôi đi gửi qua bưu điện phát chuyển nhanh vào chiều ngày 7 tháng 10. Sau khi gửi đi, chúng tôi đợi và hy vọng rằng sẽ có thể nhận được hồi đáp của bà Nương ( trưởng ban Công tác Đại biểu Quốc Hội) trước khi Quốc hội khai mạc kỳ họp thứ sáu hôm nay. Tuy nhiên đến hết ngày chủ nhật chúng tôi vẫn chưa thấy nên buộc phải công bố lên trên mạng. Trước khi gửi đi, chúng tôi hy vọng lần này nhận được hồi âm của ai đó, nhưng vẫn không nhận được bất cứ hồi âm của ai cả.

Chúng tôi, cả tôi và anh Khải là người ký vào Kiến nghị 72. Trong Kiến nghị đó chúng tôi góp 7 vấn đề cho bản sửa đổi hiến pháp. Chúng tôi tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp theo lời kêu gọi của Nhà nước, của Quốc hội. Thế nhưng không ngờ những góp ý của chúng tôi bị ông Nguyễn Phú Trọng trong buổi phát biểu tại Đảng Bộ Vĩnh Phú hồi ngày 25 tháng 2 qui chụp chúng tôi suy thoái đạo đức, tư tưởng, chính trị và ông ấy yêu cầu phải xử lý vấn đề này. Chúng tôi thấy rằng lời kêu gọi góp ý sửa đổi hiến pháp và ý kiến của ông đó mâu thuẫn với nhau. Chính vì thế chúng tôi muốn đề nghị ông ấy tiếp chúng tôi để xem hư thực thế nào, thông tin mà báo chí đưa có chính xác hay không. Thế nhưng ba lần gửi thư cho các ông đó, chúng tôi không nhận được hồi âm nào cả. Vì vậy chúng tôi buộc phải có ý kiến với chỗ bà Nương, Quốc Hội, về vấn đề xem xét tư cách đại biểu của hai ông Khóa 13 này. Nhưng bà Nương từ ngày 7 tháng 5 vừa rồi cho đến ngày 7 tháng 10, chúng tôi gửi lần thứ hai vẫn chưa thấy có hồi âm nào hết.

Gia Minh: Là những người quan tâm đến tình hình đất nước, đặc biệt vấn đề sửa đổi Hiến Pháp, qua Hội nghị Trung ương vừa rồi, ông thấy khả năng của giới trí thức yêu cầu phải xem xét cho kỹ lưỡng trước khi sửa đổi Hiến Pháp có thể diễn ra trong kỳ này không?

Đại tá Nguyễn Đăng Quang: Tôi hoàn toàn không thấy khả năng đó; người ta vẫn tiến hành thông qua Hiến Pháp theo dự kiến của người ta. Người ta không kể gì đến ý kiến đóng góp của các nhân sĩ, trí thức và của người dân.

Gia Minh: Ngay sau khi có đóng góp 72 của các vị nhân sĩ trí thức, có ý kiến của các vị như ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Sinh Hùng và các quan chức khác, truyền hình Việt Nam có những phóng sự về các vị như ông Nguyễn Đình Lộc, chẳng hạn; vậy ông thấy rằng sau những thư đề nghị vừa qua ông và tiến sĩ Nguyễn Văn Khải sẽ gặp những phản ứng như thế không?

Đại tá Nguyễn Đăng Quang: Bản thân tôi và anh Khải không gặp trường hợp nào cả. Người ta vẫn không chấp nhận ý kiến của chúng tôi. Phản ứng đối với ông Nguyễn Đình Lộc cũng có mặt này, mặt kia. Ông Lộc, dù sao cũng là nguyên bộ trưởng Bộ Tư Pháp nên ý kiến của ông ta, và nếu ông có ý kiến phản hồi lại sẽ không có lợi cho Nhà nước nên tôi nghĩ họ không dám đi sâu hơn nữa, đi xa hơn nữa.

Gia Minh: Ông là một cựu đại tá và tiến sĩ Nguyễn Văn Khải cũng được nhiều người biết đến?

Đại tá Nguyễn Đăng Quang: Chúng tôi không nghĩ như vậy, chúng tôi chỉ nghĩ với tư cách công dân bình thường thôi.

Gia Minh: Trong tình huống xấu nhất nếu Hiến pháp vẫn được thông qua, những luật quan trọng như Luật Đất Đai vẫn được thông qua mà không có những sửa đổi có lợi cho người dân, bản thân những người như ông có quan tâm đến tình hình đất nước sẽ có những biện pháp nào thêm nữa để có thể đòi hỏi những quyền lợi chính đáng cho người dân?

Đại tá Nguyễn Đăng Quang: Chúng tôi chưa thể nói trước được như thế nào, nhưng với tư cách một người dân, một công dân, chúng tôi sẽ tiếp tục đóng góp những ý kiến khác để làm cho luật pháp được thực thi, được tôn trọng hơn, làm cho người dân đỡ thiệt thòi, thiệt hại hơn, các quyền của họ được bảo đảm nhiều hơn.

Gia Minh: Cụ thể, trong thời gian qua ông thấy có những tiếng nói nào đóng góp cho những ước nguyện đó của những người như ông?

Đại tá Nguyễn Đăng Quang: Bản thân tôi cũng là người ký vào tuyên bố thực thi quyền dân sự và chính trị, tức diễn đàn xã hội dân sự. Cũng mong qua diễn đàn này, mọi người dân, mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề cũng phải góp ý vào để làm cho xã hội tốt đẹp hơn.

Gia Minh: Và ông thấy rằng đó là một cần thiết trong thời điểm hiện nay?

Đại tá Nguyễn Đăng Quang: Tôi cho rằng rất quan trọng vì vấn đề xã hội dân sự sẽ có vai trò ngày càng đóng góp tốt hơn, mạnh hơn làm cho xã hội tiến bộ hơn.

Gia Minh: Trước tình hình hiện nay, nếu được trực tiếp nói với các vị đại biểu quốc hội, ông sẽ nói với họ những điều gì?

Đại tá Nguyễn Đăng Quang: Tôi nghĩ cũng không có khả năng nhiều về việc được gặp gỡ, tiếp xúc với các vị đại biểu quốc hội, vì trước những kỳ họp quốc hội và sau khi họp quốc hội, các đoàn đại biểu quốc hội của các địa phương đều có những buổi gọi là ‘tiếp xúc cử tri’. Nhưng nhiều cử tri thực sự quan tâm đến những buổi tiếp xúc đó thì không được đến dự ( hoặc không biết hoặc không được mời). Nếu có biết mà không được mời, người ta không cho vào. Tôi muốn nói là những cử tri được tiếp xúc các vị đại biểu quốc hội trong những buổi như thế đều là những cử tri được chọn sẵn.

Gia Minh: Như vậy đối với kỳ họp này, ông có kỳ vọng những tiến triển gì theo mong đợi không?

Đại tá Nguyễn Đăng Quang: Kỳ họp quốc hội này tương đối dài, dài hơn một tháng, có lẽ là kỳ họp dài nhất từ trước đến nay. Trong kỳ họp này sẽ giải quyết nhiều vấn đề. Nhưng bản thân tôi không hy vọng gì kỳ họp này sẽ mang lại cái gì kết quả cụ thể và đáp ứng được nguyện vọng của người dân.

Gia Minh: Chân thành cám ơn cựu đại tá Nguyễn Đăng Quang về những chia xẻ vừa rồi.

Chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt Nam

http://www.boxitvn.net/bai/20496

Một thỏa thuận thương mại do Mỹ dẫn dắt có giúp gì cho các nhà cải cách Việt Nam hay không?

The Economist, Oct 19th 2013

Phạm Nguyên Trường dịch

Một số người cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang chuyển động khá nhanh. Tốc độ lạm phát với hai con số trong năm 2011 đã đã bắt đầu hạ nhiệt, còn kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và hàng điện tử thì đang gia tăng nhanh chóng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 36% mỗi năm, đấy là theo đánh giá của cơ quan xếp hạng, có tên là Fitch.

Nhưng, GDP lại gia tăng khá chậm: năm ngoái chỉ đạt 5%, thấp nhất kể từ năm 2009. Rắc rối phần lớn là do đảng Cộng sản cầm quyền thất bại trong việc ép các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tuân thủ kỷ luật và không xử lý được những khoản nợ xấu trong trong các ngân hàng. Cũng như nước láng giềng Trung Quốc, các ông trùm trong đảng và đàn em của họ không muốn thay đổi hiện trạng vì nó có lợi cho họ.

Nhưng, muốn có tính hợp pháp thì chính phủ phải cải thiện được cuộc sống của người dân trong cái đất nước có tới 90 triệu người này. Trong mấy tháng gần đây, các quan chức bắt đầu tung ra kế hoạch cải cách kinh tế quan trọng. Dấu hiệu đáng khích lệ gồm có Nghị quyết của Bộ Chính trị hồi tháng Tư, coi hội nhập kinh tế là ưu tiên hàng đầu; và những cuộc tranh luận gần đây của các nhà làm luật của Việt Nam về biện pháp “cổ phần hóa” hay tư nhân hóa một phần doanh nghiệp nhà nước. Tháng 9 vừa rồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cam kết sẽ xử lý 1.300 doanh nghiệp nhà nước như các công ty tư nhân và tăng mức cổ phần trong các ngân hàng mà các nhà đầu tư ngoại quốc có thể sở hữu lên từ 30% đến 49%.

Một nhà ngoại giao phương Tây nói rằng hiện nay vấn đề không phải là có cải cách hay không mà là cải cách sẽ diễn ra nhanh đến mức nào. Nếu đúng như thế thì tốc độ thay đổi có thể phụ thuộc vào Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tức là phụ thuộc vào Thỏa thuận thương mại tự do của hơn một chục nước do Mỹ lèo lái, đang được trù liệu. Ngoài những vấn đề khác, TPP sẽ yêu cầu các thành viên kiềm chế những hành động thái quá của doanh nghiệp nhà nước.

Việc TPP tập trung chú ý vào doanh nghiệp nhà nước tạo ra vỏ bọc chính trị cho các nhà lập pháp có tinh thần cải cách của Việt Nam, để họ có thể theo đuổi chương trình nghị sự của mình, một nhà kinh tế học là ông Phùng Đức Tùng nói như thế. Họ sẽ đi xa đến đâu vẫn là một câu hỏi mở, nhưng ông Tùng cho rằng tư nhân hóa hầu hết các DNNN sẽ thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế và tạo được nền tảng thuế khóa vững chắc hơn.

Doanh nghiệp nhà nước, chiếm 40 % sản lượng kinh tế, đang có nguy cơ gắn chặt với các ngân hàng quốc doanh – tức là gắn với những người cho vay từng tài trợ cho việc tham gia vào thị trường bất động sản đầy rủi ro trong vụ bùng nổ kèm theo việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007.

Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước đang tích cực “tái cơ cấu”, báo chí do nhà nước kiểm soát nói như thế. Không có người nào tin rằng những khoản tín dụng khổng lồ sẽ tái diễn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước vẫn hoạt động không hiệu quả, một số nợ nần chồng chất đến nỗi không có tiền trả lương cho nhân viên.

Không có gì tốt đẹp cho hàng trăm ngàn thanh niên đang bước vào thị trường lao động thiếu sinh khí của Việt Nam, những người đang chán ngấy nạn tham nhũng và bất bình đẳng còn đáng buồn hơn thế. Cùng với tâm trạng thất vọng về hệ thống giáo dục, y tế và chính sách về quyền sử dụng đất, những vấn đề đó có thể là nhiên liệu cho một vụ bùng nổ xã hội trong một ngày nào đó.

Trong khi đó, các nhà đàm phán trong lĩnh vực thương mại của Mỹ đang nóng lòng muốn kết thúc những cuộc đàm phán TPP. Sự hấp dẫn đối với Việt Nam là một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như may mặc và giày dép sẽ dễ tiếp cận hơn với thị trường Mỹ. Nhưng đại sứ Mỹ ở Việt Nam, ông David Shear, nói rằng nước này cần phải thể hiện “sự tiến bộ rõ ràng” về nhân quyền để có thể giúp cho dư luận Mỹ ủng hộ họ tham gia vào TPP. Về mặt này, việc luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân bị phạt tù vì tội danh trốn thuế giả mạo sẽ chẳng giúp được gì. Mặc dù vậy, rất có thể hai bên sẽ ký thỏa thuận trong năm tới.

Nguồn: http://www.economist.com/news/asia/21588143-will-american-led-trade-deal-aid-vietnamese-reformers-blowing-trade-winds

State capitalism in Vietnam

Blowing in the trade winds

Will an American-led trade deal aid Vietnamese reformers?

BY SOME measures, Vietnam’s economy is moving at a brisk clip. The double-digit inflation that prevailed in 2011 has subsided, and exports of textiles and electronics are booming. Foreign direct investment is up by 36% year-on-year, according to Fitch, a ratings agency.

Yet GDP growth is rumbling along slowly: just 5% last year, the slowest pace since 1999. The trouble stems in large part from the ruling Communist Party’s failure to discipline state-owned enterprises (SOEs) and clean up the bad debts lurking in the banks. As in neighbouring China, party bigwigs and their chums are loth to tamper with a status quo that serves their interests well.

Yet the government’s legitimacy hinges on making life better for the country’s 90m people. In recent months, officials have started to plan substantial economic reforms. Encouraging signs include an April resolution by the party’s Politburo that made economic integration its top priority, and recent debates among Vietnamese lawmakers over how to “equitise”, or partially privatise, SOEs. Nguyen Tan Dung, the prime minister, also pledged in September to treat the country’s 1,300 SOEs like private companies and raise from 30% to 49% the share in any local bank that foreign investors may own.

One Western diplomat says the question now isn’t whether real reform will happen, but how fast. If that is true, the pace of change may depend on the fine print of the Trans-Pacific Partnership (TPP), a planned American-led free-trade agreement among a dozen countries. TPP would, among other things, require its members to curb the excesses of SOEs.

TPP’s focus on SOEs has provided political cover for reform-minded Vietnamese legislators to pursue their agenda, says Phung Duc Tung, an economist. Just how far they will get is an open question, but Mr Tung thinks privatising most SOEs would boost the economy and lay the foundations for a better corporate tax base.

SOEs, which account for 40% of economic output, are dangerously entwined with state-run banks—the same lenders that financed the SOEs’ high-risk expansion into property during the boom that accompanied Vietnam’s 2007 accession to the WTO. The failure of some of those investments forced a downgrade of Vietnam’s sovereign debt and left the property market in tatters.

Today the SOEs are actively “restructuring”, says the state-controlled press. No one expects a repeat of their massive credit binges. Yet the SOEs remain inefficient; some are so saddled with debts that they cannot afford to pay their employees.

None of this bodes well for the hundreds of thousands of young people wading into Vietnam’s anaemic job market, much less those who are fed up with corruption and rising inequality. Combined with widespread frustration over education, health-care and land-tenure policies, such issues could some day fuel an explosion of social unrest.

Meanwhile, American trade negotiators are itching to close the TPP negotiations. The attraction for Vietnam is better access to the American market for some of its labour-intensive industries such as clothes and shoes. But the American ambassador to Vietnam, David Shear, has said the country needs to show “demonstrable progress” on human rights to help kindle support for TPP in America. In this respect it did not help that Vietnam this month jailed Le Quoc Quan, a human-rights lawyer, on spurious charges of tax evasion. In spite of that, it is likely both sides will sign the agreement some time next year.

Tổng hợp những góp ý trái chiều với dự thảo sửa đổi hiến pháp

http://www.boxitvn.net/bai/20514

Thiện Tùng

Dân chủ đa nguyên về mọi mặt là cơ sở hình thành nhà nước Dân chủ pháp quyền. Nhà nước Dân chủ pháp quyền là cơ sở đảm bảo cho mọi người phải sống và hành động theo pháp luật.

Pháp luật là hiến pháp và những luật cơ bản, chúng như là những khế ước hay những bản hợp đồng được thỏa thuận chung trong cộng đồng dân tộc. Pháp luật có tác dụng khuôn khổ quyền hạn của giới cầm quyền và hạn chế tối đa sự phóng túng vô kỷ vô cương vốn thuộc tính con người. Pháp luật như hàm khớp và dây cương đối với những con ngựa thồ. Pháp luật là phép nước, chúng chỉ cho những người cầm quyền được làm những gì pháp luật cho phép, dân chúng được làm những gì pháp luật không cấm.

Nói xuôi, nhưng cũng phải nói ngược lại: Người ta sẽ không tuân thủ pháp luật nếu nó cấu tạo không đủ những yếu tố của một khế ước được thỏa thuận chung trong cộng đồng dân tộc như đã nói trên.  

 Ở Việt Nam ta, gần nhất là Hiến pháp 1992. Hiến pháp nầy mang tính áp đặt, có nhiều điều khoản chưa ổn, nhất là sự thiếu dân chủ và không bình đẳng…, gây bất ổn nhiều mặt đời sống xã hội. Có lẽ do vậy, Quốc hội mới chủ trương sửa đổi Hiến Pháp 1992 mà ông Phan Trung Lý, trưởng ban soạn thảo dự thảo Hiến Pháp, mớm ý: “Lần nầy góp ý Hiến pháp thoải mái, không có vùng cấm, kể cả điều 4”.

Chưa bao giờ có cuộc thỉnh cầu góp ý sửa đổi Hiến Pháp “cởi mở”như vậy. Có lẽ từ đó, cũng chưa bao giờ người góp ý kiến trái chiều so với dự thảo Hiến pháp lần nầy đông đến như thế. Chỉ riêng kiến nghị của nhóm trí thức gạo cội (gọi tắt là Kiến nghị 72) đã có đến hơn một vạn người tự giác ký tên tán đồng. Những ý kiến góp ý trái chiều theo tôi chúng xác đáng, lô-gíc và khoa học: 

Về tên nước: Ngoài Việt Nam, chưa có nước nào trên thế giới bạo gan đưa 4 từ XHCN vào cụm từ quốc hiệu, kể cả nước Cộng sản thứ thiệt như Bắc Triều Tiên. Góp ý: nên thay quốc hiệu “Cộng hòa XHCN Việt Nam” bằng “Cộng hòa VN” chẳng hạn, vừa gọn, dễ nhớ, mang tính dân tộc, vừa hợp với thời cuộc. 

Về thể chế chính trị: Từ chối học thuyết Mác Lê-nin và chính quyền Chuyên chính vô sản. Phải tôn trọng nguyên lý “Tồn tại quyết định ý thức”, nói cách khác “Hạ tầng quyết định thượng tầng”. Hạ tầng đang đa nguyên kinh tế, xã hội thì thượng tầng kiến trúc cũng phải đa nguyên về chính trị. Góp ý: Bỏ hoặc luật hóa điều 4 Hiến pháp, thực hiện thể chế chính trị dân chủ đa nguyên, có nghĩa là xóa bỏ thể chế độc tài Đảng CS trị và nhà nước chuyên chính vô sản – Phải hiểu cho đúng, kiến nghị xóa thể chế độc tài chớ không phải xóa Đảng CS. Đây là góp ý quan trọng nhất, có dụng ý chớ không ác ý, bởi chính thể chế chính trị độc tài toàn trị là mẹ đẻ bao trì trệ, thảm trạng… đang gây tổn thương cho đất nước và dân tộc. 

Về thể chế kinh tế: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” là mẫu hình chẳng theo nguyên lý nào, chỉ có vô lý. Bởi vì kinh tế thị trường và kinh tế XHCN là hai hình thức kinh tế ngược chiều, đối lập nhau, cùng một lúc bám cả hai thứ thì không có đích đến, luôn lâm vào cảnh “treo đầu dê bán thịt chó”. Góp ý: Chọn một trong hai, nên chọn kinh tế thị trường, cắt đuôi “sao chổi” XHCN. 

Đưa kinh tế thị trường vào thực chất: Do còn duy trì “định hướng XHCN” nên mới duy trì “Kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân”. Chúng thật sự trở thành hình thức kinh tế tư bản Nhà nước, phục vụ cho nhóm lợi ích trong giới cầm quyền; chúng được giới cầm quyền xem như những đứa con “trong giá thú”, được cưng chiều, trở thành bọn phá của; chính chúng giết hàng ngàn đứa con “ngoài giá thú”, đẩy ra xã hội hàng triệu người thất nghiệp. Và cũng do chúng một phần, cho đến nay chưa có nước nào công nhận VN có nền kinh tế thị trường thật sự, dầu chúng ta cố sức nài nỉ. Góp ý: Phải đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế. Nên sớm cổ phần hoặc tư nhân hóa kinh tế quốc doanh. 

Về tư liệu sản xuất: Đã là kinh tế thị trường thì tư nhân được sở hữu tư liệu sản xuất, đất đai là một trong những tư liệu sản xuất cơ bản và quan trọng. Người xưa có nói “nhất hậu hôn nhì điền thổ”, vì vậy, đất đai không thể chỉ “sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý” để tránh giới cầm quyền các cấp lợi dụng luật đất đai hiện hành cướp đất của dân bằng mọi hình thức, dẫn đến khiêu kiện, biểu tình, phản ứng bất lực như tự thiêu, tự sát, phản ứng bạo lực dùng hung khí, vũ khí… đã và đang ngày một gia tăng. Góp ý: Sửa đổi luật đất đai theo hướng đa sở hữu: nhà nước, tập thể và tư nhân – căn cứ quyền sử dụng hiện thời chuyển đổi thành quyền sở hữu vốn có trước đây. 

Về bộ máy Nhà nước: Nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nước Đảng quyền, nó là nguồn gốc gây ra bất công, bất ổn xã hội, là mẹ đẻ của bạo lực cường quyền, là nơi sản sinh tham nhũng quyền lực dẫn đến tham nhũng vật chất vô độ, gần như hết thuốc chữa. Góp ý: Thay nhà nước Đảng quyền bằng nhà nước Dân chủ pháp quyền thật sự của dân, vì dân, do dân. Phải thực hiện tam quyền phân lập trong lập pháp, hành pháp, tư pháp, thay cho tam quyền phân công như lâu nay, nhằm tránh tình trạng “Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi”. 

Về lực lượng vũ trang (Quân đội, Công an): Lực lượng vũ trang mang tên Nhân dân, từ nhân dân mà ra, được nhân dân nuôi dưỡng và trang bị, dĩ nhiên nó phải “Trung với nước, hiếu với dân”. Góp ý: Đảng CSVN chỉ là bộ phận nhỏ của dân tộc, không được biến lực lượng vũ trang thành công cụ bảo vệ cho riêng mình. Nếu Đảng CSVN còn tiếp tục buộc chúng “Trung với Đảng” thì phải coi đây là một trong những hình thức tham nhũng quyền lực. 

.v.v…

Qua phát biểu của những người lãnh đạo cao nhất của Đảng, tôi thấy dường như các vị không chấp nhận những ý kiến trái chiều với dự thảo sửa đổi hiến pháp như tôi vừa tổng hợp. Đảng tiếp tục giành giữ vị thế nhằm bảo vệ lợi ích cho mình, đó là điều dễ hiểu. Còn Quốc hội, cơ quan với danh nghĩa đại diện cho dân đang họp, sắp thông qua dự thảo sửa đổi hiến pháp, họ sẽ xử lý thế nào về những góp ý trái chiều nói trên. Về việc này, chắc chắn họ bị kẹt ở giữa, một bên là đại biểu của dân, một bên là thành viên của Đảng – nghe theo Đảng trái ý dân, nghe theo dân trái ý Đảng – hãy chờ xem lập trường của họ. Về phía cử tri, họ chỉ còn chờ xem đại biểu của mình theo lập trường giai cấp hay lập trường dân tộc.

Nếu dự thảo sửa đổi Hiến pháp được Quốc hội thông qua mà không có đổi sửa gì đáng kể, cử tri sẽ thất vọng trong bực bội. Chính trị, kinh tế, xã hội… tiếp tục ngập chìm trong phức tạp, khó khăn.

21/10/2013

T.T.

Tác giả trực tiếp gửi cho BVN

Kỳ họp quốc hội dài nhất với những trông đợi nhỏ

Việt Hà, phóng viên RFA.  2013-10-21

 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/longest-session-small-expecta-vh-10212013163536.html

10212013-quochoi-vh.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg9116356(1)-305.jpg

Toàn cảnh buổi lễ khai mạc Kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa 13 của Việt Nam hôm 21/10/2013.

AFP photo

Kỳ họp thứ 6 quốc hội khóa 13 của Việt Nam đã chính thức khai mạc vào ngày 21 tháng 10. Đây được coi là kỳ họp quốc hội dài nhất trong nhiệm kỳ với nhiều thảo luận lớn liên quan đến hiến pháp, luật đất đai là những vấn đề nóng hiện nay tại Việt Nam.

Tuy nhiên, những người quan tâm đến hoạt động quốc hội chỉ dám hy vọng vào những thay đổi rất nhỏ. Việt Hà phỏng vấn luật sư Trần Quốc Thuận, ủy viên Hội đồng tư vấn dân chủ pháp luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.

Khó có thay đổi lớn

Trước hết, luật sư Trần Quốc Thuận đưa ra nhận xét về những thay đổi được trông đợi trong kỳ họp quốc hội lần này như sau:

Bởi vì như chúng ta biết quốc hội Việt Nam là quốc hội mà có lẽ là do một đảng lãnh đạo nên tỷ lệ đảng viên rất cao, chiếm đến 92,26% là đảng viên. Như vậy thì hiến pháp và luật đất đai đã được định hình trong các hội nghị trung ương, và đặc biệt là triển khai theo tinh thần cương lĩnh của đảng, đại hội đảng vừa qua. Vì thế cho nên khả năng có gì đột biến khác hơn thì tôi cho rằng không có cái gì. Nhưng nếu quốc hội được thảo luận công khai và truyền hình trực tiếp thì khả năng có lẽ một số chỗ chữ nghĩa được chấn chỉnh chặt chẽ hơn, tốt hơn. Cũng như cái phát biểu của mặt trận tổ quốc, ví dụ như giải tỏa đất đai và kinh tế xã hội mà người ta phản ứng đó, thì phát biểu của mặt trận tổ quốc cũng là một phát biểu rất đáng lắng nghe và có uy thế. Nếu điều đó được đưa vào hiến pháp, luật đất đai thì đó cũng là một dấu hiệu tiến bộ. Còn muốn làm cho nó chuyển biến cơ bản những vấn đề lớn thì khả năng làm thay đổi lớn thì theo tôi khó xảy ra. Ví dụ như điều 4 hay một số vấn đề về sở hữu đất đai.

Việt Hà: Như vậy là thay đổi trong điều 4 sẽ không xảy ra, và vấn đề sở hữu đất đai vẫn là sở hữu toàn dân và có nghĩa là sở hữu nhà nước. Vậy theo luật sư thì những thay đổi nhỏ hơn cụ thể là gì?

LS. Trần Quốc Thuận: Để xem điều 4 họ viết lại như thế nào, họ viết nó mềm mỏng hơn hay thế nào, nhưng thay đổi cơ bản bản chất của điều 4 thì không thay. Đất đai thì như tôi nói có chỗ là giải tỏa vì kinh tế xã hội có thể chỗ có khúc mắc và chỗ đó có thể may ra quốc hội tháo gỡ chỗ đó. Sở hữu toàn dân về đất đai thì chỗ đó không gỡ được. Còn những vấn đề khác, ví dụ như chương 2 nói về nhân quyền và nghĩa vụ công dân thì nếu vấn đề nhân quyền viết lại nó tốt hơn, nếu cắt bớt chữ đuôi vừa viết vừa chặn, ví dụ như dùng chữ không được lợi dụng tự do dân chủ đề làm chuyện này chuyện kia, cái câu vừa cho vừa chặn lại, kiểu đó… sau này những cái lần phát biểu thì người ta muốn cắt bớt những chữ đó đi, cắt bớt đi thì đúng tinh thần của hiến pháp 46. Nếu quốc hội làm được điều đó thì cũng là một tiến bộ.

Hiến pháp và luật đất đai đã được định hình trong các hội nghị trung ương. Vì thế cho nên khả năng có gì đột biến khác hơn thì tôi cho rằng không có cái gì.
– LS. Trần Quốc Thuận

Vấn đề tiếp theo là lực lượng vũ trang, cũng viết lại cho đàng hoàng như hiến pháp 92 hoặc các hiến pháp khác thì tốt không cần viết lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với đảng, không cần thiết. Làm như vậy không phải để đảng có uy tín mà ngược lại. Điều đó không tốt. Còn một điều quan trọng nữa là Chủ tịch nước trực tiếp bổ nhiệm bãi nhiễm tướng lĩnh công an quân đội, những cái đó cũng mới. Điều quan trọng nhất, tôi quan tâm nhất là tôi chưa xem bản cuối cùng để thảo luận thế nào. Tức là hội đồng hiến pháp, trong nhiều hội thảo tôi góp ý rồi là nếu hội đồng hiến pháp ý là cơ quan tham mưu giúp việc thế này thì lâp ra thế tốn phí nhà nước vô lối. Nó chỉ là cơ quan tham mưu.

Nhưng hội đồng hiến pháp nó có quyền quyết định, tức là khi nó xem xét vấn đề gì mà nó thấy vi hiến thì nó có thể ban hành đình chỉ hoặc hủy bỏ. Mà nếu hội đồng hiến pháp được như vậy thì cũng là một dấu hiệu tích cực. Còn khả năng để tòa án độc lập thì khả năng đó cũng thấp. Hiện giờ đang có cải cách tư pháp, những ý kiến của bộ chính trị thì nghị quyết đó cũng nói nhiều là phát huy vai trò của luật sư nhưng trên thực tế không đơn giản gì.

Muốn hội nhập phải thay đổi

000_Hkg9116351-200.jpg
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng bước lên bục để đọc báo cáo kinh tế trong lễ khai mạc phiên họp thường niên của Quốc hội tại Hà Nội hôm 21/10/203. AFP photo

Việt Hà: Theo luật sư thì những thay đổi đó không lớn mà chỉ là những thay đổi nhỏ nhưng cũng là các dấu hiệu tích cực, vậy những thay đổi đó  ảnh hưởng đến người dân thế nào?

LS. Trần Quốc Thuận: Cái đó mà được thay đổi, kỳ này được phát biểu công khai, được hưởng ứng thì nó tạo ra một tiền đề, nó tạo ra tiếng nói rộng rãi. Tôi cho rằng nếu mà vậy thì manh nha của một xã hội dân sự xuất hiện chăng. Bây giờ người ta nói đến diễn đàn xã hội dân sự, thành lập hội đoàn, câu chuyện đó ở Việt Nam cũng không đơn giản. Nhưng nếu không bị ràng buộc quá thì các blogger có điều kiện ở diễn đàn nói được những tiếng nói dân chủ thì đó cũng là một dấu hiệu tốt. Nó có thể là tiền thân cho báo tư nhân, tự do dân chủ. Con đường của Việt Nam là một con đường dài chứ không thể một sớm một chiều.

Việt Hà: Cứ coi như là chúng ta lạc quan, và hy vọng có những thay đổi nhỏ trong hiến pháp và luật đất đai như luật sư vừa nói, theo luật sư thì nguyên nhân nào, yếu tố nào dẫn đến các thay đổi như vậy?

LS. Trần Quốc Thuận: Thứ nhất là người dân trong nước lần lần khai được dân trí, họ hiểu ra. Và số người vào internet là rất đông. Theo thống kê ở Việt Nam là đến 33 triệu. Nhưng số vào internet đó mà quan tâm đến vấn đề chính trị xã hội thì tỷ lệ rất thấp. Nhưng nếu hiến pháp được thảo luận công khai trong quốc hội, mở một diễn đàn thảo luận công khai trên quốc hội, thảo luận trực tiếp thì nó tác động đến việc nâng nhận thức của tuổi trẻ và họ tham gia vào thì đó là dấu hiệu tích cực. Thì nguyên nhân rõ ràng nhất là lòng dân.  Người ta thấy là không thể bịt miệng người ta được và người ta cứ nói nếu không nghe thì có thể có những hậu quả khó lường.

Điều quan trọng nhất là Việt Nam muốn hội nhập, muốn vào TPP, hội nhập với thế giới, với khu vực, hợp tác chiến lược với các nước thì Việt Nam không thể cứ là một xã hội toàn trị được.
– LS. Trần Quốc Thuận

Điều quan trọng nhất là Việt Nam muốn hội nhập, muốn vào TPP, hội nhập với thế giới, với khu vực, hợp tác chiến lược với các nước thì Việt Nam không thể cứ là một xã hội toàn trị được. Tôi không biết được là họ sẽ mở ra như thế nào. Nhưng theo tôi áp lực về kinh tế, áp lực về thế giới là như thế. Bây giờ thông tin nó bùng nổ như thế, thì những dư luận và những thông tin về dân chủ xã hội đang rộng rãi ra và ảnh hưởng rất sâu rộng, đây là nguyên nhân lớn. Cho nên có hai nguyên nhân lớn là nguyên nhân của lòng dân và nguyên nhân của xu thế.

Việt Hà: Theo dõi hoạt động quốc hội từ trước đến nay thì luật sư thấy quốc hội đã đảm trách tốt vai trò giám sát của mình chưa?

LS Trần Quốc Thuận: Quốc hội mãi từ trước đến giờ thì khâu giám sát vẫn là khâu yếu nhất. Thực ra trước diễn đàn mà nói thì nó có những dấu hiệu tích cực nhưng những dấu hiệu tích cực đó rất là hạn chế. Nó chỉ xuất hiện rất ít những đại biểu độc lập như trước đây là ông Nguyễn Minh Thuyết hay bây giờ là Dương Trung Quốc. Còn một số đại biểu thì có thể đây là nhiệm kỳ cuối cùng thì có thể họ phát biểu mạnh. Khâu yếu nhất từ trước tới giờ là khâu giám sát. Mà giám sát đó là giám sát phải có nghị quyết, thực hiện nghị quyết và kiểm tra nghị quyết đó tới nơi tới chốn. Đó luôn luôn là khâu yếu nhất bởi vì một rào cản vì quốc hội này trong một xã hội toàn trị do một đảng lãnh đạo thì họ không thể làm gì trái lại ý của Ban chấp hành trung ương và Bộ chính trị đã quyết. Cái đó thì khó mà tháo ra được.

Việt Hà: Xin cảm ơn luật sư.

https://www.youtube.com/watch?v=2OwVJXE1wiw&feature=player_embedded

Quốc hội VN bắt đầu kỳ họp quan trọng

Thủ tướng Nguyễn Tấn DũngThủ tướng Việt Nam báo cáo về tình hình đất nước với các đại biểu Quốc hội

Quốc hội Việt Nam khóa 13 đã khai mạc kỳ họp thứ 6 vào sáng thứ Hai ngày 21/10, một kỳ họp giải quyết nhiều vấn đề hệ trọng của đất nước.

Đây cũng được cho là kỳ họp dài nhất trong toàn khóa kéo dài đến hết tháng 11.

Dự kiến, trong kỳ họp này, Quốc hội sẽ thông qua bản Hiến pháp mới trên cơ sở sửa đổi Hiến pháp năm 1992, thông qua Luật Đất đai sửa đổi và bổ nhiệm hai phó thủ tướng mới.

Ngoài ra, các đại biểu Quốc hội cũng thông qua kế hoạch kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách cho năm 2014.

‘Kinh tế phục hồi’

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đăng đàn trong phiên khai mạc sáng 21/10 để báo cáo về tình hình kinh tế-xã hội của đất nước.

Bản tin của Thông tấn xã Việt Nam đưa tin về bài phát biểu này của ông Dũng với dòng tít: “Nền kinh tế đang trên đà phục hồi”.

Hãng tin nhà nước dẫn lời ông Dũng cho biết đã ‘đạt 11 chỉ tiêu’ trong tổng số 15 chỉ tiêu do Quốc hội đề ra cho năm 2013, trong đó có kiềm chế lạm phát.

Riêng phần không đạt kế hoạch có các chỉ tiêu quan trọng như tốc độ tăng trưởng kinh tế và bội chi ngân sách.

Thủ tướng Dũng được dẫn lời cho biết ‘GDP cả năm 2013 tăng khoảng 5,4% so với năm 2012’ và cao hơn mức 5,25% của năm trước.

Riêng về lạm phát, ông Dũng dự báo mức lạm phát cho cả năm 2013 sẽ vào khoảng 7%.

Ông đề nghị Quốc hội nới trần bội chi ngân sách cho năm nay từ 4,8 lên 5,3% GDP, tức cho phép chi thêm 20.000 tỷ đồng, tương đương gần 1 tỷ Mỹ kim.

Mục tiêu tổng thể cho năm sau, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam xác định là vẫn tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, giúp các doanh nghiệp hồi phục và tái cơ cấu kinh tế.

Bản báo cáo này của ông Dũng được cho là đã được Quốc hội, thông qua ông Nguyễn Văn Giàu, chủ nhiệm Ủy ban kinh tế, tán thành trong báo cáo thẩm tra sau đó.

Trước đó, trong lời khai mạc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng cho rằng tình hình kinh tế-xã hội đất nước ‘đã có chuyển biến tích cực, đúng hướng trên hầu hết các lĩnh vực’, theo tường thuật của truyền thông trong nước.

Thông qua Hiến pháp

Cũng trong phiên họp sáng nay, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng đăng đàn trên tư cách mới là chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc. Ông báo cáo tổng hợp ý kiến của cử tri cả nước.

Ông Nhân sẽ được Quốc hội miễn nhiệm chức vụ phó thủ tướng trong kỳ họp này.

Kỳ họp này diễn ra chưa đầy hai tuần lễ sau khi Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị 8 mà trong đó Đảng đã quyết định sẽ thông qua Hiến pháp.

Cho nên, việc các đại biểu Quốc hội thông qua bản Dự thảo Hiến pháp này chỉ còn là vấn đề thủ tục mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi và phản đối.

Bản tin trên trang chủ Quốc hội cho biết trong kỳ họp này sẽ ‘dành thời gian thích đáng để thảo luận dân chủ, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao với tinh thần chân thành lắng nghe ý kiến của nhân dân’ để ‘giải trình đầy đủ, thuyết phục những vấn đề đặt ra.

Trong chương trình họp của Quốc hội, dự kiến các đại biểu sẽ tập trung bàn về ‘những vấn đề còn ý kiến khác nhau đang nổi lên’ của Hiến pháp.

Hoàng Thị Nhật Lệ và Nguyễn Hạnh Phúc

Nguyễn Ngọc Già gửi RFA từ Việt Nam. 2013-10-19

 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/nguyen-ngoc-gia-101913-10192013113827.html

IMG_4698-305.jpg

Nhóm “Phản bác 258” trao thư phản bác cho đại diện Vụ các Tổ chức Quốc tế – Bộ Ngoại giao Việt Nam tại số 6 Chu Văn An Hà Nội sáng 17/10/2013.

Courtesy FB HTNL

Sau khi viết “Chúc cho “Lời kêu gọi ký tên phản đối bè lũ phản động” thành công rực rỡ!” [1], dù không nhận được lời cám ơn nào từ phía này, nhưng vì “cảm kích” trước việc làm hy hữu và “sáng láng” của họ, tôi quyết định viết nữa, dù biết các bạn trẻ này có thể bị cộng sản “tẩy não” quá nặng. “Còn nước còn tát” vậy!

Hoàng Thị Nhật Lệ

Cô gái có tên Hoàng Thị Nhật Lệ hoan hỉ báo tin [2]:

“Hà Nội sáng nay mưa và lạnh. 8:20 phút nhóm có mặt tại số 6 Chu Văn An. Đứng trước của một hồi thì anh Hoài – cán bộ Vụ ra tận nơi đón mấy đứa. Nhóm đã có cuộc trao đổi với rất thoải mái với lãnh đạo Vụ các Tổ chức Quốc tế – Bộ Ngoại giao. Các anh không chỉ nhận thư phản bác mà còn động viên nhóm rất nhiều. Đồng thời họ cũng khẳng định sẽ gửi bản PHẢN BÁC của nhóm tới các tổ chức quốc tế có quan tâm đến vấn đề này. Có lẽ Cao ủy Liên Hợp Quốc và các đại sứ quán cũng nằm trong số này. Một công đôi việc, vừa đỡ tốn tiền sang Thái, vừa hiệu quả mọi người nhỉ. Thừa thắng xông lên, đã xin lịch hẹn với Báo Nhân Dân. Mọi người chờ nhé, nhóm nói được, sẽ làm được”.

Cần nhắc lại một chút từ bài viết trước của tôi:

“Có vẻ những người phát động “lời kêu gọi” này không biết cách nhìn nhận và phân tích về mối tương quan chủ thể – khách thể của “Tuyên bố 258”! Đó là quan hệ dân sự giữa Chủ thể (những người “Tuyên bố 258”, nghĩa là người dân không có quyền lực) với Khách thể (nhà nước Việt Nam, nắm quyền lực). Điều này mới có ý nghĩa. Trong khi những ai phản đối “Tuyên bố 258”, tức họ cũng là Chủ thể (nghĩa là cũng không có quyền lực). “Chủ thể” phản đối “Chủ thể” trong trường hợp này là một mệnh đề hoàn tòan vô nghĩa khi gắn vấn đề trách nhiệm nhà nước với công dân”.

IMG_0585-250.jpg
Đại diện Mạng lưới Blogger Việt Nam trao Tuyên bố 258 cho Bà Veronique Arnault, đại diện Phái đoàn EU sang dự phiên Đối thoại Nhân quyền 2013 với Việt Nam hôm 10 tháng 9 năm 2013 tại Hà Nội. Courtesy BlogTuyenBo258.

Tại đây, tôi muốn nói thêm: Chủ thể (nhóm bạn “Tuyên bố 258”) có quyền phản đối Nhà nước và Chủ thể khác (nhóm bạn của cô Hoàng Thị Nhật Lệ) có quyền ủng hộ Nhà nước. Tại sao họ không nhận thấy một điều sơ đẳng như thế này?

Tuy nhiên, tôi biết trước cô Lệ và bạn bè sẽ không nhận ra họ quá “hố” trong việc mình làm nên biến thành trò cười. Điều đáng trách không phải ở các bạn trẻ này mà những kẻ như Đông La và các viên chức ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao đã không có đủ tri thức để chỉ bảo cho nhóm cô Lệ làm như thế nào mới đảm bảo khoa học.

Nếu nhóm bạn cô Lệ đừng quá nông cạn và đừng quá tin tưởng vào những kẻ như Đông La thì thật dễ nhận thấy: Thay vì họ làm như đã làm, họ nên viết một “Thư Ủng Hộ” Luật hình sự, cụ thể ủng hộ “điều 258”. Các bước tiếp theo (vận động chữ ký, gửi đi các nơi, chụp ảnh v.v…) cứ việc học theo nhóm bạn “Tuyên bố 258”.

Câu chuyện quá giản dị và dễ hiểu đến thế kia, tại sao Đông La và những “người lớn” không chỉ cho bọn trẻ mà biến chúng thành những “chú hề” một cách nhẫn tâm như thế?! Cộng sản thật thâm độc và đểu cáng!

Cô Lệ và bạn bè của cô đã nhận thấy những kẻ “miệng nam mô bụng một bồ dao găm” chưa? Hay cô và các bạn vẫn tiếp tục tin vào những gì chúng nói (như cô cho biết): “Đồng thời họ (tức là Bộ Ngoại giao Việt Nam?) cũng khẳng định sẽ gửi bản PHẢN BÁC của nhóm tới các tổ chức quốc tế có quan tâm đến vấn đề này”. Cộng sản Việt Nam mà dám làm như chúng hứa thì tôi cam đoan với cô chính thể này sẽ sụp đổ không quá một tháng.

Tôi phải thốt lên: Sao thế hệ trẻ Việt Nam phải nhận lãnh số phận trớ trêu để làm những con rối trong tay cộng sản một cách hồn nhiên và thật thà đến vậy!

Nguyễn Hạnh Phúc

Trang VNN cho hay: “Kinh tế nhà nước” không phải chỉ doanh nghiệp nhà nước. Đương nhiên kinh tế nhà nước phải chủ đạo, không thể để tư nhân, không thì ai lo an sinh xã hội. Còn các thành phần kinh tế thì bình đẳng – Chủ nhiệm VPQH Nguyễn Hạnh Phúc nói.

Tôi trợn tròn và há hốc khi nghe Nguyễn Hạnh Phúc xài chữ “đương nhiên” một các “hiên ngang” như thế(!)

Sao dân Việt chúng tôi bất hạnh dữ vậy! Ông Hạnh Phúc “nhầm lẫn lộn” khái niệm “quản lý kinh tế” với “an sinh xã hội” đến đáng thương hại thế này sao(?!)

DSCI2782-250.jpg
Đại diện Mạng lưới Bloggers Việt Nam trao Tuyên bố 258 cho ông Stale Torstein Risa, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Nauy tại Việt Nam hôm 20/9/2013. Photo courtesy of Blogtuyenbo258.

Trước đây người cộng sản Việt Nam chỉ có khái niệm “kinh tế quốc doanh” nhằm ám chỉ một “nền kinh tế phi thị trường”, tất cả đều tập trung độc quyền trong tay tổ chức gọi là “nhà nước”. Sau khi được Hoa Kỳ hủy bỏ lệnh cấm vận (1994), “…bắt đầu từ đại hội VIII (1996) trở đi, khái niệm kinh tế Nhà nước đã được sử dụng phổ biến và hoàn toàn thay thế cho khái niệm kinh tế quốc doanh. Kinh tế Nhà nước bao gồm không chỉ các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước mà còn có cả một số lĩnh vực khác như tài nguyên quốc doanh (do doanh nghiệp Nhà nước sử dụng) ngân sách Nhà nước và dự trữ quốc gia….” [4]

Với “kiểu định nghĩa” tráo trộn như trích dẫn, thử hỏi:

– Doanh nghiệp nhà nước do ai điều hành? Đảng viên và vây cánh.

– Tài nguyên quốc doanh do ai quản lý, khai thác, kinh doanh, phân phối lợi nhuận ? Chính người cộng sản đã trả lời bằng cụm từ “do doanh nghiệp Nhà nước sử dụng”.

– Ngân sách Nhà nước do ai thu chi ? Đảng viên và vây cánh.

– Dự trữ quốc gia do ai quản lý? Đảng viên và vây cánh.

Do đó, diễn giải như Nguyễn Hạnh Phúc là cách đánh lận và khỏa lấp để tiếp tục lừa dân, trong lúc người cộng sản đi tới đâu cũng cầu xin các nước công nhận “Việt Nam có nền kinh tế thị trường”, với dẫn chứng mới nhất, ngày 27/9/2013, Nguyễn Tấn Dũng vừa tiếp tục “xin” [5] Washington D.C, trong khi ông ta không bao giờ quan tâm các “đồng chí” khác hay kiếm chuyện “xỏ” Hoa Kỳ và phương Tây cũng như xúi bậy cô Hoàng Thị Nhật Lệ và bạn bè.

Những kẻ luôn vừa “xin” vừa “xỏ” thì nên gọi là gì đây nhỉ?

Kết

Nguyễn Hạnh Phúc với hàm bộ trưởng mà còn “xỏ lá” kiểu đó thì cô Hoàng Thị Nhật Lệ có nên tiếp tục tin “chú” Đông La và “các anh bên ngoại giao”?

Nguyễn Ngọc Già, Việt Nam 19-10-2013

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

_______

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/reader-listenning-091213-nng-09122013113050.html [1]
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=438906099552506&set=gm.1418311195064052&type=1&theater [2]
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/145216/chu-nhiem-vpqh–khong-the-de-kinh-te-tu-nhan-lam-chu-dao.html [3]
http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/cac-khu-v…‎ [4]
http://danviet.vn/kinh-te/de-nghi-my-cong-nhan-viet-nam-la-nen-kinh-te-thi-truong/20130927101319227p1c25.htm [5]

Tin, bài liên quan

Hiệp định TPP có thể thúc đẩy cải cách ở Việt Nam

Thanh Phương, rfi, 19-10-13

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20131019-hiep-dinh-tpp-co-the-thuc-day-cai-cach-o-viet-nam

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trao đổi với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Thượng đỉnh Đông Á -Brunei, ngày 10/10/2013.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trao đổi với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Thượng đỉnh Đông Á -Brunei, ngày 10/10/2013.

REUTERS/Ahim Rani.

Nhịp độ cải tổ kinh tế ở Việt Nam phụ thuộc một phần vào Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, một hiệp định tự do mậu dịch do Hoa Kỳ chủ xướng, bởi vì hiệp định này đòi hỏi các nước thành viên phải giảm bớt tỷ trọng của các doanh nghiệp Nhà nước. Đó là nhận định của tuần báo The Economist số đề ngày hôm nay, 19/10/2013.

Tờ báo nhắc lại là tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vào năm ngoái chỉ đạt khoảng 5%, mức thấp nhất kể từ năm 1999. Tình trạng tăng trưởng chậm lại phần lớn là do đảng Cộng sản Việt Nam đã thất bại trong việc tái cơ cấu các doanh nghiệp Nhà nước và giải quyết vấn đề nợ xấu ngân hàng. Cũng như ở nước Trung Quốc láng giềng, các nhân vật có thế lực trong đảng và vây cánh của họ cố giữ nguyên trạng để phục vụ cho quyền lợi của họ.

Tuy nhiên, theo The Economist, tính chính đáng của chính quyền tùy thuộc vào khả năng của họ cải thiện đời sống của 90 triệu dân Việt Nam. Trong những tháng gần đây, các giới chức chính quyền đã bắt đầu đề ra những cải cách kinh tế sâu rộng. Trong số những dấu hiệu đáng lạc quan, có nghị quyết mà Bộ Chính trị thông qua vào tháng 4, đưa vấn đề hội nhập kinh tế lên ưu tiên hàng đầu. Các đại biểu Quốc hội gần đây cũng đã thảo luận về kế hoạch « cổ phần hóa », tức là tư nhân hóa một phần, các doanh nghiệp Nhà nước.

Tháng 9 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hứa sẽ đối xử với 1.300 doanh nghiệp Nhà nước như là những công ty tư nhân và sẽ nâng tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư ngoại quốc trong các ngân hàng Việt Nam từ 30% lên thành 49%.

The Economist trích lời kinh tế gia Việt Nam Phùng Đức Tùng nhận định rằng việc hiệp định TPP chú trọng đến các doanh nghiệp Nhà nước tạo ra một vỏ bọc chính trị cho các nhà lập pháp Việt Nam có đầu óc cải cách tiếp tục thúc đẩy cải tổ. Chưa biết là họ sẽ đạt kết quả đến đâu, nhưng ông Phùng Đức Tùng nghĩ rằng tư nhân hóa phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước sẽ thúc đẩy kinh tế và thiết lập nền tảng cho một hệ thống thuế doanh nghiệp lành mạnh hơn.

Tờ báo nhắc lại rằng các doanh nghiệp Nhà nước, hiện chiếm 40% tổng sản phẩm nội địa, vẫn liên kết chặt chẽ một cách nguy hiểm với các ngân hàng Nhà nước, tức là những ngân hàng đã cấp vốn để các doanh nghiệp Nhà nước mở rộng hoạt động sang lĩnh vực địa ốc vào thời gian mà thị trường này đang bùng nổ cùng với việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007.

Tuy báo chí chính thức khẳng định là các doanh nghiệp Nhà nước đang được tích cực « tái cơ cấu », nhưng các công ty này vẫn làm ăn thiếu hiệu quả, một số công ty nợ nần chồng chất đến mức không có tiền để trả lương cho nhân viên.

Theo tờ The Economist, nhờ hiệp định TPP, những ngành công nghiệp sử dụng nhiều nhân công của Việt Nam như dệt may, da giày, sẽ xâm nhập dễ dàng hơn vào thị trường Mỹ. Nhưng đại sứ Mỹ tại Hà Nội, David Shear đã nói rằng Việt Nam cần phải có « những tiến bộ rõ rệt » về nhân quyền để có thể nhận được sự ủng hộ của công luận Mỹ đối với hiệp định TPP.

Việc kết án tù luật sư và nhà hoạt động nhân quyền Lê Quốc Quân trong tháng này với tội danh « trốn thuế » đã không giúp cải thiện hình ảnh của Việt Nam. Tuy vậy, theo The Economist, rất có thể Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ ký hiệp định TPP vào một thời điểm nào đó trong năm tới.

HNTU 8 ém nhẹm những khó khăn, nhưng công khai tăng cường đảng trị!

http://www.danchimviet.info/archives/80688/hntu-8-em-nhem-nhung-kho-khan-kinh-te-xa-hoi-va-tham-nhung-nhung-lai-cong-khai-tang-cuong-dang-tri/2013/10

  • Thỏa hiệp lười biếng và vô trách nhiệm giữa các phe ở trung ương
  • Nguyễn Phú Trọng ngày càng thất thế và mất uy tín sau gần ba năm làm Tổng bí thư
  • Hiến pháp mới, nhưng vẫn giữ nguyên các định hướng cũ sai lầm, bảo thủ
  • Phải đổi Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thành Bảo vệ Đảng độc tài trong tình hình mới!

hoi_nghi_trung_uong_8

Chỉ một ngày sau khi Tổng bí thư  Nguyễn Phú Trọng đọc diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương (HNTU) 8 ngày 9.10 với vẻ mặt đầy nghiêm nghị loan báo là 100% Ủy viên Trung ương đã đồng ý với các quyết định của HNTU 8 thì ngày 10.10 khi tiếp xúc với cử tri ở Sài gòn, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, người thứ hai trong chế độ toàn trị, đã đưa ra tuyên bố làm dư luận rất chú ý. Trước sự thắc mắc của cử tri là, tại sao mới trước đây ông Tổng Trọng đã kết án một bộ phận không nhỏ… cán bộ, đảng viên, kể cả cấp cao đã trở thành bọn quan tham nhũng hại dân hại nước, nhưng tới nay chẳng có quan lớn nào bị trừng trị; không những thế vấn đề này đang nóng bỏng hơn nhưng lại không được bàn trong HNTU 8, ông Chủ Sang đã tuôn ra lời phê bình làm trò cười trước hàng trăm cử tri và đại diện báo chí (lề đảng) về tuyên bố trên của ông Tổng Trọng:

Chủ tịch nước đồng cảm: “Tôi nói điều này với tư cách cá nhân thôi: Ta hô khẩu hiệu nhiều quá. Còn câu “Một bộ phận không nhỏ” là một câu hết sức đau đầu. Nghe dư luận thì rất nhiều nhưng tìm thì không thấy. Có nhiều anh nói “bộ phận không nhỏ” đó ở bên dưới. Nhưng sau 1 năm quay lại hỏi bên dưới là chỗ nào thì mấy ông chỉ cười khì, không chỉ ra được. Phương thức phát hiện ra “bộ phận không nhỏ” này thông qua phương thức tự phê bình chỉ là một cách thức thôi chứ không phải là tất cả.“[1]

Mọi người còn nhớ, chính khi nói những lời này ông Tổng Trọng tại HNTU 4  (12.2011) đã từng rơi nước mắt![2] Nhưng tại sao nay chính người đứng thứ hai trong chế độ toàn trị lại biến lời cảnh báo nghiêm trọng của ông Tổng thành chuyện tiếu tâm trước công chúng và dư luận như vậy được?  Nên biết thêm rằng, nhiều người vẫn nghĩ là ông Chủ từ lâu đang về bè với ông Tổng để đánh ông Thủ! Chả lẽ phe ông Trọng đang rệu rạo và uy tín của ông Tổng đã rơi xuống đất đen như vậy chỉ mới gần ba năm làm Tổng bí thư?

Mọi người cũng còn nhớ, sau HNTU 6 trước mặt cử tri và báo chí ở Sài gòn, chính  ông Chủ đã diễu cợt đặt tên cho ông Thủ là “Đồng chí X! Trong lịch sử ĐCS cầm quyền trên 60 năm ở VN chưa bao giờ lại có chuyện ông Chủ lôi hết ông Thủ tới ông Tổng ra chế diễu làm trò tiếu lâm trước Đảng và nhân dân như vậy!

Vậy Nguyễn Phú Trọng đã làm gì trong HNTU 8 khiến Trương Tấn Sang đã thất vọng đến nỗi không kiềm chế được nên phải lôi cả ông Trọng làm trò cười trước dư luận?

