Ông Lê Hiếu Đằng: Báo Quân đội Nhân dân ‘bỏ bóng đá người’

VOA,  23.08.2013

 http://www.voatiengviet.com/content/ong-le-hieu-dang-bao-quan-doi-nhan-dan-bo-bong-da-nguoi/1735937.html

Bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông Lê Hiếu Ðằng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, là đề tài được truyền thông Việt ngữ khắp nơi bàn tán sôi nổi trong mấy ngày gần đây. Bài viết mà ông Đằng nói ông gửi cho “bạn bè, đồng đội, nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên SVHS Việt Nam”, kêu gọi họ hãy dấn thân hành động để đoàn kết dân tộc và xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Phỏng vấn ông Lê Hiếu Ðằng

Với bài viết mang tựa đề “Màn Tung Hứng vụng về” trên báo Quân đội Nhân Dân số ra hôm nay, thứ Sáu 23 tháng 8, tác giả đã mạnh mẽ đả kích những nhận định của ông Đằng. Nội dung chỉ trích bài “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên kỳ cựu có trên 40 tuổi Đảng, là “đầy những lỗi tư duy, lập luận phiến diện, hàm hồ, ấu trĩ”.

Trong một cuộc điện đàm với Ban Việt ngữ VOA, ông Lê Hiếu Đằng nói ông đã trình bày rõ ràng tất cả những gì muốn nói trong bài viết, và giờ đây sẵn sàng tranh luận công khai, nhưng không muốn đáp những chỉ trích của báo Quân đội Nhân Dân.

“Quan điểm của tôi là nếu anh muốn tranh luận công khai thì anh hãy tạo điều kiện, diễn đàn đàng hoàng. Tôi và một số bạn bè tôi sẽ tranh luận công khai. Còn nếu anh chơi kiểu gọi là “bỏ bóng đá người” thì tôi không có nói, không tranh luận làm gì, bởi vì các trang mạng người ta cũng đã thấy cái việc đó không đúng, người ta nói rồi thì tôi nói cũng lặp lại những ý đó thôi. Mà tôi là người trong cuộc thành ra không hay lắm, không khách quan… thì thôi cứ để cho dư luận, công luận người ta phê phán thôi, phải không. Chuyện đó tôi nói rất rõ ràng rồi: tôi đấu tranh rất ôn hòa, công khai minh bạch chứ ai kêu gọi vũ trang hay lật đổ gì đâu! ”

Tác giả Phạm Trung, người viết bài trên tờ Quân đội Nhân dân, nói bài viết của ông Đằng có thể bị các nhóm mà tờ báo nhà nước mô tả là “dân chủ” trong ngoặc kép, khai thác để gây xáo trộn và đổ máu tại Việt Nam. Ông Lê Hiếu Đằng:

“Bây giờ cái khuynh hướng bạo lực ấy không ai chấp nhận được. Thành ra trên trang mạng có những ý kiến quá khích, chửi bới tụi tôi, nhưng mà chúng tôi không để ý. Bây giờ cái thời đại này là cái xu thế là phải đoàn kết để xây dựng đất nước. Cái xu thế đó đang lên thành ra cực đoan của cả hai bên đều không thể chấp nhận được, thành ra tôi để ngoài tai những việc đó, không đáng cho mình nói. Những điều mà tôi muốn nói tôi nói rất rõ rồi. Từng câu từng chữ từng ý rất rõ. Tôi viết tôi phân tích từng điểm một mà, chính trị, rồi mặt xã hội rồi mặt độc lập và chủ quyền dân tộc, tôi nói rất rõ rồi không cần phải nói gì thêm.”

Báo Quân đội Nhân dân, tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam, còn nói rằng bài viết của ông Lê Hiếu Đằng là một lời hiệu triệu, sẽ “lôi kéo, kích động gây xáo trộn xã hội dẫn tới cảnh nồi da xáo thịt, thây chất đầy đồng, máu chảy thành sông ” như cảnh đã diễn ra ở các nước Syria, Libya, và Ai Cập.

Trung Quốc lại khẳng định chủ quyền trên các vùng biển tranh chấp

Việt Hà, phóng viên RFA.  2013-08-23

08232013-vietha.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
001_GR336986-305.jpg

Sơ đồ chỉ vùng biển Trung Quốc giành chủ quyền trên biển Đông. AFP

Phát biểu với báo chí nhân chuyến thăm Mỹ mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc một lần nữa khẳng định lập trường kiên quyết bảo vệ lợi ích cốt lõi của Trung Quốc trong khu vực. Đây có thể được coi là một thông điệp nhắn gửi đến các nước đang có tranh chấp về chủ quyền trên biển với Trung Quốc tại châu Á Thái Bình Dương. Liệu điều này cho thấy Trung Quốc đang trở nên cứng rắn hơn với các nước trong khu vực và Mỹ hay chỉ là một lời nói không mang sức nặng? Việt Hà có bài tìm hiểu sau đây.

Quyết tâm bảo vệ lợi ích cốt lõi

Chuyến thăm đến Hoa Kỳ ngày 19 tháng 8 vừa qua của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Thường Vạn Toàn được cho là nhằm giúp xây dựng mối quan hệ về quân sự giữa hai cường quốc trên thế giới với những hứa hẹn được đưa ra từ cả hai phía. Thế nhưng, cũng ngay trong chuyến công du này, người ta cũng thấy vấn đề lợi ích cốt lõi của Trung Quốc tại khu vực châu Á Thái Bình Dương và việc chuyển trục chiến lược của Mỹ tới khu vực này dường như vẫn còn nhiều khúc mắc.

Phát biểu với báo chí trong cuộc họp báo ngày 19 tháng 8 tại Pentagon, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Thường Vạn Toàn khẳng định qua lời thông dịch viên:

Không một ai nên có ý nghĩ rằng Trung Quốc sẽ đánh đổi những lợi ích cốt lõi của mình. Đừng đánh giá thấp quyết tâm không thay đổi của chúng tôi trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cũng như quyền và lợi ích trên biển.

Mặc dù ông Thường Vạn Toàn không chỉ đích danh vấn đề biển Đông nơi Trung Quốc đang có tranh chấp với một số nước ASEAN, hay khu vực quần đảo Senkaku đang tranh chấp với Nhật bản, nhưng những người theo dõi tình hình có thể ngầm hiểu đây là lời nhắn đến các nước có liên quan, những đồng minh của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương.

Hiện tại, Philippines, nước có tranh chấp gay gắt với Trung Quốc tại biển Đông, cũng đang ráo riết đàm phán với Hoa Kỳ để gia tăng sự hiện diện của quận đội Mỹ tại đây, một bước trong quá trình chuyển trục chiến lược của Mỹ tới châu Á Thái Bình Dương.

Phát biểu mới đây của ông Thường Vạn Toàn cũng làm người ta nhớ đến năm 2011, khi ông Đới Bỉnh Quốc, một lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc lúc đó, lên tiếng nói rằng biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Câu nói này đã khiến nhiều học giả quốc tế lên tiếng thắc mắc và quan ngại vì nếu Trung Quốc coi biển Đông là lợi ích cốt lõi thì chính sách mà Trung Quốc áp dụng tại đây cũng giống như những gì mà Trung Quốc áp dụng với Đài Loan và Tây Tạng.

Tuy nhiên, theo giới học giả Trung Quốc, thì ngày chính tại Trung Quốc vào lúc này, vấn đề lợi ích cốt lõi của nước này tại biển Đông vẫn chưa được thống nhất một cách rõ ràng. Trung tướng Chu Thành Hổ, thuộc học viện Quốc phòng Trung Quốc, phát biểu trong một hội thảo gần đây ở New York về vấn đề này:

Ở Trung Quốc có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Có người đã hỏi ông Đới Bỉnh Quốc là biển Đông có phải là lợi ích cốt lõi không. Có nhiều người tin biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc vì nó thuộc vào yếu tố toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung Quốc. Một số người cho rằng biển Đông không giống Đài loan hay Tây Tạng. Vào lúc này chúng tôi vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về vấn đề này.

Dù có định nghĩa thống nhất hay không thống nhất thì từ nhiều năm nay, Trung Quốc vẫn luôn khẳng định chủ quyền không xoay chuyển tới 80% khu vực biển Đông. Với chính sách này, Trung Quốc hàng năm áp dụng lệnh cấm đánh bắt cá trên một vùng rộng lớn tại đây từ khoảng tháng 5 đến tháng 8. Các tàu bán quân sự của Trung Quốc liên tục có hành động như cắt cáp tàu Việt Nam, đuổi bắt và bắn vào các tàu cá của Việt nam gần khu vực quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp giữa hai nước.

Gạt tranh chấp để hợp tác phát triển

000_Hkg8782027-250.jpg
Người dân đến xem Bản đồ Việt Nam triển lãm tại Bảo tàng Quân đội Hà Nội hôm 10/7/2013. AFP photo

Một mặt khẳng định lợi ích cốt lõi, mặt khác lãnh đạo Trung Quốc cũng lên tiếng tỏ ra mềm mỏng. Hôm 31 tháng 7, truyền hình Trung Quốc dẫn lời của Chủ tịch Tập Cận Bình nói về biển Đông rằng Trung Quốc khẳng định chủ quyền thuộc về mình nhưng có thể gác tranh chấp, cùng khai thác, thúc đẩy hợp tác hữu nghị và cùng có lợi, tìm kiếm và mở rộng các lợi ích chung.

Mới nghe thì phát biểu của ông Tập Cận Bình có hướng xây dựng tích cực. Trên thực tế, lời nói này chỉ là lập lại lập trường của Trung Quốc đã từng được Thủ tướng Đặng Tiểu Bình nói tới vào năm 1978 trong tranh chấp xung quanh quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư với Nhật Bản. Lời đề nghị này của ông Đặng Tiểu Bình đã bị Nhật khước từ và hiện Nhật vẫn là nước quản lý quần đảo Senkaku. Thời gian gần đây, căng thẳng hai nước Nhật và Trung Quốc cũng gia tăng vì tranh chấp này.

Hôm 22 tháng 8 vừa qua, phát ngôn viên Hồng Lỗi của Trung Quốc cũng mạnh mẽ bác bỏ phát biểu của Thượng Nghị sĩ Mỹ, John McCain về chủ quyền của Nhật với quần đảo Senkaku. Ông Hồng Lỗi nói quần đảo Điếu Ngư là lãnh thổ thuộc Trung Quốc. Bất cứ nỗ lực nào nhằm khước từ sự thật này đều vô ích. Ông Hồng Lỗi cũng cảnh báo các Thượng Nghị sĩ Mỹ nên chấm dứt việc đưa ra các lời nói mà ông gọi là vô trách nhiệm làm phức tạp thêm tình hình tại khu vực.

Nói về vấn đề gạt tranh chấp và cùng khai thác phát triển ở biển Đông theo lời của ông Tập Cận Bình, giáo sư Renato Cruz de Castro, thuộc trường đại học De La Salle, Philippines, nhận xét:

Không có gì thay đổi. Theo tôi đó chỉ là một tín hiệu cho các thành viên đảng cộng sản Trung Quốc, trong bộ chính trị là không có gì thay đổi trong chính sách của Trung Quốc. Tuyên bố là Trung Quốc sẵn sàng tham gia hợp tác phát triển với điều kiện chủ quyền của Trung Quốc phải được tôn trọng, đó là một điều kiện làm hỏng mọi thứ. Ý tưởng cho hợp tác phát triển chung là không có điều kiện tiên quyết.

Sắp tới đây, Trung Quốc và các nước ASEAN sẽ tiến hành những đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) được chờ đợi từ lâu. Đề nghị về đàm phán này cũng được Trung Quốc đưa ra trong diễn đàn khu vực vào tháng 6 vừa qua, một bước đi được coi là tích cực từ Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên với những khẳng định về chủ quyền không tách rời trong các lời nói của lãnh đạo Trung Quốc, người ta cũng có thể đặt ra những nghi ngờ và lo lắng về những thiện chí cũng như quyết tâm của Trung Quốc.

Thế hệ trẻ Việt Nam dưới cái nhìn một học giả Mỹ

Mặc Lâm, biên tập viên RFA. 2013-08-23

000_Hkg8862100-305.jpg

Giới trẻ Việt Nam cùng uống cà phê và kết nối internet qua iPad tại một quán cà phê ở Hà Nội hôm 16/8/2013

AFP photo

TS Jonathan Daniel London, hiện giảng dạy tại Đại học Thành thị Hongkong, là người từng làm việc và nghiên cứu tại Hà Nội trong nhiều chục năm và ông có cái nhìn rất khách quan về các khía cạnh kinh tế, xã hội chính trị của Việt Nam.

Mặc Lâm có cuộc trao đổi với ông nhằm ghi nhận ý kiến một chuyên gia về hoạt động của giới trẻ trong bối cảnh hết sức phức tạp hiện nay.

Mặc Lâm: Là người hiểu biết sâu sắc về tình hình chính trị, văn hóa và xã hội Việt Nam, ông nhận xét thế nào về giới trẻ Việt Nam hôm nay?

TS Jonathan: Vâng tôi thấy rằng hiện nay là con đường bất thường ở Việt Nam vì sau một thời gian khá lâu những nỗ lực để Việt Nam có một quá trình khai thác những cơ chế chính trị xã hội sâu sát do đảng đề ra. Trứơc đây giới trẻ Việt Nam không xác định được những cơ hội chính trị. Bây giờ rất khác so với thời điểm trước, giới trẻ Việt Nam đã thấy tình hình chính trị của Việt Nam đang thay đổi, họ không còn sợ như trước mà nói thẳng đến những vấn đề thiết yếu, đối mặt với nó.

Bây giờ rất khác so với thời điểm trước, giới trẻ Việt Nam đã thấy tình hình chính trị của Việt Nam đang thay đổi, họ không còn sợ như trước mà nói thẳng đến những vấn đề thiết yếu, đối mặt với nó.
– TS Jonathan

Mặc Lâm: Sự đàn áp tiếng nói kể cả những suy nghĩ của họ từ phía chính quyền phải chăng làm cho đa số người trẻ sợ hãi dẫn tới tình trạng tập trung từng nhóm nhỏ, manh múm và rất rời rạc như hiện nay?

TS Jonathan: Tôi cũng phải khẳng định rằng bộ máy đàn áp của Việt Nam vẫn còn các hành động nguy hiểm hơn. Vấn đề đặt ra là phản ứng của lớp trẻ Việt Nam là như thế nào? Các bạn trẻ Việt Nam vẫn phải rất cẩn thận vì nhà nước đang có bộ máy rất mạnh. Tuy nhiên so với trước kia thì họ tự tin một cách rõ nét hơn. Bây giờ còn quá sớm để đánh giá  chính quyền Việt Nam, đặc biệt  là phái bảo thủ nhằm phá hoại những nỗ lực của giới trẻ Việt Nam.

Liệu giới trẻ Việt Nam làm có hiệu quả hay không thì tôi nghĩ là quá sớm. Đồng thời tôi cũng nghĩ là lần này giới trẻ Việt Nam không còn ngại như trước kia mà họ sẽ phấn đấu. Hãy xem trong thời điểm hệ trọng của đất nước Việt Nam họ có thể thực hiện được một bứt phá làm cho sự phát triển của Việt Nam cải thiện một cách tốt hơn hay không.

Mâu thuẫn

000_Hkg702558-250.jpg
Internet với giới trẻ VN vào năm 2007. AFP photo

Mặc Lâm: Công an đang áp dụng kế hoạch dùng côn đồ để tấn công người dân đối với bất cứ nhóm chống đối nào không riêng gì blogger hay thanh niên trẻ, theo TS thì đại sứ các nước, nhất là Hoa Kỳ có biết hành động này hay không? Nếu biết tại sao họ vẫn im lặng? Hay họ cần bằng chứng rõ ràng và đáng tin hơn nữa?

TS Jonathan: Vâng, hiện nay đường lối của Việt Nam thì Mỹ chưa rõ lắm. Một điều thú vị là những hành động của chính quyền hiện nay ở Việt Nam một tháng sau cuộc gặp của Trương Tấn Sang và Barack Obama tại Nhà Trắng khiến tôi hơi bất ngờ một chút về những hành vi của Việt Nam lần này. Thế nhưng tôi cũng nghĩ quan hệ giữa hai nhà nước Việt Nam và Mỹ trong một thời điểm hết sức nhạy cảm và phức tạp.

Rõ ràng cách đây mấy tuần đã có một số tiến bộ trong mối quan hệ của hai nước nhưng tình hình chính trị trong nội bộ của chính quyền Việt Nam thì lại quá phức tạp, không thống nhất. Do vậy chính sách của Việt Nam có những xu hướng không đồng đều. Ở bên này thì họ cố gắng cải thiện nhân quyền chẳng hạn, nhưng ở bên kia thì họ làm khác như đàn áp,  đánh đập, đe dọa….Đặc  trưng rất rõ đó là cách cai trị ở Việt Nam không thống nhất. Thế nhưng chưa có phản ứng rõ rệt của phía Mỹ có thể chính vì phía Việt Nam còn quá phức tạp.

Tôi hy vọng những ngày tới chính quyền Mỹ sẽ thể hiện sự cân đối đối với những vụ trấn áp đã xảy ra và đặc biệt là những gì đang xảy ra ở Hà Nội hiện nay đối với giới trẻ. Tôi nghĩ là họ biết nhưng chưa phản ứng. Có thể là họ chưa rõ lý do. Tóm lại là chỉ còn trong một vài ngày, vào tuần tới bên Mỹ sẽ có phản ứng rõ đối với những gì đã và đang xảy ra ở Việt Nam hiện nay.

Rõ ràng cách đây mấy tuần đã có một số tiến bộ trong mối quan hệ của hai nước nhưng tình hình chính trị trong nội bộ của chính quyền Việt Nam thì lại quá phức tạp, không thống nhất.
– TS Jonathan

Quan trọng nhất là hai bên Mỹ Việt có thể nói chuyện một cách rõ ràng để xem có phù hợp với mối quan hệ sâu hơn hay không; Nếu không thì Việt Nam sẽ vuột mất một cơ hội để tiến bộ hơn trong mối quan hệ song phương với Mỹ. Hạ viện và giới chính trị của Mỹ chẳng có ai muốn có quan hệ với Việt Nam với những hành vi như vậy vì nó không phù hợp với một nước văn minh đâu.

Mặc Lâm: Tuổi trẻ Việt Nam xem chừng không còn biết Phan Chu Trinh là ai vì đã sống quá lâu trong chiếc lồng sắt chủ nghĩa xã hội. Theo ông muốn vực lại ý thức trách nhiệm của họ thì cần phải làm gì?

TS Jonathan: Một xu hướng rất tốt ở Việt Nam hiện nay nói chung là tuổi trẻ dễ tiếp cận với những thông tin nhờ vào internet cộng thêm một mặt khác trực tiếp từ những tờ báo của Việt Nam. Thông tin trên mạng của các cơ quan nhà nước Việt nam với những vấn đề cơ bản nhưng họ cũng thấy được sự khác biệt với những điều họ phải học trong quá trình lớn lên ở Việt Nam. Tốt nhất là giới trẻ ở Việt Nam nên tiếp tục tìm hiểu thông tin đa dạng của các khía cạnh các nước trên thế giới chứ không phụ thuộc vào thông tin một chiều của nhà nước Việt Nam.

Nói như vậy không có ý là phá hoại  nhà nước Việt Nam hay nhà nước Việt Nam là hoàn toàn xấu, không phải như thế đâu. Tôi muốn nói là Việt Nam muốn có một tương lai tốt đẹp hơn hiện nay thì giới trẻ phải có một ý thức mới, không phải là biết suy nghĩ như thế nào, suy nghĩ về cái gì mà là phải biết cách suy nghĩ, biết cách tìm hiểu và tiếp sức thêm những thông tin từ các nước khác. Tôi nghĩ nếu được thì thuê chuyên gia vì dân Việt Nam rất nhiệt tình và rất sáng tạo. Họ có thêm thông tin và ý thức của họ sẽ phát triển mạnh nhằm góp phần vào việc phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

 

Tất cả là ‘con tin’ của nhóm lợi ích

Nam Nguyên, phóng viên RFA.  2013-08-23
 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-parlia-angry-w-interest-gr-nn-08232013111657.html

08212013-dbtn-nn.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg8718969-305.jpg

Đường phố Sài Gòn chụp hôm 21/6/2013. AFP photo

Việt Nam sau 1/4 thế kỷ đổi mới về kinh tế nhưng không cải cách chính trị đã phát sinh nhiều hệ lụy. Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN duy trì những lãnh vực đặc quyền rất lớn cho Tập đoàn Tổng công ty Nhà nước, dẫn tới một biến thái là hình thành những nhóm lợi ích, mưu lợi riêng khuynh loát nền kinh tế và trong nhiều trường hợp gây ra những tác hại khôn lường như vụ Vinashin, Vinalines.

Thao túng nền kinh tế Việt Nam

Ngày 20/8/2013, tại phiên chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường phát biểu: “Vận động hành lang ‘lobby’ chính sách thì qua dư luận thấy có hiện tượng, còn xác định là có hay không thì chưa dám kết luận.” Tin này được các báo VnEconomy, Vietnam Net, Đại Đoàn Kết đưa lên mạng.

Vận động hành lang, lobby chính sách được Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội giải thích trong một dịp trả lời Đài Á Châu Tự Do:

Lợi ích nhóm là khi thông qua việc tạo dựng những cơ chế, chính sách; người ta lồng những ý đồ cá nhân của họ vào. Để đặt chính sách đó phục vụ cho lợi ích của họ, nhằm thu được những lợi tương đối là bất chính, không chính đáng.”

Trên Trang mạng Đài ACTD, TS Phạm Chí Dũng, một chuyên gia nghiên cứu ở TP.HCM phân loại các nhóm đầu cơ mang tên nhóm lợi ích liên quan tới tài chính ngân hàng, vàng, bất động sản; kế tiếp là nhóm lợi ích độc quyền như xăng, dầu, điện, nước; sau hết là nhóm lợi ích các Tập đoàn, Tổng Công ty Doanh nghiệp Nhà nước tuy không được bao cấp nhưng được hưởng lợi lớn từ hệ thống chính sách nhà nước. TS Phạm Chí Dũng nhấn mạnh:

Trong thời gian qua, các tập đoàn và nhóm lợi ích đã lũng đoạn và thao túng nền kinh tế và khiến cho các doanh nghiệp hết sức khốn đốn, lâm vào tình trạng phá sản và đời sống dân sinh trở nên kiệt quệ. Người ta cũng nói đời sống dân sinh và nền kinh tế là con tin của các nhóm lợi ích. Từ đó dẫn đến khoảng cách lớn về phân hóa thu nhập trong xã hội.”

Trong thời gian qua, các tập đoàn và nhóm lợi ích đã lũng đoạn và thao túng nền kinh tế và khiến cho các doanh nghiệp hết sức khốn đốn, lâm vào tình trạng phá sản và đời sống dân sinh trở nên kiệt quệ.
– TS Phạm Chí Dũng

VnEconomy tường thuật phiên họp 20/8 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, theo đó Đại biểu Trần Xuân vinh, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam chất vấn Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường là đã phát hiện được bao nhiêu văn bản có việc lobby (vận động hành lang) các bộ ngành liên quan, để có lợi cho mình và gây hại cho cái chung? Bộ trưởng Hà Hùng Cường trả lời rằng, lobby chính sách với các nước thì phổ biến, Việt Nam thì hãn hữu và khó, vì chỉ có một đảng lãnh đạo thôi, pháp luật là thể chế quan điểm của Đảng, lobby thì không phù hợp.

Quan điểm của Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường không được các chuyên gia độc lập chia sẻ. TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viên Nghiên cứu Phát triển IDS, một tổ chức nghiên cứu độc lập đã tự giải thể, từng nhận định về vấn đề nhóm lợi ích cản trở tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế:

“Về nhóm lợi ích ở Việt Nam, ý người ta muốn nói đến các nhóm lợi ích có ảnh hưởng đến chính sách, đường hướng phát triển của đất nước. Trong đó nhóm mạnh nhất và lớn nhất là nhóm của lãnh đạo. Bên trong hệ thống ấy mỗi bộ có những quyền lợi khác nhau, mỗi địa phương thậm chí nhóm doanh nghiệp nhà nước họ cũng là một thế lực rất mạnh.”

Tại các nước theo kinh tế thị trường và có nền dân chủ pháp trị, tam quyền phân lập, vận động hành lang là một hoạt động được pháp luật qui định. Có hẳn những nhóm, những công ty chuyên trách hoạt động theo hình thức không vụ lợi hoặc thu phí dịch vụ. Việc vận động chính sách ở các nước dân chủ rất đa dạng, từ phục vụ lợi ích một cộng đồng dân cư nào đó cho tới phục vụ lợi ích của các tập đoàn lớn thí dụ về dược phẩm chẳng hạn. Chính vì vấn đề này rất phức tạp, nên cần có pháp luật công minh để kiểm soát, chưa kể cơ chế giám sát lẫn nhau giữa Hành pháp, Tư pháp và Lập pháp.

Đâu là giải pháp

000_Hkg542947-250.jpg
Nhân viên một cây xăng của Petrolimex đang đổ xăng cho khách. AFP photo

Việt Nam không ở trong trường hợp vừa nêu, một nền kinh tế thị trường nửa vời và thể chế chính trị một đảng cai trị, dẫn tới việc hình thành những nhóm quyền lợi phức tạp dễ dàng khuynh loát nền kinh tế làm hại quốc kế dân sinh. Tuy vậy vẫn có những giải pháp khả thi, để kiểm soát vấn đề lợi ích nhóm trong nền kinh tế, vốn dĩ đang trong tiến trình tái cơ cấu. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh ở Hà Nội nhận định:

“Động tác đầu tiên rất quan trọng là cần phải thực hiện công khai minh bạch các quá trình quyết định. Công khai minh bạch các quá trình phân bổ vốn. Công khai minh bạch việc đấu thầu cũng như việc giao các dự án đầu tư của Nhà nước cho các doanh nghiệp nào. Những mối quan hệ của những người có liên quan rất cần được công bố công khai ra. Trên cơ sở đó thì giới truyền thông mới có thể đóng góp vào việc đưa ra ánh sáng những góc khuất mà chúng ta đang muốn kiềm chế và kiểm soát.”

Trở lại phiên họp ngày 20/8 tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường Nguyễn Minh Quang quanh co và bối rối khi trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội liên quan đến vấn đề cấp phép khai thác khoáng sản tràn lan vi phạm luật pháp. Theo VnEconomy, chứng kiến ông Bộ trưởng trả lời không thỏa đáng các câu hỏi, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng sốt ruột phê bình Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang là có vấn đề vì đã nói tham nhũng phải hỏi địa phương mới biết. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, cấp phép thế này thì chết rồi. Hơn 900 giấy phép mà quá nửa là vi phạm, tham nhũng cũng ở đây. Vậy thanh tra ở đâu, kiểm tra giám sát ở đâu? Sai phạm như thế mà chưa xử lý được ai.

Liên quan đến vấn đề đất đai, Đại biểu La Ngọc Thoáng đơn vị Cao Bằng nêu vấn đề giá đất đền bù còn nhiều bất cập, giá chỉ bằng 30-60% giá thị trường dẫn tới khiếu kiện, bức xúc trong dân. Theo Vn Economy, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang thừa nhận đây là vấn đề nan giải.

Động tác đầu tiên rất quan trọng là cần phải thực hiện công khai minh bạch các quá trình quyết định;  các quá trình phân bổ vốn; việc đấu thầu cũng như việc giao các dự án đầu tư của Nhà nước cho các doanh nghiệp.
CGKT Lê Đăng Doanh

Được biết Quốc hội đã hoãn thông qua Luật Đất đai sửa đổi mà chờ khi nào thông qua Hiến pháp sửa đổi mới quyết định. Việt Nam vẫn vướng qui định cốt lõi về quyền sở hữu đất đai, vấn đề này gây ra nhiều hệ lụy trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế. Theo TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương,   Hiến pháp hiện nay nói rõ đất đai là sở hữu toàn dân. Ông nhấn mạnh đây là một khái niệm không rõ ràng, cũng như qui định Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Vậy thì Nhà nước được đại diện bởi ai và thẩm quyền như thế nào. TS Lê Đăng Doanh phân tích:

“Hiến pháp 1992 qui định Nhà nước có quyền thu hồi đất để phục vụ mục tiêu quốc phòng an ninh và lợi ích công cộng (chấm). Nhưng Luật Đất đai lại bổ xung thêm ‘và phát triển kinh tế xã hội’. Thế phát triển kinh tế xã hội là gì, là một nhà máy hay một khu nghỉ dưỡng hay là một khách sạn lớn. Điều này quá rộng và không xác định rõ, cho nên dẫn đến việc thu hồi đất của nông dân và đền bù với một giá rất thấp rồi chuyển giao cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước và ăn chênh lệch giá đó, giá đất thì thường xuyên được đẩy lên rất cao cho nên làm cho giá bất động sản của Việt Nam tăng lên cao hơn rất nhiều lần so với thu nhập trung bình của xã hội.”

Phiên họp Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 20/8/2013  để chất vấn một số Bộ trưởng trong chính phủ, được ví von là hành động “xả xú báp” thời sự. Cũng là một cơ hội cho các Đại biểu Quốc hội gióng thêm một hồi chuông cảnh báo chế độ về thực tế các nhóm lợi ích đang khuynh loát nền kinh tế Việt Nam.

Bầu cử thật Đảng CS ‘vẫn có thể thắng’

Lời kêu gọi thành lập một đảng mới, Đảng Dân chủ Xã hội, do nhóm của luật gia Lê Hiếu Đằng, một đảng viên cộng sản lâu năm, khởi xướng đã gây ra những tranh luận nhiều chiều trong những ngày qua.

Ông Lê Hiếu Đằng, trong cuộc trả lời phỏng vấn BBC hôm 21/8/2013 đã phản hồi lại các ý kiến nhiều chiều như của Giáo sư Vũ Minh Giang, hay bài viết của người có bút danh Trọng Đức trên tờ Quân Đội Nhân Dân:

Luật gia Lê Hiếu Đằng: Là người nằm trong hệ thống chính trị lâu năm, trên 45 tuổi đảng, và làm ở Hội đồng nhân dân thành phố nhiều năm, tôi có kinh nghiệm về vấn đề này. Như trong bài tôi mới viết “Những điều cần nói rõ thêm”, thật ra một số đảng viên, một số người có tấm lòng, người ta rất cố gắng để làm sao cho Đảng tự thay đổi. Và đây là phương án tốt nhất.

Tôi có nhắc tới kinh nghiệm khi ông Lê Quang Đạo làm Chủ tịch Mặt trận cũng như là ông Phạm Văn Kiết làm Tổng thư ký, ông chỉ đề xuất ý tưởng Mặt trận là đối trọng để giám sát chính quyền. Hoặc khi ông Phạm Thế Duyệt là Chủ tịch Mặt trận cũng đưa ra đề án về vai trò giám sát của Mặt trận, trình lên Ban Bí thư, nhưng cuối cùng thì Ban Bí thư cũng lờ luôn cùng với việc lập hội. Sau đó biết bao nhiêu người, tướng lãnh thì ví dụ như ông Trần Độ, ông Đặng Quốc Bảo, ông Trần Vĩnh, nhiều người lắm.

Quan chức chính quyền thì có nguyên ủy viên Bộ Chính trị và Chủ tịch Quốc hội là ông Nguyễn Văn An cũng có những góp ý rất chân tình. Ví dụ ông An nói thực chất đây là lãnh đạo tập thể nhưng thực ra là mua tập thể, ông có nói những ý đó thì cũng không ai nghe hết.

Thành ra đã đến lúc tôi thấy rằng nếu cứ cái kiểu hy vọng một cách hão huyền tự bản thân thay đổi thì tôi nghĩ là rất khó, vì nói thật bây giờ nhà nước VN đã bị tha hóa, ở chỗ nó trở thành những tập đoàn lợi ích, lũng loạn nhà nước rồi. Do đó khó mà họ từ bỏ vị trí, địa vị hiện nay.

“Nếu bầu cử tự do thật sự thì đảng Cộng sản với hệ thống chính trị của mình ở tận cơ sở như vậy thì vẫn có thể thắng lợi. Có thể mấy chục phần trăm đó nhưng vẫn là một đảng cầm quyền và như vậy lúc đó có chính danh”

Ông Lê Hiếu Đằng

Vì vậy quan điểm của chúng tôi là bây giờ phải có một xã hội công dân với những tổ chức thực sự thay mặt cho người dân để giám sát một cách có hiệu quả chính quyền. Như các nước trong xu thế hiện nay trên thế giới cũng vậy. Do đó mà chúng tôi chủ chương là phải có những lực lượng đối lập thực sự.

Tôi nghĩ đây cũng là điều bình thường. Chữ đối lập đây không có nghĩa là mình bài bác gì đảng Cộng sản. Bản thân tôi là đảng viên đảng Cộng sản lâu năm mà. Nhưng chính cái đó là cái giúp cho đảng một lối thoát. Và đảng phải thông qua đấu tranh bằng bầu cử tự do, bỏ phiếu kín và nếu đảng giành được quyền lãnh đạo thì mới là chính danh và sự lãnh đạo của đảng mới là hợp pháp.

Còn bây giờ nói thật ra cái chủ trương không đa nguyên là chủ trương của đảng thôi. Như tôi đã nói, chưa có văn bản luật pháp nào cấm đa nguyên đa đảng. Mà theo nguyên tắc pháp lý cái gì nhà nước không cấm thì dân có quyền làm. Dân người ta có quyền sử dụng cái quyền công dân của người ta để người ta làm những việc đó.

BBC: Nhưng như Giáo sư Vũ Minh Giang thì hiện nay chưa có cơ sở pháp lý nào cho phép việc thành lập chính đảng mới tại Việt Nam. Như vậy có đúng không thưa ông? Ông thì vừa nói là không có điều nào cấm không cho thành lập đảng?

Luật gia Lê Hiếu Đằng: Hoàn toàn không đúng bởi vì cơ sở pháp lý là gì? Tức là không có văn bản nhà nước cấm đa nguyên đa đảng thì người dân có quyền thành lập những đảng, những lực lượng chính trị độc lập, song song cùng tồn tại với đảng Cộng sản chứ không bài bác gì đảng Cộng sản và như vậy nó phù hợp với luật pháp chứ tại sao không có cơ sở pháp lý?

Thí dụ nhà nước cấm thì thôi mình không làm. Nhưng nhà nước không cấm thì mình làm. Bây giờ có tình trạng một số trí thức sợ một cách quá đáng. Tại sao em Phương Uyên, một cô gái 21 tuổi trước tòa em công khai nói những điều chống Trung Quốc? Với phong trào đấu tranh quần chúng thì cuối cùng buộc lòng họ cũng phải tha em, 6 năm quản chế nhưng mà được tha ngay tại tòa. Thế tại sao một số nhân sĩ trí thức cho đến bây giờ vẫn cứ sợ hãi là sao?