Trong diễn văn khai mạc ngày 30.9 ông Trọng cho biết, đây là HNTU giữa nhiệm kì nên có tầm quan trọng đặc biệt nhằm tổng kết các công việc chính gần 3 năm làm Tổng bí thư từ Đại hội 11 (1.2011) và định ra nhiệm vụ cho hai năm còn lại. Năm vấn đề chính đã được gần 200 Ủy viên Trung ương chính thức và dự khuyết thảo luận trong suốt 10 ngày HNTU 8 là: Tình hình kinh tế xã hội và các chính sách liên hệ, cải tổ giáo dục và đào tạo, quyết định về Dự án sửa đổi Hiến pháp 1992, tổng kết 10 năm thực hiện Trung ương 8 (khóa IX) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, qui chế bầu cử trong Đảng và chuẩn bị Đai hội 12. Vì khuôn khổ giới hạn nên bài này chỉ tập trung vào 3 lãnh vực: kinh tế-xã hội, sửa đổi Hiến pháp và quốc phòng-an ninh.

Căn cứ vào ba văn kiện chính của HNTU 8 là Thông báo kết quả Hội nghị và hai diễn văn khai mạc và bế mạc của Nguyễn Phú Trọng và đối chiếu với những hoạt động của tứ trụ triều đình toàn trị Trọng-Sang-Dũng-Hùng và một số Ban chính trong đảng, Quốc hội và Bộ trong chính phủ thời gian gần đây thì thấy rõ một số sự kiện khá đặc biệt. Tại HNTU 8 những người đang nắm quyền lực đã thỏa hiệp với nhau trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của từng phe nhóm theo kiểu có đi có lại: Như tránh không đả kích lẫn nhau về những khó khăn kinh tế-xã hội (của Nguyễn Tấn Dũng) và tê liệt trong chống tham nhũng (của Nguyễn Phú Trọng); nhất trí để Kì họp thứ 6 sắp tới của Quốc hội nhắm mắt làm công tác thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 theo những điểm chính của cánh bảo thủ độc tài, mặc dầu ngày càng bị nhiều thành phần nhân dân phản đối -kể cả nhiều đảng viên tiến bộ; dẫn tới nguy cơ biến VN thành một tỉnh của Trung quốc, cho nên họ cùng nhau gia tăng đàn áp nhân dân và thẳng tay trấn áp các cuộc vận động dân chủ từ ngoài xã hội tới trong Đảng.

Những thỏa hiệp lười biếng và vô trách nhiệm trong HNTU 8 giữa cánh bảo thủ độc tài và các nhóm lợi ích trong Trung ương đang dẫn tới: 1. Cản trở, trì hoãn và vô hiệu hóa những thay đổi cấp thiết với ý đồ là duy trì và bảo vệ chế độ độc đảng giúp họ bảo vệ quyền lực để tiếp tục đục khoét công quĩ. 2. Vị thế, uy tín của Nguyễn Phú Trọng ngày càng yếu và tư cách của ông càng tồi tệ thêm. 3. Nhưng tình hình bùng nhùng này với sự dung túng lẫn nhau của phe bảo thủ độc tài lẫn bọn quan tham nhũng sẽ làm cho những khó khăn đang tồn tại căng thẳng hơn và nguy hiểm hơn, gây nhiều bất lợi và nguy hiểm cho nhân dân và đất nước! 4. Bắc kinh đang khai thác triệt để sự bất lực của nhóm cầm đầu để biến VN thành một bộ phận của Trung quốc. Nguy cơ này thể hiện rất rõ trong Thông báo chung ngày 15.10 giữa Nguyễn Tấn Dũng và Lý Khắc Cường!

Nguyễn Phú Trọng thỏa hiệp lười biếng và vô trách nhiệm với các nhóm lợi ích ở Trung ương trước những khó khăn về kinh tế-xã hội

Trong diễn văn khai mạc HNTU 8 ngày 30.9 Nguyễn Phú Trọng đã cho biết, các Ủy viên Trung ương trước đó đã nhận được các tài liệu liên quan tới Hội nghị này. Ông còn cho biết, trong vấn đề kinh tế xã hội có hai loại tài liệu dùng làm cơ sở bàn luận cho Hội nghị, một của Ban cán sự đảng Chính phủ dưới quyền Nguyễn Tấn Dũng và tài liệu thứ hai do Ban Kinh tế Trung ương soạn thảo do Trưởng ban Vương Đình Huệ, một thân tín của ông Trọng. Để hù dọa các Ủy viên Trung ương theo vây cánh Nguyễn Tấn Dũng, ông Trọng nhấn mạnh trong diễn văn :

Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban cán sự đảng Chính phủ đã chuẩn bị Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2013 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2014; Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội. Đề nghị Trung ương đồng thời xem xét cả hai Báo cáo (trong diễn văn của Nguyễn Phú Trọng câu này được in đậm); phân tích, đánh giá đúng thực trạng tình hình kinh tế – xã hội nước ta, trọng tâm là việc thực hiện 3 khâu đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Từ đó đề ra quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu cho năm 2014 và 2 năm 2014 – 2015 nhằm thực hiện đạt kết quả cao nhất Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Để thống nhất nhìn nhận bức tranh thực về kinh tế – xã hội năm 2013, đề nghị các đồng chí bám sát Kết luận của Trung ương, Nghị quyết của Quốc hội cuối năm 2012 và thực tiễn của đất nước, của bộ, ngành, địa phương nơi công tác, phân tích kỹ tình hình, chỉ rõ những kết quả đạt được trong 9 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2013“[3]

Nhưng trong những buổi họp về chủ đề này đa số trong Trung ương đảng đã không sợ những lời hù dọa trên của ông Tổng. Vì Thông báo HNTU 8 (9.10) lại ca ngợi hết mình các chính sách và kết quả trong kinh tế-xã hội của Nguyễn Tấn Dũng:

Chính phủ đã điều hành quyết liệt, phù hợp với thực tế tình hình. Đây là những quyết sách kịp thời, đúng đắn, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.[4]

Chính vì thế  sau 10 ngày họp trong diễn văn bế mạc (9.10), phần nói về kinh tế xã hội, Nguyễn Phú Trọng đã phải chấp nhận quan điểm trên của Trung ương đảng, nhưng tránh để dư luận chỉ trích là mất lập trường nên đã vơ vào bảo đó là “thành tích“ của Đảng trong thời gian dưới quyền của ông:

Ban Chấp hành Trung ương ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương những nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong 3 năm qua, đã kịp thời điều chỉnh và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, biện pháp đưa kinh tế đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt được nhiều kết quả tích cực, đúng hướng trên các lĩnh vực[5]

Thậm chí ông Trọng còn nêu ra nhiều con số dẫn chứng trong nhiều lãnh vực từ mức tăng trưởng kinh tế, mức lạm phát giảm, xuất khẩu gia tăng…..Nhưng các con số này ông Trọng đã lấy từ trong báo cáo của cuộc họp nội các ngày 29.9 do Nguyễn Tấn Dũng chủ tọa, một ngày trước khi HNTU 8 khai mạc.[6] Tới phần nói về các khó khăn thì Nguyễn Phú Trọng lại không đưa ra một con số cụ thể nào, mà chỉ dùng một sồ từ chung chung cố tránh cho mọi người thấy bức tranh ảm đạm và nguy hiểm trong kinh tế-xã hội như thế nào:

Kinh tế vĩ mô chưa thực sự ổn định vững chắc; vẫn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát tăng cao trở lại; nợ xấu ngân hàng còn cao, hoạt động của một số tổ chức tín dụng chưa thật an toàn; cân đối ngân sách khó khăn. Thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán còn trầm lắng. Sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng còn lớn. Khu vực công nghiệp tăng trưởng chậm lại. Sản xuất, xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực gặp khó khăn về thị trường và giá cả“[7]

Sở dĩ ông Trọng không dám tô đen tình hình kinh tế-xã hội nữa như khi mới làm Tổng bí thư, vì HNTU 8 tổng kết thành quả nửa nhiệm kì làm Tổng bí thư của Nguyễn Phú Trọng. Nếu tô đen thì chả lẽ lại tự bôi xấu mình!

Vị thế và uy tín của Nguyễn Phú Trọng sau gần ba năm làm Tổng bí thư càng xuống dốc

Nếu đối chiếu với những kết luận và nhận định của hai cuộc Hội thảo khoa học được tổ chức vào cuối tháng 9 làm tư vấn cho ông Trọng và HNTU 8 thì cho thấy, Nguyễn Phú Trọng đã bỏ qua các khuyến cáo khách quan và trung thực của nhiều chuyên viên hàng đầu, các nhà hoạch định chính sách và cựu cán bộ cao cấp. Nhiều chuyên gia đang hoặc từng phụ trách hoạch định chính sách đã đưa đến kết luận là, các chủ trương và kế hoạch tái cơ cấu kinh tế vẫn dẫm chân tại chỗ cho nên tình hình kinh tế, tài chánh hiện nay đang đi xuống và rất nguy ngập trong nhiều lãnh vực – từ các tập đoàn nhà nước, nợ công gia tăng, lạm phát vẫn cao và kéo dài, doanh nghiệp tư nhân phá sản hàng loạt, nạn thất nghiệp gia tăng và đời sống cực khổ của nông dân và công nhân  có nguồn gốc từ những năm 2006-07 và tiếp tục xấu đi trong các năm về sau. Tuy không nêu đích danh Nguyễn Tấn Dũng ra chỉ trích, nhưng ai cũng biết chính vào thời điểm này ông Dũng vừa lên nắm chức Thủ tướng.

Thật vậy, tại cuộc Hội thảo “Nhìn lại nửa chặng đường phát triển kinh tế xã hội 5 năm và những điều chỉnh chiến lược” do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Ủy ban Kinh tế của Quốc Hội tổ chức ngày 23.9.“[8] Nhiều chuyên gia hàng đầu đã báo động là, kinh tế VN đang „tụt hậu“„suy yếu“ có nguy cơ không thực hiện được các mục tiêu của kế hoạch 2011-15. Ngay cả Ủy viên Trung ương kiêm Trưởng ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ cũng chia sẻ lời cảnh báo này. Chính Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng phải nhìn nhận nguy cơ này tại cuộc Hội thảo:

“Trong khi phần lớn các nước trong khu vực đã lấy lại đà tăng trưởng sau khủng hoảng thì tại Việt Nam, sự phục hồi còn chậm. Xét về mặt tuyệt đối, khoảng cách giữa Việt Nam và các nước trong khu vực đang ngày một cách xa”.

“Dư địa chính sách cho mô hình tăng trưởng hiện tại không còn nhiều. Những cảnh báo về một nền kinh tế chứa ẩn nhiều rủi ro và một triển vọng tăng trưởng không mấy tươi sáng đang có nguy cơ trở thành hiện thực”.[9]

Trong cuộc Hội thảo này cựu Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã dám nói rõ cả về nguyên nhân lẫn thời gian dẫn tới tình trạng nguy kịch trong kinh tế-xã hội:

“Phải chăng, do chủ quan mà chúng ta để vỡ ổn định vĩ mô. Suốt từ 2007 đến nay bất ổn vĩ mô bộc lộ ở mức gay gắt”. [10]

Như thế ông Khoan đã cho mọi người biết, suốt từ năm 2007 –tức là thời gian khởi đầu làm Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng- do bệnh chủ quan của người cầm đầu chính phủ nên chính sách kinh tế ở cấp vĩ mô đã sai lầm dẫn tới những bất ổn ngày càng gay gắt!

Tại cuộc Hội thảo Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2013 do Ủy ban Kinh tế Quốc hội, Viện hàn lâm Khoa học Việt Nam và VCCI tổ chức tại Huế trong hai ngày 26-27.9 nhiều chuyên gia hàng đầu cũng đã đánh giá rất bi quan về kinh tế, tài chánh hiện nay. Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nhận định kinh tế VN đang  một mình… nghẽn mạch. so với nhiều nước trong khu vực:

Hiện nay, nền kinh tế vẫn đang trong lộ trình “xuống đáy” mặc dù xu hướng ổn định hóa đã mở ra và đà sụt giảm tốc độ tăng trưởng có vẻ đã được chặn lại. Tình thế hiện nay đó là nền kinh tế Việt Nam bị “nghẽn mạch tăng trưởng” nặng nề trong khi các nền kinh tế khác trỗi dậy.[11]

Cùng quan điểm này là TS Trần Du Lịch, Ủy ban Kinh tế Quốc hội, cũng nói thẳng là, dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng kinh tế bất ổn nhất kể từ thập niên 90: “Năm 2013 là năm thứ 6 và là giai đoạn  bất ổn kinh tế vĩ mô kéo dài nhất, tính từ đầu thập niên 1990 đến nay”.[12]

Còn GS Lê Đang Doanh đã nói rất rõ, tiêu tiền của dân, phải công khai cho dân biết! Và ông đưa ra dẫn chứng về vì đâu kế hoạch tái cơ cấu các tập toàn và tổng công ti dưới quyển của Nguyễn Tấn Dũng vẫn dẫm chân tại chỗ:

Vướng mắc có thể do năng lực nhưng cũng có thể do lợi ích nhóm. Tôi lấy ví dụ khoản nợ 1,3 triệu tỉ đồng của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đến nay vẫn chưa có giải pháp toàn diện để giải quyết. [13]

Bị choáng váng chóng mặt trước việc nhiều chuyên gia hàng đầu đưa ra những nhận định rất bi quan về tình hình kinh tế, tài chánh hiện nay do sự chủ quan sai lầm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nên bà Nguyễn Thị Kim Ngân, tân Ủy viên Bộ chính trị và Phó Chủ tịch Quốc hội, đã vội vã bênh vực cho Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc Hội thảo này.[14] Ba ngày trước khi HNTU 8 khai mạc tờ Chính phủ điện tử dưới quyền của Nguyễn Tấn Dũng đã đăng ngay lời dăn đe của Nguyễn Thị Kim Ngân là phải nhìn cả điểm sáng chứ không thể chỉ nhìn vào điểm tối của nền kinh tế“không thể nói cả nền kinh tế tê liệt, đất nước vẫn tiếp tục phát  triển, đời sống nhân dân vẫn được quan tâm, cho dù có khó khăn có trì trệ”. [15]

Quan trọng hơn nữa, để phá vỡ dư luận rất bi quan về cách tổ chức và điều hành kinh tế tài chánh của Chính phủ qua hai cuộc hội thảo của Ban kinh tế Trung ương và Ủy ban kinh tế Quốc hội được tổ chức ít ngày trước khi HNTU 8 khai mạc và trùng vào lúc Nguyễn Tấn Dũng đang thăm Pháp và Liên hiệp quốc để đánh bóng bộ mặt trước khi HNTU 8 họp nhưng dư luận quốc tế chẳng quan tâm gì [16], nên sáng 29.9 khi vừa đặt chân xuống sân bay Nội bài ông Dũng đã vội vàng họp nội các và đề cao các thành quả của Chính phủ trong kinh tế-xã hội và để Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam mở họp báo công bố những con số này[17] và nó đã xuất hiện đầy đủ trong diễn văn bế mạc HNTU 8 của Nguyễn Phú Trọng, như đã nói phần trên.

Trong HNTU 8 không chỉ ngậm miệng trước tình hình kinh tế-xã hội rất bế tắc, Nguyễn Phú Trọng cũng phải thỏa hiệp với các nhóm lợi ích ở Trung ương đảng trong vấn đề quan trọng khác đó là việc thất bại trong chống tham nhũng. Chính Nguyễn Phú Trọng đã nói, HNTU 8 là Hội nghị giữa nhiệm kì giữ một vị trí rất quan trọng. Cho nên đúng ra HNTU 8 phải bàn đến một số vấn đề cấp bách mà HNTU 4 (12.2011) đã nêu ra, trong đó ít nhất là tệ trạng tham nhũng càng bùng nổ. Đầu tháng 8 Nguyễn Phú Trọng, trong tư cách là Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương phòng chống tham nhũng, đã kí quyết định thành lập 7  Đoàn thanh tra do hai Ủy viên Bộ chính trị và nhiều Ủy viên Trung ương về nhiều cơ quan Đảng, Chính phủ và một số tỉnh và thành phố từ 15.8 tới 30.9, tức là chấm dứt đúng vào dịp HNTU 8 họp.[18] Không những thế, trong cuộc tiếp xúc với cử tri tại Hà nội ngày 28.6.2013 Nguyễn Phú Trọng cũng đã hứa là, trong HNTU tới cũng sẽ tổ chức lấy phiếu tín nhiệm từ Tổng bí thư và các Ủy viên Bộ chính trị.[19]

Nhưng ngày 27.8 trước sự chất vấn gay gắt của cử tri Tây hồ ở Hà nội, Tổng bí thư kiêm Trưởng ban Chỉ đạo trung ương phòng và chống tham nhũng Nguyễn Phú Trọng, đã phải nhìn nhận:”Cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi, như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chịu”.[20] Qua đó ông Trọng thừa nhận, tham nhũng như bệnh ghẻ lở và truyền nhiễm, nếu chỉ gãi bên ngoài thì càng đau nhưng bệnh trở thành bất trị. Giải pháp trị tham nhũng của ông Trọng bằng phong trào tự phê bình và phê bình rất rầm rộ từ các Ủy viên Bộ chính trị tới các Ủy viên Trung ương năm trước đã chỉ như gãi ghẻ ngoài da, như bong bóng xà phòng. Chính Trương Tấn Sang mới đây đã nói toẹt ra với cử tri ở Sài gòn. Còn giải pháp lấy phiếu tín nhiệm với ba câu hỏi theo kiểu ba phải, hiểu thế nào cũng được cũng đã được thí nghiệm tại Kì họp thứ 5 của Quốc hội đã trở thành trò cười cả trong Đảng lẫn ngoài xã hội!

Chính vì vậy Nguyễn Phú Trọng đã không dám đem kết quả chống tham nhũng sau gần ba năm làm Tổng bí thư và cũng không dám thực hiện lấy phiếu tín nhiệm trong HNTU 8. Vì thành quả chống tham nhũng qua gần ba năm làm Tổng bí thư của ông Trọng chẳng có gì cả. Từ khi giành chức Trưởng ban chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng từ tay Nguyễn Tấn Dũng gần một năm nay nhưng Nguyễn Phú Trọng cũng chẳng khám phá ra một vụ nào mới và cũng không dám đưa ra xét xử những vụ tham nhũng lớn. Mỗi lần Trưởng ban Nội chính Nguyễn Bá Thanh và cánh tay mặt của ông Trọng dọa đưa ra xét xử một số vụ tham nhũng thì Nguyễn Tấn Dũng cho ngay Trưởng ban Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền tiếp tục tố Ủy ban Nhân dân Đà nẵng trong việc cho thuê đất làm thất thoát ngân sách khi ông Thanh còn làm Bí thư thành ủy Đà nẵng. Tức là phe ông Dũng cố tình bắt bí, chiếu tướng nhằm cản trở và tê liệt các hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng của ông Trọng.[21] Hai sự kiện quan trọng mới đây nhất cho thấy, tuy phải thỏa hiệp nhưng Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng vẫn tiếp tục gầm ghè nhau. Nhân danh Thủ tướng, ông Dũng đã từ chối không cho Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm (C48) được xem hồ sơ của Tập đoàn điện lực VN (EVN), mặc dầu Tổng Thanh tra Chính phủ đã điều tra thấy nhiều vi phạm về quản trị tài chánh lên tới cả 121 ngàn tỉ đồng.[22] Ngày 17.10 tại trụ sở Trung ương đảng đông đủ ủy viên Bộ chính trị họp với thành ủy Đà nẵng, nơi Nguyễn Bá Thanh đã từng là Bí thư thành ủy, nhưng Nguyễn Tấn Dũng đã không dự để tiếp tục thủ thế.[23]

Than vãn coi chống tham nhũng như gãi ngứa ghẻ chỉ đau đớn thêm mà không mang lại kết quả, cho nên ông Trọng đã phải hủy cả ý định lấy phiếu tín nhiệm trong HNTU 8. Rút kinh nghiệm đau đớn sau hai lần thất bại nhục nhã tại các HNTU 6 đã không đẩy được Nguyễn Tấn Dũng khỏi ghế Thủ tướng và  tại HNTU 7 các ứng cử viên của ông đã bị các ứng cử viên của ông Dũng đánh bại trong việc bầu bổ túc vào Bộ chính trị, cho nên Nguyễn Phú Trọng biết vị thế của mình trong Trung ương đảng ngày càng yếu đi, vì thế ông Trọng  đã không dám thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm tại HNTU 8 như đã hứa. Bởi vì ông lo sợ là, nếu đa số ủy viên Trung ương theo Nguyễn Tấn Dũng bỏ phiếu chống ông thì ông còn có thể giữ ghế Tổng bí thư được nữa không! Qua các việc này còn cho thấy, Nguyễn Phú Trọng chỉ là người đánh trống bỏ dùi, dơ cao đánh khẽ, chỉ thích lộng ngôn, nhưng không có bản lĩnh và không còn uy tín gì trong Đảng. Thật vậy khi mới giữ ghế Tổng bí thư tại HNTU 4 (12.2011) ông hùng hổ tố cáo tham nhũng và suy đồi đạo đức của cán bộ ở ngay cấp cao:

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả ở cấp cao, chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin đối với Đảng.[24]

Chính trong HNTU 4 này ông Trọng đã coi chống tham nhũng là một công tác cấp bách trong Đảng phải tiến nhành ngay.  Nhưng mới đây khi tiếp xúc với cử tri Tây hồ, Hà nội, ông Trọng cũng đã than thở và xác nhận sự bất lực:

“Sốt ruột, bức xúc lắm, không phải bây giờ mà mấy năm trước Đảng đã gọi đây là quốc nạn, giặc nội xâm, quyền lực lớn mà không kiểm soát dễ sinh hư hỏng, tham nhũng”. Ông còn cho mọi người biết thêm là, nhiều người có quyền lực đang lãng phí tiền bạc và tài nguyên rất khủng khiếp: “Lãng phí cũng ghê gớm, có khi còn hơn tham nhũng, về thời gian, công sức, tiền bạc…” [25]

Vì thế sau gần 3 năm làm Tổng bí thư, tại HNTU 8 ông phải im thin thít. Từ tham vọng muốn trở thành chính khách quốc gia khi lên làm Tổng bí thư, nhưng gần ba năm sau ông Trọng đã ngoan ngoãn tự biến dần thành một quản gia cho bọn quan tham!

Các nhóm lợi ích trong Trung ương thỏa hiệp với Nguyễn Phú Trọng trong việc duy trì những  chủ trương độc tài bảo thủ trong Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp 1992

Để đổi lại những nhượng bộ của phe bảo thủ độc tài do Nguyễn Phú Trọng cầm đầu không đả kích những sai lầm và khó khăn trong kinh tế-xã hội, các nhóm lợi ích trong Trung ương do Nguyễn Tấn Dũng dẫn dắt cũng chấp nhận những nguyên tắc trong việc sửa đổi Hiến pháp 1992 đã được nêu ra trong các HNTU trước. Thông báo HNTU 8 đã xác nhận việc này:

Bám sát Cương lĩnh năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), các văn kiện của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị về mục đích, yêu cầu, những quan điểm cơ bản, định hướng lớn của việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992[26]

Chính vì thế trong diễn văn bế mạc ngày 9.10 Nguyễn Phú Trọng đã tóm lược các điểm chính được các phe bảo thủ độc tài và lợi ích nhóm đã đồng thuận trong việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Đó là “Khẳng định Nhà nước ta là Nhà  nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa“, Quyền lực nhà nước là thống nhất“ và Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội“.  Các điểm nồng cốt này đã được Nguyễn Phú Trọng nêu ra từ trong  diễn văn bế mạc HNTU 2 ngày 10.7.11. Vì thế Nguyễn Phú Trọng đã chống lại yêu cầu của nhiều giới nên giành thêm thời gian thảo luận vì còn nhiều điểm quan trọng vẫn còn có những ý kiến khác nhau về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Đồng thời Nguyễn Phú Trọng vẫn  cao ngạo tiếp tục chụp mũ những người đóng góp ý kiến thẳng thắn là  các thế lực thù địch, phần tử xấu“ và ra lệnh phải thông qua gấp việc sửa đổi Hiến pháp ngay trong Kì họp thứ 6 của Quốc hội sẽ diễn ra trong vài ngày tới:

Ngay sau Hội nghị này, Đảng đoàn Quốc hội, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp và  các cơ quan chức năng cần khẩn trương tiếp thu ý  kiến của Trung ương hoàn chỉnh toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 6 sắp tới.[27]

Qua đó cho thấy cánh độc tài bảo thủ của Nguyễn Phú Trọng và các nhóm lợi ích của Nguyễn Tấn Dũng đang song hành với nhau để sớm thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992; trong đó tiếp tục giữ những nguyên tắc cực kì phản dân chủ và sai lầm, từ duy trì chế độ độc đảng, kinh tế nhà nước làm chủ đạo, đất đai là sở hữu toàn dân, quân đội và công an phải trung thành với Đảng. Họ thông qua Hiến pháp “mới“, nhưng vẫn với nội dung cũ rích như ông bành tổ! Vì các phe phái ở Trung ương đều nhận thấy rằng, chỉ có duy trì các nguyên tắc này thì mới kéo dài được chế độ độc đảng. Nhờ đó các phe đều có lợi trong viêc tiếp tục củng cố quyền hành và thả cửa tham nhũng mà không sợ bị trừng phạt! Tuy họ biết rằng, nhân dân nhiều giới đang chống lại, kể cả nhiều đảng viên còn biết quí tự trọng.

Ông Trọng và Trung ương nên viết cho chính danh: Không nên mạo nhận “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Đúng ra phải viết Chiến lược bảo vệ Đảng độc tài trong tình hình mới”

Đề tài tổng kết tình hình quốc phòng-an ninh 10 năm qua cũng được HNTU 8 thảo luận dưới tên rất “yêu nước”“Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Cả trong Thông báo HNTU 8 lẫn diễn văn bế mạc của Nguyễn Phú Trọng đều nhìn nhận, tình hình quốc phòng-an ninh đang căng thẳng và tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn cả bên ngoài lẫn bên trong, đặc biệt là tình hình biển Đông và sự bất mãn của nhân dân cang gia tăng xuyên qua các vụ khiếu kiện, biểu tình, tuyên cáo và ngày càng nhiều các báo mạng. Nhưng trong khi biển Đông chỉ được nhắc đến duy nhất một lần  thì họ lại hướng trọng tâm nhấn mạnh tới những nguy cơ bất ổn ở trong nước. Ông Trọng ra lệnh “nêu cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá, xâm lược của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ  trong mọi tình huống”.[28] Trong Thông báo HNTU 8 cũng cùng giọng điệu này:“Các thế lực thù địch tăng cường chống phá sự nghiệp đổi mới của đất nước với những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc hơn”.[29]

Sang phần mục tiêu và biện pháp quốc phòng-an ninh, trong khi ông Trọng nêu rõ chủ trương của Trung ương là bảo vệ sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng:  “Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, phải luôn luôn giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt  đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”.[30] Còn trong Thông báo HNTU 8 thì các bên đồng ý giao cho Đảng và Nhà nước toàn quyền  đưa ra các biện pháp quốc phòng-an ninh. Trong thực tế những thỏa hiệp này của các phe nhóm ở Trung ương là để chế độ toàn trị tiếp tục sử dụng toàn bộ máy công an mật vụ, bộ máy tuyên giáo…chụp mũ, theo dõi và đàn áp các tầng lớp nhân dân. Vì thế để cho danh chính ngôn thuận, những người cầm đầu chế độ toàn trị phải đổi tên đề tài từ “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” thành Chiến lược bảo vệ Đảng độc tài trong tình hình mới”

Chính sách quốc phòng-an ninh bao gồm hai mặt, quốc phòng đối phó với bên ngoài và an ninh với bên trong. Nhưng hai mặt là một. Vì muốn quốc phòng mạnh thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải an dân, dân được tự do làm ăn, được bảo vệ quyền lợi chính đáng, được nhà cầm quyền tôn trọng…Vậy dân ta có được hưởng các quyền này không? Những người có quyền lực có tôn trọng và cư xử đàng hoàng với dân không?…Hàng loạt các cuộc giam cầm những người viết báo mạng, trí thức, thanh niên từng tích cực tham gia biểu tình bất bạo động chống xâm lấn của Bắc kinh, ủng hộ nông dân khiếu kiện đòi lại đất đai đã bị các đại gia đỏ tước đoạt và tố cáo việc giả mạo sửa đổi Hiến pháp…trong thời gian qua đã bị các lực lượng công an chính thức và công an đội lốt côn đồ đánh đập, đàn áp; báo chí lề đảng và các bồi bút trong Tuyên huấn đã được lệnh viết những bài chụp mũ, bôi nhọ. Đây rõ ràng không phải là chính sách an dân, đoàn kết dân của một chính quyền trọng pháp, trái lại đúng là hành động như những bọn côn đồ…!

Vì chống lại dân, đàn áp người yêu nước, bị trí thức khinh bỉ và thanh niên bất mãn, nhưng họ vẫn muốn tiếp tục độc quyền để làm giầu bất chính, cho nên những người cầm đầu chế độ toàn trị chỉ còn con đường duy nhất là ngả vào lòng bọn bành trướng Bắc kinh, bất kể tới tự trọng, liêm xỉ, nói chi tới bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi quốc gia! Đây mới chính là «Chiến lược bảo vệ Đảng độc tài trong tình hình mới“ vừa được thông qua trong HNTU 8.

Bằng chứng mới nhất là để đẹp lòng tân Thủ tướng Trung quốc Lý Khắc Cường sang Hà nội ngày 13.10,  bộ Ngoại giao đa ra lệnh cho Thành ủy Hà nội  bắt dân phải rỡ cờ để tang tướng Võ Nguyên Giáp xuống, mặc dầu linh cữu của ông còn đang trên đường ra Quảng bình. Cư xử tệ bạc với một đại thần và một người sáng lập chế độ toàn trị như thế chỉ vì muốn làm đẹp lòng Lý Khắc Cường, như thế đã chứng tỏ lời điếu văn của Nguyễn Phú Trọng và lễ tang giành cho tướng Giáp chỉ là bề ngoài đúng như “lúc sống thì chẳng cho ăn, đến khi thác xuống thì làm văn tế ruồi!” [31] Vì mọi người đều biết mới vài năm trước chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng vì đã hứa với Bắc kinh nên đã không đếm xỉa gì tới cảnh báo của tướng Giáp yêu cầu ngưng ngay kế hoạch khai thác Bauxit ở Tây nguyên. Thái độ cung kính Lý Khắc Cường cũng chỉ lập lại việc thần phục phương Bắc đến độ làm mất thể diện quốc gia khi cố tình tạo ra cờ 6 sao Trung quốc khi Nguyễn Phú Trọng  thăm Trung quốc lần đầu với tư cách Tổng bí thư 10.2011 và trong dịp đón Tập Cận Bình tại Hà nội tháng 12.2011 mừng ông Trọng trong chức vụ mới.[32]

Sau khi Lý Khắc Cường gặp “Tứ trụ triều đình” một Thông báo chung 10 điểm về kết quả chuyến thăm đã được công bố ngày 15.10.[33] Trong đó để cho Bắc kinh thao túng mạnh hơn nữa trong kinh tế, thương mại, tài chánh, mở cửa thêm cho Bắc kinh bành trướng trên biển Đông, can thiệp sâu thêm vào quân sự và ngoại giao của VN, cho lập cả Viện Khổng tử ở Đại học Hà nội và ra lệnh cho “tứ trụ” phải “tăng cường định hướng đúng đắn báo chí và dư luận” tránh bất lợi cho Bắc kinh. Nội dung Thông báo này cho thấy, Bắc kinh đã hiểu rất rõ tình hình suy đồi của kinh tế VN, sự kình chống lẫn nhau trong Bộ chính trị và sự cô lập trước nhân dân VN của nhóm cầm đầu chế độ toàn trị, nên đang tìm cách khai thác triệt để! Vì thế những nhượng bộ vô nguyên tắc như trong Thông báo chung 10 điểm cho thấy, Trọng-Sang-Dũng-Hùng đã bước thêm một bước biến VN thành một tỉnh của Trung quốc!

Thái độ tâm lí thờ ngoài khinh trong, cúi đầu trước Bắc kinh xâm lấn nhưng lại đàn áp dân và khinh thường trí thức VN, đây rõ ràng là tâm trạng và thái độ tự ti mặc cảm của những người có quyền lực trong chế độ toàn trị hiện nay! Căn bệnh tâm lí trầm kha của họ đang gây nhiều hậu quả vô cùng nguy hiểm cho nhân dân và đất nước!

19.10.2013

© Âu Dương Thệ

© Đàn Chim Việt


Ghi chú

 

[1] . Chủ tịch nước: “Một bộ phận không nhỏ” là câu hết sức đau đầu !, Tuổi trẻ 10.10

[2] . Xem bài 3 phần „ Hai năm làm Tổng bí thư  (1.2011 – 1.2013)“ của cùng tác giả, trong DC&PT,    

    Nguyễn Phú Trọng đang đưa chế độ và đất nước đi về đâu?  

    http://www.dcpt.org/thoisu/baithoisu2013/adt1.htm

[3] . Nguyễn Phú Trọng diễn văn khai mạc HNTU 8, 30.9

[4] . Thông báo HNTU 8, CS 9.10

[5] . Nguyễn Phú Trọng diễn văn bế mạc HNTU 8, 9.10

[6] . Chính phủ điện tử  (CP) 29.9

[7] . Như 5

[8] . Vietnam Net (VNN) 24.9

[9] . Tương tự

[10] . „Ông Vũ Khoan: Kinh tế đi xuống do chủ quan?“, VNN 24.9

[11] . VNN 26.9

[12] . Tương tự

[13] . Thanh niên 7.10

[14] . Trong HNTU 7 bà Ngân đã được các nhóm lợi ích ủng hộ vào Bộ chính trị, mặc dầu không có   

      thành tích gì trong nhiều chức vụ khác nhau, trong khi hai ứng cử viên do Nguyễn Phú Trọng đã bị   

      thất cử là Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ.

[15] . CP 27.9

[16] . Hồng Nga/BBC 1.10

[17] . Ông Đam sẽ lên Phó Thủ tướng trong ít ngày tới

[18] . VNN8.8

[19] . VNN 28.6

[20] . VNN 27.8

[21] . Tuổi trẻ 25.6 , Thanh niên 26.6

[22] . BBC 16.10

[23] . Cộng sản 17.10

[24] . Nguyễn Phú Trọng, diễn văn khai mạc HNTU 4, 27.12.11

[25] . VNN 27.8

[26] . Thông báo HNTU 8.

[27] . Như 5

[28] . Như 5

[29] . Như 4

[30] . Như 5

[31] . V. Quốc Uy, Lịch sử sẽ nói gì về đám tang tướng Võ Nguyên Giáp, DC&PT

[32] . VOA Express 22.12.11

[33] . CP 15.10,  http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Tuyen-bo-chung-Viet-NamTrung-

     Quoc/183057.vgp;

     Nguyễn Kiên Giang, Vì sao Viện Khổng tử lại gây bất an cho chúng ta?, Tếu- Blog 19.10;

    Thanh Phương, Thương mại Việt-Trung : càng gia tăng, càng mất cân đối ? , RFI 16.10;

    Vũ Hoàng, Hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung, RFA 16.10

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. Trọng ngố, Dũng hèn đang đưa đất nước tới vực thẳm
  2. Tòa thì kín nhưng lột áo, đánh đập, đe dọa thì công khai
  3. Ai, những ai đang cõng rắn cắn gà nhà?
  4. Những khó khăn của nền kinh tế Việt Nam[1]
  5. “Đừng tin những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”
  6. DB Loretta Sanchez: “Những người Việt và Đảng Viên Cộng Hòa đang cố gắng giành chiếc ghế này của chúng ta”

Cụ Cao Xuân Vỹ, Nhân Chứng Một Giai Đoạn Lịch Sử

cao xuan vy
Ô. Cao Xuân Vỹ

Như đã hứa, (1) ông Cao Xuân Vỹ, sau ba lần vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, đã vui lòng dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn để cống hiến bạn đọc một số hồi ức và kỷ niệm của ông trong thời gian đi theo Việt Minh kháng chiến rồi về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm với tư cách là người phụ tá thân cận của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

1. Hỏi: Thưa ông, nghe nói ông cùng quê Nghệ An với ông Hồ Chí Minh?

Đáp: Phải. Tôi người làng Thịnh Mỹ, phủ Diễn Châu ở về phía biển, còn ông Hồ ở xã Kim Liên huyện Nam Đàn về phía núi.

2. Hỏi: Ông có thể cho biết gia đình ông có liên hệ gì với gia đình ông Hồ không?

Đáp: Tôi được biết ông cố tôi là cụ Cao Xuân Dục, thượng thư bộ học thuộc triều đình Huế có giúp đỡ thân phụ ông Hồ là Nguyễn Sinh Sắc về tài chính và khuyến khích, giúp đỡ ông ấy nhiều trong việc học hành để có thể đi thi và đậu phó bảng. Một phần vì ông Nguyễn Sinh Sắc là bạn học với ông nội tôi là Cao Xuân Tiếu. Đây là hình căn nhà ông nội tôi cho ông cử Sắc. (Ông Vỹ đưa xem hình căn nhà.)

3. Hỏi: Có tài liệu của phía Cộng Sản, như của Sơn Tùng và Nguyễn Đắc Xuân nói, khi thấy ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng khoa Ất Mùi, (năm 1895), ông Cao Xuân Dục đã giúp cho ông Nguyễn Sinh Sắc được vào Huế, để có phương tiện và đủ sách vở hầu tiếp tục việc học và có thể thành đạt. Điều này có đúng không?

Đáp: Đúng. Ông cố tôi còn can thiệp để cho ông Nguyễn Sinh Sắc, dù không phải là con quan cũng được vào học ở Quốc Tử Giám. Đến khoa thi năm Tân Sửu (1901) chánh chủ khảo Cao Xuân Dục thấy khóa sinh Sắc không trúng tuyển đã cho lệnh xét lại bài thi của 4 thí sinh để rồi xin vua Thành Thái cho ông ta đậu phó bảng. Khóa ấy có 9 tiến sĩ, 13 phó bảng. Ông Sắc đậu phó bảng thứ 11.

4. Hỏi: Hồi còn nhỏ ông có biết về hoạt động của Cộng sản ở quê nhà và có chứng kiến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản thường được gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh không?

Đáp: Có. Phong trào này mạnh nhất ở hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương. Nhiều người bị chết oan. Cộng Sản đã giết hai tri phủ. Vì thế phản ứng của chính quyền bảo hộ cũng rất quyết liệt. Pháp đem bom thả cũng giết nhiều người, trong số ấy có cả Cộng Sản lẫn thường dân. Cha tôi có kể lại rằng để đối phó với phong trào này, ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư bộ Lại của Triều Đình Huế, (tương đương với chức thủ tướng thời nay), đã cho áp dụng một kế hoạch chiêu dụ Cộng Sản khá thành công. Lúc ấy ông cố tôi cùng ở trong nội các Nguyễn Hữu Bài.

5. Hỏi: Khi Việt Minh cướp chính quyền ông ở đâu? và có ủng hộ họ không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang học ở Hà Nội. Tôi nhớ là mấy tháng trước khi Việt Minh cướp chính quyền, thanh niên sinh viên Hà Nội chúng tôi rất hăng hái ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, vì là chính phủ của Việt Nam độc lập đầu tiên, dù phải nhờ có người Nhật lật đổ người Pháp. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi và đã ủng hộ hết mình. Tiếc rằng bỗng nhiên chính phủ này từ chức ngày 7 tháng 8 (1945). Thật khó hiểu. Tuy từ chức nhưng chính phủ Trần Trọng Kim vẫn xử lý theo lệnh nhà vua. Khi mà Việt Minh tới trám vào chỗ trống chính trị này thì chúng tôi đã đi theo Việt Minh. Chúng tôi không biết Việt Minh là Cộng Sản. Thực ra lúc ấy chả mấy người biết Việt Minh là Cộng Sản.

6. Hỏi: Ông có gặp ông Hồ bao giờ không?

Đáp: Có. Hồi ấy tôi ở trong phong trào thanh niên sinh viên tranh đấu. Chúng tôi được hai ông Hoàng Minh Giám và Phan Mỹ giới thiệu để gặp ông Hồ ở Bắc Bộ Phủ. Lúc ấy ông ấy có cái vẻ bề ngoài rất ân cần và dễ mến. Về sau tôi mới hiểu tại sao ông ấy đã chiêu dụ được nhiều người đi theo ủng hộ Việt Minh. Cho đến giờ này tôi vẫn nghĩ ông ta thật là thông minh và xảo quyệt. Lại được tay Võ Nguyên Giáp cũng rất thông minh trợ tá đắc lực. Tôi học với Võ Nguyễn Giáp 4 năm, Tôi biết ông ta rất rõ. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã tỏ ra sắc sảo và quả đoán… Rất “độc tài”. Nhưng dầu sao Võ Nguyên Giáp không thể sánh được với Ngô Đình Nhu. Còn Phạm Văn Đồng thì không đáng là học trò Ngô Đình Nhu.

7. Hỏi: Rồi tại sao ông lại bỏ Việt Minh?

Đáp: Vì chúng tôi kết án ông Hồ đã ký thỏa ước mồng 6 tháng 3, nhượng bộ Pháp quá nhiều. Hơn nữa họ đã hãm hại nhiều người yêu nước bất đồng chính kiến. Chúng tôi chạy sang phía Việt Cách của các ông Nguyễn Hải Thần và Nghiêm Kế Tổ…

8. Hỏi: Khi nào thì các ông rời Hà Nội?

Đáp: Liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày 19-12-46. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên Việt Bắc kháng chiến. Thì chúng tôi gồm 36 nhà trí thức và thanh niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, gồm Thanh Nghê Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn hòa lập một phòng tuyến mới phi Cộng Sản chống thực dân và giúp dân mở mang về kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một khu tự trị.

9. Hỏi: Ông có thể cho biết tên một số trong 36 nhà trí thức mà ông bảo đã rời Hà Nội vào Liên Khu Tư sau kháng chiến bùng nổ không?

Đáp: Tôi còn nhớ chẳng hạn có Luật Sư Trần Chánh Thành, các ông Trần Hữu Dương, Hồ Đắc Điềm, Phạm Thành Vinh, sau này trở thành rể của ông Hồ Đắc Điềm, ông Nguyễn Duy Quang, người của ông Bảo Đại, ông Phan Huy Xương, anh của bác sĩ Phan Huy Đán tức Phan Quang Đán, ông Tôn Thất Trạch v.v… Các ông này về sau đã hợp tác với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông Trần Chánh Thành từng là bộ trưởng phủ thủ tướng, với ông Tôn Thất Trạch là đổng lý văn phòng. Ngoài ra, về phía thường dân tôi nhớ còn có bà Hòa Tường là một thương gia giầu có ở phố Hàng Đào cũng đi theo.

Tôi xin nói thêm ông biết điều này, là những vị này và tôi hồi đầu theo Việt Minh. Nhưng tất cả đều không phải Cộng Sản. Và ngay từ 1930 thì đã có hai phe cùng chống Pháp một bên là Đảng Cộng Sản, lúc ấy chưa có Việt Minh. Một bên là các nhân vật và tổ chức quốc gia phi Cộng Sản trong đó ngoài những người như ông Ngô Đình Diệm đã bắt đầu hoạt động từ đó, còn có các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà đảng trưởng là Nguyễn Thái Học và 13 đồng chí đã bị Pháp xử bắn.

ông Ngô Đình Nhu

10. Hỏi: Khi nào ông rời Liên Khu Tư vào Sài Gòn và gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Chúng tôi rời Liên Khu Tư ra Hà Nội. Chứ chưa vào Sài Gòn. Lúc ấy là vào khoảng đầu năm 1953. Ông Hồ Chí Minh theo lệnh Stalin và Mao Trạch Đông khỉ sự chuẩn bị mở chiến dịch Giảm Tô và cải cách ruộng đất. Có người thân trong Việt Minh cho chúng tôi biết. Nên tìm đường chạy trước. Về sau trong họ tôi có nhiều người có chút tư điền bị đem ra đấu tố. Chị ruột tôi cũng bị giết. Tôi “dinh Tề” qua ngả Phúc Nhạc, Phát Diệm là khu an toàn tự trị dưới quyền trông coi của giám mục Lê Hữu Từ. Khó khăn lắm mới tới được Hà Nội. Hà Nội lúc ấy đang sống an bình dưới chính quyền Bảo Đại. Tôi đi thoát được là nhờ có người chú họ ở trong tổ chức Việt Minh cấp cho một giấy thông hành. Ở Hà Nội tôi gặp lại các ông Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát từng hoạt động chung với chúng tôi thời 1945.

Trong thời gian còn ở Liên Khu Tư chúng tôi nghe biết cán bộ Cộng Sản trong tổ chức Việt Minh chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cán bộ Trung Cộng. Sau khi Mao Trạch Đông chiếm trọn lục địa vào cuối năm 1949, ông ta đã bắt Hồ Chí Minh gửi một số lớn cán bộ Việt Cộng sang Tầu để tẩy não, cải tạo tư tưởng, bắt học tập chủ nghĩa Mao-ít. Vì cái chủ nghĩa này mà các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất đã đẫm máu với những vụ con tố cha, vợ tố chồng và nông dân tàn sát lẫn nhau thật rùng rợn. Làng tôi có ông hàn Lương biết mình sắp bị đưa ra đấu tố đã nhảy xuống giếng tự tử, vậy mà đội cải cách đã lôi xác ông lên để đấu cái thây ma. Chúng đánh nát bấy cái thây ấy. Tôi mong có người thâu thập những tin tức khắp nước về cuộc Cải Cách Ruộng Đất thời gian đó để cho mọi người biết Cộng Sản dã man chừng nào.

11. Hỏi: Khi nào thì ông gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Cuối năm 1953. Tôi vào Sài Gòn thì gặp lại ông Trần Chánh Thành. Ông Thành giới thiệu tôi với ông Nhu. Ông Thành vào Sài Gòn năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 nhà trí thức đã vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp tác với Việt Minh. Lúc gặp lại tôi thì ông Thành đang làm cho tờ báo Xã Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự luật sư với Luật Sư Trương Đình Du…

12. Hỏi: Theo chỗ chúng tôi biết thì ông Ngô Đình Nhu từng có 5 nhiệm vụ quan trọng: một là dân biểu Quốc Hội, hai là Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, ba là thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, bốn là Tổng Bí Thư đảng Cần Lao Nhân Vị, và sau hết vào năm cuối cùng ông còn là chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược. Vậy ông ấy có một lực lượng nhân sự nào đáng kể để giúp thi hành chừng ấy nhiệm vụ không? Ví dụ ông ấy có mấy văn phòng? Có bao nhiêu nhân viên được ăn lương?

Đáp: Ông ấy chỉ có một mình thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn phòng, thường được gọi là chánh văn phòng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá Đường chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khoản nào dành cho ông Cố Vấn. Và phải nói thực khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng Thống. Người ta thấy việc ông làm thì gọi ông là Cố Vấn vậy thôi. Vì thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ gì chính thức.

Còn về thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, thì ông chỉ thị cho chúng tôi, phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi gì.

Về văn phòng dân biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đề “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề “kinh tế tư hữu cơ bản” v.v.. thì ông mới tới trình bày mà thôi. Cho nên mọi thứ một mình ông cáng đáng. Tôi thật phục sức làm việc của ông Nhu.

13. Hỏi: Thế còn chức chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược thì sao? Có văn thư nào quy định không?

Đáp: Chức này thì có. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ tọa các phiên họp Ủy Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận. Ông Nhu quan niệm chương trình Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến lược để đối phó với sự xâm nhập và khủng bố của Cộng Sản mà thôi. Ông thúc đẩy các tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc, nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời mình, làm chủ được xã hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang. Ông để rất nhiều thì giờ đích thân soạn những bài thuyết trình có tính lý luận cao dành cho các cấp lãnh đạo chính phủ và cán bộ cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu óc thường dân qua những hình ảnh và ngôn ngữ bình dân dễ hiểu. Mục đích của ông là tiến dần tới một xã hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều, chứ không biến con người thành những “cái đinh, con ốc” trong một guồng máy xã hội theo kiểu Cộng Sản. Ông tin tưởng rằng phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng. Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ nhiên ban đầu thì việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp Chiến Lược được an toàn trước sự phá hoại và tấn công của du kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công thì Cộng Sản sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.

14. Hỏi: Về đảng Cần Lao Nhân Vị, nó thành hình ra sao, và ai là những đồng chí cốt cán nhất của ông Nhu?

Đáp: Hai người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Nhưng ban đầu các ông không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông. Nhưng vì không muốn gợi ý về cái liên minh công nông của Cộng Sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao. Còn vế Nhân Vị thì sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. Ông Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu Nghĩa một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa đã giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế, chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale. Ông Lansdale có can thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương như Quân Đội Quốc Gia thì đúng. Người nào bảo Lansdale dùng tiền mua Tướng Thế là cố tình xuyên tạc để hạ uy tín của một vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm rất quý trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống Diệm đã ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi ký.

Văn phòng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một mình Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.

TT. Ngô Đình Diệm

15. Hỏi: Ông Ngô Đình Diệm có giữ vai trò gì trong đảng Cần Lao không?

Đáp: Không. Ông ấy hoàn toàn ở ngoài và trên đảng Cần Lao. Với ông Diệm chỉ có Tổ Quốc và Quốc Dân. Tôi còn nhớ khoảng năm 1956, Tổng Thống gọi tôi vào bảo tôi lên cao nguyên đèo heo hút gió để quan sát nghiên cứu tìm ra những địa điểm thích hợp để lập các khu dinh điền, hòng đưa người kinh lên trấn giữ địa điểm mà ông bảo là vô cùng quan trọng về mặt chiến lước. Tôi thấy mình đi thì ông Nhu thiếu một trợ lý. Lại cũng hơi ngán cảnh cô đơn ở nơi xa lạ. Tôi bèn thưa với Tổng Thống: Công tác đoàn thể của ông Cố Vấn đang thiếu người. Tổng Thống nói: Đoàn thể gì. Dẹp. Tuy nhiên rồi ông cũng đấu dịu. Cứ đi đi. Thỉnh thoảng tôi sẽ lên với anh… Cũng cần thêm rằng ông Diệm rất quan tâm đến vùng cao nguyên. Ông thường nói: giữ được cao nguyên thì giữ được miền Nam. Và ông tìm cách đưa nhiều cán bộ và những người dân có kinh nghiệm với Cộng Sản lên đó lập nghiệp.

16. Hỏi: Ông nghĩ gì về việc chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại?

Đáp: Nhiều người chê ông Diệm, là nhà Nho mà bất trung, không giữ lời thề trung thành với cựu hoàng. Nhưng tôi thấy không đúng. Trước hết chính cựu hoàng bảo ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá trung thành với Tổ Quốc. Thứ nữa, khi cựu hoàng triệu ông sang Pháp, ông Diệm đã sẵn sàng lên đường, dù biết sang đó sẽ mất chức thủ tướng.

Nhưng chính nhóm liên khu Tư chúng tôi đã thuyết phục ông, gần như làm áp lực với ông, để ông bỏ ý định sang Cannes . Chúng tôi xúm vào yêu cầu ông ở lại lấy cớ tình hình không cho phép vắng mặt. Chúng tôi phải nói với thủ tướng rằng nếu Cụ bỏ chúng tôi lại mà đi một mình thì sinh mệnh chúng tôi ai sẽ lo? Chúng tôi đã bỏ tất cả vào đây là vì cụ, vì tin cụ sẽ bảo vệ phần đất tự do còn lại này, bảo vệ chúng tôi. Nay cụ nỡ lòng nào bỏ chúng tôi, bỏ đất nước này cho Thực dân, Cộng Sản? Rồi nhiều đoàn thể họp nhau lại đặt ông Diệm trước sự việc đã rồi là tự ý hạ bệ ông Bảo Đại. Cuộc trưng cầu dân ý của chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức sau đó chỉ là để hợp pháp hóa hành động của chúng tôi.

17. Hỏi: Có sử gia Mỹ bảo ngày 22 tháng 8 năm 1963, Thanh Niên Cộng Hòa đã tấn công chùa Xá Lợi cùng với Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt. Điều này có đúng không?

Đáp: Hoàn toàn bịa đặt. Tổ chức này không phải để dùng vào những việc như vậy. Nó là tổ chức phi vũ trang mà.

18. Hỏi: Sử gia Mark Mayor viết trong tác phẩm Triumph Forsaken rằng gần ngày đảo chính, tỉnh trưởng Định Tường báo cáo với ông Nhu rằng đại tá Có là phụ tá của tướng Đính rủ ông ta làm đảo chính. Ông Nhu hỏi lại tướng Đính, thì tướng Đính xin đi chém đầu Có. Ông có biết vụ này không?

Đáp: Không cần tỉnh trưởng Định Tường báo cáo thì ông Nhu đã biết rồi. Nhưng ông muốn cứ để vậy để theo dõi.

19. Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?

Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược. Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…

Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:
– Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do. – Rồi cho dân qua lại tự do
– Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn
– Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
– Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
– Và sau cùng là tổng tuyển cử.

Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.

20. Hỏi: Lần ông tháp tùng ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo sư Bửu Hội không?

Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp. Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh.

21. Hỏi: Gần ngày đảo chính đại sứ Cabot Lodge có điện đàm với Tổng Thống Diệm. Lúc đó ông có ở bên cạnh Tổng Thống không?

Đáp: Không.

22. Hỏi: Trong cuốn Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ viết rằng ông ta xin phép Tổng Thống đem xe tăng thiết giáp lên bộ tổng Tham Mưu để bắt các tướng và dẹp đảo chính. Nhưng Tổng Thống không cho. Ông có biết chuyện này không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang ở bên Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại dinh Gia Long. Chính tôi nghe điện thoại của ông Duệ và trình lên Tổng Thống.

Tổng Thống la tôi: Các anh muốn gì? Ở với tôi bấy lâu mà không hiểu ý tôi sao? Dân Nghệ An các anh chỉ thích làm loạn. Đem quân đội chống quân đội là cách bảo vệ tổ quốc hả?

Tôi thưa: Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng Thống. Chẳng lẽ để phải chết sao?

Ông quát lên: Chết thì đã sao.

Đúng, đối với ông chết thì đã sao. Nhưng đối với chúng ta thì cái chết của ông là cái chết dần của miền Nam. Ông còn nói quân đội là để bảo vệ tổ quốc chứ không phải để bảo vệ cá nhân Tổng Thống.

Ông bảo tôi liên lạc với ông Trương Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc Hội yêu cầu cho triệu tập Quốc Hội để ông ra từ chức trước Quốc Hội, hòng tránh cảnh đổ máu. Nhưng tôi gọi ông Lễ 4 lần không được.

Lúc ấy không phải chỉ có Lữ Đoàn xin lên tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính. Mà còn có cả một đại đội biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đi hành quân ở Tây Ninh vừa về đến Sài Gòn cũng báo cáo là lực lượng phòng vệ của các tướng đảo chính ở Tổng Tham Mưu rất yếu, đại đội biệt kích xin phối hợp với 2 tiểu đoàn của Lữ Đoàn Phòng Vệ phủ Tổng Thống để đột kích vào bắt hết các tướng đảo chính. Tướng Nguyễn Văn Phú, lúc ấy còn là Thiếu Tá đã tiếp xúc với tôi về việc này. Nhưng như vừa nói. Tổng Thống không chấp thuận.

Viên đại úy đại đội trưởng Biệt Kích đề nghị cho lực lượng của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống có xe bọc thép dẫn đầu tiến tới bao vây bộ Tổng Tham Mưu, còn đại đội của anh ta sẽ đột kích bọc hậu từ phía sân vận động vào bắt sống các tướng. Tôi rất buồn bực và lấy làm khó hiểu tại sao ông cụ lại không cho đánh. Ông Nhu ngồi cạnh đó cũng chẳng nói gì.

23. Hỏi: Theo ông trong số các tướng lãnh lúc ấy ai có khả năng nhất?

Đáp: Tôi hầu như không tiếp xúc với các tướng. Ngay cả Phó Tổng Thống cũng vậy. Hầu như chẳng bao giờ gặp. Nhưng tôi có nghe ông Nhu nói ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc ấy mang lon đại tá, là một tư lệnh (sư đoàn 5) giỏi nhất. Ông Nhu có nhận xét đó sau khi nghe ông Thiệu thuyết trình ở hội trường Suối Lồ Ồ.