Rõ ràng tình hình bây giờ đã chín muồi rồi. Tình hình kinh tế, xã hội, tất cả các lĩnh vực xuống cấp nghiêm trọng. Phải thấy là trách nhiệm của nhân sĩ trí thức Việt Nam là do anh thụ động, do anh thủ tiêu đấu tranh cho nên tình hình mới tồi tệ như hiện nay, để đảng Cộng sản muốn làm gì thì làm. Thì bây giờ anh phải thức tỉnh chứ.

Quá khứ đã qua rồi. Nhưng bây giờ có những điều kiện để nhận thức lại tình hình thì phải nhận thức lại, và từ nhận thức lại thì phải có hành động, chứ khoanh tay ngồi chờ sao? Giờ có những lực lượng xâm nhập vào đất Việt, nó phá kinh tế của mình, nó phá nhiều cái. Có những nguy cơ như vậy, nhất là ở bên cạnh một nhà nước bành trướng, có thể nói là vốn có truyền thống bành trướng, không bao giờ thay đổi bản chất.

Bây giờ nó triển khai lực lượng trên các vùng rừng núi Tây nguyên, ngay cả ở Cà Mau. Kinh tế thì nó khống chế, hàng gian, hàng giả, đủ thứ chuyện, nguy cơ đe dọa như vậy. Tình hình đối đầu rất là nguy cấp. Nếu mà người dân, nhất là nhân sĩ trí thức không dám nói tiếng nói của mình thì sẽ để cho chính quyền muốn làm gì thì làm và như vậy những hy sinh xương máu của biết bao nhiêu người trong đó có bạn bè chúng tôi trở nên vô ích.

Vì chúng tôi khi đi đấu tranh, ngoài đấu tranh giành độc lập, thống nhất lãnh thổ rồi, thì hy vọng là có một chính quyền tốt đẹp hơn trước. Nhưng bây giờ tính về mọi mặt thì so ra còn tệ hơn nữa. Thành ra chúng tôi nghĩ đây là lúc trí thức phải đứng ra nhận trách nhiệm của mình. Và từ đó số anh chị em trẻ người ta đã hăng hái tham gia sẽ có chỗ dựa cho người ta đi lên.

BBC: Liệu lời kêu gọi của ông như vậy có thể trở thành hiện thực hay không? Và muốn trở thành hiện thực thì phải có những yếu tố gì thưa ông?

Luật gia Lê Hiếu Đằng: Tôi cho là trong tình hình hiện nay nhiều anh em rất là ủng hộ, đến gặp tôi hoặc qua điện thoại, rất chia sẻ. Nếu có ý kiến nào, ví vụ như tờ Quân đội nhân dân có đăng ý kiến một cái ông đó, thì người ta phản bác lại ngay. Nói chung là người ta đồng tình với đề xuất của chúng tôi. Còn tôi chỉ là người đề xuất, còn làm thì phải rất nhiều người cùng làm và làm cái này thì phải có một quá trình chứ không thể ngày một ngày hai mà làm được. Việc hình thành xã hội công dân phải là một quá trình hết sức khó khăn.

BBC: Hôm nay trên báo Quân đội nhân dân có một bài ký tên là Trọng Đức trong đó có họ nói ông dùng “bức tử” là không có đúng vì “những đảng đã giải tán tại Việt Nam trước đây đều là do tự giải tán sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình. Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có hành động gì gọi là bức tử những đảng đó cả” thì ông nghĩ sao về lập luận này của tác giả Trọng Đức?

Các lãnh đạo cộng sản Hoàng Quốc Việt, Võ Chí Công, Song Hào và Trần Nam Trung (Mặt trận Giải phóng) cùng ông Nghiêm Xuân Yêm, Tổng thư ký đảng Dân chủ hôm 20/11/1975 ở Sài Gòn

Luật gia Lê Hiếu Đằng: Tôi là người trong Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ Miền Nam, tức là bên cạnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Tôi quen rất nhiều anh là đảng viên đảng Dân chủ và đảng Xã hội trước đây.

Thí dụ anh Huỳnh Văn Tiểng, hay bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng, những người của đảng Dân chủ. Tôi đã đi công tác nước ngoài với đoàn của ông Nghiêm Xuân Yêm. Bức tử tức là người ta đề nghị phải giải tán chứ thực ra các ông đâu có muốn giải tán nhưng sự thực như vậy đó.

Người ta buộc phải giải tán với danh nghĩa là hoàn thành nhiệm vụ. Cũng như trước đây tờ Tin Sáng cũng vậy. Sau giải phóng có tờ Tin Sáng của anh Hồ Ngọc Nhuận thì cuối cùng tồn tại được mấy năm rồi cũng dẹp luôn. Vì thế tôi dùng từ “bức tử” là rất là đúng.

Nhưng tất nhiên nhà nước mình đâu có thể nói là họ bức tử mà họ phải nói là hai đảng đó tự giải tán. Tôi cho là thực ra chỉ là cách nói giả dối và không lừa được ai.

BBC: Nếu bây giờ những đảng cũ đó muốn đứng ra để thành lập lại, hoặc như theo lời kêu gọi của ông, thì làm sao thành lập được một đảng phái khác có thể hoạt động được để trở thành một đảng đối lập tại Việt Nam thưa ông?

Luật gia Lê Hiếu Đằng: Vấn đề ở chỗ là cơ sở pháp lý nhà nước không cấm thì mình không phải là khôi phục lại hai đảng cũ mà là một đảng Dân chủ Xã hội mới. Việc thành lập này nó có thuận lợi là hiện nay hệ thống đảng Dân chủ Xã hội là trên phạm vi toàn thế giới.

Khuynh hướng dân chủ xã hội là khuynh hướng tiến bộ hiện nay. Nó hạn chế những mặt tiêu cực của chủ nghĩa tư bản và nó đấu tranh vì dân quyền, nhân quyền và bảo vệ môi trường. Tôi nghĩ đó là con đường phải đi.

Nhiều năm bàn về việc thành lập đảng thì nhà nước không chịu. Tôi cho là nhiều anh em nghĩ là thôi, mình thành lập một phong trào, chẳng hạn như Phong trào vì một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh và tiến bộ xã hội. Dưới dạng một phong trào, cái gì cũng được miễn là có một lực lượng của nhân dân thực sự đứng ra giám sát chính quyền. Chứ còn Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hiện này là không thể giám sát được vì đó là công cụ của đảng Cộng sản.

“Chúng tôi nghĩ đây là lúc trí thức phải đứng ra nhận trách nhiệm của mình. Và từ đó số anh chị em trẻ người ta đã hăng hái tham gia sẽ có chỗ dựa cho người ta đi lên”

Luật gia Lê Hiếu Đằng

BBC: Cũng trong bài viết của mình, ông Trọng Đức có viết “Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất của mình”. Vậy ông nghĩ sao về ý kiến này trong khi ông cho rằng nên thành lập cả các đảng khác nữa. Vì nếu như theo ông Trọng Đức nói thì nhân dân chọn là chỉ có một đảng thôi?

Luật gia Lê Hiếu Đằng: Nói nhân dân chọn sự lãnh đạo của đảng thì cũng đúng trong thời kỳ kháng chiến. Vì trong thời kỳ kháng chiến thực ra người ta cũng không có nghĩ là theo đảng mà người ta nghĩ là đi kháng chiến chống lại thực dân Pháp và sau này người ta hy vọng là sau khi thắng lợi rồi thì xây dựng tốt đẹp hơn cũ. Nhưng tình hình không phải như vậy.

Ngay hiến pháp và tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước Ba Đình thì những điều đó bây giờ bị rơi vãi, không nói là xóa bỏ hết các quyền tự do dân chủ của người dân.

Mục tiêu của cuộc cách mạng bây giờ không còn nữa vì vậy đảng Cộng sản không còn là đảng cách mạng như trước. Thành ra trước đây người ta theo đảng Cộng sản với tư cách là đảng cách mạng nhằm lãnh đạo cuộc kháng chiến.

Nhưng bây giờ đảng Cộng sản đang trở thành một sức ngăn trở sự phát triển của đất nước và xã hội. Thế tại sao lại nói là được nhân dân ủy nhiệm? Anh muốn nói là được nhân dân ủy nhiệm thì ở một đất nước hòa bình chỉ việc thông qua một cuộc bầu cử hợp pháp có sự tham gia giám sát của một lực lượng quốc tế.

Thực ra bây giờ không có lực lượng nào mạnh bằng đảng Cộng sản. Nếu bầu cử tự do thật sự thì đảng Cộng sản với hệ thống chính trị của mình ở tận cơ sở như vậy thì vẫn có thể thắng lợi. Có thể mấy chục phần trăm đó nhưng vẫn là một đảng cầm quyền và như vậy lúc đó có chính danh.

Như thế là có một cơ chế dân chủ, và lực lượng đối lập trong một xã hội công dân sẽ ngày càng phát triển, và sẽ đến lúc nó lớn dần lên. Cũng như ở các nước thực ra chỉ cần hai đảng, còn mấy đảng nhỏ. Tôi nghĩ như vậy là quy luật phát triển tất yếu của tất cả các nước hiện nay mà Việt Nam cũng không thể đi ngược lại được.

Ông Bấm Lê Hiếu Đằng từng giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM. Quý vị có các ý kiến khác nhau về chủ đề này xin chia sẻ với Diễn đàn BBC hoặc trang Facebook. Về bài mới nhất trên Quân đội Nhân dân phê phán ông Lê Hiếu Đằng xin bấm vào Bấm địa chỉ này.

Khi tài phiệt ‘móc ngoặc’ với nhà nước

BBC, 23 tháng 8, 2013

TS. Nguyễn Quang A Liệu việc tài phiệt và các nhóm lợi ích trong chính quyền ‘móc ngoặc’ trục lợi sẽ là vô phương cứu chữa?

Một nhà bình luận cho rằng hiện tượng các tài phiệt ‘móc ngoặc’ với các nhóm lợi ích nằm ngay bên trong nhà nước nhằm trục lợi qua việc chia chác các nguồn lợi kiếm được từ tài nguyên quốc gia và các nguồn lực khác là một thực tế đã diễn ra nhiều năm qua.

Trao đổi với BBC hôm 22/8 nhân chủ đề những thách thức mà nền kinh tế Việt Nam đang đương đầu và phải trải qua, TS. Nguyễn Quang A, cựu Viện trưởng Viện nghiên cứu độc lập IDS đã giải thể, cho rằng nhiều đại gia, trọc phú mới nổi trong nước thời gian qua có thể đã học những kinh nghiệm, thủ đoạn xấu từ ‘mafia nước ngoài’ như tại Liên Xô cũ, hoặc Đông Âu trước đây, để móc ngoặc, lách luật đánh cắp tài nguyên, biển thủ các nguồn lực.

 

Họp Mặt Phát Giải Việt Báo Năm thứ XIV Ra Mắt Sách Viết Về Nước Mỹ 2013

Việt Báo tường thuật với hình ảnh của Cổ Ngưu, Việt Phạm, Martin, Khanh Nguyễn, Phan Tấn Hải.

http://vietbao.com/D_1-2_2-372_4-212684_5-15_15-2_6-1_17-220_14-2/

*
WESTMINSTER (VB) Trên 400 quan khách, các tác giả Viết Về Nước Mỹ, Bé Viết Văn Việt, văn nghệ sĩ, các nhà bảo trợ, đại diện truyền thông, và thân hữu Việt Báo đã tham dự buổi lễ phát Giải Việt Báo và ra mắt sách Viết Về Nước Mỹ 2013, tại Nhà Hàng Moonlight Restaurant, trên đường Beach, thành phố Westminster, California, Hoa Kỳ, vào chiều Chủ Nhật, 11 tháng Tám, 2013. Sinh hoạt giải Bé Viết Văn Việt xin xem Trang Thiếu Nhi Việt Báo, Chủ Nhật 18-8-2013. Sau đây là tường thuật phần Việt Báo Viết Về Nước Mỹ, chương trình được điều hợp bởi MC Thụy Trinh và Luật Sư Nguyễn Hoàng Dũng.

Bắt đầu bằng hình ảnh tưởng nhớ từ Năm Thứ Nhất:

Năm thứ nhất Việt Báo Viết Về Nước Mỹ được phát động từ 30 Tháng Tư, 2000. Hình trên: Mẫu bìa sách in lần thứ nhất. Nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, vị huynh trưởng của Việt Báo đồng thời là chủ khảo đầu tiên của Việt Báo Viết Về Nước Mỹ công bố kết quả giải thưởng và ra mắt sách tại Thư viện TT. Nixon, 29-11-2000. Mười năm sau, tháng Tám 2010, ông viết trên Việt Báo,“Tôi đã thấy những tiến bộ rõ rệt, nên nghĩ chương trình Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo sẽ còn phát triển mạnh hơn nữa.”

Nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, 92 tuổi, từ trần tại San Jose ngày 12 tháng Tám, 2012, cùng ngày họp mặt năm thứ XII-XIII của Việt Báo Viết Về Nước Mỹ. Hơn 400 người họp mặt đã trân trọng tưởng niệm ông.

Việt Báo Viết Về Nước Mỹ tiếp tục sang năm thứ hai 2001, Bà Trùng Quang, 92 tuổi, góp bài “Tôi Đi Tìm Tự Do Dân Chủ.” Họp mặt năm thứ ba, 27-12-2002, Việt Báo trân trọng vinh danh Bà. Vị tác giả trưởng thượng phát biểu kêu gọi mọi người cùng Viết Về Nước Mỹ, giúp con cháu gốc Việt sau này có được những trang sử sống về ông bà cha mẹ. Hình trên: nữ nghệ sĩ Kiều Chinh, người học trò cũ của Bà thời Hà Nội, nhà báo Duy Sinh, chủ tịch Hội Báo chí Truyền Thông Việt ngữ tại Hoa Kỳ và Nhã Ca, chủ nhiệm Việt Báo, trân trọng đón tiếp Bà.

Bà Trùng Quang từ trần ngày 6 tháng Chín, 2012 tại San Jose, hưởng đại thọ 101 tuổi. Vị trưởng nam của Bà là Ông Đỗ Doãn Quế sau đó chuyển đến Việt Báo Foundation ngân khoản mười ngàn (10,000) mỹ kim do Bà di tặng, nói là để tiếp sức cho chương trình Viết Về Nước Mỹ.

*

“Từ tâm nguyện chung của cộng đồng gốc Việt, ý chí của lớp người mở đường đã trở thành sức mạnh mà chúng ta thừa kế, Viết Về Nước Mỹ tiếp tục sang năm thứ 15,” Nhã Ca nói trong lời khai mạc. Và nữ nghệ sĩ Kiều Chinh, người bạn quí từ buổi đầu của Việt Báo, chào mừng quan khách và chúc mừng sách mới Viết Về Nước Mỹ 2013.

Kiều Chinh: “Đây là bộ sách lịch sử ngàn người viết của người Việt hải ngoại. Cuốn sách thứ 16. Hơn 10 ngàn trang sách. Trân trọng chúc mừng.”
Họp mặt năm thứ XIV, Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang California địa hạt 34 Lou Correa, người đã nhiều năm tham dự và khích lệ chương trình Viết Về Nước Mỹ, ngợi ca các tác giả Viết Về Nước Mỹ và những bài viết về cuộc sống của người Việt ở Mỹ. Ông nói rằng các thế hệ mai sau khi đọc những bài Viết Về Nước Mỹ sẽ hiểu được cuộc sống của cha ông họ. Ảnh: Hoà Bình nhận bảng Vinh Danh do Thượng Nghị Sĩ California Lou Correa trao tặng.
Tiếp theo, đại diện thành phố Westminster do Thị trưởng Trí Tạ và Nghị viên Sergio Contreras đã trao tặng bảng vinh danh cho nhà báo Phan Tấn Hải, chủ bút Việt Báo.
Trưởng ban Tuyển Chọn Chung Kết Viết Về Nước Mỹ là Nhà Báo Nguyễn Xuân Nghĩa điều hợp phần đầu lễ phát giải. Ông giới thiệu 10 thành viên Ban Tuyển Chọn 2013, gồm Trương Ngọc Bảo Xuân, Bồ Tùng Ma, Bồ Đại Kỳ, Nguyễn Viết Tân, Nhã Ca, Phạm Quyến, Hòa Bình, và 3 người vắng mặt vì ở xa không về kịp là các tác giả Lê Tường Vi, Trần Nguyên Đán và Nguyễn Duy An.

1.Giải Trùng Quang năm đầu tiên:

Dành cho “Sức mạnh ngôn ngữ, văn hoá Việt”.

Đặc biệt, Nhà Báo Nguyễn Xuân Nghĩa công bố là từ đây, giải thưởng Việt Báo hàng năm sẽ có thêm một giải mới mang tên Bà Trùng Quang. Người biên tập của giải Việt Báo là Trần Dạ Từ nói về vị tác giả trưởng thượng và giải thưởng, như Việt Báo đã công bố trước đây:

“Bà Trùng Quang là bậc nữ lưu tiền phong của thế kỷ 20, nhà hoạt động xã hội, bảo vệ nữ quyền và là nhà giáo, nhà báo, nhà thơ sống gắn bó lâu bền nhất với tiếng Việt, chữ Việt, văn hoá lịch sử Việt. Bà Trùng Quang, nhũ danh Lê Thị Tuyên, sinh ngày 1 tháng Một 1912 tại Việt Nam, mất ngày 6 tháng Chín, 2012 tại Hoa Kỳ, sống hơn 101 năm. Nhờ hưởng đại thọ, Bà là người duy nhất trong lịch sử quốc ngữ trên trăm tuổi vẫn làm thơ viết văn.

“Vượt biển sang Pháp rồi sang Mỹ từ 1979, Bà định cư tại San Jose, Bắc California.

“Ở tuổi 80, Bà trở lại đại học Mỹ và tiếp tục sáng tác.

“Vào tuổi 90, năm 2001, với bài viết “Tôi Đi Tìm Tự Do Dân Chủ”, Bà kể chuyện vượt biển, định cư, hội nhập và kêu gọi mọi người cùng viết về nước Mỹ, để gìn giữ cho con cháu mai sau những trang sử sống của cộng đồng gốc Việt.

“Trước lúc lâm chung, Bà đã tự sắp xếp dặn dò mọi việc hậu sự và con cháu tuyệt đối vâng theo. Tang lễ được tổ chức riêng tư trong gia đình thân tộc. Tháng Sáu 2013, vị trưởng nam của Bà là Ông Đỗ Doãn Quế đã chuyển tới Việt Báo ngân khoản 10,000 mỹ kim do Bà di tặng cho giải thưởng Viết Về Nước Mỹ.

“Với lòng tưởng nhớ và biết ơn vị tác giả trưởng thượng, Việt Báo quyết định thành lập thêm giải viết văn mang tên Bà Trùng Quang, cùng tiến hành với giải thưởng Việt Báo. Tôn chỉ Giải Trùng Quang thể hiện tâm huyết mà Bà hằng sống và nhắc nhở, là gìn giữ tiếng Việt, chữ Việt, văn hoá Việt trong đời sống của người Việt hải ngoại.”

Tiếp theo, Trưởng ban Tuyển Chọn Chung Kết Nguyễn Xuân Nghĩa nhấn mạnh là tuy dành cho tất cả mọi người cùng viết, nhưng mục đích gìn giữ, phát triển tiếng Việt, chữ Việt, văn hoá Việt mà giải Trùng Quang đề ra là hướng về tương lai, mong mỏi có sự tham dự của lớp trẻ. Ông nói từ bây giờ, rất mong sớm có bài viết của các em thiếu nhi từng nhận giải Bé Viết Văn Việt 10 năm trước, nay đã trưởng thành hoặc đang là những sinh viên sắp tốt nghiệp. Sau lời kêu gọi trên, nhà báo Nguyễn Xuân Nghĩa loan báo: Người thắng giải Trùng Quang năm đầu tiên là trường hợp đặc biệt, một người Mỹ gốc Pháp trực tiếp viết văn làm thơ bằng Việt ngữ: tác giả Sáu Steven Brown.

Ông Brown trước năm 1975 là quân nhân Mỹ tham chiến tại Việt Nam và lấy vợ Việt. Ông biết đọc và viết tiếng Việt. Ông có tới 7 người con hiện sống ở Tiểu Bang Ohio. Ông Sáu viết 3 tự truyện bằng tiếng Việt trong đó kể chuyện tình 40 năm của chàng lính Mỹ với cô gái Việt và “Hành Trình Tiếng Việt của Một Người Mỹ”. Tác giả thắng giải Sáu Steve Brown bằng loại tiếng Việt tiêu chuẩn, đã ca ngợi văn hoá Việt và nói ông cảm phục Bà Trùng Quang, vị tác giả trước khi từ trần còn góp phần bảo tồn ngôn ngữ văn hoá truyền thống cho tương lai của người Việt tại Mỹ.

Ông Đỗ Doãn Quế, vị trưởng nam của Bà Trùng Quang về từ San Jose, khi trao Giải Văn Học Trùng Quang cho tác giả Sáu Steven Brown, đã ca ngợi “cuộc hành trình tiếng Việt” của tác giả Sáu Steve Brown là tấm gương sáng cho những người gốc Việt noi theo. Phía sau, từ trái: Trương Ngọc Bảo Xuân, Bồ Tùng Ma và Nhã Ca. Trong số quan khách tham dự lễ phát giải, có gia đình thân nhân của Cố nữ sĩ Trùng Quang.
Ảnh: Con cháu Bà Trùng Quang. Góc phải: Vị trưởng tộc họ Lê Hạ Vĩnh tại hải ngoại: Ông Lê Văn Dương, trước 1975 là sĩ quan QLVNCH, Trưởng Khối Quân Sử thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, và trưởng nam Lê Khoa. Góc trái là Ông Đỗ Doãn Quế, trưởng nam của Bà Trùng Quang.

2. Viết Về Nước Mỹ 2013:

Các Giải Đặc Biệt và Danh Dự

Như đã loan báo, 9 tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ năm thứ XIV: Trần Đức Lợi với bài viết “Cô Bé Có Con Ngươi Hình Tam Giác,” Nguyễn Đức Long với bài viết “Tình,” Tôn Nữ Thu Dung với bài viết “Chuyện Cổ Tích Không Phải Cho Bé Thơ,” Nguyễn Công Khanh với bài viết “Tam Giáo Đồng Hành,” Nguyễn Ngọc Hoa với bài viết “Tấm Phiếu Định Mệnh,” Giang Thiên Tường với bài viết “Chung Một Mảnh Vườn,” Nguyễn Hữu Tài với bài viết “Bão Về,” Hoàng Ân với bài viết “Mơ Về Cali,” và Trần Thiện Phi Hùng với bài viết “Cô Nhi Viện và Viện Dưỡng Lão.”

Hình trên: Thị Trưởng Westminster Trí Tạ trao giải cho tác giả Trần Đức Lợi, Tammy Trần đại diện Cộng Đồng Á Châu của Edison trao giải cho tác giả Tôn Nữ Thu Dung, Ông Ed Robidon của Edison International trao giải cho tác giả Giang Thiên Tường, Nhà báo Nguyễn Khắc Nhân trao giải cho tác giả Nguyễn Ngọc Hoa, nhà thơ Du Tử Lê trao giải cho tác giả Nguyễn Hữu Tài, cô Kristen Phan của Ngân Hàng Wells Fargo trao giải cho tác giả Xuân Nguyễn đại diện tác giả Nguyễn Đức Long.

Bẩy Giải Danh Dự gồm các tác giả: Vũ Công Ynh, Donna Nguyễn, Phương Hoa, Cao Đắc Vinh, Đức Nguyễn, Kevin Huy Phạm và Vĩnh Chánh. Chủ Bút Việt Báo Phan Tấn Hải trao giải cho tác giả Vũ Công Ynh với bài viết “Puppy và Nàng,” và “Rộn Tiếng Cười Mê Say.” Tác giả Nguyễn Viết Tân trao giải cho tác giả Donna Nguyễn với bài viết “Tết Bắc Cali,” và “Ông Cụ Đi Xe Đò Hoàng.”

Bác sĩ Võ Văn Tùng trao giải cho tác giả Vĩnh Chánh với bài viết “30 Tháng Tư 1795: Tháng Ngày Tao Loạn”; Tác giả Bồ Tùng Ma trao giải cho tác giả Phương Hoa với bài viết “Thằng Nước Mắm.” Tác giả Trương Ngọc Bảo Xuân trao giải cho tác giả Cao Đắc Vinh với bài viết “Đại Học Yale và Thành Phố New York.” Tác giả Phạm Hoàng Chương trao giải cho tác giả Kevin Huy Phạm với bài viết “Two Halves.” Dược sĩ Trần Thu Hằng trao giải cho tác giả Đức Nguyễn, bài viết “Ừ Thôi Ta Về.”

3. Ba giải thưởng chính

Trước khi phát ba giải chính, mọi người được xem phim giới thiệu các trích đoạn những bài viết thắng giải của 3 tác giả Mimosa Phương Vinh, Phan và Khôi An, với phần hình ảnh phụ họa đẹp và thú vị.

Và kết quả được chính thức công bố:

Giải Vinh Danh Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ 2013: Tác giả Mimosa Phương Vinh, về từ tiểu bang Tenessee, với bài viết “Thiên Thần Đen,” do nhà văn Nhã Ca trao giải.
Giải Vinh Danh Tác Giả Viết Về Nước Mỹ 2013: Tác giả Phan. với bài “Hụt Hẫng Bài Học Mỹ” và “Con Rơi Con Rớt.” Phan là một nhà báo quen biết, về từ Dallas, nhận giải do nữ tài tử Kiều Chinh trao tặng.

Và giờ phút quyết định sau cùng là Giải Chung Kết Tác Giả – Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ 2013. Đây là giải thưởng chính trong năm với phần thưởng 10,000 mỹ kim, thường được gọi đùa là “Giải Hoa Hậu VVNM. Tác giả Hoa hậu năm nay là Khôi An, về từ San Jose, với bài viết “Những Đoạn Đường Cho Nhau” và nhiều bài viết giá trị khác.

*

* Khôi An: Ba câu chuyện nhỏ

Tác giả Khôi An được Bố Mẹ cho rời gia đình, cùng em gái vượt biển khi hai chị em còn tuổi học trò. Định cư tại San Jose từ năm 1984, chin năm sau, từ 1993, cô là kỹ sư cho hãng Intel. Tham gia Viết Về Nước Mỹ từ 2008, Khôi An nhận giải Danh Dự 2009, thêm giải Vinh Danh Tác Phẩm năm 2010. Và ba năm sau, nhận giải Chung Kết Tác Giả Tác Phẩm 2013, do “hoa hậu tiền nhiệm 2012” là Lê Thị tức Calvin Trần trao tặng.

Sau đây là bài phát biểu đặc biệt của tác giả Khôi An sau khi nhận giải từ Lê Thị/Calvin Trần:

Kính chào quý vị,
Khôi An rất xúc động khi được nhận giải chung kết Tác Giả, Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ 2013. Có thể nói con đường đưa Khôi An đến đây hôm nay đã được dệt bằng những câu chuyện. Vì vậy, để đón nhận vinh dự này, Khôi An thấy không gì hợp hơn là tiếp tục kể chuyện. Xin gởi đến quý vị ba câu chuyện thật ngắn.

Câu chuyện thứ nhất:

Khôi An thích viết văn từ bé. Mới 6, 7 tuổi Khôi An đã xé giấy trong vở học, đóng thành những quyển sách nhỏ xíu rồi viết vào đó. Nghĩ là tự sáng tác, tự xuất bản, và tự thưởng thức. Nhưng biến cố 1975 xảy ra. Từ đó, những quyển vở trở thành hết sức hiếm hoi nên Khôi An không dám xé ra để viết chuyện nữa. Nhưng lý do quan trọng hơn là lúc đó Khôi An phải chứng kiến quá nhiều điều dối trá trên báo chí.

Từ đó, Khôi An mất niềm tin vào truyền thông. Đồng thời Khôi An đã thấm thía bài học: muốn yên thân thì phải im lặng hoặc phải ca tụng những điều mình chán ghét. Vì thế, Khôi An không còn thích viết.

Câu chuyện thứ hai:

Sau khi Khôi An qua Mỹ được mấy năm, Khôi An đọc được một bài viết với những câu:

“Một buổi chiều mười ba năm trước, trong đại họa lớn nhất xẩy ra cho đời mình và từ một khung cửa Nhã đứng, tôi đã đi thoát được. Đã sống.

Tôi được yên lành sau hai tháng nằm ẩn cheo leo dưới mái nhà Từ Nhã, có đêm công an phường ập vào xét, Nhã phải chỉ cho tôi leo lên nằm ẩn ở một gờ mái. May mắn nữa vì Nhã tìm ra được đường dây vượt biển, giao được tôi cho tổ chức đưa người…”

Đó là những câu trong bài viết của nhà văn Mai Thảo trong số đặc biệt của tạp chí Văn, tháng Tư, 1989, số đặc biệt chào mừng cô chú Nhã Ca-Trần Dạ Từ tới Thụy Điển.

Câu chuyện thứ ba:

Khôi An tự cho là mình thuộc về một thế hệ đặc biệt. Thệ hệ nhỏ đủ để bị đào tạo dưới mái trường Cộng Sản, nhưng lớn đủ để có ít nhiều ký ức về miền Nam trước đó. Có lẽ vì trải qua những thay đổi quá khốc liệt khi còn non nớt nên tâm hồn của nhiều người, trong đó có Khôi An, có những mảng rất chậm lớn – mà người ta gọi là bị chựng lại. Cho nên dù đã xa Việt Nam tới mấy chục năm, Khôi An vẫn cảm thấy như là sự chia cắt còn rất mới.

Sống trên đất Mỹ Khôi An đã có cơ hội thấy và hiểu rằng người Do Thái lưu lạc cả ngàn năm nhưng nhờ giữ được hồn Do Thái, họ đã trở về lập nên một quốc gia hùng mạnh.

Được hưởng thanh bình, ấm no, và biết bao phương tiện văn minh, Khôi An thấy mình có trách nhiệm giữ gìn và quảng bá những cái hay, cái đẹp của văn hóa Việt. Đó chính là giữ ngọn lửa Việt cho một ngày trở về. Điều đó luôn ở trong đầu Khôi An, nhưng Khôi An không nói ra với ai. Cho tới một ngày năm 2008 có người bạn chỉ đường vào Hội Ái Hữu cựu học sinh TV trên forum Việt Báo. Từ đó Khôi An tìm thấy mục Viết Về Nước Mỹ và biết là Việt Báo do cô chú Nhã Ca – Trần Dạ Từ sáng lập. Và Khôi An đã gởi những suy nghĩ, ước mơ trong lòng tới Viết Về Nước Mỹ.

Thưa quý vị,
Khôi An đứng đây hôm nay là do sự nối kết của những chuyện mới nghe qua có vẻ như riêng rẽ mà Khôi An vừa kể. Khi gặp được một diễn đàn được dẫn dắt bằng hai người đã đối xử cực kỳ tốt với bạn trong lúc nguy hiểm, khốn khó nhất thì Khôi An thấy ngay rằng Viết Về Nước Mỹ là một người bạn tin cẩn để Khôi An gửi gấm những vui buồn, những bài học, những khắc khoải, những hoài bão của mình. Và người bạn đó sẽ hiểu Khôi An.

Vì vậy Khôi An đã viết trở lại sau hơn ba mươi năm.

Thưa quý vi,
Khôi An hy vọng là với những bài viết của mình, Khôi An đã và sẽ góp phần giữ ngọn lửa văn hóa Việt. Ngọn lửa được truyền lại từ một người đã cống hiến tâm huyết cho tới những ngày tháng cuối cùng của đời, bác Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Ngọn lửa mà một người muốn góp phần gìn giữ ngay cả sau khi bà đã mất đi là cụ Trùng Quang.

Hôm nay, Khôi An xin cám ơn thế hệ các cô chú đã mở đầu Viết Về Nước Mỹ. Khôi An, thuộc đám con nít của Sài gòn thất thủ năm xưa, sẽ cố gắng hơn để cùng với thế hệ “Bé Viết Văn Việt” phát triển những thành quả đã đạt được.

Khôi An mong chúng ta cùng nhau góp sức với niềm tin rằng khi văn hóa Việt được trân trọng, được phát huy thì một nước Việt tự do, hạnh phúc sẽ không phải là ước mơ xa.

*
Chương trình họp mặt giải Việt Báo 2013 được giới thiệu và điều hợp bởi MC Thụy Trinh và Luật sư Nguyễn Hoàng Dũng.

Xen kẽ từng phần phát giải là các màn trình diễn ca khúc nghệ thuật. Ca khúc của các nhạc sĩ Phạm Duy, Nguyễn Hiền, Nguyễn Văn Đông lần lượt được trình bầy song ca hoặc đơn ca bởi các danh ca Quỳnh Giao, Kim Tước, với phần ban nhạc do nhạc sĩ Hoàng Công Luận.

Hình, từ trái: Hoàng Công Luận, Quỳnh Giao, Kim Tước.
Và các ca khúc Đoàn Chuẩn & Từ Linh; Trần Dạ Từ được trình bầy bởi tiếng hát Quang Tuấn.

4. Trình diễn Thời Trang Calvin Trần

Gây quĩ cho Viết Về Về Nước Mỹ

Lê Thị, “tác giả hoa hậu Viết Về Nước Mỹ 2012, là bút hiệu của Calvin Trần, 35 tuổi, nhà thiết kế thời trang gốc Việt nổi tiếng trong dòng chính. Truyền hình Bravo, chương trình thời trang, chọn Cavin Trần là nhân vật nổi bật. Video Thuý Nga Paris từng vinh danh Calvin Trần là người Việt thành công nhất trong ngành thời trang tại Hoa Kỳ.

Đến Mỹ năm 12 tuổi, xuất thân từ đại học nghệ thuật “The Illinois Institute of Art” và mau chóng nổi tiếng với các cửa tiệm thời trang tại New York, Chicago, San Francisco, do Calvin Trần thiết kế, anh được chọn là cựu sinh viên thành công nhất của trường và trở thành spokesperson cho một loạt phim quảng bá đại học này tại khắp nước Mỹ.