Còn các tướng thì rất sợ Tổng Thống Diệm mỗi khi phải thuyết trình cho ông về tình hình an ninh. Bởi vì ông nắm vững tình hình và nhất là địa hình địa vật… địa lý của từng vùng. Kiến thức về quân sự của ông cũng rất uyên bác. Tôi được biết, khi mới về nước làm thủ tướng, ông đã yêu cầu tổng lãnh sự ở Hồng Kông mua cho ông tất cả tác phẩm của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Đức Hoài để đọc và bắt ông Nhu phân tích nghiên cứu trình lên.

24. Hỏi: Nghe nói ông bà Nhu có một biệt thự đẹp lắm ở Đà Lạt. Ông có tới đó bao giờ không?

Đáp: Ông nói đến cái biệt thự này, tôi lại nhớ tới cái ông luật sư Trương Phú Thứ ở Seattle . Ông ấy muốn tìm cách phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu mà không sao được. Chẳng rõ tại sao ông ta biết nhà tôi, tìm đến xin tôi giới thiệu với bà Nhu. Tôi biết đã từ lâu bà ấy ẩn dật không muốn báo chí nhắc tới. Nhưng tôi biết bà ấy hãy còn quyến luyến ngôi nhà hai phòng ngủ của một người Pháp, bỏ hoang đã lâu mà anh em chúng tôi hùn tiền mua cho ông bà ấy vào khoảng năm 1960, mà không đủ tiền sửa chữa, cho nên đến khi ông Nhu bị sát hại và bà Nhu sống lưu vong, cũng mới chỉ sửa được phần nửa.

Tôi bảo ông Thứ hãy về Việt Nam, lên Đà Lạt chụp ảnh ngôi nhà ấy rồi mang theo sang Pháp, tìm cách đưa tấm hình đó tận tay bà Nhu thì may ra bà ấy cho gặp. Thì quả thật chắc ông đã biết, ông Thứ đã viết một bài cho tờ Văn Nghệ Tiền Phong nói về bà Nhu ở tuổi gần bát tuần sống như một nhà tu ở Paris. Tôi mong ông Thứ có dịp phổ biến tấm hình này để độc giả thấy cái “ngôi biệt thự xinh đẹp” của ông bà Nhu.

25. Hỏi: Thống tướng Maxwell Taylor, Đại sứ Frederick Nolting và nữ ký giả Marguerite Higgins đều nói được Tổng Thống Diệm tiếp hơn kém khoảng 5 giờ đồng hồ. Ông có biết điều đó và có ý kiến gì không?

Đáp: Lúc ấy nhiều người nói tổng thống tiếp khách lâu quá. Tôi có trình ông, bảo người ta phê bình tổng thống độc thoại!

Ông cười. Ông bảo: Người Mỹ họ ít hiểu về dân tôc mình về lịch sử của nước mình. Mình phải lợi dụng lúc họ chịu nghe để nói cho họ hiểu chứ. Mấy người này đều chăm chú nghe tôi và đặt nhiều câu hỏi. tôi phải trả lời cho họ chứ.

26. Hỏi: Gần ngày đảo chính Tổng Thống có mời ông bà Đại Sứ Mỹ lên Đà Lạt nghỉ tại biệt điện của Tổng Thống và dự dạ tiệc thân mật. Ông có biết họ thảo luận về việc gì không?

Đáp: Tôi có biết và nhớ là Tổng Thống đề nghị chính phủ Mỹ thông cảm những khó khăn của miền Nam và đừng ép ông phải cải cách gấp rút. Ông cũng hứa sẽ xem xét những đề nghị của chính phủ Mỹ một cách nghiêm chỉnh. Nhưng cần phải có thời gian. Phía ông Lodge thì nằng nặc đòi Tổng Thống phải đưa ngay ông Nhu ra ngoại quốc. Nhưng dĩ nhiên không bao giờ Tổng Thống nhượng bộ điều này được.

27. Hỏi: Xin ông tha lỗi, ông là Phật tử chứ ạ? Và trong vụ Phật Giáo có ai nhờ ông làm trung gian để thương lượng giàn xếp giữa chính quyền và bên Phật Giáo đấu tranh không?

Đáp: Phải, tôi là Phật tử đã quy y… – Ông vào phòng lấy ra một cuộn giấy mở cho tôi thấy tờ PHÁI QUY Y rồi nói tiếp – Tôi quy y với thầy Thích Minh Châu. Khi vụ Phật Giáo xảy ra tôi có ra Huế gặp thầy Thích Trí Thủ để nhờ thầy can thiệp với Thượng Tọa Thích Trí Quang… nhưng Hòa Thượng Trí Thủ nói bây giờ các thầy trẻ học thức nhiều, họ có đường lối riêng, các sư già chúng tôi nói họ không nghe. Nên không kết quả. Nhiều người khác cũng can thiệp nhiều ngả khác, cũng không hơn gì. Hồi ấy còn cả một ủy ban của chính phủ gồm nhiều Phật tử đứng đầu là phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cố gắng dàn xếp. Nhưng bên Phật Giáo tranh đấu chỉ muốn lật đổ chính phủ thôi. Nên họ cố đưa ra những yêu sách không cách nào làm được. Tôi rất ân hận là không giúp gì được với tư cách là một Phật tử.

28. Hỏi: Theo ông thì ai cố ý giết hai ông?

Đáp: Theo tôi thì người ra lệnh trực tiếp là tướng Dương Văn Minh. Còn ông Minh có nhận lệnh ở trên nào không thì không biết. Sở dĩ tôi dám quả quyết ông Minh, là vì chính ông Minh sai cận vệ của ông ta là đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng đi với tướng Mai Hữu Xuân, để “thi hành nhiệm vụ”(!). Và Nhung đã leo lên xe bọc thép trong đó có hai anh em Tổng Thống. Nhung là một tay giết người không gớm tay, y còn khắc dấu vào cán dao găm mỗi lần giết được một người. Ngay tối mồng hai y còn khoe “con dao lịch sử” của y với con của tướng Đôn cơ mà. Đó là theo chính lời của tướng Đôn thuật lại trong “Việt Nam Nhân Chứng”. Còn tướng Xuân thì khi “đi đón ông cụ” về và ông cụ đã chết rồi, đã tới trước Dương Văn Minh giơ tay làm dấu, miệng nói: “Mission accomplie” (Nhiệm vụ hoàn thành). Cứ theo những lời trên của tướng Đôn, thì không nghi ngờ gì người chủ trương và ra lệnh giết hai ông là tướng Big Minh.

29. Hỏi: Thời gian quấy rầy ông đã quá dài. Nhất là trong lúc ông còn bịnh nhiều. Xin cám ơn ông đã mất công trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Và nếu có thể được xin ông cho một cảm tưởng chung về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu.

Đáp: Tôi cũng xin cám ơn ông đã tốn công đi từ xa đến để cho tôi được có dịp nói lên vài điều trong số những gì mình còn nhớ được về thời gian dài phục vụ Đất Nước bên cạnh hai nhân vật lịch sử mà tôi hằng kính mến. Cứ mỗi lần nhớ đến hai cụ, tôi đều ngậm ngùi xót xa. Nhất là đối với cụ Diệm. Ông quá ngay thẳng, quá quân tử, quá rộng lượng, lúc nào cũng nghĩ tới làm cho dân được ấm no hơn. Vậy mà người ta nỡ hãm hại ông. Không phải chỉ có những ngày giỗ hai ông tôi mới khóc.

Cụ Vỹ dằn cơn xúc động bắt tay tôi khi tôi từ biệt ra về…

Minh Võ, San Diego -Lính Dù post

Những chi tiết quan trọng bên trong tuyên bố chung Việt – Trung

Mặc Lâm, biên tập viên RFA.  2013-10-19

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/interview-p-c-d-about-vn-cn-joint-statement-ml-10192013104446.html

 maclam10192013.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
000_Del6255742-305.jpg

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng thảo luận tại Hà Nội ngày 13 tháng 10 năm 2013.

AFP PHOTO

Thủ tướng Lý Khắc Cường đến Việt Nam trong khi quốc tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chưa chấm dứt nhưng hai phía Việt-Trung cũng đạt được thỏa thuận về nhiều phương điện kinh tế và chính trị qua tuyến bố chung của hai nước. Mặc Lâm phỏng vấn TS kinh tế Phạm Chí Dũng để tìm hiểu thêm những chi tiết quan trọng bên trong bản tuyên bố chung này.

Xu hướng xem thường dư luận

Mặc Lâm: Trong một thời gan dài vì ngần ngại dư luận trong nước Việt Nam không công bố những ngôn từ như “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. (16 chữ vàng, 4 tốt)… tuy nhiên VN đã công khai lập lại nhóm từ này trong tuyên bố chung giữa hai thủ tướng VN và TQ vừa mới ký xong. Phải chăng đã đến thời điểm mà Hà Nội không còn xem dư luận là quan trọng nữa?

TS Phạm Chí Dũng: Tôi cũng có nhận xét như vậy. Tôi chú ý đến một điều là từ giữa hai năm 2011 đến gần giữa năm 2013 thì 16 chữ vàng và 4 tốt gần như mờ nhạt và biến mất trong khẩu ngữ quan hệ giữa hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc. Trước đó hàng loạt động tác gây hấn của Trung Quốc trong khu vực biển Đông đã gây bức xúc trong dân chúng Việt Nam và đã tạo ra 11 cuộc biểu tình vào giữa năm 2011. Trong suốt hai năm từ 2011 đến 2013 lãnh  đạo và giới quân sự Trung Quốc đã liên tục gây sức ép buộc Việt Nam phải nhân nhượng về một số vấn đề chủ quyền biển kể cả những vấn đề thuộc về chính trị. Trước sự gây hấn đó lãnh đạo Việt Nam đã làm gì?

Tôi cho là có một sự xem thường dư luận nhất định trong giới lãnh đạo Việt Nam và xu hướng xem thường dư luận này ngày càng rõ hơn.
-TS Phạm Chí Dũng

Tôi cho là có một sự xem thường dư luận nhất định trong giới lãnh đạo Việt Nam và xu hướng xem thường dư luận này ngày càng rõ hơn. Tại vì sau nhiều hành động gây ấn của Trung Quốc như là đưa hàng ngàn tàu cá, tàu hải giám xâm phạm vùng biển Trường Sa của Việt Nam, những hành động như bắn đuổi ngư dân Việt Nam, bắt và đâm hòng tàu cá của ngư dân kể cả phá hoại tàu khảo sát của Việt Nam rồi diễn ra 11 cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc tại Hà Nội… sau đó lãnh đạo Việt Nam xem như là không có vấn đề gì và thực tế cho tới nay vẫn xem như thế sau khi đã ra hai tuyên bố chung.

Giới lãnh đạo cũng bỏ qua kiến nghị của các cán bộ, đảng viên đặc biệt là những cán bộ lão thành cách mạng như là ông Nguyễn Trọng Vình. Ông Vĩnh là cựu thiếu tướng quân đội và cũng là cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc và là một  người rất có uy tín trong quân đội và trong giới ngoại giao. Việt Nam đã không những xem thường dư luận mà còn có xu hướng, chiều hướng càng ngày càng xem thường dư luận hơn.

Mặc Lâm: Trong tuyên bố chung hình như mọi cụm từ thuộc lĩnh vực nhà nước như: công an, an ninh, tình báo, quốc phòng, báo chí, tuyên giáo… đều thoải mái mang ra hết cho thấy VN đã mở hết gan ruột ra để hợp tác với TQ. Điều này có ý nghĩa thế nào?

TS Phạm Chí Dũng: Riêng cá nhân tôi thì tôi không cho rằng lãnh đạo Việt Nam dám mở hết gan ruột để đối tác với Trung Quốc lần này bởi hai lý do. Một là vẫn còn nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam e ngại tâm địa sâu xa thâm hiểm của Trung Quốc. Hai nữa dù có muốn mở hết gan ruột thì họ vẫn e ngại sự phản ứng của dư luận trong nước. Sự phản ứng này từ năm 2011 đến năm 2013 đã cho thấy không chỉ là 11 cuộc biểu tình tại Hà Nội và Sài Gòn mà còn rất nhiều trí thức và tướng lĩnh đã ký tên kiến nghị với lãnh đạo nhà nước cần hết sức thận trọng trong mối quan hệ với Trung Quốc.

000_Hkg9095445-250.jpg
Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (trái) cùng Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang tại Hà Nội ngày 14 Tháng 10 năm 2013. AFP PHOTO.

Ngoài ra nó còn có thâm ý như thế này: hiện nay dư luận nhắm vào chuyến đi của thủ tướng Lý Khắc Cường và cho là có thể tác động tích cực đến một nhóm lãnh đạo có xu hướng thân thiện với Trung Quốc và do đó có thể làm giảm sức ảnh hưởng của Mỹ và phương Tây đối với một nhóm lãnh đạo khác có thể thân thiện với Mỹ và phương Tây.

Những từ ngữ mà anh vừa đặt ra như công an, an ninh, quốc phòng, tuyên giáo…thật ra những từ ngữ này là quá trình đã diễn ra từ khoảng gần giữa năm tới nay. Chẳng hạn như chuyến đi của Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh đến Trung Quốc hợp tác với Ban Tuyên giáo Trung ương của Trung Quốc. Chuyến đi của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam hợp tác về quốc phòng với Bộ Quốc phòng Trung Quốc và một số hoạt động khác về hợp tác an ninh giữa ngành công an Việt Nam và công an Trung Quốc.

Thực ra vấn đề quốc phòng Việt – Trung vẫn chỉ hợp tác ở mức độ bình thường mà thôi và chưa có gì gọi là mở gan mở ruột ra vì họ vẫn đang thăm dò lẫn nhau. Có điều là Việt Nam và Trung Quốc đang thiên về hợp tác an ninh đối nội vì hiện nay bối cảnh của hai nước đang phải đối mặt với làn sóng dân chủ, nhân quyền và những phản ứng xã hội diện rộng và sâu đang dâng lên, do đó họ thấy cần phải xiết chặt an ninh và đỉnh cao là không khí an ninh đối nội.

Bất lợi kinh tế cho VN

Mặc Lâm: Là một TS kinh tế ông có đồng ý qua tuyên bố chung này VN và TQ có được thế lưỡng lợi trong những hợp đồng xuất nhập khẩu hay không?

Việc Việt Nam có thể hưởng lợi trong cái thế tương đương với Trung Quốc là điều không tưởng, ít nhất cho tới thời điểm hiện nay.
-TS Phạm Chí Dũng

TS Phạm Chí Dũng: Việc Việt Nam có thể hưởng lợi trong cái thế tương đương với Trung Quốc là điều không tưởng, ít nhất cho tới thời điểm hiện nay. Một điều đơn giản như thế này: chúng ta căn cứ vào tình hình nhập siêu thì mới 8 tháng đầu năm 2013 mà Việt Nam đã nhập siêu gần 15 tỷ đô la của Trung Quốc rồi, trong khi vào năm 2002 thì nhập siêu lúc đó chỉ 1 tỷ rưỡi đô la. Sau 10 năm giá trị nhập siêu tăng 10 lần điều đó cho thấy một sự bất cân xứng rất lớn trong quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Về mặt kinh tế, kim ngạch song phương càng tăng, nhập siêu càng lớn và càng bất lợi cho Việt Nam. Việc quan hệ song phương như thế này và nhập siêu với Trung Quốc không có lợi cho Việt Nam. Cộng với hiện trạng Trung Quốc đang lũng đoạn thị trường Việt Nam, hàng hóa tràn ngập kể cả hàng hóa độc hại chèn ép hàng hóa Việt Nam. Dư luận cũng đang nói tới điều hiểm ác của Trung Quốc đó là đã thông qua thương lái để phá hoại kinh tế của Việt Nam.

Mặc Lâm: Cũng trong lĩnh vực kinh tế nhưng liên quan rất sâu tới chinh trị, đó là sự nguy hiểm được gọi là hợp tác trên biển mà nhiều người đã cảnh báo. Tại sao Trung Quốc lại cần tới sự hợp tác này của Việt Nam khi họ đã có sẵn phương tiện, tiền bạc? Phải chăng Việt Nam đem chủ quyền của mình ra để hợp tác?

TS Phạm Chí Dũng: Trung Quốc muốn hợp tác với Việt Nam thì tất nhiên có một điều gì đó hơi phi lý, trừ khi họ có ý đồ chính trị. Sự có mặt ngày càng đông và rộng của người Trung Quốc trong việc hợp tác ở một số khu vực, một số dự án chắc chắn sẽ làm giảm hình ảnh chủ quyền của Việt Nam.

Theo tôi đối với lãnh đạo Việt Nam thì có lẽ chưa tới mức họ đem chủ quyền ra để mà hợp tác, nhưng cũng không loại trừ vấn đề này bời hiện nay các nguồn tài nguyên ở Việt Nam đã gần như cạn kiệt.

Tôi cũng muốn đề cập là nếu có hợp tác với Trung Quốc thì tất cả sự hợp tác không phải chỉ dựa trên sự chủ quan duy ý chí của một nhóm cá nhân, một nhóm quyền lực không đại diện cho toàn bộ dân chúng, mà toàn bộ sự hợp tác phải dựa trên cơ sở Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 vì đây là một văn bản pháp lý có tính công bằng nhất. Khi dựa vào công ước này thì Việt Nam sẽ có lợi thế tương đối so với Trung Quốc, còn nếu không thì VIệt Nam chắc chắn sẽ bị phụ thuộc vào Trung Quốc với các dự án khai thác dầu khí kể cả cảng quân sự và sau đó chắc chắn khó thoát khỏi sự ràng buộc lệ thuộc vào lãnh thổ kể cả dân tộc đối với Trung Quốc.

Mặc Lâm: Xin cám ơn TS Phạm Chí Dũng về cuộc phỏng vấn này.

Về chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường

BoxiteVietnam

http://www.boxitvn.net/bai/20482

Nguyễn Trọng Vĩnh

Đáp lễ chuyến thăm TQ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tháng 6 năm nay, Thủ tướng TQ Lý Khắc Cường thăm Việt Nam trong hai ngày 14, 15 tháng 10 năm 2013, ngay sau khi kết thúc quốc tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ông Thủ tướng TQ thật có tài dùng lời lẽ hoa mỹ nhằm thuyết phục và áp đặt đối với đối tác. Lại vẫn là “kiên trì tình hữu nghị theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt”. Nhưng có bao giờ phía TQ thực hiện đâu. Ngược với hữu nghị, lâu nay TQ liên tục hoành hành bá đạo ở biển Đông và từng bước xâm lấn chủ quyền của Việt Nam. Rồi ông lại nói “đưa quan hệ lên tầm cao chiến lược, trong anh có tôi, trong tôi có anh cùng phồn vinh”.

Có thật thế không? Hay thực tiễn chứng minh điều ngược lại:

– Viện trợ Việt Nam trong chống Mỹ, TQ từng muốn ta “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, miễn là có khu đệm làm phên dậu an toàn phía Nam cho TQ giống như Triều Tiên phía Đông Bắc.

– Trong hai cuộc kháng chiến của Việt Nam, những nhà lãnh đạo TQ đều “đi đêm” với các đối tác phương Tây hạn chế thắng lợi của ta, giữ ta trong tình trạng yếu kém để dễ bề khống chế.

– Tháng 2/1979, lãnh đạo TQ xua quân giết hại dân và tàn phá triệt để các tỉnh biên giới Việt Nam là cùng giúp “phồn vinh” ư?

– Từ hơn chục năm lại đây TQ xuất siêu sang ta mỗi năm hàng 10 tỷ đô la, tung hàng hóa giá rẻ tràn ngập thị trường Việt Nam bóp nghẹt hàng hóa của ta, cho thương lái vào, nào là mua vét chè nguyên liệu, đặt mua khoai lang tím rồi bỏ, đặt mua dừa non rồi bỏ cho khô héo, mua rễ hồ tiêu giá cao làm cho mất mùa, gây khốn khó cho đồng bào miền Nam. Gần đây mua vét tôm với giá cao làm cho các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam điêu đứng vì thiếu nguyên liệu. Đấy là những hành động mà ông Thủ tướng Lý nói là “giúp nhau để cùng phồn vinh” đấy ư?!

Thủ tướng Lý Khắc Cường đề xuất thành lập 3 nhóm công tác chung, trong đó có nhóm công tác tham vấn cùng khai thác trên biển, đồng thời đẩy nhanh nhóm công tác ngoài cửa vịnh Bắc bộ, hòng thực hiện chủ trương mà ông Đặng Tiểu Bình đã nêu ra trước đây “chủ quyền về ta, gác tranh chấp cùng khai thác” (nhưng Thủ tướng Lý tạm giấu đoạn “chủ quyền về ta”).

Lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam được công ước LHQ về luật biển 1982 xác nhận. Phía TQ chỉ bám lấy cái lưỡi bò do chính quyền Tưởng Giới Thạch tự vẽ trước đây, bao trùm 75% biển Đông, bất hợp pháp không được quốc tế thừa nhận mà to mồm tuyên bố chủ quyền. Thực tế thì TQ có gì đâu mà tranh chấp chỉ là do lòng tham bành trướng mà TQ muốn ăn cướp chủ quyền của năm nước Đông Nam Á cũng như đã đánh cướp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Đọc trong tuyên bố chung thì chỉ có câu “Hai bên đồng ý thành lập nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển…”. Nhưng báo chí TQ lại đăng tin như là Thủ tướng Lý Khắc Cường đã đạt được sự nhất trí của Việt Nam cùng khai thác trên biển, coi đó là bước đột phá thành công của Thủ tướng họ.

Ông Thủ tướng Lý cũng nhắc lại những điểm đã ghi trong bản tuyên bố chung do TQ khởi thảo trong chuyến thăm của Chủ tịch Trương Tấn Sang, chủ yếu lợi cho TQ.

Vài tuần gần đây, hai nhà lãnh đạo TQ phân nhau đi thăm nhiều nước ASEAN. Ngoài vấn đề tăng cường giao lưu kinh tế, còn có ý đồ tranh thủ họ trong vấn đề biển Đông nhằm cô lập Philippines và cả Việt Nam. Nhưng khi thăm Việt Nam thì ông Thủ tướng Lý lại khôn khéo biểu thị coi trọng đối tác, lời lẽ “rất hữu nghị thân thiện, trong anh có tôi, trong tôi có anh, giúp nhau cùng phát triển cùng phồn vinh”.

Có phải TQ thật lòng như vậy không?

Theo hiểu biết của tôi trước kia cũng như tôi thể hội được trong 13 năm làm Đại sứ ở Bắc Kinh: Những nhà cầm quyền TQ thường nói một đường làm một nẻo. Bành trướng bá quyền là bản chất của họ. Họ đã và đương thực hiện bành trướng “cứng” và bành trướng “mềm” ở châu Á và châu Phi. Nhưng họ luôn mồm tuyên bố là “không xưng bá”. Trên thực tế họ ra sức phát triển lực lượng vũ trang to lớn, hùng mạnh nhằm bá chủ châu Á và tham vọng vượt qua Mỹ tiến lên bá chủ toàn cầu. Từ thực tiễn người ta đã rút ra câu kết luận: “Chớ vội tin lời người lãnh đạo TQ nói, hãy xem việc họ làm”.

Tuyên bố chung VN-TQ thời kỳ mới

ĐànChimViet Online

http://www.danchimviet.info/archives/80576/tuyen-bo-chung-vn-tq-thoi-ky-moi/2013/10

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường gặp gỡ báo chí sau hội đàm. Ảnh: TTXVN

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường gặp gỡ báo chí sau hội đàm. Ảnh: TTXVN

Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam từ 13-15/10 của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, hai bên đã ra tuyên bố chung.

Trong thời gian chuyến thăm, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; hội kiến với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Hai bên đã nhìn lại và đánh giá cao sự phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, khẳng định sẽ tuân theo những nhận thức chung quan trọng mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc theo phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.”

Hai bên nhất trí cho rằng trong tình hình kinh tế, chính trị quốc tế diễn biến phức tạp hiện nay, việc hai bên tăng cường trao đổi chiến lược, làm sâu sắc thêm hợp tác thực chất, xử lý thỏa đáng các vấn đề còn tồn tại, tăng cường điều phối và phối hợp trong các vấn đề quốc tế và khu vực, thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài phù hợp lợi ích căn bản của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực cũng như thế giới.

Hai bên cho rằng, Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng và đối tác quan trọng của nhau, đều đang ở trong thời kỳ then chốt của công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xuất phát từ nhu cầu và lợi ích chung của hai nước, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, hai bên nhất trí làm sâu sắc thêm hợp tác chiến lược toàn diện với trọng tâm là các lĩnh vực dưới đây:

a. Về hợp tác trên bộ

(i) Hai bên nhất trí nhanh chóng thực hiện “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Việt-Trung giai đoạn 2012-2016” và Danh mục các dự án hợp tác trọng điểm; thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng giữa hai nước để quy hoạch và chỉ đạo thực hiện các dự án cụ thể; sớm đạt nhất trí về phương án thực hiện và huy động vốn đối với dự án đường bộ cao tốc Lạng Sơn-Hà Nội nhằm sớm khởi công xây dựng. Hai bên sẽ tích cực thúc đẩy dự án đường bộ cao tốc Móng Cái-Hạ Long, phía Trung Quốc ủng hộ các doanh nghiệp có thực lực của Trung Quốc tham gia dự án này theo nguyên tắc thị trường, đồng thời sẵn sàng hỗ trợ về huy động vốn trong khả năng. Các bộ, ngành hữu quan hai nước đẩy nhanh công tác, sớm khởi động nghiên cứu khả thi dự án đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng. Hai bên nhất trí thực hiện tốt “Bản ghi nhớ về việc xây dựng các khu hợp tác kinh tế qua biên giới”, tích cực nghiên cứu đàm phán ký kết “Hiệp định thương mại biên giới Việt-Trung” (sửa đổi) nhằm phát huy vai trò tích cực thúc đẩy hợp tác và phồn vinh ở khu vực biên giới hai nước.

(ii) Hai bên đồng ý tăng cường điều phối chính sách kinh tế thương mại, thực hiện tốt “Bản ghi nhớ hợp tác song phương trong lĩnh vực thương mại hàng nông sản” và “Hiệp định về việc mở Cơ quan xúc tiến Thương mại nước này tại nước kia,” để thúc đẩy cân bằng thương mại song phương trên cơ sở bảo đảm thương mại tăng trưởng ổn định, phấn đấu hoàn thành trước thời hạn mục tiêu đến năm 2015 kim ngạch thương mại hai chiều đạt 60 tỷ USD. Phía Trung Quốc khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng nhập khẩu hàng hóa có tính cạnh tranh của Việt Nam, ủng hộ doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam đầu tư kinh doanh, đồng thời sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp Việt Nam sang Trung Quốc mở rộng thị trường. Phía Việt Nam sẽ tạo thuận lợi, hỗ trợ sớm hoàn thành Khu công nghiệp Long Giang và Khu công nghiệp An Dương. Hai bên sẽ đẩy nhanh thi công, thúc đẩy sớm hoàn thành dự án Cung Hữu nghị Việt-Trung.

(iii) Hai bên nhất trí làm sâu sắc thêm giao lưu hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch, y tế…

(iv) Hai bên nhất trí tiếp tục phát huy vai trò của Ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền giữa hai nước, thực hiện nghiêm túc Kế hoạch công tác hàng năm; tiến hành Hội nghị lần thứ nhất Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu giữa hai nước, thúc đẩy công tác mở cửa, nâng cấp một số cặp cửa khẩu biên giới trên bộ, sớm chính thức mở cặp cửa khẩu quốc gia Hoành Mô-Động Trung; thúc đẩy đàm phán về “Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên du lịch khu vực thác Bản Giốc” sớm đạt được tiến triển thực chất, sớm khởi động vòng đàm phán mới và đạt nhất trí về “Hiệp định tàu thuyền tự do đi lại tại khu vực cửa sông Bắc Luân”, sớm hoàn thành xây dựng các cầu qua biên giới như cầu đường bộ Bắc Luân 2, cầu đường bộ 2 Tà Lùng-Thủy Khẩu, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển của khu vực biên giới hai nước.

Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa hợp tác giữa các địa phương, nhất là giữa các tỉnh, khu tự trị biên giới hai nước; phát huy vai trò của cơ chế hợp tác liên quan giữa địa phương hai nước.

b. Về hợp tác tiền tệ

Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài chính, tích cực tạo điều kiện và khuyến khích các tổ chức tài chính hai bên hỗ trợ dịch vụ tài chính cho các dự án hợp tác song phương về thương mại và đầu tư. Trên cơ sở Hiệp định thanh toán bằng đồng bản tệ song phương trong thương mại biên giới ký giữa ngân hàng trung ương hai nước năm 2003, tiếp tục nghiên cứu việc mở rộng phạm vi thanh toán bằng đồng bản tệ, thúc đẩy trao đổi thương mại và đầu tư hai bên. Hai bên quyết định thành lập Nhóm công tác về hợp tác tiền tệ giữa hai nước, để nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro tài chính tiền tệ của hai bên, duy trì ổn định và phát triển kinh tế hai nước và khu vực. Tăng cường điều phối và phối hợp đa phương, cùng nhau thúc đẩy hợp tác tài chính tiền tệ khu vực Đông Á.

c. Về hợp tác trên biển

Hai bên nhất trí tuân thủ nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc,” sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. Theo tinh thần đó, hai bên đồng ý thành lập Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển trong khuôn khổ Đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc.

Hai bên nhất trí tăng cường chỉ đạo đối với các cơ chế đàm phán và tham vấn hiện có, gia tăng cường độ làm việc của Nhóm công tác vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và Nhóm công tác cấp chuyên viên về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển. Trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần tự tiệm tiến, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này và trong năm nay khởi động khảo sát chung ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ để thực hiện nhiệm vụ đàm phán của Nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Nhanh chóng thực hiện các Dự án hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển như Hợp tác nghiên cứu quản lý môi trường biển và hải đảo vùng Vịnh Bắc Bộ, Nghiên cứu so sánh trầm tích thời kỳ Holocenne khu vực châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Trường Giang…, tiếp tục thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm cứu nạn trên biển, phòng chống thiên tai và kết nối giao thông trên biển.

Hai bên nhất trí kiểm soát tốt những bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát tranh chấp trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển giữa Bộ Nông nghiệp hai nước, xử lý kịp thời, thỏa đáng các vấn đề nảy sinh, đồng thời tiếp tục tích cực trao đổi và tìm kiếm các biện pháp có hiệu quả để kiểm soát tranh chấp, duy trì đại cục quan hệ Việt-Trung và hòa bình, ổn định trên Biển Đông.

Hai bên nhất trí tổ chức tốt các hoạt động như Liên hoan Thanh niên Việt-Trung lần thứ hai, Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt-Trung, Liên hoan Nhân dân Việt-Trung…, nhằm bồi dưỡng ngày càng nhiều thế hệ tiếp nối sự nghiệp hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc. Hai bên nhất trí thành lập Viện Khổng Tử tại Việt Nam và đẩy nhanh việc thành lập Trung tâm văn hóa của nước này ở nước kia, thiết thực tăng cường tuyên truyền về quan hệ hữu nghị Việt-Trung, làm sâu sắc sự hiểu biết và hữu nghị giữa người dân hai nước.

Phía Việt Nam khẳng định kiên trì thực hiện chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào với Đài Loan. Phía Trung Quốc hoan nghênh lập trường trên của Việt Nam.

Theo TTXVN

  1. Tuyên Bố của các tổ chức quần chúng Việt Nam
  2. Blogger Việt Nam ra tuyên bố chung
  3. Tuyên bố chung hai nước Việt Nam và Trung Quốc
  4. ASEAN đạt được Tuyên bố chung về vấn đề biển Đông
  5. Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc
  6. Chung quanh lời tuyên bố của ông Nguyễn Chí Vịnh

Luật sư Lê Quốc Quân đã kháng cáo

LS Lê Quốc Quân tại phiên sơ thẩm 2/10LS Lê Quốc Quân tại phiên sơ thẩm 2/10

Gia đình luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân, người bị tù 30 tháng vì tội Trốn thuế, nói ông đã nộp đơn kháng cáo.

Ông Quân bị xử tội Trốn thuế theo Điều 161 Bộ Luật Hình sự trong phiên sơ thẩm hôm 2/10 tại Hà Nội.

Em trai ông, Lê Quốc Quyết, nói với BBC rằng từ trại giam, luật sư Quân đã gửi đơn kháng cáo bản án sơ thẩm từ ngày 8/10, đúng trong thời hạn 15 ngày theo luật định.

“Gia đình đã liên lạc với tòa, thì tòa nói chưa nhận được, chắc là do chậm chạp trên đường bưu điện,” ông Quyết cho biết.

Ông cũng nói sau phiên sơ thẩm gia đình đã được gặp ông Quân trong 30 phút.

“Nhìn nhau qua lớp kính vàng ố, cũng không rõ lắm, nhưng thấy anh gầy đi rất nhiều.”

“Tuy nhiên anh Quân nói rằng anh khỏe do tập thể dục thường xuyên.”

Gia đình ông Lê Quốc Quân sau phiên xử 2/10 đã nói họ “cực lực phản đối bản án bất công”. Một số tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài cũng đã lên tiếng phản đối phán quyết của Tòa Hà Nội.

Ông Quân, một nhà đấu tranh dân chủ và cũng là tín đồ Công giáo, bị bắt từ tháng 12 năm ngoái.

Tuyệt thực phản đối

Trong khi đó, tin cho hay tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ lại vừa bắt đầu tuyệt thực trong tù.

Ngày 16/10, vợ ông Vũ – luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, gửi đơn tố cáo về “Hành vi vi phạm pháp luật của Giám thị Trại giam số 5 (Bộ Công an) đối với TS Cù Huy Hà Vũ”.

Trong đơn tố cáo, bà Hà cáo buộc ông Lường Văn Tuyến, Giám thị Trại giam số 5, “đã tước đoạt quyền sở hữu hợp pháp các tác phẩm hội họa của chồng tôi cho tặng tôi từ ngày 15/9/2013, gồm 04 bức tranh sơn dầu khổ 60cm x 80cm và 45 bức ký họa khổ 40cm x 55cm”.

“Cũng chính vì hành vi vi phạm pháp luật này của ông Lường Văn Tuyến dẫn đến chồng tôi, ông Cù Huy Hà Vũ không còn con đường nào khác để đòi các quyền, lợi ích hợp pháp của mình đã bằng cách phải tuyệt thực bắt đầu từ trưa ngày 15/10/2013 cho đến khi nào ông Giám thị Lường Văn Tuyến trao trả lại toàn bộ các tác phẩm hội họa của ông Vũ cho gia đình.”

Ông Vũ là một họa sỹ tài hoa, đã có nhiều bức ký họa được nhiều người biết đến.

Hồi tháng Sáu, ông Cù Huy Hà Vũ cũng đã có một đợt tuyệt thực để phản đối hành xử của giám thị trại giam.

Đợt tuyệt thực đó kéo dài tới 25 ngày, cho tới 21/6 khi Giám thị Trại giam có văn bản phản hồi đơn tố cáo của ông.

Sau đó cũng qua vợ mình, tiến sỹ Hà Vũ đã có thư gọi đây là “thắng lợi của Công lý, là thắng lợi bước đầu của việc đấu tranh của tôi và của toàn thể người Việt Nam trong và ngoài nước…”.

Tuy nhiên một số kênh của chính quyền thì đăng tải thông tin nói ông Vũ đã ‘không tuyệt thực’.

Ông Cù Huy Hà Vũ bị bắt hồi cuối năm 2010 và hiện đang thi hành án tù 7 năm vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự.

Ông là con trai nhà thơ Cù Huy Cận.

Tín dụng đen VN ‘là do ngân hàng yếu’

Tín dụng đenÝ kiến chuyên gia nói VN cần soạn luật kiểm soát cho vay nặng lãi

‘Tín dụng đen’ phát triển chiếm tới 30% so với tín dụng chính thức, trách nhiệm nằm ở cung cách điều hành, quản lý Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, theo nhận định của chuyên gia trong nước.

Hôm 18/10/2013, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành nói với BBC mặc dù chưa rõ cơ sở chắc chắn của quy mô tín dụng đen ở Việt Nam được cho là lên tới 50 tỷ USD, theo truyền thông trong nước, xu hướng phát triển của tín dụng đen đã được nhận biết từ lâu.

Ông Thành cũng nhận xét không chỉ tín dụng đen mà nhiều ngân hàng ở Việt Nam cũng đang tiến hành cho vay theo cung cách của ‘tín dụng đen’ khi sử dụng tới hai tỷ lệ lãi suất khác nhau cho cùng một khoản vay là ‘công khai’ và ‘dưới gầm bàn’ hoặc ‘lót tay’ tham nhũng.

Nhân dịp này, ông Bùi Kiến Thành lên tiếng cảnh báo một lần nữa về yếu kém trong vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý lãi suất cho vay ở hệ thống các ngân hàng thương mại và việc lỏng lẻo trong hệ thống luật quản lý trần lãi suất cho vay để kiểm soát lãi suất và hoạt động cho vay bất hợp lý tới mức phá hoại nền kinh tế.

Trước hết về giải pháp quản lý cho vay nặng lãi, ông Bùi Kiến Thành đặt vấn đề cần soạn thảo thêm luật nhằm hạn chế mức tối đa của nạn cho vay nặng lãi.

“Có thể với các nước khác trên thế giới, người ta có một đạo luật gọi là cho vay nặng lãi, thí dụ như bên Pháp, hay các tiểu bang của Mỹ đều có luật về cho vay nặng lãi,

“Để làm sao tới mức nào đó thì người ta có thể chịu đựng được, qua mức nào đấy thành mức sát hại người ta rồi.”

Tuy nhiên theo chuyên gia tài chính này, một vấn đề tiếp theo là có luật rồi thì việc tôn trọng luật và khả năng áp dụng ra sao lại là một vấn đề khác.

Hôm 15/10, chuyên mục kinh tế trên trang mạng VTC News của Việt Nam cho rằng tỷ lệ tín dụng đen hay tín dụng phi chính thức trên thị trường cho vay trong nước đang ở mức độ ‘quá lớn’.

VTC News trích dẫn số liệu mà một hội thảo về cải cách thị trường tài chính ở Việt Nam nói:

“Theo ước tính, cho vay ngoài hệ thống hay còn gọi là “tín dụng đen” hiện đang bằng khoảng 30% tổng tín dụng thực do hệ thống ngân hàng cung cấp…

“Đôi khi người ta cần những món tiền nhỏ thôi, thí dụ như khoảng 1-2 triệu đồng, thì người ta không thể tới ngân hàng để làm thủ tục vay được, cho nên người ta cần tới các dịch vụ tín dụng ngoài ngân hàng”

Nhà tư vấn tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ

“So với tín dụng chính thức, quy mô tín dụng đen ở Việt Nam rơi vào con số khoảng 50 tỷ USD, là một con số quá lớn.”

Tờ này dẫn ý kiến của Tiến sỹ Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định đây là một mức độ có thể gây ‘tác động tiêu cực đến kinh tế – xã hội.”

‘Khi nào chấm dứt?’

Trao đổi với BBC từ An Giang, một nhà tư vấn tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, ông Đinh Xuân Hòa, cựu thành viên Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Kinh tế ứng dụng, thuộc Đại học Tôn Đức Thắng, phân tích từ góc độ vi mô nguyên nhân của hiện tượng tín dụng đen.

Ông nói: “Vì sao tín dụng đen phát triển thứ nhất là vì thủ tục cho vay tại ngân hàng của Việt Nam quá phức tạp đối với người dân, không phải ai cũng biết hết về các thủ tục để hoàn thành.

“Thứ hai, nhiều khi người ta cần tiền gấp, đối với ngân hàng, người ta cần một khoảng thời gian chờ đợi để chờ đợi giải ngân,

“Thứ ba, đó là thói quen của người dân, đôi khi người ta cần những món tiền nhỏ thôi, thí dụ như khoảng 1-2 triệu đồng, thì người ta không thể tới ngân hàng để làm thủ tục vay được, cho nên người ta cần tới các dịch vụ tín dụng ngoài ngân hàng như tiệm cầm đồ, hoặc là tín dụng đen, hay là chơi họ hụi.”

Theo ông Hòa, để kiểm soát tốt hơn các nguy cơ của nạn tín dụng đen, các nhà quản lý cần có các biện pháp cải thiện dịch vụ cho vay của ngân hàng, hợp lý hóa chi phí vận hành, tinh giản, gọn nhẹ, đồng thời nâng cao năng lực của cán bộ tín dụng và nỗ lực làm cho dịch vụ và các sản phẩm ngân hàng thân thiện hơn với người dân.

“Bây giờ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, nó như một tiệm cầm đồ, mà thực sự có nhiều ngân hàng hoạt động như một tín dụng đen”

Chuyên gia Bùi Kiến Thành

Đồng thời theo ý kiến quan sát này, chính quyền cần có các nỗ lực nhằm “rà soát, kiểm soát chặt chẽ và liên tục hơn” các hoạt động, dịch vụ và đối tượng cho vay nặng lãi nhằm ngăn ngừa những hành vi “vi phạm pháp luật”, “xã hội đen” và nạn “bạo hành đòi nợ” trên thị trường.

Hôm thứ Ba, tờ báo mạng VTC News nêu ý kiến của TS Nguyễn Đức Thành thuộc Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội về giải pháp với nạn tín dụng đen.

“Để hạn chế quy mô thị trường tín dụng đen, ngân hàng phải rút ngắn chi phí, tăng hiệu quả trong hoạt động cho vay và bộ phận giám sát rủi ro cảu ngân hàng phải hoạt động tích cực,” TS Thành được trích dẫn nói.

Còn chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định với BBC về điều kiện khi nào nạn tín dụng đen có thể chấm dứt.

Ông nói: “Nó sẽ kéo dài tới khi nào hệ thống ngân hàng tín dụng chính thức hoạt động tốt hơn và người dân có thể tiếp cận tín dụng qua ngân hàng hay qua các quỹ tiết kiệm nhân dân hợp lý hơn với lãi suất chấp nhận được,

“Trước hết, phải làm sạch hệ thống ngân hàng Việt Nam trước, làm sao quản lý vấn đề áp dụng luật pháp tốt, tới khi hệ thống ngân hàng phát triển tốt lên rồi, mọi người sẽ thấy không cần phải đi đến tín dụng đen nữa, thì lúc đó, nó sẽ tự động biến dần dần đi.”

Nhân dịp này, ông Bùi Kiến Thành cũng lên tiếng về bất hợp lý hoạt động cho vay ở chính hệ thống ngân hàng thương mại và tín dụng trong nước.

Ông nói: “Bây giờ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, nó như một tiệm cầm đồ, mà thực sự có nhiều ngân hàng hoạt động như một tín dụng đen,

“Tại vì lãi suất chính thức trên hợp đồng khác, mà lãi suất ở dưới bàn nó lại khác, lại còn có phong bao, phong bì cho cán bộ ngân hàng người ta phê duyệt, cái đó khác.

Theo chuyên gia tài chính này, cộng lại các khoản chi phí thực tế, lãi suất đi vay ngân hàng năm vừa qua lại tổng cộng “cũng lên tới hơn ba chục phần trăm.”

VN liên tục diễn tập chống bạo loạn

Diễn tập chống bạo loạn ở Đăk Nông (ảnh của VietnamNet)

Trong ba ngày 15/10-17/10 giới chức liên ngành tổ chức hai cuộc diễn tập quy mô lớn chống bạo loạn, khủng bố ở Nghệ An và Đăk Nông.

Báo trong nước cho hay buổi Diễn tập khu vực phòng thủ năm 2013 diễn ra tại Đăk Nông ngày 15/10.

Trung tướng Nguyễn Trung Thu, Phó tổng Tham mưu trưởng quân đội Việt Nam, chỉ đạo cuộc diễn tập trong khi tổng đạo diễn là Trung tướng Lê Chiêm, Tư lệnh Quân khu 5.

Một trong những điểm chính của cuộc diễn tập lần này là xử lý bạo loạn.

Kịch bản được nói là “lợi dụng tình hình an ninh chính trị của tỉnh X diễn biến phức tạp, các phần tử phản động trong nước đã kích động hàng trăm thanh niên quá khích, mang theo băng rôn, khẩu hiệu, mã tấu, gậy gộc, gạch đá… kéo về trung tâm tỉnh gây bạo loạn”.

Trong các bức hình đăng trên truyền thông trong nước, đám đông ‘gây rối’ có mang cờ đỏ sao vàng và băng rôn đòi trả tiền đền bù đất đai thỏa đáng.

Hàng trăm binh lính và cảnh sát đã được huy động để tham gia cuộc diễn tập, có sử dụng trang thiết bị, vũ khí hiện đại và chó nghiệp vụ. Quân đội đã điều cả xe thiết giáp vào để dập tắt bạo động.

Để giải tán đám đông, lực lượng an ninh đã dùng các phương tiện như quả nổ và vòi rồng.

Cuộc diễn tập được nói đã kết thúc thành công, với “hàng chục đối tượng sừng sỏ bị lực lượng chức năng phân loại bắt giữ, tình hình an ninh chính trị cơ bản được giữ vững”.

Địa bàn phức tạp

Hai ngày sau đó, một cuộc diễn tập khác cũng quy mô không kém được tổ chức tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Tại đây hồi đầu tháng Chín đã xảy ra đụng độ giữa hàng trăm tín đồ Công giáo và công an ở Giáo xứ Mỹ Yên, huyện Nghi Lộc.

Cuộc diễn tập “Giải quyết tập trung đông người phá rối an ninh trật tự, bạo loạn; xử lý chất độc hóa học” ở Nghệ An hôm 17/10 do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và tỉnh Nghệ An phối hợp tổ chức.

Hai nội dung chính của cuộc diễn tập này là giải quyết tập trung đông người, bạo loạn, và bắt khủng bố, giải cứu con tin.

Cuộc diễn tập huy động cả trực thăng chở lực lượng đặc nhiệm tới hiện trường.

Được biết, cuộc diễn tập chống bạo loạn hôm 17/10 có sự tham gia chỉ đạo của Trung tướng Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Công an.

Ông Tô Lâm đã thăm và làm việc với công an Nghệ An trong hai ngày 4/9 và 5/9, trong đó ông khuyến cáo rằng trong thời gian tới sẽ “có nhiều diễn biến phức tạp, vì vậy Công an tỉnh Nghệ An cần chủ động làm tốt hơn nữa công tác nắm tình hình… để chủ động tham mưu có hiệu quả cho cấp uỷ, chính quyền giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp về an ninh trật tự, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ”.

Học làm thuyết khách

Nguyễn Ngọc Già, gửi RFA từ VN.  2013-10-17

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/nguyen-ngoc-gia-blog-1017-10172013131328.html

000_Hkg4475415-305.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong một cuộc họp báo trước đây.

AFP

Chuyện năm ngoái

Ông Nguyễn Hữu Vinh, chủ trang basam.info đã viết [1] cách đây hơn một năm: “Mấy tháng trước, trong cuộc chuyện trò, thằng bạn đang là lãnh đạo một cơ quan pháp luật, cũng diện con ông cháu cha, bảo: “Chế độ này mà đổ thì tao với mày nó thịt đầu tiên!” Hắn cười: “Thì tao đang làm cái việc để cho nó không ‘đổ’, mà sẽ dần dần thay đổi, phát triển tốt đẹp hơn.”

Dù “hắn” nói đùa hay an ủi “thằng bạn” trong phút chốc thì thực tế khó chối cãi: Từ 2012 đến nay không hề có bất kỳ dấu hiệu gì “dần dần thay đổi”, hay “phát triển tốt đẹp hơn”, thay vào đó, chỉ thấy nền kinh tế tan tành đến tang thương cùng “nạn bà hỏa”, lật xe chết người [2], nổ “kho thuốc pháo hoa”, trộm cướp đổ về Tp.HCM như trẩy hội [3] v.v… cho đến thiên tai dồn dập với 11 trận bão ngạo nghễ trêu ngươi trước sự bất lực kèm thói vô trách nhiệm của giới cầm quyền trong việc cứu dân, thông qua vài hình ảnh mới nhất cho thấy hơn 14.000 ngôi nhà hư hỏng cùng số người chết, mất tích, bị thương chưa biết là bao nhiêu! [4], còn “quan cộng sản” tại Tam Kỳ – Quảng Nam vô tư ngồi nhậu hơn 4 tiếng đồng hồ. [4A]

Suy tư của “thằng bạn” như Nguyễn Hữu Vinh mô tả cũng là nỗi lo lớn lao của giới cầm quyền hiện nay. Tất nhiên, rất khó để thuyết phục người cộng sản hãy tin vào một tương lai nhân hòa, nhân ái hơn so với hiện trạng xã hội đang u ám tột cùng. Bởi họ, đôi khi còn không tin vào chính bản thân thì làm sao tin người khác.

Chỉ tiếc, chính nỗi lo ngại đó lại góp phần rất lớn đẩy người cộng sản “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” trên “con đường bạo lực”. Họ càng sợ thì càng đàn áp, như đánh đập những người dân oan thuộc dân tộc Mông từ các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Cạn và Thái Nguyên mới đây vào ngày 15/10/2013, tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội[5].

Càng đàn áp thì dân càng oán hận. Dân càng oán hận thì tội ác do họ gây ra càng tiếp tục chồng chất. Cứ vậy, xã hội rơi vào vòng xoáy bế tắc, mỗi ngày một sâu thăm thẳm! Nếu thử đặt câu hỏi cho “thằng bạn” Nguyễn Hữu Vinh: Dựa vào căn cứ nào để sợ bị “thịt”? Có thể trả lời (có phần né tránh và dễ… nghe) như thế này không?: “Thì tao nghĩ thế!”. “Nghĩ thế” là bởi chính trong thâm tâm người cộng sản thừa biết, họ trượt dài trên con đường chống lại nhân dân như ngạn ngữ “phóng lao thì phải theo lao”. Do đó, họ không tránh khỏi tâm trạng hoang mang.

Làm thuyết khách đâu có dễ!

000_Hkg8442476-250.jpg
Anh Đoàn Văn Vươn tại phiên xử ở Tòa án Hải Phòng hôm 2 tháng 4 năm 2013. AFP PHOTO.

Tôi nhớ lại câu chuyện gia đình Đoàn Văn Vươn. Sau khi những phát súng bông cải tung tóe trên các mặt báo với nhiều bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Vinh cùng rất nhiều nhà báo khác, tạo một chấn động dư luận khủng khiếp lúc bấy giờ, khiến cả “chính phủ” phải quýnh quáng.

Sau rất nhiều bài báo, một hôm, nhà văn Nguyễn Quang Vinh, với điệp từ “chắc chắn” nhắc đi nhắc lại nhiều lần, đã bày tỏ tin tưởng [6]: “Vụ Tiên Lãng” mang quyền lợi lại cho hàng triệu hộ nông dân”. Tôi đã đùa với nhà văn này khi so sánh lòng tin của ông như tin vào giá xăng qua bài [7]: Xăng tăng giá & lòng tin của nhà văn Nguyễn Quang Vinh.

Thực tế với kết quả ê chề “dành cho” gia đình Đoàn Văn Vươn có lẽ không còn gì để nói nữa, cùng với sự khiêu khích thông qua chức “thiếu tướng” mà Đỗ Hữu Ca hỉ hả đón mừng, nó như gáo nước sôi tạt thẳng vào mặt những ai tin “chắc chắn” như Nguyễn Quang Vinh đã… tin và đã “thuyết” (!).

Làm thuyết khách đâu có dễ!

Chuyện năm nay

Lại nói về chuyện ông Nguyễn Quang A hô hoán bà Bùi Thị Minh Hằng “kích động bạo lực”. Sau bài viết “phổi bò” của mình, tôi suy nghĩ thật nhiều xen lẫn thắc mắc:

Tại sao ông Nguyễn Quang A lại “bỏ công bỏ sức” viết một bài không xứng (và cũng không cần thiết) với “tầm” suy nghĩ của một người ít nhiều tên tuổi và uy tín lâu nay? Có uẩn khúc gì phía sau câu chuyện không đáng này? Hay cũng là cái nỗi lo sợ như “thằng bạn” của ông Nguyễn Hữu Vinh, đến nỗi một lời uất ức bộc phát của bà Hằng cũng làm “họ” nhảy nhổm, để từ đó nhờ cậy “khuyên nhủ” “lẫn nhau”? Người cộng sản vì chủ quan, đặc biệt tính khinh thị, nên thường “đi từ sai lầm này đến sai lầm khác”.

Khi vô cớ, vô pháp bỏ tù bà Hằng 5 tháng ròng qua cái “trại phục hồi nhân phẩm”, có thể họ (dốt đến mức) tưởng rằng: “cho mày ăn cơm tù vài tháng là…tởn?!” Hãy ngẫm sự quyết liệt của bà Hằng do ai gây ra [8]: “Tôi sẽ kiện cho đến ngày hoặc là TÔI hai là Nguyễn Thế Thảo không còn có mặt trên cõi đời này nữa”.

Hy vọng, “lời đá vàng” của bà Hằng, không bị ông Nguyễn Quang A “đổ thừa” là tại Nguyễn Ngọc Già…”xúi”?! Oan cho tôi lắm nhé! Tôi thề (lời thề không phải là người cộng sản): Tôi chưa bao giờ tiếp xúc với bà Hằng và ngược lại.

Có thể nói, bà Bùi Thị Minh Hằng tựa như “nhiệt kế” đo “độ nóng” tầng lớp dân oan. Lý ra, thay vì thật tâm khuyên nhủ, an ủi bà Hằng, ông A lại “chơi” “một bài vừa té tát vừa trịch thượng, khiến “không khí” càng nóng hơn? Biết đâu, đó là “sự cố” ngoài ý muốn “ai đó”, khi “nhờ” ông A “giúp giùm”, sao cho bà Hằng bớt phẫn nộ đi chút ít? Ai có ngờ… “ép phê” ngược, nhất là sau bài của ông A, ông Lã Việt Dũng bồi thêm một bài coi bà Hằng như phường “thảo khấu”. Hai trong một (kế hoạch) hay “song tiễn hạ nhất điêu”? Vừa phải thôi, các “cha”! Dân không ngu tới mức đó đâu! Tôi nói rồi!

Làm thuyết khách đâu có dễ!

Lần này “tầm thuyết khách” dường như ở mức độ cao hơn, sâu hơn, khéo léo hơn? Với văn phong lả lướt thường sử dụng, ông Phạm Chí Dũng có bài “Trao đổi với ông Võ Văn Ái [9]: Cải cách giả vờ hay buộc phải cải cách?”, sau khi ông Ái kêu gọi “Quốc tế nên cảnh giác trước những cải cách giả vờ của Việt Nam”.

Bài viết gọi là “trao đổi”, nghĩa là dựa trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, tuy nhiên ông Dũng lại phạm lỗi cơ bản khi dùng những chữ: “vinh danh” (do báo CAND), “lưu vong” để “trao đổi” với ông Võ Văn Ái (!). Đó là bài học gọi tên “chưa sạch nước cản” mà một thuyết khách chuyên nghiệp nên học. Có lẽ Phạm Chí Dũng chưa đọc bài viết của ông Trần Trung Đạo có tên “Bàn về tẩy não” [9A] để ngẫm?
“Nhà thuyết khách” Phạm Chí Dũng dẫn hàng loạt sự kiện mà…ai cũng biết để “uốn ba tấc lưỡi”:

Với những sang chấn quá đặc biệt đang xảy đến, vị thế chính trị của đảng cầm quyền và của cả những cá nhân lãnh đạo hiển nhiên không còn ở vào cái thế muốn thay đổi hay không tùy hỉ. Mà gần như ngược lại. Thậm chí có thể ứng với tuyên ngôn “Thay đổi hay là chết!”. Nhằm “thuyết” ông Ái: Lần này cộng sản Việt Nam, “nó” thay đổi là thiệt đó, còn không nó “chết” là cái chắc! Để làm gì? Ông Ái có đủ khả năng để xoay chuyển cục diện cho ván “cờ bí thí tốt” của cộng sản Việt Nam? Tự bao giờ người cộng sản đánh giá cao những kẻ “lưu vong” như thế này?

Ông Dũng cũng nhắc đến cái chết của ông Võ Nguyên Giáp để thúc ông Ái “nhanh hơn”:

Những ngày gần đây, không khí ở Việt Nam như đang lắng đọng trong sự chờ đợi về một thay đổi nào đó. Và có lẽ từ phía bên kia bán cầu, người Mỹ cũng đang chờ đợi một sự thay đổi tối thiểu ở đất nước cựu thù. Song ở bên này bán cầu, nhiều người lại tự hỏi vì sao người Mỹ không xúc tác nhiều hơn để sự thay đổi diễn ra nhanh hơn.

“Nhanh hơn” có lẽ cũng là tâm ý của người muốn “chuyển lửa về quê nhà” – ông Võ Văn Ái. Và làm thế nào để cải cách kinh tế trở thành tiền đề cho cải cách chính trị? Những câu hỏi trên có vẻ càng khẩn thiết trong và sau sự ra đi như một “điềm báo” của “người Cộng sản cuối cùng” ở Việt Nam – Tướng Võ Nguyên Giáp. Dùng cái gọi là “điềm báo” để “thuyết”, không chắc ông Ái “phục”, bởi đó là cách làm theo…”kiểu Tàu”.

Hình như ông Dũng không nghiên cứu nhiều về thân thế và quan điểm của ông Võ Văn Ái trước khi làm cái việc “trao đổi”?! “Thuyết” sao cho người khác “phục” quả là “nghề chơi cũng lắm công phu”. Lời “thuyết” của một nhà báo từng bị bắt vì “tội xâm phạm an ninh quốc gia” và sau đó cộng sản phải trả tự do kèm theo lời xin lỗi công khai từ báo Tuổi Trẻ có vẻ chưa đủ “nghệ thuật”!.

Có nên nhắc ông Dũng về mối quan hệ hoàn toàn tin cậy giữa ông Võ Văn Ái với Ngài Thích Quảng Độ? “Thuyết” sao cho “phục” đây, khi mà Ngài Thích Quảng Độ vẫn đang bị “cách ly” nghiêm ngặt hàng chục năm qua tại 90 Trần Huy Liệu quận Phú Nhuận Sài Gòn?

Ông Phạm Chí Dũng dẫn ra hàng loạt sự việc theo kiểu ai cũng biết, thì cỡ “anh hùng núp” như tôi sẽ dẫn tiếp để “giúp” ông ta:

– Anh em Dương Chí Dũng – Dương Tự Trọng kỳ này nhất định lãnh án nặng, vì lâu lắm rồi, kể từ vụ án Đường Sơn Quán dính đến “gái và quan”, thì lần này vụ tình nhân (lại có con riêng) của cô vợ bé Dương Chí Dũng đã được lôi lên báo, đó như chứng tỏ mấy ông cộng sản thay đổi “thiệt” rồi đó(!)

– Toàn bộ các công ty dịch vụ công ích ở Tp.HCM qua vụ lương khủng hơn 2,6 tỉ đồng/năm đã được chuyển đến công an điều tra rồi. Kỳ này “mấy ổng” làm thiệt chớ chẳng chơi (!)

– Nguyễn Đức Kiên, Trần Xuân Giá, Lý Xuân Hải v.v… trong vụ ngân hàng ACB coi bộ kỳ này cũng khó có kiểu “giơ cao đánh khẽ” (!)

– Lần đầu tiên, đương kim Thủ tướng Việt Nam “vinh danh” [10] những tên tuổi luật sư có xu hướng dân chủ, từ lâu không được nhắc đến: “Từ ngày khai sinh, ngành luật sư Việt Nam đã có những tên tuổi để lại dấu ấn sâu đậm trong việc đặt nền móng xây dựng nền tư pháp công bằng, bình đẳng, của dân, do dân vì dân như các luật sư Phan Văn Trường, Phan Anh, Thái Văn Lung, Ngô Bá Thành, đặc biệt là luật sư Nguyễn Hữu Thọ…” (!)

“Thuyết khách” không phải trình ra số lượng sự việc (ai cũng biết). Cần phải hiểu “thuyết khách” là một nghệ thuật đỉnh cao. Hãy coi lại kiểu Nguyễn Thanh Sơn gởi thư cho Cao Quang Ánh cách đây ba năm [11] với trình độ văn hóa kém thông qua văn phong và cả chính tả để rồi bị ông Ánh (lúc đó là một dân biểu) từ chối một cách nhục nhã.

“Thuyết khách gia” nên tránh kiểu “thông tin hai mặt”. “Thông tin hai mặt” ở đây có nghĩa tưởng khen mà hóa ra chê hay dạy đời; trong đó hàm chứa cả ý xách mé, khiêu khích, khinh thị. Đó là điều tối kỵ với các nhà ngoại giao hay một người muốn làm thuyết khách chuyên nghiệp.

000_Del6255733-250.jpg
Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (phải) và Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội ngày 13 tháng 10 năm 2013. AFP PHOTO.

Song song đó, một thuyết khách cần có tính cầu thị và làm sao cho người mà ta đang muốn thuyết phục tin tưởng, bằng cách đưa ra giá trị cốt lõi của bản chất sự việc thông qua một chuỗi thời gian đủ dài, cùng các điểm nhấn mang tính quyết định, cũng như phải “thuyết” bằng những gì khả tín có căn cứ với sức nặng của sự việc mà mình có. “Thuyết” theo kiểu có phần trịch thượng và gây cảm giác tổn thương qua những chữ “lưu vong”, “vinh danh” chỉ càng làm cho ông Võ Văn Ái xa lánh.

Ngoài ra, muốn thuyết phục người khác, một thuyết khách nên nghiên cứu kỹ ảnh hưởng nền văn hóa nào và tư tưởng gì mà “khách” hấp thụ nhiều năm qua. Đặc biệt sự gắn bó tin cậy giữa ông Võ văn Ái và Ngài Thích Quảng Độ. Tôi tự hỏi, sao lại có sự nôn nóng ở một người từng tỏ ra khá điềm tĩnh trong nhiều vấn đề. Đặc biệt dấu hỏi khá lớn trong tôi: tại sao ông Phạm Chí Dũng viết báo “bị lộ” để dẫn tới bị bắt và rồi trả tự do thật mập mờ, kèm theo lời xin lỗi từ trang báo Tuổi Trẻ mà từ trước tới nay chưa có một blogger nào được “hưởng” “đặc ân” quá “vinh dự” này?

Thêm nữa, ông Phạm Chí Dũng dùng tư cách gì để “trao đổi” và “kích” ông Võ Văn Ái “nhanh hơn”? Thông tin dưới đây càng đáng đăm chiêu:

Phía sau chuyến đi này, nghe nói sẽ còn có những tỷ đô la nào đó mà Trung Nam Hải “đặc cách” dành cho Việt Nam – cơ sở rất quan yếu để duy trì tư thế “thiên triều” đối với đất nước oằn mình dưới lịch sử “ngàn năm Bắc thuộc”.

Tại sao tin dạng vỉa hè mà ông Phạm Chí Dũng mạnh dạn đưa vào trong “trao đổi” với ông Võ Văn Ái trên một đài tầm cỡ như VOA? Tại sao lại đưa “những tỉ đô la” không thấy căn cứ nào cho ông Ái? Và tại sao là ông Ái? Bằng cách nào để “thuyết” được “khách”? Ngài Thích Quảng Độ vẫn đang bị giam lỏng đó. Còn chờ gì mà không “sử dụng” để thuyết phục ông Võ văn Ái?

Luật sư Lê Quốc Quân, một con chiên uy tín của Công giáo, vừa được 57 nghị sĩ Quốc hội Na Uy viết thư đòi Việt Nam trả tự do [12].  Tôn giáo, đúng nghĩa là vị cứu tinh cho chế độ này cả về phần xác lẫn phần hồn, nếu người cộng sản hiểu ra. Đừng quá trông chờ vào TPP mau mắn thành công, bởi trên đồng đô la dòng chữ “In God We Trust” vẫn nguyên vẹn.

Cuối cùng, chuyến viếng thăm mới nhất của Thủ tướng Trung Quốc mới đây, qua tuyên bố chung cho hay:

Về hợp tác tiền tệ: Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài chính, tích cực tạo điều kiện và khuyến khích các tổ chức tài chính hai bên hỗ trợ dịch vụ tài chính cho các dự án hợp tác song phương về thương mại và đầu tư. Trên cơ sở Hiệp định thanh toán bằng đồng bản tệ song phương trong thương mại biên giới ký giữa ngân hàng trung ương hai nước năm 2003, tiếp tục nghiên cứu việc mở rộng phạm vi thanh toán bằng đồng bản tệ, thúc đẩy trao đổi thương mại và đầu tư hai bên. Hai bên quyết định thành lập Nhóm công tác về hợp tác tiền tệ giữa hai nước, để nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro tài chính tiền tệ của hai bên, duy trì ổn định và phát triển kinh tế hai nước và khu vực. Tăng cường điều phối và phối hợp đa phương, cùng nhau thúc đẩy hợp tác tài chính tiền tệ khu vực Đông Á.

Các “nhà thuyết khách” cộng sản hãy “thuyết” sao cho dân “phục” qua cụm từ “…tiếp tục nghiên cứu việc mở rộng phạm vi thanh toán…”? Hay một ngày rất gần nào đó, người dân ra chợ mua ký gạo sẽ hỏi: Gạo này, bao nhiêu tệ một ký?

Nguyễn Ngọc Già
__________

http://danluan.org/tin-tuc/20120909/anh-ba-sam-tu-dien-bien-2 [1]

http://vnexpress.net/tin-tuc/xa-hoi/giua-tieng-gao-thet-hoang-loan-lai-xe-co-cuu-nguoi-2895992.html%5B2%5D

http://phapluatxahoi.vn/2013101610150413p0c1001/ngay-cang-nhieu-bang-nhom-do-ve-tp-hcm.htm%5B3%5D

http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/144930/14-nghin-nha-hu-hong-trong-bao-so-11.html%5B4%5D

http://danlambaovn.blogspot.com/2013/10/quang-nam-dan-gong-minh-chong-bao-bi.html#.Ul90gn9k7IU%5B4A%5D

http://danlambaovn.blogspot.com/2013/10/con-an-ap-ong-bao-dan-toc-mong-tai-vuon.html#.Ul6Gxn9k7IU%5B5%5D

https://danluan.org/tin-tuc/20120308/nguyen-quang-vinh-vu-tien-lang-mang-quyen-loi-lai-cho-hang-trieu-ho-nong-dan%5B6%5D

https://danluan.org/tin-tuc/20120308/nguyen-ngoc-gia-xang-tang-gia-long-tin-cua-nha-van-nguyen-quang-vinh%5B7%5D

http://danoanbuihang.blogspot.com/2013/10/co-le-toi-se-lai-phai-ra-cong-toa-43.html%5B8%5D

http://www.voatiengviet.com/content/trao-doi-voi-ong-vo-van-ai-cai-cach-gia-vo-hay-buoc-cai-cach/1770271.html%5B9%5D

http://danlambaovn.blogspot.com/2013/10/ban-ve-tay-nao.html#.Ul93E39k7IU%5B9A%5D

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/144984/thu-tuong–luat-su-can-phung-su-cong-ly.html%5B10%5D

http://danluan.org/tin-tuc/20100506/doc-gia-dan-luan-nghe-thuat-ngoai-giao%5B11%5D

http://danluan.org/tin-tuc/20131016/57-nghi-si-quoc-hoi-nauy-gui-thu-toi-thu-tuong-nguyen-tan-dung-yeu-cau-tra-tu-do%5B12%5D

Quan hệ Việt Trung thời kỳ mới: mừng ít lo nhiều

000_Hkg9095445-305.jpg

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (trái) cùng Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang tại Hà Nội ngày 14 Tháng 10 năm 2013.

AFP PHOTO

Chuyên gia phản ứng khá thận trọng, nếu không muốn nói là đầy hoài nghi đối với quan hệ Việt-Trung thời kỳ mới, qua Tuyên bố chung 10 điểm ngày 15/10 tại Hà Nội kết thúc chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường.

Sử dụng chiến thuật

Hầu hết báo chí do Chính phủ kiểm soát đều đưa tin lớn về những thỏa thuận được cho là, mang tính cách mở rộng hợp tác kinh tế thương mại cùng lúc hạ nhiệt tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tuyên bố chung Lý Khắc Cường-Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh nguyên tắc giải quyết tranh chấp trên biển Việt-Trung với những lời lẽ đầy tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, tuân thủ tinh thần Công ước Quốc tế về Luật Biển hoặc tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông COC.

Về vấn đề vừa nêu, GSTS Nguyễn Thế Hùng nhà hoạt động xã hội dân sự, đồng sáng lập trang mạng Bauxite Việt Nam từ Đà Nẵng nhận định,  đối với chính sách của Trung Quốc, Việt Nam luôn luôn phải nghi ngờ thiện chí của họ nhất là trong tình hình hiện nay. Việt Nam chẳng là gì dưới mắt Trung Quốc, theo ông Việt Nam phải hiểu rõ điều này và cần khôn khéo thể hiện đại đoàn kết dân tộc, phải theo thể chế dân chủ để đất nước hùng mạnh thì mới có thể sinh tồn bên cạnh Trung Quốc. GSTS Nguyễn Thế Hùng nhấn mạnh:

Không phải họ mềm dẻo xuống thang hoặc tôn trọng vấn đề luật pháp quốc tế đối với VN, mà họ đang sử dụng chiến thuật trong lúc phải đối phó Nhật Bản và Philippines.
-GS Nguyễn Thế Hùng

“Theo tôi không phải họ mềm dẻo xuống thang hoặc tôn trọng vấn đề luật pháp quốc tế đối với Việt Nam, mà họ đang sử dụng chiến thuật trong lúc phải đối phó Nhật Bản và Philippines, hoặc để cho thế giới không thấy được dã tâm của họ. Chiến lược cuối cùng của họ là khuất phục Việt Nam, làm cho Việt Nam suy yếu để đạt mục đích cuối cùng là lái Việt Nam đi theo hướng của họ chứ không thực sự ích lợi cho Việt Nam.”

Về quan hệ thương mại kinh tế, theo tuyên bố chung, Trung Quốc hứa huy động vốn cho Việt Nam phát triển nhiều dự án khu công nghiệp và các tuyến giao thông trọng yếu nối vùng biên giới Trung Quốc với Hà Nội; thúc đẩy doanh nghiệp hai bên đầu tư qua biên giới. Hai Thủ tướng Trung Quốc và Việt Nam hứa hẹn hoàn thành trước thời hạn mục tiêu đến năm 2015 kim ngạch thương mại hai chiều đạt 60 tỷ USD.

000_Del6255742-250.jpg
Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng thảo luận tại Hà Nội ngày 13 tháng 10 năm 2013. AFP PHOTO.

Đáp câu hỏi của chúng tôi là Việt Nam luôn nhập siêu từ Trung Quốc hơn chục tỷ USD mỗi năm, vậy làm sao có thể cân bằng thương mại song phương lại vừa nâng kim ngạch ở mức lớn lao như vậy. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Riêng về thương mại tôi nói thật, mỗi khi lãnh đạo hai bên gặp nhau cứ hứa hẹn đẩy kim ngạch thương mại lên bao nhiêu…bao nhiêu, kể cả phía Trung Quốc hứa hẹn tăng cường nhập khẩu từ Việt Nam thì vẫn làm cho tôi thấy lo nhiều hơn là mừng. Tại sao vậy, bởi vì lâu nay Việt Nam chủ yếu là nhập siêu từ Trung Quốc và mức nhập siêu càng ngày càng lớn càng nặng nề. Kể cả trong mấy năm gần đây khi mà kinh tế khó khăn, nhập khẩu của Việt Nam giảm xuống, thậm chí có năm Việt Nam còn xuất siêu được vài trăm triệu đô la nhưng vẫn nhập siêu từ Trung Quốc như thường và số tiền nhập siêu từ Trung Quốc vẫn rất lớn. Như vậy chứng tỏ cải thiện kim ngạch rất khó.”

Lo nhiều hơn mừng

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan tỏ ra thận trọng về khả năng Trung Quốc gia tăng nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam. Bà nói:

“Ngay cả khi Trung Quốc hứa hẹn tăng cường nhập khẩu từ Việt Nam, để cho Việt Nam cải thiện cán cân thanh toán với Trung Quốc thì tôi vẫn lo. Bởi vì  Trung Quốc chủ yếu muốn mua hàng nguyên liệu thô của Việt Nam, nào là khoáng sản đào bới tài nguyên thiên nhiên lên để bán cho họ như là bauxite chẳng hạn hay là các khoáng sản khác. Rất nhiều thứ khoáng sản của Việt Nam đã được khai thác và xuất thô sang Trung Quốc rồi, làm cho nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam cạn kiệt rất nhanh. Tuy Trung Quốc cũng mua một số mặt hàng khác như nông sản nhưng chủ yếu cũng là hàng thô chưa qua chế biến; riêng cách mua nông sản không những làm cho Việt Nam thiệt thòi mà nhiều khi còn gây khó bằng cách là, có khi họ đưa giá lên rất cao mua ào ạt, rồi đùng một cái dừng lại không mua tiếp nữa, làm cho nông dân khi lỡ sản xuất ra rồi không làm thế nào được. Thế rồi những thủ tục khó khăn tạo ra ở biên giới, như là thanh long hiện nay đang đọng lại ở biên giới chẳng hạn,  là những cách gây khó cho nông sản Việt Nam.”

Bà Phạm Chi Lan lý giải thêm về lý do bà cảm thấy lo nhiều hơn mừng, khi hai phía Việt Nam và Trung Quốc thỏa thuận mở rộng hợp tác thương mại. Bà nói:

Nghe hai bên cam kết sớm đạt được mức kim ngạch 60 tỷ USD, thực sự tôi không cảm thấy mừng mà thậm chí còn cảm thấy lo.
-Bà Phạm Chi Lan

“Dù có tuyên bố tăng cường nhập khẩu nhưng điều đó chưa chắc có thể tạo khả năng xuất khẩu trả nợ cho Việt Nam sang Trung Quốc, từ đó có thể giúp cải thiện được cán cân thanh toán. Cho nên nói lên một con số thì dễ, nói lên ý chí hoặc mong muốn của hai bên thì dễ, nhưng mà cách thức thực hiện như thế nào và đàng sau nó là tất cả những biện pháp như thế nào để tạo được một cán cân thực sự mang lại lợi ích cho cả hai bên, thì đấy là điều hoàn toàn không dễ một chút nào cả. Bởi vì vẫn còn thấy thiếu vắng những biện pháp cụ thể và về phía Việt Nam đã thấy trong bao nhiêu năm rồi, với bao nhiêu cam kết hứa hẹn về chính trị rồi mà quan hệ thương mại luôn luôn mang tới bất lợi cho phía Việt Nam. Vì vậy cho nên nghe hai bên cam kết sớm đạt được mức kim ngạch 60 tỷ USD, thực sự tôi không cảm thấy mừng mà thậm chí còn cảm thấy lo.”

Bên cạnh vấn đề kinh tế thương mại, Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc thời kỳ mới còn nhấn mạnh việc ‘tăng cường định hướng đúng đắn báo chí và dư luận…góp phần quan trọng cho việc tăng cường sự tin cậy giữa hai bên. Nhận định về vấn đề này, GSTS Nguyễn Thế Hùng phát biểu:

“Trung Quốc thường nói một đàng làm một nẻo, họ bảo là định hướng nhưng cuối cùng nhiều lúc họ bật đèn xanh hoặc họ không chấn chỉnh. Khi mình phản ảnh thì họ đổ lỗi này kia trong khi Việt Nam nghiêm túc thực hiện, như vậy nó không có công bằng. Đối với Việt Nam những gì Trung Quốc họ làm không đúng với luật lệ quốc tế…thì phải để cho nhân dân người ta bày tỏ, để cho báo chí chính thống bày tỏ để tạo dư luận trong nước và quốc tế thì như vậy người Trung Quốc mới bớt chuyện làm không đứng đắn của họ lại. Chứ đàng này, mình không để cho báo chí chính thống, không để cho người dân bày tỏ trên những blog của họ, không để cho người dân đi biểu tình ôn hòa, như vậy mình không tạo được sự đồng thuận nhân dân, không tạo được sức ép lên dư luận trong nước và quốc tế, lại mất đi một lực lượng ủng hộ chính quyền thì rất là dở.”

Chuyến đi của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tới Việt Nam còn đạt kết quả Việt Nam ký kết văn kiện đồng ý thiết lập Viện Khổng Tử tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Dư luận cho rằng, bề ngoài của một Viện Khổng Tử mang tính cách một Trung tâm truyền bá và quảng cáo văn hóa Trung Quốc. Nhưng theo TS Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện viết trên Blog của ông: “Phải thừa nhận hiện nay giới lãnh đạo về vắn hóa của Việt Nam có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc. Mà việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh.” TS Nguyễn Xuân Diện lập lại sự quan ngại của ông qua phát biểu với Đài Á châu Tự Do. Vì âm thanh không được tốt, chúng tôi xin trích đọc nguyên văn lời TS Nguyễn Xuân Diện.

“Vì vậy, để những học viện Khổng Tử như thế tồn tại ở Việt Nam đòi hỏi những nhà lãnh đạo về tư tưởng văn hóa phải có sự hiểu biết sâu sắc, một bản lĩnh vững vàng. Nếu không, nó sẽ là cuộc xâm lăng về mặt văn hóa hay gọi là “quyền lực mềm” sẽ bị áp đặt tại Việt Nam. Lúc ấy, chúng ta sẽ không thể nào chống lại được. Văn hóa là nền tảng của đất nước, một khi văn hóa bị thuần hóa thì đó là một điều nguy hiểm.”

Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Trung được mở rộng trong thời kỳ mới, qua chuyến đi của Thủ tướng Lý Khắc Cường tới Hà Nội quả là ẩn chứa rất nhiều điều, làm cho các chuyên gia kinh tế, chuyên gia văn hóa và các nhà hoạt động dân sự đầy quan ngại. Đúng là chưa mừng đã vội lo.

‘Lãnh đạo VN bị ý thức hệ kìm hãm’

Hạnh Nguyên.  Bài của bạn đọc BBC Tiếng Việt. 18 tháng 10, 2013

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2013/10/131018_vn_ly_quang_dieu_view.shtml

Ông Lý Quang Diệu từng thăm Việt Nam.

Hồi tháng Tám vừa qua, cựu thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu cho ra mắt cuốn sách hơn 400 trang, bày tỏ quan điểm về tương lai, triển vọng của các quốc gia lớn đáng chú ý trên thế giới và trong vùng Đông Nam Á.

Cuốn ‘One man’s View of the World’ có cả phần nhận định của tác giả về hiện tại và tương lai của Việt Nam.

Theo ông Lý, tăng trưởng kinh tế và thay đổi lớn trong đời sống xã hội Việt Nam sau đổi mới 1986 là không thể phủ nhận.

Nhiều nhà phân tích trong cũng như ngoài nước cho rằng Việt Nam đang đi đúng hướng, theo mô hình cải cách kiểu Trung Quốc.

Thực sự thì Đổi mới ở Việt Nam khác xa những gì diễn ra ở Trung Quốc.

Mấy năm gần đây, ông Lý hoàn toàn chán nản về những gì đang diễn ra ở Việt Nam. Ông thất vọng bởi nạn tham nhũng tràn lan, tư duy cổ hủ của giới lãnh đạo.

Theo ông, Việt Nam chưa hề và sẽ chưa thể có một lãnh đạo ngang tầm Đặng Tiểu Bình trong một tương lai gần. Ông đã sử dụng một cụm từ mô tả chung cho toàn bộ giới lãnh đạo cao cấp ở Việt Nam: ‘Bị kìm hãm trong tư duy xã hội chủ nghĩa’.

Theo lời ông Lý, ở Việt Nam, những vị lãnh đạo bảo thủ đang tiếp tục làm cho Việt Nam trở nên trì trệ. Chỉ khi những vị này nghỉ hưu thì Việt Nam mới có thể có đột phá theo hướng hiện đại hóa.

Chỉ hắng giọng, ậm ừ

Singapore là tấm gương thu hút đầu tư nhờ hệ thống nhà nước hiệu quả

Ông có đưa ra một ví dụ mà tận mắt ông chứng kiến khi tham gia một cuộc họp với các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự Việt Nam.

Ông thuật lại chi tiết về những vấn đề mà một công ty Singapore đang vướng phải khi triển khai một dự án xây dựng khách sạn ở khu vực Hồ Tây, Hà Nội.

Khi công ty này bắt đầu đóng cọc, hàng nghìn người dân đến yêu cầu bồi thường cho tình trạng ô nhiễm tiếng ồn. Để tránh việc phải gánh thêm các khoản chi phí phụ trợ, công ty quyết định thay đổi phương pháp xây móng, từ việc đóng cọc sang bắt đinh ốc vì phương pháp này ít gây ồn ào hơn.

Lần này, chính vị quan chức đã phê duyệt dự án đến công ty và nói: “Tôi chưa bao giờ cho phép các anh làm vậy”. Rõ ràng, vị quan chức này đã thông đồng với những người dân bất mãn.

Ông Lý Quang Diệu giải thích với những nhà lãnh đạo Việt Nam trong cuộc họp rằng hành động như vậy là phản tác dụng và khuyên họ nếu muốn mở cửa thì hãy thực sự nghiêm túc về vấn đề đó.

Giới chức Hà Nội chỉ đáp lại bằng vài tiếng hắng giọng hay ậm ừ thể hiện rõ họ không thiết tha mấy với cuộc cải cách này. Họ không hề hiểu rằng một nhà đầu tư hài lòng sẽ thu hút thêm nhiều nhà đầu tư hơn nữa.

“Khi những thế hệ lão thành cách mạng nghỉ hưu, sẽ có những thế hệ trẻ hơn làm nên đổi thay”

Theo ông Lý, lãnh đạo Việt Nam cho rằng khi đã có một nhà đầu tư rồi thì cứ thế mà vắt kiệt sức để kiếm chác.

Sự thật thì ở Việt Nam, nhiều cựu quân nhân tham gia cuộc chiến (được đa số người Việt gọi là kháng chiến chống Mỹ) đang tham gia giữ các cương vị quan trọng trong Đảng và bộ máy chính quyền.

Thật không may, họ được thăng cấp không phải bởi vì họ giỏi quản lý và điều hành kinh tế hiệu quả, mà là vì họ đã rất giỏi “đánh nhau”.

Cựu thủ tướng quốc đảo sư tử nhìn nhận, điểm tương đồng nổi bật giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời kỳ mở cửa chính là tham nhũng. Đội ngũ cán bộ Đảng bỗng chốc nhận thấy những người ngoài Đảng đang giàu lên nhanh chóng.

Họ vỡ mộng và dần trở nên tham tiền, hám của. Ví dụ như những quan chức hải quan cao cấp nhập khẩu xe hơi bất hợp pháp để được chia phần lợi nhuận.

Khác Trung Quốc, Việt Nam không có một nhân vật giống như ông Đặng Tiểu Bình, một người vừa có được vị trí không thể phủ nhận trong đội ngũ cán bộ vừa có niềm tin vững vàng rằng tiến hành cải cách triệt để là con đường duy nhất vươn ra thế giới.

Có thể nói, chiến tranh chính là lý do tại sao đất nước lại thiếu đi một con người như vậy.

Tiếp tục bế tắc

Trong cuốn sách mới ra, ông Lý Quang Diệu chỉ còn niềm tin vào thế hệ trẻ Việt Nam

Trong khi những lãnh đạo cộng sản Trung Quốc có hàng thập kỷ thu lượm kinh nghiệm quản lý trong thời bình, chọn lựa những lời khuyên thực tế về việc gì cần làm, tiếp tục củng cố niềm tin và hệ tư tưởng, thì các nhà cộng sản Việt Nam vẫn bế tắc trong một cuộc chiến tranh du kích khốc liệt với người Mỹ, không hề học hỏi được bất kỳ điều gì về cách quản lý, vận hành đất nước.

Hơn thế nữa, hầu hết những doanh nhân thành đạt ở miền Nam Việt Nam, những người đã quen thuộc với cách làm việc của chủ nghĩa tư bản thì lại bỏ trốn ra hải ngoại vào những năm 70.

Điều đáng nói hơn cả là cách nhìn nhận rất khách quan và tích cực về con người Việt Nam của ông Lý Quang Diệu. Ông cho rằng người Việt là một trong những dân tộc năng động và thông minh nhất trong khu vực Đông Nam Á.

Sinh viên Việt Nam thường xuyên giành được những điểm số cao nhất trong cách kỳ thi tầm cỡ quốc tế.

Với những con người thông minh như vậy, với tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, bờ biển dài và đẹp, đáng lẽ Việt Nam phải giàu mạnh từ rất lâu rồi.

Theo ông Lý, thật đáng tiếc là Việt Nam không thể khai thác hết được tiềm năng của mình. Ông đặt niềm tin rằng khi những thế hệ lão thành cách mạng nghỉ hưu, sẽ có những thế hệ trẻ hơn làm nên đổi thay.

Những con người ấy sẽ nhìn nhận được Thái Lan đã thành công đến như thế nào, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của nền kinh tế thị trường.

Về vấn đề biển Đông, theo ông Lý thì Việt Nam đang gặp phải những khó khăn lớn.

Trung Quốc là một đối thủ lớn, khó chơi, đầy mưu mô và kinh nghiệm. Trung Quốc sẽ tiếp tục chiêu bài chia cắt nội bộ ASEAN, cô lập các bên để giành thế thượng phong trong đàm phán song phương. Nước có hàng mấy ngàn năm lịch sử chiến tranh lân bang này sẽ kiên quyết từ chối đàm phán đa phương dưới mọi hình thức.

‘Trung Quốc là một đối thủ lớn, khó chơi, đầy mưu mô và kinh nghiệm’

Về quan hệ Việt – Mỹ, ông Lý cho rằng không sớm thì muộn, Mỹ sẽ được chính quyền Việt Nam đồng ý cho trở lại Cam Ranh đóng quân. Hơn thế nữa, việc Mỹ đồng ý bán vũ khí cho Việt Nam cũng sẽ xảy ra trong tương lai gần.

Tuy nhiên, những động thái đó chẳng mang lại nhiều ý nghĩa trong tranh chấp Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Theo ông Lý, Việt Nam hầu như không thể trông mong vào tiếng nói và hành động của Hoa Kỳ. Ngoài những bất đồng trong chính trị và nhân quyền với giới lãnh đạo Việt Nam, Mỹ không hề muốn đối đầu với một nước lớn và đầy tiềm lực như Trung Quốc.

Ông Lý Quang Diệu, trong phần nói về Việt Nam, tuy không bộc lộ rõ nhưng người đọc có thể nhận ra ông không mấy tin tưởng vào sự can thiệp của ASEAN trong việc lên tiếng giúp Việt Nam đạt được thắng lợi dù nhỏ trong đàm phán biển Đông với Trung Quốc.

Điều này có nghĩa là tương lai vấn đề Biển Đông của Việt Nam, trong suy nghĩ của cựu thủ tướng Singapore, là hoàn toàn bế tắc.

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả Hạnh Nguyên, một bạn đọc của bbcvietnamese.com từ Việt Nam.

VN nhất quyết làm điện hạt nhân

Nhà máy điện hạt nhân ở FukushimaNhiều nước nghĩ lại về điện hạt nhân sau thảm họa Fukushima

Việt Nam kiên quyết theo đuổi kế hoạch phát triển điện hạt nhân đầy tham vọng bất chấp lo ngại về độ an toàn của công nghệ sau thảm họa Fukushima hồi năm 2011.

Các công ty và chính phủ nước ngoài đang cạnh tranh để có chỗ đứng trong ngành công nghiệp có thể trị giá 50 tỷ đôla ở Việt Nam vào năm 2030, hãng tin Hoa Kỳ AP dẫn lời các quan chức Mỹ.

Tuần trước Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký tắt thỏa thuận cho phép các công ty Hoa Kỳ hợp tác với Việt Nam để phát triển năng lượng hạt nhân dân sự.

Sau khi Tổng thống Barack Obama và các quan chức phụ trách năng lượng Hoa Kỳ ký duyệt thỏa thuận mang tên “thỏa thuận 123”, Quốc hội sẽ có 90 ngày để đặt vấn đề về thỏa thuận hay để nó có hiệu lực.

Việt Nam có kế hoạch xây dựng bảy nhà máy điện hạt nhân trong các năm tới để giải quyết tình trạng thiếu điện do thiếu đầu tư và do giá điện thấp theo quy định.

“Việt Nam có thị trường lớn thứ hai ở Đông Á, sau Trung Quốc, và công ty của chúng ta giờ đã có thể tham gia cạnh tranh,” Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry được AP dẫn lời nói sau khi ký thỏa thuận với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng ở Brunei trong tuần trước.

“Chúng tôi cần các nhà máy điện hạt nhân để đảm bảo nguồn cung năng lượng cho đất nước. Các nguồn năng lượng khác không đủ.”

Vương Hữu Tấn, Cục trưởng Cục An toàn bức xạ hạt nhân

Mặc dù vậy, người đứng đầu cơ quan an toàn hạt nhân của Việt Nam, ông Vương Hữu Tấn, nói trong một cuộc phỏng vấn mới đây rằng ngày khởi công cho hai nhà máy đầu tiên đã bị hoãn lại ba năm từ 2014 tới 2017.

Hơn nữa, thảm họa hạt nhân ở Nhật Bản hồi tháng Ba năm 2011 cũng gây lo ngại về các kế hoạch ở Việt Nam.

Một nghiên cứu hồi năm 2011 của ba nhà khoa học Ý nói tiền lệ lịch sử cho thấy bờ biển Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng của sóng thần do động đất xuất phát từ ngoài khơi Biển Đông gây ra.

Bản đồ mô phỏng của họ cho thấy Ninh Thuận, nơi được chọn để xây nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, và một số tỉnh lân cận dễ bị ảnh hưởng của sóng thần nhất.

Ông Tấn được dẫn lời nói Việt Nam đặt ưu tiên cao cho vấn đề an toàn và sẽ đảm bảo các nhà máy được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế.

“Chúng tôi cần các nhà máy điện hạt nhân để đảm bảo nguồn cung năng lượng cho đất nước.

“Các nguồn năng lượng khác không đủ.”

‘Mặc kệ dư luận’

Nhật Bản đã lên kế hoạch bỏ dần điện hạt nhân trong khi VN đang làm ngược lại.

AP cho rằng một trong các lý do mà Việt Nam vẫn quyết tâm xây dựng các nhà máy điện hạt nhân ven biển có thể là họ không phải quan tới dư luận.

Đảng cộng sản kiểm soát truyền thông trong nước và cấm các thảo luận có tính chỉ trích đối với hoạt động của chính quyền.

AP dẫn lời chuyên gia nghiên cứu Kevin Punzalan từ Philippines nói điều này trái ngược với Malaysia, Indonesia và Philippines, nơi người dân phản đối điện hạt nhân.

Việt Nam rất cần tới nguồn năng lượng mới do sản lượng thủy điện và nhiệt điện chạy than đang dần chững lại.

Nước này có thể phải nhập khẩu điện vào năm 2015 trong khi Ngân hàng Phát triển Á châu nói nhu cầu điện có thể tăng tới 14% một năm cho tới 2015 trước khi giảm xuống 11% từ đó tới năm 2020.

Việt Nam cũng kêu gọi tăng sản lượng điện cho tới năm 2030 nhưng các nhà phân tích nói ít nhà đầu tư muốn bỏ tiền vào ngành điện do nhà nước giữa giá điện dưới giá thị trường.

Trong lĩnh vực điện hạt nhân, các nhà đầu tư Nga và Nhật Bản dang dẫn đầu trong hai dự án ở Ninh Thuận.

Các đối thủ cạnh tranh Hàn Quốc và Hoa Kỳ cũng đang bám sát.

Thỏa thuận mà Việt Nam mới ký với Hoa Kỳ sẽ đòi hỏi Hà Nội mua nhiên liệu hạt nhân trên thị trường quốc tế thay vì tự làm giàu uranium.

Trả lời BBC tiếng Việt vào tháng trước, Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên cố vấn chiến lược Tập đoàn Điện quốc gia Pháp (EDF) đã cảnh báo Việt Nam có thể sẽ phung phí hàng chục, hàng trăm tỷ đôla mà không đem lợi ích gì cho đất nước.

“Nếu một thảm họa như Chernobyl hay Fukushima xảy ra thì cả miền Trung sẽ bị phóng xạ bao trùm và Bấm đất nước ta sẽ bị chia đôi lâu dài, du lịch, xuất khẩu, kinh tế sẽ bị tê liệt trong chớp nhoáng”, ông Nhẫn nói.

Trong khi dự án tàu cao tốc được đưa ra quốc hội để thảo luận thì dự án điện hạt nhân lại chưa thấy có động thái này, và dự án bauxite thì được chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mô tả đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 cua GS Trần Nhơn

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

http://danlambaovn.blogspot.com/2013/10/du-thao-sua-oi-hien-phap-1992.html#more

(Do Công ty Hỗ trợ Phát triển và Hội nhập Toàn Cầu đề xuất, lấy nguyên bản dự thảo của Kiến nghị 72 làm nền tảng: thêm những chữ thiếu, bỏ những chữ thừa)
 
LỜI NÓI ĐẦU
 
Kế tiếp nền văn hiến và truyền thống bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã dựng xây và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì tự do và độc lập của dân tộc,
vì một xã hội công bằng, dân chủ và tôn trọng pháp quyền, vì mục tiêu hạnh phúc và tự do của các thế hệ hiện tại và tương lai,
chúng tôi, nhân dân Việt Nam, thông qua các đại diện của mình, xây dựng bản Hiến pháp này.


CHƯƠNG I. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Chủ quyền quốc gia
Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.
Điều 2. Chủ quyền nhân dân
Chủ quyền Việt Nam thuộc về nhân dân và tất cả các quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân. Quyền lập hiến là thể hiện cao nhất chủ quyền nhân dân, gồm quyền sáng kiến lập hiến, quyền tham gia góp ý trong quá trình dự thảo Hiến Pháp và cuối cùng là quyền biểu quyết thông qua trưng cầu dân ý. một quyền không thể bị tước đoạt của nhân dân.
Điều 3. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, có quyền phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

4.   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, hội nhập vào sự phát triển chung của đất nước.


Điều 4. Công dân
1. Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được luật quy định.
2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam, giao nộp cho nhà nước khác.
3. Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài.
4. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
5. Người gốc Việt Nam có quốc tịch nước khác hoặc chưa có quốc tịch nước nào có quyền có quốc tịch Việt Nam.
6. Địa vị của người nước ngoài được đảm bảo theo quy định của luật pháp quốc tế và điều ước quốc tế.
Điều 5. Các điều ước quốc tế
1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt thừa nhận, kế thừa và tôn trọng các điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trước đây ký kết và ban hành không trái với các hiến pháp tương ứng và các quy tắc chung được luật pháp quốc tế công nhận vào thời điểm đó.
2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố nào mà các chính quyền Việt Nam trước đây đã ký kết hoặc đưa ra một cách bí mật, không đúng thẩm quyền hoặc không đúng theo các thủ tục pháp luật vào thời điểm đó.
3. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố do bất cứ đảng phái chính trị, tổ chức phi nhà nước hay cá nhân nào đã ký kết hoặc đưa ra, một cách bí mật hay công khai, liên quan đến chủ quyền hay lãnh thổ Việt Nam.
Điều 6. Tôn trọng hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân
1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt nỗ lực duy trì hòa bình quốc tế và từ bỏ chiến tranh xâm lược.
2. Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và giữ gìn an ninh quốc gia là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn thể nhân dân Việt Nam.
3. Các lực lượng vũ trang được trao sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.
4. Các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân, Tổ quốc lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào. 

Điều 7. Tính chất dân sự của lực lượng cảnh sát
Lực lượng cảnh sát có sứ mệnh thực thi luật pháp và giữ gìn trật tự. Cảnh sát thuộc lĩnh vực dân sự, không thuộc về các lực lượng vũ trang.
 
Điều 8. Trách nhiệm của công chức
1. Công chức là công bộc của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
2. Địa vị và tính trung lập chính trị của công chức được đảm bảo theo quy định của pháp luật.Điều 9. Đảng phái chính trị
1. Các đảng phái chính trị được tự do thành lập và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ. Quyền đối lập chính trị được tôn trọng.
2. Pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các đảng phái chính trị.

Điều 10. Nền kinh tế quốc dân

1. Nền kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt dựa trên sự tôn trọng tự do và sáng kiến của các doanh nghiệp và cá nhân trong đời sống kinh tế.
2. Nhà nước có thể quy định và điều phối các hoạt động kinh tế nhằm duy trì sự tăng trưởng cân bằng, bền vững và ổn định, nhằm phân phối thu nhập hợp lý, ngăn chặn sự thống lĩnh thị trường và lạm quyền kinh tế.
3. Nhà nước có nghĩa vụ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế để có nền kinh tế quốc gia cân đối. Nhà nước thúc đẩy kinh tế bằng việc phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực và khuyến khích sáng tạo.

Điều 11. Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô

Quốc hội chuẩn bị đề án quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô, trình nhân dân phúc quyết.
1. Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
2. Quốc huy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
3. Quốc ca nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca”.
4. Ngày Quốc khánh là Ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.
5. Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Hà Nội.

CHƯƠNG II. QUYỀN CON NGƯỜI,

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
Điều 12. Nguyên tắc tôn trọng các quyền con người
1. Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòaĐại Việt tôn trọng và bảo vệ các quyền con ngườiđược ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế (1948) và các điều ước quốc tế về quyền con người khác mà Việt Nam là thành viên, được tôn trọng và bảo vệ.
2. Các cơ quan nhà nước, công chức và viên chức có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy phát huy các quyền con người trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.Điều 13. Quyền bình đẳng
1. Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào dựa vào giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các yếu tố khác.
2. Các nhóm thiểu số được ưu tiên bảo vệ.Điều 14. Quyền sống, tự do và an toàn cá nhân
Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân. Quyền sống trong một môi trường trong lành của mọi người phải được tôn trọng và bảo vệ.
Điều 15. Tự do không bị làm nô lệ
Không ai bị bắt làm nô lệ hoặc bị cưỡng bức làm việc như nô lệ. Mọi hình thức nô lệ và buôn bán người đều bị cấm.
Điều 16. Quyền không bị tra tấn và các quyền trong lĩnh vực tư pháp hình sự
1. Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.
2. Không ai bị bắt, giữ hay giam giữ một cách tuỳ tiện. Trong vòng 24 giờ kể từ khi bị bắt, người bị bắt phải được đưa ra trước một tòa án để xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ việc bắt giữ.
3. Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên toà xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình.
4. Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi nào không cấu thành một tội phạm hình sự theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi đó. Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện.Điều 17. Quyền được tòa án bảo vệ và quyền được xét xử công bằng1. Mọi người đều có quyền được các toà án có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.
2. Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng, công khai bởi một toà án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ.Điều 18. Bảo vệ danh dự, uy tín và quyền riêng tư
1. Danh dự và uy tín cá nhân của mọi người được tôn trọng.
2. Cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở và thư tín của mọi người được tôn trọng.Điều 19. Quyền tự do đi lại và tự do cư trú
1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia.
2. Mọi người đều có quyền rời khỏi và quyền trở về Việt Nam.
Điều 20. Quyền kết hôn
1. Mọi người khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo hay giới tính.
2. Việc kết hôn chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai.
Điều 21. Quyền sở hữu
1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản tư nhân hoặc sở hữu chung với người khác. Không ai bị tước đoạt tài sản một cách tuỳ tiện.
2. Đất đai có thể thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng hoặc sở hữu nhà nước.Điều 22. Tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáoMọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.
Điều 23. Tự do ngôn luận, biểu tình, hội họp và lập hội
1. Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến bằng mọi hình thức. Tư nhân có quyền ra báo, xuất bản.
2. Mọi người đều có quyền tự do biểu tình, hội họp một cách ôn hoà.
3. Mọi người đều có quyền tự do lập hội. Không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ tổ chức nào.
Điều 24. Quyền tham gia chính trị
Mọi công dân đều có quyền tham gia quản lý đất nước, một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu mà họ tự do lựa chọn trong các cuộc bầu cử.
Điều 25. Quyền hưởng an sinh xã hội
Mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội.
Điều 26. Quyền lao động và nghiệp đoàn
1. Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp.
2. Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
3. Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm.
4. Mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình.
5. Quyền đình công của người lao động được bảo đảm bằng luật.
Điều 27. Quyền có mức sống thích đáng
1. Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, góa bụa, già hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ.
2. Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Mọi trẻ em, dù sinh ra trong hay ngoài giá thú, đều phải được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 28. Quyền học tập
Mọi người đều có quyền học tập. Giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí.

Điều 29. Quyền về văn hóa
1. Mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích xuất phát từ những tiến bộ khoa học.
2. Mọi người đều có quyền được bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật nào mà người đó là tác giả.
Điều 30. Bảo vệ người tiêu dùng
Nhà nước phải có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Điều 31. Nguyên tắc chung của nghĩa vụ
Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng. Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.
Điều 31. Nghĩa vụ nộp thuế
Mọi công dân có nghĩa vụ nộp thuế theo các điều kiện luật định.
Điều 32. Bảo vệ Tổ quốc và tri ân những người có công
1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng. Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt ghi nhận và tôn vinh công lao của tất cả những người đã hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc, ghi nhận và tôn vinh công lao của các thương binh, các cựu chiến binh bất luận họ đã phục vụ trong chính thể nào trong quá khứ và có chính sách hỗ trợ họ trong giáo dục, đào tạo nghề và trong mưu sinh.Điều 33. Nghĩa vụ quân sự
Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia lực lượng vũ trang dự bị theo luật định.

CHƯƠNG III. LẬP PHÁP

Điều 34. Quốc hội
1. Quyền lập pháp được nhân dân ủy quyền cho Quốc hội. Quốc hội bao gồm Hạ viện và Thượng viện.
2. Thành viên của Quốc hội là các nghị sĩ, gồm Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ. Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ do nhân dân bầu ra thông qua bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
3. Không ai có thể đồng thời là Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ.
4. Quốc hội có quyền lập pháp, phê chuẩn việc bổ nhiệm lãnh đạo các cơ quan hành pháp, bổ nhiệm các thẩm phán, lãnh đạo các cơ quan hiến định độc lập theo quy định của Hiến pháp và luật.
Điều 35. Hạ nghị sĩ
1. Các Hạ nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và có thể được bầu lại.
2. Mỗi đơn vị bầu cử được bầu 1 (một) Hạ nghị sĩ.
3. Đơn vị bầu cử Hạ nghị sĩ gồm các đơn vị hành chính cơ sở (cấp xã) nằm trong một vùng sao cho các đơn vị có dân số xấp xỉ ngang nhau.
4. Số đơn vị bầu cử của một đơn vị hành chính cấp tỉnh được tính bằng số nguyên làm tròn của con số được tính bằng dân số của đơn vị cấp tỉnh đó (theo tổng điều tra dân số gần nhất) nhân với 250 rồi chia cho dân số toàn quốc. Một đơn vị hành chính cấp tỉnh có ít nhất một đơn vị bầu cử.
5. Mọi công dân đủ 25 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Hạ nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử nếu:(a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.
6. Tuy các Hạ nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước.
Điều 36. Thượng nghị sĩ
1. Các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và có thể được bầu lại.
2. Mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) là một đơn vị bầu cử Thượng nghị sĩ.
3. Mọi công dân đủ 30 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Thượng nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử Thượng nghị sĩ nếu: (a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.
4. Số Thượng nghị sĩ mà mỗi đơn vị được bầu cử là 2. Đối với những tỉnh có người dân tộc thiểu số quá 20 % dân số tỉnh đó, thì bắt buộc phải có 1 Thượng nghị sĩ là người dân tộc thiểu số.
5. Trong lần bầu Thượng nghị sĩ đầu tiên, mỗi đơn vị bầu cử, bằng bốc thăm, chọn ra 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm, sao cho cứ 3 năm sẽ tiến hành bầu lại một nửa số Thượng nghị sĩ của Thượng viện.
6. Tuy các Thượng nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước.
Điều 37. Bầu cử Thượng viện và Hạ viện
1. Việc bầu cử toàn bộ các Hạ nghị sĩ và các Thượng nghị sĩ lần đầu tiên theo Hiến Pháp này được tiến hành trong vòng 100 ngày kể từ ngày bản Hiến pháp có hiệu lực.
2. Nghị sĩ hết nhiệm kỳ vào ngày tính đúng 36 tháng đối với các Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ được bầu lần đầu có nhiệm kỳ 3 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức; vào ngày tính đúng 72 tháng đối với các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức.
3. Trong vòng 100 ngày trước khi các Nghị sĩ hết nhiệm kỳ, phải tổ chức bầu cử các Nghị sĩ mới cho nhiệm kỳ tiếp theo. Nếu đơn vị bầu cử không hội đủ số người đắc cử theo quy định thì phải tổ chức bầu lại từ các ứng viên thất cử của đợt bầu trước đó trong vòng 15 ngày sau khi cuộc bầu cử trước kết thúc. (Các) đợt bầu cử lại này được tiến hành cho đến khi chọn đủ số người đắc cử theo quy định và trong mọi trường hợp phải kết thúc trước ngày các Nghị sĩ đương nhiệm hết nhiệm kỳ 15 ngày.
4. Nếu khuyết Nghị sĩ vì bất cứ lý do gì, thì (a) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại dưới 1 năm sẽ không có bầu cử bổ sung; hoặc (b) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại bằng hay trên 1 năm phải tổ chức bầu bổ sung tại đơn vị bầu cử đó cho đủ số bị khuyết trong vòng 60 ngày kể từ khi các Viện xác nhận sự khuyết. Nhiệm kỳ của người được bầu bổ sung sẽ chấm dứt cùng với nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đương nhiệm.
5. Thủ tục ứng cử, tranh cử, bầu cử được quy định chi tiết trong luật bầu cử.
Điều 38. Sự chuyên trách, tuyên thệ và quyền miễn trừ của Nghị sĩ
1. Trong khi đương nhiệm các Nghị sĩ không được đồng thời giữ bất kỳ chức vụ nào khác tại bất kỳ cơ quan, tổ chức công hay tư, trong các lực lượng vũ trang hay cảnh sát. Nếu đã giữ các chức vụ như vậy trước khi được bầu làm Nghị sĩ thì phải chính thức từ nhiệm các chức vụ đó trước khi thực hiện nhiệm vụ Nghị sĩ và việc từ chối từ nhiệm sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.
2. Các Nghị sĩ được trả lương từ Ngân khố quốc gia.
3. Các Nghị sĩ, trước khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, sẽ phải tuyên thệ trước mỗi Viện: “ Tôi long trọng tuyên thệ thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách mẫn cán và tận tâm, để bảo vệ chủ quyền và các lợi ích của nhân dân và đất nước; làm mọi việc trong thẩm quyền của mình vì sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc của nhân dân; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” Việc từ chối tuyên thệ sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.
4. Nghị sĩ sẽ không phải chịu trách nhiệm bên ngoài nghị viện về ý kiến chính thức đã nêu hoặc về việc bỏ phiếu của mình tại Nghị viện.
5. Không Nghị sĩ nào có thể bị bắt hoặc giam giữ mà không được sự đồng ý của với đa số 2/3 của các Nghị sĩ của Nghị viện mà Nghị sĩ đó là thành viên, ngoại trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Điều 39. Tính liêm chính và tránh xung đột lợi ích của Nghị sĩ
1. Nghị sĩ có nghĩa vụ duy trì chuẩn mực cao về liêm chính, phải ưu tiên lợi ích quốc gia và thực hiện các nhiệm vụ của mình phù hợp với lương tâm.
2. Nghị sĩ không được lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình, không được đòi hỏi các lợi ích về tài sản hay địa vị, hoặc giúp người khác thu lợi, thông qua thông đồng hay sự sắp xếp của nhà nước, các tổ chức công quyền hay các ngành công nghiệp.
3. Nghị sĩ phải khai báo tài sản của mình theo luật định.
4. Nghị sĩ, vợ hay chồng của Nghị sĩ, cũng như các doanh nghiệp do họ sở hữu hay chiếm quyền chi phối, không thể được tham dự các cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền và các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu hay chiếm quyền chi phối.
Điều 40. Tổ chức Hạ viện
1. Mỗi Hạ nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Hạ viện.
2. Mọi quyết định của Hạ viện được coi là được thông qua nếu được đa số phiếu, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.
3. Hạ viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.
4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Hạ viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Hạ viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.
5. Hạ viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể thể lập ra Văn phòng Hạ viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời
Điều 41. Tổ chức Thượng viện
1. Mỗi Thượng nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Thượng viện.
2. Mọi quyết định của Thượng viện sẽ coi là được thông qua nếu được đa số phiếu tán thành, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.
3. Thượng viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.
4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Thượng viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Thượng viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.
5. Thượng viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể lập ra Văn phòng Thượng viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời.
Điều 42. Họp Hạ viện, Thượng viện và Quốc hội
1. Trừ trường hợp Hiến pháp hay luật quy định khác, cuộc họp của Hạ viện (hay Thượng viện) là hợp lệ nếu có mặt của đa số trong tổng số Hạ nghị sĩ (hay Thượng nghị sĩ), quyết định hợp lệ được thông qua với đa số phiếu hiện diện.
2. Họp Quốc hội là phiên họp chung của Hạ viện và Thượng viện do Chủ tịch Hạ viện chủ tọa hay Chủ tịch Thượng viện chủ tọa khi Chủ tịch Hạ viện vắng mặt. Quốc hội ban hành quy chế về thủ tục, thể thức họp Quốc hội. Các quyết định của Quốc hội là các quyết định được đưa ra tại các phiên họp chung này.
3. Các cuộc họp của Hạ viện, Thượng viện, Quốc hội được mở công khai cho công chúng, trừ khi đa số thành viên có mặt quyết định, hoặc khi Chủ tịch xét thấy cần thiết vì lợi ích an ninh quốc gia thì công chúng không thể tham dự.
4. Việc công bố công khai các thủ tục của kỳ họp kín sẽ được luật quy định.
5. Biên bản cuộc họp phải đầy đủ, chi tiết, ghi rõ ý kiến và số phiếu biểu quyết của từng Nghị sĩ. Có thể đồng thời ghi âm, ghi hình cuộc họp để lưu trữ. Mọi công dân đều có quyền tiếp cận biên bản của các cuộc họp mở công khai, theo thủ tục do luật định.
Điều 43. Quyền trình dự án luật
1. Các Nghị sĩ, cơ quan hành pháp có thể đệ trình dự án luật.
2. Một nhóm ít nhất 30.000 cử tri có quyền trình dự án luật. Thủ tục về việc này do luật quy định.
3. Dự án luật phải được nộp cho Văn phòng Hạ viện.
4. Người, hay nhóm công dân bảo trợ dự án luật, khi đệ trình dự án luật cho Hạ viện, có trách nhiệm giải trình rõ các hệ quả về tài chính của việc thực thi dự án luật.
5. Người, nhóm người hay cơ quan trình dự án luật có thể rút lại dự án luật trong quá trình thẩm định và xem xét thông qua.
Điều 44. Thẩm định, thảo luận, thông qua dự luật
1. Dự án luật, dự thảo luật đã được đệ trình lên Hạ viện được gọi chung là dự luật. Dự luật phải trải qua các khâu thẩm định theo quy định của luật.
2. Hạ viện thảo luận, xem xét dự luật và biểu quyết thông qua với đa số phiếu hiện diện hay bác bỏ. Trong mọi trường hợp nghị quyết thông qua hay bác bỏ, trong vòng 3 ngày dự luật cùng hồ sơ bác bỏ hay thông qua đều phải chuyển sang Văn phòng Thượng viện.
3. Nếu Hạ viện đã thông qua dự luật thì dự luật được Thượng viện xem xét và dự luật được Thượng viện thông qua nếu đạt đa số phiếu hiện diện chấp thuận. Trong trường hợp đó dự luật đã được Quốc hội (cả 2 viện) thông qua.
4. Nếu Thượng viện bác bỏ thì trong vòng 3 ngày dự luật phải được chuyển lại cho Hạ viện cùng với nghị quyết nêu rõ lý do bác bỏ. Hạ viện sẽ xem xét lại và nếu dự luật được Hạ viện thông qua lần nữa với đa số 2/3 của các Hạ nghị sĩ thì dự luật được coi là đã được Quốc hội thông qua, nếu không đạt đa số 2/3 thì vẫn phải chuyển qua Thượng viện xem xét.
5. Trong trường hợp đặc biệt, nếu xét thấy cần, Hạ viện có thể yêu cầu Thượng viện xem xét và biểu quyết trước một dự luật, sau đó Hạ viện mới xem xét và biểu quyết. Khi đó vai trò của mỗi Viện thay thế cho nhau trong quy trình nêu trên.
6. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Thượng viện không được quá một nửa (1/2) thời gian xem xét và biểu quyết tại Hạ viện. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Hạ viện không được quá hai lần thời gian xem xét và biểu quyết tại Thượng viện.
7. Dự án luật không thể bị loại bỏ vì không được thông qua trong kỳ họp mà nó được trình ra, ngoại trừ trong trường hợp nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đã hết.
Điều 45. Dự luật trở thành luật
1. Dự luật đã được Quốc hội thông qua phải được gửi đến Tổng thống trong vòng 7 ngày.
2. Sau khi nhận được dự luật đã được Quốc hội thông qua, Tổng thống có thể chuyển dự luật cho Tòa án Hiến pháp để xét xem có phù hợp với Hiến pháp hay không. Trong trường hợp Tòa án Hiến Pháp xác minh dự luật phù hợp với Hiến pháp, nó trở thành luật. Trong trường hợp dự luật có các điều khoản cụ thể được Tòa án Hiến pháp cho là không hợp hiến và Tòa án Hiến pháp không xác định các điều khoản đó là không thể tách rời toàn bộ dự luật, thì Tổng Thống có thể loại bỏ các điều khoản được cho là vi hiến đó sau khi đã tham vấn ý kiến của Chủ tịch Hạ viện và dự luật trở thành luật với sự loại bỏ đó.
3. Trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được dự luật từ Quốc hội, nếu Tổng thống chấp thuận thì dự luật trở thành luật.
4. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, thì trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được từ Quốc hội, Tổng thống phải gửi trả lại Quốc hội xem xét lại dự luật với giải thích bằng văn bản sự phản đối, nhưng không được yêu cầu Quốc hội xem xét lại từng phần của dự luật hay đưa ra đề xuất sửa đổi.
5. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, nhưng quá thời hạn 15 ngày kể trên mà Tổng thống không trả lại dự luật cho Quốc hội, thì dự luật tự động trở thành luật.
6. Trong trường hợp Tổng thống trả dự luật lại cho Quốc hội, Quốc hội phải xem xét lại dự luật, sau đó: (a) sửa đổi theo trình tự thông thường, hoặc (b) thông qua văn bản gốc của dự luật với đa số 2/3 của các đại biểu có mặt, trường hợp này thì dự luật trở thành luật.
Điều 46. Công bố luật
1. Khi dự luật đã trở thành luật, Tổng thống phải công bố luật không chậm trễ.
2. Trong trường hợp dự luật tự động trở thành luật (theo Khoản 5 Điều 45) hay trở thành luật theo (b) Khoản 6 Điều 45, thì Tổng thống cũng phải ký công bố không chậm trễ; nếu Tổng thống vẫn không công bố thì Chủ tịch Hạ viện ký công bố và hành vi này của Tổng thống có thể trở thành căn cứ cho việc luận tội vi phạm Hiến pháp.
3. Luật được công bố trên Công báo và có hiệu lực vào ngày do luật định hoặc 30 ngày sau ngày ký công bố nếu luật không định rõ ngày có hiệu lực.
Điều 47. Ngân sách
1. Không một khoản tiền nào từ ngân sách nhà nước được chi, cho dù Cơ quan Hành pháp có yêu cầu, nếu chưa được Quốc hội thông qua.
2. Hành pháp sẽ soạn thảo dự luật ngân sách cho mỗi năm tài chính và đệ trình Hạ viện ít nhất 90 ngày trước ngày khởi đầu của năm tài chính mới.
3. Quốc hội không tăng số tiền của bất kỳ khoản chi nào, không tạo ra bất kỳ mục chi mới nào trong dự luật ngân sách nếu không có sự đồng ý của Cơ quan Hành pháp.
4. Hạ viện quyết định về dự luật ngân sách trong vòng 45 ngày kể từ ngày dự luật ngân sách được đệ trình và chuyển cho Thượng viện.
5. Thượng viện quyết định về dự luật ngân sách đã được Hạ viện chuyển qua trong vòng 20 ngày.
6. Nếu dự luật ngân sách không được thông qua trước khi bắt đầu năm tài chính mới, cơ quan Hành pháp có thể giải ngân, theo cách phù hợp với ngân sách của năm tài chính trước, cho các mục đích sau đây cho đến khi dự luật ngân sách được Quốc hội thông qua: (a) cho việc duy trì hoạt động của các cơ quan được thành lập theo Hiến pháp hay luật; (b) cho việc thực hiện các khoản chi bắt buộc theo quy định của pháp luật; và (c) cho việc tiếp tục các dự án trước đó đã được phê duyệt trong ngân sách.
7. Hạ viện và Thượng viện có thể có phiên họp chung để xem xét và quyết định về ngân sách khi thấy cần thiết.
Điều 48. Kiểm toán thu chi ngân sách
Báo cáo tài chính cuối cùng về thu chi ngân sách quốc gia sẽ được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán hàng năm và trình cho Quốc hội.
Điều 49. Thuế
Các loại và mức thuế được xác định bằng luật.
Điều 50. Nợ
Mọi kế hoạch của Cơ quan Hành pháp về phát hành trái phiếu quốc gia và ký kết hợp đồng mà có thể phát sinh nghĩa vụ tài chính ngoài ngân sách của Nhà nước đều phải được Hạ viện phê chuẩn.
Điều 51. Chất vấn
1. Hạ nghị sĩ có quyền chất vấn các Bộ trưởng bằng văn bản hoặc bằng các câu hỏi trực tiếp tại các phiên họp của Hạ viện.
2. Chất vấn bằng văn bản phải được trả lời bằng văn bản trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn.
3. Các Bộ trưởng có trách nhiệm trả lời các câu hỏi được nêu ra trong mỗi phiên họp của Hạ viện.
Điều 52. Điều trần
1. Để phục vụ cho hoạt động lập pháp, các ủy ban của Hạ viện và Thượng viện có thể tổ chức các cuộc điều trần để nghe những người có liên quan giải thích, làm rõ những vấn đề nhất định nhằm tạo cơ sở cho các quyết định lập pháp và giám sát của Quốc hội.
2. Những người được mời điều trần trước các ủy ban có thể là các Nghị sĩ, các quan chức chính phủ, lãnh đạo các tổ chức dân sự, công đoàn, các doanh nhân, chuyên gia, học giả, nhà khoa học…
3. Để chọn ra các quan chức có chất lượng, tất cả các ứng viên tiềm năng vào các chức Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ tịch hay lãnh đạo của các cơ quan hiến định đều phải điều trần trước khi được bổ nhiệm và phê chuẩn
4. Thủ tục mời và tiến hành điều trần do luật định.
5. Biên bản các cuộc điều trần được công bố công khai, trừ các cuộc điều trần liên quan đến an ninh quốc gia, và được lưu trữ theo luật định.
Điều 53. Trưng cầu dân ý toàn quốc
1. Cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có thể được tổ chức về những vấn đề đặc biệt quan trọng đối với nhân dân và quốc gia.
2. Hạ viện có thể quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Tổng thống với sự chấp thuận của Thượng viện có quyền quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Khi có yêu cầu của trên 500 ngàn cử tri thì phải tổ chức trưng cầu dân ý.
3. Kết quả của cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có tính bắt buộc nếu có hơn ½ số người có quyền bầu cử tham gia cuộc trưng cầu dân ý.
4. Các nguyên tắc và thủ tục tổ chức cuộc trưng cầu dân ý do luật định.
Điều 54. Giám sát, điều tra và bãi nhiệm
1. Hạ viện có thể giám sát công việc của nhà nước hoặc điều tra những vấn đề cụ thể của công vụ nhà nước, có quyền yêu cầu đệ trình các tài liệu trực tiếp liên quan đến các vấn đề đó, yêu cầu nhân chứng cung cấp lời khai hoặc báo cáo.
2. Dựa trên kết quả giám sát, điều tra, chất vấn và điều trần, Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Bộ trưởng.
3. Các thủ tục và các vấn đề liên quan đến giám sát và điều tra hành chính nhà nước được luật quy định.
Điều 55. Phế truất Tổng thống
1. Quyết định truy tố Tổng thống về việc vi phạm Hiến pháp hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng phải được Hạ viện thông qua bằng nghị quyết với ít nhất đa số 2/3 tổng số thành viên Hạ viện, trên cơ sở đề nghị của ít nhất 60 Hạ nghị sĩ.
2. Quyết định truy tố Tổng thống được xét xử bởi Thượng viện.
3. Từ ngày có quyết định truy tố, Tổng thống bị tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời đảm nhiệm chức vụ quyền Tổng thống. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống vô tội thì việc tạm đình chỉ nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống có tội thì Tổng thống bị phế truất.
Điều 56. Phê chuẩn điều ước quốc tế
1. Quốc hội có quyền đồng ý ký kết và phê chuẩn các điều ước quốc tế liên quan đến an ninh; các điều ước quốc tế liên quan đến các tổ chức quốc tế quan trọng; các điều ước hữu nghị, thương mại và hàng hải; các điều ước quốc tế liên quan đến bất kỳ hạn chế nào về chủ quyền; các điều ước hòa bình; các điều ước quốc tế phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng đối với Nhà nước hoặc nhân dân; và các điều ước quốc tế liên quan đến lập pháp.
2. Đại diện có thẩm quyền và được ủy quyền để ký các điều ước quốc tế chỉ được ký điều ước sau khi đã được sự đồng ý của Quốc hội.
3. Sau khi được Quốc hội phê chuẩn, Tổng thống ký công bố điều ước quốc tế và điều ước có hiệu lực.
Điều 57. Tuyên bố tình trạng chiến tranh
1. Quốc hội có quyền nhân danh Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố tình trạng chiến tranh và ký kết hiệp ước hòa bình.
2. Quốc hội chỉ có thể thông qua nghị quyết về tình trạng chiến tranh trong trường hợp có sự xâm lược quân sự đối với lãnh thổ Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời gian Quốc hội không họp, Tổng thống có thể tuyên bố tình trạng chiến tranh.