Nhiều mẫu thời trang mới lạ của Calvin thường được nhắc nhở trên The New York Times, Women’s Wear Daily, Lucky Magazine, Chicago Social, The Men’s Book, The San Francisco Chronicle, US Weekly và Cosmopolitan. Nhiều ngôi sao điện ảnh nổi tiếng như Drew Barrymore, Brooke Shields, Gina Gershon, Cameron Diaz, Sandrah Oh và Piper Perabo từng diện các bộ quần áo của Calvin Tran. Khán giả của đài Bravo, chương trình The Ultimate Collection ở mùa thứ Hai, điều hợp bởi nàng siêu mẫu Iman và nhà thiết kế thời trang danh tiếng Isaac Mizrahi, hẳn đều đã từng trải qua những những tràng cười không thể cưỡng lại do Calvin Tran mang tới. Câu nói nổi tiếng nhất của anh là “Here Go Hell Come”, (hiểu nôm na là “quỷ sứ, địa ngục là đây”) gây cảm hứng tạo ra hàng loạt thước phim mang nặng tính hài hước ngang ngược của Calvin Trần.

Với sức viết khác thường, thể hiện qua một loạt tự truyện về bi kịch đồng tính và sức mạnh gia đình, Lê Thị trở thành tác giả đồng tính đầu tiên nhận Giải thưởng Việt Báo 2012. Cho tới nay, loạt tự truyện 11 bài của Lê Thị trên Vietbao.com đã có hơn 500,000 lượt người đọc.

Từ New York bay về dự họp mặt Viết Về Nước Mỹ năm nay, Lê Thị/Calvin Trần mang theo một số mẫu thời trang mới của anh về để trình diễn đấu giá gây quĩ tặng giải thưởng Việt Báo. Với sự hợp sức của MC Thụy Trinh và những người mẫu tài tử giờ chót không tập dượt, show thời trang 15 phút của Calvin đã diễn ra sôi nổi và thu được 4,600 mỹ kim. Khi trao tặng ngân khoản thu được cho Việt Báo Foundation, Lê Thị/Calvin Trần hẹn họp mặt năm tới sẽ góp show “huy hoàng hơn.” Sau đây là một số hình ảnh show thời trang năm nay:

Tường Vi, áo đen cạnh Calvin Trần.
Sabrina Anh Trâm áo vằn cạnh Thụy Trinh
Ngân Hà và Lê Thị.
Huỳnh Anh áo đen.
Tác giả Bảo Xuân và ái nữ Ellizabeth, cùng tác giả Khôi An tham gia cuộc đấu giá áo đỏ do Krystal Thụy Linh trình diễn. Và kết quả là…
Mẫu áo đỏ do Cavil Trần thiết kế thuộc về Elizabeth.
*

Tham dự họp mặt 2013 có nhiều vị quý khách như Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, Viện Chủ Chùa Bát Nhã, Santa Ana; Thượng Tọa Thích Nguyên Tâm từ Chùa Việt Nam, Los Angeles; Ni Sư Thích Nữ Như Ngọc, Trú Trì Chùa A Di Đà, Westminster; Ni Sư Thích Nữ Chơn Thiền và NS Thích Nữ Chơn Diệu, Trú Trì Thiền Viện Sùng Nghiêm, Garden Grove; đại diện Dân Biểu Alan Lowenthal là Lý Vĩnh Phong; Nghị Viên Westminster Andy Quách; Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Garden Grove Luật Sư Nguyễn Quốc Lân; Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Garden Grove Bảo Nguyễn; Ông Bà Thái Tú Hạp và Ái Cầm, Tuần Báo Saigon Times; Luật Sư Đỗ Phủ và các bạn của đài SBTN và SET; Anh Phạm Phú Thiện Giao, Cô Hoàng Vĩnh, Anh Đinh Quang Anh Thái, Ngọc Lan, Lâm Hoài Thạch từ Nhật Báo Người Việt; Ký giả Thanh Phong Từ Nhật Báo Viễn Đông; Ông Bà Tiến Sĩ Huỳnh Tấn Lê từ Tổng Hội Cư Sĩ Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, v.v…

Sau đây là một số hình ảnh tiếp tân, gặp gỡ từ buổi họp mặt:

Phái viên Little Saigon TV phỏng vấn dàn tiếp tân trước giờ mở cửa.
Các tác giả ký sách mới: Thanh Mai, về từ Minnesota và Hải quân Trung Tá Paul LongMỹ, đến từ mẫu hạm nguyên tử lớn nhất của nước Mỹ CVN-70.
Đón bạn văn ngoài cửa, bằng hữu 40 năm gặp lại, từ trái: Bồ Đại Kỳ, Trần Dạ Từ, Nguyễn Quốc Thái, Nguyễn Hữu Đông.
Một hình ảnh chung.
Cắt bánh họp mặt Việt Báo Viết Về Nước Mỹ 2013. Từ trái: Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Khôi An, Kiều Chinh, Lê Thị, Phan và Sáu Steve Brown.

Sau phần phát giải là ăn tối, gặp gỡ hàn huyên./.

LS Trần Vũ Hải gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội bản Dự thảo Ý kiến về Thành lập và Tham gia đảng phái

 http://danlambaovn.blogspot.com/2013/08/ls-tran-vu-hai-gui-uy-ban-thuong-vu.html#more

Không có điều khoản nào trong Hiến pháp và các luật của Việt Nam cấm công dân Việt Nam thành lập và tham gia một chính đảng khác ngoài ĐCSVN… Điều 79 Bộ luật Hình sự có quy định trừng phạt người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Như vậy, việc thành lập hoặc tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền nhân dân sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật này. Nói cách khác, hoạt động thành lập và tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền sẽ không được coi là bất hợp pháp…” – Ls Trần Vũ Hải

*

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

ĐỀ NGHỊ CHO Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ THÀNH LẬP VÀ THAM GIA MỘT ĐẢNG NGOÀI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 

DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Kính gửi: Ủy ban thường vụ Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng)
Tôi là Trần Vũ Hải, hành nghề luật sư tại 81 phố Chùa Láng, quận Đống Đa, Hà Nội và 66 Huỳnh Khương Ninh, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh, xin gửi lời chào trân trọng đến Quý Vị và xin được trình bày như sau:
Gần đây, một số người kêu gọi thành lập một đảng mới lấy tên là Đảng Dân chủ Xã hội và cho rằng pháp luật Việt Nam không cấm công dân thành lập đảng. Một số người cho rằng không đủ căn cứ pháp lý để thành lập một đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều công dân Việt Nam quan tâm đến vấn đề này đã hỏi chúng tôi về phương diện pháp lý.
Chúng tôi đã nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành và đã dự thảo Bản ý kiến gửi Quý Vị để tham khảo và cho ý kiến về vấn đề này.
Theo chúng tôi, vấn đề thành lập và tham gia một đảng ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam đang được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm, đã có nhiều người đề xuất, các cơ quan chức năng và các nhà luật học hàng đầu của Việt Nam cần có những quan điểm rõ ràng căn cứ vào pháp luật Việt Nam để khẳng định luật pháp Việt Nam có cấm công dân Việt Nam tham gia và thành lập đảng khác ĐCSVN, nếu không cấm việc thành lập sẽ diễn ra như thế nào để phù hợp pháp luật Việt Nam.
Chúng tôi tin tưởng rằng, Quý Vị sẽ có ý kiến chính thức về vấn đề quan trọng này và những ý kiến này cần được công bố trên các phương tiện truyền thông.
Trân trọng.
 
Công dân Trần Vũ Hải 
***
BẢN Ý KIẾN
VỀ THÀNH LẬP VÀ THAM GIA ĐẢNG PHÁI 
DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
(Dự thảo)
Hà Nội, ngày 22/8/2013
Từ sau 1975 đến 1988, tại Việt Nam có 03 chính đảng hoạt động hợp pháp là Đảng Cộng sản Việt Nam (trước đó là Đảng Lao động Việt Nam và tên gọi tại miền Nam là Đảng Nhân dân Cách mạng), Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã Hội Việt Nam hoạt động. Đến năm 1988, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội tự giải tán. Từ đó đến nay, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), chưa có đảng nào được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Gần đây, một số người kêu gọi thành lập một đảng mới lấy tên là Đảng Dân chủ Xã hội và cho rằng pháp luật Việt Nam không cấm công dân thành lập đảng. Một số người cho rằng không đủ căn cứ pháp lý để thành lập một đảng khác ngoài ĐCSVN.
Nhiều công dân Việt Nam quan tâm đến vấn đề này đã hỏi chúng tôi về phương diện pháp lý. Chúng tôi đã nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, trong đó có những văn bản sau:
1. Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi 2001);
 
2. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005;
 
3. Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 và các luật sửa đổi, bổ sung bộ luật này;
 
4. Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1984);
 
5. Luật về quyền lập hội 1957;
 
6. Một số luật khác như: Luật Mặt trận Tổ quốc; Luật Công đoàn 2012; Luật Thanh niên; Pháp lệnh về Cựu chiến binh…;
 
7. Nghị định 45/2010/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2010/NĐ-CP; các thông tư hướng dẫn các Nghị định này.
Trên cơ sở nghiên cứu những văn bản này, chúng tôi có những ý kiến như sau:
1. Không có điều khoản nào trong Hiến pháp và các luật của Việt Nam cấm công dân Việt Nam thành lập và tham gia một chính đảng khác ngoài ĐCSVN.
2. Tuy nhiên, Điều 79 Bộ luật Hình sự có quy định trừng phạt người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Như vậy, việc thành lập hoặc tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền nhân dân sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật này. Nói cách khác, hoạt động thành lập và tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền sẽ không được coi là bất hợp pháp.
3. Về nguyên tắc đảng là một loại hội chính trị. Thành lập và tham gia một chính đảng là thực hiện quyền về lập hội, hội họp. Điều 69 Hiến pháp ghi nhận: Công dân có quyền… hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Điều 22 Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 quy định: Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình. 
4. Pháp luật nhiều nước phân biệt giữa đảng phái chính trị và hội. Bộ luật Dân sự Việt Nam (Điều 100) quy định có các loại pháp nhân như: (i) tổ chức chính trị; tổ chức chính trị – xã hội; (ii) tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; (iii) tổ chức khác. Không có quy định rõ trong Bộ luật Dân sự hội thuộc loại pháp nhân nào trong 03 loại pháp nhân trên.
5. Chúng tôi cho rằng một đảng phái hoặc một liên minh chính trị là tổ chức chính trị theo cách hiểu của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, không có điều khoản nào của Hiến pháp, các Luật, Điều lệ ĐCSVN khẳng định ĐCSVN là một tổ chức chính trị. Điều 9 Hiến pháp quy định Mặt trận Tổ quốc là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu… Luật Mặt trận Tổ quốc cũng có quy định tương tự, nhưng không khẳng định Mặt trận tổ quốc là tổ chức chính trị (theo cách hiểu của Bộ luật Dân sự). Các tổ chức chính trị – xã hội ở Việt Nam gồm: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và các công đoàn (theo Luật Công đoàn), Đoàn Thanh niên cộng sản Việt Nam (theo Luật Thanh niên), Hội Cựu chiến binh Việt Nam (theo Pháp lệnh Cựu chiến binh),Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (theo Điều lệ của hội này), Hội Nông dân Việt Nam (theo Điều lệ của hội này).
6. Có vẻ như tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội không được coi là hội theo pháp luật hiện hành của Việt Nam. Luật về Quyền lập hội 1957 hiện đang còn hiệu lực (mặc dù một số điều khoản trong Luật này thực tế đã không còn hiệu lực do không phù hợp với một số luật khác ban hành sau đó hoặc không phù hợp với thực tế hiện nay, nhưng Nghị định 45/2010/NĐ-CP vẫn căn cứ vào Luật này, tức Chính phủ vẫn coi Luật này còn hiệu lực). Điều 9 Luật về quyền lập hội quy định: Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận, không thuộc phạm vi quy định của luật này. Nghị định 45/2010/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 33/2012/NĐ-CP) quy định không áp dụng đối với các tổ chức chính trị – xã hội (nêu ở mục 5 trên), các tổ chức giáo hội. Không thấy Nghị định này quy định rõ loại trừ ĐCSVN và tổ chức chính trị ra khỏi đối tượng áp dụng. Nhưng Điều 2 định nghĩa hội như sau: Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Hiểu theo quy định này, đảng phái (tổ chức chính trị) không được coi là Hội. Như vậy, có thể cho rằng Luật về quyền lập hội, Nghị định 45/2010/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 33/2012/NĐ-CP) không áp dụng cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.
7. Trong khi Công đoàn, Mặt trận có luật riêng, chưa thấy có luật nào về đảng, kể cả luật về ĐCSVN. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, đảng là một tổ chức chính trị, một loại pháp nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự. Do đó, những quy định về pháp nhân, tổ chức chính trị trong Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng nếu xem xét về thành lập, tham gia một đảng chính trị.
8. Pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật Dân sự được quy định như sau:
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 
 
1. Được thành lập hợp pháp; 
 
2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 
 
3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 
 
4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Thế nào là thành lập hợp pháp không được định nghĩa rõ trong Bộ luật Dân sự, tuy nhiên Điều 85 Bộ luật Dân sự quy định như sau: Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy có 02 loại pháp nhân được thành lập: (i) theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) không có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức.
9. Tổ chức chính trị theo Bộ luật Dân sự thuộc đối tượng nào trong 02 loại pháp nhân được thành lập nêu trên? (Đảng có phải xin phép thành lập từ Nhà nước hay không?)
Điều 88 khoản 1 Bộ luật Dân sự quy định: Trong trường hợp pháp luật quy định pháp nhân phải có điều lệ thì điều lệ của pháp nhân phải được các sáng lập viên hoặc đại hội thành viên thông qua; điều lệ của pháp nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận trong trường hợp pháp luật có quy định.
Như phân tích ở trên, không có luật nào quy định về thành lập, tham gia tổ chức chính trị ngoài Bộ luật Dân sự. Do đó, đảng (tổ chức chính trị) có cần điều lệ hay không và điều lệ này phải được một cơ quan Nhà nước công nhận hay không sẽ căn cứ chính những điều khoản trong Bộ luật Dân sự.
Trong khi loại pháp nhân (ii) nêu trong mục 4 trên được quy định tại Điều 104 Bộ luật Dân sự (pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp), theo đó pháp nhân loại này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ, thì điều 102 Bộ luật Dân sự quy định về loại pháp nhân là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội chỉ quy định phải có điều lệ, nhưng không quy định cơ quan nhà nước công nhận điều lệ và cho phép thành lập đối với loại pháp nhân này. Như vậy, tổ chức chính trị (và tổ chức chính trị – xã hội) phải có điều lệ nhưng không cần cơ quan nhà nước nào công nhận điều lệ, cho phép thành lập. Thực tế, ĐCSVN đã hoạt động như vậy, điều lệ của Đảng này sửa đổi nhiều lần nhưng không cần cơ quan nhà nước nào công nhận việc sửa đổi vì không có điều khoản của văn bản pháp luật nào (kể cả Bộ luật Dân sự) quy định phải có thủ tục công nhận từ Nhà nước. Nói cách khác pháp luật Việt Nam (cụ thể là Bộ luật Dân sự) quy định: đảng phái (tổ chức chính trị) là loại pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của tổ chức cá nhân (không thuộc loại thành lập theo quyết định của cơ quan Nhà nước), không phải xin phép thành lập, điều lệ không cần Nhà nước công nhận nhưng phải được các sáng lập viên hoặc đại hội thành viên thông qua.
10. Tóm lại, theo chúng tôi đảng phái (tổ chức chính trị) được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, và cần lưu ý những điểm chính sau:
a. Có sáng kiến của những cá nhân (công dân Việt Nam) đề nghị thành lập đảng.
 
b. Mục tiêu của đảng dự kiến thành lập không được nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
 
c. Các sáng lập viên (những người sáng kiến) thông qua điều lệ đảng hoặc đại hội thành lập thông qua điều lệ đảng. Đảng phải có cơ quan điều hành (Ban chấp hành), người đại diện (người đứng đầu) và trụ sở (các điều 88,89, 90, 91 Bộ luật Dân sự).
 
d. Việc thành lập đảng và điều lệ đảng không cần sự cho phép, công nhận từ Nhà nước.
11. Tuy nhiên những ý kiến trên là những ý kiến cá nhân của chúng tôi, dựa trên nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành. Theo Điều 91 Hiến pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Do đó, chúng tôi đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên cứu bản ý kiến này của chúng tôi. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng ý với bản ý kiến này và có cách giải thích khác về Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và những luật liên quan khác về vấn đề này, chúng tôi đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố sớm ý kiến của mình.
Văn bản này cũng được gửi đến một số cơ quan liên quan và một số giáo sư, nhà khoa học luật hàng đầu Việt Nam (có danh sách kèm theo dưới đây) để tham khảo, xin ý kiến.
Chúng tôi hi vọng rằng sẽ nhận được ý kiến của các cơ quan hữu quan, các nhà luật học. Sau 30 ngày kể từ ngày công bố bản ý kiến (dự thảo) này, những ý kiến (nếu có) của các cơ quan hữu quan và các nhà luật học sẽ được chúng tôi công bố và tham khảo để đưa ra văn bản ý kiến cuối cùng của chúng tôi về vấn đề này.
Trân trọng. 
 
Ký tên
 
Trần Vũ Hải
 
(Hành nghề luật sư tại 81 chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội)
Dự thảo Bản ý kiến này được gửi đến:
1. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng)
3. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chung Lưu
4. Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao (Ông Trương Hòa Bình)
5. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (Ông Nguyễn Hòa Bình)
6. Bộ Công an (Ông Trần Đại Quang)
7. Bộ Tư pháp (Ông Hà Hùng Cường)
8. Bộ Nội vụ (Ông Nguyễn Thái Bình)
9. Ủy ban Pháp luật của Quốc hội (Ông Phan Trung Lý)
10. Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (Ông Nguyễn Văn Hiện)
11. Ông Nguyễn Như Phát – Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
12. Ông Nguyễn Đăng Dung – Giáo sư Luật Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
13. Ông Đào Trí Úc – Giáo sư Luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
14. Bà Mai Hồng Quỳ – Giáo sư Luật – Hiệu trưởng trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Hậu quả của “Tư duy ngược”

Mặc Lâm, biên tập viên RFA.  2013-08-22
08222013-lephukhai-ml.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
000_Hkg4467982-305.jpg

Một đại biểu với lá phiếu trên tay trong ngày Đại hội toàn quốc lần thứ 11 của Đảng Cộng sản VN tại Hà Nội, 17/1/2011

AFP photo

Ông Lê Phú Khải, tuy là một phóng viên kỳ cựu của Đài truyền hình Trung Ương nhưng không bao giờ gia nhập Đảng Cộng sản mặc dù cả gia đình ông hầu hết là Đảng viên thâm niên. Lý do nào dẫn đến việc từ chối gia nhập Đảng của ông Lê Phú Khải được Mặc Lâm tìm hiểu thêm qua bài phỏng vấn sau đây:

Mặc Lâm: Như chúng tôi được biết ông là một phóng viên kỳ cựu của Đài Truyền hình Trung ương Việt Nam và xuất thân từ một gia đình hầu hết là Đảng viên Đảng Cộng sản nhưng chỉ có ông là không gia nhập Đảng. Xin được hỏi ông lý do nào ông chọn thái độ đứng ngoài Đảng thưa ông?

Ô. Lê Phú Khải: Là vì tôi đọc sách triết học rất nhiều, tôi thấy một xã hội có đối thoại thì mới tiến bộ được. Nếu độc thoại thì không thể nào khá được. Chính vì vậy nhận thấy mình không hợp với một xã hội độc thoại, một Đảng độc thoại như thế.

Đường lối của Đảng phải do đảng viên góp ý thì nó mới thành đường lối. Đàng này đảng viên phải nghe ý kiến nghị quyết của trên xuống và phải chấp hành thì quá phi lý. Đó là tư duy ngược!
– Ô. Lê Phú Khải

Đường lối của Đảng phải do đảng viên góp ý thì nó mới thành đường lối. Đàng này đảng viên phải nghe ý kiến nghị quyết của trên xuống và phải chấp hành thì quá phi lý. Đó là tư duy ngược! Ví dụ như báo Nhân dân nói “đưa nghị quyết đảng vào cuộc sống” như vậy là nghị quyết đảng từ trên trời rơi xuống à? Phải nói là đưa cuộc sống vào nghị quyết đảng mới đúng, để từ đó mới trở thành nghị quyết của Đảng. Đó chính là “Nhận thức luận”  của Lenin đấy. “Từ trực quan sinh động tới tư duy trừu tuợng”.

Tôi có anh bạn ở Cà Mau ra Bắc tập kết sau này anh ấy làm chức cũng lớn. Một lần anh ấy về quê anh ấy bảo: “má ơi nhà mình xa quá”. Bà má nổi đóa bả chửi: “chỉ có mày đi xa chứ nhà mình đâu có xa!” như vậy là tư duy ngược rồi còn gì nữa?

Mặc Lâm: Thưa ông, tuy nhiên có một nghịch lý là từ đó đến nay đã gần 70 năm, số lượng đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tăng không ngừng, cho đến nay đã có hơn ba triệu Đảng viên so với ngày đầu là 5.000 người. Câu hỏi đặt ra là tại sao số luợng cứ tăng mặc dù sai lầm vẫn rõ ràng như vậy?

Ô. Lê Phú Khải: Chính vì nó tăng như thế cho nên nó mới sai lầm! Bởi vì người ta cần chất lượng chứ không ai cần số lượng. Anh càng tăng bao nhiêu thì chứng tỏ cái chất lượng của anh bấy nhiêu. Số lượng không nói lên điều gì cả khi ngày xưa chỉ có 5.000 đảng viên nguời ta vẫn làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám. Bây giờ kết nạp cả học sinh, sinh viên vào Đảng nữa. Đảng lãnh đạo tuyệt đối thế thì học sinh lãnh đạo thầy à? Nó phi lý ở chỗ đó.

LPK-250.jpg
Ông Lê Phú Khải

Như trong bài viết của anh Lê Hiếu Đằng tôi thấy anh ấy viết rất đúng. Trong trường phổ thông cũng kết nạp học sinh vào đảng, thế thì cái thằng học sinh trong lớp nó còn coi thầy ra cái gì nữa? Vì nó là Đảng cơ mà! còn thầy là nguời ngoài đảng thì làm sao thầy dạy được? như thế có phải là tư duy ngược hay không?

Tôi không phải là đảng viên cũng không phải là nguời cách mạng nhưng tôi là nguời tư duy, và tôi thấy như thế là tư duy ngược cho nên dứt khoát tôi không vào Đảng. Tôi không thể chấp nhận cái tư duy ngược như vậy.

Mặc Lâm: Chúng tôi được biết ông là một phóng viên kỳ cựu của đài Truyền hình Trung Ương và từng có dịp gặp gỡ các nhân vật cao cấp trong chính phủ trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông từng nói Thủ tướng Đồng là người có thái độ “kiêu ngạo cộng sản”. Theo ông thì đây là bản tính cá nhân hay nảy sinh từ hệ thống Đảng Cộng sản khiến cho Đảng viên thâm nhiễm cá tính này?

Ô. Lê Phú Khải: Không phải riêng ông Đồng đâu, rất nhiều người có chức có quyền như vậy. Do họ không đối thoại mà chỉ độc thoại nên họ rất chủ quan. Họ chỉ cho ý kiến của mình là đúng mà thôi.

Tôi nhớ ngày xưa khi ông nội tôi làm thư ký cho Toàn quyền Đông Duơng thì ông nội tôi kể khi đi đâu thì Toàn quyền cũng mang theo kỹ sư hay các nhà chuyên môn để nghiên cứu việc trồng cây gì nuôi con gì… Toàn quyền Đông Dương không có “quyết”. Chính anh kỹ sư phải xem phải suy nghĩ để “quyết” sau đó có biên bản đàng hoàng. Anh quyết, anh tham mưu sau này có chuyện gì tôi lôi cổ anh ra, như thế mới là khoa học.

Đây là cơ may cho ĐCS vì bây giờ có những người ôn hòa, nhiệt huyết, tâm huyết trong những vấn đề của đất nước, góp ý với Đảng để cùng với Đảng đối lập về tư duy để có đường lối đúng xây dựng đất nước.
– Ô. Lê Phú Khải

Còn bây giờ, một ông lớn xuống. Cây gì ổng thích thì bảo trồng cây đó và không ai được cãi cả. Nay trồng cây này, mai trồng cây kia mà không thăm hỏi gì cả thì chết dân!

Không thể nào tư duy xuôi chiều được mà phải tư duy nhiều chiều và có đối thoại thì mới tìm ra chân lý. Điều đó là quá rõ ràng, là ABC về triết học.

Tôi là một công dân, tôi sống trong chế độ Đảng cầm quyền thì tôi phải chấp nhận vì trước hết tôi phải sống đã. Tuy nhiên tôi không vào Đảng vì lý do đó.

Mặc Lâm: Trước tình cảnh mà ông gọi là tư duy ngược ấy thì đề nghị của ông Lê Hiếu Đằng như ông đã biết là thành lập Đảng Dân chủ Xã hội để đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam phải chăng là cơ hội để Đảng Cộng sản có dịp tự thay đổi tư duy của mình qua phản biện của Đảng kia hay không?

Ô. Lê Phú Khải: Tôi thấy là quá đúng rồi chứ gì nữa? Đây là cơ may cho Đảng Cộng sản vì bây giờ có những người ôn hòa, nhiệt huyết, tâm huyết… rất nhiệt huyết trong những vấn đề của đất nước thì người ta góp ý với Đảng để cùng với Đảng đối lập về tư duy để có đường lối đúng xây dựng đất nước. Đây là cơ may của Đảng Cộng sản.

Những người này đều có “lý lịch” cùng chung với Đảng Cộng sản và đó là những người yêu nước chân thành. Họ chủ truơng ôn hòa từ trước tới giờ và rất đứng đắn.

Mặc Lâm: Một lần nữa xin được cảm ơn ông.

 

Trí thức Việt ra Tuyên bố phản đối Nghị định 72 về quản lý internet

Tiến sĩ Nguyễn Quang A chụp hình chung với Giáo sư Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn, nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân và Đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Shear tại buổi chiêu đãi Quốc khánh Hoa Kỳ 4-7 tại khách sạn Sheraton ở Hà Nội.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A chụp hình chung với Giáo sư Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn, nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân và Đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Shear tại buổi chiêu đãi Quốc khánh Hoa Kỳ 4-7 tại khách sạn Sheraton ở Hà Nội.

Hàng trăm trí thức trong và ngoài nước vừa ra Tuyên bố chung lên án Nghị định 72 vừa ban hành là vi phạm Hiến pháp lẫn pháp luật Việt Nam cũng như đi ngược lại các cam kết của Hà Nội với quốc tế về tôn trọng nhân quyền.

Trong bản Tuyên bố được phổ biến trên trang boxitvn.net, các nhân sĩ trí thức mạnh mẽ phản đối Nghị định “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng” có hiệu lực vào đầu tháng sau quy định các trạng mạng xã hội chỉ được dùng để trao đổi thông tin cá nhân, cấm người dân chia sẻ hay phổ biến tin tức từ báo chí hoặc các trang mạng của chính phủ.

Trong cuộc trao đổi với VOA Việt ngữ, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, người ký tên đầu tiên vào bản Tuyên bố, nhấn mạnh Nghị định này là cái cớ để nhà chức trách “muốn bắt ai thì bắt, muốn bỏ tù ai thì bỏ tù”.

Tiến sĩ Quang A: Tất cả những quy định của Nghị định 72 này hết sức mập mờ, tựu chung lại có thể tạo cớ cho nhà chức trách trừng trị những người mà họ không thích.

VOA: Giới hữu trách khẳng định Nghị định này nhằm thúc đẩy internet phát triển mạnh và lành mạnh tại Việt Nam và mục đích chính là để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Ông có phản hồi ra sao?

Tiến sĩ Quang A: Đấy hoàn toàn là những điều ngụy biện. Không có vấn đề gì về sở hữu trí tuệ ở đây cả. Nếu một trang nào lấy thông tin vi phạm bản quyền thì đã có những luật về bản quyền chi phối, không cần phải thêm Nghị định này. Điểm mấu chốt người ta nói ở đây là trang thông tin cá nhân không được trích dẫn, dẫn chiếu tin tức của các báo chính thức. Người ta muốn cấm là cấm ở chỗ đó. Đấy là sự vi phạm trắng trợn về quyền tự do ngôn luận của người dân, không phục vụ gì về chuyện bản quyền cả.

VOA: Cũng có những ý kiến cho rằng có những trang mạng chỉ chép lại nội dung các trang báo khác rồi đăng lên trang của mình để lấy quảng cáo, có thu nhập, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đó cũng là một trong những lý do họ ủng hộ Nghị định 72 ngăn chặn việc này.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A trước tòa thị chính của một thành phố ở Trung Quốc với chiếc áo No-U phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A trước tòa thị chính của một thành phố ở Trung Quốc với chiếc áo No-U phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tiến sĩ Quang A: Tôi cũng hoàn toàn phản đối cách làm của một trang mạng thương mại như vậy vì họ vi phạm trắng trợn những quy định khác của pháp luật Việt Nam về bảo vệ bản quyền. Những quy định ấy đã có sẵn, tính pháp lý còn cao hơn Nghị định 72 này. Hãy áp dụng những điều luật đó đi và trừng trị những kẻ làm bậy đó.

VOA: Giữa lúc Nghị định 72 chỉ mới đưa ra nội dung cấm chưa nói cụ thể các hình thức xử phạt, ông dự kiến trong những ngày tới Nghị định này sẽ mang lại những hệ quả, hiệu quả gì?

Tiến sĩ Quang A: Về mặt thông tin, nó sẽ không mang lại tác dụng gì cho nhà nước cả trong những ý đồ hạn chế này khác, giống hệt như các quy định cũ về internet vốn đã hoàn toàn không có hiệu quả. Cái Nghị định này cũng sẽ không có hiệu quả. Tuy nhiên, với những quy định mập mờ sẽ tạo cớ cho bên cơ quan an ninh muốn bắt ai thì bắt, muốn bỏ tù ai thì bỏ tù. Chưa có Nghị định này, những chuyện khác mập mờ hơn cả cái này như điều 258 hay 88 đã được dùng để bắt bớ hàng loạt các blogger trong thời gian vừa qua. Chính sự bắt bớ đấy làm cho dư luận càng dị ứng với Nghị định 72 này.

VOA: Phản đối Nghị định 71, Tuyên bố mà ông là một trong những người ký tên đầu tiên đưa ra những yêu cầu gì cụ thể với giới hữu trách?

Tiến sĩ Quang A: Yêu cầu chính phủ hoãn lại, quốc hội dùng quyền của mình hủy bỏ chuyện đó. Nếu được như thế thì rất tốt, nhưng theo kinh nghiệm của tôi từ trước tới nay, điều đó khó thể xảy ra. Khi ký vào Tuyên bố này, kỳ vọng của tôi chỉ là muốn người dân càng hiểu kỹ hơn về quyền của mình để lên tiếng ngày càng nhiều hơn và với áp lực như vậy nó sẽ có chuyển biến từ từ nào đó đối với các chính sách về internet nói riêng và các chính sách của chính phủ Việt Nam nói chung. Chứ còn những kết quả ngay trước mắt đối với tôi không phải là mục tiêu đầu tiên.

Nếu tất cả người dân Việt Nam đều bảo rằng họ không thay đổi thì chúng ta dừng, cam chịu, thì nước Việt Nam này một ngàn năm nữa cũng sẽ vẫn là một nước nô lệ. Cho nên, bất luận có kết quả ngay lập tức, kết quả ít hay nhiều, thì việc vận động người dân hiểu quyền của mình và mở miệng mình ra là việc liên tục phải làm. Chỉ có như thế Việt Nam mới có tương lai để phát triển mà thôi.

VOA: Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Quang A đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.

Trí thức Việt ra Tuyên bố phản đối Nghị định 72 về quản lý internet
 Hoa Kỳ và các tập đoàn internet hàng đầu trên thế giới đã lên tiếng chỉ trích Nghị định 72 của Việt Nam là trấn áp quyền tự do ngôn luận và ngăn cản quyền tự do chia sẻ thông tin của công dân.

Tổ chức Phóng viên Không biên giới và tổ chức Theo dõi Nhân quyền quan ngại rằng nghị định này là một công cụ nữa để nhà cầm quyền Hà Nội trừng trị những tiếng nói bất đồng hay chỉ trích.

Từ đầu năm đến nay có gần 50 nhà hoạt động và các blogger bị bỏ tù tại Việt Nam giữa lúc Hà Nội tiếp tục bị liệt kê là “Kẻ thù của internet” trong danh sách thường niên của Phóng viên Không biên giới.

Luật sư Trần Vũ Hải: Pháp luật Việt Nam không cấm lập đảng

   VOA, 22.08.2013
 http://www.youtube.com/watch?v=8qExA4zeXaw

Một luật sư có tiếng tại Việt Nam khẳng định Hiến pháp và pháp luật Việt Nam không có điều nào cấm công dân thành lập và tham gia một chính đảng khác ngoài đảng cộng sản.

Luật sư Trần Vũ Hải, người tham gia nhiều vụ án chính trị trong nước, nói các văn bản pháp luật hiện hành cho thấy hoạt động thành lập và tham gia đảng phái chính trị không nhằm lật đổ chính quyền nhân dân không bị coi là bất hợp pháp.

Theo nghiên cứu của luật sư Hải, pháp luật Việt Nam quy định đảng phái không phải xin phép thành lập và điều lệ đảng không cần sự công nhận của nhà nước.

Ông đã gửi thư cho Quốc hội và các nhà luật học đề nghị cho ý kiến về vấn đề thành lập và tham gia đảng phái ở Việt Nam trong lúc vấn đề này đang được dư luận trong và ngoài nước quan tâm, giữa những lời kêu gọi thành lập thêm các đảng đối lập với đảng cộng sản Việt Nam để cạnh tranh, kiểm soát lẫn nhau, thúc đẩy dân chủ và phát triển xã hội.

Luật sư Hải kêu gọi nhà chức trách Việt Nam công bố quan điểm rõ ràng về việc có cấm công dân tham gia thành lập đảng phái hay không, nếu không cấm thì cần nêu rõ việc thành lập nên diễn ra thế nào cho phù hợp pháp luật Việt Nam.

Điều 4 Hiến pháp Việt Nam quy định đảng cộng sản nắm quyền độc tôn lãnh đạo đất nước.

Trong cuộc phỏng vấn do PhoBolsaTV đăng tải cuối tháng 7, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, Nguyễn Thanh Sơn tuyên bố dân chủ không nhất thiết phải đa đảng.

 

Có được thành lập đảng hay không?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok. 2013-08-22

08222013-reqst-n-assem-party-ests.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. AFP

Nghe bài này

Hiện có hai luồng ý kiến khác nhau trong việc thành lập ra đảng đối lập với đảng Cộng sản Việt Nam đang cầm quyền. Luồng ý kiến thứ nhất từ phía những người ủng hộ đảng Cộng sản cho rằng chưa có căn cứ pháp luật cho việc làm đó; phía muốn thành lập đảng đối lập thì nói Hiến pháp không cấm công dân.