CHƯƠNG IV. HÀNH PHÁP

Điều 58. Quyền hành pháp
1. Quyền hành pháp được nhân dân ủy quyền cho Tổng thống.
2. Tổng thống Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nguyên thủ quốc gia và bảo đảm cho sự liên tục của cơ quan nhà nước.
3. Tổng thống có trách nhiệm bảo đảm việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia cũng như sự bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
4. Tổng thống thực hiện nhiệm vụ của mình trong phạm vi và theo các nguyên tắc do Hiến pháp và luật quy định.

Điều 59. Bầu Tổng thống và Phó Tổng thống
1. Tổng thống và Phó Tổng thống cùng đứng chung một liên danh, do cử tri bầu ra trong cuộc bầu cử phổ thông, bình đẳng và trực tiếp bằng phiếu kín.
2. Công dân Việt Nam đủ 35 tuổi, tính đến ngày bầu cử, và có quyền bầu cử Quốc hội, có thể là ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống. Ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống, với tư cách một liên danh chung, phải có được chữ ký ủng hộ của ít nhất 100 ngàn công dân có quyền bầu cử Quốc hội.
3. Liên danh nhận được hơn ½ tổng số phiếu bầu hợp lệ sẽ trúng cử chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống.
4. Nếu không liên danh nào nhận được đa số phiếu, thì sẽ tổ chức lại việc bỏ phiếu giữa 2 liên danh đạt số phiếu cao nhất vào ngày thứ 14 sau ngày bỏ phiếu lần thứ nhất.
5. Nếu một trong hai liên danh tham gia vòng bầu thứ hai đồng ý rút khỏi danh sách, một trong hai người trong liên danh mất quyền bầu cử hoặc chết, thì liên danh đạt phiếu cao kế tiếp trong lần bầu thứ nhất sẽ thay thế liên danh đó. Trong trường hợp này, ngày bỏ phiếu sẽ được gia hạn thêm 14 ngày.
6. Liên danh nhận được số phiếu bầu cao hơn trong lần bỏ phiếu lần thứ hai sẽ là những người được bầu làm Tổng thống và Phó Tổng thống.
7. Các nguyên tắc và thủ tục đề cử ứng cử viên Tổng thống, Phó Tổng thống cách thức tiến hành bầu cử cũng như những yêu cầu về tính hợp lệ của cuộc bầu cử Tổng thống sẽ do luật quy định.
8. Chủ Tịch Hạ viện ra quyết định tổ chức cuộc bầu cử Tổng thống không trước 120 ngày và không sau 100 ngày tính đến ngày hết nhiệm kỳ Tổng thống; trong trường hợp khuyết Tổng thống, không muộn hơn 14 ngày kể từ thời điểm bị khuyết. Quyết định tổ chức bầu cử phải quy định rõ ngày bầu cử sẽ là một ngày nghỉ trong khoảng thời gian giữa 60 đến 67 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 60. Tuyên thệ nhậm chức và nhiệm kỳ Tổng thống
1. Tại lễ nhậm chức trước Quốc hội, Tổng thống sẽ tuyên thệ như sau: “Tôi trịnh trọng tuyên thệ trước nhân dân rằng sẽ trung thành thực thi các nghĩa vụ của Tổng thống bằng việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ quốc gia, thúc đẩy tự do và thịnh vượng của nhân dân, nỗ lực bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc”.
2. Tổng thống và Phó Tổng thống có nhiệm kỳ 5 năm tính từ ngày nhậm chức. Một người không thể làm Tổng thống quá hai nhiệm kỳ.
Điều 61. Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ trước thời hạn
1. Nhiệm vụ của Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những trường hợp sau: (a) Tổng thống chết; (b) Tổng thống từ chức; (c) Tổng thống bị truất quyền; và (d) do bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài, Tổng thống không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực, trong trường hợp (d), phải được Quốc hội xác nhận với đa số ¾ tổng số Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ, sau các cuộc giám định y khoa.
2. Trong trường hợp Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ, Phó Tổng thống sẽ đảm nhận chức Tổng thống trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ.
3. Trong trường hợp khuyết Phó Tổng thống, Thượng viện bầu Phó Tổng thống mới theo đề nghị của Tổng thống.
4. Trường hợp đồng thời khuyết cả Tổng thống và Phó Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời làm quyền Tổng thống cho đến khi Quốc hội bầu ra Tổng thống và Phó Tổng thống mới, theo phương thức đa số, cho thời gian còn lại của nhiệm kỳ.
Điều 62. Thẩm quyền của Tổng thống
Tổng thống có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Hoạch định chính sách quốc gia;
2. Ký ban hành các đạo luật;
3. Ký các điều ước quốc tế, sau khi được Quốc hội phê chuẩn ký ban hành các điều ước quốc tế;
4. Bổ nhiệm các đại sứ với sự phê chuẩn của Thượng viện;
5. Tiếp nhận quốc thư, đón nhận các phái đoàn ngoại giao;
6. Tổ chức các cơ quan hành pháp theo quy định của luật;
7. Chỉ đạo hoạt động của các cơ quan hành pháp;
8. Bổ nhiệm các Bộ trưởng với sự chấp thuận của Quốc hội;
9. Bãi nhiệm các Bộ Trưởng;
10. Tổ chức các Hội đồng tư vấn;
11. Quyết định các vấn đề được luật quy định về đặc xá, giảm án, phục hồi các quyền và đại xá; 12. Trao các tước vị và danh hiệu theo các điều kiện luật định;
13. Trao quốc tịch Việt Nam;
14. Các quyền khác theo luật định.
Điều 63. Thống lĩnh tối cao các lực lượng vũ trang
1. Tổng thống Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Thống lĩnh tối cao của các lực lượng vũ trang Việt Nam.
2. Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thống phong cấp bậc quân hàm quân đội theo quy định của luật.
3. Thẩm quyền của Tổng thống về quyền thống lĩnh tối cao đối với các lực lượng vũ trang sẽ được quy định cụ thể trong luật.
Điều 64. Thủ tướng và các thành viên Chính phủ
1. Thủ tướng và các Bộ trưởng là các thành viên Chính phủ, được Tổng thống bổ nhiệm và Quốc hội phê chuẩn.
2. Thủ tướng có trách nhiệm hỗ trợ Tổng thống và điều hành các Bộ theo chỉ đạo của Tổng thống.
3. Không ai trong quân đội có thể được bổ nhiệm làm Thủ tướng trừ khi đã giải nhiệm.
4. Cơ quan công tố thuộc Bộ Tư pháp.

CHƯƠNG V. TƯ PHÁP

Điều 65. Hoạt động tư pháp
1. Quyền lực tư pháp được trao cho các tòa án, gồm các thẩm phán có trình độ chuyên môn theo luật định.
2. Các tòa án gồm: Tòa án Tối cao, tòa án các cấp khác và Tòa án Hiến pháp.
Điều 66. Tổ chức Tòa án Tối cao
1. Trong Tòa án Tối cao có Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.
2. Trong Tòa án Tối cao có thể thành lập các tòa chuyên trách.
3. Việc tổ chức Tòa án Tối cao, các tòa án chuyên trách và các tòa án khác theo luật định.
Điều 67. Thẩm phán Toà án Tối cao
1. Chánh án Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội.
2. Các Thẩm phán Tòa án Tối cao do Tổng thống bổ nhiệm theo đề xuất của Chánh án Tòa án Tối cao và với sự đồng ý của Quốc hội.
3. Các thẩm phán khác do Chánh án Tòa án Tối cao bổ nhiệm với sự đồng ý của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.
Điều 68. Nhiệm kỳ thẩm phán Toà án Tối cao
1. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án Tối cao là 6 năm và không thể được tái bổ nhiệm.
2. Nhiệm kỳ của thẩm phán của Tòa án Tối cao là 6 năm và họ có thể được tái bổ nhiệm theo quy định của luật.
3. Nhiệm kỳ của các thẩm phán ngoài Chánh án và Thẩm phán của Tòa án Tối cao là 10 năm, họ có thể được tái bổ nhiệm theo các điều kiện luật định.
4. Tuổi về hưu của các thẩm phán được luật quy định.
Điều 69. Tòa án Hiến pháp
Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền xét xử đối với các vấn đề sau đây:
1. Sự phù hợp của luật và điều ước quốc tế với Hiến pháp;
2. Sự phù hợp của các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành với Hiến pháp;
3. Sự phù hợp của mục tiêu, hoạt động của các đảng chính trị với Hiến pháp;
4. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với chính quyền địa phương và giữa các chính quyền địa phương;
5. Khiếu nại của những người cho rằng các quyền hiến định của họ đã bị xâm phạm bởi một đạo luật hay văn bản pháp luật khác trái với Hiến pháp.
Điều 70. Tổ chức Tòa án Hiến pháp
1. Tòa án Hiến pháp gồm 15 thẩm phán được Quốc hội bầu chọn trong số những người có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp có nhiệm kỳ 9 năm và không thể được bầu chọn nhiều hơn một nhiệm kỳ.
2. Chánh án và Phó Chánh án Tòa án Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm trong số các ứng cử viên do Hội đồng thẩm phán Tòa án Hiến pháp giới thiệu.
3. Tổ chức và hoạt động của Tòa án Hiến pháp được quy định trong một đạo luật.
Điều 71. Nguyên tắc độc lập
Thẩm phán các tòa án phải xét xử độc lập theo lương tâm, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Thẩm phán không được tham gia các đảng chính trị.

CHƯƠNG VI. CÁC CƠ QUAN HIẾN ĐỊNH ĐỘC LẬP

Điều 72. Các cơ quan hiến định độc lập
Các cơ quan hiến định độc lập, không phải là các cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp, bao gồm Ngân hàng Trung ương, Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban Bầu cử, Ủy ban Nhân quyền và Hội đồng Hoà giải Dân tộc.
Điều 73. Ngân hàng Trung ương
1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ngân hàng Trung ương của Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
2. Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được quy định bởi một đạo luật.Điều 74. Kiểm toán Nhà nước
1. Kiểm toán Nhà nước hoạt động theo các nguyên tắc nghề nghiệp.
2. Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các pháp nhân và tổ chức nhà nước về tính hợp pháp, tính kinh tế, hiệu quả và sự mẫn cán.
3. Kiểm toán Nhà nước trực thuộc Hạ viện và có trách nhiệm trình Hạ viện: các báo cáo phân tích việc thực hiện ngân sách và các mục tiêu của chính sách tiền tệ; ý kiến liên quan đến việc chấp thuận quyết toán ngân sách; thông tin về kết quả kiểm toán, kết luận kiểm toán và kiến nghị theo quy định của luật.
4. Chủ tịch Kiểm toán Nhà nước không được tham gia đảng chính trị hay bất cứ hoạt động công vụ nào khác không phù hợp với chức trách của mình.
5. Tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước được quy định bằng một đạo luật.
Điều 75. Ủy ban Bầu cử
1. Các Ủy ban Bầu cử được thiết lập với mục đích điều hành công bằng các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý toàn quốc, xử lý các vấn đề hành chính liên quan đến các chính đảng.
2. Ủy ban Bầu cử Trung ương gồm 3 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, 3 thành viên do Quốc hội lựa chọn và 3 thành viên do Chánh án Tòa án Tối cao lựa chọn. Các thành viên của Ủy ban thành viên bầu ra một Chủ tịch.
3. Nhiệm kỳ của thành viên Ủy ban là 6 năm.
4. Các thành viên Ủy ban không thể tham gia các đảng chính trị hoặc các hoạt động chính trị.
5. Các chiến dịch tranh cử được thực hiện dưới sự điều hành của Ủy ban Bầu cử mỗi cấp trong phạm vi luật định với nguyên tắc bảo đảm cơ hội bình đẳng cho các ứng cử viên.
6. Tổ chức, chức năng và các vấn đề quan trọng khác của Ủy ban Bầu cử Trung ương và Ủy ban Bầu cử các cấp sẽ do luật quy định.
Điều 76. Ủy ban Nhân quyền
1. Ủy ban Nhân quyền là một cơ quan độc lập, có vai trò thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 và trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ủy ban Nhân quyền do Hạ viện thành lập với sự đồng thuận của Thượng viện, gồm 9 thành viên, có sự tham gia của đại diện nhiều thành phần xã hội.
2. Ủy ban Nhân quyền có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a. Giáo dục và nâng cao nhận thức của công chúng, công chức và viên chức về quyền con người;
b. Tư vấn cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội về các vấn đề liên quan đến quyền con người;
c. Nghiên cứu, đề xuất việc gia nhập các điều ước quốc tế về quyền con người;
d. Nhận các khiếu nại về các vi phạm các quyền được quy định tại tại Hiến pháp này hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
3. Thành viên Ủy ban Nhân quyền không giữ bất kỳ chức vụ nào khác, trừ chức vụ giảng viên đại học, cũng không thực hiện bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào khác. Các thành viên cũng không được tham gia đảng chính trị nào, không thực hiện các nhiệm vụ công không phù hợp với chức trách của mình.
4. Phương thức tổ chức và hoạt động của Ủy ban Nhân quyền sẽ được quy định bởi một đạo luật.
Điều 77. Hội đồng Hoà giải Dân tộc
1. Hội đồng Hoà giải Dân tộc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hận, hướng đến việc khắc phục các sai lầm trong quá khứ, nhằm mang lại công bằng, đoàn kết dân tộc, phát huy các năng lực của người Việt Nam trên toàn thế giới.
2. Hội đồng Hoà giải Dân tộc gồm 19 thành viên do Hạ viện bổ nhiệm với sự đồng thuận của Thượng viện. Năm (5) thành viên đến từ mỗi khu vực miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam và bốn (4) thành viên thuộc cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
3. Hội đồng Hoà giải Dân tộc có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a. Nghiên cứu, xác định lại giá trị pháp lý của các luật, điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trong quá khứ ban hành, ký kết trái thẩm quyền hoặc gây hại nghiêm trọng cho quốc dân. Đề xuất với Quốc hội các giải pháp khắc phục các sai lầm quá khứ.
b. Tập hợp thông tin, đề nghị trả tự do, tổ chức việc đối thoại, xin lỗi, bồi thường cho những người đã từng bị xử phạt, điều tra, truy tố, xét xử oan, chỉ vì lý do họ đã có những hành động nhằm thúc đẩy dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, nhằm bảo vệ các quyền con người, hoặc chỉ để thực thi các quyền tự do của mình.
c. Nghiên cứu, trình Quốc hội các chính sách, dự án luật có thể khắc phục những sai lầm khác của các chế độ trong quá khứ nhằm hoà giải và hòa hợp dân tộc.
4. Hội đồng Hoà giải Dân tộc sẽ được Hạ viện giải tán sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ.

CHƯƠNG VII. TỰ QUẢN ĐỊA PHƯƠNG

Điều 78. Chính quyền địa phương
1. Chính quyền địa phương thực hiện các công vụ địa phương, tức là các công vụ không được quy định trong Hiến pháp và trong các đạo luật về các cơ quan khác của Nhà nước. Các công vụ địa phương do nhân dân của địa phương đó tự đề ra. Chính quyền địa phương giải quyết các vấn đề hành chính liên quan đến an sinh của dân cư địa phương, quản lý tài sản và có thể đề ra các quy định liên quan đến tự chủ địa phương trong phạm vi luật định.
2. Chính quyền địa phương ở mỗi cấp có thể có một hội đồng và bộ máy hành chính nhà nước cấp địa phương.
3. Hội đồng địa phương do dân địa phương bầu và có quyền quy định về các công vụ địa phương.
4. Trong địa phương mình, bộ máy hành chính thực thi các công vụ được quy định trong Hiến pháp, luật và các công vụ địa phương. Người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương do nhân dân địa phương đó trực tiếp bầu ra.
5. Xã là đơn vị cơ sở của chính quyền địa phương, nơi dân chủ trực tiếp được thực hiện ở mức cao nhất trong các cấp chính quyền.
6. Chính quyền đô thị được luật quy định.
7. Các loại chính quyền địa phương do luật định
Điều 79. Tổ chức Chính quyền địa phương
Việc tổ chức và thẩm quyền của chính quyền địa phương, thủ tục bầu các thành viên hội đồng (nếu có) và người đứng đầu chính quyền địa phương và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương sẽ do luật định theo nguyên tắc chính quyền cấp càng thấp thì việc áp dụng dân chủ trực tiếp càng cao.

CHƯƠNG VIII. SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Điều 80. Thủ tục sửa đổi Hiến pháp
1. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp có thể được trình bởi các chủ thể sau: ít nhất 1/5 số Hạ nghị sĩ theo luật định, Thượng viện, hoặc Tổng thống.
2. Nếu Tổng thống trình dự luật sửa đổi Hiến pháp thì dự luật không được thay đổi các điều khoản liên quan đến Tổng thống trong Hiến pháp hiện hành.
3. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được thực hiện bởi một đạo luật được Hạ viện thông qua và sau đó được Thượng viện thông qua với cùng nội dung trong thời hạn 60 ngày.
4. Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Hạ viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Hạ nghị sĩ theo luật định; Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Thượng viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Thượng nghị sĩ theo luật định.
5. Trong vòng 60 ngày kể từ khi Dự luật sửa đổi Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua phải tổ chức trưng cầu dân ý để nhân dân phúc quyết.

CHƯƠNG IX. ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN ĐỔI

Điều 81. Hiệu lực Hiến pháp và quy định chuyển đổi
1. Hiến pháp này có hiệu lực sau 100 ngày kể từ ngày được nhân dân phúc quyết thông qua.
2. Trong vòng 100 ngày sau khi Hiến pháp có hiệu lực, Quốc hội hiện hành (đã thông qua Hiến pháp) phải căn cứ vào đó ban hành các luật mới về bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng thống. Các cuộc bầu cử Hạ viện, Thượng viện và Tổng thống đầu tiên được tổ chức theo quy định của các luật đó trong vòng 180 ngày từ khi luật có hiệu lực.
3. Chính phủ, trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, phải rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành, đệ trình để Quốc hội sửa đổi các quy định trái với Hiến pháp và ban hành các luật mới nhằm thực thi Hiến pháp.

4. Trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, pháp luật đang có hiệu lực vào thời điểm Hiến pháp được Quốc hội thông qua vẫn còn giá trị. Sau thời hạn 2 năm này, tất cả các quy định trái với Hiến pháp này đều trở nên vô hiệu, các quy định khác vẫn còn giá trị.

Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2013
Giám đốc Công ty Hỗ trợ Phát triển và Hội nhập Toàn Cầu

 
 
 
TS Trần Nhơn
Email: 3d@trannhon.com – Di động: 0989 889 686

Địa chỉ: 189 – Chùa Bộc, Đống Đa – Hà Nội

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

(Do Công ty Hỗ trợ Phát triển và Hội nhập Toàn Cầu đề xuất, lấy nguyên bản dự thảo của Kiến nghị 72 làm nền tảng: thêm những chữ thiếu, bỏ những chữ thừa)
 
LỜI NÓI ĐẦU
 
Kế tiếp nền văn hiến và truyền thống bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã dựng xây và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì tự do và độc lập của dân tộc,
vì một xã hội công bằng, dân chủ và tôn trọng pháp quyền, vì mục tiêu hạnh phúc và tự do của các thế hệ hiện tại và tương lai,
chúng tôi, nhân dân Việt Nam, thông qua các đại diện của mình, xây dựng bản Hiến pháp này.


CHƯƠNG I. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

 
Điều 1. Chủ quyền quốc gia
Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.
Điều 2. Chủ quyền nhân dân
Chủ quyền Việt Nam thuộc về nhân dân và tất cả các quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân. Quyền lập hiến là thể hiện cao nhất chủ quyền nhân dân, gồm quyền sáng kiến lập hiến, quyền tham gia góp ý trong quá trình dự thảo Hiến Pháp và cuối cùng là quyền biểu quyết thông qua trưng cầu dân ý. một quyền không thể bị tước đoạt của nhân dân.
 
Điều 3. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, có quyền phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

4.   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, hội nhập vào sự phát triển chung của đất nước.


Điều 4. Công dân
1. Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được luật quy định.
2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam, giao nộp cho nhà nước khác.
3. Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài.
4. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
5. Người gốc Việt Nam có quốc tịch nước khác hoặc chưa có quốc tịch nước nào có quyền có quốc tịch Việt Nam.
6. Địa vị của người nước ngoài được đảm bảo theo quy định của luật pháp quốc tế và điều ước quốc tế.
Điều 5. Các điều ước quốc tế
1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt thừa nhận, kế thừa và tôn trọng các điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trước đây ký kết và ban hành không trái với các hiến pháp tương ứng và các quy tắc chung được luật pháp quốc tế công nhận vào thời điểm đó.
2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố nào mà các chính quyền Việt Nam trước đây đã ký kết hoặc đưa ra một cách bí mật, không đúng thẩm quyền hoặc không đúng theo các thủ tục pháp luật vào thời điểm đó.
3. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố do bất cứ đảng phái chính trị, tổ chức phi nhà nước hay cá nhân nào đã ký kết hoặc đưa ra, một cách bí mật hay công khai, liên quan đến chủ quyền hay lãnh thổ Việt Nam.
Điều 6. Tôn trọng hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân
1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt nỗ lực duy trì hòa bình quốc tế và từ bỏ chiến tranh xâm lược.
2. Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và giữ gìn an ninh quốc gia là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn thể nhân dân Việt Nam.
3. Các lực lượng vũ trang được trao sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.
4. Các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân, Tổ quốc lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào. 

Điều 7. Tính chất dân sự của lực lượng cảnh sát
Lực lượng cảnh sát có sứ mệnh thực thi luật pháp và giữ gìn trật tự. Cảnh sát thuộc lĩnh vực dân sự, không thuộc về các lực lượng vũ trang.
 
Điều 8. Trách nhiệm của công chức
1. Công chức là công bộc của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
2. Địa vị và tính trung lập chính trị của công chức được đảm bảo theo quy định của pháp luật.Điều 9. Đảng phái chính trị
1. Các đảng phái chính trị được tự do thành lập và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ. Quyền đối lập chính trị được tôn trọng.
2. Pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các đảng phái chính trị.

Điều 10. Nền kinh tế quốc dân

1. Nền kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt dựa trên sự tôn trọng tự do và sáng kiến của các doanh nghiệp và cá nhân trong đời sống kinh tế.
2. Nhà nước có thể quy định và điều phối các hoạt động kinh tế nhằm duy trì sự tăng trưởng cân bằng, bền vững và ổn định, nhằm phân phối thu nhập hợp lý, ngăn chặn sự thống lĩnh thị trường và lạm quyền kinh tế.
3. Nhà nước có nghĩa vụ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế để có nền kinh tế quốc gia cân đối. Nhà nước thúc đẩy kinh tế bằng việc phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực và khuyến khích sáng tạo.

 

Điều 11. Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô

Quốc hội chuẩn bị đề án quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô, trình nhân dân phúc quyết.
1. Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
2. Quốc huy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
3. Quốc ca nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca”.
4. Ngày Quốc khánh là Ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.
5. Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Hà Nội.CHƯƠNG II. QUYỀN CON NGƯỜI,
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
 
Điều 12. Nguyên tắc tôn trọng các quyền con người
1. Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòaĐại Việt tôn trọng và bảo vệ các quyền con ngườiđược ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế (1948) và các điều ước quốc tế về quyền con người khác mà Việt Nam là thành viên, được tôn trọng và bảo vệ.
2. Các cơ quan nhà nước, công chức và viên chức có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy phát huy các quyền con người trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.Điều 13. Quyền bình đẳng
1. Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào dựa vào giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các yếu tố khác.
2. Các nhóm thiểu số được ưu tiên bảo vệ.Điều 14. Quyền sống, tự do và an toàn cá nhân
Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân. Quyền sống trong một môi trường trong lành của mọi người phải được tôn trọng và bảo vệ.
 
Điều 15. Tự do không bị làm nô lệ
Không ai bị bắt làm nô lệ hoặc bị cưỡng bức làm việc như nô lệ. Mọi hình thức nô lệ và buôn bán người đều bị cấm.
 
Điều 16. Quyền không bị tra tấn và các quyền trong lĩnh vực tư pháp hình sự
1. Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.
2. Không ai bị bắt, giữ hay giam giữ một cách tuỳ tiện. Trong vòng 24 giờ kể từ khi bị bắt, người bị bắt phải được đưa ra trước một tòa án để xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ việc bắt giữ.
3. Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên toà xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình.
4. Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi nào không cấu thành một tội phạm hình sự theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi đó. Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện.Điều 17. Quyền được tòa án bảo vệ và quyền được xét xử công bằng
1. Mọi người đều có quyền được các toà án có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.
2. Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng, công khai bởi một toà án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ.Điều 18. Bảo vệ danh dự, uy tín và quyền riêng tư
1. Danh dự và uy tín cá nhân của mọi người được tôn trọng.
2. Cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở và thư tín của mọi người được tôn trọng.Điều 19. Quyền tự do đi lại và tự do cư trú
1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia.
2. Mọi người đều có quyền rời khỏi và quyền trở về Việt Nam.
 
Điều 20. Quyền kết hôn
1. Mọi người khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo hay giới tính.
2. Việc kết hôn chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai.
 
Điều 21. Quyền sở hữu
1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản tư nhân hoặc sở hữu chung với người khác. Không ai bị tước đoạt tài sản một cách tuỳ tiện.
2. Đất đai có thể thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng hoặc sở hữu nhà nước.Điều 22. Tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo
Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.
 
Điều 23. Tự do ngôn luận, biểu tình, hội họp và lập hội
1. Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến bằng mọi hình thức. Tư nhân có quyền ra báo, xuất bản.
2. Mọi người đều có quyền tự do biểu tình, hội họp một cách ôn hoà.
3. Mọi người đều có quyền tự do lập hội. Không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ tổ chức nào.
 
Điều 24. Quyền tham gia chính trị
Mọi công dân đều có quyền tham gia quản lý đất nước, một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu mà họ tự do lựa chọn trong các cuộc bầu cử.
 
Điều 25. Quyền hưởng an sinh xã hội
Mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội.
 
Điều 26. Quyền lao động và nghiệp đoàn
1. Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp.
2. Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
3. Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm.
4. Mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình.
5. Quyền đình công của người lao động được bảo đảm bằng luật.
 
Điều 27. Quyền có mức sống thích đáng
1. Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, góa bụa, già hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ.
2. Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Mọi trẻ em, dù sinh ra trong hay ngoài giá thú, đều phải được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 28. Quyền học tập
Mọi người đều có quyền học tập. Giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí.

Điều 29. Quyền về văn hóa
1. Mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích xuất phát từ những tiến bộ khoa học.
2. Mọi người đều có quyền được bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật nào mà người đó là tác giả.
 
Điều 30. Bảo vệ người tiêu dùng
Nhà nước phải có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
 
Điều 31. Nguyên tắc chung của nghĩa vụ
Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng. Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.
 
Điều 31. Nghĩa vụ nộp thuế
Mọi công dân có nghĩa vụ nộp thuế theo các điều kiện luật định.
 
Điều 32. Bảo vệ Tổ quốc và tri ân những người có công
1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng. Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đại Việt ghi nhận và tôn vinh công lao của tất cả những người đã hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc, ghi nhận và tôn vinh công lao của các thương binh, các cựu chiến binh bất luận họ đã phục vụ trong chính thể nào trong quá khứ và có chính sách hỗ trợ họ trong giáo dục, đào tạo nghề và trong mưu sinh.Điều 33. Nghĩa vụ quân sự
Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia lực lượng vũ trang dự bị theo luật định.
 
CHƯƠNG III. LẬP PHÁP
 
Điều 34. Quốc hội
1. Quyền lập pháp được nhân dân ủy quyền cho Quốc hội. Quốc hội bao gồm Hạ viện và Thượng viện.
2. Thành viên của Quốc hội là các nghị sĩ, gồm Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ. Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ do nhân dân bầu ra thông qua bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
3. Không ai có thể đồng thời là Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ.
4. Quốc hội có quyền lập pháp, phê chuẩn việc bổ nhiệm lãnh đạo các cơ quan hành pháp, bổ nhiệm các thẩm phán, lãnh đạo các cơ quan hiến định độc lập theo quy định của Hiến pháp và luật. 
 
Điều 35. Hạ nghị sĩ
1. Các Hạ nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và có thể được bầu lại.
2. Mỗi đơn vị bầu cử được bầu 1 (một) Hạ nghị sĩ.
3. Đơn vị bầu cử Hạ nghị sĩ gồm các đơn vị hành chính cơ sở (cấp xã) nằm trong một vùng sao cho các đơn vị có dân số xấp xỉ ngang nhau.
4. Số đơn vị bầu cử của một đơn vị hành chính cấp tỉnh được tính bằng số nguyên làm tròn của con số được tính bằng dân số của đơn vị cấp tỉnh đó (theo tổng điều tra dân số gần nhất) nhân với 250 rồi chia cho dân số toàn quốc. Một đơn vị hành chính cấp tỉnh có ít nhất một đơn vị bầu cử.
5. Mọi công dân đủ 25 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Hạ nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử nếu:(a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.
6. Tuy các Hạ nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước. 
 
Điều 36. Thượng nghị sĩ
1. Các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và có thể được bầu lại.
2. Mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) là một đơn vị bầu cử Thượng nghị sĩ.
3. Mọi công dân đủ 30 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Thượng nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử Thượng nghị sĩ nếu: (a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.
4. Số Thượng nghị sĩ mà mỗi đơn vị được bầu cử là 2. Đối với những tỉnh có người dân tộc thiểu số quá 20 % dân số tỉnh đó, thì bắt buộc phải có 1 Thượng nghị sĩ là người dân tộc thiểu số.
5. Trong lần bầu Thượng nghị sĩ đầu tiên, mỗi đơn vị bầu cử, bằng bốc thăm, chọn ra 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm, sao cho cứ 3 năm sẽ tiến hành bầu lại một nửa số Thượng nghị sĩ của Thượng viện.
6. Tuy các Thượng nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước.
 
Điều 37. Bầu cử Thượng viện và Hạ viện
1. Việc bầu cử toàn bộ các Hạ nghị sĩ và các Thượng nghị sĩ lần đầu tiên theo Hiến Pháp này được tiến hành trong vòng 100 ngày kể từ ngày bản Hiến pháp có hiệu lực.
2. Nghị sĩ hết nhiệm kỳ vào ngày tính đúng 36 tháng đối với các Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ được bầu lần đầu có nhiệm kỳ 3 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức; vào ngày tính đúng 72 tháng đối với các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức.
3. Trong vòng 100 ngày trước khi các Nghị sĩ hết nhiệm kỳ, phải tổ chức bầu cử các Nghị sĩ mới cho nhiệm kỳ tiếp theo. Nếu đơn vị bầu cử không hội đủ số người đắc cử theo quy định thì phải tổ chức bầu lại từ các ứng viên thất cử của đợt bầu trước đó trong vòng 15 ngày sau khi cuộc bầu cử trước kết thúc. (Các) đợt bầu cử lại này được tiến hành cho đến khi chọn đủ số người đắc cử theo quy định và trong mọi trường hợp phải kết thúc trước ngày các Nghị sĩ đương nhiệm hết nhiệm kỳ 15 ngày.
4. Nếu khuyết Nghị sĩ vì bất cứ lý do gì, thì (a) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại dưới 1 năm sẽ không có bầu cử bổ sung; hoặc (b) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại bằng hay trên 1 năm phải tổ chức bầu bổ sung tại đơn vị bầu cử đó cho đủ số bị khuyết trong vòng 60 ngày kể từ khi các Viện xác nhận sự khuyết. Nhiệm kỳ của người được bầu bổ sung sẽ chấm dứt cùng với nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đương nhiệm.
5. Thủ tục ứng cử, tranh cử, bầu cử được quy định chi tiết trong luật bầu cử.
 
Điều 38. Sự chuyên trách, tuyên thệ và quyền miễn trừ của Nghị sĩ
1. Trong khi đương nhiệm các Nghị sĩ không được đồng thời giữ bất kỳ chức vụ nào khác tại bất kỳ cơ quan, tổ chức công hay tư, trong các lực lượng vũ trang hay cảnh sát. Nếu đã giữ các chức vụ như vậy trước khi được bầu làm Nghị sĩ thì phải chính thức từ nhiệm các chức vụ đó trước khi thực hiện nhiệm vụ Nghị sĩ và việc từ chối từ nhiệm sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.
2. Các Nghị sĩ được trả lương từ Ngân khố quốc gia.
3. Các Nghị sĩ, trước khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, sẽ phải tuyên thệ trước mỗi Viện: “ Tôi long trọng tuyên thệ thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách mẫn cán và tận tâm, để bảo vệ chủ quyền và các lợi ích của nhân dân và đất nước; làm mọi việc trong thẩm quyền của mình vì sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc của nhân dân; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” Việc từ chối tuyên thệ sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.
4. Nghị sĩ sẽ không phải chịu trách nhiệm bên ngoài nghị viện về ý kiến chính thức đã nêu hoặc về việc bỏ phiếu của mình tại Nghị viện.
5. Không Nghị sĩ nào có thể bị bắt hoặc giam giữ mà không được sự đồng ý của với đa số 2/3 của các Nghị sĩ của Nghị viện mà Nghị sĩ đó là thành viên, ngoại trừ trường hợp phạm tội quả tang.
 
Điều 39. Tính liêm chính và tránh xung đột lợi ích của Nghị sĩ
1. Nghị sĩ có nghĩa vụ duy trì chuẩn mực cao về liêm chính, phải ưu tiên lợi ích quốc gia và thực hiện các nhiệm vụ của mình phù hợp với lương tâm.
2. Nghị sĩ không được lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình, không được đòi hỏi các lợi ích về tài sản hay địa vị, hoặc giúp người khác thu lợi, thông qua thông đồng hay sự sắp xếp của nhà nước, các tổ chức công quyền hay các ngành công nghiệp.
3. Nghị sĩ phải khai báo tài sản của mình theo luật định.
4. Nghị sĩ, vợ hay chồng của Nghị sĩ, cũng như các doanh nghiệp do họ sở hữu hay chiếm quyền chi phối, không thể được tham dự các cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền và các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu hay chiếm quyền chi phối. 
 
Điều 40. Tổ chức Hạ viện
1. Mỗi Hạ nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Hạ viện.
2. Mọi quyết định của Hạ viện được coi là được thông qua nếu được đa số phiếu, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.
3. Hạ viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.
4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Hạ viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Hạ viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.
5. Hạ viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể thể lập ra Văn phòng Hạ viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời 
 
Điều 41. Tổ chức Thượng viện
1. Mỗi Thượng nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Thượng viện.
2. Mọi quyết định của Thượng viện sẽ coi là được thông qua nếu được đa số phiếu tán thành, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.
3. Thượng viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.
4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Thượng viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Thượng viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.
5. Thượng viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể lập ra Văn phòng Thượng viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời. 
 
Điều 42. Họp Hạ viện, Thượng viện và Quốc hội
1. Trừ trường hợp Hiến pháp hay luật quy định khác, cuộc họp của Hạ viện (hay Thượng viện) là hợp lệ nếu có mặt của đa số trong tổng số Hạ nghị sĩ (hay Thượng nghị sĩ), quyết định hợp lệ được thông qua với đa số phiếu hiện diện.
2. Họp Quốc hội là phiên họp chung của Hạ viện và Thượng viện do Chủ tịch Hạ viện chủ tọa hay Chủ tịch Thượng viện chủ tọa khi Chủ tịch Hạ viện vắng mặt. Quốc hội ban hành quy chế về thủ tục, thể thức họp Quốc hội. Các quyết định của Quốc hội là các quyết định được đưa ra tại các phiên họp chung này.
3. Các cuộc họp của Hạ viện, Thượng viện, Quốc hội được mở công khai cho công chúng, trừ khi đa số thành viên có mặt quyết định, hoặc khi Chủ tịch xét thấy cần thiết vì lợi ích an ninh quốc gia thì công chúng không thể tham dự.
4. Việc công bố công khai các thủ tục của kỳ họp kín sẽ được luật quy định.
5. Biên bản cuộc họp phải đầy đủ, chi tiết, ghi rõ ý kiến và số phiếu biểu quyết của từng Nghị sĩ. Có thể đồng thời ghi âm, ghi hình cuộc họp để lưu trữ. Mọi công dân đều có quyền tiếp cận biên bản của các cuộc họp mở công khai, theo thủ tục do luật định. 
 
Điều 43. Quyền trình dự án luật
1. Các Nghị sĩ, cơ quan hành pháp có thể đệ trình dự án luật.
2. Một nhóm ít nhất 30.000 cử tri có quyền trình dự án luật. Thủ tục về việc này do luật quy định.
3. Dự án luật phải được nộp cho Văn phòng Hạ viện.
4. Người, hay nhóm công dân bảo trợ dự án luật, khi đệ trình dự án luật cho Hạ viện, có trách nhiệm giải trình rõ các hệ quả về tài chính của việc thực thi dự án luật.
5. Người, nhóm người hay cơ quan trình dự án luật có thể rút lại dự án luật trong quá trình thẩm định và xem xét thông qua.
 
Điều 44. Thẩm định, thảo luận, thông qua dự luật
1. Dự án luật, dự thảo luật đã được đệ trình lên Hạ viện được gọi chung là dự luật. Dự luật phải trải qua các khâu thẩm định theo quy định của luật.
2. Hạ viện thảo luận, xem xét dự luật và biểu quyết thông qua với đa số phiếu hiện diện hay bác bỏ. Trong mọi trường hợp nghị quyết thông qua hay bác bỏ, trong vòng 3 ngày dự luật cùng hồ sơ bác bỏ hay thông qua đều phải chuyển sang Văn phòng Thượng viện.
3. Nếu Hạ viện đã thông qua dự luật thì dự luật được Thượng viện xem xét và dự luật được Thượng viện thông qua nếu đạt đa số phiếu hiện diện chấp thuận. Trong trường hợp đó dự luật đã được Quốc hội (cả 2 viện) thông qua.
4. Nếu Thượng viện bác bỏ thì trong vòng 3 ngày dự luật phải được chuyển lại cho Hạ viện cùng với nghị quyết nêu rõ lý do bác bỏ. Hạ viện sẽ xem xét lại và nếu dự luật được Hạ viện thông qua lần nữa với đa số 2/3 của các Hạ nghị sĩ thì dự luật được coi là đã được Quốc hội thông qua, nếu không đạt đa số 2/3 thì vẫn phải chuyển qua Thượng viện xem xét.
5. Trong trường hợp đặc biệt, nếu xét thấy cần, Hạ viện có thể yêu cầu Thượng viện xem xét và biểu quyết trước một dự luật, sau đó Hạ viện mới xem xét và biểu quyết. Khi đó vai trò của mỗi Viện thay thế cho nhau trong quy trình nêu trên.
6. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Thượng viện không được quá một nửa (1/2) thời gian xem xét và biểu quyết tại Hạ viện. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Hạ viện không được quá hai lần thời gian xem xét và biểu quyết tại Thượng viện.
7. Dự án luật không thể bị loại bỏ vì không được thông qua trong kỳ họp mà nó được trình ra, ngoại trừ trong trường hợp nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đã hết. 
 
Điều 45. Dự luật trở thành luật
1. Dự luật đã được Quốc hội thông qua phải được gửi đến Tổng thống trong vòng 7 ngày.
2. Sau khi nhận được dự luật đã được Quốc hội thông qua, Tổng thống có thể chuyển dự luật cho Tòa án Hiến pháp để xét xem có phù hợp với Hiến pháp hay không. Trong trường hợp Tòa án Hiến Pháp xác minh dự luật phù hợp với Hiến pháp, nó trở thành luật. Trong trường hợp dự luật có các điều khoản cụ thể được Tòa án Hiến pháp cho là không hợp hiến và Tòa án Hiến pháp không xác định các điều khoản đó là không thể tách rời toàn bộ dự luật, thì Tổng Thống có thể loại bỏ các điều khoản được cho là vi hiến đó sau khi đã tham vấn ý kiến của Chủ tịch Hạ viện và dự luật trở thành luật với sự loại bỏ đó.
3. Trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được dự luật từ Quốc hội, nếu Tổng thống chấp thuận thì dự luật trở thành luật.
4. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, thì trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được từ Quốc hội, Tổng thống phải gửi trả lại Quốc hội xem xét lại dự luật với giải thích bằng văn bản sự phản đối, nhưng không được yêu cầu Quốc hội xem xét lại từng phần của dự luật hay đưa ra đề xuất sửa đổi.
5. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, nhưng quá thời hạn 15 ngày kể trên mà Tổng thống không trả lại dự luật cho Quốc hội, thì dự luật tự động trở thành luật.
6. Trong trường hợp Tổng thống trả dự luật lại cho Quốc hội, Quốc hội phải xem xét lại dự luật, sau đó: (a) sửa đổi theo trình tự thông thường, hoặc (b) thông qua văn bản gốc của dự luật với đa số 2/3 của các đại biểu có mặt, trường hợp này thì dự luật trở thành luật. 
 
Điều 46. Công bố luật
1. Khi dự luật đã trở thành luật, Tổng thống phải công bố luật không chậm trễ.
2. Trong trường hợp dự luật tự động trở thành luật (theo Khoản 5 Điều 45) hay trở thành luật theo (b) Khoản 6 Điều 45, thì Tổng thống cũng phải ký công bố không chậm trễ; nếu Tổng thống vẫn không công bố thì Chủ tịch Hạ viện ký công bố và hành vi này của Tổng thống có thể trở thành căn cứ cho việc luận tội vi phạm Hiến pháp.
3. Luật được công bố trên Công báo và có hiệu lực vào ngày do luật định hoặc 30 ngày sau ngày ký công bố nếu luật không định rõ ngày có hiệu lực. 
 
Điều 47. Ngân sách
1. Không một khoản tiền nào từ ngân sách nhà nước được chi, cho dù Cơ quan Hành pháp có yêu cầu, nếu chưa được Quốc hội thông qua.
2. Hành pháp sẽ soạn thảo dự luật ngân sách cho mỗi năm tài chính và đệ trình Hạ viện ít nhất 90 ngày trước ngày khởi đầu của năm tài chính mới.
3. Quốc hội không tăng số tiền của bất kỳ khoản chi nào, không tạo ra bất kỳ mục chi mới nào trong dự luật ngân sách nếu không có sự đồng ý của Cơ quan Hành pháp.
4. Hạ viện quyết định về dự luật ngân sách trong vòng 45 ngày kể từ ngày dự luật ngân sách được đệ trình và chuyển cho Thượng viện.
5. Thượng viện quyết định về dự luật ngân sách đã được Hạ viện chuyển qua trong vòng 20 ngày.
6. Nếu dự luật ngân sách không được thông qua trước khi bắt đầu năm tài chính mới, cơ quan Hành pháp có thể giải ngân, theo cách phù hợp với ngân sách của năm tài chính trước, cho các mục đích sau đây cho đến khi dự luật ngân sách được Quốc hội thông qua: (a) cho việc duy trì hoạt động của các cơ quan được thành lập theo Hiến pháp hay luật; (b) cho việc thực hiện các khoản chi bắt buộc theo quy định của pháp luật; và (c) cho việc tiếp tục các dự án trước đó đã được phê duyệt trong ngân sách.
7. Hạ viện và Thượng viện có thể có phiên họp chung để xem xét và quyết định về ngân sách khi thấy cần thiết. 
 
Điều 48. Kiểm toán thu chi ngân sách
Báo cáo tài chính cuối cùng về thu chi ngân sách quốc gia sẽ được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán hàng năm và trình cho Quốc hội. 
 
Điều 49. Thuế
Các loại và mức thuế được xác định bằng luật. 
 
Điều 50. Nợ
Mọi kế hoạch của Cơ quan Hành pháp về phát hành trái phiếu quốc gia và ký kết hợp đồng mà có thể phát sinh nghĩa vụ tài chính ngoài ngân sách của Nhà nước đều phải được Hạ viện phê chuẩn. 
 
Điều 51. Chất vấn
1. Hạ nghị sĩ có quyền chất vấn các Bộ trưởng bằng văn bản hoặc bằng các câu hỏi trực tiếp tại các phiên họp của Hạ viện.
2. Chất vấn bằng văn bản phải được trả lời bằng văn bản trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn.
3. Các Bộ trưởng có trách nhiệm trả lời các câu hỏi được nêu ra trong mỗi phiên họp của Hạ viện. 
 
Điều 52. Điều trần
1. Để phục vụ cho hoạt động lập pháp, các ủy ban của Hạ viện và Thượng viện có thể tổ chức các cuộc điều trần để nghe những người có liên quan giải thích, làm rõ những vấn đề nhất định nhằm tạo cơ sở cho các quyết định lập pháp và giám sát của Quốc hội.
2. Những người được mời điều trần trước các ủy ban có thể là các Nghị sĩ, các quan chức chính phủ, lãnh đạo các tổ chức dân sự, công đoàn, các doanh nhân, chuyên gia, học giả, nhà khoa học…
3. Để chọn ra các quan chức có chất lượng, tất cả các ứng viên tiềm năng vào các chức Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ tịch hay lãnh đạo của các cơ quan hiến định đều phải điều trần trước khi được bổ nhiệm và phê chuẩn
4. Thủ tục mời và tiến hành điều trần do luật định.
5. Biên bản các cuộc điều trần được công bố công khai, trừ các cuộc điều trần liên quan đến an ninh quốc gia, và được lưu trữ theo luật định.
 
Điều 53. Trưng cầu dân ý toàn quốc
1. Cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có thể được tổ chức về những vấn đề đặc biệt quan trọng đối với nhân dân và quốc gia.
2. Hạ viện có thể quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Tổng thống với sự chấp thuận của Thượng viện có quyền quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Khi có yêu cầu của trên 500 ngàn cử tri thì phải tổ chức trưng cầu dân ý.
3. Kết quả của cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có tính bắt buộc nếu có hơn ½ số người có quyền bầu cử tham gia cuộc trưng cầu dân ý.
4. Các nguyên tắc và thủ tục tổ chức cuộc trưng cầu dân ý do luật định. 
 
Điều 54. Giám sát, điều tra và bãi nhiệm
1. Hạ viện có thể giám sát công việc của nhà nước hoặc điều tra những vấn đề cụ thể của công vụ nhà nước, có quyền yêu cầu đệ trình các tài liệu trực tiếp liên quan đến các vấn đề đó, yêu cầu nhân chứng cung cấp lời khai hoặc báo cáo.
2. Dựa trên kết quả giám sát, điều tra, chất vấn và điều trần, Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Bộ trưởng.
3. Các thủ tục và các vấn đề liên quan đến giám sát và điều tra hành chính nhà nước được luật quy định. 
 
Điều 55. Phế truất Tổng thống
1. Quyết định truy tố Tổng thống về việc vi phạm Hiến pháp hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng phải được Hạ viện thông qua bằng nghị quyết với ít nhất đa số 2/3 tổng số thành viên Hạ viện, trên cơ sở đề nghị của ít nhất 60 Hạ nghị sĩ.
2. Quyết định truy tố Tổng thống được xét xử bởi Thượng viện.
3. Từ ngày có quyết định truy tố, Tổng thống bị tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời đảm nhiệm chức vụ quyền Tổng thống. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống vô tội thì việc tạm đình chỉ nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống có tội thì Tổng thống bị phế truất. 
 
Điều 56. Phê chuẩn điều ước quốc tế
1. Quốc hội có quyền đồng ý ký kết và phê chuẩn các điều ước quốc tế liên quan đến an ninh; các điều ước quốc tế liên quan đến các tổ chức quốc tế quan trọng; các điều ước hữu nghị, thương mại và hàng hải; các điều ước quốc tế liên quan đến bất kỳ hạn chế nào về chủ quyền; các điều ước hòa bình; các điều ước quốc tế phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng đối với Nhà nước hoặc nhân dân; và các điều ước quốc tế liên quan đến lập pháp.
2. Đại diện có thẩm quyền và được ủy quyền để ký các điều ước quốc tế chỉ được ký điều ước sau khi đã được sự đồng ý của Quốc hội.
3. Sau khi được Quốc hội phê chuẩn, Tổng thống ký công bố điều ước quốc tế và điều ước có hiệu lực.
 
Điều 57. Tuyên bố tình trạng chiến tranh
1. Quốc hội có quyền nhân danh Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố tình trạng chiến tranh và ký kết hiệp ước hòa bình.
2. Quốc hội chỉ có thể thông qua nghị quyết về tình trạng chiến tranh trong trường hợp có sự xâm lược quân sự đối với lãnh thổ Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời gian Quốc hội không họp, Tổng thống có thể tuyên bố tình trạng chiến tranh.
 
CHƯƠNG IV. HÀNH PHÁP
 
Điều 58. Quyền hành pháp
1. Quyền hành pháp được nhân dân ủy quyền cho Tổng thống.
2. Tổng thống Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nguyên thủ quốc gia và bảo đảm cho sự liên tục của cơ quan nhà nước.
3. Tổng thống có trách nhiệm bảo đảm việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia cũng như sự bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
4. Tổng thống thực hiện nhiệm vụ của mình trong phạm vi và theo các nguyên tắc do Hiến pháp và luật quy định.

Điều 59. Bầu Tổng thống và Phó Tổng thống
1. Tổng thống và Phó Tổng thống cùng đứng chung một liên danh, do cử tri bầu ra trong cuộc bầu cử phổ thông, bình đẳng và trực tiếp bằng phiếu kín.
2. Công dân Việt Nam đủ 35 tuổi, tính đến ngày bầu cử, và có quyền bầu cử Quốc hội, có thể là ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống. Ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống, với tư cách một liên danh chung, phải có được chữ ký ủng hộ của ít nhất 100 ngàn công dân có quyền bầu cử Quốc hội.
3. Liên danh nhận được hơn ½ tổng số phiếu bầu hợp lệ sẽ trúng cử chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống.
4. Nếu không liên danh nào nhận được đa số phiếu, thì sẽ tổ chức lại việc bỏ phiếu giữa 2 liên danh đạt số phiếu cao nhất vào ngày thứ 14 sau ngày bỏ phiếu lần thứ nhất.
5. Nếu một trong hai liên danh tham gia vòng bầu thứ hai đồng ý rút khỏi danh sách, một trong hai người trong liên danh mất quyền bầu cử hoặc chết, thì liên danh đạt phiếu cao kế tiếp trong lần bầu thứ nhất sẽ thay thế liên danh đó. Trong trường hợp này, ngày bỏ phiếu sẽ được gia hạn thêm 14 ngày.
6. Liên danh nhận được số phiếu bầu cao hơn trong lần bỏ phiếu lần thứ hai sẽ là những người được bầu làm Tổng thống và Phó Tổng thống.
7. Các nguyên tắc và thủ tục đề cử ứng cử viên Tổng thống, Phó Tổng thống cách thức tiến hành bầu cử cũng như những yêu cầu về tính hợp lệ của cuộc bầu cử Tổng thống sẽ do luật quy định.
8. Chủ Tịch Hạ viện ra quyết định tổ chức cuộc bầu cử Tổng thống không trước 120 ngày và không sau 100 ngày tính đến ngày hết nhiệm kỳ Tổng thống; trong trường hợp khuyết Tổng thống, không muộn hơn 14 ngày kể từ thời điểm bị khuyết. Quyết định tổ chức bầu cử phải quy định rõ ngày bầu cử sẽ là một ngày nghỉ trong khoảng thời gian giữa 60 đến 67 ngày kể từ ngày ra quyết định. 
 
Điều 60. Tuyên thệ nhậm chức và nhiệm kỳ Tổng thống
1. Tại lễ nhậm chức trước Quốc hội, Tổng thống sẽ tuyên thệ như sau: “Tôi trịnh trọng tuyên thệ trước nhân dân rằng sẽ trung thành thực thi các nghĩa vụ của Tổng thống bằng việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ quốc gia, thúc đẩy tự do và thịnh vượng của nhân dân, nỗ lực bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc”.
2. Tổng thống và Phó Tổng thống có nhiệm kỳ 5 năm tính từ ngày nhậm chức. Một người không thể làm Tổng thống quá hai nhiệm kỳ. 
 
Điều 61. Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ trước thời hạn
1. Nhiệm vụ của Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những trường hợp sau: (a) Tổng thống chết; (b) Tổng thống từ chức; (c) Tổng thống bị truất quyền; và (d) do bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài, Tổng thống không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực, trong trường hợp (d), phải được Quốc hội xác nhận với đa số ¾ tổng số Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ, sau các cuộc giám định y khoa.
2. Trong trường hợp Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ, Phó Tổng thống sẽ đảm nhận chức Tổng thống trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ.
3. Trong trường hợp khuyết Phó Tổng thống, Thượng viện bầu Phó Tổng thống mới theo đề nghị của Tổng thống.
4. Trường hợp đồng thời khuyết cả Tổng thống và Phó Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời làm quyền Tổng thống cho đến khi Quốc hội bầu ra Tổng thống và Phó Tổng thống mới, theo phương thức đa số, cho thời gian còn lại của nhiệm kỳ. 
 
Điều 62. Thẩm quyền của Tổng thống
Tổng thống có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Hoạch định chính sách quốc gia;
2. Ký ban hành các đạo luật;
3. Ký các điều ước quốc tế, sau khi được Quốc hội phê chuẩn ký ban hành các điều ước quốc tế;
4. Bổ nhiệm các đại sứ với sự phê chuẩn của Thượng viện;
5. Tiếp nhận quốc thư, đón nhận các phái đoàn ngoại giao;
6. Tổ chức các cơ quan hành pháp theo quy định của luật;
7. Chỉ đạo hoạt động của các cơ quan hành pháp;
8. Bổ nhiệm các Bộ trưởng với sự chấp thuận của Quốc hội;
9. Bãi nhiệm các Bộ Trưởng;
10. Tổ chức các Hội đồng tư vấn;
11. Quyết định các vấn đề được luật quy định về đặc xá, giảm án, phục hồi các quyền và đại xá; 12. Trao các tước vị và danh hiệu theo các điều kiện luật định;
13. Trao quốc tịch Việt Nam;
14. Các quyền khác theo luật định. 
 
Điều 63. Thống lĩnh tối cao các lực lượng vũ trang
1. Tổng thống Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Thống lĩnh tối cao của các lực lượng vũ trang Việt Nam.
2. Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thống phong cấp bậc quân hàm quân đội theo quy định của luật.
3. Thẩm quyền của Tổng thống về quyền thống lĩnh tối cao đối với các lực lượng vũ trang sẽ được quy định cụ thể trong luật.
 
Điều 64. Thủ tướng và các thành viên Chính phủ
1. Thủ tướng và các Bộ trưởng là các thành viên Chính phủ, được Tổng thống bổ nhiệm và Quốc hội phê chuẩn.
2. Thủ tướng có trách nhiệm hỗ trợ Tổng thống và điều hành các Bộ theo chỉ đạo của Tổng thống.
3. Không ai trong quân đội có thể được bổ nhiệm làm Thủ tướng trừ khi đã giải nhiệm.
4. Cơ quan công tố thuộc Bộ Tư pháp.
CHƯƠNG V. TƯ PHÁP
 
Điều 65. Hoạt động tư pháp
1. Quyền lực tư pháp được trao cho các tòa án, gồm các thẩm phán có trình độ chuyên môn theo luật định.
2. Các tòa án gồm: Tòa án Tối cao, tòa án các cấp khác và Tòa án Hiến pháp.
 
Điều 66. Tổ chức Tòa án Tối cao
1. Trong Tòa án Tối cao có Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.
2. Trong Tòa án Tối cao có thể thành lập các tòa chuyên trách.
3. Việc tổ chức Tòa án Tối cao, các tòa án chuyên trách và các tòa án khác theo luật định.
 
Điều 67. Thẩm phán Toà án Tối cao
1. Chánh án Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội.
2. Các Thẩm phán Tòa án Tối cao do Tổng thống bổ nhiệm theo đề xuất của Chánh án Tòa án Tối cao và với sự đồng ý của Quốc hội.
3. Các thẩm phán khác do Chánh án Tòa án Tối cao bổ nhiệm với sự đồng ý của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.
 
Điều 68. Nhiệm kỳ thẩm phán Toà án Tối cao
1. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án Tối cao là 6 năm và không thể được tái bổ nhiệm.
2. Nhiệm kỳ của thẩm phán của Tòa án Tối cao là 6 năm và họ có thể được tái bổ nhiệm theo quy định của luật.
3. Nhiệm kỳ của các thẩm phán ngoài Chánh án và Thẩm phán của Tòa án Tối cao là 10 năm, họ có thể được tái bổ nhiệm theo các điều kiện luật định.
4. Tuổi về hưu của các thẩm phán được luật quy định.
 
Điều 69. Tòa án Hiến pháp
Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền xét xử đối với các vấn đề sau đây:
1. Sự phù hợp của luật và điều ước quốc tế với Hiến pháp;
2. Sự phù hợp của các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành với Hiến pháp;
3. Sự phù hợp của mục tiêu, hoạt động của các đảng chính trị với Hiến pháp;
4. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với chính quyền địa phương và giữa các chính quyền địa phương;
5. Khiếu nại của những người cho rằng các quyền hiến định của họ đã bị xâm phạm bởi một đạo luật hay văn bản pháp luật khác trái với Hiến pháp.
 
Điều 70. Tổ chức Tòa án Hiến pháp
1. Tòa án Hiến pháp gồm 15 thẩm phán được Quốc hội bầu chọn trong số những người có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp có nhiệm kỳ 9 năm và không thể được bầu chọn nhiều hơn một nhiệm kỳ.
2. Chánh án và Phó Chánh án Tòa án Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm trong số các ứng cử viên do Hội đồng thẩm phán Tòa án Hiến pháp giới thiệu.
3. Tổ chức và hoạt động của Tòa án Hiến pháp được quy định trong một đạo luật.
 
Điều 71. Nguyên tắc độc lập
Thẩm phán các tòa án phải xét xử độc lập theo lương tâm, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Thẩm phán không được tham gia các đảng chính trị.
CHƯƠNG VI. CÁC CƠ QUAN HIẾN ĐỊNH ĐỘC LẬP
 
Điều 72. Các cơ quan hiến định độc lập
Các cơ quan hiến định độc lập, không phải là các cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp, bao gồm Ngân hàng Trung ương, Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban Bầu cử, Ủy ban Nhân quyền và Hội đồng Hoà giải Dân tộc.
 
Điều 73. Ngân hàng Trung ương
1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ngân hàng Trung ương của Cộng hòa Đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
2. Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được quy định bởi một đạo luật.Điều 74. Kiểm toán Nhà nước
1. Kiểm toán Nhà nước hoạt động theo các nguyên tắc nghề nghiệp.
2. Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các pháp nhân và tổ chức nhà nước về tính hợp pháp, tính kinh tế, hiệu quả và sự mẫn cán.
3. Kiểm toán Nhà nước trực thuộc Hạ viện và có trách nhiệm trình Hạ viện: các báo cáo phân tích việc thực hiện ngân sách và các mục tiêu của chính sách tiền tệ; ý kiến liên quan đến việc chấp thuận quyết toán ngân sách; thông tin về kết quả kiểm toán, kết luận kiểm toán và kiến nghị theo quy định của luật.
4. Chủ tịch Kiểm toán Nhà nước không được tham gia đảng chính trị hay bất cứ hoạt động công vụ nào khác không phù hợp với chức trách của mình.
5. Tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước được quy định bằng một đạo luật.
 
Điều 75. Ủy ban Bầu cử
1. Các Ủy ban Bầu cử được thiết lập với mục đích điều hành công bằng các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý toàn quốc, xử lý các vấn đề hành chính liên quan đến các chính đảng.
2. Ủy ban Bầu cử Trung ương gồm 3 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, 3 thành viên do Quốc hội lựa chọn và 3 thành viên do Chánh án Tòa án Tối cao lựa chọn. Các thành viên của Ủy ban thành viên bầu ra một Chủ tịch.
3. Nhiệm kỳ của thành viên Ủy ban là 6 năm.
4. Các thành viên Ủy ban không thể tham gia các đảng chính trị hoặc các hoạt động chính trị.
5. Các chiến dịch tranh cử được thực hiện dưới sự điều hành của Ủy ban Bầu cử mỗi cấp trong phạm vi luật định với nguyên tắc bảo đảm cơ hội bình đẳng cho các ứng cử viên.
6. Tổ chức, chức năng và các vấn đề quan trọng khác của Ủy ban Bầu cử Trung ương và Ủy ban Bầu cử các cấp sẽ do luật quy định.
 
Điều 76. Ủy ban Nhân quyền
1. Ủy ban Nhân quyền là một cơ quan độc lập, có vai trò thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 và trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ủy ban Nhân quyền do Hạ viện thành lập với sự đồng thuận của Thượng viện, gồm 9 thành viên, có sự tham gia của đại diện nhiều thành phần xã hội.
2. Ủy ban Nhân quyền có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a. Giáo dục và nâng cao nhận thức của công chúng, công chức và viên chức về quyền con người;
b. Tư vấn cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội về các vấn đề liên quan đến quyền con người;
c. Nghiên cứu, đề xuất việc gia nhập các điều ước quốc tế về quyền con người;
d. Nhận các khiếu nại về các vi phạm các quyền được quy định tại tại Hiến pháp này hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
3. Thành viên Ủy ban Nhân quyền không giữ bất kỳ chức vụ nào khác, trừ chức vụ giảng viên đại học, cũng không thực hiện bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào khác. Các thành viên cũng không được tham gia đảng chính trị nào, không thực hiện các nhiệm vụ công không phù hợp với chức trách của mình.
4. Phương thức tổ chức và hoạt động của Ủy ban Nhân quyền sẽ được quy định bởi một đạo luật.
 
Điều 77. Hội đồng Hoà giải Dân tộc
1. Hội đồng Hoà giải Dân tộc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hận, hướng đến việc khắc phục các sai lầm trong quá khứ, nhằm mang lại công bằng, đoàn kết dân tộc, phát huy các năng lực của người Việt Nam trên toàn thế giới.
2. Hội đồng Hoà giải Dân tộc gồm 19 thành viên do Hạ viện bổ nhiệm với sự đồng thuận của Thượng viện. Năm (5) thành viên đến từ mỗi khu vực miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam và bốn (4) thành viên thuộc cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
3. Hội đồng Hoà giải Dân tộc có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a. Nghiên cứu, xác định lại giá trị pháp lý của các luật, điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trong quá khứ ban hành, ký kết trái thẩm quyền hoặc gây hại nghiêm trọng cho quốc dân. Đề xuất với Quốc hội các giải pháp khắc phục các sai lầm quá khứ.
b. Tập hợp thông tin, đề nghị trả tự do, tổ chức việc đối thoại, xin lỗi, bồi thường cho những người đã từng bị xử phạt, điều tra, truy tố, xét xử oan, chỉ vì lý do họ đã có những hành động nhằm thúc đẩy dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, nhằm bảo vệ các quyền con người, hoặc chỉ để thực thi các quyền tự do của mình.
c. Nghiên cứu, trình Quốc hội các chính sách, dự án luật có thể khắc phục những sai lầm khác của các chế độ trong quá khứ nhằm hoà giải và hòa hợp dân tộc.
4. Hội đồng Hoà giải Dân tộc sẽ được Hạ viện giải tán sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ.
 
CHƯƠNG VII. TỰ QUẢN ĐỊA PHƯƠNG
 
Điều 78. Chính quyền địa phương
1. Chính quyền địa phương thực hiện các công vụ địa phương, tức là các công vụ không được quy định trong Hiến pháp và trong các đạo luật về các cơ quan khác của Nhà nước. Các công vụ địa phương do nhân dân của địa phương đó tự đề ra. Chính quyền địa phương giải quyết các vấn đề hành chính liên quan đến an sinh của dân cư địa phương, quản lý tài sản và có thể đề ra các quy định liên quan đến tự chủ địa phương trong phạm vi luật định.
2. Chính quyền địa phương ở mỗi cấp có thể có một hội đồng và bộ máy hành chính nhà nước cấp địa phương.
3. Hội đồng địa phương do dân địa phương bầu và có quyền quy định về các công vụ địa phương.
4. Trong địa phương mình, bộ máy hành chính thực thi các công vụ được quy định trong Hiến pháp, luật và các công vụ địa phương. Người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương do nhân dân địa phương đó trực tiếp bầu ra.
5. Xã là đơn vị cơ sở của chính quyền địa phương, nơi dân chủ trực tiếp được thực hiện ở mức cao nhất trong các cấp chính quyền.
6. Chính quyền đô thị được luật quy định.
7. Các loại chính quyền địa phương do luật định
 
Điều 79. Tổ chức Chính quyền địa phương
Việc tổ chức và thẩm quyền của chính quyền địa phương, thủ tục bầu các thành viên hội đồng (nếu có) và người đứng đầu chính quyền địa phương và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương sẽ do luật định theo nguyên tắc chính quyền cấp càng thấp thì việc áp dụng dân chủ trực tiếp càng cao.
CHƯƠNG VIII. SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
 
Điều 80. Thủ tục sửa đổi Hiến pháp
1. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp có thể được trình bởi các chủ thể sau: ít nhất 1/5 số Hạ nghị sĩ theo luật định, Thượng viện, hoặc Tổng thống.
2. Nếu Tổng thống trình dự luật sửa đổi Hiến pháp thì dự luật không được thay đổi các điều khoản liên quan đến Tổng thống trong Hiến pháp hiện hành.
3. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được thực hiện bởi một đạo luật được Hạ viện thông qua và sau đó được Thượng viện thông qua với cùng nội dung trong thời hạn 60 ngày.
4. Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Hạ viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Hạ nghị sĩ theo luật định; Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Thượng viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Thượng nghị sĩ theo luật định.
5. Trong vòng 60 ngày kể từ khi Dự luật sửa đổi Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua phải tổ chức trưng cầu dân ý để nhân dân phúc quyết.
 
CHƯƠNG IX. ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN ĐỔI
 
Điều 81. Hiệu lực Hiến pháp và quy định chuyển đổi
1. Hiến pháp này có hiệu lực sau 100 ngày kể từ ngày được nhân dân phúc quyết thông qua.
2. Trong vòng 100 ngày sau khi Hiến pháp có hiệu lực, Quốc hội hiện hành (đã thông qua Hiến pháp) phải căn cứ vào đó ban hành các luật mới về bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng thống. Các cuộc bầu cử Hạ viện, Thượng viện và Tổng thống đầu tiên được tổ chức theo quy định của các luật đó trong vòng 180 ngày từ khi luật có hiệu lực.
3. Chính phủ, trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, phải rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành, đệ trình để Quốc hội sửa đổi các quy định trái với Hiến pháp và ban hành các luật mới nhằm thực thi Hiến pháp.

4. Trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, pháp luật đang có hiệu lực vào thời điểm Hiến pháp được Quốc hội thông qua vẫn còn giá trị. Sau thời hạn 2 năm này, tất cả các quy định trái với Hiến pháp này đều trở nên vô hiệu, các quy định khác vẫn còn giá trị.

Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2013
Giám đốc Công ty Hỗ trợ Phát triển và Hội nhập Toàn Cầu

 
 
 
 
 
 
TS Trần Nhơn
Email: 3d@trannhon.com – Di động: 0989 889 686

Địa chỉ: 189 – Chùa Bộc, Đống Đa – Hà Nội

Thương mại Việt-Trung : càng gia tăng, càng mất cân đối ?

Thanh Phương, RFI, 16/10/13

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20131016-thuong-mai-viet-trung-cang-gia-tang-cang-mat-can-doi

Dự án đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông (Hà Nội), do Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc cấp vốn và tổng thầu, và một bộ phận của Viện Nghiên cứu Thiết kế Công trình Đường sắt Bắc Kinh giám sát xây dựng. (DR)

Dự án đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông (Hà Nội), do Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc cấp vốn và tổng thầu, và một bộ phận của Viện Nghiên cứu Thiết kế Công trình Đường sắt Bắc Kinh giám sát xây dựng. (DR)

Bản tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhằm « phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước trong thời kỳ mới », được công bố ngày hôm qua trong chuyến viếng thăm của thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, đã đề ra mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên tới 60 tỷ đôla năm 2015. Khi gặp các lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam tại Hà Nội hôm qua, thủ tướng  Lý Khắc Cường còn đi xa hơn khi tuyên bố là hai nước sẽ đạt mục tiêu nâng trao đổi mậu dịch lên mức 100 tỷ đôla vào năm 2017.

Những chỉ tiêu nói trên được đề ra trong bối cảnh mà trong trao đổi mậu dịch với Trung Quốc, Việt Nam bị thâm hụt thương mại ngày càng nặng nề. Từ 9 năm qua, Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Năm 2012, kim ngạch thương mại hai chiều Việt-Trung đạt hơn 41 tỷ đôla, nhưng với cán cân nghiêng hẳn về phía Trung Quốc (Việt Nam phải nhập siêu tới hơn 16 tỷ đôla). Cụ thể, theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2012, Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất tới Việt Nam (với giá trị gần 29 tỷ đôla), nhưng chỉ là thị trường nhập khẩu lớn thứ ba của Việt Nam (với hơn 12 tỷ đôla ). Như vậy là trong vòng 10 năm, thâm hụt mậu dịch của Việt Nam với Trung Quốc đã tăng hàng chục lần mới, từ mức 210 triệu đôla năm 2001 lên đến hơn 16 tỷ đôla năm 2012.

Theo các số liệu do báo chí Trung Quốc đưa ra, chỉ riêng trong 8 tháng đầu năm nay, kim ngạch thương mại hai chiều đã vượt hơn 40 tỷ đôla, tức là đang có chiều hướng gia tăng, với nguy cơ là thâm hụt mậu dịch từ phía Việt Nam cũng tăng theo.

Trong bản tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc đưa ra ngày hôm qua, hai nước đã cam kết thi hành các biện pháp để « thúc đẩy cân bằng thương mại song phương ». Riêng phía Trung Quốc thì cam kết sẽ khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng nhập khẩu hàng hóa có tính cạnh tranh của Việt Nam, ủng hộ doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam đầu tư kinh doanh, đồng thời sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp Việt Nam sang Trung Quốc mở rộng thị trường.

Nhưng những cam kết nói trên, cho dù có được thực hiện, chưa chắc là sẽ đủ để giảm bớt tình trạng mất cân đối trong trao đổi mậu dịch Việt-Trung, một khi mà những nguyên nhân của tình trạng này chưa được giải quyết.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng nhập siêu là do có đến 85% hàng nhập khẩu của Việt Nam là nguyên liệu đầu vào nhập từ Trung Quốc và các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của Trung Quốc. Các doanh nghiệp trong nước cũng thường có xu hướng chọn mua máy móc thiết bị của Trung Quốc, vì giá rẻ hơn.

Đặc biệt, trong những năm gần đây, Trung Quốc liên tục trúng thầu các công trình và dự án lớn, thường được thực hiện theo hình thức EPC, có nghĩa là các nhà thầu Trung Quốc làm trọn gói từ khâu thiết kế, mua sắm thiết bị đến xây dựng, còn các chủ đầu tư trong nước làm công đoạn cuối là vận hành và sử dụng, và dĩ nhiên là nhà thầu Trung Quốc nhập máy móc thiết bị từ nước họ.

Ngoài ra, các mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta như giày dép, dệt may… thì lại không thể xâm nhập được thị trường Trung Quốc, do họ cũng đang có lợi thế so sánh ở các mặt hàng này, cho nên Việt Nam chỉ có thể xuất sang các thị trường châu Âu hoặc Hoa Kỳ.

Tóm lại, viễn cảnh gia tăng kim ngạch thương mại với Trung Quốc là một thách thức lớn đối với Việt Nam, với nguy cơ là thâm hụt mậu dịch với Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng và kinh tế Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào láng giềng phương Bắc.

Trở ngại nào cho các tổ chức xã hội dân sự ở VN?

Hòa Ái, phóng viên RFA.  2013-10-16

 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/prevents-civil-society-in-vn-ha-10162013160633.html

hoaai10162013.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

xhds-1-305.jpg

Ba bạn trẻ Phạm Trần Quân, Trương Quỳnh Như và Bùi Thị Diện, chụp ảnh tại Philippines khi đang theo học về Xã hội dân sự hồi đầu tháng 10. Citizen photo

Các tổ chức xã hội dân sự ở VN ngày càng đóng vai trò tích cực và phát triển mạnh mẽ. Thế nhưng, mới đây, nhóm thanh niên tham dự khóa học về tổ chức dân sự ở Philippines lần lượt bị bắt giữ ở sân bay khi vừa về nước. Những diễn biến này ảnh hưởng như thế nào đến các hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự trong nước?

Không tôn trọng nhân quyền

Vụ việc 12 thanh niên tham dự khóa học “nghiên cứu Xã hội Dân sự” ở Philippines lần lượt bị bắt giữ ở các sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất trong những ngày đầu tháng 10 gây sự chú ý đặc biệt cho người dân trong nước. Ngay sau khi 9 thanh niên bị bắt giữ hôm mùng 5 và 6/10 được thả ra, Tổ chức phi chính phủ Asian Bridge-Tổ chức Nhịp cầu Châu Á, đơn vị tổ chức khóa học, ra thông cáo báo chí yêu cầu chính quyền VN nên tôn trọng các quyền cơ bản của người dân trong việc tự do đi lại và học tập về sự phát triển xã hội dân sự ở các quốc gia khác trong khu vực. Mặc dù có sự lên tiếng của Tổ chức Asian Bridge, vẫn có thêm 3 thanh niên nữa bị bắt giữ tại sân bay sau đó.

Những Hội hoạt động phục vụ cho dân sinh, phục vụ cho nghề nghiệp thì rất nhiều nhưng những Hội đó mang tính chất có tôn chỉ, mục đích chống lại Nhà nước VN thì Nhà nước không cho phép.
-LS Nguyễn Văn Hậu

Mối quan tâm của dư luận về vụ việc này không chỉ dừng lại khi 12 thanh niên được cho về nhà mà mối quan tâm lại hướng về hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự như thế nào sẽ bị cấm đoán hay gặp trở ngại tại VN? Trong cuộc trao đổi với Hòa Ái, Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM, cho biết pháp luật VN quy định rất rõ khi 1 tổ chức xã hội dân sự muốn thành lập thì cần phải đáp ứng các điều kiện như ai là sáng lập viên; tôn chỉ, mục đích, điều lệ của tổ chức là gì; thành phần ban sáng lập và hội viên gồm những ai; nguồn tài chính hoạt động từ đâu có; phương thức hoạt động có lợi nhuận hay phi lợi nhuận…. Luật sư Nguyễn Văn Hậu nhấn mạnh:

“Mỗi tổ chức và cá nhân có một quyền thành lập ‘Hội’ nhưng ‘Hội’ đó không được chống lại Nhà nước, không được gây rối trật tự. Hiện nay những ‘Hội’ hoạt động phục vụ cho dân sinh, phục vụ cho nghề nghiệp thì rất nhiều nhưng những ‘Hội’ đó mang tính chất có tôn chỉ, mục đích chống lại Nhà nước VN thì Nhà nước không cho phép”.

Dù hiện tại các tổ chức nghề nghiệp ở VN như Hội Nông dân, Hội Nghề cá, Hội Nhiếp ảnh, Hội Tin học và rất nhiều hội nghề nghiệp khác được hình thành và hoạt động mạnh mẽ, thế nhưng gần 90 triệu người dân trong nước vẫn không có nhiều thông tin về các tổ chức xã hội dân sự được hình thành nhằm mục đích hỗ trợ tích cực cho đời sống dân sinh. Những người quan tâm đến vụ việc 12 thanh niên tham dự khóa học “nghiên cứ Xã hội Dân sự” ở Philippines bị bắt giữ khi trở về VN tỏ ra hoang mang, không hiểu vì sao các tổ chức xã hội dân sự được khuyến khích phát triển mà người dân tìm hiểu, học hỏi kiến thức liên quan lại gặp trở ngại với chính quyền?

16-305.jpg
Các Bloggers có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất để yêu cầu trả tự do cho những học viên đã đi học xã hội dân sự ở Philippines trở về còn bị tạm giữ hôm 6/10/2013.

Bạn Khúc Thừa Sơn, ở Đà Nẵng, vừa học xong ở Philippines, nói với đài ACTD về nội dung khóa học bao gồm “khái quát cơ bản về xã hội dân sự’, “truyền thông báo chí phải trung thực, tôn trọng độc giả, không bẻ cong ngòi bút” và “an toàn bảo mật thông tin cá nhân trong thời đại công nghệ thông tin”. Bạn Sơn chia sẻ nội dung nổi bật trong khóa học là muốn xây dựng 1 xã hội dân sự thì phải có con người với tư tưởng dân sự, không nên vô cảm, nên yêu thương lẫn nhau. Bạn Sơn kể lại:

“Trong buổi học, có 1 số diễn giả và học viên quan tâm đến vấn đề nóng bỏng ở VN như nạn tham nhũng, trưng thu đất đai. Họ đưa ra vấn đề này thảo luận nhằm mục đích tìm giải pháp để khi về nước, góp ý với Đảng và Nhà nước VN với mong muốn tốt đẹp hơn cho đất nước. Hoàn toàn không mang tính tiêu cực giống như khi Sơn và 1 số bạn bị phía cơ quan An ninh nói là ‘đem những tiêu cực xấu về nhằm tuyên truyền chống phá Nhà nước’ này kia. Không có chuyện này”.

Bạn Sơn còn cho biết thêm trong số những bạn thanh niên bị bắt giữ, có người bị cơ quan An ninh đánh đập và hăm dọa. Bạn Sơn nói rằng những người thẩm vấn điều tra “luôn xoáy sâu vào vấn đề tham gia vào 1 tổ chức phản động hoặc về nước lập bè, nhóm để chống phá Nhà nước. Nhưng Sơn nói là ‘Không. Chúng tôi tham gia khóa học chứ không tham gia tổ chức đó’”.

Không độc lập đúng nghĩa

Để tìm câu trả lời vì sao lại có sự mâu thuẫn khi trên thực tế các tổ chức dân sự ở VN đã hình thành và đang trên đà khẳng định vai trò của nó trong việc thúc đẩy tiến bộ xã hội mà người dân khi nhiệt tình tham gia vào các hoạt động xã hội dân sự lại “mang họa vào thân” như bạn thanh niên Khúc Thừa Sơn, Tiến sĩ Xã hội học Trịnh Hòa Bình phân tích:

Tính chất của các tổ chức dân sự của VN còn lệ thuộc ít nhiều vào cơ chế về tính chất quản lý của hệ thống Nhà nước. Thực tiễn là tính chất chưa đạt được mức độ độc lập đúng nghĩa.
-TS Trịnh Hòa Bình

“Tính chất của các tổ chức dân sự của VN còn lệ thuộc ít nhiều vào cơ chế về tính chất quản lý của hệ thống Nhà nước. Thực tiễn là tính chất chưa đạt được mức độ độc lập đúng nghĩa của nó. Dẫu sao cũng đang trên con đường hình thành vai trò mỗi ngày 1 lớn hơn và có sự bổ sung cần thiết trong hệ thống quản lý chính thống”.

Qua thông tin về quy định hiện hành của pháp luật VN mà Luật sư Nguyễn Văn Hậu cung cấp và nhận định của TS. Trịnh Hòa Bình về sự gò bó, hạn hẹp trong các hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự ở VN do hệ thống quản lý của Nhà nước hiện nay cùng sự lo lắng, nghi ngờ về các “tổ chức phản động, thế lực thù địch” từ bên ngoài chống phá chính quyền thực sự là lực cản cho xu hướng phát triển xã hội tiến bộ, văn minh của VN.

Tổ chức Asian Bridge lên tiếng rằng cả Phlippines và VN đều là thành viên của ASEAN, hoạt động với phương châm “Một Tầm nhìn, Một Bản sắc, Một Cộng đồng”. Vì thế, chính phủ các quốc gia trong khối ASEAN, trong đó có VN, nên khuyến khích công dân tìm hiểu thêm về lịch sử và xã hội của các nước khác để hoàn thành được nhiệm vụ của khối ASEAN.

Là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, VN phải hòa nhập vào xu hướng chung trong khu vực cho mục tiêu xây dựng một “Cộng đồng đoàn kết, vững mạnh và hướng tới người dân”. Để đạt được như vậy, các tổ chức xã hội dân sự ở VN cần được phát huy tối đa chức năng hoạt động của mình với sự hưởng ứng tham gia của lực lượng thanh niên năng động, đầy nhiệt huyết trên tinh thần “Tổ quốc VN là của toàn thể nhân dân VN chứ không phải thuộc cá nhân, tổ chức hay nhóm lợi ích nào. Cho nên việc gìn giữ, bảo vệ, xây dựng và phát triển Tổ quốc VN giàu mạnh là trách nhiệm chung của tất cả mọi người dân”.

Hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung

Vũ Hoàng, phóng viên RFA.  2013-10-16

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/compr-stra-coop-vn-china-10162013132909.html

10162013-compr-stra-coop-vn-china-2.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (phải) và Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng xem xét các vệ sĩ danh dự trong một buổi lễ chào đón tại Phủ Chủ tịch tại Hà Nội ngày 13 tháng 10 năm 2013.

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (phải) và Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng duyệt đoàn vệ sĩ danh dự trong một buổi lễ chào đón tại Phủ Chủ tịch tại Hà Nội ngày 13 tháng 10 năm 2013. AFP

Nghe bài này

Trong chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến VN vừa mới kết thúc hôm 15/10, hai quốc gia đã ra tuyên bố chung 10 điểm về Hợp tác chiến lược toàn diện Việt Trung. Trong đó những điểm hợp tác về kinh tế được giới nghiên cứu VN quan tâm, để có thêm góc nhìn về vấn đề này, mời quí vị nghe cuộc trao đổi của Vũ Hoàng với T.S Vũ Ngọc Xuân, giảng viên kinh tế trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân. Trước hết, đánh giá chung về bản tuyên bố này, T.S Vũ Ngọc Xuân cho biết:

Lần này sang thăm vừa ý nghĩa về kinh tế vừa ý nghĩa về chính trị. Lãnh đạo của hai bên dưới góc độ là láng giềng tốt, gác tranh chấp để cùng đạt được lợi ích về kinh tế. Chẳng hạn, những vùng bây giờ không còn tranh chấp biên giới, hoặc những vùng như Vịnh Bắc Bộ hay những vùng nào chồng lấn sẽ cùng hợp tác khai thác. Còn những tranh chấp ở khu vực Biển Đông, những nơi nào tranh chấp khó sẽ đàm phán song phương và giải quyết sau.

Hợp tác kinh tế Việt – Trung

Một mặt, Trung Quốc ngoài hợp tác về kinh tế giúp VN phát triển cơ sở hạ tầng và năng lượng thì cũng mang tính chất xoa dịu những tranh chấp giữa đôi bên, nâng mối quan hệ lên tầm chiến lược do ý nghĩa đặc thù về chính trị giữa hai quốc gia có nhiều nét tương đồng. Cho nên, Đảng và Nhà nước hai nước tăng cường mối quan hệ cả về lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa. Chẳng hạn, việc thành lập trung tâm văn hóa của Trung Quốc tại Việt Nam.

Vũ Hoàng: Trong bản tuyên bố này, ông đánh giá ra sao về các điểm kinh tế nhất là tuyên bố chung về thương mại hai chiều 60 tỷ đô la vào năm 2015?

T.S Vũ Ngọc Xuân: Thứ nhất là thương mại song phương, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc khoảng 11 đến 14 tỷ đô la những năm gần đây, xu hướng hợp tác trong tương lai là giảm nhập siêu từ Trung Quốc. Kim ngạch 60 tỷ đô la ở đây là tính trên cả xuất khẩu và nhập khẩu. Trung Quốc chủ yếu vẫn xuất khẩu vào Việt Nam, còn Việt Nam xuất những nông sản hoặc khoáng sản sang Trung Quốc.

Hàng ngàn container hàng hóa đợi làm thủ tục ở cửa khẩu Cốc Nam, Lạng Sơn
Hàng ngàn container hàng hóa đợi làm thủ tục ở cửa khẩu Cốc Nam, Lạng Sơn

Trung Quốc ngoài hợp tác về kinh tế giúp VN phát triển cơ sở hạ tầng và năng lượng thì cũng mang tính chất xoa dịu những tranh chấp giữa đôi bên, nâng mối quan hệ lên tầm chiến lược do ý nghĩa đặc thù về chính trị giữa hai quốc gia có nhiều nét tương đồng

Tuyên bố chung về kinh tế, Trung Quốc sẽ giúp đỡ Việt Nam trong việc phát triển cơ sở hạ tầng chẳng hạn đường cao tốc từ Lạng Sơn xuống Hà Nội, hay các đường cao tốc từ Móng Cái, Quảng Ninh đến Hà Nội, rồi là những phát triển về năng lượng.

Nhìn chung, lãnh đạo hai bên có xu hướng gác những tranh chấp để cùng “láng giềng tốt” tinh thần hữu nghị và tiếp tục tập trung phát triển kinh tế. Trung Quốc vẫn coi Việt Nam là một vị trí địa chính trị mở rộng trong hợp tác ASEAN và vươn ra khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong bối cảnh sự quan tâm của Mỹ đối với khu vực giảm đi.

Mong giảm nhập siêu của TQ

Vũ Hoàng: Điều mà người ta quan ngại là hiện tại cán cân thương mại luôn thâm hụt về phía VN, vậy với con số 60 tỷ đô la đưa ra, liệu phía VN sẽ cần làm gì để có thể hưởng lợi về thương mại hai chiều?

T.S Vũ Ngọc Xuân: 60 tỷ là kim ngạch xuất nhập khẩu, xuất khẩu của TQ vào VN cộng với xuất khẩu của VN sang TQ là 2 chiều, nếu trừ đi thì VN không có tham vọng giảm được mạnh nhập siêu từ TQ bởi vì việc đó rất khó, chỉ có thể giảm từng bước. Thí dụ, hiện tại nhập siêu của VN là 12 đến 14 tỷ đô la Mỹ thì có thể giảm xuống  nhập siêu giảm xuống từ 5 đến 8 tỷ trong vòng 5 đến 10 năm tới.

Bởi vấn đề, nếu muốn giảm nhập siêu, một mặt phải tăng xuất khẩu sang TQ trong khi hàng hóa có khả năng cạnh tranh của VN chỉ là khoáng sản hay nông sản, giá trị cao chỉ có khoáng sản thôi. Trong bối cảnh hạn chế khai thác tài nguyên hay ảnh hưởng vấn đề môi trường, nên vấn đề khai thác khoáng sản có nhiều khó khăn. Cho nên bây giờ lãnh đạo hai bên chỉ trao đổi làm sao để giảm nhập siêu của TQ vào VN chứ không có tham vọng làm sao để tăng thật mạnh xuất khẩu của VN sang TQ.

Vũ Hoàng: Cám ơn phần trả lời của T.S, giới chuyên gia cho rằng mục tiêu của TQ hiện tại là nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế với các nước láng giềng khi mà xuất khẩu của TQ đang bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm từ thị trường Âu Mỹ?

T.S Vũ Ngọc Xuân: Từ trước đến nay, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Trung Quốc và ASEAN vẫn nghiêng về phía Trung Quốc là xuất siêu vào khu vực ASEAN. Thực ra, nếu nói về sức cạnh tranh của hàng hóa của ASEAN thì cũng không có khả năng cạnh tranh với hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc. Quan tâm của Trung Quốc là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, gần đây trong hội nghị APEC thì xuất hiện sự tăng cường và trao đổi giữa lãnh đạo của ASEAN và Trung Quốc vẫn dưới góc độ gác tranh chấp và cùng tiến tới những lợi ích kinh tế.

Thực ra, nếu nói về sức cạnh tranh của hàng hóa của ASEAN thì cũng không có khả năng cạnh tranh với hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc. Quan tâm của Trung Quốc là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

T.S Vũ Ngọc Xuân

Vũ Hoàng: Với quan điểm cho rằng “gia tăng hợp tác kinh tế để giảm bớt căng thẳng tranh chấp chủ quyền” ông đánh giá ra sao?

T.S Vũ Ngọc Xuân: Về mặt quan điểm của hai bên, Việt Nam vẫn có xu hướng là gác tranh chấp để cùng đạt được lợi ích kinh tế chung. Trung Quốc cũng vẫn coi Việt Nam là một đối tác quan trọng và với vị trí chính trị quan trọng để tăng cường hợp tác ASEAN và nhìn rộng ra là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Những khu vực nào còn tranh chấp thì sẽ tiếp tục đàm phán và hướng tới bộ Quy tắc Ứng xử Chung ở Biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc trên cơ sở đàm phán song phương rồi mới đa phương.

Trong khi, Việt Nam vẫn có xu hướng chỗ nào còn tồn tại tranh chấp: khó khăn giải quyết sau, dễ dàng giải quyết trước và lợi ích kinh tế vẫn đặt lên hàng đầu. Trung Quốc vẫn là thị trường quan trọng và là đối tác chiến lược của Việt Nam, Việt Nam vẫn rất cần những hàng hóa và đầu vào linh kiện của Trung Quốc để thúc đẩy xuất khẩu.

Vũ Hoàng: Xin cám ơn T.S về cuộc trao đổi ngày hôm nay.

Suy nghĩ về xã hội dân sự

Huỳnh Thục Vy. Gửi BBC từ Quảng Nam. 15 tháng 10, 2013http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/10/131015_huynh_thuc_vy_xa_hoi_dan_su.shtml

Khán giả xem buổi biểu diễn của ban nhạc Hàn Quốc K-pop tại Mỹ Đình hồi tháng 11 năm 2012Người dân Việt Nam chưa có không gian dân sự để hoạt động

Xã hội dân sự được minh định trong sự tách biệt với các không gian hoạt động khác, bao gồm xã hội kinh tế (hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận) và xã hội chính trị (các định chế quyền lực chính trị và các đảng phái).

Tự nguyện, tự vận hành, phi lợi nhuận và độc lập với quyền lực chính trị là những đặc tính cơ bản định hình sự tồn tại riêng biệt của xã hội dân sự.

Vài nét khái quát

Trong một nền dân chủ tự do, tác động tương hỗ giữa ba mảng hoạt động này (dân sự, kinh tế, chính trị) diễn ra liên tục tạo nên bối cảnh xã hội sinh động và đưa đến những điều kiện làm thay đổi tính chất lẫn trình độ phát triển của nền dân chủ.

Với những chuyển động phức tạp của xã hội, điều cần thiết là giữ được mối quan hệ cân bằng giữa ba không gian hoạt động này. Vì sự cân bằng này bị phá vỡ sẽ dẫn đến sự suy thoái hoặc biến mất của một trong ba lĩnh vực này; mà khả năng cao nhất sẽ là mối đe doạ nhắm vào xã hội dân sự.

“Các trí thức xuất thân cộng sản cũng dần dần nhận thấy vai trò của mình trong nỗ lực cổ vũ cho sự hình thành và phát triển của xã hội dân sự. ”

Huỳnh Thục Vy

Như một thành tố cấu thành nên một xã hội dân chủ, sự tồn tại của xã hội dân sự cũng như uy tín và vai trò của nó là không thể phủ nhận. Nhưng, những trở ngại không nhỏ đã và đang ngăn cản nỗ lực xây dựng không gian dân sự trong các quốc gia độc tài cũng như các quốc gia đang chuyển hoá dân chủ hoặc đang xây dựng một nền dân chủ non trẻ.

Việt Nam là một quốc gia độc tài đặc biệt hơn, với mô hình chính trị nhắm thẳng sự tấn công vào xã hội dân sự. Vì thế, nỗ lực dân chủ hoá đặt trên nền móng xã hội dân sự ở xứ sở này cũng khó khăn gấp bội.

Thực vậy, việc tập trung các tổ chức dân sự dưới trướng một Mặt trận Tổ quốc do đảng Cộng sản điều khiển đã biến tiềm năng sinh hoạt tập thể của người dân thành năng lực phục vụ cho quyền lực chính trị, đã biến các diễn đàn thể hiện ý chí của người dân thành các buổi họp chi bộ Đảng.

Thêm vào đó, việc cấm chỉ hoạt động của các tổ chức, các nhóm không được chính quyền chấp nhận đã triệt tiêu không gian dân sự gần như hoàn toàn ở Việt Nam.

Những năm gần đây, với sự trợ giúp hữu ích của internet, các diễn đàn thảo luận chính trị online và các nhóm sinh hoạt bí mật trên mạng xã hội đã thực sự tạo không gian cần thiết cho sự tự do bày tỏ quan điểm chính trị. Đó chính là những dấu hiệu khởi phát đáng mừng của xã hội dân sự.

Hơn thế, tầm quan trọng của xã hội dân sự trong cuộc vận động dân chủ hoá được nhiều nhà hoạt động, nhất là giới trẻ đặc biệt quan tâm.

Các trí thức xuất thân cộng sản cũng dần dần nhận thấy vai trò của mình trong nỗ lực cổ vũ cho sự hình thành và phát triển của xã hội dân sự.

Các trí thức hải ngoại cũng tìm thấy sức sống và hy vọng mới cho phong trào Dân chủ qua triển vọng xã hội dân sự. Nhiều nhóm đối kháng đã được thành lập và bước đầu đã cho thấy tiềm năng của mình, dù vấp phải nhiều đàn áp từ Nhà cầm quyền.

Hai điều kiện tiên quyết để thành công

Các điều kiện cho một không gian dân sự hoạt động thành công không dễ dàng như chúng ta nghĩ. Một thực thể chỉ là chính nó khi hoạt động mà không có sự can thiệp thái quá từ bên ngoài.

Uy tín và thẩm quyền đạo đức của các tổ chức dân sự, vì thế, hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng giữ cân bằng và tự chủ. Mất đi sự độc lập thích đáng này, xã hội dân sự không chỉ rơi vào tình trạng tồn tại trên hình thức, hiệu quả hoạt động bị tiêu giảm, trở thành những thực thể “phản dân sự”, làm tay sai cho quyền lực Nhà nước, là con rối của các thực thể kinh tế; mà còn tự loại bỏ mình khỏi đời sống xã hội vì đã bị “hoà tan” vào hai không gian hoạt động kia (xã hội chính trị và xã hội kinh tế).

Có hai điều kiện cần thiết để đảm bảo sự độc lập thích đáng của xã hội dân sự, đó là độc lập về tài chính và nhân sự chủ chốt.

Người dân đi ngang qua áp phích búa liềm hồi tháng 2/2013Đảng Cộng sản đã choán toàn bộ không gian xã hội của người dân

Thứ nhất, là sự độc lập tài chính. Không một tổ chức nào có thể hoạt động nếu không có nguồn tài chính ổn định và thích hợp, nhưng cũng chính vì thế mà không một thực thể nào giữ được sự độc lập ý chí nếu bị phụ thuộc về tài chính.

Các tổ chức bảo vệ Nhân quyền như Human Rights Watch, Reporters without Borders, Amnesty International, Pen International… tới nay vẫn là những NGO quốc tế có uy tín và vị thế quan trọng trong cuộc vận động bảo vệ Nhân quyền, vẫn mạnh mẽ ủng hộ các nhà đối kháng, các nhóm thiểu số bị đàn áp trên khắp thế giới trong khi chính phủ các quốc gia dân chủ vẫn “mắt nhắm mắt mở” vì lợi ích quốc gia họ.

Thực tế đó xuất phát từ khả năng giữ được sự cân bằng khi phải đối mặt với vấn đề tài chính. Nếu chúng ta để ý, sẽ thấy mục “Donation” trên trang nhà của các tổ chức này. Ở đó, họ kêu gọi sự đóng góp của các cá nhân giúp họ giữ được sự độc lập cần thiết. Thực vậy, từng đóng góp nhỏ từ một khối người lớn sẽ giúp được rất nhiều cho các tổ chức này, nhưng không khiến họ bị phụ thuộc vào một cá nhân hay tổ chức kính tế, chính trị nào.

Trong “Phát biểu vắn tại Hội nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận TQVN”, tôi rất ngạc nhiên khi giáo sư Tương Lai hy vọng : “Mặt trận sẽ không tiếp tục thực hiện vai trò cây kiểng làm dáng, ăn theo nói leo với những lời tụng ca như đang và đã từng ” và ” là nơi quy tụ ý chí nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân”; mà không chú trọng đến một sự thật rằng Mặt trận này sẽ mãi mãi chẳng bao giờ là tiếng nói của người dân nếu nó vẫn hoạt động bằng nguồn tài chính từ chính quyền do đảng cộng sản lãnh đạo. Sự phụ thuộc tài chính là nguyên nhân dễ thấy của sự phụ thuộc ý chí, nó cũng chính là gốc rễ của cái tư duy “sổ hưu” của các đảng viên cộng sản.

“Các nhân sự quan trọng trong một tổ chức dân sự phải thực sự là một nhà hoạt động xã hội chuyên nghiệp, có nghĩa là họ nhất thiết không phải là công chức Nhà nước, không là thành viên của bất cứ đảng phái chính trị nào và cũng không liên quan đến hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.”

Thứ hai, là sự độc lập của các nhân sự chủ chốt.

Các nhân sự quan trọng trong một tổ chức dân sự phải thực sự là một nhà hoạt động xã hội chuyên nghiệp, có nghĩa là họ nhất thiết không phải là công chức Nhà nước, không là thành viên của bất cứ đảng phái chính trị nào và cũng không liên quan đến hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.

Thử hình dung, một đảng viên của đảng A, cũng là nhân sự lãnh đạo trong một NGO (B), người đó có thể có đủ bản lĩnh để không bị chi phối bởi lợi ích chính trị của đảng phái mà hoạt động xã hội một cách vô tư hay không?

Lại cũng như thế, nếu một người là giới chức chính quyền hoặc đang làm việc cho một tập đoàn kinh tế, anh ta có đủ khả năng để làm việc hoàn toàn theo lương tâm và sự thật như một nhà hoạt động xã hội không, hay lại bị khống chế bởi quyền lực chính trị hoặc mệnh lệnh kinh tế?

Lại nêu lên trường hợp Mặt trận Tổ quốc, nhân sự chủ chốt của Mặt trận này là đảng viên cộng sản, họ không phục tùng và làm việc cho lợi ích của đảng cộng sản thì mới là bất bình thường.

Bởi vậy, thật nghịch lý khi kêu gọi Mặt trận này phải đứng về phía nhân dân, ủng hộ dân chủ và đa đảng khi Đảng cộng sản mới là cơ quan chủ quản của nó chứ không phải là khối dân sự. Một ví dụ khác, gần đây dư luận chú ý đến sự xuất hiện của Diễn đàn xã hội dân sự.

Tôi không biết danh tính đầy đủ của những người khởi xướng diễn đàn này (và cũng không nghi ngờ thiện chí của họ) nhưng tôi có thể khẳng định: nếu nhiều người trong số họ vẫn còn mang thẻ đảng, thì tính chất dân sự thực sự của Diễn đàn này vẫn còn xa vời lắm. Bởi vì chỉ có dân sự phục vụ lợi ích và thể hiện ý chí dân sự, còn kinh tế và chính trị thì chỉ nhằm mục đích lợi nhuận và quyền lực. Phải nhận thức rõ ràng như thế mới mong đặt nền móng xã hội dân sự một cách thành công ở xứ sở này.

Thay lời kết

Hiện nay, trong vòng kiềm toả của chế độ độc tài, mọi hoạt động của những nhà đấu tranh cho dân chủ đều “underground”; họ đều mang một danh xưng chung là “activist” mà không có sự phân định rõ ràng giữa những cá nhân hoạt động đảng phái và những người làm việc theo xu hướng xã hội dân sự.

Dưới các động thái thù địch của chế độ nhắm vào các đảng phái đối lập, điều này dễ hiểu. Nhưng về lâu về dài, sự thiếu phân minh này sẽ ảnh hưởng đến sự tiến bộ và vững chắc của xã hội dân sự, để lại hệ luỵ cho công cuộc xây dựng dân chủ.

“Xã hội dân sự không thể mãi là cái vỏ bọc cho hoạt động chính trị, điều đó là không chính đáng. Các hoạt động đảng phái là cần thiết và chỉ tốt đẹp nếu nó mang đúng tên của mình. ”

Huỳnh Thục Vy

Bởi, sự hiện diện của thành viên các đảng phái trong các tổ chức xã hội dân sự, cũng như việc nhân danh xã hội dân sự để hoạt động đảng phái, trong trường hợp xấu nhất, sẽ tạo điều kiện để chính trị khuynh loát hoặc chi phối xã hội dân sự sau này. Và đó không phải là một tương lai đáng mong muốn cho dân chủ Việt Nam.

Không phải chúng ta ca ngợi tầm quan trọng của xã hội dân sự thì nó tự nhiên có đủ phẩm chất để gánh vác trọng trách trong cuộc vận động dân chủ hiện nay.

Không gian dân sự này có đủ khả năng làm nền tảng cho dân chủ hay không tuỳ thuộc vào nhận thức và bản lĩnh của các nhà hoạt động dân sự lẫn đảng phái.

Xã hội dân sự không thể mãi là cái vỏ bọc cho hoạt động chính trị, điều đó là không chính đáng. Các hoạt động đảng phái là cần thiết và chỉ tốt đẹp nếu nó mang đúng tên của mình.

Nên lưu ý rằng, dù chương trình làm việc của xã hội dân sự liên quan mật thiết đến các vấn đề chính trị, thì tự thân nó, xã hội dân sự không bao giờ giống với đảng phái. Thiết nghĩ, sự phân biệt rõ ràng giữa xã hội dân sự và đảng phái chính trị sẽ là một bước trưởng thành quan trọng của phong trào dân chủ Việt Nam. Nếu không có bước tiến này, xã hội dân sự sẽ còn phải đi một quãng đường rất chông gai nữa để có thể tự khẳng định mình.

Bài viết thể hiện cách hành văn và quan điểm riêng của tác giả.

Xây dựng một chế độ chính trị hậu-cộng-sản ở Việt Nam

DanChimViet Online, 12/10/13

http://www.danchimviet.info/archives/80553/xay-dung-mot-che-do-chinh-tri-hau-cong-san-o-viet-nam/2013/10tth

Ghi chú : Đài Đáp Lời Sông Núi, ngày thứ Bảy 12-10-2013, đã phát sóng bài phỏng vấn Luật sư Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền ở Paris, về việc thiết lập một chế độ chính trị hậu-cộng-sản trong t ư ơng lai cho Việt Nam. Dưới đây là bản ghi âm có đọc lại của cuộc trao đổi giữa Ls Hiệp và Đài ĐLSN.

Thứ Bảy, ngày 12.10.2013

HẢI NGUYÊN: Kính chào quý vị thính giả, NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA CHÚNG TA tuần này xin được thảo luận về “Một quan niệm chính trị mới cho một nước Việt Nam hậu Cộng Sản’’. Diễn giả là Luật Sư Trần Thanh Hiệp, cựu luật sư các tòa thượng thẩm ở Sài Gòn và Paris, Pháp. LS Trần Thanh Hiệp năm nay 85 tuổi, tham gia chính trường Việt Nam liên tục 60 năm qua, và hiện là chủ tịch Trung Tâm Việt Nam Về Nhân Quyền. Ông cư ngụ tại Paris thủ đô nước Pháp nhưng thường xuyên bôn ba khắp nơi và hiện đang có mặt tại California, Hoa Kỳ.