Kêu gọi tranh luận công khai

Luật sư Trần Vũ Hải hiện đang làm việc tại Hà Nội vừa có đề nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt nam cho ý kiến về vấn đề thành lập và tham gia một đảng ngoài đảng Cộng sản Việt Nam, dưới góc độ pháp luật Việt Nam.
Gia Minh hỏi chuyện luật sư Trần Vũ Hải về đề nghị đó. Trước hết ông nhắc lại lý do viết đề nghị.

Luật sư Trần Vũ Hải: Vấn đề này đã được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm; thậm chí như báo Quân đội Nhân dân cũng đã đăng nhiều bài;  truyền thông trong nước và quốc tế cũng có (nêu) vấn đề đó. Cho nên theo chúng tôi phải đặt vấn đề này quan trọng. Và theo luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải có trách nhiệm giải thích Hiến Pháp,luật và pháp lệnh; nên phải có ý kiến. Còn sau này nếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà không có ý kiến dẫn đến việc họ thành lập đảng hoặc làm việc gì đó mà cho rằng a, b, c nào đó thì Ủy ban Thường Vụ Quốc hội phải đồng chịu trách nhiệm.

Gia Minh: Từ năm 1975 đến năm 1988, ở Việt Nam vẫn còn 3 đảng cùng hoạt động, nhưng sau đó hai đảng Dân chủ và đảng Xã hội không còn nữa. Đến năm 2006, ông Hoàng Minh Chính, tổng thư ký đảng Dân chủ muốn phục hoạt lại nhưng không được theo như sở nguyện, vậy cơ sở để phản bác cho chuyện đó từ lúc ấy đến bây giờ ra sao?

Luật sư Trần Vũ Hải: Chúng tôi không có ông Hoàng Minh Chính, nhưng theo tôi các nhà luật học và các cơ quan chức năng cần phải chính thức; chúng tôi cho rằng đây là vấn đề không phải mới nhưng quan trọng và được đặt ra nên cần phải giải quyết.

chắc chắn theo chúng tôi phải bàn và theo đề nghị của chúng tôi phải bàn luận một cách công khai vì đây là vấn đề quốc gia, vấn đề dân chủ, vấn đề pháp quyền; nên chắc chắn phải bàn không thể né tránh được

LS Trần Vũ Hải

Gia Minh: Luật sư đánh giá khả năng có trả lời và chấp nhận cho những quan tâm mà mọi người đang nêu ra như vậy ra sao?

Luật sư Trần Vũ Hải: Tôi tin ít nhất họ phải nghiên cứu, còn việc trả lời hay không là quyền của họ; nhưng như chúng tôi đã nói nếu họ không trả lời, không công bố công khai là một vấn đề. Theo chúng tôi biết một số giáo sư đã bàn thảo về vấn đề này và trong nội bộ hay bán chính thức cũng có thể bàn. Nhưng chắc chắn theo chúng tôi phải bàn và theo đề nghị của chúng tôi phải bàn luận một cách công khai vì đây là vấn đề quốc gia, vấn đề dân chủ, vấn đề pháp quyền; nên chắc chắn phải bàn không thể né tránh được.

Luật sư Trần Vũ Hải
Luật sư Trần Vũ Hải. Files photos

Gia Minh: Lâu nay người ta cũng nói đến vấn đề dân chủ, nhưng quan niệm của đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ thì khác, đó là ‘dân chủ tập trung’.

Luật sư Trần Vũ Hải: Ở đây chúng tôi không nói về đảng mà gửi cho Nhà nước và các giáo sư, tôi nghĩ rằng họ sẽ tranh luận với nhau, với chúng tôi và với bất kỳ một công dân nào rằng hiện nay pháp luật như thế ‘có thành lập được đảng hay không’.

Gia Minh: Dù không phải đảng nói, nhưng tất cả các cơ quan quốc hội và chính phủ đều nói ‘dân chủ tập trung’, thưa ông?

Luật sư Trần Vũ Hải: Chúng tôi muốn rằng mọi người cần phải phát biểu một cách chính thống, họ phải sẽ có văn bản, phải chịu trách nhiệm về lời nói của mình, lịch sử sẽ phán xét, và tôi muốn nói ngay cả những đồng nghiệp của họ và những giáo sư luật cũng sẽ nhận xét. Vì điều gì ông có thể nói về quan điểm của mình đi nữa; nhưng khi ông định cấm người khác thì phải có cơ sở pháp luật; vậy ông phải chỉ ra cơ sở pháp luật là qui định nào. Nếu không cấm người ta có quyền làm không? Nếu người ta làm, cần làm như thế nào, cũng phải nói. Ở đây chúng tôi hy vọng có một cuộc tranh luận dân chủ, khoa học.

Nếu không cấm người ta có quyền làm không? Nếu người ta làm, cần làm như thế nào, cũng phải nói. Ở đây chúng tôi hy vọng có một cuộc tranh luận dân chủ, khoa học

LS Trần Vũ Hải

Gia Minh: Ngay từ đầu luật sư nói báo Quân đội Nhân dân có đưa ra một số ý kiến?

Luật sư Trần Vũ Hải: Một số ý kiến nhưng đó là cảm tính, không dựa trên cơ sở pháp lý; chúng tôi chưa thấy một nhà khoa học luật nào phản bác cả. Chúng tôi hy vọng sẽ có nhà khoa học luật nào sẽ phản bác, hoặc đồng ý hoặc phản bác, hoặc tranh luận… Hiện nay chỉ là những ý kiến của những người mà chúng tôi cho là khá cảm tính.

Gia Minh: Qua một số những sự việc vừa qua mà lúc đầu người ta nói cho tranh luận công khai như việc góp ý cho sửa đổi hiến pháp và cho đến lúc này vẫn chưa đi đến kết quả gì, nay lại có thêm đề nghị tranh luận công khai về việc thành lập đảng như thế này nữa, những người bi quan cho như thế thì luật sư nói sao?

Luật sư Trần Vũ Hải: Chúng tôi nói rằng nếu những nhà lãnh đạo Việt Nam nói rằng họ là những nhà trí thức, ít rằng họ cũng tôn trọng pháp luật thì họ phải trả lời những vấn đề đó dựa trên cơ sở pháp luật. Và khi họ trả lời thì họ sẽ phải thận trọng hơn. Họ sẽ nói một cách đàng hoàng, công khai. Chúng tôi tin là như vậy, còn nếu họ lảng tránh vấn đề này thì người ta sẽ nói bản thân họ cũng chưa tự tin lắm trong vấn đề này. Chúng ta thấy rằng . Ở đây chúng tôi không nói đến nhà lãnh đạo đảng. Đảng tất nhiên muốn thế này, thế khác; nhưng chúng tôi muốn nói các nhà lãnh đạo của nhà nước.

Nếu cho rằng việc thành lập đảng ngoài đảng Cộng sản Việt Nam là sai trái thì phải chứng minh bằng pháp luật Việt Nam hiện nay, bằng Hiến pháp, bằng những Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia…Chúng tôi nghĩ rằng sẽ có một tranh luận thú vị sẽ xảy ra

LS Trần Vũ Hải

Chúng tôi gửi đến cho chủ tịch nước, chủ tịch ủy ban thường vụ quốc hội thì họ phải nói chứ. Trong khi đó chúng tôi thấy trong Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiều chuyên gia về pháp luật như ông Uông Chu Lưu, ông Nguyễn Văn Hiện, ông Phan Trung Lý. Những ông đó nếu cho rằng việc thành lập đảng ngoài đảng Cộng sản Việt Nam là sai trái thì phải chứng minh bằng pháp luật Việt Nam hiện nay, bằng Hiến pháp, bằng những Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia…

Chúng tôi nghĩ rằng sẽ có một tranh luận thú vị sẽ xảy ra; còn nếu các ông không tranh luật thì người ta sẽ không tin. Giống như các phiên tòa, nếu như không tranh luận lại thì người ta nói rằng bị yếu thế, đuối lý… Tôi tin đây là những vị tiến sĩ, giáo sư đầu ngành họ sẽ tranh luận. Có thể họ sẽ không tranh luận công khai, tranh luận trong nội bộ; nhưng chúng tôi rất mong muốn có cuộc tranh luận công khai, không có gì phải giấu diếm cả. Nếu họ không tranh luận công khai cũng là điểm yếu.

Gia Minh: Những vị mà ông mới nêu tên họ cũng là đảng viên của đảng Cộng sản Việt Nam?

Luật sư Trần Vũ Hải: Ông Lê Hiếu Đằng cũng là đảng viên (đảng Cộng sản Việt Nam). Họ cũng có những quan điểm; nhưng trước mắt là quan điểm pháp luật đã. Tự nhận là nhà nước pháp quyền thì phải trên quan điểm pháp luật đã chứ không thể trên quan niệm của Đảng. Cái này phải rõ, và theo tôi đã rõ rồi.

Gia Minh: Cơ sở luật pháp của Việt Nam vẫn còn nhiều lổ hổng, thiếu cơ sở, thưa luật sư?

Luật sư Trần Vũ Hải: Điều này chúng tôi không bình luận được, vì nhà nước, quốc hội ban hành luật. Thế nhưng các luật sư khi làm việc luôn nghiên cứu pháp luật; xem việc mà thân thủ, khách hàng, người yêu cầu trợ giúp, luật có cấm không. Nếu được làm thì phải làm thế nào, chứ chúng tôi không phải là người sáng tác ra luật.

Gia Minh: Cám ơn luật sư.

Nỗi hổ thẹn của báo chí nhà nước

VOA, Phạm Chí Dũng. 19.08.2013

 http://www.voatiengviet.com/content/no-ho-then-cua-bao-chi-nha-nuoc/1732902.html
Hôn mêGần hết trong hơn 700 tờ báo nhà nước ở Việt Nam vẫn như đang hôn mê trong nỗi hổ thẹn từ tiềm thức đến vô thức, trong bối cảnh chưa bao giờ xã hội lại cần đến tiếng nói phản biện của báo chí như hiện tình.

Với gần hết đội ngũ tổng biên tập và cả phó tổng biên tập đã được “cơ bản tái cơ cấu”, không có mấy phóng viên nhiệt thành nào lèn được bài viết phản ánh thực tồn xã hội ngổn ngang lên mặt báo.

Cách đây không lâu, báo Thanh Niên suýt bị khởi tố vì mạo phạm Ngân hàng nhà nước qua bài “Rửa vàng”. Còn trước đó, việc bắt và xử tù phóng viên Hoàng Khương của báo Tuổi Trẻ đã gần như đặt dấu chấm hết cho lớp nhà báo muốn phanh phui câu chuyện “núp lùm” của cánh cảnh sát giao thông.

Hơn một năm đã trôi qua kể từ quý 2 năm 2012 – được xem là cơn thủy triều thình lình của báo chí chính thống với hơn 2.000 bài viết khắc họa về chân dung “Người nông dân nổi dậy” Đoàn Văn Vươn, một phần rất lớn các tờ báo nhà nước lại trở về thế nằm cam chịu dưới vô số “chỉ đạo định hướng” của Ban tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông.

Những định hướng của các cơ quan tuyên giáo và quản lý báo chí lại ngày càng bốc đồng tính xu thời cùng với thời vận quốc gia lâm nguy trong cơn hoạn nạn về tham nhũng, nhóm lợi ích, suy thoái kinh tế, sa sút đạo đức, tệ nạn xã hội…

Bất chấp một số bài viết lên án sự vô cảm của đồng loại, báo chí vẫn hiển hiện như một mặt trận vô cảm không thua sút. Những nội dung phổ biến mà độc giả trong nước được thưởng ngoạn trên báo chí chính thống vẫn rất thường là các tin tức giật gân, câu khách, hay nói như dân gian là logic “cướp giết hiếp”… hẳn có mấy tờ báo còn đủ tự trọng để đánh động dư luận về những chuyện bất công xã hội vốn đang đầy rẫy ở xứ sở được Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tự tin “dân chủ gấp vạn lần tư sản”.

Đã từ hai năm qua, Vietnamnet – một trong những tờ báo điện tử có uy tín và thu hút được lượng truy cập lớn nhất Việt Nam – đã gần như đánh mất bản sắc phản biện của mình. Người ta không còn nhận ra sắc diện cống hiến trên mục Tuần Việt Nam và ở cả những chuyên mục xã hội, kinh tế của tờ báo này. Sau khi báo điện tử Tầm Nhìn bị đóng cửa vào tháng 7/2012, loại bài như “Mùa xuân Myanmar” trên Vietnamnet đã khiến những tác giả của nó không chốn dung thân.

Tương tự, những tờ báo đã từng tỏa hơi ấm nhân bản đồng loại trong vụ Tiên Lãng vào đầu năm 2012 như Giáo Dục Việt Nam, Dân Việt, Người Lao Động, Pháp Luật TP.HCM, Sài Gòn Tiếp Thị… cũng như lắng tiếng trong một tâm trạng mỏng manh chân đứng.

Quá nhiều chuyện cần được nói và cần phải tiết lộ, nhưng lại quá ít can đảm để thoát khỏi vòng kim cô. Những bài báo hiếm hoi về thực trạng quá sức bất công trong thu hồi đất đai ở một số địa phương thi thoảng mới được phản ánh trên báo Nông Nghiệp Việt Nam, cùng vài ba tờ khác với hàm lượng khiêm tốn hơn nhiều. Song qua cái số hiếm hoi ấy, độc giả vẫn chưa thể nhận ra một sự thật chính đáng nhất: nguồn cơn gây ra bất công và thái độ thích đáng đối với trách nhiệm của cá nhân lãnh đạo cùng các cơ quan điều hành quản lý liên quan.

“Đừng nấp trong gấu áo của nhân dân”

Suốt nhiều năm qua, không một quan chức cao cấp nào từng công khai vi hành ở các chợ búa và các vùng sâu, vùng xa, nơi những đứa trẻ phải bắt chuột thay cơm và ở những nơi mà sức chịu đựng của người dân đang tiệm cận giới hạn cuối cùng của sự kiệt lực.

Thế nhưng, trước tất cả những cảnh trạng ngang ngược chưa từng thấy của các nhóm lợi ích độc quyền, giới công luận ở Việt Nam vẫn chỉ dám hô hấp một cách hổn hển. Khi thời gian giữa năm 2013 buộc phải chứng nhận ba cú tăng giá xăng dầu và một lần phóng giá điện lực làm náo loạn xã hội, đa phần các bài báo vẫn chỉ chạm khẽ vào hiện trạng giá cả tăng làm ảnh hưởng đến đời sống dân sinh và lạm phát. Họa hoằn mới có một tờ báo phỏng vấn những chuyên gia độc lập như Ngô Trí Long, Nguyễn Minh Phong để hé ra đôi chút tính phản biện đối với chính sách tăng giá vô tội vạ. Nhưng những bài báo đó lại quá ít ỏi so với phong trào phản biện chống tăng giá điện và xăng dầu trên báo chí lề phải vào cuối năm 2011, và càng không thể so sánh với gánh ì của trên 17.000 người viết báo có thẻ ở Việt Nam.

Thật hiếm hoi, một tờ báo nhỏ như Văn Hóa Nghệ An vào tháng 8/2013 đã khơi dậy tinh thần phản kháng còn sót lại trong tâm khảm những người viết báo đối với nhóm lợi ích: “Nếu cần gì hãy cứ nói thẳng với Nhân Dân. Nhân Dân chưa bao giờ tiếc một cái gì, kể cả mạng sống vì Đất nước. Hãy minh bạch đối diện với Nhân Dân, đừng nấp trong gấu áo của Nhân Dân để phục kích, làm hại Nhân Dân”.

Cũng còn những cuộc “phục kích” khác…Những năm qua, nghe nói còn có cả những chỉ thị của Ban tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin Truyền thông đối với báo chí về một “vùng cấm” nào đó trong việc đưa tin viết bài về chuyện độc quyền tăng giá, cả về chuyện “tránh để các thế lực thù địch lợi dụng”.

Một nhà báo giấu tên còn cho biết những hành xử ẩn lộ trong mấy năm gần đây của các cơ quan quản lý báo chí đã khiến cho giới phóng viên sinh ra không ít nghi vấn về một mối quan hệ “đi đêm” nào đó giữa các nhóm lợi ích và các cơ quan chỉ đạo báo chí – như hiện tượng đã từng bị dư luận dị nghị không ít lần trong quá khứ. Nhiều người cũng còn nhớ việc một nhà báo đã tố cáo một quan chức tuyên giáo nhận “lại quả” lên đến vài chục ngàn USD xảy ra những năm về trước…

Tiền bạc có thể tạo ra truyền thông nhưng cũng dễ làm cho báo chí phải ngậm miệng. Chưa bao giờ tính nghi ngờ của giới phóng viên lại cao độ như vào lúc này, khi họ liên tục nhận được các chỉ thị bất bình thường từ hệ thống tuyên giáo liên quan đến những “vùng kín” đắt đỏ.

“Định hướng”, “nhắc nhở”, “phê bình”, “kiểm điểm”, “kỷ luật”, “phạt hành chính”… có lẽ mới là ngôn luận chính thống của một nền báo chí được xem là chính thống. Hàng tuần và hàng tháng, cơ quan tuyên giáo và quản lý truyền thông ở cấp trung ương và ít nhất hai thành phố lớn Hà Nội và TP.HCM vẫn miệt mài vận động với não trạng lê mòn không đổi khác.

Không có lấy một lối thoát khả dĩ cho báo chí trong việc lên tiếng đánh thức lương tâm và chế ngự tính vô cảm tràn lan trong xã hội. Những phóng viên có nghề và có tâm huyết dần dần bỏ viết, rời khỏi báo, trong khi những nhà báo trẻ kế cận lại chưa thể kế thừa kinh nghiệm và phong cách của lớp đi trước. Còn lại, đại đa số hàng ngũ tổng biên tập mới chính là một dấu ấn đặc trưng cho “nhà báo quan chức” hoặc “trí thức cận thần” khép miệng trùm mền.

Cơ hội và “dũng khí”

Không hoặc chưa thể vượt qua nỗi sợ hãi đang chế ngự chính mình, phần lớn nhà báo quốc doanh đang để vuột khỏi tay họ điều được gọi là lương tâm nghề nghiệp.

Báo chí nhà nước cũng đang dần mất đi cơ hội ngang bằng phải lứa, ít nhất trên phương diện tin tức, so với giới truyền thông xã hội.

Vài cuộc hội thảo, tọa đàm gần đây đã gián tiếp xác nhận trong số hơn 30 triệu người dùng Internet ở Việt Nam, lượng người truy cập vào truyền thông xã hội đã tăng vọt theo cấp số nhân, chuyên chú vào nhiều sự kiện thời sự mà báo chí “lề phải” đã không tự nguyện dấn thân.

Dù vẫn bị những báo cáo nội bộ nào đấy đánh giá là “phản động”, không ít trang mạng xã hội như Basam, Bauxite Vietnam, Quechoa, Chuacuuthe… đang có xu hướng chuyên nghiệp hóa báo chí, với đội ngũ cộng tác viên được tăng trưởng về số lượng và nâng tầm về nghiệp vụ. Nhưng điều rõ ràng nhất có lẽ là các trang này đã không ít lần dám công khai những chủ đề và vấn đề chính trị – xã hội mà giới báo chí nhà nước hầu như không dám đụng đến. Có lẽ, đó cũng là một đặc tính riêng cần khắc họa khi bàn về cái được gọi là “dũng khí báo chí”.

Điều đáng tiếc không kém cho giới báo chí quốc doanh là họ đã không nắm bắt được cơ hội ngay cả khi có dịp may. Bởi từ đầu năm 2013, những điều kiện về đối ngoại chính trị và phản ứng lẫn phản kháng đối nội đã tỏ ra khởi sắc hơn hẳn bối cảnh năm ngoái, đặc biệt là tiếng nói phản biện của giới nhân sĩ, trí thức độc lập ngày càng mạnh mẽ.

Chưa bao giờ truyền thông xã hội lại quyết đoán như hiện nay.

Tuy thế, nghe nói tại nhiều tòa soạn báo quốc doanh vẫn luôn tồn đọng một danh sách những tác giả bị cấm cản. Bài viết của những trí thức từng có tên tuổi trên truyền thông quốc tế như Tương Lai ở Sài Gòn hay Nguyễn Quang A ở Hà Nội lại luôn là “đối tượng” bị ngăn chặn như vậy.

Dù phía trước là cơ hội đang mở ra cho báo chí nhà nước, cơ hội về thông tin và quan trọng hơn là cơ may để bình luận về các sự kiện thời sự, đặc biệt là mối quan hệ Việt – Mỹ đang bớt lạnh giá, nhưng điều rõ ràng là hiện chỉ có quá ít cây bút bình luận mang tính khách quan và độc lập, nếu không tính tới đội ngũ “ngoại giao đoàn” ở các báo đảng quen thuộc như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân.

Cũng chưa cần xét đến nội trị, mối quan hệ đối ngoại giữa nhà nước Việt Nam với Hoa Kỳ và Cộng đồng châu Âu sẽ có thể không được mặn mà theo đúng nghĩa của nó, một khi chính giới quốc tế vẫn chán nản về chuyện giới truyền thông nhà nước Việt Nam còn lâu mới đủ dũng khí để phản biện những vấn đề bất công và bất bình đẳng gay gắt của xã hội, cũng như vẫn chưa “hòa hợp” với giới nhân sĩ trí thức trung lập ôn hòa.

Một nhà báo ở Sài Gòn cảm thán: “Việt Nam đang ‘tự do báo chí’ theo kiểu cách không giống ai. Một nền báo chí chỉ đạo tập trung hóa như vậy mà đòi thâm nhập vào cả Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc sao?”.

Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.  


Phạm Chí Dũng

‘Lãnh đạo VN nên nhìn thẳng sự thật’

Trong cuộc phỏng vấn với BBC cho chương trình Mùa Việt Nam, người có biệt danh ‘chúa đảo Tuần Châu’ cho rằng lãnh đạo Việt Nam ‘nên nhìn thẳng vào sự thật, mặc dù sự thật đó rất đau lòng’.

Ông Đào Hồng Tuyển nói “các nhà lãnh đạo Việt Nam phải khai tử hàng loạt các tập đoàn Nhà nước làm ăn không hiệu quả”.

“Các nhà lãnh đạo nên nhìn thẳng vào sự thật, và mặc dù sự thật đó rất đau lòng.

“Chúng ta phải bỏ cái nhìn trên những đống hồ sơ giấy tờ một cách đẹp đẽ và sạch sẽ nhưng sự thật nó không phải là như vậy.”

“Tôi muốn nói điều này để tôi muốn nói là các nhà lãnh đạo Việt Nam phải khai tử hàng loạt tất cả những tập đoàn của nhà nước làm ăn không hiệu quả, mang tất cả những tài sản đó bán, khoán, cho thuê, tạo động lực mới, chấp nhận một sự mất mát cần thiết để tạo động lực mới cho xã hội, cho đất nước.”

Sau loạt tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, tỉ lệ này giờ chững lại và thậm chí còn trở nên đáng lo cho đối với một đất nước còn nghèo, và một trong những lý do là khối nợ lớn cả các đơn vị quốc doanh.

Phóng viên Linda Yueh cũng tìm hiểu bí quyết thành công của người đàn ông thuộc hàng giàu nhất Việt Nam này.

Ông cho biết “Hãy nghĩ những gì mà thiên hạ chưa nghĩ, và hãy làm những gì mà thiên hạ đã nghĩ mà chưa làm”.

Phó Thủ tướng Việt Nam thăm Hoa Kỳ

Phó Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc

Phó Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc

Phó Thủ tướng Việt Nam hôm 21/8 bắt đầu chuyến công du Mỹ trong 9 ngày nhằm thúc đẩy sự hiểu biết, tin cậy, và hợp tác giữa hai nước.

Truyền thông trong nước loan tin phái đoàn do ông Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu sẽ gặp gỡ một số chính khách Hoa Kỳ, giới chức Văn phòng Điều phối phòng chống HIV/AIDS toàn cầu, giới chức Văn phòng Quản lý Chính sách Kiểm soát ma túy quốc gia của Mỹ cũng như đi thăm một số cơ sở điều trị nghiện ma túy.

Ngoài ra, phái đoàn cũng sẽ tham dự Chương trình Lãnh đạo Quản lý Cao cấp Việt Nam tại trường Harvard Kennedy.

Chuyến đi của ông Phó Thủ tướng Việt Nam diễn ra gần 1 tháng sau chuyến công du của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Hoa Kỳ hôm 25/7 giữa lúc hai nước Việt-Mỹ thiết lập quan hệ đối tác toàn diện.

Trở ngại chính đối với kỳ vọng của Hà Nội muốn mua võ khí sát thương từ Mỹ và tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương chính là vấn đề nhân quyền của Việt Nam.

Nguồn: AFP/DangCongsan.vn

‘Luật VN không cấm lập đảng mới’

Luật sư Lê Hiếu ĐằngLuật sư Lê Hiếu Đằng tin rằng một đảng mới sẽ là đối trọng tốt cho đảng CS

Dư luận đang quan tâm lời kêu gọi thành lập một đảng mới, Đảng Dân chủ Xã hội, do nhóm của luật gia Lê Hiếu Đằng, một đảng viên cộng sản lâu năm, khởi xướng.

Ông Đằng nguyên là Phó Tổng thư ký Uỷ ban Trung Ương Liên Minh các Lực lượng Dân tộc Dân Chủ và Hoà Bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM.

Trò chuyện với BBC Việt ngữ, ông Lê Hiếu Đằng cho biết nhiều đảng viên có tấm lòng rất muốn làm sao cho Đảng thay đổi, và có đảng đối lập làm đối trọng và giám sát là phương thức tốt nhất.

“Nếu cứ hy vọng hão huyền rằng Đảng tự thay đổi thì rất khó vì bây giờ nhà nước Việt Nam đã bị tha hóa và đã trở thành những tập đoàn lợi ích lũng loạn nhà nước rồi. Vì thế họ từ bỏ vị thế của mình là khó.”

“Cần có một xã hội công dân với những tổ chức thực sự thay mặt người dân để giám sát một cách có hiệu quả chính quyền,” ông Đằng nói.

Ông cũng nói rằng việc có một đảng đối lập thực sự cũng là điều bình thường: “Cái chữ đối lập đây không có nghĩa là mình bài bác gì đảng Cộng sản – bản thân tôi là đảng viên đảng Cộng sản lâu năm – và chính điều đó giúp cho đảng một lối thoát.”

Đáp lại trước ý kiến của Giáo sư Vũ Minh Giang rằng “chưa thấy có cơ sở pháp lý nào để cho phép việc thành lập các chính đảng mới ở Việt Nam, bên cạnh Đảng Cộng sản,” luật sư Lê Hiếu Đằng lập luận rằng chưa có văn bản pháp lý nào cấm đa nguyên đa đảng.

“Trên nguyên tắc pháp lý cái gì nhà nước không cấm thì dân có quyền làm.”

“Người dân có quyền thành lập các đảng, lực lượng chính trị độc lập, song song cùng tồn tại với đảng Cộng sản, chứ không bài bác đảng Cộng sản, và như vậy là phù hợp với luật pháp.”

Ông cũng nói tới vai trò của nhân sĩ trí thức Việt Nam và cho rằng do “thụ động và thủ tiêu đấu tranh nên tình hình mời tồi tệ như hiện nay và đảng Cộng sản muốn làm gì thì làm”.

Theo ông Lê Hiếu Đằng, để thực hiện được việc thành lập một đảng mới cần phải có sự tham gia của nhiều người và cần có một quá trình, không chỉ ngày một ngày hai mà làm được.

“Thực ra bây giờ không có lực lượng nào mạnh bằng đảng Cộng sản. Nếu có bầu cử tự do thực sự thì đảng Cộng sản với hệ thống chính trị của mình tận cơ sở như vậy thì vẫn có thể thắng lợi và vẫn là đảng cầm quyền.

“Như vậy họ có chính danh. Như vậy cũng có một cơ chế dân chủ và lực lượng đối lập trong xã hội công dân sẽ ngày càng phát triển. Tôi nghĩ đây là quy luật phát triển tất yếu ở tất cả các nước mà Việt Nam không thể đi ngược lại,” ông Lê Hiếu Đằng nói.

Tuyên bố Nghị định 72/2013/NĐ-CP vi phạm Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia

Theo Bauxite Việt Nam

http://boxitvn.blogspot.dk/2013/08/tuyen-bo-nghi-inh-so-722013n-cp-vi-pham.html

Tuyên bố Nghị định 72/2013/NĐ-CP vi phạm Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia

Chúng tôi:

– Những công dân nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là những người sử dụng Internet như một phương tiện trau dồi tri thức, cập nhật thông tin trong nước và quốc tế để có điều kiện sống, học tập và làm việc xứng đáng với tư cách con người văn minh của xã hội hiện đại;

– Những người Việt định cư ở nước ngoài tha thiết với vận mệnh đất nước Việt Nam, với quyền tự do dân chủ của đồng bào trong nước;

Nhận thấy Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính phủ “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng” có hiệu lực ngày 01/09/2013 (gọi tắt là Nghị định 72) có những nội dung trái hoặc tiềm ẩn việc thi hành tùy tiện trái với Hiến pháp, Pháp luật Việt Nam, Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị và Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc:

Một số nội dung sai trái của Nghị định 72:

I. Tại các Khoản 3, 4, 5 điều 20 “Phân loại trang thông tin điện tử”, quy định:

3. Trang thông tin điện tử nội bộ là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, dịch vụ, sản phẩm, ngành nghề và thông tin khác phục vụ cho hoạt động của chính cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó và không cung cấp thông tin tổng hợp.

4. Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.

5. Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, y tế, giáo dục và các lĩnh vực chuyên ngành khác và không cung cấp thông tin tổng hợp”.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

“19. Thông tin tổng hợp là thông tin được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin, nhiều loại hình thông tin về một hoặc nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”.

“II. Điều 22. Cung cấp thông tin công cộng qua biên giới. 1. Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài khi cung cấp thông tin công cộng qua biên giới có người sử dụng tại Việt Nam hoặc có truy cập tại Việt Nam cần tuân thủ các quy định của pháp luật của Việt Nam. 2. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể về cung cấp thông tin công cộng qua biên giới”.

Những nội dung trên trái ngay với Luật Công nghệ Thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Việt Nam, trong đó:

Điều 4. Giải thích từ ngữ

17. Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin.”

Điều 2 qui định Đối tượng áp dụng chỉ là “tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam

Điều 3. Áp dụng Luật công nghệ thông tin: “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”.

Nghị định 72 còn là bước thụt lùi so với Nghị định số 97/2008/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet như ở những qui định:

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet tại Việt Nam.

2. Trong trường hợp các Điều ước quốc tế liên quan đến Internet mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế”.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

12. Trang thông tin điện tử trên Internet là trang thông tin hoặc tập hợp trang thông tin phục vụ cho việc cung cấp và trao đổi thông tin trên môi trường Internet, bao gồm trang thông tin điện tử (website), trang thông tin điện tử cá nhân (blog), cổng thông tin điện tử (portal) và các hình thức tương tự khác”.

Như vậy, các Khoản 3, 4, 5 Điều 20 “Phân loại trang thông tin điện tử”, Điều 22 “Cung cấp thông tin công cộng qua biên giới” tiềm ẩn nguy cơ bị vận dụng tùy tiện để ngăn cấm công dân Việt Nam thực thi các quyền tự do ngôn luận, tự do tìm kiếm, thu nhận và chia sẻ thông tin đã được bảo đảm bởi Hiến pháp Việt Nam và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

1- Điều 69 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung 2001:

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

2- Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị 1966 mà Việt Nam tham gia 1982:

Điều 19:

(2) Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.

(3) Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu:

a. Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác.

b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý”.

3- Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc 1948:

Điều 19:Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia”.

Nghị định 72 chứa đựng những quy định đi ngược lại các tuyên bố cải thiện về dân chủ, nhân quyền của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam trong thời gian gần đây, nhất là trong các thảo luận về sửa đổi Hiến pháp 1992, đi ngược lại lợi ích của nhân dân và đất nước, chỉ có tác dụng phá hoại lòng tin của người dân đối với sự trung thực và sáng suốt của chính quyền.

Việc ban hành Nghị định 72 với những quy định vi phạm hoặc tiềm ẩn nguy cơ bị thực hiện tùy tiện vi phạm các quyền tự do ngôn luận của công dân, trong hoàn cảnh Việt Nam vừa tuyên bố là đối tác toàn diện với Hoa Kỳ trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, khi vụ xét xử phúc thẩm hai sinh viên Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên được ghi nhận là một tiến bộ về tự do ngôn luận, trong lúc Việt Nam đang mong muốn ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, là việc làm đi ngược xu thế hội nhập của Việt Nam với thế giới, chỉ có tác dụng phá hoại uy tín của Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế, hết sức bất lợi cho việc tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trước bè lũ bành trướng Bắc Kinh.

Vì thế, chúng tôi tuyên bố:

1/ Phản đối Nghị định 72;

2/ Yêu cầu Chính phủ hoãn thi hành Nghị định này để chỉnh sửa những nội dung vi phạm hoặc tiềm ẩn nguy cơ vi phạm Hiến pháp, Pháp luật Việt Nam và các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết như nêu trên;

3/ Yêu cầu Quốc hội khẩn cấp thẩm tra các nội dung vi phạm Hiến pháp Việt Nam và các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết trong Nghị định 72 để can thiệp với Chính phủ trong quyền hạn của mình.

Khoản 9 Điều 84 của Hiến pháp 1992:

Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

9- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội”;

Quyền tự do ngôn luận, tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền dân chủ cho đất nước, cũng là điều kiện tối cần thiết để đất nước mở mang giao lưu và phát triển. Cấm cản nó, tất cả mọi phương diện của đời sống đất nước sẽ rơi vào vòng ngưng trệ, bước tiến vốn còn rất chầy chật của một nước Việt Nam mong sớm đứng vào vào hàng ngũ các nước phát triển chắc chắn sẽ bị đẩy lùi. Chúng tôi yêu cầu mọi chủ trương chính sách của Nhà nước Việt Nam trong tương lai phải tuyệt đối tôn trọng những quyền thiêng liêng, cơ bản trên đây.

Danh sách ký tên:

1. Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội

2. Vũ Thị Phương Anh, TS, nghiên cứu giáo dục, giảng viên, TP HCM

3. Vũ Hồng Ánh, nghệ sĩ đàn Violoncelle, TP HCM

4. Bùi Xuân Bách, giáo viên về hưu, Hoa Kỳ

5. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức yêu nước TP Hồ Chí Minh, TP HCM

6. Nguyễn Thị Hoàng Bắc, nhà văn, Hoa Kỳ

7. Hoàng Ngọc Biên, nhà văn, Hoa Kỳ

8. Võ Văn Cần, hưu trí, Canada

9. Xà Quế Châu, đầu bếp, TP HCM

10. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM

11. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội

12. Nguyễn Phương Chi, biên tập viên chính, tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học, đã nghỉ hưu, Hà Nội

13. Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao Động, TP HCM

14. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM

15. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt

16. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ, TP HCM

17. Nguyễn Xuân Diện, TS Ngữ văn, Hà Nội

18. Phạm Chí Dũng, nhà báo tự do, TP HCM

19. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM

20. Hà Dương Dực, chuyên viên kế toán tài chính, Hoa Kỳ

21. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh khóa 4, 5, TP HCM

22. Khương Quang Đính, chuyên gia Công nghệ Thông tin, Pháp

23. Lê Hiền Đức, 82 tuổi, công dân chống tham nhũng ở Việt Nam, Hà Nội

24. Huy Đức, nhà báo tự do, TP HCM

25. Lê Mạnh Đức, kỹ sư, hưu trí, TP HCM

26. Nguyễn Ngọc Giao, chủ biên tạp chí Diễn Đàn, nguyên Tổng Biên tập các báo Liên HiệpĐoàn Kết, Pháp

27. Hoàng Lại Giang, nhà văn, TP HCM

28. Đỗ Đăng Giu, nguyên Giám đốc Nghiên Cứu CNRS, Đại học Paris-Sud, Pháp

29. Phan Tấn Hải, nhà văn, Hoa Kỳ

30. Nguyễn Gia Hảo, nguyên Thành viên Tổ tư vấn Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội

31. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội

32. Lê Minh Hằng, TS, Hà Nội

33. Phạm Duy Hiển (bút danh Phạm Nguyên Trường), hưu trí, Vũng Tàu

34. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ y khoa, Pháp

35. Lê Anh Hùng, blogger, Hà Nội

36. Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao), TS Kinh tế, nguyên GS Đại học Laval, Canada

37. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, Đà Nẵng

38. Hà Thúc Huy, PGS TS, giảng viên Đại học, TP HCM

39. Nguyễn Thị Từ Huy, TS, TP HCM

40. Nguyễn Đăng Hưng, TSKH, Giáo sư Danh dự Thực thụ Đại học Liège, Bỉ

41. Hoàng Hưng, nhà thơ, nguyên Trưởng ban Văn hoá Văn nghệ báo Lao Động thời Đổi mới, TP HCM

42. Phạm Khiêm Ích, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội

43. Lê Phú Khải, nguyên phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, TP HCM

44. Vũ Trọng Khải, PGS TS, TP HCM

45. Phan Trọng Khang, thương binh 2/4, Hà Nội

46. Nguyễn Văn Khoa, Pháp

47. Lê Xuân Khoa, nguyên giáo sư Đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ

48. Trần Minh Khôi, kỹ sư điện toán, Berlin, CHLB Đức

49. Quản Mỹ Lan, Pháp

50. Nguyễn Quang Lập, nhà văn, TP HCM

51. Phuong Thao Le, hưu trí, Hoa Kỳ

52. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu, Đà Lạt

53. Trịnh Lữ, dịch giả, Hà Nội

54. Trần Lương, nghệ sĩ Thị giác, Hà Nội

55. André Menras – Hồ Cương Quyết, nhà giáo, cựu tù chính trị trước 1975, Pháp

56. Trần Tố Nga, giáo viên, hưu trí, TP HCM

57. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM

58. Phùng Hoài Ngọc, thạc sĩ, An Giang

59. Hồ Ngọc Nhuận, nguyên Giám đốc chánh trị chủ bút nhật báo Tin Sáng, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, TP HCM

60. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, giảng viên đại học, TP HCM

61. Nguyễn Mai Oanh, chuyên gia nông nghiệp – phát triển nông thôn, TP HCM

62. Tô Oanh, giáo viên THPT, Bắc Giang

63. Hà Sĩ Phu, TS, Đà Lạt

64. Lữ Phương, viết văn, TP HCM

65. Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại tá Công an, Hà Nội

66. Hoàng Quân, sinh viên, Hoa Kỳ

67. Bùi Minh Quốc, nhà báo, nguyên Tổng biên tập tạp chí Lang Biang, Lâm Đồng

68. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM

69. Vũ Vân Sơn, CHLB Đức

70. Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội

71. Trần Công Thạch, cán bộ hưu trí, TP HCM

72. Nguyễn Chí Thanh, thạc sĩ, TP HCM

73. Cao Ngọc Thanh, Thuỵ Sĩ

74. Antôn Lê Ngọc Thanh, linh mục, Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

75. Nguyễn Văn Thạnh, Đà Nẵng

76. Giuse Maria Lê Quốc Thăng, linh mục, Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

77. Nguyễn Lân Thắng, Hà Nội

78. Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ phong trào đấu tranh của nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ Thành phố Đà Lạt, TP HCM

79. Đào Tiến Thi, nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữ, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội

80. Phạm Tư Thanh Thiện, nguyên Phó Trưởng ban Việt ngữ đài RFI, Pháp.

81. Nguyễn Trung Thuần, nhà nghiên cứu, dịch giả, Hà Nội

82. Trần Quốc Thuận, luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, TP HCM

83. Tưởng Năng Tiến, Hoa Kỳ

84. Vũ Ngọc Tiến, nhà văn, Hà Nội

85. Bùi Tín, nhà báo tự do, Pháp

86. Phạm Toàn, nhà nghiên cứu giáo dục, Hà Nội

87. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên văn hóa, TP HCM

88. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM

89. Nguyễn Quang Trọng, Pháp

90. Hà Vũ Trọng, dịch giả, TP HCM

91. Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia Công nghệ Thông tin, Pháp

92. Hoàng Ngọc Tuấn, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Văn học Nghệ thuật, Úc

93. Hoàng Tuỵ, GS, Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội

94. Phan Thị Trọng Tuyến, Pháp

95. Dương Tường, nhà thơ, Hà Nội

96. Hà Dương Tường, nguyên Giáo sư Đại học Compiègne, Pháp

97. Nguyễn Đức Tường, tiến sĩ Vật lý, Canada

98. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội

99. Đào Quốc Việt, Hà Nội

100. Nguyễn Hữu Vinh, cử nhân Luật, Hà Nội

101. Augustine Hà Tôn Vinh, giáo sư Đại học San Francisco, Hoa Kỳ

102. Dương Văn Vinh, cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, TP HCM

103. Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Thiếu tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội

104. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế

105. Hoàng Minh Xuân, nhà báo, TP HCM

106. Phạm Xuân Yêm, GS TS, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Vật lý, CNRS và Đại học Paris VI, Pháp

107. Nguyễn Đông Yên, GS TSKH, Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội

108. Lê Viết Yên, giáo viên, TP HCM

Để ký tên vào Tuyên bố này, xin đồng bào trong và ngoài nước gửi e-mail về địa chỉ phandoinghidinh72@gmail.com, ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có), địa chỉ và số điện thoại (máy bàn, di động).

Nếu cần, chúng tôi sẽ công khai tất cả thông tin về người đã ký vào Tuyên bố (địa chỉ cụ thể, cơ quan làm việc, số điện thoại) trừ những bạn nào có yêu cầu không công bố.

Việc ký tên vào Tuyên bố này sẽ kết thúc vào lúc 19g ngày 28/8/2013 và toàn bộ danh sách sẽ được đăng trên trang mạng Bauxite Việt Nam vào sáng 29/8/2013.

Bauxite Việt Nam

Chính sách nhân quyền mâu thuẫn của Việt Nam

RFI, 21/8/13

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130821-chinh-sach-nhan-quyen-mau-thuan-cua-viet-nam

Tổng thống Mỹ Barack Obama (P) tiếp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Nhà Trắng hôm 25/07/ 2013.)

Tổng thống Mỹ Barack Obama (P) tiếp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Nhà Trắng hôm 25/07/ 2013.)

REUTERS/Yuri Gripas

Chính sách nhân quyền của Việt Nam được đánh dấu bằng những mâu thuẫn và nghịch lý, thể hiện qua việc tăng cường mở cửa nhưng tiếp tục trấn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến. Để làm rõ vấn đề này, giáo sư Carlyle Thayer đưa ra ba giả thuyết. Bài viết được đăng trên trang web Asian Currents thuộc Hiệp hội nghiên cứu Châu Á của Úc, tháng Tám năm 2013.

Bất kỳ đánh giá nào về nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đều phải đối mặt với những mâu thuẫn trong việc thực hiện chính sách và nghịch lý lớn.

Hiến pháp Việt Nam năm 1992 có điều khoản về tự do ngôn luận. Điều 69 quy định « Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật ». Mâu thuẫn trong thực hiện chính sách phát sinh từ Điều 4 về việc thành lập một hệ thống chính trị độc đảng. Điều này quy định, « Đảng Cộng sản Việt Nam … là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội ».

Đồng thời Việt Nam phải đối mặt với một nghịch lý lớn. Kể từ đại hội Đảng gần đây nhất được tổ chức vào đầu năm 2011, Việt Nam đã tìm cách chủ động hội nhập vào hệ thống toàn cầu. Do tìm cách mở rộng quan hệ với Hoa Kỳ và Châu Âu, Việt Nam đã phải chịu áp lực yêu cầu cải thiện tình hình nhân quyền.

Ví dụ, Quyền Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, ông Joseph Yun, đã điều trần trước Tiểu ban Châu Á và Thái Bình Dương, Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện ngày 05/06 : Chúng tôi đã nhấn mạnh với các lãnh đạo Việt Nam rằng người dân Mỹ sẽ không hỗ trợ việc nâng cấp đáng kể mối quan hệ song phương nếu không có những tiến bộ rõ ràng về nhân quyền. Các quan chức khác của Mỹ đã gắn vấn đề bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí và đạt thoả thuận về Hiệp định Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với « những tiến bộ rõ ràng về nhân quyền ».

Nghịch lý lớn là ở chỗ tình hình nhân quyền Việt Nam đã trở nên tồi tệ, không được cải thiện trong những năm gần đây, do đó gây khó khăn hơn cho mục tiêu tự đề ra là chủ động hội nhập quốc tế.

Bởi vì Việt Nam là một Nhà nước độc đảng không có cơ quan độc lập để bảo đảm là các quyền tự do nêu trong Điều 69 được tôn trọng. Những mâu thuẫn vốn có của thực tế chính trị này đã dẫn đến tình hình hiện nay, mở cửa chính trị chưa từng thấy thông qua internet và trấn áp cùng đồng thời tồn tại.

Trong đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam, trong năm 2012, Tổ chức Ân xá Quốc tế đã kết luận thẳng thừng: Việc đàn áp những người chỉ trích chính phủ và các nhà hoạt động trở nên tồi tệ, với những hạn chế nghiêm trọng về tự do ngôn luận, hội họp. Ít nhất 25 nhà bất đồng chính kiến ​​ôn hòa, bao gồm cả blogger và nhạc sĩ, đã bị kết án tù nhiều năm trong 14 vụ xét xử không theo chuẩn mực quốc tế.

Đồng thanh với kết luận này, báo cáo hàng năm về nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ cũng đề cập đến các sự kiện trong năm 2012, ghi nhận là « có một xu hướng đàn áp và khủng bố ngầm do Nhà nước yểm trợ nhắm vào những cá nhân có các phát biểu vượt qua ranh giới và đề cập đến các vấn đề nhạy cảm như chỉ trích các chính sách đối ngoại của Nhà nước liên quan đến Trung Quốc hoặc chất vấn về sự độc quyền nắm giữ quyền lực của Đảng Cộng sản ». Tuy nhiên, báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng nhận thấy là « ở bề ngoài, ngôn luận cá nhân, báo chí công khai, và thậm chí phát biểu chính trị tại Việt Nam cho thấy có những dấu hiệu tự do hơn ».

Một đánh giá về sự phát triển quyền con người ở Việt Nam trong nửa đầu năm 2013 cho thấy vẫn tiếp tục có những mâu thuẫn trong thực hiện chính sách nhân quyền của Việt Nam và nghịch lý của việc vừa tìm kiếm gia tăng cam kết với Hoa Kỳ vừa đẩy mạnh đàn áp các nhà hoạt động nhân quyền trong cùng một thời gian.

Vào cuối năm 2012, cuộc đàn áp của Việt Nam đối với các nhà bất đồng chính kiến đã khiến Hoa Kỳ đột ngột hủy bỏ tham gia vào các cuộc đối thoại nhân quyền hàng năm với Việt Nam tại Hà Nội. Cuộc đối thoại này đã được tổ chức vào tháng Tư năm 2013. Đại diện của Hoa Kỳ là ông Daniel Baer, ​​Quyền Phó Trợ lý Ngoại trưởng về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động. Trong chuyến thăm này, ông đã bị ngăn chặn, không cho gặp những người bất đồng nổi tiếng Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày) và Phạm Hồng Sơn.

Hai tháng sau, ông Baer điều trần trước Tiểu ban Châu Á và Thái Bình Dương, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ và lưu ý đến những mâu thuẫn trong việc thực hiện nhân quyền của Việt Nam. Một mặt, ông Baer ghi nhận : Các bước tích cực như việc thả nhà hoạt động Lê Công Định (cho dù đi kèm với những hạn chế tự do), tạo thuận lợi cho một tổ chức nhân quyền quốc tế thăm Việt Nam, và số lượng đăng ký hoạt động công giáo gia tăng một cách khiêm tốn ở Tây Nguyên … các cuộc thảo luận giữa Chính phủ và Tòa thánh Vatican, và cũng như diễn biến tích cực tiềm tàng trong vấn đề nhân quyền cho những người LGBT [đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng giới, hoán tính/chuyển đổi giới tính] … [và] tràn ngập ý kiến của ​​công chúng về dự thảo Hiến pháp …

Mặt khác, ông Baer kết luận : Thế nhưng, những bước tiến này không đủ để đảo ngược xu hướng tồi tệ kéo dài trong những năm qua. Cũng không có các biện pháp tích cực riêng rẽ tạo dựng một mô hình phù hợp. Với số lượng ngày càng tăng, các blogger tiếp tục bị quấy rối và bị bỏ tù vì những phát biểu ôn hòa trên mạng và các nhà hoạt động tiếp tục phải sống dưới đám mây đen …

Giờ đây thì mọi người biết rằng, vào cuối tháng Ba và tháng Tư năm 2013, các quan chức Mỹ và Việt Nam đã bắt đầu thảo luận về chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chuyến thăm đầu tiên của một nguyên thủ Việt Nam kể từ sáu năm qua. Hoa Kỳ chính thức ngỏ lời mời vào tháng Bảy và Việt Nam đã chấp nhận. Không có bằng chứng cho thấy Việt Nam đã tìm cách dàn xếp chuyến thăm của ông Sang bằng cách thả bất kỳ các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nào. Có một dấu hiệu mong manh. Ngày 08/07, chính quyền Việt Nam đột ngột hoãn phiên tòa xét xử nhà hoạt động vì dân chủ nổi tiếng, luật sư Lê Quốc Quân.

Tuy nhiên, vẫn trong sự mâu thuẫn, Việt Nam tiếp tục đàn áp các nhà bất đồng chính kiến, có thể gây ra rủi ro cho chuyến viếng thăm Washington của Chủ tịch Sang. Trong hai tháng Năm – Sáu, Việt Nam kết án và áp đặt bản án khắc nghiệt đối với hai sinh viên đại học (Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha) và bắt giữ ba blogger nổi tiếng (Đinh Nhật Uy, Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào), nâng tổng số tù nhân chính trị và các blogger bị bắt trong nửa đầu năm 2013 lên tới 46 người.

Tổng thống Obama và Chủ tịch Sang đã gặp nhau tại Nhà Trắng ngày 25 tháng Bảy. Trong cuộc họp báo chung, Tổng thống Obama tuyên bố, “chúng tôi đã có một cuộc trò chuyện rất thẳng thắn về sự tiến bộ mà Việt Nam đang thực hiện và những thách thức tồn tại”. Ông Sang thừa nhận sự khác biệt và tiết lộ rằng Tổng thống Obama hứa sẽ làm hết sức mình để tới thăm Việt Nam trước khi hết nhiệm kỳ.

Một tuyên bố chung được công bố sau cuộc gặp, xếp vấn đề nhân quyền đứng hàng thứ tám trong số chín chủ đề thảo luận. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận lợi ích của đối thoại thẳng thắn và cởi mở để tăng cường hiểu biết lẫn nhau và thu hẹp các bất đồng về nhân quyền. Không thấy đề cập đến những vấn đề nhân quyền mà Tổng thống Obama nêu lên. Điểm thứ tám của tuyên bố chung dành bảy trong chín dòng để tổng kết những gì Chủ tịch Sang đã thảo luận với đồng nhiệm Mỹ. Đáng chú ý, Chủ tịch Sang khẳng định rằng Việt Nam sẽ ký Công ước Liên Hiệp Quốc chống tra tấn và sẽ mời Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo và Tín ngưỡng đến thăm Việt Nam vào năm 2014.

Chuyến thăm của Chủ tịch Sang đã bị lu mờ bởi một cuộc tuyệt thực kéo dài của nhà hoạt động chính trị Nguyễn Văn Hải. Ông Hải thành lập Câu lạc bộ các Nhà báo tự do và hoạt động vì nhân quyền và cải cách dân chủ. Mặc dù có các quy định về tự do ngôn luận trong Hiến pháp, ông đã bị kết án tù 12 năm vì tiến hành « tuyên truyền chống lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa » thông qua các blog trên internet và các bài trên các đài phát thanh nước ngoài. Khi ông Hải bị bắt giam, Tổng thống Obama công khai kêu gọi trả tự do cho ông.

Ông Hải bắt đầu tuyệt thực vào cuối tháng Sáu để phản đối cách đối xử với ông ở trong tù, trong đó có việc kéo dài thời gian biệt giam. Hai ngày sau khi Chu tịch Sang kết thúc chuyến thăm Mỹ của ông, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao của Việt Nam thông báo là họ sẽ điều tra những lời tố cáo của ông Hải. Ông Hải đã chấm dứt cuộc tuyệt thực vốn kéo dài trong 35 ngày.

Vậy làm thế nào có thể giải thích những mâu thuẫn trong việc thực hiện chính sách nhân quyền của Việt Nam ? Hơn nữa, làm thế nào có thể giải thích được nghịch lý là Việt Nam tìm cách gia tăng quan hệ với Mỹ đồng thời cùng lúc lại đẩy mạnh trấn áp ?

Có thể có ba giải thích, nhưng chúng không loại trừ lẫn nhau, về những mâu thuẫn và nghịch lý của Việt Nam.

Trước tiên, việc tiếp tục đàn áp chính trị là kết quả của quá trình quan liêu của Bộ Công an (MPS). Khi một nhà hoạt động chính trị thu hút sự chú ý, Bộ Công an thường bắt đầu lập hồ sơ qua việc thu thập chứng cứ. Sau khi Bộ Công an xác định rằng một nhà bất đồng chính kiến đã vi phạm luật an ninh quốc gia được diễn đạt một cách mơ hồ của Việt Nam, cơ quan này bắt đầu một chiến dịch đe dọa và sách nhiễu nhà bất đồng chính kiến ​​và gia đình, bạn bè của người bất đồng chính kiến. Nếu nhà bất đồng chính kiến ​​từ chối sự kiềm tỏa của Bộ Công an, thì bộ này tìm kiếm sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền cao hơn để bắt giữ và tổ chức một phiên tòa.

Tại sao một số người chống đối bị đàn áp trong khi những người khác được phép phát biểu ý kiến ​​tương tự mà không bị trả thù? Nói cách khác, tại sao lại có sự mâu thuẫn giữa gia tăng mở cửa và tiếp tục đàn áp?

Việt Nam công khai thúc đẩy mạng Internet và khuyến khích các công dân nói lên một số vấn đề. Tuy nhiên, các nhà bất đồng chính kiến ​​sẽ là đối tượng bị trấn áp nếu họ vượt qua lằn ranh đỏ mà ai cũng biết như tiếp xúc với người Việt hải ngoại, đặc biệt là các nhóm hoạt động chính trị như Việt Tân mà chế độ coi là phản động. Tóm lại, Bộ Công an kết luận rằng những nhà bất đồng chính kiến ​​là một bộ phận của “âm mưu diễn biến hòa bình”, theo đó các lực lượng thù địch bên ngoài liên kết với bọn phản động trong nước để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Một giải thích khác cho rằng sự mâu thuẫn trong việc đồng thời mở cửa và trấn áp là đấu đá trong nội bộ Đảng Cộng sản. Các nhà bất đồng chính kiến, đặc biệt là các blogger, nêu các vấn đề nhạy cảm liên quan đến tham nhũng, gia đình trị và lợi ích kinh doanh của các nhân vật chính trị hàng đầu. Trong những trường hợp này, các nhà bất đồng chính kiến ​​bị lôi ra để trừng phạt theo lệnh của các quan chức cao cấp của Đảng hay những người ủng hộ họ. Nói cách khác, các tính toán cân nhắc chính trị nội bộ là động lực chính của hoạt động trấn áp.

Giải thích thứ ba cho rằng việc đàn áp chính trị gia tăng tại Việt Nam được chỉ đạo bởi những người bảo thủ trong Đảng tìm cách cản trở gây rối, nếu như không phá hoại, sự phát triển mối quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ, đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng-an ninh. Ví dụ, người ta cho rằng các nhân vật bảo thủ trong Đảng chỉ huy cuộc đàn áp các blogger hồi tháng Sáu, để phá hoại chuyến thăm Washington đầu tiên của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Các nhân vật bảo thủ trong Đảng sợ rằng quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ sẽ làm cho quan hệ với Trung Quốc xấu thêm. Đặc biệt, họ nhắm vào các blogger và các nhà hoạt động, những người chỉ trích việc xử lý mối quan hệ với Trung Quốc của chính phủ. Các nhân vật bảo thủ trong Đảng bác bỏ áp lực của Mỹ về nhân quyền, kêu gọi Hoa Kỳ gia tăng tài trợ để giải quyết những di sản chiến tranh bom mìn và chất độc da cam, và đòi Mỹ chấm dứt phân biệt đối xử cấm vận vũ khí. Lời giải thích thứ ba này giải thích nghịch lý của việc vì sao Việt Nam không giải quyết hồ sơ nhân quyền để củng cố quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ trong bối cảnh có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông.

(Carlyle A. Thayer là Giáo sư danh dự, Đại học New South Wales ở Úc Học viện Quốc phòng).

Đảng Dân Chủ Xã Hội cho Việt Nam

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA.  2013-08-21

 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/social-democrats-f-vn-08212013121119.html

08212013-ddkte-vh.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg7748046-305.jpg

Công nhân đang kết hoa trang trí cờ nước và cờ ĐCS chuẩn bị cho Ngày Quốc Khánh 2012 tại Hà Nội.

AFP photo

Tại Việt Nam, một số đảng viên kỳ cựu và cao niên của đảng Cộng sản đã kêu gọi cùng nhau bỏ đảng để lập ra một đảng chính trị mới, hiện diện song hành và đối lập với đảng Cộng sản, dưới tên gọi là đảng Dân Chủ Xã Hội.

Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về nội dung và chủ trương kinh tế của một đảng “Dân Chủ Xã Hội” như đã thấy tại nhiều xứ khác. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích về vấn đề này.

Sự chuyển động mới

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, từ mấy năm nay, người ta thấy nổi lên trào lưu kêu gọi cải cách toàn diện ở Việt Nam và xuất phát từ những nhân vật xưa kia từng phục vụ, hoặc có thiện cảm với chế độ, hoặc còn là đảng viên đảng Cộng sản. Thí dụ như năm 2011 có kiến nghị rồi ý kiến công khai vào các Tháng Bảy, Tháng Chín; qua năm 2012 thì họ gửi thư ngỏ lên lãnh đạo về cùng yêu cầu đó; đầu năm nay thì có 72 nhân sĩ và trí thức đưa ra kiến nghị tương tự để cứu nguy Việt Nam trước nhiều vấn đề dồn dập về kinh tế và an ninh.

Song song, một tầng lớp trẻ của Việt Nam đã phát biểu nguyện vọng qua nhiều diễn đàn khác nhau, nhưng khác với các nhân vật tương đối cao niên kia, thành phần trẻ đã bị giam cầm rồi còn bị truy tố về tội danh như có âm mưu lật đổ chế độ. Trong bối cảnh đó thì tuần qua đã có những kêu gọi và vận động liên tục của hai ông Lê Hiếu Đằng và Hồ Ngọc Nhuận về việc đồng loạt ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam để thành lập đảng Dân Chủ Xã Hội. Thưa ông Nghĩa, thuần về kinh tế thì ông nghĩ sao về sự xuất hiện của một đảng Dân Chủ Xã Hội như đang được kêu gọi?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Như mọi người bình thường, tôi thiển nghĩ đây là biến cố đáng chú ý vì lời kêu gọi xuất phát từ các nhân vật đã từng là đảng viên Cộng sản trong nhiều năm, dù không thuộc vào tầng lớp lãnh đạo. Dĩ nhiên là lời kêu gọi phải có sự phối hợp hay kết hợp với những vận động khá rộng rãi từ nhiều năm nay như ông vừa nhắc lại. Một cách khách quan thì đây là một sự chuyển động có ý nghĩa tốt đẹp cho Việt Nam vì không ai có thể phủ nhận là xứ này cần thay đổi để ra khỏi những bế tắc và rủi ro. Đi vào câu hỏi ông nêu về khía cạnh kinh tế của một đảng Dân Chủ Xã Hội, tôi nghĩ là tình hình còn quá mới để ta có thể biết được chủ trương kinh tế của những người đề xướng.

Một cách khách quan thì đây là một sự chuyển động có ý nghĩa tốt đẹp cho Việt Nam vì không ai có thể phủ nhận là xứ này cần thay đổi để ra khỏi những bế tắc và rủi ro.
– Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Qua lời phát biểu của các nhân vật công khai đề xướng, dư luận chú ý đến hai chi tiết. Thứ nhất là sự hiện hữu trước đây của hai đảng Dân Chủ và Xã hội, sau này lại bị đảng Cộng sản giải thể, cho nên việc lập ra một đảng Dân Chủ Xã Hội có thể là một nối tiếp tốt đẹp hơn khi Việt Nam có chế độ đa đảng. Thứ hai là luận cứ có vẻ ôn hòa hơn của Karl Marx khi về già, cho nên sự hiện hữu của đảng Dân Chủ Xã Hội bên cạnh đảng Cộng sản có khi là một biểu hiện khác của lý tưởng cách mạng do Marx đề ra từ cuối thế kỷ 19. Ông nghĩ sao về hai chi tiết này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi vẫn cho là còn quá mới để ta hiểu ra nội dung hay tôn chỉ của đảng Dân Chủ Xã Hội, có khi là biểu hiện lý tưởng của hai yêu cần then chốt nhất là dân chủ về chính trị và xã hội về chính sách. Còn chi tiết về “Marx trẻ” hay “Marx già” thuộc lĩnh vực hàn lâm và có lẽ là mối quan tâm của giới lý luận. Họ muốn thực hiện lý tưởng công bằng xã hội mà không ôm lấy lý luận đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của Marx, về sau được Lenin khai triển và áp dụng thành hệ thống tư tưởng Mác-Lenin, nay vẫn được Trung Quốc và Việt Nam đề cao.

Mối liên hệ chính trị – kinh tế

000_APH2001041144009-250.jpg
Tuyên truyền cho ĐCSVN trên màn hình máy tính của một nhân viên nhà nước. AFP photo

Vũ Hoàng: Chúng tôi biết rằng ông tránh bình luận về chính trị hàn lâm mà muốn tập trung vào đề tài kinh tế của tiết mục này. Nhưng thưa ông, từ nhà tư tưởng Adam Smith vào thế kỷ 18 đến Marx vào thế kỷ 19 thì kinh tế và chính trị là hai mặt khó tách rời, cho nên ngay từ đầu, khoa kinh tế mới có tên gọi là “kinh tế chính trị học”. Nếu chúng ta nhìn trong một viễn cảnh dài thì sự xuất hiện của một chính đảng như đảng Dân Chủ Xã Hội có đóng góp gì cho kinh tế Việt Nam? Một cách cụ thể, nhiều nước dân chủ cũng có đảng Dân Chủ Xã Hội hoặc dưới một tên gọi khác như đảng Lao Động hay đảng Xã Hội. Ông trả lời thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin được đi từ viễn cảnh dài đó để mình hiểu ra tự sự trước khi nói đến chuyện kinh tế của riêng Việt Nam.

Thứ nhất, ta cần thấy một thực tế là tầm hiểu biết có giới hạn của mọi người trước nhiều biến cố lớn của nhân loại. Thí dụ như cuộc cách mạng chính trị tại Pháp vào cuối thế kỷ 18 cũng có khía cạnh tôn giáo, hay cuộc cách mạng công nghiệp tại Anh sau đó cũng có khía cạnh xã hội. Hai biến cố ấy gây ra phản ứng dội ngược về cả chính trị, tôn giáo lẫn kinh tế và xã hội khi tiến trình sản xuất bị đảo lộn. Trong nhất thời, sự đảo lộn đó dẫn tới sự hình thành của tư tưởng cách mạng và lý luận xã hội chủ nghĩa, với hàm ý là phải quan tâm đến công bằng xã hội và số phận của thành phần lao động bị xáo trộn và thiệt thòi nhất, là lực lượng thợ thuyền.

Từ đó Âu Châu mới xuất hiện trào lưu gọi xã hội, theo hướng ôn hoà hay cực đoan, cải lương hay cách mạng, kết tinh vào các phong trào gọi là đệ nhất, đệ nhị hay đệ tam quốc tế…. Giữa những biến động này, ta không quên phần đóng góp quan trọng của dân tộc Đức về triết học, hay của dân tộc Nga về vai trò của bạo lực và ách độc tài. Hai đóng góp này kết tinh vào chủ nghĩa Mác-Lenin và tổ chức “Đệ tam Quốc tế” do Lenin dựng ra năm 1919 sau cuộc Cách mạng Nga.

Chế độ dân chủ không thể là mục tiêu hay lý tưởng có khả năng giải quyết mọi vấn đề. Nó chỉ là chế độ ít tệ hại nhất vì tạo điều kiện cho sự cải sửa kinh tế và thăng tiến xã hội.
– Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nói vắn tắt lại, tư tưởng xã hội hay lý luận về xã hội chủ nghĩa xuất phát trước tiên từ Âu Châu vào thế kỷ 19 và lan qua các châu lục khác trong thế kỷ 20. Nhưng đáng tiếc là phương pháp bao động tinh vi của Lenin đã cưỡng đoạt lý tưởng ban đầu, khiến các tư tưởng xã hội kia đều bị diệt. Nôm na là khi phe “đệ tam” cầm quyền thì “đệ nhị” hay “đệ tứ” đều bị thủ tiêu hoặc vào tù. Việt Nam cũng không ra khỏi thảm kịch đó từ khi lý tưởng xã hội và độc lập của các nhà cách mạng tiền bối thời chống Pháp bị xu hướng “Đệ tam Quốc tế” sang đoạt và làm tha hóa với sự xuất hiện của các đảng Cộng sản, như tại Pháp năm 1920, tại Trung Quốc năm 1921 hay tại Việt Nam vào năm 1930. Cũng vì vậy và do lý luận về chuyên chính vô sản, xã hội chủ nghĩa mối bị đồng hóa với cộng sản, và biến chất thành một ách chuyên chính trên đầu giai cấp vô sản.

Vũ Hoàng: Phải chăng vì vậy mà ngày nay cứ nói đến “xã hội chủ nghĩa”, dư luận lại rùng mình nghĩ đến tai họa của ý thức hệ cộng sản? Vả lại, hai đảng Cộng sản của Trung Quốc và Việt Nam đều chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm nhiều người bị dị ứng với chữ “xã hội chủ nghĩa”?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đúng vậy và tôi trộm nghĩ rằng những người muốn lập ra đảng Dân Chủ Xã Hội cho Việt Nam đang nhấn mạnh đến khía cạnh Dân Chủ, tức là chấm dứt ách độc đảng của lý luận chuyên chính vô sản và nguyên tắc độc tài ngụy danh là “dân chủ tập trung” để nhờ đó thực hiện một chế độ kinh tế công bằng hơn cho xã hội.

Vũ Hoàng: Ông bắt đầu nhắc đến một chế độ kinh tế khác có nội dung công bằng hơn. Phải chăng, đấy là chủ trương kinh tế của những người muốn lập ra một đảng Dân Chủ Xã Hội?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi trộm nghĩ vậy vì mặc dù mới chỉ tập trung vào ưu tiên chính trị là xây dựng một sân chơi dân chủ, thì người ta vẫn sẽ phải tìm ra giải đáp cho câu hỏi là “dân chủ để làm gì?” Chế độ dân chủ không thể là mục tiêu hay lý tưởng có khả năng giải quyết mọi vấn đề. Nó chỉ là chế độ ít tệ hại nhất vì tạo điều kiện cho sự cải sửa kinh tế và thăng tiến xã hội.

Thuần về kinh tế và xã hội, Việt Nam hiện có nền kinh tế bất ổn và xã hội bất công với một thiểu số có quá nhiều đặc lợi nhờ đặc quyền tập trung vào trong tay các đảng viên và thân tộc trong khi đại đa số chưa có tiềm năng phát triển cho sự giàu mạnh của cả quốc gia. Đáng lẽ, cái gọi là “định hướng xã hội chủ nghĩa” hiện nay phải tập trung vào việc nâng cao mức sống và tầm nhìn cho đại đa số bần cùng ở dưới. Khoảng trống này về lý luận và tôn chỉ có thể là một ưu tiên cho đảng Dân Chủ Xã Hội. Những người chủ trương phát triển kinh tế bằng quy luật thị trường và quyền tự do kinh doanh lẫn quyền tư hữu, tức là thuộc về một xu hướng bảo thủ hay tự do hơn xu hướng xã hội, cũng không thể phủ nhận được ưu tiên này.