HẢI NGUYÊN (HN): Trước hết, xin LS cho biết, theo quan điểm của Ông thì chúng ta nên hiểu nhóm chữ “hậu cộng sản” như thế nào?

TRẦN THANH HIỆP (TTH): Trước khi trả lời các câu hỏi của qúy Đài, tôi thấy cần nói cho rõ hai điều sau đây : Thứ nhất, khi trả lời các câu hỏi mà Đài ĐLSN sẽ đặt cho tôi hôm nay, tôi chỉ muốn trình bày một số ý kiến của riêng tôi mà tôi cho là có thể góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước. Thứ hai, tôi không thiếu thận trọng đến mức coi đó là những chân lý hay hô hào mọi người hãy chấp nhận ý kiến của tôi như là những chân lý. Tôi rất mong sẽ không có những sự hiểu lầm, vô tình hay cố ý, về sự phát biểu của tôi.

Bây giờ tôi xin đi vào cuộc trao đổi với Đài ĐLSN. Theo tôi, bàn về một chế độ chính trị hậu-cộng-sản ở Việt Nam là bàn về tương lai chính trị của Việt Nam. Vì thế, thành ngữ hậu-cộng-sản cần phải đuợc hiểu theo cả về nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng. Hẹp là có ý nói về thứ tự thời gian. Vậy chế độ hậu-cộng-sản là chế độ tiếp theo sau, và sẽ thay đổi hẳn, chế độ cộng sản là chế độ phải loại bỏ và đã được loại bỏ. Vì lẽ đó chế độ chính trị mới hay hậu-cộng-sản còn phải hiểu theo nghĩa rộng, tức là chế độ này phải có những đặc tính bảo đảm ít ra là hai điều : Một mặt, nó phải chấm dứt được quốc nạn cộng sản và mặt khác, nó cũng phải ngăn giữ kỳ được không để cho quốc nạn này tái diễn trên đất nước thêm một lần nữa. Trong lịch sử thế giới hiện đại có một tiền lệ lịch sử đã được cả nhân loại trân trọng. Đó là sự thành công trong sự nghiệp phục hưng đất nước có thể nói rất đáng khâm phục của dân tộc Đức dưới ngọn cờ lãnh đạo của Cộng Hòa Liên Bang Đức Quốc.

HN: Xin LS nói rõ thêm về tiền lệ “Tây Đức” hay “Cộng Hòa Liên Bang Đức quốc” thông qua Bản Hiến Pháp hay còn gọi là “Luật Căn Bản 1949″ của Cộng Hòa Liên Bang Đức quốc.

TTH.- Năm 1945, sau chiến thắng của Đồng Minh, tập đoàn cầm quyền Na zi, phát xít Đức đã phải trả lời và thụ hình về những hành vi vô nhân đạo này trước tòa án quốc tế. Năm 1948, ba cường quốc Anh, Pháp và Mỹ đã tạo điều kiện cho bộ phận của dân tộc Đức, sinh sống trong vùng dưới quyền giám hộ của Đồng Minh, xây dựng lại đất nước. Và sự nghiệp phục hưng dân tộc này đã dựa trên một văn bản pháp lý có tên gọi là Luật Căn Bản 1949. Tuy gọi là Luật Căn Bản nhưng thực ra đó chính là bản Hiến Pháp xây dựng nước Đức thời hậu chiến. Vì nuớc này vẫn còn ở trong tình trạng chia đôi thành Tây Đức và Đông Đức nên phải đợi thống nhất xong mới đổi tên là Hiến Pháp. Trong văn bản lịch sử này, nếu chỉ để ý đọc điều 20, theo đó, Cộng Hòa Liên Bang Đức Quốc là một quốc gia liên bang dân chủ và xã hội thì đã chẳng thấy được giá trị đích thực của nó. Phải nghiên cứu nội dung của trên 20 điều đầu tiên của Luật Căn Bản 1949 mới ý thức được rằng văn bản này đã mang lại cho nhân loại trên địa hạt chính trị, nhân quyền, dân quyền những thành tố của một nền văn minh nhân bản mới. Đó là sự kiện lần đầu tiên trong lịch sử Hiến Pháp Luật, một bản Hiến pháp đã đưa vấn đề nhân phẩm của con người lên hàng giá trị tuyệt đối làm nền tảng cho mọi cộng đồng nhân xã, cho hòa bình và công lý trên thế giới. Và để cho chủ trương này được thực thi, bản Hiến Pháp này đã buộc chính quyền phải triệt để tôn trọng nhân phẩm và bảo vệ nó. Đồng thời bản Hiến pháp còn trù liệu thể hiện nhân phẩm bằng hơn 20 nhân quyền cơ bản, ghi rõ trong hiến pháp, với đòi hỏi rằng những điều khoản của hiến pháp dự liệu các nhân quyền này có hiệu lực áp dụng trực tiếp đối với cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chưa hết, Hiến pháp còn đặt ra ngoài vòng pháp luật mọi cá nhân, tổ chức chính trị nào đi ngược lại chủ trương thượng tôn nhân phẩm, coi những cá nhân, tổ chức này là có hành vi vi hiến. Nói cách khác, Luật Căn Bản 1949 đã chính thức ngăn giữ không cho cực quyền toàn trị có thể tái xuất hiện trên chính trường nước Đức. Có thể nói rằng Luật Căn Bản 1959 đã kiện toàn để hoàn thiện “chế độ đại nghị” nguyên mẫu của Anh Quốc và bổ sung Hiến pháp cơ năng của Mỹ Quốc để cung cấp cho nhân loại một điển mẫu văn hóa chính trị tiên tiến nhất.

HN.– Theo LS thì có điều kiện tiên quyết nào cho việc thiết lập một nền chính trị “hậu cộng sản” ở Việt Nam không? Nếu có, thì sẽ phải là điều kiện như thế nào?

TTH.– Tất nhiên là nhất định phải có điều kiện tiên quyết. Vì độc tài đảng trị, toàn trị không thể sống chung với tự do dân chủ. Vậy điều kiện tiên quyết để xây dựng dân chủ là phải thanh toán độc tài. Cũng như ở Liên Xô và Đông Âu cũ thập niên 1990 và ở Bắc Phi, Trung Đông đầu thập niên 2000, bộ máy cai trị độc tài cộng sản ở Việt Nam, gồm có Đảng, Chính phủ và hệ thống tổ chức quần chúng công cụ, phải giải thể để nhường chỗ cho chế độ dân chủ tự do đặt nền móng xây dựng xã hội mới. Tuy nhiên, tình hình chuyển hóa độc tài sang dân chủ ở Việt Nam không đơn giản như lý thuyết. Cho nên ở đó độc tài vẫn còn tại chức. Vì vậy, phải kiếm ra được một phương thức chuyển hóa thích hợp, vừa giải thể độc tài vừa xây dựng dân chủ. Phương thức này chi có thể đạt được mục đích nếu phe dân chủ đủ tài trí và thế lực để hành động thay vì chỉ bàn cãi suông về lập trường và lý thuyết chính trị. 

HN.- Trong hiện tình ở trong nước cũng như ở ngoài nước, có thể làm được gì để dọn đường cho việc thiết lập một chế độ chính trị “hậu cộng sản”?

TTH.– Trong nước, ai cũng nhận thấy đảng cộng sản cầm quyền đang phải đối mặt với sự vùng dậy đòi nhân quyền, dân quyền của mọi tầng lớp xã hội. Trong khi đó, đảng này nội bộ chia rẽ trầm trọng, nạn tham nhũng hoành hành đại qui mô, kinh tế suy sụp tận đáy, đe dọa xâm lược phương Bắc ngày càng lớn, thiểu số lãnh đạo lại chỉ muốn ngồi mát ăn bát vàng, để mặc cho bọn tay sai cấp dưới tự tung tự tác dầy xéo lên luật pháp cướp của giết người. Tôi tưởng rằng dân chúng, nhất là những người dân chủ đã dễ dàng thấy được đâu là phưong thức vừa giải thể độc tài vừa xây dựng dân chủ. Ở ngoài nước, tôi tự hỏi liệu những người dân chủ có dám tin rằng thời cơ đánh bại độc tài ở trong nước đang đến để mau lẹ củng cố lại hàng ngũ tranh đấu, rèn đúc cho sắc bén ý thức chính trị và đầu tư về mọi mặt cho tương lai đất nước. Một quốc gia Việt Nam mới, dân chủ tự do văn minh thịnh vượng sẽ không tự trên trời rơi xuống mà phải khai sinh bằng máu, nuớc mắt và mồ hôi của nhân dân.

HN– Liệu có thể tiến hành ngay từ lúc này những cải cách chính trị ở trong nước, và nếu cần, cả ở ngoài nước, như là khởi đầu cho công trình xây dựng một Việt Nam “hậu cộng sản” không?

TTH.– Những gì tôi đã trình bày ở trên cho phép tôi trả lời là “có thể” nếu mọi người đều muốn bắt tay vào việc thay vì chỉ nói mà không làm. Nhưng nếu không làm thì chắc chắn câu giải đáp sẽ không thể là gì khác hơn “không thể.

HN: Vì thì giờ có hạn, chúng tôi xin tạm ngưng chuyên mục NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA CHÚNG TA hôm nay tại đây. Cám ơn LS Trần Thanh Hiệp và hẹn gặp lại LS Thứ Bẩy tuần tới để tiếp tục thảo luận về “Quan niệm chính trị mới cho một nước Việt Nam hậu CS”.

© Trần Thanh Hiệp

Nguồn: Chuyển Hóa

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. Công an Nhân dân, hãy biết dừng tay
  2. Công ty CP ĐT-PT đô thị Việt Hưng đính chính về vụ việc Ecopark
  3. Việt Nam chính thức thừa nhận việc sử dụng sai cờ TQ
  4. Bạo lực “ám“ khắp làng, người dân hoảng loạn, chính quyền dửng dưng
  5. Hai công ty của chính phủ Việt Nam bị kiện tại Hoa Kỳ vì tội buôn người
  6. Phe Nguyễn Tấn Dũng phản công

Chuyển hồ sơ EVN ‘phải chờ Thủ tướng’

EVN tăng giá điện liên tục trong lúc nói kinh doanh vẫn có lãi.

Bộ Công an đề nghị chuyển hồ sơ vụ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) để điều tra nhưng Thanh tra Chính phủ chưa cung cấp vì nói đang chờ xin ý kiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Phó Tổng thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh xác nhận với báo giới rằng Trung tướng Phan Văn Vĩnh – Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm (C48) cử cán bộ của Cục C48 sang làm việc với Thanh tra Chính phủ, và đề nghị chuyển hồ sơ các việc tại EVN sang cơ quan điều tra.

Tuy nhiên Thanh tra Chính phủ đã từ chối với lý do kết luận thanh tra không có nội dung nào đề xuất chuyển cơ quan điều tra nên không có trình tự, thủ tục chuyển hồ sơ như quy định nhưng thông tin thì rộng mở, theo truyền thông trong nước.

Trong buổi họp báo thường kỳ hôm 15/10/2013, ông Khánh mô tả “cơ chế thông tin giữa Thanh tra và Công an luôn thông suốt kể cả khi không có yêu cầu chuyển cơ quan điều tra.

“Nhưng phải có đầu mối, không phải thích là cung cấp, không thích thì thôi. Bản kết luận cũng đang chờ xin ý kiến Thủ tướng nên Thanh tra chưa cung cấp cho cơ quan công an”, ông Khánh được truyền thông trong nước dẫn lời.

‘Bù lỗ vào dân’

“Cơ chế thông tin giữa Thanh tra và Công an luôn thông suốt nhưng phải có đầu mối không phải thích là cung cấp, không thích thì thôi.”

Phó Tổng thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh

Các cáo buộc sai phạm của EVN bao gồm hoạt động xây nhà, biệt thự, mua siêu xe, sân quần vợt.. với giá trị lên đến gần 600 tỉ đồng mà EVN tính vào giá bán điện.

Kể từ năm 2011, giá điện bán lẻ trong nước của EVN đã tăng hai lần mỗi năm với tổng hai lần tăng giá đã lên tới hơn 10% so với năm trước.

Mặc dù thu lãi lớn từ bán điện, nhưng ông Đinh Quang Tri, Phó Tổng Giám đốc EVN được dẫn lời vẫn khẳng định năm 2013 vẫn phải tăng giá bán và cho biết tới đây còn nhiều chi phí phải đưa vào đầy đủ trong giá bán điện nên giá có xu thế tăng cao.

Trả lời câu hỏi của phóng viên về về sự chênh lệch giữa con số kết luận thanh tra loại ra gần 6.500 tỉ đồng sai phạm của EVN so với dự thảo báo cáo của cơ quan này với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Tổng thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh lý mô tả “điều này là chuyện bình thường”.

Hồi đầu tháng Mười năm nay, Thanh tra chính phủ Việt Nam vừa công bố kết quả thanh tra tại (EVN). Nó cho thấy nhiều sai phạm và tính đến năm 2011, công ty mẹ EVN đã đầu tư 121 nghìn tỷ đồng ra ngoài ngành, bao gồm các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và hệ số giữa nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của toàn tập đoàn là 6,27 lần.

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng trong tháng Tám đã có bài viết về điều mà ông gọi là các nhóm lợi ích độc quyền nhất Việt Nam gồm Tập đoàn xăng dầu Petrolimex kích động đến ba lần tăng giá và người anh em sinh đôi của Petrolimex là Tập đoàn điện lực Việt Nam – EVN.

“Bất chấp phản ứng của đại đa số các tầng lớp nhân dân, giai tầng lợi ích ở Việt Nam vẫn tiếp tục chiến dịch ‘bù lỗ vào dân’,” ông Dũng viết trong bài ‘Cơn bão giá và nhóm lợi ích‘.

Các bài liên quan

Việt-Trung cam kết tăng cường hợp tác trên biển

Tuyên bố chung được đưa ra sau chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến Việt Nam.

Tuyên bố chung được đưa ra sau chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến Việt Nam.

Tuyên bố chung ngày 15/10 sau chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến Việt Nam nêu rõ theo sự đồng thuận giữa lãnh đạo hai nước, Việt-Trung cam kết thực thi nghiêm túc “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn  đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc” ký hồi năm 2011.

Tuyên bố nói dựa vào cơ chế đàm phán cấp chính phủ về biên giới lãnh thổ, hai nước sẽ tìm kiếm giải pháp lâu dài chấp nhận được cho cả đôi bên thông qua thương lượng và tham vấn trong lúc nghiên cứu giải pháp chuyển tiếp không ảnh hưởng tới lập trường mỗi bên như hợp tác cùng phát triển.

Vẫn theo Tuyên bố, đôi bên sẽ thành lập Nhóm công tác bàn về hợp tác cùng phát triển trên biển trong khuôn khổ đàm phán cấp chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt-Trung.

Tuyên bố còn cho biết hai nước cam kết sớm thực thi các chương trình hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như nghiên cứu hợp tác quản lý môi trường biển-đảo ở Vịnh Bắc Bộ.

Theo bản Tuyên bố, hai bên đồng ý kiểm soát các bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp thêm cho tranh chấp Biển Đông.

Tuyên bố chung Việt-Trung nói hai nước nên cùng làm việc để thực thi Tuyên bố Ứng xử Biển Đông (DOC), tăng cường lòng tin, hợp tác lẫn nhau và duy trì hòa bình khu vực.

Hai bên tuyên bố theo tiêu chí và tinh thần DOC, Việt Nam và Trung Quốc nhất trí cùng làm việc để hình thành một Bộ Quy tắc Ứng xử Biển Đông mang tính ràng buộc pháp lý dựa trên sự đồng thuận.

Nguồn: Xinhua, Tuoitrenews

Huỳnh Thục Vy:”Vài suy nghĩ về ông Giáp”

DànChimViệt Online

http://www.danchimviet.info/archives/80515/vai-suy-nghi-ve-ong-giap/2013/10

80515 vngiap

Vị tướng được những người cộng sản xem là “khai quốc công thần” cuối cùng đã trở thành người thiên cổ vào ngày 4 tháng 10 vừa qua. Vậy là, biểu tượng sống về công lao “giành độc lập” và lý tưởng “cách mạng”, tượng đài hữu danh vô thực về một thời “hào hùng” của những người cộng sản đã trở về với cát bụi.

Ông ta đã thực sự rời bỏ cuộc chơi, đã từ giã  cõi nhân sinh điên đảo này. Không ai biết ông sẽ đi về đâu nhưng ông đã để lại di sản đầy đau đớn và nhiễu nhương, để lại cho tất cả chúng ta một Việt Nam với tiếng ai oán khắp nơi. Thôi thì cũng cầu chúc ông ra đi trong thanh thản, dù ông đã  lặng thinh một cách vô cảm trước những người đã ra đi một cách bi thương  khác.

Là người đã có công khai sinh ra một Việt Nam cộng sản, thiết nghĩ không cần bàn đến chuyện ông có lý tưởng hay không lý tưởng và sự cần thiết hay không của những cuộc chiến tranh vô nghĩa mà ông đã đóng vai trò lãnh đạo quân sự tối cao, ông phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự im lặng của mình trước những trang lịch sử bất công, gian trá và đau thương mà người Việt Nam đã trải qua.

Không ít người ca ngợi ông là một trí thức lớn, là nhà văn hoá. Tôi không muốn bàn những chuyện ấy nữa vì đã có nhiều tài liệu lịch sử có sẵn cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về ông Giáp. Chỉ xin hỏi: Ông đã làm gì khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường kêu gọi dân chủ pháp trị để rồi sau đó bị thất sủng? Nếu là một trí thức lớn thực sự, lẽ ra ông phải biết dân chủ pháp trị cần cho một quốc gia như thế nào trước cả cụ Tường bởi thực tế cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã tàn phá quốc gia như thế nào? Nếu không nhận ra khiếm khuyết của một chế độ độc tài cộng sản, ông có xứng đáng với danh xưng một đại trí thức? Và cứ cho là ông không biết gì về độc tài-dân chủ, nhưng khi luật sư Tường lên tiếng về xã hội dân chủ, ông không có động tĩnh gì, đó có phải là biểu hiện của một nhân cách lớn?

Lại nữa, ông đã ở đâu, đã làm gì khi những Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hữu Loan bị đấu tố, bị đoạ đày? Ông có chút tủi nhục, cảm thương hay phẫn nộ nào không khi hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong tức tưởi khi Việt Nam  cộng hoà bị cưỡng chiếm để rồi hàng nghìn người trong số họ đã vùi thân ngoài biển cả? Ông nghĩ gì khi tướng Trần Độ đã dũng cảm lên tiếng rồi bị đàn áp? Ông đã làm gì khi cụ Hoàng Minh Chính đã tỏ thái độ đối kháng để rồi bị bỏ tù? Ông đã đứng bên lề bao biến cố đau thương của đất nước. Đó có phải là vị trí xứng đáng của một trí thức hay không?

Dù là ai, một người vừa mới qua đời nên được cầu nguyện cho sự ra đi bình an. Tôi đã rất phân vân khi viết những dòng này. Có nên viết những lời cay đắng cho một người đã chết không? Có nên kể tội họ khi họ đã mãi mãi không còn khả năng biện bạch? Nhưng quả tình, tôi không viết những dòng này nhắm vào tướng Giáp, tôi viết cho những người còn sống, cho những người  còn bị ám thị bởi cái ảo ảnh hào quang mà những người cộng sản đã tạo ra. Đa số thanh niên Việt Nam hiện nay sống trong sự lừa gạt đó mà không biết, và cũng không có ý chí vượt thoát ra.

Ông Giáp, vị “đại tướng quân” trong mắt nhiều thanh niên Việt Nam, là người góp công to lớn để tạo dựng và bảo vệ chế độ độc tài tàn bạo này. Ông đã sống quá xa cái tuổi “cổ lai hy” và ra đi trong tình thương yêu của gia tộc, trong sự ngưỡng vọng của nhiều người. Nhưng ông có biết đâu, một người có công gây dựng nên một tập đoàn tội ác như ông lại ra đi thanh thản và vinh quang, trong khi chính những nạn nhân vô tội của chế độ thì lại hứng chịu thảm trạng bi đát của gia đình để rồi phải ra đi trong uất ức, tủi nhục.

Đó chính là một Đặng Ngọc Viết hiền lành, siêng năng bị chính quyền cướp đất, phẫn uất cùng cực đến mức phải ra tay giết chết một quan chức tỉnh Thái Bình rồi tự sát bằng một viên đạn vào tim. Đó là một Thomas Nguyễn Tự Thành-một thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương về Việt Nam từ Thái Lan, bị sách nhiễu và phong toả kinh tế liên tục bởi chính quyền cộng sản đến nỗi uất ức quá phải tự vẫn bằng cách thắt cổ vào ngày 3 tháng 10, trước ngày ông Giáp chết một ngày. Tại sao ông lại được vinh danh khi chính ông là một phần nguyên nhân của những cái chết đau đớn ấy?

Tất nhiên, ông Giáp không còn là lãnh đạo đất nước từ lâu, các chính sách, hành động của chính quyền này ông không tham gia. Nhưng chính  cái quá khứ “oai hùng” và  cái hiện tại vô trách nhiệm của ông tạo nên tính chính đáng cho chế độ tàn ác này. Chế độ này vẫn lấy ông ra làm cái bệ đỡ để biện minh cho những hành động bán nước hại dân của họ. Ông là cái phao cứu sinh khi những người lãnh đạo cộng sản đối diện với sự căm phẫn của người dân vì sự tham quyền cố vị của họ. Không hiểu vì tuổi già làm tiêu hao ý chí, vì sự sợ hãi làm xói mòn lương tâm, hay vì danh lợi của con cháu làm tiêu tan tinh thần trách nhiệm, mà cho đến những năm cuối đời ông Giáp vẫn lặng thinh trước hiện tình đất nước vật vã dưới chế độ độc tài, vẫn để cho nhà cầm quyền tiếp tục lợi dụng ông cho chế độ bất nhẫn của họ. (Chỉ có một lần ông lên tiếng yếu ớt cho vấn đề Bauxite Tây nguyên)

Giá như ông lên tiếng cổ vũ cho Nhân quyền Tự do thì tiếng nói của ông đã tác động mạnh mẽ đến lương tâm tuổi trẻ và có thể xoay chuyển ý thức của biết bao người dân đang bị ám thị. Một ông Giáp đại tướng quân chắc chắc có khả năng thức tỉnh quần chúng, làm rúng động đảng cộng sản hơn hẳn một Lê Công Định, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Ngọc Tuấn, Phạm Thanh Nghiên hay Phương Uyên chứ? Thế nhưng, ông đã chọn cách sống trong sự co rút và chết trong cờ xí, kèn trống của chế độ cộng sản, hơn là cách sống trong sự phản tỉnh và chết như một chiến sĩ tự do. Đáng lẽ tuổi già phải là giới hạn cuối cùng của sự sợ hãi, nhưng ông đã để nó đi cùng ông sang tận thế giới bên kia.

Có người nói: chúng ta không ở vị trí của ông nên không thể hiểu hết những gì ông phải đối mặt. Đúng! Chúng ta không hiểu hoàn cảnh và vị trí của ông. Nhưng chúng ta có thể hiểu được hoàn cảnh của những bạn sinh viên vì biểu tình yêu nước mà bị nhà trường đuổi học và  mất cả tương lai không? Chúng ta có từng đặt mình vào vị trí Phương Uyên, cô bé sinh viên phải chịu biết bao nhiêu sợ hãi, tổn thương tinh thần khi bị bắt và giam giữ, chỉ vì cô bé biểu thị lòng yêu nước?  Rồi nhiều người đối kháng khác nữa, chỉ vì lên tiếng cho Dân chủ tự do mà phải chịu những bản án nặng nề, mất cả hạnh phúc trăm năm, con cái bơ vơ- thất học. Hoàn cảnh của ông Giáp có ngặt nghèo hơn hoàn cảnh của những người kể trên hay không? Hay để dễ hình dung hơn, tình huống của ông có khó khăn hơn tình huống của tướng  Trần Độ, của cụ Hoàng Minh Chính hay không? Tôi cho rằng, vấn đề là ở lương tâm và bản lĩnh!

Ông đã ra đi để lại tất cả, một chế độ độc tài dai dẳng,  những mảnh đời oan khuất, những cuộc đàn áp tiếp diễn, những cái chết oan khiên… Nhưng những dòng này không phải để kể tội ông. Quả thật, thế giới này tồn tại trong trạng thái tương đối của mọi giá trị. Nhưng vẫn có cách để phân biệt những trí tuệ và nhân cách lớn CHÂN THẬT với  sự tô vẽ KHÔNG THẬT. Cầu cho ông ra đi được bình an và xin gởi tới ông sự cảm thương cho một kiếp người đa đoan trong thế giới vô minh này; nhưng sự tôn kính thì tôi xin giữ lại cho những con người sống với tương tâm, trách nhiệm và ý chí và chết với nỗ lực lên tiếng cho sự thật. Việt Nam còn rất nhiều người để chúng ta thành tâm ca ngợi và kính ngưỡng, nhưng đó không phải là ông.

Sài Gòn tháng 10 năm 2013

© Huỳnh Thục Vy

© Đàn Chim Việt

Bị khủng bố đánh đập vì tố cáo lãnh đạo

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok.  2013-10-15

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/accus-lead-get-reveng-10152013063929.html

Lê Thị Phương Anh vợ anh Lê Anh Hùng

Lê Thị Phương Anh vợ anh Lê Anh Hùng/ Screen capture/danchimviet.info

Nghe bài này

Một đôi vợ chồng vì dám tố cáo các vị lãnh đạo đương thời từ mấy năm qua liên tục bị bắt bớ đánh đập và bị cho là tâm thần trong khi đơn tố cáo của họ không được xem xét giải quyết thỏa đáng.

Vụ việc của họ nay được chú ý qua sự lên tiếng của người khác yêu cầu cơ quan chức năng phải điều tra giải quyết đến nơi đến chốn.

Bắt bớ đánh đập

Vào ngày 8 tháng 10 vừa qua, bà Lê thị Phương Anh, vợ của ông Lê Anh Hùng ngụ tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị lại bị một nhóm người bắt cóc từ chiều đến tối khuya mới thả ra.

Bản thân bà Lê thị Phương Anh kể lại sự việc như sau:

Chiều hôm qua tôi nhận lương tháng thứ hai nơi làm việc, và bạn bè rủ đi ra một quán nhậu bình dân tại Đông Hà. Khi tôi đi vệ sinh, mở cửa ra tôi thấy một nhóm thanh niên đứng ngoài và giơ tay bị miệng tôi. Lúc đó tôi không biết gì cả. Khi tỉnh lại tôi thấy đang nằm trong một căn nhà trê có lợp ngói. Chúng hăm dọa, đánh vào đầu và bụng tôi và yêu cầu phải ký vào tập giấy xác nhận vụ việc chồng tôi là Lê Anh Hùng tố cáo là hoàn toàn bịa đặt và vu khống cho lãnh đạo nhà nước Việt Nam.

Tôi không chịu ký thì họ dọa sẽ tiêm thuốc và cho đàn em hiếp. Trong lúc đó chuông điện thoại trong xách của tôi đổ lên, một thằng cầm chân và một thằng cầm tay, còn bốn thằng đứng phía ngoài, chúng định tiêm tôi; nhưng chuông điện thoại trong xách của tôi đổ, chúng ngưng lại và lấy điện thoại nói với ai rằng ‘Xếp ơi, máy con này có số điện thoại nước ngoài nhiều lắm, hai thằng bỏ ra ngoài nghe điện thoại; một lúc sau chúng vào đánh và thả ra cho tôi về.

Ông Lê Anh Hùng, chồng của bà Phương Anh cũng từng bị bắt do việc tố cáo các lãnh đạo cao cấp Việt Nam hiện nay gồm phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và ông Nông Đức Mạnh, nguyên tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Lê Anh Hùng kể lại:

Chúng hăm dọa, đánh vào đầu và bụng tôi và yêu cầu phải ký vào tập giấy xác nhận vụ việc chồng tôi là Lê Anh Hùng tố cáo là hoàn toàn bịa đặt và vu khống cho lãnh đạo nhà nước Việt Nam. Tôi không chịu ký thì họ dọa sẽ tiêm thuốc và cho đàn em hiếp.

bà Lê thị Phương Anh

Họ bắt tôi hai lần: một lần vào ngày 25 tháng 12 năm 2009. Sau 8 tháng, tôi được trả tự do ngày 24 tháng 8 năm 2010. Lần thứ hai vào ngày 24 tháng 1 năm 2013 đến ngày 5 tháng 2, 2013 thả tôi ra; họ đẩy tôi vào trại tâm thần trá hình là Trung tâm Bảo trợ 2 Hà Nội.

Riêng ông Lê Anh Hùng cho biết quá trình gửi đơn thư tố cáo của hai vợ chồng ông:

Vụ việc này tôi đã tố cáo từ năm 2008 đến nay. Tận bây giờ họ vẫn chưa giải quyết đúng pháp luật mặc dù chúng tôi đã gửi đơn thư rất nhiều lần. Nếu tính qua đường Internet thì đã đến 73 lần và lần mới nhất là ngày 16 tháng 9 vừa rồi, vợ chồng tôi đã cùng ký đơn và cùng gửi cho chủ tịch nước Trương Tấn Sang, bộ trưởng Công an Trần Đại Quang và đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc. Trong lá đơn mới nhất đó cả vợ tôi và tôi cùng ký tên. Đến bây giờ họ vẫn chưa hồi âm gì về lá đơn thư mới nhất của chúng tôi. Trước đó họ giải quyết không đúng pháp luật nên chúng tôi không chấp nhận.

Trả lời giải quyết

Một nơi được ông Lê Anh Hùng gửi thư tố cáo đến để nhờ yêu cầu giúp đỡ là đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc. Vị đại biểu quốc hội này đã trả lời cho ông, tuy nhiên theo ông Lê Anh Hùng thì nội dung trả lời không đáp ứng được yêu cầu mong đợi:

Ngày 6 tháng 6 năm 2012 tôi gửi đơn thư trực tiếp cho ông Dương Trung Quốc, đến ngày 18 tháng 7 năm 2013 tức hơn một năm sau, ông Dương Trung Quốc chuyển cho tôi văn bản trả lời của Bộ Công An. Văn bản trả lời của Bộ Công an, họ cắt đầu, cắt đuôi không biết cơ quan nào phát hành, không biết ai ký cả. Họ lấy lại kết quả điều tra năm 2009 để trả lời cho vụ việc lần này. Mặc dù trong tố cáo lần này, vợ tôi viết bản cam đoan phủ nhận những lời khai trước đây khi tôi bị bắt năm 2009 mà vợ tôi đã khai. Vợ tôi phủ nhận lại và khẳng định vai trò của vợ tôi trong câu chuyện, nhưng họ lại không căn cứ vào bản cam đoan của vợ tôi mà bê nguyên xi kết luận của lần tôi bị bắt trước để trả lời cho tố cáo lần này. Tôi thấy không thuyết phục và đó là cách trả lời theo kiểu chà đạp lên pháp luật.

Tình trạng cô này bị bắt cóc, tôi thấy đã lên mạng rất nhiều lần rồi, thế thì tôi lập tức thông báo đến bạn bè của tôi trong facebook để tất cả cùng lên tiếng cứu cô Phương Anh; chứ tình trạng một người phụ nữ mà cứ bị một bọn khủng bố, sức dài vai rộng, lực lưỡng đàn ông bắt đánh đập, rồi hãm hiếp người ta…

Bà Ngô thị Hồng Lâm

Bản thân ông Lê Anh Hùng cho hay dù biết khi làm đơn tố cáo đối với những nhân vật cao cấp như thế tại Việt Nam hiện nay sẽ phải đối diện với mọi hình thức trấn áp, trả thù mà vợ chồng ông từng chịu trong thời gian năm năm qua; tuy nhiên theo ông lương tâm con người buộc ông phải làm điều đó.

Người ngoài lên tiếng

Sau khi xảy ra vụ bắt cóc, đánh đập và hăm dọa mới đối với bà Lê thị Phương Anh, một người dân tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, bà Ngô thị Hồng Lâm có thư gửi cho đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc đề nghị ông Dương Trung Quốc không phải làm việc chuyền phát thư tín của bưu điện mà phải giám sát quá trình xử lý đơn thư tố cáo của hai vợ chồng bà Lê thị Phương Anh và ông Lê Anh Hùng. Bà Ngô thị Hồng Lâm cho biết:

Tình trạng cô này bị bắt cóc, tôi thấy đã lên mạng rất nhiều lần rồi, thế thì tôi lập tức thông báo đến bạn bè của tôi trong facebook để tất cả cùng lên tiếng cứu cô Phương Anh; chứ tình trạng một người phụ nữ mà cứ bị một bọn khủng bố, sức dài vai rộng, lực lưỡng đàn ông bắt đánh đập, rồi hãm hiếp người ta. Người ta là con người chứ đâu phải con vật mà tình trạng đó cứ kéo dài đi, kéo dài lại.

Trước đây tôi chưa hề lên tiếng trong việc này; nhưng theo dõi trên truyền thông tôi thấy cứ lặp đi lặp lại đối với một người phụ nữ như thế thì vừa tàn nhẫn, vừa dã man quá mà không có trường hợp nào đứng ra bênh vực hai vợ chồng dân đen này; cho nên tôi bắt buộc bằng những kiến thức, những hiểu biết của mình để chất vấn ông đại biểu Dương Trung Quốc và tôi sắp đi Hà Nội đến tận nơi chất vấn ông này vì sao một trường hợp công dân như vậy! Đại biểu quốc hội đại diện cho dân phải lên tiếng, phải giám sát chứ không phải ngồi đó chuyển phát thư, xong rồi nói theo chiều gió là không được.

Vì sao Trung Quốc lại dịu giọng với Việt Nam?

Chuyến công du Việt Nam của ông Lý Khắc Cường là chuyến thăm cấp cao đầu tiên của một giới chức nhà nước Trung Quốc sau khi ban lãnh đạo mới của ông Tập Cận Bình lên nắm quyền ở Bắc Kinh hồi cuối năm ngoái.

Chuyến công du Việt Nam của ông Lý Khắc Cường là chuyến thăm cấp cao đầu tiên của một giới chức nhà nước Trung Quốc sau khi ban lãnh đạo mới của ông Tập Cận Bình lên nắm quyền ở Bắc Kinh hồi cuối năm ngoái.

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường hôm 15/10 đã kết thúc chuyến thăm Việt Nam sau khi hai bên ra tuyên bố chung về việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện.

Trang web của chính phủ Việt Nam nhận định rằng chuyến thăm của ông Lý ‘có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố sự tin cậy chính trị giữa hai nước’.

Liên quan tới các tranh chấp lãnh hải trên biển Đông, vốn gây căng thẳng giữa đôi bên thời gian qua, văn bản vừa kể nói rằng Việt Nam và Trung Quốc ‘đồng ý thành lập nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển’.

Trong cuộc phỏng vấn mới đây dành cho Ban Việt Ngữ VOA, một học giả nghiên cứu về quan hệ Việt – Trung, ông Dương Danh Dy, cho biết nhận định của ông về vấn đề vì sao Trung Quốc lần này lại chủ động dịu giọng sau nhiều lần lớn tiếng với Hà Nội về vấn đề tranh chấp trên biển Đông.

Phía Trung Quốc hiện nay đang bị cô lập trong vấn đề tranh chấp lãnh hải. Trên biển Hoa Đông thì họ đang căng thẳng với Nhật Bản ở quần đảo Senkaku, còn trên biển Đông thì họ đang va chạm và xung đột với Philippines và cả Việt Nam nữa. Trước dư luận phản đối mạnh mẽ của quốc tế thì phía Trung Quốc muốn tỏ ra rằng là họ không phải là hiếu chiến, không phải là bành trướng.
Ông Dương Danh Dy nói.

“Phía Trung Quốc hiện nay đang bị cô lập trong vấn đề tranh chấp lãnh hải. Trên biển Hoa Đông thì họ đang căng thẳng với Nhật Bản ở quần đảo Senkaku, còn trên biển Đông thì họ đang va chạm và xung đột với Philippines và cả Việt Nam nữa. Trước dư luận phản đối mạnh mẽ của quốc tế thì phía Trung Quốc muốn tỏ ra rằng là họ không phải là hiếu chiến, không phải là bành trướng”, ông Dy nói.

Cựu giới chức ngoại giao Việt Nam nói thêm: “Việt Nam thì bao giờ cũng muốn giải quyết vấn đề biển Đông một cách hòa bình bằng thương lượng cho nên khi mà Trung Quốc đồng tình, Việt Nam cũng tương kế, tựu kế để nghĩ ra các cách làm nhằm hạn chế bớt sự ngang ngược và hiếu chiến của Trung Quốc”.

Tuyên bố chung một lần nữa nhắc tới phương châm ‘láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’ và tinh thần ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’.

Về việc tuyên bố chung nhiều lần nhấn mạnh tới từ ‘hợp tác’, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc, cho rằng điều đó chỉ mang tính ngoại giao.

“Ngoại giao ‘nháy nháy’ nhiều hơn, tính chất bề ngoài nhiều hơn chứ không có thực chất. Còn lâu mới triển khai được cái này. Lợi ích về biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc như nước với lửa. Việt Nam bảo là của Việt Nam. Trung Quốc bảo là của Trung Quốc”, ông Dy nói.

Người Trung Quốc thì ý đồ bành trướng xâm chiếm lãnh thổ của họ rất dài. Họ sẵn sàng chờ đợi 10 năm, 20 năm, 30 năm thậm chí là hàng trăm năm. Chưa lấy được biển Đông thì họ chưa thôi trừ phi đất nước Trung Quốc suy yếu đi.
Ông Dương Danh Dy nói thêm.

Ông nói thêm: “Người Trung Quốc thì ý đồ bành trướng xâm chiếm lãnh thổ của họ rất dài. Họ sẵn sàng chờ đợi 10 năm, 20 năm, 30 năm thậm chí là hàng trăm năm. Chưa lấy được biển Đông thì họ chưa thôi trừ phi đất nước Trung Quốc suy yếu đi”.

Chuyến công du Việt Nam của ông Lý Khắc Cường là chuyến thăm cấp cao đầu tiên của một giới chức nhà nước Trung Quốc sau khi ban lãnh đạo mới của ông Tập Cận Bình lên nắm quyền ở Bắc Kinh hồi cuối năm ngoái.

Trong những năm gần đây, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao của Việt Nam và Trung Quốc đều có những phát biểu phản bác nhau liên quan tới các vụ việc xảy ra ở biển Đông.

Tuyên bố chung viết: “Hai bên nhất trí kiểm soát tốt những bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát tranh chấp trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước”.

Tuy nhiên, văn bản mới nhất này vẫn gây ra nhiều tranh luận trên mạng xã hội về sự nhún nhường của Việt Nam cũng như về tầm ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với Hà Nội.

Đối với Trung Quốc, tất cả những chuyện va chạm, xung đột với họ ở trên biển không phải lúc nào cũng bù lu bù loa lên đâu.
Ông Dương Danh Dy nói.

Về các ý kiến trái chiều này, ông Dy nhận định: “Những chuyện gì có thể im lặng được thì chúng tôi [Việt Nam] im lặng. Những việc gì có thể nói khẽ thì chúng tôi nói khẽ, mặc dù nhiều khi sự việc rất nghiêm trọng. Đối với Trung Quốc, tất cả những chuyện va chạm, xung đột với họ ở trên biển không phải lúc nào cũng bù lu bù loa lên đâu. Khi nào cần thiết thì mới phải nói thôi”.

Tuyên bố hợp tác giữa Hà Nội và Bắc Kinh được đưa ra sau khi Ngoại trưởng Mỹ mới đây cho rằng các nước đang trong vòng tranh chấp với Trung Quốc trên biển Đông nên xử lý vấn đề dựa trên luật pháp quốc tế, thay vì đưa ra những thỏa thuận riêng rẽ với Trung Quốc.

Bắc Kinh từ trước tới nay vẫn tuyên bố muốn giải quyết vấn đề lãnh hải trên vùng biển mà họ gọi là biển Nam Trung Hoa với từng nước liên quan và phản đối các biện pháp đa phương.

Mới đây, Bắc Kinh lặp lại yêu cầu đòi Mỹ, Nhật và các nước khác không nhúng tay vào cuộc tranh chấp ở vùng biển được coi là giàu tài nguyên giữa Trung Quốc với một số quốc gia Đông Nam Á.

Một số bài tường thuật liên quan:

Philippines đưa Trung Quốc ra tòa, bài học nào cho Việt Nam?

Cuộc chiến biên giới Việt – Trung nhìn từ phía bên kia

Biển Đông ‘đánh thức’ tinh thần dân tộc của người Việt?

Những điều ít được biết đến về Tướng Giáp

Các lãnh đạo Việt Nam tiễn đưa linh cữu Tướng Giáp ra khỏi nhà tang lễ Quốc gia ngày 13/10/2013.

Các lãnh đạo Việt Nam tiễn đưa linh cữu Tướng Giáp ra khỏi nhà tang lễ Quốc gia ngày 13/10/2013.

REUTERS/Kham

Vào hôm nay, 13/10/2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về đến nơi an nghỉ cuối cùng tại quê nhà tỉnh Quảng Bình. Từ lúc ông qua đời đến nay, đã có rất nhiều bài viết về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Trong khuôn khổ tạp chí đặc biệt hôm nay, RFI Việt ngữ xin giới thiệu nhận định của Giáo sư Carl Thayer – chuyên gia kỳ cựu về quân sự và chính trị Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) – về một số yếu tố ít được nói đến, nếu không muốn nói là hoàn toàn vắng bóng – trong tiểu sử chính thức của Đại tướng Giáp.

RFI : Cho đến nay, các nhà báo và các nhà bình luận đã nói rất nhiều về cuộc đời của tướng Giáp. Theo quan điểm của Giáo sư, di sản chính của ông Giáp là gì ?

CarleThayer : Sự nghiệp của Tướng Võ Nguyên Giáp trải dài trên 64 năm kể từ năm 1927, khi ông bị trục xuất khỏi trường Quốc Học vì hoạt động chính trị, cho đến năm 1991 khi ông chính thức rời bỏ tất cả các chức vụ trong Đảng và Nhà nước. Sự nghiệp của ông có thể chia thành năm giai đoạn :

– 1927-1944 : Ông còn là một học sinh đấu tranh, nhà báo, một nhà tuyên truyền chính trị, một tù nhân, một giáo viên và một sinh viên sau đại học ;

– 1944-1973 : Ông giữ nhiều chức vụ trong đó có chức chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Bộ Chính trị ;

– 1974-1980 : Ông từ bỏ quyền kiểm soát hoạt động của quân đội và giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Bộ Chính trị ;

– 1980-1991 : Ông thôi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Bộ Chính trị ; trong thời gian này, ông phụ trách khoa học và công nghệ, dân số và kế hoạch hóa gia đình, và sau đó giáo dục ;

– 1991-2013 : Tướng Giáp rời khỏi chức vụ cuối cùng là Phó Thủ tướng chính phủ và nghỉ hưu vĩnh viễn.

Di sản chính của Tướng Giáp xuất phát từ vai trò tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hai (1944-1973). Ông bắt đầu chỉ huy một trung đội 34 người và phát triển lực lượng này thành một đạo quân nhân dân gồm vài trăm ngàn người trong không đầy mười năm. Tướng Giáp đồng thời kết hợp các tác phẩm quân sự của Napoleon, Clausewitz và Mao Trạch Đông với truyền thống quân sự cổ xưa của Việt Nam.

Tướng Giáp nắm vững nghệ thuật chiến tranh nhân dân bằng cách vận động dân chúng để chiến đấu và trở thành nhân công trong mạng lưới hậu cần rộng lớn của ông. Tướng Giáp biết kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự. Mục tiêu của ông là đuổi Pháp ra khỏi Việt Nam trong một cuộc chiến tranh trường kỳ.

Chiến công lẫy lừng nhất của ông là chiến dịch dẫn đến sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ. Tướng Giáp dùng chiến thuật nghi binh, gửi lực lượng của mình sang Lào và rồi sau đó cấp tốc chuyển hướng tiến đến vùng thung lũng Điện Biên Phủ. Tướng Giáp đã nhanh chóng bác bỏ lời khuyên của các chuyên gia Trung Quốc tung các làn sóng người tấn công vào doanh trại quân Pháp. Ông đã sử dụng chiến thuật bao vây, với lực lượng được tiếp ứng liên tục về mặt hậu cần, cung cấp lương thực, thiết bị vật tư, vũ khí và đạn dược cho chiến trường.

Tầm quan trọng của trận Điện Biên Phủ là nó không chỉ đánh dấu sự thất bại của thực dân Pháp ở Đông Dương, mà cả của chủ nghĩa thực dân như một hệ thống trên toàn thế giới. Trong vòng tám năm sau đó, Pháp sẽ phải chịu thất bại ở Algeri.

Hai tiểu sử : Chính thức và không chính thức

RFI : Giáo sư đánh giá sao về một số « điều được che giấu » về cuộc đời của Tướng Võ Nguyên Giáp, những điều không hề xuất hiện trong tiểu sử chính thức ?

Carl Thayer : Có hai phiên bản về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước hết là tiểu sử chính thức mang tính chất tôn vinh, gán cho ông tất cả những thành công quân sự của Việt Nam kể từ năm 1944 và miêu tả ông như một viên tướng tài ba hoàn hảo.

Phiên bản thứ hai về sự nghiệp của Tướng Giáp không mang tính chất chính thức và cho thấy rằng ông là một người kiên định – có người cho đây là tính kiêu ngạo về mặt trí thức – một người cá nhân chủ nghĩa dễ nổi giận khi bị can thiệp vào vai trò tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang của ông. Ông được mô tả như là “ngọn núi lửa dưới lớp băng tuyết” chính vì yếu tố được cho là nóng nảy đó.

Tướng Giáp có nhiều người ủng hộ nhưng cũng bị nhiều người gièm pha. Lúc còn công tác, ông thường xuyên đụng chạm với những người gièm pha và các đối thủ của ông, những người không ngần ngại chỉ trích ông. Những người phê phán ông xuất phát từ hai động cơ : Chủ nghĩa giáo điều về mặt ý thức hệ và lòng ghen tị, sợ rằng Tướng Giáp nổi tiếng sẽ làm quyền lực của họ suy yếu. Đấy là thời kỳ lãnh đạo tập thể vô danh.

Trong suốt sự nghiệp của mình, ông Giáp từng bị chỉ trích vì đã tìm kiếm một học bổng của chính quyền thực dân Pháp, có người thậm chí còn hàm ý rằng – nếu không nói là buộc tội ông – là một nhân viên Sở Mật thám Pháp.

Ông cũng bị đả kích vì học chương trình Pháp, có được bằng tú tài baccalauréat, học tại trường Trung học Albert Sarraut có uy tín, nơi ông đứng đầu môn triết học, và Trường Đại học Luật Hà Nội, nơi ông tốt nghiệp thủ khoa về kinh tế chính trị. Đối thủ của Tướng Giáp đã dùng thành tích học tập của ông để quật lại ông. Dẫu sao thì ông thành viên duy nhất trong ban lãnh đạo bên trong (tối cao) của Đảng có được một nền giáo dục phương Tây.

Các yếu tố không được phép nêu lên trong sự nghiệp của Tướng Giáp cho thấy một tập thể lãnh đạo chia rẽ và sự ganh đua rõ ràng giữa các cá nhân. Cuộc đối đầu giữa Tướng Giáp với nhà ý thức hệ Trường Chinh đã thành huyền thoại, tương tự như các cuộc đụng độ sau này của ông với Tướng Nguyễn Chí Thanh và ông Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất của Đảng Cộng sản.

Bất đồng với Trường Chinh về vai trò cố vấn Trung Quốc

Năm 1946, Trường Chinh, đứng thứ hai trong ban lãnh đạo sau Hồ Chí Minh, đã thất bại trong việc ngăn không cho ông Giáp được phong cấp Đại tướng và chức chỉ huy Quân đội Nhân dân. Trường Chinh và Tướng Giáp bất đồng về phạm vi và mức độ mà các cố vấn quân sự Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến chiến lược chiến trường của Việt Nam, và trên quyền của Tướng Giáp được đơn phương bổ nhiệm các trợ lý quan trọng.

Vào năm 1951, Tướng Giáp đã cho mở một cuộc tấn công quá sớm vào các vị trí kiên cố của Pháp ở đồng bằng sông Hồng. Chiến dịch thất bại và Quân đội Nhân dân bị thương vong nặng nề. Tướng Giáp bị buộc phải tự phê bình, cách chức một số phụ tá quan trọng, cho phép thành lập một hệ thống chính trị viên trong quân đội, và chấp nhận các cố vấn quân sự Trung Quốc ở các cấp độ khác nhau trong Quân đội Nhân dân.

Sau khi Chiến tranh Đông Dương đầu tiên (1946-1954) kết thúc Việt Nam bị chia cắt. Mặc dù Tướng Giáp đã có uy tín rất lớn, nhưng những kẻ đả kích ông vẫn tiếp tục thách thức quyền lực của ông và đặt nghi vấn về cách ông điều hành cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Bí thư Thứ nhất của Đảng là Lê Duẩn muốn đẩy mạnh việc lật đổ chính quyền miền Nam, ông Giáp thận trọng hơn và hai người kình chống nhau.

Phe gièm pha Tướng Giáp đã thành công trong việc đề bạt ông Nguyễn Chí Thanh (1959) và sau đó là ông Văn Tiến Dũng (1974) lên cấp Đại tướng. Trước lúc những người này được thăng cấp, chỉ có ông Giáp mang cấp Đại tướng mà thôi. Cả hai vị tướng mới đề bạt về sau, đều đã giành lấy quyền kiểm soát hoạt động chiến tranh trong Nam từ tay của ông Giáp.

Vào năm 1960, Tướng Giáp đã bị đẩy lùi từ hàng thứ tư xuống hàng thứ sáu trong Bộ Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba. Chủ trương chung sống hòa bình của lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev vào năm 1960 là điều đã tác hại đến nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam.

Tướng Giáp, người thiên về phía Liên Xô – nước đã hỗ trợ quân sự cho Việt Nam – và có thái độ phê phán với Trung Quốc, đã không đồng nhịp với các lãnh đạo khác. Một lần nữa, ông đã bị các đồng chí chỉ trích.

Trong năm 1965, khi Hoa Kỳ tung lực lượng chiến đấu vào Việt Nam, Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh ra lệnh tung các đơn vị Quân đội Nhân dân miền Bắc vào cuộc chiến. Nguyễn Chí Thanh là người thiết kế chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 nhưng qua đời vì một cơn đau tim trước khi chiến dịch được thực hiện. Lực lượng Cộng sản miền Nam nằm vùng bị thương vong rất lớn, Tướng Giáp được phuc hồi và uy tín của ông tăng thêm.

Sau cái chết của Hồ Chí Minh vào năm 1969, một bộ ba lãnh đạo mới nổi lên : Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Vào thời điểm đó, Tướng Giáp nắm ba vai trò quan trọng : Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, ông không bao giờ lấy lại được quyền kiểm soát hoạt động của các lực lượng vũ trang. Tướng Giáp đã phản đối cả hai chiến dịch Tết Mậu Thân và chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, và ý kiến ông đã bị bác bỏ cả hai lần.

Tháng 4 năm 1972, Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ và đến tháng 10 năm 1973, ông được trao quyền chỉ huy của cuộc tấn công cuối cùng của cuộc chiến : Chiến dịch Hồ Chí Minh. Điểm đáng chú ý, đó là sự kiện chính một Ủy viên dân sự cao cấp của Bộ Chính trị – ông Lê Đức Thọ – chứ không phải là Tướng Giáp, là người ra chỉ thị cho Quân đội Nhân dân bắt đầu chiến dịch tấn công cuối cùng của mình bằng cách tấn công Ban Mê Thuột ở vùng Cao nguyên.

Sau năm 1975, bị gạt ra bên lề, nhưng vẫn lên tiếng

RFI : Về các hoạt động của ông sau năm 1975, một số người cho rằng ông đã hoàn toàn không còn vai trò gì, nhưng cũng có người thấy rằng người ta gạt được ông ra bên lề, nhưng không hoàn toàn bịt miệng được ông. Ý kiến ​​của Giáo sư như thế nào ?

Carl Thayer : Sau khi Việt Nam thống nhất, Tướng Giáp vẫn làm Bộ trưởng Quốc phòng cho đến năm 1980. Nhưng chính Tướng Văn Tiến Dũng là người chỉ huy quân đội Việt Nam đánh qua Cam Bốt vào cuối năm 1978 và bảo vệ miền Bắc Việt Nam vào tháng Hai – tháng Ba năm 1979 khi Trung Quốc xâm lăng Việt Nam để trả thù.

Rõ ràng ngôi sao của Tướng Giáp vào thời điểm đó lu mờ nhanh chóng. Năm 1976, Tướng Văn Tiến Dũng là người đọc báo cáo quân sự tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ tư, còn Tướng Giáp được phân công nói về các chính sách của Đảng về khoa học và công nghệ. Tướng Giáp cũng không thành công khi phản đối việc giao cho quân đội nhiệm vụ xây dựng đất nước sau chiến tranh. Ông đã phải cúi đầu trước nguyên tắc “tập trung dân chủ” của Đảng và bảo vệ chính sách của Đảng trước công chúng.

Tháng 2 năm 1980, Tướng Giáp rời khỏi Bộ Quốc phòng, nhưng vẫn giữ chức Phó Thủ tướng. Năm 1981, ông thoạt đầu bị giáng cấp từ Phó Thủ tướng thứ nhất xuống làm Phó Thủ tướng thứ ba. Đến tháng Ba năm 1982, Tướng Giáp bị loại ra khỏi Bộ Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ năm, nhưng vẫn giữ được chức Ủy viên Trung ương Đảng.

Tướng Võ Nguyên Giáp rất được lòng dân và có hậu thuẫn mạnh mẽ trong Đảng. Vào giữa những năm 1980, những người ủng hộ ông đã thất bại trong việc đưa ông lên thay thế ông Phạm Văn Đồng ở chức Thủ tướng. Cũng có rất nhiều tin đồn về việc những người ủng hộ Tướng Giáp vận động để ông trở thành lãnh đạo Đảng. Sau đó, ông Giáp lần lượt phụ trách vấn đề nhân khẩu học và kế hoạch hóa gia đình, rồi vấn đề giáo dục. Ông rời khỏi chính quyền vào năm 1991 khi về hưu trong tư cách là Phó Thủ tướng.

Rất khó đánh giá về những đóng góp của Tướng Giáp trong giai đoạn này. Việt Nam khi ấy được lãnh đạo tập thể, và cho đến năm 1986 vẫn tiếp tục đi theo mô hình kế hoạch tập trung không thành công của Liên Xô. Điều đáng nêu bật là Tướng Giáp tiếp tục hoạt động trong chính phủ cho đến năm tám mươi tuổi.

Kiên trì bảo vệ chủ quyền Việt Nam trước Trung Quốc

RFI : Có người cho rằng gần đây Tướng Giáp rất lo ngại về sự thao túng của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nhận định này có phần nào đúng hay không ?

Carl Thayer : Sự nghiệp quân sự lâu dài của Tướng Giáp cho thấy rõ là ông sẵn sàng chấp nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc và kể cả những tư vấn, nhưng ông vẫn đấu tranh để giữ được sự tự chủ và độc lập trong hành động của Việt Nam.

Tướng Giáp nghiêng về Matxcơva nhiều hơn Bắc Kinh trong thời kỳ chiến tranh, vì sự chi viện quân bị to lớn của Liên Xô cho Việt Nam – bao gồm cả tên lửa phòng không. Mặc dù Liên Xô được cho là đã khuyên Tướng Giáp “thực hiện một vụ Afghanistan” bằng cách tấn công Cam Bốt và lật đổ chế độ Khmer Đỏ được Trung Quốc ủng hộ, Tướng Giáp vẫn chống lại việc can thiệp quân sự trên quy mô lớn.

Khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ trở lại vào năm 1991, Tướng Giáp đã hoàn toàn nghỉ hưu

Trong những năm tháng nghỉ hưu, Tướng Giáp rất được biết đến với hai lần lên tiếng.

Năm 2004, ông đã viết thư cho Bộ Chính trị phê phán sự can thiệp của tình báo quân đội (Tổng Cục II) vào các công việc nội bộ của Đảng.

Năm 2009, ông thu hút sự chú ý của công luận khi viết ba thư ngỏ gửi tới các lãnh đạo Đảng và Nhà nước cảnh báo tác động môi trường của dự án khai thác bauxite, do Trung Quốc tài trợ, ở Cao nguyên Trung phần. Ông đề cập đến vấn đề này với lập luận rằng đó là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.

Sự kiện đó gây ra một dây chuyền cộng hưởng trong dân chúng nói chung, đang ngày càng lo lắng trước sự quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông.

Vị anh hùng Việt Nam cần khi phải đối mặt với ngoại bang xâm lược

RFI : Giáo sư giải thích thế nào về việc Tướng Giáp được lòng dân đến như vậy ?

Carl Thayer : Tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà chiến lược quân sự tầm cỡ thế giới. Vào năm 1944 – khi ông chỉ huy một trung đội 34 người – ai có thể nghĩ được rằng trong vòng 10 năm, ông đã phát triển lực lượng lên thành một quân đội có hàng trăm ngàn binh sĩ và đánh bại được Pháp, một trong những thế lực quân sự mạnh nhất vào thời điểm đó ? Tướng Giáp đã có được uy phong rất lớn với chiến thắng tại Điện Biên Phủ, một sự kiện đã để lại dấu ấn trong suốt cuộc đời ông.

Sự được lòng dân của ông dựa trên nhiều nền tảng. Trước tiên, hàng triệu người Việt Nam đã phục vụ trong Quân đội Nhân dân khi Tướng Giáp là Tổng chỉ huy và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông là nguồn cảm hứng của họ. Các cựu chiến binh và gia đình của họ là một thành phần to lớn trong cư dân tại Việt Nam.

Thứ hai, sau Hồ Chí Minh và có thể Phạm Văn Đồng, Tướng Giáp là lãnh đạo quốc gia duy nhất nổi bật bên trên một ban lãnh đạo tập thể mờ nhạt. Ông có sức lôi cuốn, phát biểu lưu loát và truyền cảm hứng cho người dân. Ông là vị anh hùng mà Việt Nam cần có khi phải đối mặt với sự xâm lược của ngoại bang, từ năm 1946 đến 1973 và sau đó, trong những năm 2000, khi Trung Quốc đe dọa chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.

Sau thời gian làm một nhà quân sự, Tướng Giáp đã phụ trách những lãnh vực quan trọng liên quan đến sự phát triển như khoa học và công nghệ, dân số và kế hoạch hóa gia đình và giáo dục. Đó là nền tảng thứ ba của việc ông được lòng dân.

Uy tín Tướng Giáp trong dân chúng còn dựa trên sự thành công của ông trong suốt 64 năm phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam và đất nước Việt Nam. Ông sẽ luôn luôn được tưởng nhớ như là người chỉ huy chính, đã đánh bại hai cường quốc lớn.

Rõ ràng, Tướng Giáp đã thu hút được cảm tình của cả hai thế hệ trẻ và già tại Việt Nam. Điều này được thấy qua việc người dân đủ mọi lứa tuổi thể hiện sự đau buồn, tự động đổ xô đến nhà ông để thắp nến và hương.

Tướng Giáp là hiện thân của một chính khách Việt Nam biết sử dụng trí tuệ để đưa ra các chiến thuật và chiến lược cho phép kẻ có vẻ là yếu đánh bại được kẻ mạnh.

Đảng Cộng sản cần tái cơ cấu chính mình

Nam Nguyên, phóng viên RFA.  2013-10-11

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vcp-needs-restructure-itself-nn-10112013094741.html

namnguyen10112013.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
Be-mac-8-305.jpg

Hội nghị Trung ương 8 diễn ra từ ngày 30/9 đến ngày 9/10 tại Hà Nội.

Courtesy chinhphu.vn

 

 

Hội nghị Trung ương 8 diễn ra sau cánh cửa khép kín ở Hà Nội. Kết quả 10 ngày thảo luận của Trung ương Đảng, được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc kết ngày 9/10 cho thấy, đường lối lãnh đạo đất nước của đảng Cộng sản không thay đổi, dù Đảng nhìn nhận thất bại kinh tế chưa rõ lối thoát.

Bản chất chế độ không thay đổi

Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được đăng nguyên văn trên truyền thông báo chí chính thức có đoạn nói rằng, việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện 3 đột phá chiến lược mới chỉ là bước đầu, còn chậm và nhiều bất cập. Đặc biệt, Đề án tổng thể tái cấu trúc nền kinh tế chưa thực sự định hướng được cho việc tái cấu trúc các ngành, lĩnh vực trên phạm vi cả nước và các vùng.

Nhận định về vấn đề vừa nêu TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã tự giải thể, từ Hà Nội phát biểu:

Chừng nào vẫn đường lối như bây giờ, vẫn khư khư đất đai sở hữu toàn dân vẫn cứ muốn kinh tế Nhà nước làm chủ đạo thì làm sao có thể tái cơ cấu được.
-TS Nguyễn Quang A

“Nền kinh tế này chỉ có thể tái cơ cấu khi đảng Cộng sản tái cơ cấu lại chính mình. Đó là về tổng thể, còn chừng nào vẫn đường lối như bây giờ, vẫn khư khư đất đai sở hữu toàn dân vẫn cứ muốn kinh tế Nhà nước làm chủ đạo thì làm sao có thể tái cơ cấu được.”

Xác định Việt Nam tiếp tục con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh đến việc hoàn thiện thể chế này đồng bộ về hệ thống pháp luật, chính sách về kinh tế, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và các chủ thể kinh tế tham gia thị trường; và cơ chế vận hành nền kinh tế, trước hết là cơ chế hoạt động bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Trong dịp trả lời chúng tôi, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Vì cải cách thế chế chậm nên các mục tiêu quan trọng của tái cơ cấu kinh tế cho đến nay cũng chưa được thực hiện bao nhiêu. Thí dụ như tái cơ cấu ngân hàng, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu đầu tư công đều chậm. Tình hình kinh tế khó khăn trong mấy năm vừa qua liên tục kéo dài cho đến năm nay, triển vọng cũng chưa rõ trong thời gian tới. Ý kiến chung cũng cho là nguyên nhân chính là do cải cách thể chế không được tiến hành đúng như yêu cầu cần thiết.Cải cách thể chế ở đây trên cơ sở phải làm rõ ra được vai trò giữa Nhà nước và thị trường, phân định được  rõ vai trò của Nhà nước và thị trường.”

nguyen-phu-trong-300913-250.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị Trung ương 8 hôm 30/9. Photo courtesy of chinhphu.vn

Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8, ông Nguyễn Phú Trọng hàm ý Hiến pháp Việt Nam dù chuẩn bị sửa đổi nhưng sẽ không thay đổi bản chất của chế độ. Ông Trọng lưu ý Đảng đoàn Quốc hội và các cơ quan chức năng phải theo đúng định hướng của Trung ương Đảng hoàn tất Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, để Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ 6 sắp tới.

Đối với việc chậm cải cách chính trị kinh tế, ông Bùi Kiến Thành chuyên gia tài chánh hiện sống và làm việc ở Hà Nội nhận định:

“Nếu nói như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là sẽ không có và không khi nào có vấn đề tam quyền phân lập ở đất nước này, thì như thế làm gì có tự do làm gì có vấn đề nhân quyền, làm gì có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế được.”

Chính sách mất lòng dân

Đúc kết khi bế mạc Hội nghị Trung ương 8, một lần nữa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Đảng báo động về tình trạng an ninh chính trị tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Bảo vệ chủ quyền quốc gia đứng trước nhiều thách thức.

Theo nhận định của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng hiện sống và làm việc ở Đà Nẵng, chính Đảng và Nhà nước đã thực hiện những đường lối chính sách làm mất lòng dân, đi ngược lại quyền lợi người dân cho nên xã hội mới tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định. Ông nói:

“Quyền lợi Tổ quốc là trên hết, những vấn đề quan trọng phải đưa ra Quốc hội thảo luận. Thậm chí phải tổ chức những Hội nghị Diên Hồng cho dân chúng góp ý. Cần xây dựng Nhà nước Pháp quyền, theo những thể chế tiên tiến thí dụ như tam quyền phân lập để chống tham nhũng, nghĩa là thiết lập một xã hội trong sạch, bầu cử tự do đưa những người tài giỏi lãnh đạo đất nước. Như vậy người dân ai nấy đều vui vẻ đồng lòng.”

Nhận định về cảnh báo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng theo nguyên văn “Bảo vệ chủ quyền quốc gia đứng trước nhiều thách thức”. Mặc dù ông Trọng không đề cập một từ nào liên quan đến những kẻ đe dọa chủ quyền Việt Nam, nhưng người đọc báo chỉ có thể liên tưởng đến tham vọng của Bắc Kinh muốn chiếm cứ toàn bộ Biển Đông với đường chủ quyền hình lưỡi bò. GSTS Nguyễn Thế Hùng nhận định:

Quyền lợi Tổ quốc là trên hết, những vấn đề quan trọng phải đưa ra Quốc hội thảo luận. Thậm chí phải tổ chức những Hội nghị Diên Hồng cho dân chúng góp ý.
-GS Nguyễn Thế Hùng

“Nếu như không có cường quốc hàng đầu là Mỹ, Nhật rồi Ấn Độ, các nước tiên tiến khác thì Biển Đông đã mất từ lâu rồi. Chứ Việt Nam làm sao mà giữ Biển Đông được, ngoài biển khơi ai mạnh thì được. Tưởng rằng chúng ta ai cũng phải thấy những thế lực nào là thù địch muốn chiếm Biển Đông và thế lực nào yêu chuộng hòa bình muốn giữ ổn định thế giới. Các nước trông thấy là nếu Trung Quốc thắng, chiếm Biển Đông, độc quyền Biển Đông thì sẽ làm mất ổn định thế giới. Giữ ổn định thế giới là người ta giúp Việt Nam. Các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước phải phân định được ai là thù ai là bạn, chứ không nên quá mơ màng như vậy.”

Trước một nền giáo dục đào tạo lạc hậu không theo kịp khu vực, không đào tạo ra những thợ chuyên môn hay chuyên viên kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển. Trung ương Đảng cũng hứa hẹn đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Nhận định về vấn đề đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo ở mọi cấp học mọi ngành học theo lời ông Nguyễn Phú Trọng, Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận định:

“Để đào tạo được những người thực sự cần thiết cho nền kinh tế thì mảng cao đẳng, đại học phải thực sự có cạnh tranh. Các trường phải được tự trị và lúc đó mới đáp ứng được. Còn vẫn cứ muốn chính trị hóa ở bậc học trên như thế thì chỉ có thể cải thiện một chút gì đó, nhưng sẽ không giải quyết được triệt để. Không nên để đảng hoạt động trong trường học, cũng như trong nhà máy, trong quân đội hay là trong bộ máy nhà nước, như thế trong hệ thống giáo dục cũng không cần có những tổ chức như vậy.”

Cùng về vấn đề Đảng hứa hẹn đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng một nhà giáo chuyên nghiệp ở Đà Nẵng cho rằng cần có tự trị đại học, cần thay đổi đào tạo có phẩm chất, không nên chạy theo số lượng. Ông nói:

“Một trong những thay đổi cơ bản nhất là phải có một triết lý giáo dục lành mạnh. Các nước tiên tiến người ta không đưa chính trị vào học đường. Đào tạo là làm sao khai trí, khi mở được trí học được giá trị phổ quát của nhân loại rồi, trí tuệ thông minh rồi từ đó anh nhận xét cái này đúng, cái kia sai, đó là triết lý giáo dục. Chứ không thể hướng người ta cái này đúng cái kia sai, làm mất tính khách quan trong nghiên cứu  khoa học, mất khách quan trong vấn đề nhận xét thế giới.”

Mặc dù Tổng Bí thư  Nguyễn Phú Trọng gọi Hội nghị Trung ương 8, một hội nghị giữa nhiệm kỳ là có tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, xem xét các vấn đề một cách khách quan khoa học. Nhưng các học giả chuyên gia lại nói ngược lại là Đảng Cộng sản không nhìn thẳng vào điều gọi là cuộc khủng hoảng toàn diện ở Việt Nam cả về chính trị, kinh tế, xã hội. Chúng tôi xin lập lại lời TS Nguyễn Quang A, khi nào Đảng Cộng sản chưa tái cơ cấu chính mình, thì Việt Nam chưa thể ra khỏi những bế tắc triền miên.

Nationalist in the Viet Nam Wars

Nationalist in the Viet Nam Wars

Tác giả: Nguyễn Công Luận
 
Picture


Cuốn Hồi Ký này thuật lại những sự thực hiển nhiên trong Chiến Tranh Việt Nam, để hậu thuẫn cho chính nghĩa của phe Quốc Gia ở Miền Nam, để khẳng định đức hạnh và danh dự của quân nhân VNCH và Hoa Kỳ (và Đồng Minh) đã chiến đấu cho Tự Do của Miền Nam. Cựu chiến sĩ Mỹ và VNCH nên đọc và lưu lại cho con cháu. Đây là cuốn sách đầu tiên của một quân nhân Việt Nam viết bằng tiếng Anh dài 598 trang về Chiến Tranh Việt Nam. (vietnamesenationalist.org)
 
Tôi không là nhà báo hay văn sĩ, lại càng không phải là người điểm sách. Với tầm hiểu biết của một độc giả bình thường, xin được nêu ra vài nhận xét nhỏ – và cũng nhân đó giới thiệu về quyển sách mà một vị niên trưởng đồng môn của tôi đã viết. Độ dày của sách khiến tôi tò mò vì xưa nay ít có nhà xuất bản Mỹ nào chịu in những quyển sách dày như vậy. Tò mò của tôi đã nhanh chóng chuyển thành ngạc nhiên sau khi đọc qua những mẩu chuyện “thật thà như đếm” mà lại lôi cuốn một cách nhẹ nhàng kỳ thú chứa đựng trong đó. Tôi dán theo những nhận xét của tôi vài tấm hình; quý vị sẽ không thể thấy được hình ảnh nếu đọc message trong Yahoo Group (do hạn chế html của new version). Hình sẽ chỉ hiển thị nếu được đọc trong inbox cá nhân hoặc Google Group. Tôi rất xin lỗi về sự bất tiện này.

Mùa xuân năm 2012, nhà xuất bản Viện Đại Học Indiana cho ra mắt một quyển sách có nhan đề về Chiến Tranh Việt Nam. Không kể trang bìa, 15 trang mục lục, dẫn nhập và giới thiệu, sách dầy 598 trang, in trên khổ giấy 6X9, bìa cứng, được viết theo thể hồi ký, không viết theo mẫu mực sưu tầm nghiên cứu. Sách gồm 6 phần, 30 chương với tựa đề: Nationalist in the Viet Nam Wars – the Memoirs of a Victim turned Soldier. Tạm dịch là, Người Quốc Gia trong Chiến Tranh Việt Nam—Hồi Ký của một Nạn Nhân trở thành Chiến Binh.  

 
Khi tự nói về mình, tác giả một mực khiêm tốn cho rằng, ông là “nobody”; nhưng đọc qua vài chương, bị cuốn hút vào những câu chuyện sôi nổi và nhận chân được giá trị của cuốn sách, độc giả chắc chắn hiểu rằng – người viết chẳng phải là “nobody” mà phải là “somebody”. Sách tường thuật lại những biến cố, những kinh nghiệm bản thân và thực tế cuộc đời trong chiến tranh mà tác giả đã trải qua – hoặc biết được và tin chắc là sự thật từ đầu thập niên 1940 khi ông còn tấm bé, cho đến tháng 10 năm 1990 khi ông cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ. Ngay sau khi xuất bản, quyển sách đã được quảng bá và đón nhận rộng rãi; thế nhưng, ngay tại địa phương nơi tác giả cư ngụ, có vẻ như – vẫn không mấy người biết đến. Người ta có thể tìm được phần nhận xét, điểm sách, giới thiệu… của nhiều nhân vật tiếng tăm đã đọc quyển sách này và viết ra những nhận xét của họ như:  

– Đại Tá Gregory Fontenot, Tiến Sĩ – Giám Đốc University of Foreign Military and Cultural Studies (Army magazine, trang 65):
…”This book is a first-rate contribution to correcting the record. Readers who approach writer with their hackles well down will find a new and refreshing view of what happened in Vietnam from the end of WWII through 1975″… 


– Cố Vấn Daniel J. Cragg, Luật Sư – Chánh Án Toà Thượng Thẩm:  …”Never once in this long book does he refer to Saigon as “Ho Chi Minh City.” He is still a Vietnamese patriot although now fate has decreed that one day his bones will rest in foreign soil. For the people of his generation that may be the greatest tragedy of the Vietnam War”.  

– Luật Sư Đoàn Thanh Liêm: …”Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn hồi ký rất trung thục và lý thú này của vị cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là một người có tấm lòng yêu nước nồng nhiệt chân thành. Sau cùng, người viết xin được bày tỏ lòng biết ơn và quý trọng chân thực đối với tác giả vì sự đóng góp thật quý báu này”.  

– Đại Tá Gregory Fontenot: …”This book is a first-rate contribution to correcting the record. Readers who approach writer with their hackles well down will find a new and refreshing view of what happened in Vietnam from the end of WWII through 1975″…  

– Nhà Văn Mặc Giao: …”Đây là một cuốn sách rất đáng đọc, đáng được giới thiệu cho bạn bè ngoại quốc, nhất là cho những người trẻ Việt Nam để họ hiểu được, thấy được những lầm than, nỗ lực và hy sinh của thế hệ cha anh cho đất nước và cho chính họ”.   

– Thiếu Tướng David T. Zabecki: …”An important book. One of the most compelling and thoughtful ARVN (Army of the Republic of Viet Nam) accounts I have ever read…. It is an unblinking, unflinching account… a very honest book, the author’s integrity comes through on every page.”   

– Giáo Sư Williamson Murray: “The study of the Vietnam wars is too often a cottage industry of Americans, many of whom seem to believe the war only began with increasing U.S. involvement in the early 1960s. Admittedly, interesting work from the North Vietnamese perspective, largely in literary form, has begun to emerge, but the perspective of those who fought for the Republic of Vietnam has largely gone unreported. That is why this is an important book”.   

– Trung Tướng Lawson Magruder: “Of all the many books I have read about the Vietnam War, this one pays the ultimate tribute to the incredible sacrifices made by the courageous soldiers and people of South Vietnam. Through the eyes of a true patriot, the history and decisive operations of the conflict are reviewed from the unique perspective of a victim turned soldier. I have known the author for nearly four decades and can attest to his personal courage, his passion for life, and his intense love for his country. This book is a must read for those who want the complete picture and whole truth about a tragic war that consumed the world for over two decades.”  

– Giáo Sư Olga Dror: “His work provides us with a unique voice from the South Vietnamese side of the conflict in Vietnam. But it does much more than this. The author skillfully entwines memories of his and his family’s life with the broader picture of the events taking place in his country. As his book is unique, so has been his life”.   

– Đại Tá John Swindells: “This detailed history of the life of a Vietnamese officer offers the best understanding of the wars in Southeast Asia that I have found. Even after two year-long tours in country, I learned much from this book about the history of the region and the culture of the Vietnamese people. No one who has not read this book can claim to understand what happened. As an American officer, some of the detail is quite painful to me. Nevertheless, I strongly recommend it”. 

Người Việt có câu: “Bụt Chùa nhà không thiêng”. Người Mỹ bảo rằng: “No man is a prophet in his own land”. Người Pháp cũng nói: “Nul n’est prophète en son pays”. Cả 3 câu nói Việt – Mỹ – Pháp vừa kể nếu đem áp dụng vào trường hợp của quyển Nationalist in the Viet Nam Wars xem chừng cũng có vài phần thích hợp.   

Tác giả quyển sách là Niên Trưởng Nguyễn Công Luận – cựu sinh viên sĩ quan Khoá 12 của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Ông là một cây viết từng cộng tác với nhiều tờ báo tại Sài Gòn từ trước năm 1975 – (kể cả tờ Diều Hâu) dưới bút hiệu Lữ Tuấn. Được biết, cùng với 4 học giả Hoa Kỳ khác – mà niên trưởng là nhân vật số 2, ông đã cộng tác với Giáo Sư – Nhà Sử Học Spencer C. Tucker trong vai trò associate editor soạn thảo pho sách Encyclopedia of the Vietnam War xuất bản hồi năm 1998 (ABC-CLIO). Hiện nay, niên trưởng cũng viết cho đặc san Đa Hiệu của Tổng Hội Võ Bị và một vài tờ nhật báo, tuần báo tại California.     

Nội dung Nationalist in the Viet Nam Wars thuật lại các biến cố đáng kể xảy ra đối với cuộc đời của một người Việt Nam bình thường điển – hình tiêu biểu cho thế hệ của tác giả trong hai cuộc chiến tranh 1946-1954 và 1955-1975 tại Việt Nam, những trận giao tranh ác liệt, những cảnh giết chóc tàn bạo, những hành hạ và tù đầy thảm khốc, những tấm lòng nhân ái hay tàn ác trong chiến tranh, về con người trước súng đạn và thù hận. Sách này không phải là tài liệu nghiên cứu, mà là hồi ký có góc nhìn trung thực từ những vị trí thấp bé của người dân, người lính, không phải từ vị trí của các nhân vật quyền lực luận bàn về chuyện quốc gia đại sự.   

Toàn bộ cuốn sách được trình bầy như một quyển truyện – quyển tiểu sử viết về một cá nhân theo diễn tiến thời gian song song với lịch sử quốc gia, mà trong đó bao trùm những sự kiện và các biến cố của dân tộc về mọi mặt văn hóa, chính trị, xã hội – khi chiến tranh và lúc thanh bình. Những vấn đề được nêu lên trong sách rất đa dạng, người đọc khó có thể liệt kê hết vào nội dung của vài lời nhận xét ngắn ngủi. Hầu như vấn đề nào có liên quan đến chiến tranh, đặc biệt là những sự thật đã bị Việt cộng, giới truyền thông Mỹ và ngoại quốc xuyên tạc, vu cáo đều được ghi lại.  

Tác giả chú trọng nhiều đến những biến cố hoặc sự kiện mà đa số người ngoại quốc và một số người Việt Nam không biết, hoặc biết nhưng không quan tâm đến tác động và hậu quả. Rất nhiều điều mà người Việt Nam ai cũng rõ như một cộng một là hai; thế nhưng, nhiều người ngoài cuộc vẫn hiểu ngược lại vì thiếu dữ kiện so sánh; và nhất là, vì từ lâu đã bị đầu độc bởi những tuyên truyền xuyên tạc ác ý. Tác giả thuật lại những gì mình ghi nhận được về nhiều mặt, những sự kiện cũng như sắc thái của cuộc tranh chấp quốc-cộng qua những đoạn đời từng trải, từ thuở ấu thơ là nạn nhân của chiến tranh cho đến khi trưởng thành nhập ngũ, trực tiếp tham dự vào cuộc chiến ấy. Người đọc sẽ thấy những tâm tư của một người Việt trong một đất nước nghèo hạnh phúc và an vui, mà lại giầu bom đạn và lòng hận thù qua những mẩu chuyện nho nhỏ – những nhận xét khách quan về nhiều mặt hay dở, tốt xấu, thành bại của giới cầm quyền và quân đội của cả đôi bên diễn ra tại hạ tầng cơ sở. Nhiều vấn đề không được thế giới bên ngoài, nhất là dư luận phương Tây và Hoa Kỳ biết đến hoặc đã bị hiểu một cách sai lệch được vạch trần và kể lại trong quyển sách này. Thí dụ như, chiến tranh tại Việt Nam không phải chỉ xẩy ra từ đầu năm 1962 khi quân lực Mỹ bắt đầu can thiệp vào Việt Nam như báo chí ngoại quốc vẫn lầm tưởng.  

Tác giả thẳng thắn kể đến những bất cập của chính quyền và quân đội VNCH về chính trị hành chánh, chiến thuật, về tệ nạn tham nhũng, về thực chất chế độ dân chủ ở Miền Nam và những hạn chế nỗ lực chiến tranh không thể vượt qua; về quân sự như chiến thuật (sử dụng lực lượng), quản trị nhân sự (thăng thưởng bừa bãi); gánh nặng gia đình binh sĩ cũng như gánh nặng “tự do báo chí” và những nhiễu loạn chính trị… Chẳng hạn như, CSVN bỏ xa VNCH về kỹ thuật xảo trá – quỷ quyệt trong tuyên truyền và phản tuyên truyền.  

Tác giả chứng minh rằng VNCH không dám mạnh tay với dân chúng để đẩy mạnh nỗ lực chiến tranh chống Việt cộng trong khi hệ thống tuyên truyền lưu manh cùng với bộ máy khủng bố cùng hung cực ác của Việt cộng tại thôn quê đã nắm chặt từng mảnh vườn, từng căn nhà và từng mạng sống của người dân. Dân chúng phải làm mọi việc mà CSVN ra lệnh và chúng đã kiểm soát họ bằng súng, lựu đạn, dao găm… CSVN thực hành các phương pháp khủng bố rất hữu hiệu song song với các thủ đoạn tuyên truyền chinh phục đối tượng một cách tài giỏi. Rất nhiều anh em ruột theo 2 phe đã giết nhau không nhân nhượng chỉ vì một bên đã mù quáng nghe theo lời tuyên truyền của cộng sản. Ở nhiều chỗ trong sách cũng nói về chế độ tù đầy của cộng sản và quốc gia; thí dụ như, sự thực về vụ Phú Lợi (Chương 13).  

Bằng những hiểu biết và kinh nghiệm từng trải khi phục vụ ở nhiều nơi như Kontum, Quy Nhơn, Sài Gòn, v.v… tác giả nêu lên những sự thật về cuộc chiến ở nông thôn cũng như ở thành thị – tác dụng của chiến tranh trên mọi lãnh vực như tình yêu và hôn nhân, đạo đức và sa đọa, khuynh hướng hiện sinh và tệ nạn băng đảng…  

Tác giả ghi nhận đóng góp của những người vợ lính nghèo nàn nhưng hết lòng hy sinh cho chồng (Chương 23). Nhiều người tham dự trực tiếp trên chiến hào hay công sự phòng thủ hoặc chuyển đạn dược tiếp tế cho chồng và các chiến hữu của chồng. Trong số này có người bạn đời của tác giả, đã hỗ trợ đắc lực cho chồng, đặc biệt trong việc giúp đỡ cuộc sống của gia đình binh sĩ thuộc quyền. Chính bà cũng là sức cản mạnh mẽ giúp chồng tránh khỏi những vụ tham nhũng lớn nhỏ. Tác giả có những mối tình sâu đậm mang nặng ảnh hưởng của chiến tranh. Mối tình sôi nổi hồi năm 1957 đến 1961 không mấy phai mờ. Cho đến nay, hình ảnh người đẹp của hơn 50 năm trước vẫn còn thường xuyên ám ảnh chàng trai ngày nào trong những giấc mơ chập chờn lúc nửa đêm.  

Trong đời sống công vụ và quân vụ, tác giả chủ trương thừa hành nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phải đối phó bằng tình cảm thích đáng song song với kỷ luật và pháp chế đối với thuộc cấp, với dân chúng và với địch quân. Là một cựu Giám Đốc Nha Tiếp Nhận thuộc Bộ Thông Tin Chiêu Hồi, ông đã nhắc đến thành công lớn của chế độ VNCH về chính sách Chiêu Hồi, một chính sách độc đáo mà trên thế giới không nước nào có (Chương 19). Lòng khoan dung của người quốc gia đã thu hút về phía mình hơn 150.000 sĩ quan, cán bộ và binh sĩ CSVN (tương đương với 20 sư đoàn cộng sản) trong thời gian 12 năm (1963-1975) được rất ít người biết đến.  

Cuốn sách cũng nhắc đến những người Mỹ ở nhiều cơ quan, đơn vị tại Việt Nam, trên trận địa cũng như trong bar, night club hay trên đường phố để xác định người lính Mỹ không giống như lính Pháp trong chiến tranh 1946-1954 – sang VN để tái lập chế độ thuộc địa Pháp, giết chóc hãm hiếp bừa bãi như cộng sản đã ra rả xuyên tạc (và đã thành công). Khi nhìn bề ngoài, lính Pháp và lính Mỹ giống nhau (cũng nón sắt, quân phục màu olive, mũi lõ, mắt xanh, da trắng). Tuy vậy, Mỹ cũng mắc nhiều lỗi lầm chủ quan như thiếu hiểu biết về địch và bạn, không biết và không khai thác những chỗ yếu của đảng, quân đội và xã hội Miền Bắc, không biết bản chất cuộc chiến tranh du kích, ỷ lại vào hỏa lực mạnh và vũ khí tinh vi, đánh giá thấp chiến tranh tâm lý. Về phương diện tích cực, nhiều người Mỹ đến VN với thiện chí cao đẹp, các đơn vị Mỹ không ngại nguy hiểm khi hết lòng cấp cứu nạn nhân thiên tai và chiến tranh. Đa số các cố vấn quân sự tỏ ra khiêm tốn, thân thiện và gắn bó với các đơn vị mà họ chịu trách nhiệm. Họ truyền thụ tay nghề cho các chuyên viên VN với nhiều nhiệt tình, làm thay đổi bộ mặt khoa học kỹ thuật của Miền Nam trong chiến tranh (và cả nước ngày nay).  

Một chương trong sách (Chương 12) được dành ra để nói về những cải tổ sâu rộng toàn diện của quân đội Miền Nam cũng như Trường Võ Bị Đà Lạt (quân phục SVSQ, chương trình huấn luyện, hệ thống tự chỉ huy, nghi lễ) sau khi VNCH ra đời cuối năm 1955, khi Khóa 12 đang thụ huấn. Tinh thần và khả năng của lớp sĩ quan trẻ. Ngoài ra còn có một số tin tức và vấn đề đặc biệt mà ít người được biết về Chiến Tranh Việt Nam, như so sánh tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá giữa 2 miền Nam Bắc trong chiến tranh.  

Người đọc có thể thấy, một trong những mục tiêu của tập hồi ký là xác định vai trò lịch sử, bản chất xấu tốt và chính nghĩa của người Việt quốc gia và quân đội VNCH trong cuộc tranh chấp đổ máu quốc cộng tại Việt Nam mở màn ngay từ 1945 đến những năm tháng của bắt bớ và tù đày sau 30/4/1975. Mục tiêu hàng đầu của cuốn hồi ký là nhắm vào các thế hệ trẻ gốc Việt ở nước ngoài chỉ thông thạo Anh ngữ và các cựu chiến binh Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam. Đây là 2 lớp người cần hiểu biết rõ ràng, chính xác và đầy đủ về lịch sử Việt Nam thời cận kim để thấy Chiến Tranh Việt Nam đã bị bóp méo, xuyên tạc với những tin tức không đầy đủ, với những phóng sự vu cáo, bịa đặt, thiên vị làm lợi cho cộng sản.  

Hiển nhiên, cuốn hồi ký góp phần không nhỏ vào việc phục hồi danh dự, đồng thời vinh danh sự hy sinh cao quý của người lính Quân Lực VNCH cũng như Quân Lực Hoa Kỳ và Đồng Minh. Ở mức độ cao hơn, cuốn sách thực sự đóng góp vào nỗ lực xác định vị trí chính nghĩa vững vàng và vinh quang của chính thể VNCH trên trường quốc tế. VNCH và quân đội đã đóng góp thành công như thế nào trong việc xây dựng đất nước – đặc biệt về kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa giáo dục… vào những thời kỳ mà chiến tranh đang lên đến mức ác liệt nhất. Sau năm 1975, các tiến bộ về khoa học kỹ thuật của VNCH để lại đã giúp cho chế độ CSVN rất nhiều trong việc xây cất, phát triển kỹ nghệ. Khi tiếp thu Sài Gòn, các kỹ thuật gia Liên Xô rất ngạc nhiên trước trình độ hiểu biết tân tiến của chuyên viên Miền Nam – thừa nhận rằng, ngay tại Mạc Tư Khoa, họ cũng chỉ nghe nói đến một số kỹ thuật cao cấp ở Miền Nam Việt Nam chứ chưa hề được ứng dụng.  

Lập trường về CSVN được nói rõ ở nhiều phần trong sách. Đối với những lời khuyên chúng ta quên hận thù, tác giả khẳng định rằng người quốc gia không thù hận các cán bộ, đảng viên ở cấp thừa hành có hành động tàn ác, dã man, xảo quyệt, hại dân vì họ chỉ là tay sai phải làm những việc do cấp trên của họ chỉ định và bắt buộc. Nhưng lòng thù hận sắt máu đối với các lãnh tụ cộng sản cao cấp thì không thể quên được vì chúng đã cố tình đem chủ nghĩa cộng sản tàn độc vào làm hại đất nước, gây chết chóc cho nhiều triệu đồng bào – tàn phá quê hương, làm suy đồi nhân bản, văn hóa, đạo đức. Chúng ta không bao giờ quên mối thù sâu đậm đối với bọn lãnh tụ trung ương đảng cũng như chúng ta không thể quên được vết cắn đau đớn của con chó dại trên bắp chân mình.   Để trả lời câu hỏi “Chúng ta sẽ đối xử với người CSVN như thế nào nếu chúng ta là kẻ thắng trận?”; tác giả cho rằng, “Chắc chắn VNCH sẽ không kỳ thị, không phân biệt đối xử, không cầm tù, không trả thù người cộng sản, không thủ tiêu hoặc xử tử như họ đã đối xử với chúng ta”. 

Picture

Encyclopedia of the Vietnam War (1998) và Nationalist in the Viet Nam Wars (2012)
 
Không dễ dàng gì mà nhà xuất bản của một viện đại học lớn danh tiếng chịu ấn hành tác phẩm của một người Việt “nobody” dài 600 trang về đề tài Chiến Tranh Việt Nam – một đề tài vốn đã cũ, bị xem là nhàm chán với hàng trăm quyển sách đã được viết ra trong hơn bốn thập niên vừa qua – nếu quyển sách này không thực sự có một giá trị đặc biệt độc đáo. Việc Viện Đại Học Indiana tuyển chọn và xuất bản tác phẩm đã nói lên tầm mức uy tín và giá trị hàn lâm của cuốn sách. So với hàng núi báo chí, sách vở được các nhà in vô danh ấn hành và xuất bản một cách dễ dàng hiện nay, quyển sách này là một tác phẩm chứa đựng nhiều công phu, đem lại sự trung thực và đang góp phần làm sáng tỏ chính nghĩa VNCH.  

Hiện nay, Nationalist in the Vietnam War đã nhanh chóng trở thành tài liệu cho sinh viên dân sự tại nhiều thư viện của các Viện Đại Học như: Stanford University, Cal Poly, UC DavisUCLA, University of Oklahoma,  University of Wyoming, University of Denver, University of Idaho, Portland State… Đồng thời cũng được lựa chọn đưa vào tủ sách của các Trường Võ Bị Hải Lục Không Quân Hoa Kỳ như: US Air Force Academy, US Naval Academy, US Military Academy…  

Bằng lối hành văn giản dị, trong sáng với những tình tiết trung thực – 30 chương sách với vô số câu chuyện tách biệt nhưng không rời rạc – lôi cuốn người đọc một cách nhẹ nhàng thú vị. Tác giả đưa độc giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, đặc biệt đối với những độc giả thuộc giới trẻ, chỉ biết đến chiến tranh Việt Nam qua sách báo ngoại quốc. Sự trung thực và chính xác của các vấn đề do tác giả trình bày được xem là hết sức thành thật. Độc giả có thể đọc sách tuỳ theo cảm hứng của mình đối với từng chương sách, mà không nhất thiết cần phải theo đuổi một thứ tự nhất định nào.

Mỗi gia đình người Việt có con cháu chỉ thông thạo Anh ngữ, nhất là các anh chị em TTN/Đa Hiệu nên và cần đọc qua quyển sách này để thấu hiểu một cách thông suốt và chính xác về lịch sử Việt Nam.                                                                           

Picture

Tác giả quyển Nationalist in the Viet Nam Wars – Niên Trưởng Nguyễn Công Luận K12
 
Ngay sau khi được xuất bản – từ mùa xuân 2012, Nationalist in the Vietnam War đã được giới thiệu và bày bán tại nhiều hiệu sách khắp nơi như: nhà xuất bản Indiana University Press, Booktopia, Barnes & Noble, Amazon.com, Tower Books, Powell’s, AbeBooks, Whitcoulls…  

Do yêu cầu của bạn đọc, của văn thi hữu, của đồng môn, đồng ngũ và thân nhân, Nationalist in the Viet Nam Wars sẽ được chính thức giới thiệu vào chiều Chủ Nhật sắp tới – ngày 6 tháng 10 năm 2013 tại thành phố San Jose. Được biết, cựu Trung Tướng Lawson William Magruder III, Luật Sư Đoàn Thanh Liêm, Nhà Văn Mặc Giao, Luật Sư Jimmy Nguyễn và chính tác giả sẽ giới thiệu về quyển sách đến độc giả bốn phương. Nếu quý vị cảm thấy muốn tìm hiểu thêm về quyển sách và buổi giới thiệu này, xin vui lòng tham khảo tại http://vietnamesenationalist.org hoặc liên lạc trực tiếp với Niên Trưởng Nguyễn Công Luận K12 qua đ/c e-mail: lutuan.k12@gmail.com

Và, để có quyển Nationalist in the Viet Nam Wars – bìa cứng với chữ ký lưu niệm của tác giả, xin mời quý vị đến tham dự buổi giới thiệu (rất ngắn – vì lý do sức khoẻ của tác giả) được tổ chức tại: Mount Pleasant High School – 1750 S. White Rd. San Jose, CA 95127 từ 2 giờ trưa đến 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật 6 tháng 10 năm 2013.

Sau hết, một điều khiến tôi rất lấy làm tiếc về Nationalist in the Viet Nam Wars – là, một quyển sách hay mà lại rất thiếu hình ảnh!

Nguyên Thiều  

Việt Nam : Tương quan lực lượng trong đảng vẫn ở thế giằng co

Đảng Cộng sản luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt trong đời sống chính trị xã hội tại Việt Nam.

Đảng Cộng sản luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt trong đời sống chính trị xã hội tại Việt Nam.

REUTERS

Như tin chúng tôi đã loan, hôm qua 09/10/2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng Việt Nam khóa XI đã bế mạc sau 10 ngày làm việc. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu kết thúc hội nghị, đã nhấn mạnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng sản về mọi mặt. Bài diễn văn cảnh báo « phòng chống nguy cơ chiến tranh, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố, hình thành tổ chức chính trị đối lập ».

 Có những điều gì cần quan tâm tại Hội nghị trung ương 8 lần này, thông qua bài phát biểu trên ? Mời quý thính giả theo dõi phần phân tích của nhà báo tự do Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh:

Nhà báo Phạm Chí Dũng – TP Hồ Chí Minh  10/10/2013   by Thụy My
Nghe (15:06)     More

RFI Thân chào nhà báo Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã nhận lời trao đổi với RFI. Thưa anh, anh nhận xét như thế nào về bài diễn văn bế mạc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, có gì mới hay không ?

Nhà báo Phạm Chí Dũng : Theo ý kiến của cá nhân tôi thì bài phát biểu bế mạc Hội nghị trung ương 8 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng kỳ này cũng không khác mấy bài diễn văn kết thúc Hội nghị trung ương 7 vào tháng Năm năm nay. Tức là tình hình vẫn được đề cập một cách chung chung, gần như không có gì mới.

Có một số nội dung chính mà chúng ta có thể điểm lại trong diễn văn bế mạc Hội nghị trung ương 8 là : vấn đề kinh tế xã hội, không kéo lùi thời hạn thông qua Hiến pháp, vấn đề an ninh quốc phòng, vấn đề giáo dục.

Riêng về phần kinh tế xã hội của báo cáo, tuy có đề cập tới vấn đề nợ công còn nằm trong giới hạn cho phép, nhưng phân tích khá sơ sài. Vẫn chủ yếu nhấn mạnh những thành tích mà kinh tế Việt Nam đã đạt được, như GDP đã tăng được trên 5%, cụ thể là 5,4 đến 5,6%. Tỉ lệ thất nghiệp, tỉ lệ xóa đói giảm nghèo được kéo giảm xuống.

Tuy nhiên những phân tích này thiếu chân đứng cụ thể, vì ở Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng Tư, và Diễn đàn kinh tế mùa thu vào tháng Mười năm nay đều đề cập đến những vấn đề rất nhạy cảm của kinh tế Việt Nam.

Chẳng hạn vấn đề nợ công. Các chuyên gia phản biện độc lập nêu tỉ lệ nợ công của Việt Nam đã vượt quá giới hạn cho phép, tức vượt 65-70%. Thậm chí có những đánh giá cho rằng tỉ lệ nợ công đã lên tới 95%. Riêng tiến sĩ Vũ Quang Việt, chuyên gia người Việt ở nước ngoài, nguyên Vụ trưởng Vụ Thống kê của Liên Hiệp Quốc đánh giá là tỉ lệ nợ công theo ông tính toán đã lên tới 106%, tức khoảng trên 120 tỉ đô la. Rất cao, khác hẳn với con số công bố về nợ công của Việt Nam !

Thứ hai nữa là phần phân tích gần như không đề cập tới điểm then chốt, cũng là một tử huyệt của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đó là vấn đề nợ xấu, trong đó có nợ xấu bất động sản. Thực tế, nợ xấu và nợ xấu bất động sản chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng GDP của Việt Nam. Và theo Diễn đàn kinh tế mùa xuân năm nay, các chuyên gia đã tính là con số đó có thể gấp đôi con số công bố của Ngân hàng Nhà nước – tức vào khoảng 540 ngàn tỉ đồng, tương đương trên 20 tỉ đô la.

Mà vấn đề kinh tế lại là then chốt để định dạng những vấn đề xã hội. Diễn văn bế mạc kỳ này tuy có đề cập tới những nội dung về an ninh, « cố gắng không để xảy ra những mầm mống biểu tình, bạo loạn xã hội », nhưng cũng không đề cập tới nguyên nhân khủng hoảng kinh tế. Như Diễn đàn kinh tế mùa xuân vừa rồi phân tích, kinh tế mới là nguyên nhân chính có thể dẫn tới những bạo loạn xã hội.

Chẳng hạn như những hiện tượng « tức nước vỡ bờ » từ năm 2012 đến nay ở Tiên Lãng, Hải Phòng của Đoàn Văn Vươn. Hay hiện tượng nông dân phản ứng về đất đai một cách rất là bức xúc ở Văn Giang (Hưng Yên), Dương Nội (Hà Nội), Trịnh Nguyễn (Bắc Ninh) v.v…đặc biệt là việc xả súng vào cán bộ nhà nước của Đặng Ngọc Viết vừa rồi ở Thái Bình. Đó là những mầm mống hỗn loạn xã hội, nảy sinh từ những vấn đề kinh tế, nhất là vấn đề thu hồi đất.

RFI Bên cạnh đó còn có những vấn đề nào khác, thưa anh ?

Một trong những nội dung chính diễn văn bế mạc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là không kéo lùi thời hạn thông qua Hiến pháp sang năm 2014, mà sẽ chấm dứt vào năm nay. Tức là sau diễn văn này, sẽ giao cho các cơ quan, tiểu ban soạn thảo thống nhất lại bản Dự thảo Hiến pháp đã sửa đổi, đưa ra Quốc hội để chính thức thông qua vào cuối năm.

Như vậy, với tinh thần Hiến pháp đã sửa đổi, thì kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo, và nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề độc quyền một số mặt hàng, của một số ngành chiến lược vẫn không bị giảm bớt hoặc bỏ đi.

Và một điểm quan trọng nữa – một trong những mầm mống gây hỗn loạn xã hội là vấn đề sở hữu đất đai, cũng đã không được thống nhất chuyển từ sở hữu đất đai toàn dân sang sở hữu đất đai tư nhân. Mà đây chính là vấn đề mà công luận đã đặt ra đặc biệt sôi nổi sau vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng.

Từ đó chúng ta thấy là nếu không có những sửa đổi về sở hữu đất đai, hay nền kinh tế theo hướng thị trường hoàn toàn, thì không có cơ sở để gia nhập Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Ngoài ra cũng không thấy đặt vấn đề về việc đưa ra triển khai một số luật theo Hiến pháp là Luật biểu tình, Luật trưng cầu dân ý và Luật lập hội. Nếu như Hiến pháp cuối năm nay được thông qua với tinh thần như thế, thì không có điểm gì mới, so với tất cả những điều mà nhiều người đã phản biện từ đầu năm đến nay.

Hội nghị trung ương 8 kỳ này cũng đặt ra khá nặng về an ninh, trong đó nêu vấn đề làm sao giữ vững được an ninh quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nhưng đó chỉ là những câu chung chung mà thôi. Thậm chí tôi thấy về mặt ngôn từ, trong diễn văn bế mạc có những đoạn lủng củng, mâu thuẫn với nhau.

Chẳng hạn như câu trên nói : « An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững » thì đến câu dưới lại ghi thế này : « An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp ». Như vậy thì người dân, người đọc không hiểu ý nào là chính, tình hình an ninh chính trị đang được giữ vững hay đang diễn biến phức tạp ? Hay còn hơn cả thế nữa ?

Một điểm nữa tôi muốn phân tích thêm là Hội nghị trung ương 8 kỳ này và trong diễn văn bế mạc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn không đề cập tới việc lấy phiếu tín nhiệm trong đảng, như đã nêu ra vào khoảng tháng Ba, sau khi đưa ra Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Đến tháng Năm thì ông Nguyễn Phú Trọng gần như đặc biệt nhấn mạnh về chuyện này. Trong một số cuộc tiếp xúc cử tri ở các địa phương, ông Trọng cũng đã nhấn mạnh tới việc cần phải lấy phiếu tín nhiệm trong đảng, sau khi lấy phiếu tín nhiệm đối với 47 chức danh chủ chốt.

Trước đó cũng đã có dư luận cho là trong Hội nghị trung ương 8 hoặc vào cuối năm nay sẽ không có việc bỏ phiếu tín nhiệm trong đảng, vì có thể một ai đó, hoặc một số người nào đó không muốn điều ấy.

Một dấu hiệu nữa, là không có một thông tin công khai nào về kết quả của bảy đoàn kiểm tra chống tham nhũng do đảng thành lập cách đây khoảng ba tháng, dự kiến kết thúc vào 30/9. Dư luận cho là các đoàn kiểm tra này cũng chỉ mang tính chất hình thức.

Điều đó ảnh hưởng tới không khí chính trường, và tương quan các lực lượng chính trị tại Việt Nam có thể vẫn ở thế giằng co.

Ngay trong thời gian diễn ra Hội nghị trung ương 8 thì Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đi dự các hội nghị ASEAN và APEC ở nước ngoài. Điều này cho thấy có thể là nội dung hội nghị lần này không quá quan trọng, không sôi động và cũng không kịch tính như Hội nghị trung ương 7 vào tháng Năm. Không có việc bầu cử bổ sung một số ủy viên Bộ Chính trị, và cũng không phải là hội nghị giữa nhiệm kỳ như một số lời đồn đoán.

Như vậy, tại Hội nghị trung ương 8, các vấn đề vẫn chưa được giải quyết một cách căn bản mà còn phải chờ đến những hội nghị sau này. Nhìn tổng quan, diễn văn bế mạc hội nghị hầu như không có một điểm nào mới. Có chăng chỉ là một điểm mà tôi thấy rất kỳ cục, cũng cần nêu ra đây.

Trong một câu có viết là (…) « hình thành tổ chức chính trị đối lập », câu này nằm giữa hai dấu chấm phẩy. Việc nằm giữa hai dấu chấm phẩy như vậy khiến người ta có thể hiểu là đảng chính thức bật đèn xanh. Tất nhiên có thể nói do kỹ thuật, do lỗi đánh máy…nhưng với cách thể hiện như vậy thì diễn văn này vô hình chung lại cho phép hình thành các tổ chức chính trị đối lập, mà như trường hợp ông Lê Hiếu Đằng đề xuất về đảng Dân chủ Xã hội, có thể đứng ra thành lập một đảng mới.

RFI : Trong ngữ cảnh, người đọc chắc cũng có thể cảm thấy là « lỗi cậu đánh máy » thôi…Nhưng đây hình như là lần đầu tiên trong một bài diễn văn bế mạc hội nghị trung ương lại có nhắc đến những tổ chức chính trị đối lập ?

Tôi cho đây là lần đầu tiên. Trước đây có những văn bản đơn lẻ, nhưng không nằm trong một nghị quyết của đảng, hoặc không nằm trong diễn văn bế mạc.

Gần đây có một số tình hình mới. Chẳng hạn từ tháng Bảy vừa rồi, sau chuyến đi của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Hoa Kỳ gặp Tổng thống Obama có diễn ra mấy sự kiện ở trong nước, những phong trào dân chủ. Chẳng hạn như đề nghị thành lập một đảng mới – đảng Dân chủ Xã hội – của ông Lê Hiếu Đằng, rồi khuynh hướng xây dựng xã hội dân sự.

Tôi biết là có một luồng suy nghĩ trong nội bộ, đánh giá là việc thành lập một tổ chức đảng mới, cũng như việc hình thành xã hội dân sự đều không thuận lợi cho sự tồn tại của đảng cầm quyền hiện nay, dù Nhà nước Việt Nam đã tham gia Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Ngay cả việc thành lập một đảng mới ở Việt Nam hiện nay không vi phạm pháp luật – theo phân tích của luật sư Trần Vũ Hải, không hiểu vì lý do gì mà người ta vẫn cố gắng ngăn cản.

Đó là vì sao trong diễn văn bế mạc Hội nghị trung ương 8 đã nhấn mạnh việc (không) – từ « không » trong ngoặc đơn – hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Người ta lo sợ về chuyện đó !

Tất nhiên khi đọc kỹ, liền mạch văn thì ai cũng hiểu là không có chuyện Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại cho hình thành tổ chức chính trị đối lập. Đây chỉ là lỗi kỹ thuật thôi.

RFI : Có lẽ điều này cũng thấy rõ qua một loạt các bài trên báo chí nhà nước đả kích ông Lê Hiếu Đằng ?

Có tới khoảng hơn ba chục bài như vậy, mặc dù vẫn không một ai dẫn ra căn cứ pháp lý nào đủ thuyết phục để không cho lập đảng đối lập ở Việt Nam. Vì trước đây đã có đảng Dân chủ và đảng Xã hội, chỉ có điều là hai đảng này từ hồi năm 1988 đã tự nguyện rút lui – tất nhiên là được gợi ý rút lui. Từ 1988 trở lại đây không có một đảng đối lập nào được hình thành và tồn tại ở Việt Nam.

Nhưng điều đó cho thấy đã có tiền lệ có sự hiện diện của những đảng khác với đảng cầm quyền. Cũng như ở Trung Quốc hiện nay, ngoài đảng Cộng sản còn có 8 đảng. Về tính pháp lý thì hoàn toàn không có gì ngăn cấm các đảng phái khác hình thành, cùng song song tồn tại với đảng Cộng sản Việt Nam.

RFI : Thưa anh, như vậy dù rất muốn tiến gần với phương Tây qua một số hoạt động ngoại giao liên tục gần đây, nhưng việc chấp nhận đa đảng hiện giờ có lẽ vẫn là chuyện không tưởng đối với đảng Cộng sản Việt Nam ?

Tôi không nghĩ đó là chuyện không tưởng, vì nhiều người mong muốn như vậy, và người ta đều nhìn thấy cần có một sự đối thoại. Cần phải có tam quyền phân lập, một Nhà nước pháp quyền, và những lực lượng đối trọng kiểm soát lẫn nhau, thì Nhà nước đó, dân tộc đó mới có thể phát triển được.

Còn tình hình như thế này, cứ một chiều, thì mọi chuyện sẽ đi theo lối mòn thôi. Có điều là vấn đề đa đảng có lẽ vẫn còn khá xa vời ở Việt Nam, nó đi theo logic diễn biến của vấn đề kinh tế xã hội. Và nếu như mọi chuyện logic với nhau thì phải một số năm nữa, có thể một số người ngay trong đảng Cộng sản sẽ nhận ra là cần thiết phải có một đối trọng nào đó. Để các vấn đề được nhìn đa chiều, đa dạng, có ý nghĩa hơn trong sự phát triển toàn vẹn nói chung, chứ không phải chỉ cho một số nhóm lợi ích nào đó, và đặc biệt là không bị phản ứng đến mức quá phẫn nộ.

RFI Nhưng ngay cả những hoạt động nhẹ nhàng hơn là phong trào xã hội dân sự cũng có vẻ không được chấp nhận rồi ?

Có một điểm mới như thế này. Từ năm 2012 trở về trước thì vấn đề xã hội dân sự gần như rất ít được đặt ra. Thậm chí trên báo Nhân Dân – báo đảng – còn có một bài như thế này : « Xã hội dân sự là một thủ đoạn của diễn biến hòa bình ». Mặc dù trước đó nữa, từ năm 2006-2008, tôi nhớ là cùng với việc Việt Nam được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, với chuyến đi của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới Washington gặp Tổng thống George Bush, lúc đó vấn đề đối thoại với chính quyền Việt Nam có hé mở một chút. Đồng thời Mỹ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về nhân quyền và tôn giáo (CPC).

Lúc đó vấn đề xã hội dân sự vô hình chung được đặt ra như là một khẩu hiệu nào đó ở Việt Nam. Đã diễn ra một số cuộc hội thảo của nhân sĩ trí thức trong đảng và kể cả ngoài đảng, nhưng tất cả chỉ dừng ở mức độ hội thảo mà thôi. Và người ta xoay đi xoay lại vấn đề xã hội dân sự là gì, những phương thức, nội dung chính, kinh nghiệm, bài học của xã hội dân sự trên thế giới, ở các nước Bắc Âu, Mỹ và trong lịch sử như thế nào…

Nhưng khi đi đến phần giải pháp thực hiện, làm gì để có một xã hội dân sự ở Việt Nam phù hợp với đường lối dân chủ, thì gần như là một sự bế tắc. Sau hội thảo, gần như là đóng kín, không có thêm một bước tiến nào nữa. Thậm chí đến năm 2009, 2010, Viện Nghiên cứu Phát triển của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Quang A, lúc đó là một trong những nơi đầu tiên nghiên cứu về đề tài xã hội dân sự ở Việt Nam, đã bị đóng cửa.

Cho tới nay, có thể nói vấn đề xã hội dân sự gần như bế tắc ở Việt Nam. Không ai muốn triển khai thêm nữa. Và dưới mắt một số người trong đảng và nhà nước, thì họ chưa hiểu về bản chất của xã hội dân sự, và còn coi như một cái gì đó vẫn nằm trong phương thức « diễn biến hòa bình ».

Chỉ có thời gian gần đây, do trào lưu đối ngoại và mở cửa, độ mở chính trị tăng lên, có sự nhân nhượng, thành thử người ta phải nhìn nhận xã hội dân sự như một mầm mống thực thể đang tồn tại ở Việt Nam, qua một số nhóm dân sự hoạt động độc lập. Chẳng hạn như đầu tháng Mười có vụ một số blogger sau khi đi học một khóa ở Philippines về đã bị công an cửa khẩu câu lưu tại sân bay Tân Sơn Nhất. Trong quá trình đó, các bạn trẻ blogger có kể lại, công an nói là « xã hội dân sự dừng ở mức đó là tốt, nhưng đừng tiến thêm nữa để hình thành những phong trào, lực lượng, tạo thành những đảng phái đối lập lật đổ chế độ là không tốt ».

Có nghĩa là đã có một sự chuyển đổi tế nhị, kín đáo, bộc lộ qua những câu hỏi của nhân viên an ninh – rằng họ đã phần nào chấp nhận xã hội dân sự. Chỉ có điều không biết là họ hiểu như thế nào. Nhưng vấn đề xã hội dân sự hiện nay rõ ràng đang hình thành những tiền đề ở Việt Nam. Và nhà nước cũng đang dần dần bắt buộc phải chấp nhận những tiền đề đó như là một thực thể – tuân theo xu hướng trào lưu đối ngoại chứ không phải là một thực thể sinh ra từ chính nội lực, nhà nước và đảng muốn như vậy.

RFI Xin chân thành cám ơn nhà báo Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh, đã vui lòng dành thì giờ trao đổi với RFI Việt ngữ.