Tình hình Việt Nam

DCS_1-250.jpg
Băng rôn tuyên truyền cho ĐCSVN giăng khắp nơi ở Hà Nội. RFA photo

Vũ Hoàng: Ông vừa nhắc đến hai xu hướng tự do và xã hội mà ta có thể thấy trong các nước khác. Ở Việt Nam thì ra sao và ngoài đảng Dân Chủ Xã Hội, xứ này có cần một đảng khác hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ mỗi quốc gia vào mỗi thời đều có những ưu tiên riêng nên mới có thay đổi trong kết quả bầu cử và ưu tiên của xứ này không nhất thiết là chân lý cho xứ khác. Nói chung, xu hướng tự do thì chú ý đến phát triển kinh tế để tạo ra của cải và trong tiến trình phát triển thì cũng có những người bị thua sút. Khi ấy, xu hướng xã hội mới đòi tái phân lại của cải đó để tiến tới công bằng hoặc ít ra giảm thiểu nạn bất công. Nhưng nếu xứ sở chưa có của cải thì chỉ tái phân sự nghèo khổ, vì vậy mỗi giai đoạn lại có một ưu tiên và không một đảng nào lại có độc quyền chân lý để cầm quyền mãi mãi. Trường hợp của Việt Nam cũng vậy. Trong hiện tại, các chuyên gia hay trí thức thất vọng với chế độ đều có chung cái nhìn là phải ra khỏi tình trạng quá sức bất công hiện nay và dân chủ là một bước cần thiết. Nếu họ làm cho người dân hiểu rõ như vậy thì sẽ có khả năng vận động rộng lớn hơn.

Vũ Hoàng: Thưa ông, chúng ta vừa nói đến ba ưu tiên xã hội, kinh tế và chính trị của yêu cầu đa đảng tại Việt Nam. Nhưng với nhiều người thì còn một bài toán ưu tiên hơn nữa, đó là an ninh của Việt Nam ở bên cạnh Trung Quốc. Ông nghĩ sao về ưu tiên này?

Trong hiện tại, các chuyên gia hay trí thức thất vọng với chế độ đều có chung cái nhìn là phải ra khỏi tình trạng quá sức bất công hiện nay và dân chủ là một bước cần thiết.
– Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi cứ hay nói ngược nhưng cho rằng chính mối lo của người Việt về nguy cơ bị mất độc lập vào tay Trung Quốc sẽ là yếu tố góp phần then chốt cho sự chuyển hóa về xã hội, kinh tế và chính trị. Trước hết, sở dĩ mối nguy Trung Quốc lại trở thành sinh tử vì vai trò của đảng Cộng sản hiện nay. Thứ hai, về lý luận thì mô hình đang phá sản của Trung Quốc không là mẫu mực cho Việt Nam, như chúng ta nhiều lần trình bày trên diễn đàn này từ cả chục năm qua. Thứ ba, những gì lãnh đạo Bắc Kinh cố gắng thi hành để bảo vệ chế độ của họ, kể cả với hàng ngũ “đảng viên năm hào” đang tác động vào dư luận, có thể là phương cách chống đỡ của lãnh đạo Hà Nội, có khi cũng với loại “đảng viên ba xu” đang đả kích những người đòi chuyển hóa ở Việt Nam. Ta nên theo dõi chuyện ấy để xem chế độ Hà Nội cưỡng chống sự thay đổi như thế nào và trong phạm vi này, giới trẻ có hiểu biết có thể góp phần quan trọng cho sự xoay chuyển về tư duy tại Việt Nam.

Vũ Hoàng: Đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Blogger VN thách thức chế độ độc đảng

Sau những năm xung đột và khó khăn, Việt Nam dần nổi lên ở châu Á như nền kinh tế công nghiệp hóa mới nhất. Nhưng những thay đổi xã hội và kinh tế hiện tại lại thách thức sự cai trị của nhà nước độc đảng, trong đó có sự phát triển sôi động của không gian blog. Chuyên gia về Việt Nam Jonathan London phân tích phản ứng của nhà nước với các blogger trong trường đấu chính trị đang thay đổi ở Việt Nam.

Hai thập niên trước, cứ 10,000 người Việt Nam mới có chưa đầy một cái điện thoại, một tỉ lệ thuộc hàng thấp nhất thế giới. Ngày nay, ở đất nước 90 triệu dân, cứ mỗi 100 công dân thì lại đếm được tới 135 chiếc điện thoại.

Tỷ lệ tiếp cận Internet cũng đã cất cánh. Cứ ba người thì có hơn một người nối mạng so với tỉ lệ một trên 33 của một thập niên trước. Lịch sử rõ ràng đã tăng tốc ở Việt Nam, mang đến cả cơ hội và những rủi ro.

Tác động của internet đối với văn hóa chính trị của Việt Nam trở nên đột ngột và quan trọng. Cho tới gần đây, việc tiếp cận thông tin, tin tức, quan điểm không bị kiểm duyệt về Việt Nam vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi quan chức có quyền.

Tình hình đã thay đổi sâu sắc. Có lẽ nổi bật nhất là việc viết blog về chính trị nay trở nên phổ biến ở Việt Nam, bất chấp những nỗ lực của nhà nước muốn nhổ rễ nó.

Hình thức viết blog chính trị ở Việt Nam cũng đa dạng.

Một số blogger có nguyện vọng thành nhà báo độc lập. Người khác lại tập trung vào các vụ scandal và đồn đoán, nhất là nếu chúng liên quan tới các đầu lĩnh chính trị của đất nước.

Những người khác quảng bá cho đối mới chính trị và cảnh ngộ của các tù nhân lương tâm đang dần tiều tụy trong nhà tù Việt Nam. Những người này được vô số blogger trên các trang mạng xã hội khác như Facebook tán thưởng và tham gia.

Khi họ bị bịt miệng, qua việc bắt bớ hay cách nào khác, lại có các blogger khác nhanh chóng thay thế và dồn dập cơn bão chỉ trích trên internet phản đối chiến thuật đàn áp của nhà nước.

Khát khao thay đổi

Lên tiếng về chính trị ở Việt Nam kèm theo nhiều rủi ro.

Trong năm qua, một số blogger đã chịu án tù dài theo luật hà khắc nhằm làm im tiếng các nhà bất đồng chính kiến và gieo sợ hãi trong dân chúng.

Điều kiện tù đày ở Việt Nam có thể khắc nghiệt. Trong tù, hành hạ thể xác và tinh thần – và cả chết sớm – là chuyện thường tình. Bên ngoài, phân biệt đối xử với người thân của họ cũng đã thành lệ.

Mời quý vị đến với Việt Nam của đầu thế kỷ 21, quốc gia chín mọng tiềm năng nhưng đang rạn nứt vì gánh nặng của một hệ thống chính trị không hiệu quả.

Một đất nước khao khát hiện đại nhưng chính nhà nước của nó lại thẳng tay trừng trị những kêu gọi thay đổi căn bản.

Các blogger của Việt Nam chỉ là một phần quan trọng của một chiến dịch chưa từng có, tuy vẫn chỉ tổ chức lỏng lẻo. Nó nhắm tới việc cổ động, thậm chí thuyết phục chính quyền độc đảng của Việt Nam thực hiện đổi mới chính trị một cách căn bản.

Bị miệt thị là “kẻ thù” và “thế lực thù địch” bởi những yếu tố bảo thủ trong chế độ, thường xuyên bị đe dọa, họ kiên quyết muốn thấy đất nước mình phát triển những thể chế xã hội càng đa nguyên, minh bạch và dân chủ.

Không còn giấu giếm

Chủ tịch Trương Tấn Sang gặp Tổng thống Obama ở Nhà Trắng hồi tháng Bảy

Trong quá khứ, blogger của Việt Nam giấu mình dưới những cái tên giả trên mạng để tránh bị bắt và để bước một bước trước chính quyền.

Nhưng ngày càng có nhiều người Việt Nam lên mạng công khai để được lắng nghe. Họ vẫn tiến hành cẩn trọng nhưng với sự tự tin và quyết tâm.

Thực vậy, trong một thời gian ngắn, bất đồng chính kiến một cách công khai đã trở thành một đặc tính chắc chắn của xã hội Việt Nam. Văn hóa chính trị của đất nước này đã thay đổi trên những khía cạnh cơ bản.

Và công khai kêu gọi đổi mới cũng không chỉ dừng ở giới trẻ thạo công nghệ.

Đầu năm nay, 72 viên chức và nhà phân tích, còn làm việc và đã về hưu, công khai kêu gọi kết thúc chế độ độc đảng ở Việt Nam. Kiến nghị 72 là bước bạo dạn và tới nay đã có được 14.000 chữ ký, rất nhiều người trong số đó vẫn nằm trong bộ máy của đảng – nhà nước.

Mặc dù bị nhà nước bác bỏ, bản kiến nghị vẫn tự do lưu truyền trên mạng. Cuộc bàn luận công khai trên mạng đã là một bước ngoặt không tranh cãi được trong sự phát triển chính trị của đất nước.

Thế nhưng, những sự kiện trên không thể xảy ra nếu đã không có các thay đổi quan trọng trong chế độ.

Thực vậy, chính trị bên trong Đảng Cộng sản thường rất ảm đạm, thậm chí chán nản, nhưng đã trở thành thú vị, Nó thể hiện một mức độ bất trắc chưa từng thấy kể từ những năm 1940.

Chính trị bè phái mà đã kiềm giữ được trong quá khứ nay đã nhường chỗ cho một cuộc đấu tranh công khai, phản ánh cuộc khủng hoảng lãnh đạo.

Kinh tế trì trệ

Bản thân cuộc khủng hoảng này là sản phẩm của nhận thức rằng các nhóm lợi ích và sự kém cỏi trong đảng làm xói mòn tương lai của đất nước. Để hiểu được cuộc khủng hoảng này, người ta chỉ cần nhìn vào kinh tế.

Trong nhiều thập niên, Việt Nam là quốc gia nghèo nhất châu Á. Chiến tranh và cấm vận của Mỹ và Trung Quốc khiến đất nước này nhìn chung bị cô lập khỏi thương mại thế giới.

“Rõ ràng là có nhiều người sáng láng, có trình độ và quyết tâm trong và ngoài đảng và nhà nước đang đấu tranh vì lợi ích của một trật tự xã hội mới công khai và minh bạch hơn.”

Thế nhưng đổi mới thị trường cuối thập niên 1980 và đầu những năm 1990 làm bùng nổ tăng trưởng kinh tế. Lao động ở Việt Nam vẫn tương đối rẻ, cộng với việc gần với Trung Quốc và các thị trường Đông Á khác, và mối quan hệ ngày càng phát triển với châu Âu và châu Mỹ khiến đất nước này trở thành nam châm thu hút đầu tư nước ngoài.

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã cải thiện mức sống một cách đáng kể, dù không đồng đều.

Tuy nhiên trong 5 năm qua, quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam đã dần chậm lại do quản lý kinh tế sai lầm. Sai lầm quản lý là do các nhóm lợi ích mà sản phẩm chính của nó là trác táng và lãng phí.

Trong khi kinh tế Việt Nam vẫn phát triển và sẽ tiếp tục phát triển ở tỉ lệ vừa phải, năng suất của nó khá yếu ớt. Những đổi mới được đề xướng từ thập niên 90 đã mất đi đà tiến.

Nhà nước thất bại trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản một cách đầy đủ, chẳng hạn như bế tắc trong cơ sở hạ tầng, nhu cầu về lực lượng lao động có kỹ năng và minh bạch trong quản lý và điều tiết kinh tế.

Trong khi đó, quyền lực của nhà nước quá thường xuyên được những người đứng đầu sử dụng cho chính họ và đồng minh của họ. Đất nước trở nên bức bối.

Kiềm chế blog

Cho tới gần đây, câu trả lời thường lệ của chính quyền đối với các kêu gọi đổi mới là trấn áp. Điều này đã làm vấy tên tuổi của Việt Nam và làm yếu đi những nỗ lực tăng cường quan hệ với những quốc gia như Hoa Kỳ.

Không có dấu hiệu cho thấy các vụ đàn áp đang giảm đi. Nhưng nỗ lực công khai thuyết phục đổi mới cũng không giảm.

Nhưng liệu tình hình có đang đến lúc dầu sôi lửa bỏng?

Trong những tháng gần đây, chính quyền đã sử dụng Điều 258 bộ luật Hình sự Việt Nam, quy định nhiều năm giam giữ đối với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” và xâm phạm “lợi ích nhà nước”.

Tháng trước, cảm thấy có cơ hội chính trị từ cuộc gặp giữa Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, 103 blogger đã viết kiến nghị phản đối điều 258.

Chỉ vài ngày sau cuộc gặp, chính quyền Việt Nam ra Nghị định 72, sẽ có hiệu lực vào ngày 01/09.

Nghị định này có vẻ giới hạn chặt chẽ việc viết blog chính trị bằng cách cấm người dùng internet không được nhắc tới các “thông tin tổng hợp,” trích lại “thông tin từ các hãng thông tấn nhà nước hoặc các trang web,” hay “cung cấp thông tin chống Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”.

Nhưng mục tiêu chính xác mà nghị định nhắm tới và khả năng thi hành của nó vẫn không rõ ràng.

Tình hình khó đoán

Nhu cầu đọc tin qua internet ngày càng tăng

Chỉ vài tuần trước, một nhà hoạt động dũng cảm người Việt Nam kể lại cách cô trốn khỏi nhà từ 4:30 sáng để tránh bị công an giữ, để tham gia chiến dịch ủng hộ quyền chính trị.

Trong khi đó, hôm 13/08/2013, một nhóm nhỏ thanh niên Hà Nội, những người khá năng nổ về chính trị trên mạng, bị đàn áp bạo lực, điện thoại và máy tính xách tay của họ cũng bị tịch thu.

Cũng trong tuần đó, một nhân vật khá nổi trội của đảng Cộng sản thúc giục đồng đội trước kia của mình ra khỏi Đảng để cùng tham gia đảng Dân chủ – Xã hội mới chưa được thành lập.

Cuối tuần đó, trong một quyết định bất ngờ và kịch tính, nhà nước trên thực tế đã bỏ án tù nhiều năm đối với hai nhà hoạt động trẻ. Một người 21 tuổi, Phương Uyên, thậm chí còn được thả cho rời tòa, sau khi đã phê phán tòa án.

Những diễn biến như thế không bình thường ở Việt Nam. Nó cho thấy bộ máy nhà nước đang chịu áp lực khổng lồ và một khung cảnh chính trị mới thú vị và khó đoán trước đang đến.

Những thay đổi này nhắc tôi nhớ tới chính trị chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam gần một thế kỷ trước. Khi đó, những người Việt Nam yêu nước có địa vị khác nhau cùng họp lại để đấu tranh nhiều thập niên cho quyền tự quyết, nhiều tự do hơn và một nền kinh tế công bằng hơn.

Ngày nay, người Việt ở các tầng lớp khác nhau đang cùng đứng dậy cho rất nhiều lý tưởng tương tự. Nhưng họ phải giáp mặt với tầng lớp trên mà tính chính danh đã bị xói mòn vì đấu đá chính trị nội bộ, quản lý kinh tế sai lầm và các nhóm lợi ích.

Chính trị Việt Nam giờ dễ thay đổi. Liệu có xảy ra những thay đổi căn bản hay không thì chưa chắc chắn. Tuy nhiên, rõ ràng là có nhiều người sáng láng, có trình độ và quyết tâm trong và ngoài đảng và nhà nước đang đấu tranh vì lợi ích của một trật tự xã hội mới công khai và minh bạch hơn.

Ở khắp các tầng lớp trong xã hội Việt Nam đang có khát khao thay đổi. Khát khao ấy không bắt nguồn từ các lực lượng thù địch mà từ những người Việt Nam khác nhau yêu đất nước của họ và muốn có tương lai tốt đẹp hơn càng sớm càng tốt.

Tác giả là giáo sư kinh tế chính trị so sánh, đang dạy ở Đại học Thành phố Hong Kong. Bấm Bản tiếng Anh của bài viết này đã đăng trên BBC News Online, trong một phần của Mùa Việt Nam trên truyền hình và trang web BBC tháng 8. Xem bài gần đây của ông trên BBC Tiếng Việt về ‘Bấm cờ vàng‘.

 

Ra tuyên bố phản đối Nghị định 72

Người dùng Internet ở Việt NamCộng đồng mạng ở Việt Nam sẽ thích ứng ra sao kể từ ngày 1/9 tới?

Nghị định 72 của Chính phủ Việt Nam cấm các cá nhân tổng hợp thông tin trên mạng đã bị một nhóm các trí thức trong và ngoài nước lên án là ‘vi phạm Hiến pháp, pháp luật và các công ước quốc tế’.

Trong một tuyên bố được đăng tải trên mạng, các nhân sỹ trí thức này cũng yêu cầu Chính phủ chỉnh sửa lại Nghị định và kêu gọi Quốc hội thẩm tra lại tính hợp hiến và hợp pháp của Nghị định.

Nghị định 72 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/9 tới. Khi đó, các trang mạng cá nhân sẽ không được phép đưa lại các thông tin được lấy lại từ các nguồn khác.

Nghị định này đã bị cộng đồng blogger trong nước và các quan sát viên quốc tế lên án là ‘xâm phạm quyền tự do ngôn luận’ của người dân Việt Nam.

‘Tác dụng phá hoại’

Trong phản ứng mới nhất này, bản tuyên bố được 108 người ký tên đã dẫn ra những chỗ mà họ cho là vi phạm luật pháp Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước này có tham gia.

Theo đó, quy định trong Nghị định 72 phân loại các trang mạng ra làm năm loại trong đó yêu cầu ‘trang thông tin điện tử cá nhân’ không được tổng hợp thông tin là trái với Luật Công nghệ thông tin, bản Tuyên bố này phân tích.

Theo Bộ Luật được Quốc hội thông qua vào năm 2006 này thì ‘trang thông tin điện tử… phục vụ cho việc cung cấp trao đổi thông tin’ và cũng không hề phân chia trang thông tin điện tử ra làm các loại riêng rẽ.

Ngoài ra, trong khi Luật Công nghệ thông tin chỉ có phạm vi hiệu lực đối với các tổ chức và cá nhân hoạt động về mạng Internet ‘tại Việt Nam’ thì Nghị định 72 mở rộng việc chế tài ra các tổ chức, doanh nghiệp cá nhân ở nước ngoài cung cấp thông tin vào Việt Nam.

Do đó, những người tham gia vào tuyên bố này bày tỏ quan ngại Nghị định 72 sẽ ‘bị vận dụng tùy tiện để ngăn chặn công dân Việt Nam thực thi các quyền tự do ngôn luận, tự do tìm kiếm, thu nhận và chia sẻ thông tin’.

Các nhân sỹ trí thức nhận định rằng Nghị định này ‘chỉ có tác dụng phá hoại lòng tin của người dân đối với sự trung thực và sáng suốt của chính quyền’ và ‘phá hoại uy tín của Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế’.

“Nghị định 72… đi ngược lại các tuyên bố cải thiện về dân chủ, nhân quyền… của Nhà nước Việt Nam…đi ngược lại lợi ích của nhân dân và đất nước,” Tuyên bố viết.

‘Không thay đổi’

Trao đổi với BBC, ông Huỳnh Ngọc Chênh, một blogger ở trong nước, giải thích lý do Tuyên bố này không được gửi đến những nơi liên quan được nêu trong Tuyên bố như Quốc hội và Chính phủ là vì ‘những kiến nghị chúng tôi gửi đến chẳng bao giờ được phản hồi’.

“Hồi nào mình viết như thế nào, mình thu nhận thông tin và đưa thông tin như thế nào thì vẫn tiếp tục làm.”

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh

“Chúng tôi đã tính trước khả năng chính quyền không tiếp thu nên không kiến nghị mà ra tuyên bố để bày tỏ thái độ,” ông nói, “Còn tiếp thu hay không là quyền của người ta.”

Khi được hỏi có chuẩn bị sẵn sàng khi Nghị định 72 có hiệu lực bắt đầu từ ngày 1/9 tới, ông Chênh nói rằng ông ‘vẫn giữ nguyên’.

“Hồi nào mình viết như thế nào, mình thu nhận thông tin và đưa thông tin như thế nào thì vẫn tiếp tục làm,” ông nói.

“Để xem người ta nhắc nhở như thế nào để tùy theo đó mà có thái độ phản ứng,” ông nói thêm, “Bên cạnh đó tôi vẫn trông chờ phản ứng của tập thể.”

Mặc dù ông nhận định rằng Nghị định 72 này sẽ ‘khó khả thi’ nhưng sẽ tác động trực tiếp các trang blog như trang cá nhân của ông.

“Trước khi có Nghị định 72, anh em blogger vẫn bị mời lên làm việc. Bây giờ có lẽ làm việc sẽ cấp tập hơn. Người ta sẽ yêu cầu điều này điều khác nhiều hơn,” ông nói.

_____________________________________________________

http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=28618

CHÍNH PHỦ
Số: 72/2013/NĐ-CP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 2013

NGHỊ ĐỊNH

Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng

______________________

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Viễn thông ngày 23 tháng 11 năm 2009;

Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Căn cứ Luật Báo chí ngày 28 tháng 12 năm 1989, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 12 tháng 6 năm 1999;

Căn cứ Luật Xuất bản ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Theo đ nghị của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông;

Chính phủ ban hành Nghị định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng,

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng; bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiu như sau:

1. Mạng là khái niệm chung dùng để chỉ mạng viễn thông (cố định, di động, Internet), mạng máy tính (WAN, LAN).

2. Dịch vụ Internet là một loại hình dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ truy nhập Internet và dịch vụ kết nối Internet:

a) Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng Internet khả năng truy nhập đến Internet;

b) Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng viễn thông khả năng kết nối vi nhau để chuyển tải lưu lượng Internet.

3. Trạm trung chuyển Internet là một hệ thống thiết bị viễn thông được một tổ chức hoặc doanh nghiệp thiết lập để cung cấp dịch vụ kết nối Internet.

4. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet là doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ Internet quy định tại Khoản 2 Điều này.

5. Đại lý Internet là tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ truy nhập Internet cho người sử dụng Internet thông qua hợp đồng đại lý Internet ký với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet để hưởng hoa hồng hoặc bán lại dịch vụ truy nhập Internet để hưởng chênh lệch giá.

6. Đim truy nhập Internet công cộng bao gồm:

a) Địa điểm mà đại lý Internet được quyền sử dụng hợp pháp để cung cấp dịch vụ;

b) Điểm truy nhập Internet công cộng của doanh nghiệp là địa điểm mà đơn vị thành viên hoặc cá nhân đại diện cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet trực tiếp quản lý để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet cho người sử dụng Internet;

c) Điểm truy nhập Internet công cộng tại khách sạn, nhà hàng, sân bay, bến tàu, bến xe, quán cà phê và điểm công cộng khác là địa điểm mà tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng hợp pháp để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet cho người sử dụng Internet.

7. Người sử dụng Internet là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng sử dụng dịch vụ với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet hoặc điểm truy nhập Internet công cộng để sử dụng các ứng dụng và dịch vụ trên Internet.

8. Tài nguyên Internet là tập hợp tên và số thuộc quyền quản lý của Việt Nam, bao gồm:

a) Tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”, các tên miền khác liên quan đến quyền lợi quốc gia Việt Nam; địa chỉ Internet, số hiệu mạng, các tên và số khác được các tổ chức quốc tế phân bổ cho Việt Nam thông qua Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC);

b) Tên miền quốc tế, địa chỉ Internet, số hiệu mạng, tên và số khác được tổ chức quốc tế phân bổ cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.

9. Dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng (gọi tắt là dịch vụ trò chơi điện tử) là việc cung cấp cho người chơi khả năng truy nhập vào mạng và chơi các trò chơi điện tử trên mạng.

10. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng (gọi tắt là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử) là doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử thông qua việc thiết lập hệ thống thiết bị và sử dụng hợp pháp phần mềm trò chơi điện tử.

11. Điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng là địa điểm mà tổ chức, cá nhân được toàn quyền sử dụng hợp pháp để cung cấp cho người chơi khả năng truy nhập vào mạng và chơi trò chơi điện tử thông qua việc thiết lập hệ thống thiết bị tại địa điểm đó.

12. Người chơi trò chơi điện tử trên mạng (gọi tắt là người chơi) là cá nhân giao kết hợp đồng với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử hoặc điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng để chơi trò chơi điện tử.

13. Thông tin trên mạng là thông tin được lưu trữ, truyền đưa, thu thập và xử lý thông qua mạng.

14. Thông tin công cộng là thông tin trên mạng của một tổ chức, cá nhân được công khai cho tất cả các đối tượng mà không cần xác định danh tính, địa chỉ cụ thể của các đối tượng đó.

15. Thông tin riêng là thông tin trên mạng của một tổ chức, cá nhân mà tổ chức, cá nhân đó không công khai hoặc chỉ công khai cho một hoặc một nhóm đối tượng đã được xác định danh tính, địa chỉ cụ thể.

16. Thông tin cá nhân là thông tin gắn liền với việc xác định danh tính, nhân thân của cá nhân bao gồm tên, tuổi, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử và thông tin khác theo quy định của pháp luật.

17. Dịch vụ nội dung thông tin là dịch vụ cung cấp thông tin công cộng cho người sử dụng dịch vụ.

18. Nguồn tin chính thức là những thông tin được đăng, phát trên báo chí Việt Nam hoặc trên các trang thông tin điện tử của cơ quan Đảng, Nhà nước theo quy định pháp luật về báo chí, sở hữu trí tuệ.

19. Thông tin tổng hợp là thông tin được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin, nhiều loại hình thông tin vmột hoặc nhiu lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

20. Hệ thống thông tin là tập hp các thiết bị viễn thông, công nghệ thông tin bao gồm phần cứng, phần mềm và cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động lưu trữ, xử lý, truyn đưa, chia sẻ, trao đổi, cung cp và sử dụng thông tin.

21. Trang thông tin điện tử (website) là hệ thống thông tin dùng để thiết lập một hoặc nhiu trang thông tin được trình bày dưới dạng ký hiệu, s, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác phục vụ cho việc cung cấp và sử dụng thông tin trên Internet.

22. Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác.

23. An toàn thông tin là sự bảo vệ thông tin và các hệ thống thông tin tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin.

24. An ninh thông tin là việc bảo đảm thông tin trên mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tchức, cá nhân.

Điều 4. Chính sách phát triển, quản lý Internet và thông tin trên mạng

1. Thúc đẩy việc sdụng Internet trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, công nghệ để tăng năng suất lao động, tạo việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống.

2. Khuyến khích phát triển các nội dung, ứng dụng tiếng Việt phục vụ cho cộng đồng người Việt Nam trên Internet. Đẩy mạnh việc đưa các thông tin lành mạnh, hữu ích lên Internet.

3. Phát triển hạ tầng Internet băng rộng đến trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu, thư viện, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, các điểm truy nhập Internet công cộng và hộ gia đình. Chú trọng việc phổ cập dịch vụ Internet ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

4. Ngăn chặn những hành vi lợi dụng Internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và vi phạm quy định của pháp luật. Áp dụng các biện pháp bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên khỏi tác động tiêu cực của Internet.

5. Bảo đảm chỉ những thông tin hp pháp theo pháp luật Việt Nam mới được truyền, kể cả truyền qua biên giới, đến người sử dụng Internet tại Việt Nam.

6. Khuyến khích và tạo điều kiện sử dụng rộng rãi tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”, tên miền tiếng Việt và chuyển đổi sang công nghệ địa chỉ Internet IPv6 (gọi tắt là công nghệ IPv6).

7. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về Internet trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, các bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 5. Các hành vi bị cấm

1. Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích:

a) Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo;

b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

c) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định;

d) Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của t chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân;

đ) Quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm;

e) Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tchức, cá nhân.

2. Cản trở trái pháp luật việc cung cấp và truy cập thông tin hợp pháp, việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ hp pháp trên Internet của tổ chức, cá nhân.

3. Cản trở trái pháp luật hoạt động của hệ thống máy chủ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn, hoạt động hp pháp của hệ thống thiết bị cung cấp dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.

4. Sử dụng trái phép mật khẩu, khóa mật mã của tổ chức, cá nhân; thông tin riêng, thông tin cá nhân và tài nguyên Internet.

5. Tạo đường dẫn trái phép đối với tên miền hợp pháp của tổ chức, cá nhân; tạo, cài đặt, phát tán phần mềm độc hại, vi-rút máy tính; xâm nhập trái phép, chiếm quyền điu khin hệ thng thông tin, tạo lập công cụ tn công trên Internet.

Chương II

QUẢN LÝ, CUNG CẤP VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ INTERNET,

 TÀI NGUYÊN INTERNET

Mục 1

DỊCH VỤ INTERNET

Điều 6. Cấp phép cung cấp dịch vụ Internet

1. Doanh nghiệp chỉ được cung cấp dịch vụ Internet khi có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình dịch vụ Internet.

2. Việc cấp phép, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi và cấp lại giấy phép cung cp dịch vụ Internet thực hiện theo các quy định tại Điều 35, Điều 36, Điều 38, Điều 39 Luật viễn thông và Điều 18, Điều 23, Điều 24, Điều 28 Nghị định s25/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và thi hành một số điều của Luật viễn thông.

Điều 7. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet

Ngoài các quyn và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có các nghĩa vụ sau đây:

1. Gửi Thông báo chính thức cung cấp dịch vụ Internet tới Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Viễn thông) trước khi chính thức cung cấp dịch vụ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

2. Đăng ký hợp đồng đại lý Internet mẫu, hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet mẫu với Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Viễn thông) để thực hiện thống nhất trong toàn doanh nghiệp.

Điều 8. Điều kiện hoạt động của điểm truy nhập Internet công cộng

1. Đại lý Internet được phép hoạt động khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Đăng ký kinh doanh đại lý Internet;

b) Ký hợp đồng đại lý Internet với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet;

c) Trường hợp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử phải tuân thủ quy định tại Khoản 1 Điều 35 Nghị định này.

2. Chủ điểm truy nhập Internet công cộng của doanh nghiệp không phải đăng ký kinh doanh đại lý Internet và ký hợp đồng đại lý Internet. Trường hợp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử phải tuân thủ quy định tại Khoản 1 Điều 35 Nghị định này.

3. Chủ điểm truy nhập Internet công cộng tại khách sạn, nhà hàng, sân bay, bến tàu, bến xe, quán cà phê và các điểm công cộng khác khi cung cấp dịch vụ truy nhập Internet cho người sử dụng trong phạm vi các địa đim này:

a) Không phải đăng ký kinh doanh đại lý Internet và ký hợp đồng đại lý Internet nếu không thu cước;

b) Phải đăng ký kinh doanh đại lý Internet và ký hợp đồng đại lý Internet nếu có thu cước.

Điều 9. Quyền, nghĩa vụ của chủ điểm truy nhập Internet công cộng

1. Đại lý Internet có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Thiết lập hệ thống thiết bị đu cuối tại địa điểm được quyền sử dụng để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet cho người sử dụng dịch vụ tại địa điểm đó;

b) Treo biển “Đại lý Internet” kèm theo số đăng ký kinh doanh đại lý Internet;

c) Niêm yết công khai nội quy sử dụng dịch vụ Internet ở nơi mọi người dễ nhận biết bao gồm các hành vi bị cấm quy định tại Điều 5 Nghị định này, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet quy định tại Điều 10 Nghị định này;

d) Cung cấp dịch vụ truy nhập Internet theo chất lượng và giá cước trong hợp đồng đại lý Internet;

đ) Trường hợp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng có quyền và nghĩa vụ của chủ điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng quy định tại Điều 36 Nghị định này;

e) Không được tổ chức hoặc cho phép người sử dụng Internet sử dụng các tính năng của máy tính tại địa điểm kinh doanh của mình để thực hiện hành vi bị cấm quy định tại Điều 5 Nghị định này;

g) Được yêu cầu doanh nghiệp ký hp đồng đại lý Internet với mình hướng dẫn, cung cấp thông tin về dịch vụ truy nhập Internet và chịu sự kiểm tra, giám sát của doanh nghiệp Internet đó;

h) Tham gia các chương trình đào tạo, tập huấn về Internet do cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tổ chức trên địa bàn;

i) Thực hiện quy định về bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.

2. Chủ điểm truy nhập Internet công cộng của doanh nghiệp có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Treo biển “Điểm truy nhập Internet công cộng” kèm tên doanh nghiệp và số giấy phép cung cấp dịch vụ Internet của doanh nghiệp;

b) Quyền và nghĩa vụ quy định tại Điểm a, c, đ, e, h, i Khoản 1 Điều này.

3. Chủ điểm truy nhập Internet công cộng tại khách sạn, nhà hàng, sân bay, bến tàu, bến xe, quán cà phê và các điểm công cộng khác khi cung cấp dịch vụ truy nhập Internet có thu cước có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Tuân thủ giờ mở, đóng cửa của địa điểm;

b) Quyền và nghĩa vụ quy định tại Điểm a, c, d, e, g, h, i Khoản 1 Điều này.

4. Chủ điểm truy nhập Internet công cộng tại khách sạn, nhà hàng, sân bay, bến tàu, bến xe, quán cà phê và các điểm công cộng khác khi cung cấp dịch vụ truy nhập Internet không thu cước có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Tuân thủ giờ mở, đóng cửa của địa điểm;

b) Quyền và nghĩa vụ quy định tại Điểm a, c, e, h, i Khoản 1 Điều này.

Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet

Ngoài việc tuân thủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Khoản 1 Điều 16 Luật viễn thông, người sử dụng Internet còn có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Được sử dụng các dịch vụ trên Internet trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật.

2. Tuân thủ thời gian hoạt động của điểm truy nhập Internet công cộng.

3. Không được kinh doanh lại các dịch vụ Internet dưi bất kỳ hình thức nào.

4. Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin và các quy định khác có liên quan tại Nghị định này.

Điều 11. Kết nối Internet

1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet được kết nối trực tiếp đi quốc tế, kết nối trực tiếp với nhau và kết nối với các trạm trung chuyển Internet.

2. Trạm trung chuyển Internet quốc gia (VNIX) là trạm trung chuyển Internet thuộc Trung tâm Internet Việt Nam do Bộ Thông tin và Truyền thông thành lập để hỗ trợ:

a) Bảo đảm an toàn cho hoạt động của toàn bộ mạng Internet Việt Nam trong trường hợp xảy ra sự cố đối với mạng viễn thông trong nước và quốc tế;

b) Hình thành mạng thử nghiệm công nghệ IPv6 quốc gia;

c) Tham gia kết nối với trạm trung chuyển Internet của khu vực và quốc tế;

d) Kết nối các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet theo nguyên tắc phi lợi nhuận nhằm nâng cao chất lượng và giảm giá thành dịch vụ.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm:

a) Quy định cụ thể về hoạt động của VNIX;

b) Ban hành cơ chế, chính sách để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet kết nối với nhau, với VNIX và các trạm trung chuyển Internet khác.

Mục 2

TÀI NGUYÊN INTERNET

Điều 12. Đăng ký tên miền

1. Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” và tên miền quốc tế mà tổ chức quốc tế phân bổ cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.

2. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền đăng ký tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” và tên miền quốc tế.

3. Việc đăng ký tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thực hiện thông qua nhà đăng ký tên miền “.vn”.

4. Việc đăng ký tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

a) Bình đẳng, không phân biệt đối xử;

b) Đăng ký trước được quyền sử dụng trước, trừ các tên miền được dành cho đấu giá theo quy định của pháp luật;

c) Tuân thủ các quy định về bảo vệ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” theo Điều 68 Luật công nghệ thông tin;

d) Tuân thủ quy định về đấu giá, chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền theo quy định của Luật Viễn thông.

5. Tên miền do tổ chức, cá nhân đăng ký phải bảo đảm không có cụm từ xâm phạm đến lợi ích quốc gia hoặc không phù hợp với đạo đức xã hội, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; phải thể hiện tính nghiêm túc để tránh sự hiểu nhầm hoặc xuyên tạc do tính đa âm, đa nghĩa hoặc khi không dùng dấu trong tiếng Việt.

6. Tên miền là tên gọi của tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước chỉ dành cho tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước; tổ chức, cá nhân khác không được đăng ký, sử dụng các tên miền này.

7. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể điều kiện, quy trình, thủ tục đăng ký, thu hồi tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”.

Điều 13. Hệ thống máy chủ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”

1. Hệ thống máy chủ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” là hệ thống kỹ thuật nhằm bảo đảm hoạt động cho tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” trên Internet. Bộ Thông tin và Truyền thông (Trung tâm Internet Việt Nam) thiết lập, quản lý và vận hành hệ thống máy chủ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”.

2. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm phối hp, kết ni, định tuyến để bảo đảm hệ thống máy chủ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” hoạt động an toàn, ổn định.

Điều 14. Nhà đăng ký tên miền “.vn”

1. Nhà đăng ký tên miền “.vn” là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”.

2. Nhà đăng ký tên miền “.vn” được cung cấp dịch vụ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Là doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam hoặc tổ chức ở nước ngoài ký hợp đồng với nhà đăng ký tên miền chính thức (Accredited Registrar) của Tổ chức quản lý tên miền quốc tế (ICANN);

b) Đăng ký kinh doanh dịch vụ đăng ký tên miền;

c) Có đủ năng lực về nhân sự, kỹ thuật phù hợp với quy mô hoạt động để triển khai cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền;

d) Ký hợp đồng với Trung tâm Internet Việt Nam để trở thành nhà đăng ký tên miền “.vn”.

3. Nhà đăng ký tên miền “.vn” có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Tổ chức thực hiện việc đăng ký, duy trì tên miền theo quy định của pháp luật;

b) Lưu trữ đầy đủ, chính xác thông tin về tổ chức, cá nhân đăng ký tên miền theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

c) Thiết lập hệ thống máy chủ tên miền (DNS), hệ thống kỹ thuật cung cấp dịch vụ và triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn đối với các tên miền và dữ liệu tên miền của tổ chức, cá nhân;

d) Được hướng dẫn, cung cấp thông tin về việc đăng ký tên miền và chịu sự thanh tra, kiểm tra của Bộ Thông tin và Truyền thông;

đ) Từ chối cung cấp dịch vụ khi tổ chức, cá nhân không đáp ứng quy định về đăng ký tên miền;

e) Tạm ngừng hoạt động, thu hồi tên miền theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

g) Nhà đăng ký tên miền “.vn” ở trong nước phải sử dụng máy chủ tên miền chính (Primary DNS) dùng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” khi cung cấp dịch vụ;

h) Xây dựng và công bố công khai các biểu mẫu, quy trình, thủ tục đăng ký tên miền theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

i) Báo cáo, cung cấp thông tin và phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

Điều 15. Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam

1. Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền quốc tế tại Việt Nam.

2. Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam được cung cấp dịch vụ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Là doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam;

b) Đăng ký kinh doanh dịch vụ đăng ký tên miền;

c) Có hợp đồng ký với Tổ chức quản lý tên miền quốc tế (ICANN) hoặc nhà đăng ký tên miền chính thức (Accredited Registrar) của Tổ chức quản lý tên miền quốc tế để cung cấp dịch vụ đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam.

3. Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Quản lý thông tin về tổ chức, cá nhân ở Việt Nam đăng ký tên miền quốc tế tại đơn vị mình bao gồm tên tổ chức, địa chỉ trụ sở chính, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử đi vi tổ chức; họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, số chứng minh nhân dân, nơi cấp, ngày cấp, địa chỉ thường trú, số điện thoại, địa chỉ thư điện tđối với cá nhân;

b) Hướng dẫn tổ chức, cá nhân đăng ký tên miền quốc tế thông báo việc sử dụng tên miền quốc tế theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

c) Báo cáo Bộ Thông tin và Truyền thông theo quy định;

d) Cung cấp thông tin và phối hp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để giải quyết, xử lý vụ việc liên quan tới tên miền quốc tế mà mình quản lý.

Điều 16. Xử lý tranh chấp tên miền

1. Tranh chấp về đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” được giải quyết theo các hình thức sau đây:

a) Thông qua thương lượng, hòa giải;

b) Thông qua trọng tài;

c) Khởi kiện tại Tòa án.

2. Căn cứ giải quyết tranh chấp tên miền theo yêu cầu của nguyên đơn:

a) Tên miền tranh chấp trùng hoặc giống đến mức nhầm lẫn với tên của nguyên đơn; trùng hoặc giống đến mức nhầm lẫn với nhãn hiệu thương mại hay nhãn hiệu dịch vụ mà nguyên đơn là người có quyền hoặc lợi ích hp pháp;

b) Bị đơn không có quyền hoặc lợi ích hợp pháp liên quan đến tên miền đó;

c) Bị đơn cho thuê hay chuyển giao tên miền cho nguyên đơn là người chủ của tên, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụ trùng hoặc ging đến mức gây nhầm lẫn với tên miền đó; cho thuê hay chuyển giao cho đối thủ cạnh tranh của nguyên đơn vì lợi ích riêng hoặc để kiếm lời bất chính;

d) Bị đơn chiếm dụng, ngăn cản không cho nguyên đơn là người chủ của tên, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụ đăng ký tên min tương ứng với tên, nhãn hiệu thương mại hay nhãn hiệu dịch vụ đó nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh;

đ) Bị đơn sử dụng tên miền để hủy hoại danh tiếng của nguyên đơn, cản trở hoạt động kinh doanh của nguyên đơn hoặc gây sự nhầm lẫn, gây mất lòng tin cho công chúng đối với tên, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụ của nguyên đơn nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh;

e) Trường hợp khác chứng minh được việc bị đơn sử dụng tên miền vi phạm quyền và lợi ích hp pháp của nguyên đơn.

3. Bị đơn được coi là có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến tên miền khi đáp ứng một trong những điều kiện sau đây:

a) Đã sử dụng hoặc có bằng chứng rõ ràng đang chuẩn bị sử dụng tên miền hoặc tên tương ứng với tên miền đó liên quan đến việc cung cấp sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ một cách thực sự trước khi có tranh chấp;

b) Được công chúng biết đến bởi tên miền đó cho dù không có quyền nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ;

c) Đang sử dụng tên miền một cách hợp pháp không liên quan tới thương mại hoặc sử dụng tên miền một cách chính đáng, không vì mục đích thương mại hoặc làm cho công chúng hiểu sai hoặc nhầm lẫn, ảnh hưởng tới tên, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ của nguyên đơn;

d) Có bằng chứng khác chứng minh được tính hợp pháp của bị đơn liên quan đến tên miền.

4. Cơ quan quản lý tên miền “.vn” xử lý tên miền có tranh chấp được thực hiện theo biên bản hòa giải thành của các bên có tranh chp hoặc theo quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan Trọng tài hoặc theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Điều 17. Phân bổ, cấp, thu hồi địa chỉ Internet và số hiệu mạng

1. Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện việc đăng ký địa chỉ Internet và số hiệu mạng với các tổ chức quốc tế; phân bổ địa chỉ Internet, số hiệu mạng cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet và các thành viên địa chỉ Internet khác ở Việt Nam.

2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet được quyền cấp các địa chỉ Internet mà mình được phân bổ cho các thuê bao Internet của doanh nghiệp.

3. Tổ chức, doanh nghiệp nhận địa chỉ Internet, số hiệu mạng trực tiếp từ các tổ chức quốc tế phải báo cáo và tuân thủ các quy định có liên quan của Bộ Thông tin và Truyền thông.

4. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể điều kiện, quy trình, thủ tục đăng ký, phân bổ, cấp, thu hồi địa chỉ Internet và số hiệu mạng.

Điều 18. Thúc đẩy ng dụng công nghệ IPv6

1. Công nghệ IPv6 thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển. Hoạt động nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu các thiết bị, phần mềm và hoạt động ứng dụng công nghệ IPv6 khác được hưởng các mức ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của Luật công nghệ cao.

2. Khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet đầu tư phát triển hệ thống mạng sử dụng công nghệ IPv6.

3. Cơ quan nhà nước khi đầu tư, mua sắm các thiết bị mới có kết nối Internet phải bảo đảm các thiết bị này có hỗ trợ công nghệ IPv6 theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

4. Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng chính sách hỗ trợ và lộ trình bảo đảm tất cả thiết bị, phần mềm viễn thông và công nghệ thông tin kết nối Internet được sản xuất trong nước và nhập khẩu vào Việt Nam phải ứng dụng công nghệ IPv6, hướng tới ngừng hoàn toàn việc sản xuất và nhập khẩu thiết bị, phần mềm không hỗ trợ công nghệ IPv6.

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc đưa nội dung về công nghệ IPv6 vào chương trình đào tạo của các trường đại học và cao đẳng thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông.

Điều 19. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên Internet

1. Tổ chức, cá nhân đăng ký và sdụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin đăng ký, bao gồm tính chính xác, trung thực của thông tin và bảo đảm không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

b) Chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng tên miền của mình theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tên miền quc tế phải thông báo với Bộ Thông tin và Truyền thông theo quy định tại Điều 23 Luật công nghệ thông tin. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể quy trình, thủ tục thông báo sử dụng tên miền quốc tế.

3. Tổ chức sử dụng địa chỉ Internet và số hiệu mạng phải thực hiện định tuyến và sử dụng địa chỉ Internet, số hiệu mạng theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

4. Tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên Internet phải cung cấp thông tin, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi được yêu cầu.

5. Tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên Internet phải nộp lệ phí đăng ký và phí duy trì tài nguyên Internet theo quy định.

Chương III

QUẢN LÝ, CUNG CẤP VÀ SỬ DỤNG THÔNG TIN TRÊN MẠNG

Mục 1

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 20. Phân loại trang thông tin điện tử

Trang thông tin điện tử được phân loại như sau:

1. Báo điện tử dưới hình thức trang thông tin điện tử.

2. Trang thông tin điện tử tổng hợp là trang thông tin điện tử của cơ quan, tchức, doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức và ghi rõ tên tác giả hoặc tên cơ quan của nguồn tin chính thức, thời gian đã đăng, phát thông tin đó.

3. Trang thông tin điện tử nội bộ là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, dịch vụ, sản phẩm, ngành nghề và thông tin khác phục vụ cho hoạt động của chính cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó và không cung cấp thông tin tổng hp.

4. Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hp.

5. Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, y tế, giáo dục và các lĩnh vực chuyên ngành khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.

Điều 21. Nguyên tắc quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng

1. Việc quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng dưới hình thức báo điện tử, xuất bản điện tử và quảng cáo trên mạng phải tuân theo các quy đnh của pháp luật về báo chí, xuất bản và quảng cáo.

2. Việc quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng dưới hình thức mạng xã hội, trang thông tin điện tử tổng hợp phải tuân theo quy định tại Mục 2 Chương III và các quy định có liên quan tại Nghị định này.

3. Việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động phải tuân theo quy định tại Mục 3 Chương III và các quy định có liên quan tại Nghị định này.

4. Việc quản lý, cung cấp, sử dụng nội dung thông tin trên trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành phải tuân theo quy định của pháp luật chuyên ngành và các quy định có liên quan của Nghị định này.

5. Tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về các thông tin mà mình lưu trữ, truyền đưa, cung cấp hoặc phát tán trên mạng.

6. Thông tin riêng của tchức, cá nhân được bảo đảm bí mật theo quy định của pháp luật. Việc kiểm soát thông tin riêng trên mạng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.

7. Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng không được tiết lộ thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ trừ các trường hợp sau đây:

a) Người sử dụng đồng ý cung cấp thông tin;

b) Các tổ chức, doanh nghiệp có thỏa thuận với nhau bằng văn bản về việc cung cấp thông tin cá nhân để phục vụ cho việc tính cước, lập hóa đơn, chứng từ và ngăn chặn hành vi trn tránh thực hiện nghĩa vụ theo hp đng;

c) Khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

8. Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quản lý, cung cấp và sử dụng thông tin trên mạng có trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật. Tchức, cá nhân khi lưu trữ, truyền đưa trên mạng thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước có trách nhiệm mã hóa thông tin theo quy định của pháp luật.

Điều 22. Cung cấp thông tin công cộng qua biên gii

1. Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài khi cung cấp thông tin công cộng qua biên giới có người sử dụng tại Việt Nam hoặc có truy cập từ Việt Nam cần tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan của Việt Nam.

2. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể về cung cấp thông tin công cộng qua biên giới.

MỤC 2

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ, MẠNG XÃ HỘI

Điều 23. Quản lý việc thiết lập trang thông tin điện tử, mạng xã hội

1. Báo điện tử dưới hình thức trang thông tin điện tử được thiết lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về báo chí.

2. Trang thông tin điện tử ng dụng chuyên ngành được thiết lập và hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành và các quy định có liên quan của Nghị định này.

3. Trang thông tin điện tử cá nhân, trang thông tin điện tử nội bộ phải tuân theo các quy định về đăng ký và sử dụng tài nguyên Internet và các quy định có liên quan tại Nghị định này.

4. Tổ chức, doanh nghiệp chỉ được thiết lập trang thông tin điện tử tổng hp, thiết lập mạng xã hội khi có Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, Giấy phép thiết lập mạng xã hội.

5. Tổ chức, doanh nghiệp được cấp Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, Giấy phép thiết lập mạng xã hội khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là tổ chức, doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ hoặc đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hp với dịch vụ và nội dung thông tin cung cấp;

b) Có nhân sự quản lý đáp ứng yêu cầu theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

c) Đã đăng ký tên miền sử dụng để thiết lập trang thông tin điện tử tổng hp, mạng xã hội;

d) Có đủ khả năng tài chính, kỹ thuật, tổ chức, nhân sự phù hp với quy mô hoạt động;

đ) Có biện pháp bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.

6. Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, Giấy phép thiết lập mạng xã hội có thời hạn theo đề nghị của tổ chức, doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 10 năm.

7. Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép thiết lập mạng xã hội.

8. Cục quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử – Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp cho cơ quan báo chí, cơ quan ngoại giao và lãnh sự, tổ chức trực thuộc Trung ương, tổ chức tôn giáo hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; tổ chức Chính phủ và phi chính phủ nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; Sở Thông tin và Truyền thông và các cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

9. Sở Thông tin và Truyền thông cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hp cho tchức, doanh nghiệp không thuộc các đối tượng quy định tại Khoản 8 Điều này.

10. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể điều kiện, quy trình, thủ tục cấp, sửa đi, bổ sung, gia hạn, thu hồi, cấp lại Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, Giấy phép thiết lập mạng xã hội.

11. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông quy định lệ phí cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tng hợp, cấp phép thiết lập mạng xã hội.

Điều 24. Quyền và nghĩa vụ của tổ chc, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp

Tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Được thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp và cung cấp thông tin tổng hợp cho công cộng theo quy định của pháp luật;

2. Có ít nhất 01 hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam đáp ứng việc thanh tra, kiểm tra, lưu trữ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với việc cung cấp dịch vụ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

3. Xây dựng quy trình quản lý thông tin công cộng;

4. Kiểm tra, giám sát, loại bỏ những thông tin công cộng có nội dung vi phạm quy định tại Điều 5 Nghị định này ngay khi tự phát hiện hoặc có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

5. Thực hiện quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quan đến việc cung cấp và sử dụng thông tin;

6. Lưu trữ thông tin tổng hợp tối thiểu trong 90 ngày kể từ thời điểm thông tin được đăng trên trang thông tin điện tử tổng hợp;

7. Báo cáo theo quy định và chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Điều 25. Quyền và nghĩa vụ của tổ chc, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội

Tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Cung cấp dịch vụ mạng xã hội cho công cộng trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật;

2. Công khai thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội;

3. Có biện pháp bảo vệ bí mật thông tin riêng, thông tin cá nhân của người sử dụng; thông báo cho người sử dụng về quyền, trách nhiệm và các rủi ro khi lưu trữ, trao đổi và chia sẻ thông tin trên mạng;

4. Bảo đảm quyền quyết định của người sử dụng khi cho phép thông tin cá nhân của mình được cung cấp cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác;

5. Không được chủ động cung cấp thông tin công cộng có nội dung vi phạm quy định tại Điều 5 Nghị định này;

6. Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để loại bỏ hoặc ngăn chặn thông tin có nội dung vi phạm quy đnh tại Điều 5 Nghị định này khi có yêu cầu;

7. Cung cấp thông tin cá nhân và thông tin riêng của người sử dụng có liên quan đến hoạt động khủng bố, tội phạm, vi phạm pháp luật khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

8. Có ít nhất 01 hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam đáp ứng việc thanh tra, kiểm tra, lưu trữ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thm quyền và giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với việc cung cấp dịch vụ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

9. Thực hiện việc đăng ký, lưu trữ và quản lý thông tin cá nhân của người thiết lập trang thông tin điện tử cá nhân và người cung cấp thông tin khác trên mạng xã hội theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Bảo đảm chỉ những người đã cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin cá nhân theo quy định mới được thiết lập trang thông tin điện tử cá nhân hoặc cung cấp thông tin trên mạng xã hội;

10. Báo cáo theo quy định và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Điều 26. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ mạng xã hội

Ngoài quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet quy định tại Điều 10 Nghị định này, người sử dụng dịch vụ mạng xã hội còn có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Được sử dụng dịch vụ của mạng xã hội trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật.

2. Được bảo vệ bí mật thông tin riêng và thông tin cá nhân theo quy định của pháp luật.

3. Tuân thủ quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội.

4. Chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội, phát tán thông tin qua đường liên kết trực tiếp do mình thiết lập.

Mục 3

CUNG CẤP DỊCH VỤ NỘI DUNG THÔNG TIN TRÊN MẠNG VIỄN THÔNG DI ĐỘNG

Điều 27. Cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động

1. Tổ chức, doanh nghiệp chỉ được cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động sau khi đã đăng ký cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

2. Điều kiện đăng ký cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động:

a) Là tổ chức, doanh nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ hoặc đăng ký doanh nghiệp ngành nghề cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng;

b) Có đủ khả năng tài chính, kỹ thuật, tổ chức, nhân sự phù hợp với quy mô hoạt động;

c) Có biện pháp bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể về quy trình, thủ tục đăng ký cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động; việc kết nối tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng với doanh nghiệp viễn thông di động và các quy định khác có liên quan đến việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động.

Điều 28. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động

Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Được thiết lập hệ thống thiết bị tại địa điểm mà mình được toàn quyền sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật và thuê đường truyền dẫn viễn thông để kết nối tới các doanh nghiệp viễn thông;

2. Có ít nhất 01 hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam đáp ứng việc thanh tra, kiểm tra, lưu trữ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với việc cung cấp dịch vụ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

3. Được phân bổ kho số viễn thông, tài nguyên Internet theo quy hoạch và quy định quản lý tài nguyên viễn thông;

4. Cung cấp dịch vụ nội dung thông tin phù hợp theo quy định của pháp luật có liên quan;

5. Ban hành quy trình, quy chế, thủ tục cung cấp và sử dụng dịch vụ và giải quyết khiếu nại trên cơ sở tuân thủ quy định về quản lý, lưu trữ, truyền đưa thông tin số của Luật công nghệ thông tin và quy định của pháp luật về chống thư rác;

6. Cung cấp dịch vụ theo đúng chất lượng, giá cước dịch vụ đã công bố vi người sử dụng dịch vụ;

7. Báo cáo theo quy định và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Điều 29. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp viễn thông di động

Doanh nghiệp viễn thông di động có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện hợp tác kinh doanh với tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động theo nguyên tắc sau đây:

a) Thông qua thương lượng trên cơ sở bảo đảm công bằng, hợp lý, phù hợp với quyền, lợi ích của các bên tham gia;

b) Sdụng hiệu quả tài nguyên viễn thông và cơ sở hạ tầng viễn thông;

c) Bảo đảm hoạt động an toàn, thống nhất của các mạng viễn thông;

d) Bảo đảm quyền, lợi ích hp pháp của người sử dụng dịch vụ viễn thông và tổ chức, cá nhân có liên quan;

đ) Cung cấp kết nối cho các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động tại bất kỳ điểm nào khả thi về mặt kỹ thuật trên mạng viễn thông và thực hiện kết nối kịp thời, hp lý, công khai, minh bạch;

e) Không phân biệt đối xử về kết nối, giá cước, thanh toán, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật viễn thông, chất lượng mạng và dịch vụ viễn thông.

2. Từ chối kết nối với các tổ chức, doanh nghiệp không đăng ký cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Nghị định này;

3. Tạm ngừng hoặc ngừng kết nối với t chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động vi phạm quy định về việc cung cấp dịch vụ khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thm quyền;

4. Phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động để giải quyết khiếu nại, tranh chấp về giá cước, chất lượng dịch vụ cho người sử dụng;

5. Báo cáo theo quy định và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Điều 30. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động

Người sử dụng dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Được sử dụng các dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật;

2. Tuân thủ quy định sử dụng dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động và dịch vụ viễn thông theo quy định của pháp luật;

3. Tự kiểm tra và chịu trách nhiệm về việc quyết định sử dụng dịch vụ của mình;

4. Có quyền khiếu nại, tố cáo khi nội dung dịch vụ nhận được không đúng với nội dung dịch vụ mà tổ chức, doanh nghiệp cung cp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động đã công b, thỏa thuận.

Chương IV

TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ TRÊN MẠNG

Điều 31. Nguyên tắc quản lý trò chơi điện tử trên mạng

1. Trò chơi điện tử trên mạng được phân loại như sau:

a) Phân loại theo phương thức cung cấp và sử dụng dịch vụ, bao gồm:

Trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau đồng thời thông qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp (gọi tắt là trò chơi G1);

Trò chơi điện tử chỉ có sự tương tác giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp (gọi tắt là trò chơi G2);

Trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau nhưng không có sự tương tác giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp (gọi tắt là trò chơi G3);

Trò chơi điện tử được tải về qua mạng, không có sự tương tác giữa người chơi với nhau và giữa người chơi với hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp (gọi tắt là trò chơi G4).

b) Phân loại theo độ tuổi của người chơi phù hợp với nội dung và kịch bản trò chơi. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể về phân loại trò chơi theo độ tuổi người chơi.

2. Doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ trò chơi G1 khi có Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử và Quyết định phê duyệt nội dung, kịch bản đối với từng trò chơi điện tử do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp.

3. Doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ trò chơi G2, G3, G4 khi có Giấy chứng nhận đăng ký cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử và thông báo cung cấp dịch vụ đối với từng trò chơi điện tử.

4. Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng cho người sử dụng tại Việt Nam phải thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam để thực hiện cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng theo quy định tại Nghị định này và quy định về đầu tư nước ngoài.

Điều 32. Cấp phép cung cấp dịch vụ trò chơi G1

1. Doanh nghiệp được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ngành nghề cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng;

b) Đã đăng ký tên miền sử dụng để cung cấp dịch vụ;

c) Có đủ khả năng tài chính, kỹ thuật, tổ chức, nhân sự phù hợp với quy mô hoạt động;

d) Có biện pháp bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.

2. Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử có thời hạn theo đề nghị của doanh nghiệp, nhưng tối đa không quá 10 năm.

3. Doanh nghiệp được cấp Quyết định phê duyệt nội dung, kịch bản trò chơi điện tử khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử còn thời hạn tối thiểu 01 năm;

b) Nội dung, kịch bản trò chơi điện tử đáp ứng các yêu cầu sau đây:

Không vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định này;

Không có hình ảnh, âm thanh gây cảm giác ghê sợ, rùng rợn; kích động bạo lực, thú tính; dung tục, khêu gợi, kích thích dâm ô, trụy lạc, vô luân, trái với truyền thống đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc; xuyên tạc, phá hoại truyền thống lịch sử;

Không có hình ảnh, âm thanh miêu tả hành động tự tử, sử dụng ma túy, uống rượu, hút thuốc, khủng bố; hành động ngược đãi, xâm hại, buôn bán trẻ em và các hành vi có hại hoặc bị cấm khác;

Các yêu cầu khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

c) Đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, nghiệp vụ cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

4. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể điều kiện, quy trình, thủ tục cấp, sửa đi, bổ sung, gia hạn, thu hồi, cấp lại Giấy phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử, Quyết định phê duyệt nội dung, kịch bản trò chơi điện tử.

5. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông quy định lệ phí cấp phép cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử và phí thm định nội dung, kịch bản trò chơi điện tử.

Điều 33. Đăng ký cung cấp dch vụ trò chơi G2, G3, G4

1. Điều kiện đăng ký cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử:

a) Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ngành nghề cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng;

b) Đã đăng ký tên miền sử dụng để cung cấp dịch vụ trong trường hợp cung cấp dịch vụ trên Internet;

c) Có đủ khả năng tài chính, kỹ thuật, tổ chức, nhân sự để cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử phù hợp với quy mô hoạt động;

d) Có biện pháp bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.

2. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể điều kiện, quy trình, thủ tục đăng ký và thủ tục thông báo cung cấp dịch vụ trò chơi điện t.

Điều 34. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Được thuê đường truyền dẫn của doanh nghiệp viễn thông để kết nối hệ thống thiết bị cung cấp dịch vụ đến mạng viễn thông công cộng;

2. Có ít nhất 01 hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam đáp ứng việc thanh tra, kiểm tra, lưu trữ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với việc cung cấp dịch vụ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

3. Thiết lập trang thông tin điện tử cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử bao gồm đầy đủ các thông tin sau đây:

a) Phân loại trò chơi điện tử theo độ tuổi người chơi đối với từng trò chơi;

b) Quy tắc của từng trò chơi điện tử;

c) Các quy định quản lý thông tin, quản lý hoạt động của trò chơi điện tử;

d) Các quy tắc về giải quyết khiếu nại, tranh chấp quyền lợi phát sinh giữa người chơi và doanh nghiệp, giữa người chơi với người chơi.

4. Áp dụng các biện pháp hạn chế tác động tiêu cực của trò chơi do doanh nghiệp cung cấp, bao gồm:

a) Cung cấp thông tin về trò chơi đã được phê duyệt nội dung, kịch bản (đối với trò chơi G1) hoặc đã thông báo theo quy định (đối với trò chơi G2, G3, G4) trong các chương trình quảng cáo, trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp và trong từng trò chơi bao gồm tên trò chơi, phân loại trò chơi điện tử theo độ tuổi và khuyến cáo về những tác động ngoài mong muốn về thchất, tinh thần có thể xảy ra đối với người chơi;

b) Đối với trò chơi G1 thực hiện đăng ký thông tin cá nhân của người chơi và áp dụng biện pháp hạn chế giờ chơi đối với trẻ em, người chơi dưới 18 tuổi theo hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông;

5. Bảo đảm quyền lợi chính đáng của người chơi theo đúng quy tắc của trò chơi điện tử đã công bố; chịu trách nhiệm về giá cước, chất lượng dịch vụ, an toàn thông tin; giải quyết khiếu nại và các tranh chấp phát sinh giữa người chơi và doanh nghiệp, giữa người chơi với người chơi;

6. Tuân thủ quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông về vật phẩm ảo (hình ảnh đồ họa của một đồ vật, một nhân vật theo quy tắc nhất định do nhà sản xuất trò chơi điện tử đó thiết lập) và điểm thưởng (hình thức thưởng tương đương cách tính điểm mà người chơi nhận được trong quá trình tham gia trò chơi điện tử trên mạng);

7. Trường hợp ngừng cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử, phải thông báo trên trang thông tin điện tcung cấp trò chơi điện tử tối thiểu 90 ngày trước ngày dự kiến ngừng cung cấp dịch vụ; có các giải pháp bảo đảm quyền lợi của người chơi; báo cáo bằng văn bn với Bộ Thông tin và Truyền thông về các nội dung này 15 ngày trước ngày chính thức ngừng cung cấp dịch vụ;

8. Triển khai các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ quản lý nội dung hội thoại giữa các người chơi theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

9. Không được quảng cáo trò chơi điện tử chưa được phê duyệt nội dung, kịch bản đối với trò chơi G1 hoặc chưa thông báo theo quy định đối vi trò chơi G2, G3 và G4 trên các diễn đàn, trang thông tin điện tử của tổ chức, doanh nghiệp, các loại hình báo chí và phương tiện thông tin đại chúng khác;

10. Nộp lệ phí cấp phép và phí thẩm định nội dung, kịch bản trò chơi G1;

11. Thực hiện báo cáo định kỳ, đột xuất theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;

12. Chịu sự thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Điều 35. Điều kiện hoạt động của điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng

1. Tổ chức, cá nhân chỉ được thiết lập điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng khi có Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng.

2. Tổ chức, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng khi đáp ứng các điu kiện sau đây:

a) Có đăng ký kinh doanh điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng;

b) Địa điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện t công cộng cách cổng trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông từ 200 m trở lên;

c) Có biển hiệu “Điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng” bao gồm tên điểm, địa chỉ, sđiện thoại liên hệ, số đăng ký kinh doanh;

d) Tổng diện tích các phòng máy của điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng tối thiểu 50 m2 tại các khu vực đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, loại II, loại III; tối thiểu 40 m2 tại các đô thị loại IV, loại V; tối thiểu 30 m2 tại các khu vực khác;

đ) Bảo đảm đủ ánh sáng, độ chiếu sáng đồng đều trong phòng máy;

e) Có thiết bị và nội quy phòng cháy, chữa cháy theo quy định về phòng, chống cháy, nổ của Bộ Công an;

g) Nộp lệ phí cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể quy trình, thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng.

4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ tình hình thực tế của địa phương giao Sở Thông tin và Truyền thông hoặc Ủy ban nhân dân quận, huyện chủ trì việc cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi, gia hạn, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng và chỉ đạo tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với hoạt động của các điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng trên địa bàn.

5. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông quy định lệ phí cấp Giấy chứng nhận đủ điu kiện hoạt động đim cung cp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng.

Điều 36. Quyền và nghĩa vụ của chủ điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng

Chủ đim cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng có quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Được thiết lập hệ thống thiết bị để cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử tại địa điểm ghi trên Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng đã được cấp;

2. Được cung cấp dịch vụ truy nhập Internet sau khi đã ký hp đồng đại lý Internet với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet;

3. Có bảng niêm yết công khai nội quy sử dụng dịch vụ trò chơi điện tử ở nơi mọi người dễ nhận biết, bao gồm các điều cấm quy định tại Điều 5 Nghị định này; quyền và nghĩa vụ của người chơi quy định tại Điều 37 Nghị định này;

4. Có bảng niêm yết danh sách cập nhật các trò chơi G1 đã được phê duyệt nội dung, kịch bản tại điểm cung cấp dịch vụ kèm theo phân loại trò chơi theo độ tuổi (thông tin được cập nhật từ trang thông tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông http://www.mic.gov.vn);

5. Không được tổ chức hoặc cho phép người sử dụng Internet sử dụng các tính năng của máy tính tại địa điểm kinh doanh của mình để thực hiện các hành vi bị cấm quy định tại Điều 5 Nghị định này;

6. Được yêu cầu doanh nghiệp ký hợp đồng đại lý Internet với mình hướng dẫn, cung cấp thông tin về dịch vụ truy nhập Internet và chịu sự kiểm tra, giám sát của doanh nghiệp đó;

7. Tham gia các chương trình đào tạo, tập huấn về Internet, trò chơi điện tử do các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp tổ chức trên địa bàn;

8. Không được hoạt động từ 22 giờ đêm đến 8 giờ sáng hôm sau;

9. Thực hiện quy định về bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin;

10. Chịu sự thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Điều 37. Quyền và nghĩa vụ của người chơi

Người chơi có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Được chơi các trò chơi điện tử trừ các trò chơi điện tử bị cấm theo quy định của pháp luật;

2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet quy định tại Điều 10 Nghị định này;

3. Lựa chọn trò chơi điện tử phù hp với độ tuổi của mình;

4. Không được lợi dụng trò chơi điện tử để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

5. Thực hiện việc đăng ký thông tin cá nhân theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông;

6. Chấp hành quy định về quản lý giờ chơi, quy định về thời gian hoạt động của điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng;

7. Được doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử bảo đảm quyền lợi theo quy tắc của trò chơi điện tử và quy tắc giải quyết khiếu nại, tranh chấp được công bố trên trang thông tin điện tử cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp.

Chương V

BẢO ĐẢM AN TOÀN THÔNG TIN VÀ AN NINH THÔNG TIN TRÊN MẠNG

Điều 38. Nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin trên mạng

1. Tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng có trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin trong phạm vi hệ thống thông tin của mình; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và tổ chức, cá nhân khác trong việc bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin trên mạng.

2. Hoạt động bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin trên mạng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và hiệu quả trên cơ sở bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin và quy định pháp luật về chất lượng dịch vụ viễn thông, Internet.

Điều 39. Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thông tin và an ninh thông tin

1. Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm:

a) Ban hành hoặc trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thông tin;

b) Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động bảo đảm an toàn thông tin;

c) Hợp tác quốc tế về an toàn thông tin;

d) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bảo đảm an toàn thông tin;

đ) Chỉ đạo việc phối hp hoạt động của các đơn vị thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp;

e) Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an hướng dẫn các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin công cộng trên mạng btrí mặt bằng, cng kết nối và các biện pháp kỹ thuật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin;

g) Quy định việc đăng ký, lưu trữ, sử dụng thông tin cá nhân của người đưa thông tin công cộng lên mạng xã hội, người chơi trò chơi G1 và người sử dụng các dịch vụ khác trên Internet; việc xác thực thông tin cá nhân đó với cơ sở dữ liệu điện tử về chứng minh nhân dân của Bộ Công an.

2. Bộ Công an có trách nhiệm:

a) Ban hành hoặc trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về an ninh thông tin;

b) Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động bảo đảm an ninh thông tin;

c) Hợp tác quốc tế về an ninh thông tin;

d) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bảo đảm an ninh thông tin;

đ) Tổ chức, chỉ đạo, hưng dẫn thực hiện việc thu thập, phát hiện, điều tra, xử lý thông tin, tài liệu, hành vi liên quan đến hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật nhà nước và các hoạt động tội phạm khác;

e) Tổ chức thực hiện việc xây dựng, khai thác cơ sở dữ liệu điện t về chứng minh nhân dân để kết nối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng nhằm xác thực thông tin cá nhân phục vụ cho việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ và thông tin trên mạng.

3. Ban Cơ yếu Chính phủ – Bộ Quốc phòng có trách nhiệm:

a) Chủ trì xây dựng và đề xuất ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về cơ yếu trong việc bảo đảm an toàn thông tin;

b) Chủ trì thực hiện quản lý hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, sử dụng mật mã bảo đảm an toàn thông tin;

c) Tổ chức thực hiện kiểm định, đánh giá và chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy các sản phẩm sử dụng mật mã bảo đảm an toàn thông tin.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm:

a) Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn pháp luật về Internet cho học sinh, sinh viên; hướng dẫn, tạo điều kiện, định hướng học sinh, sinh viên sử dụng Internet vào các hoạt động có ích, thiết thực trong học tập, cuộc sống của bản thân và gia đình;

b) Triển khai các biện pháp cảnh báo, giám sát học sinh, sinh viên để tránh khỏi các tác động tiêu cực của nội dung thông tin, ứng dụng có hại trên Internet;

c) Tổ chức đào tạo về an toàn thông tin trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông.

5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên tránh khỏi những nội dung thông tin, ứng dụng có hại trên Internet.

6. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hp với Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thông tin và an ninh thông tin.

7. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thông tin và an ninh thông tin tại địa phương.

Điều 40. Quản lý tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thông tin

1. Chứng nhận sự phù hợp của hệ thống thông tin với quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin (chứng nhận hợp quy) là việc xác nhận hệ thng thông tin phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thông tin do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành, tiêu chuẩn về an toàn thông tin do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định bắt buộc áp dụng.

2. Công bố sự phù hợp của hệ thống thông tin với quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thông tin (công bố hợp quy) là việc tổ chức, doanh nghiệp công bố về sự phù hợp của hệ thng thông tin với tiêu chun, quy chun kỹ thuật v an toàn thông tin.

3. Tổ chức, doanh nghiệp sở hữu hệ thống thông tin phải thực hiện việc chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

4. Tchức chứng nhận hp quy về an toàn thông tin là đơn vị sự nghiệp hoạt động dịch vụ kỹ thuật được Bộ Thông tin và Truyền thông thừa nhận hoặc chỉ định để thực hiện công tác chứng nhận hp quy.

5. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể hoạt động chứng nhận hợp quy, công bố hp quy về an toàn thông tin; ban hành danh mục các hệ thống thông tin bắt buộc phải chứng nhận hợp quy và công bố hp quy; chỉ định, thừa nhận tổ chức chứng nhận hợp quy.

Điều 41. Cung cấp dịch v an toàn thông tin

1. Dịch vụ an toàn thông tin là dịch vụ bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin cho tổ chức, cá nhân bao gồm dịch vụ tư vấn, kiểm tra, đánh giá, giám sát hệ thống thông tin và các dịch vụ khác có liên quan.

2. Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn cụ thể việc cung cấp dịch vụ an toàn thông tin.

Điều 42. Phân định cấp độ hệ thống thông tin

1. Phân định cấp độ hệ thống thông tin là việc đánh giá, xác định mức độ quan trọng của hệ thống thông tin đó đối với hoạt động của toàn bộ cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông quốc gia, việc phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước nhằm đưa ra các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin phù hợp.

2. Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phi hợp với Bộ Công an và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quy định về phân định cấp độ hệ thống thông tin, danh mục các hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia, yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin đối với các hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia.

Điều 43. Ứng cu sự cố mạng

1. Ứng cứu sự cố mạng là hoạt động nhằm xử lý, khắc phục sự cố gây mất an toàn thông tin trên mạng.

2. Ứng cứu sự cố mạng được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

a) Nhanh chóng, chính xác, kịp thời, hiệu quả;

b) Tuân thủ quy định điều phối của Bộ Thông tin và Truyền thông;

c) Phối hợp giữa các tổ chức, doanh nghiệp trong nước, quốc tế.

3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, các t chức quản lý, khai thác các hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia có trách nhiệm thành lập hoặc chỉ định bộ phận chuyên trách ứng cứu sự cố mạng (CERT) để chủ động trin khai hoạt động trong phạm vi đơn vị mình và phối hợp với Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT).

4. Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành và tổ chức thực hiện quy định điu phi ứng cứu sự cmạng.

Điều 44. Nghĩa vụ của tổ chc, doanh nghiệp đối với việc bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin

Các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin công cộng trên mạng, doanh nghiệp cung cp dịch vụ trò chơi điện tử có nghĩa vụ sau đây:

1. Triển khai các hệ thống kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin.

2. Hướng dẫn các đại lý Internet, điểm truy nhập Internet công cộng, điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng của doanh nghiệp thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.

3. Bố trí mặt bằng, cổng kết nối và các điều kiện kỹ thuật cần thiết để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Công an.

4. Ban hành và thực hiện quy chế hoạt động nội bộ; quy trình vận hành, khai thác, cung cấp và sử dụng dịch vụ và quy chế phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Công an trong việc bảo đảm an toàn thông tin và an ninh thông tin.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 45. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2013.

2. Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành. Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT ngày 14 tháng 7 năm 2005 giữa Bộ Bưu chính, Viễn thông, Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ Công an và Bộ Kế hoạch và Đầu tư vquản lý đại lý Internet và Thông tư liên tịch s 60/2006/TTLT-BVHTT-BBCVT-BCA ngày 01 tháng 6 năm 2006 giữa Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ Bưu chính, Vin thông, Bộ Công an về quản lý trò chơi trực tuyến (online games).

Điều 46. Tổ chức thực hiện

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch y ban nhân dân các tỉnh, thành ph trực thuộc Trung ương và các tchức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
Nguyễn Tấn Dũng

Phó Thủ tướng Việt Nam thăm Mỹ

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân PhúcÔng Nguyễn Xuân Phúc thăm Mỹ từ 21/8-30/8

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hiện đang dẫn đầu một đoàn của chính phủ Việt Nam thăm và làm việc tại Hoa Kỳ từ 21/8-30/8.

Báo điện tử Chính phủ cho hay chuyến thăm làm việc này của ông Phúc “nhằm tăng cường hơn nữa sự hiểu biết, tin cậy và hợp tác trên tất cả các lĩnh vực với Hoa Kỳ”.

Tuy nhiên, đang có thông tin nói rằng chuyến đi của ông Nguyễn Xuân Phúc còn có mục đích tiền trạm cho một chuyến đi Mỹ trong thời gian sắp tới của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nguồn tin riêng của BBC nói ông Dũng có thể tới New York để tham dự kỳ họp 68 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào cuối tháng Chín, cụ thể là từ 26/9-28/9.

Lịch trình hoạt động của ông thủ tướng, nhất là các cuộc gặp song phương, hiện vẫn còn đang được thảo luận và lên kế hoạch, nguồn tin này cho hay.

Một trong những quan tâm hàng đầu của Việt Nam hiện nay là hoàn tất đàm phán với Hoa Kỳ về việc gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Việt Nam đã nỗ lực vận động chính giới Mỹ ủng hộ cho việc gia nhập TPP, mà theo một số ước tính, khi đi vào hiện thực sẽ giúp Việt Nam tăng thu GDP thêm khoảng 25-26 tỷ đôla.

Hà Nội cũng được cho là có nhiều nhượng bộ trước các đòi hỏi của phía Mỹ nhằm tạo điều kiện thúc đẩy tiến trình này.

Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, nhận xét rằng thái độ “xích lại gần Hoa Kỳ” của ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam dường như trở nên rõ ràng hơn sau sự kiện Bộ Chính trị Đảng CSVN thông qua nghị quyết về hội nhập quốc tế ngày 10/4/2013.

“Nghị quyết này đặt ra ưu tiên hàng đầu cho việc hội nhập kinh tê quốc tế của Việt Nam.”

“Cho tới nay, việc đàm phán TPP vẫn không được công khai rộng rãi. Một số người ở Việt Nam dè dặt về vài vấn đề mà Hoa Kỳ đang gây áp lực với Việt Nam dưới ảnh hưởng của các nỗ lực vận động từ ngành dệt may trong nước Mỹ.”

GS Carlyle Thayer

Theo đó, Đảng CSVN phải nỗ lực đưa ra và thực hiện chính sách “tham gia các khu vực thương mại tự do với các đối tác kinh tế và thương mại quan trọng…”

Ông Thayer cho rằng Việt Nam nhận thức được rằng tham gia TPP là điều kiện cần thiết để kinh tế Việt Nam có thể quay trở lại mức tăng trưởng cao.

“Cho tới nay, việc đàm phán TPP vẫn không được công khai rộng rãi. Một số người ở Việt Nam dè dặt về vài vấn đề mà Hoa Kỳ đang gây áp lực với Việt Nam dưới ảnh hưởng của các nỗ lực vận động từ ngành dệt may trong nước Mỹ.”

Tuy nhiên, GS Thayer nói dường như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quyết tâm thúc đẩy việc mở rộng quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ.

Thăm cấp cao

Mới đây, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đã có chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ từ 24/7-26/7.

Ông Sang đã hội kiến Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Nhà Trắng.

Về mặt nghi thức, việc tổng thống Hoa Kỳ tiếp hai lãnh đạo cao cấp của một quốc gia nhỏ như Việt Nam hai lần trong vòng hai tháng là khó có khả năng xảy ra.

Bởi vậy giới quan sát cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng có lẽ sẽ không đi Washington DC.

Việt Nam và Mỹ mới thiết lập quan hệ đối tác toàn diện trong chuyến đi của Chủ tịch Sang.

Hai bên bày tỏ hy vọng hoàn tất đàm phán TPP trước cuối năm 2013.

Tổng thống Obama hồi tháng Bảy nói ông muốn một quan hệ đối tác với Việt Nam bao gồm gia tăng thương mại, hợp tác quân sự, trao đổi giáo dục và khoa học.

Các chuyến đi của lãnh đạo Việt Nam sang Hoa Kỳ chắc chắn sẽ nhằm tiếp tục phát triển quan hệ đối tác này.

Báo điện tử Chính phủ cho biết thêm trong khuôn khổ chuyến thăm hiện đang diễn ra, “Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và đoàn cao cấp Chính phủ Việt Nam sẽ tham dự Chương trình Lãnh đạo Quản lý Cao cấp Việt Nam tại Đại học Harvard với nhiều chuyên đề bổ ích từ các giáo sư, chuyên gia hàng đầu của Đại học Harvard về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, pháp luật”.

Quyền lực và chuyển đổi kinh tế

Linda Yueh. Phóng viên Kinh doanh của BBC. 20 tháng 8, 2013

Việt Nam đối diện thách thức trong lúc cải tổ kinh tế dường như chậm lại

Các công ty quốc doanh chiếm tới 60% các khoản vay ngân hàng và giữ hơn một nửa các khoản nợ xấu của cả nước.

Sau chừng ba thập niên, nước này vẫn đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, với quyền lực vẫn nằm trong tay Đảng Cộng sản.

Không phải là Trung Quốc, mà là Việt Nam.

Đất nước từng được coi như “Trung Quốc tiếp theo” do sự chuyển tiếp ổn định, nay bắt đầu tạo ra những quan ngại về cuộc khủng hoảng nợ đang dần hiện ra.

Với Việt Nam, sự thống trị của các doanh nghiệp quốc doanh vẫn là vấn đề, tuy đã gần ba thập niên kể từ sau công cuộc “đổi mới” theo định hướng thị trường.

Việt Nam có cùng vấn đề như Trung Quốc, đó là các doanh nghiệp quốc doanh lại chính là nguồn cơn của các khoản nợ xấu có thể nhấn chìm hệ thống ngân hàng.

Việt Nam đã thành lập các công ty quản lý tài sản nhằm nhận các khoản nợ xấu từ các ngân hàng quốc doanh chuyển sang hồi đầu năm nay.

Mô hình Trung Quốc

Đây là điều tương tự như những gì Trung Quốc làm hồi 1999, khi nước này thành lập bốn công ty như vậy nhằm dọn dẹp sổ sách của bốn ngân hàng quốc doanh lớn trước khi mở cửa ngành ngân hàng nhằm tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001.

Thế nhưng vấn đề nằm ở chỗ nợ xấu không chỉ là khoản ghi sổ, mà là dòng lưu thông.

Nói cách khác thì các khoản nợ lũy kế cứ kéo dài trong các doanh nghiệp quốc doanh chính là vấn đề.

“Trung Quốc hồi giữa thập niên 1990 đã có bước đi lớn nhắm cắt bỏ nhiều công ty nhà nước. Một lượng lớn các công ty nhà nước đã bị dẹp, đưa con số từ khoảng 10 triệu xuống còn chưa tới 300.000 công ty vào cuối thập niên này.”

Trung Quốc hồi giữa thập niên 1990 đã có bước đi lớn nhắm cắt bỏ nhiều công ty nhà nước. Một lượng lớn các công ty nhà nước đã bị dẹp, đưa con số từ khoảng 10 triệu xuống còn chưa tới 300.000 công ty vào cuối thập niên này.

Trung Quốc vẫn có mảng quốc doanh lớn, nhưng đã có nỗ lực đáng kể nhằm cắt giảm các khoản nợ xấu bằng cách tăng tính hiệu quả của các công ty được nhà nước hỗ trợ còn lại.

Điều này được thực hiện bằng cách tư hữu hóa từng phần hoặc cổ phần hóa các hãng quốc doanh lớn, kể cả ngân hàng.

Tất nhiên, Trung Quốc đã tạo ra những vấn đề khác cho chính mình khi dùng hệ thống ngân hàng để tài trợ phần lớn cho chính sách thúc đẩy tài chính lớn, qua đó thúc đẩy kinh tế trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hồi 2008.

Việt Nam đã cam kết cải tổ các doanh nghiệp quốc doanh, nhưng tiến độ nhanh tới mức nào thì lại là chuyện khác. Chẳng hạn, Ngân hàng Thế giới nói rằng bất chấp mục tiêu bán cổ phần của 93 công ty nhà nước hồi năm ngoái, việc bán thực sự chỉ được thực hiện tại 12 công ty.

Tiến trình chậm trễ

Câu hỏi đặt ra tại sao việc cải tổ lại diễn ra chậm đến vậy.

Như tôi đã đề cập ở trên, Việt Nam được coi là một Trung Quốc tiếp theo, do sự chậm chạp tương tự trong việc xử lý nền kinh tế.

Đây cũng là một quốc gia tương đối lớn, không đông như Trung Quốc 1,3 tỷ người, nhưng cũng có gần 90 triệu dân, đứng thứ 13 trên toàn thế giới.

Và cũng giống như Trung Quốc, Việt Nam đã quyết định không đi theo hướng “liệu pháp sốc”. Đó là điều mà Liên bang Xô viết trước đây làm khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung hồi giữa thập niên 1990.

Thay vào đó, các quốc gia ở Á châu đã từ từ giới thiệu sức mạnh thị trường, như cho phép các công ty không thuộc sở hữu nhà nước hoạt động, để các chính phủ cộng sản có thể từ từ cải tổ mảng quốc doanh.

Nhìn vào thời gian suy thoái kéo dài cả thập niên mà Nga và các nước Đông Âu phải trải qua sau thời kỳ chuyển đối gấp gáp, có lẽ người ta không mấy ngạc nhiên khi Trung Quốc và Việt Nam có vẻ như đang áp dụng những điều khôn khéo.

Tuy nhiên, có một trở ngại quan trọng cho công cuộc cải tổ ở cả hai nước này.

Người ta có thể lập luận rằng để tiến hành quá trình chuyển đổi gấp gáp sang nền kinh tế thị trường thì một quốc gia cần phải loại bỏ bàn tay kém hiệu quả của nhà nước.

Hệ thống ngân hàng VN đang phải gánh nhiều nợ xấu của các công ty quốc doanh

Quyền lợi được đảm bảo

Nó cũng bao gồm việc ngăn chặn các nhóm lợi ích và các căn cứ quyền lực của những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ việc cải tổ. Họ có thể đón trước được những cải tổ tiếp theo.

Tất nhiên, có những vấn đề trong quá trình chuyển đổi ở Nga và các nước khác, trong đó có cả sự trông chờ không thực tế rằng một nền kinh tế tư nhân sẽ nắm thế chủ đạo một khi nền kinh tế quốc doanh bị gỡ bỏ.

Trung Quốc đã thực hiện điều được gọi là cải tổ “từ dễ đến khó”. Tức là thực hiện các bước cải tổ đơn giản về mặt chính trị trước, chẳng hạn như ưu đãi cho các mặt hàng nông sản trước, và để các vấn đề khó hơn lại, làm sau.

Và những quyền lực mới đã bắt đầu khiến cho các bước cải tổ tiếp theo càng thêm khó khăn.

Với Việt Nam thì việc cải tổ có vẻ như sa lầy do sự bất tài của những người điều hành các công ty nhà nước trong việc tư hữu hóa công ty ít nhất là từng phần, nếu không phải là toàn phần.

Nói cách khác, những người vốn được hưởng lợi từ việc thị trường hóa nền kinh tế nay đang kẹt trong các công ty làm ăn kém hiệu quả của mình, tạo gánh nặng cho hệ thống ngân hàng.

Nợ chính phủ của Việt Nam hiện chiếm khoảng 50% GDP, và đáng nói là có khoảng 37% là nợ nước ngoài.

Rồi khi các khoản nợ của các công ty nhà nước được cộng vào thì tổng nợ tăng gấp đôi, lên mức 100%. Đó là những con số thống kê làm gióng lên những hồi chuông báo động về nguy cơ khủng hoảng.

Để tránh khủng hoảng, Việt Nam cần phải cắt bỏ gánh nặng từ các công ty nhà nước, đồng thời cần đẩy nhanh việc tư hữu hóa.

Mà để làm được những điều đó, người ta cần đối phó với những nhóm lợi ích thủ cựu.

Với những nước áp dụng cải tổ, bài học là cải tổ chỉ thành công khi người ta đụng đến không chỉ vấn đề năng suất mà cả quyền lực. Với Việt Nam, đó có lẽ là một bài học khó nhằn.

Phóng viên Linda Yueh vừa thăm Việt Nam và thực hiện Bấm loạt phóng sự về kinh tế Việt Nam trong tháng Tám.

Việt Nam: Nợ xấu bất động sản dẫn đến khủng hoảng kinh tế ?

Thụy My, rfi

Một công trường xây dựng ở Hà Nội, 22/05/2011

Một công trường xây dựng ở Hà Nội, 22/05/2011. Reuters

Gần đây báo chí trong nước đã tỏ ra bất ngờ về tỉ lệ nợ xấu bất động sản, có thể lên đến 33-35% dư nợ thuộc lãnh vực này. Các con số thống kê của nhiều cơ quan khác nhau đưa ra chênh lệch cho đến nỗi, dư luận hết sức lo ngại nếu không đánh giá đúng tình hình, thì không thể nào đưa ra quyết sách đúng đắn, dẫn đến những hậu quả nặng nề cho đất nước.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với Tiến sĩ Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề trên.

RFI : Xin chào Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã vui lòng dành thì giờ cho RFI Việt ngữ. Anh nhận xét như thế nào về tỉ lệ dư nợ bất động sản có nhiều con số khác nhau, mà theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) thì lên đến 33-35% dư nợ ?

TS Phạm Chí Dũng : Con số của UBGSTCQG là một con số bất ngờ và đột biến, tức là đến 33-35% là nợ xấu trong dư nợ thuộc lĩnh vực bất động sản. Con số này được công bố lần đầu tiên, phát lộ vào năm 2013. Điểm hết sức đặc biệt là con số của ủy ban này lại hoàn toàn trái ngược với số báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 5/2013 chỉ là 5,68%.

Như vậy là, ngay giữa hai cơ quan quản lý mà độ chênh biệt của hai con số đã lên đến 6 lần. Sự khác biệt chưa từng thấy này nói lên điều gì? Nó làm cho người ta có cảm giác Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt của những vấn đề nhạy cảm kinh tế – chính trị đang có chiều hướng bắt buộc bị bạch hóa dưới ánh sáng mặt trời.

Những quan chức can đảm của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã bạch hóa thế này: dư nợ bất động sản và và nợ xấu bất động sản thực chất cao hơn nhiều so với số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng. Và khi một tổ chức của chính phủ phải công bố điều đó, tức tình hình tài chính – bất động sản đang rất nguy ngập rồi.

Cần nhắc lại, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng đã có một báo cáo rất chi tiết về các ngân hàng dính dáng đến nợ xấu và nợ xấu bất động sản vào cuối năm 2011. Song khi đó, con số nợ xấu ở nhiều ngân hàng mới chỉ dừng ở mức 10-15% thôi – như vậy đã gọi là cao rồi. Tất nhiên, nhiều ngân hàng vẫn cố giấu kín thực chất nợ xấu của họ. Những gì còn lẩn khuất trong bóng tối vẫn cố thu mình.

Nhưng sau công bố của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã làm cho công luận cùng giới bất động sản trong nước kinh ngạc và cho là sát thực tế hơn nhiều các cơ quan khác, bầu không khí số liệu lại trở về thói quen khép miệng của nó. Vào tháng 8/2013, Bộ Xây dựng lại nêu ra một con số mới về tỉ lệ nợ xấu bất động sản chỉ có 6,5% – tức là có cao hơn báo cáo của Ngân hàng Nhà nước gần 1%. Rõ ràng, người ta vẫn quyết tâm phong tỏa số liệu nhằm bưng bít một cuộc khủng hoảng bất động sản – ngân hàng rất có thể sẽ xảy ra.

RFI : Năm 1997, Thái Lan cũng đã bị khủng hoảng tài chính và cũng có nợ xấu như Việt Nam bây giờ. Liệu Việt Nam có đang tái lập kịch bản của người Thái?

TS Phạm Chí Dũng : Có thể. Không khí trái ngược giữa các con số báo cáo và con số thực về nợ xấu ở Việt Nam rất dễ làm người ta nhớ lại trường hợp Thái Lan năm 1997. Trước khủng hoảng, tỉ lệ nợ xấu bất động sản tại quốc gia này được báo cáo chỉ có 5%, nhưng đến khi xảy ra khủng hoảng thì tỉ lệ này đã tăng vọt đến 50%, tức gấp đúng 10 lần.

Chính người Anh đã cung cấp cho giới điều hành mơ màng của Việt Nam cái minh chứng không hề mơ màng đó. Vào đầu năm 2013, John Sheehan – thành viên của tổ chức giám định bất động sản Hoàng gia Anh (FRICS), đã có một chuyến thăm Việt Nam, và đã cung cấp một kinh nghiệm là tỉ lệ nợ xấu thực bao giờ cũng cao gấp ít nhất 4 lần con số báo cáo.

Trong thực tế điều hành và của điều được gọi là “minh bạch hóa” số liệu ở Việt Nam, tỉ lệ nợ xấu được báo cáo thường dao động chỉ từ 6-10%. Nhưng vào cuối năm 2011, trong khi giới chuyên gia bất động sản bắt đầu nói toạc ra rằng có đến 50% nợ bất động sản là nợ khó đòi hoặc không thể đòi được, thì giới ngân hàng cũng bắt đầu thầm thì về chuyện có đến phân nửa nợ xấu ở các ngân hàng A, B nào đó là không thể đòi được.

Có đến hàng chục ví dụ cho những lời phát ngôn hoặc báo cáo mang tính bất nhất hoặc thiếu trung thực của các bộ ngành liên quan ở Việt Nam, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, khiến người dân và giới bình luận kinh tế quốc tế hầu như không thể có nổi một chút niềm tin bền vững vào cái thực trạng mà người ta gọi là “giả số liệu”.

Người Thái hay người Philippines trong cùng khu vực Đông Nam Á là những bài học nhãn tiền cho Việt Nam. Do phủ nhận sự minh bạch trong kiểm soát thị trường, họ đã phải nhận lãnh tai họa.

RFI : Việc thiếu minh bạch thì lâu nay Việt Nam vẫn bị chỉ trích. Không biết là có mối liên hệ nào giữa tính minh bạch ấy với việc Việt Nam đang chuẩn bị tham gia Hiệp định TPP?

TS Phạm Chí Dũng : Chắc chắn là có, vì tính minh bạch là một trong những điều kiện đầu tiên để Việt Nam có thể tham gia TPP. Nhưng ở Việt Nam thì thái độ thiếu minh bạch đã phải trả giá. Sự chênh lệch giữa các số liệu của nền kinh tế Việt Nam đã góp một phần rất ấn tượng làm chậm bước tiến vào vòng chung kết TPP của chính nền kinh tế quốc gia này.

Chẳng hạn, trong khi số liệu báo cáo của chính phủ Việt Nam về nợ công quốc gia chỉ là 55%, thì các phản biện của giới chuyên gia độc lập lại lộ liễu hơn nhiều. Tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng 4/2013 tại Nha Trang, một số chuyên gia phản biện người Việt ở Ba Lan đã tính toán tỷ lệ nợ công quốc gia lên đến 95%. Ngay lập tức con số này nhận được sự đồng cảm của khá nhiều chuyên gia và cả quan chức Việt Nam. Trước đó vào cuối năm 2012, phản biện đối với báo cáo nợ công của chính phủ, ông Vũ Quang Việt, cựu chuyên viên tài chính của Liên Hiệp Quốc, đã tính toán về tiêu chí nợ nần này lên đến 106%.

Minh bạch lại là một trong những điều kiện tiên quyết để Việt Nam được tham dự vào bàn ăn TPP. Cho dù lộ trình thông qua TPP đối với Việt Nam đã được nước chủ nhà là Hoa Kỳ hứa hẹn “có thể sớm nhất vào cuối năm 2013”, nhưng giới quan sát quốc tế có lẽ đã thừa trải nghiệm để hiểu rằng TPP không chỉ gắn với điều kiện minh bạch về thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, mà còn liên hệ mật thiết với các điều kiện về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

Còn trong lĩnh vực bất động sản, vẫn có thêm những minh họa khác về tính bất nhất. Trong khi những báo cáo được công bố hầu như liên tục của Bộ Xây dựng chỉ cho thấy con số tồn kho căn hộ vào khoảng 40.000 căn, thì con số thống kê của một số hãng tư vấn bất động sản quốc tế có văn phòng ở Việt Nam như CBRE hay Savills lại xác thực hơn nhiều. Nhìn chung, có thể đang tồn đến 200.000 căn hộ thuộc các phân khúc, trong đó có đến 70% thuộc về phân khúc cao cấp và trung cấp. Một số chuyên gia và doanh nhân bất động sản cũng xác nhận có đến chừng đó căn hộ đang tồn kho ở Việt Nam.

Một lần nữa, tính chênh lệch của số liệu báo cáo đã lộ diện: con số tồn kho nhà đất thực tế cao gấp 5 lần số báo cáo. Nếu so lại hai con số chênh nhau đến 6 lần về nợ xấu bất động sản giữa Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia với Ngân hàng Nhà nước thì mọi chuyện đều rất logic.

Logic đến nỗi mà nếu cuối năm nay Việt Nam được gia nhập TPP với tính minh bạch tồi tệ như hiện thời, nhiều người dân và giới bình luận sẽ nhìn rõ một sự phi logic không thể hiểu nổi.

RFI : Khi các con số khác biệt quá lớn như vậy thì thị trường bất động sản Việt Nam thực chất đang trong tình trạng như thế nào?

TS Phạm Chí Dũng : Tôi xin nêu một minh họa để đối chứng. Chuyên gia người Anh John Sheehan đã dành cho thị trường bất động sản Việt Nam một lời bình đặc biệt: “Tôi chia thị trường thành ba giai đoạn: sau khi xảy ra khủng hoảng gọi là giai đoạn phủ nhận, thường khoảng 2 năm; giai đoạn xử lý vấn đề nợ xấu mất khoảng 4 năm; cuối cùng là khi thị trường phục hồi, mất chừng 6 năm. Việt Nam đang ở nấc “phủ nhận””.

Một cách chính xác, thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn “phủ nhận” với việc người tiêu dùng mất niềm tin và quay lưng với thị trường. Nếu không vượt qua được hai năm 2013-2014 và không giải quyết được ít nhất một nửa núi hàng tồn kho căn hộ cao cấp và trung cấp, chưa cần hết giai đoạn phủ nhận sẽ có không biết bao nhiêu đại gia bất động sản phải chính thức ký vào “bản án tử hình” dành cho mình. Sông Đà, Vinaconex, Hoàng Anh Gia Lai, Quốc Cường Gia Lai, Phát Đạt… đều là những cái tên một thời danh giá, nhưng cho đến giờ đều thật khó để hình dung về thân phận của họ sẽ ra sao nếu thị trường không được “giải cứu”.

Muốn giải phóng núi căn hộ tồn kho đến 200.000 căn hộ, thị trường bất động sản Việt Nam có thể phải kiên tâm chờ đợi đến hàng chục năm, nếu quả thực nó muốn chờ và có thể làm được điều đó.

Nhưng kết quả thời gian đến hàng chục năm như vậy lại hoàn toàn có thể khiến thị trường… tự sát.

Bởi nửa đầu của năm 2013 đã trôi qua mà hệ số tiêu thụ căn hộ vẫn hầu như không nhích lên được bao nhiêu. Nếu vào năm 2012 hệ số này chỉ khoảng 5-10% theo thống kê của những hãng tư vấn bất động sản có uy tín, tình hình trong nửa đầu năm 2013 tuy có chuyển biến đôi chút song vẫn là quá ít so với những kích thích tố được tung ra từ phía Nhà nước và sự cố gắng của các doanh nghiệp bất động sản.

Các ngân hàng cũng vì thế đang rơi vào chính cái bẫy do họ giương ra từ năm 2011. Họ đã bắt các doanh nghiệp sản xuất và cả nền kinh tế trở thành con tin, nhưng cuối cùng chính họ cũng không thoát khỏi cái vòng kim cô tham lam vô cùng tận.

RFI : Như vậy số phận của các ngân hàng sẽ như thế nào, liệu có chết theo lãnh vực bất động sản hay không ?

TS Phạm Chí Dũng : Rất có thể. “Trạng chết, Chúa cũng băng hà”, ngân hàng sẽ không thoát khỏi nghiệp chướng mà họ là một tác nhân gây ra.

Giữa năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã bắt buộc phải một lần nữa “tái cơ cấu nợ vay” cho các doanh nghiệp bất động sản, chuyển nhóm nợ từ xấu sang nhóm đỡ xấu hơn, và do vậy các ngân hàng vẫn còn thời gian để thu xếp việc thanh toán với con nợ đến giữa năm 2014, chứ không nhất thiết phải siết nợ thẳng thừng.

Dù cố giấu diếm, nhưng từ gần giữa năm 2012, khối ngân hàng thương mại cổ phần đã bắt đầu phải tiết lộ về những con số nợ vay bất động sản, và sau đó vấn đề này trở thành một làn sóng rộng khắp các ngân hàng, biến thành tiếng kêu cứu ai oán của nhóm lợi ích đậm đặc này.

Vào thời điểm tháng 4/2012, số nợ vay được tái cơ cấu là 250.000 tỉ đồng. Nhưng mà trong hơn một năm qua, điều đáng buồn là chẳng ai làm được phần “hậu sự” cho các ngân hàng lẫn con nợ. Thậm chí nợ vay còn tăng thêm khoảng 20.000 tỉ đồng, đưa con số hiện thời lên khoảng 272.000 tỉ đồng.

Nếu ngân hàng – chủ nợ lớn nhất của bất động sản – còn phải lâm vào vòng túng quẫn, người ta có thể hình dung tình thế đã trở nên bĩ cực đến mức nào. Những con số và tỉ lệ nợ xấu về bất động sản cho đến nay vẫn liên tiếp nhảy múa mà chưa chịu dừng chân. Cái chết đã lộ hình ở phía trước con đường.

RFI : Theo anh hậu quả sẽ ra sao?

TS Phạm Chí Dũng : Hậu quả chưa hẳn xảy ra tức thì đối với giới ngân hàng, nhưng đã hiện hữu đối với giới chủ đầu tư. Vào cuối năm 2011, hàng loạt vụ bể tín dụng đen bất động sản đã xảy ra ở Hà Nội, sau đó lan ra một số tỉnh thành khác. Vào giữa năm 2013, giám đốc doanh nghiệp Vĩnh Hưng, được xem là một trong những đại gia kinh doanh bất động sản ở Hà Nội, đã bị bắt liên quan đến những bê bối về nợ nần, và đây là một vụ rúng động.

Câu hỏi đang được rốt ráo đặt ra là sau vụ Vĩnh Hưng, liệu có xảy ra những cú đổ vỡ nào khác? Và liệu có xảy ra một làn sóng dây chuyền đổ vỡ liên quan đến nhiều doanh nghiệp bất động sản, tất yếu kéo theo một số nhà băng liên quan về nợ vay?

Dĩ nhiên với nhiều chủ đầu tư bất động sản ở Việt Nam, đây là một thời buổi kinh hoàng, thời buổi mà họ chỉ “mong một cuộc sống không nợ nần”.

Vào năm 2011, báo chí bắt đầu đề cập những câu chuyện về đại gia chứng khoán phải tự tử hoặc nhập viện tâm thần vì thiếu nợ hoặc phá sản. Còn đến năm 2012, câu chuyện tương tự được tiếp nối với một số đại gia bất động sản. Hiện tượng xã hội đặc thù này đang như khuấy động một cơn khủng hoảng sắp tới ở Việt Nam.

Còn giờ đây, hiện tượng đang trở thành bản chất khi khó có thể kềm giữ những gì sẽ phải phát nổ.

Khác nhiều với thị trường bất động sản Mỹ và cũng khác khá nhiều với thị trường nhà ở Irland với nguồn cung tồn kho hạn chế, bất động sản Việt Nam đã ở vào thời kỳ cầm cự cuối cùng. Theo rất nhiều dự báo, thời kỳ đó sẽ không thể kéo dài đến hết năm 2014.

RFI : Không biết so sánh liệu có khập khiễng hay không, nhưng anh có thể nêu vài so sánh giữa thị trường bất động sản Việt Nam và Mỹ?

TS Phạm Chí Dũng : Có một “đồng pha” rất rõ trong “quan hệ bang giao” giữa hai thị trường bất động sản Mỹ và Việt Nam. Phất lên vào năm 2006 và đạt đỉnh vào năm 2007, thị trường nhà ở Mỹ đã có mức giá cao gấp đôi so với năm 2000. Còn với Việt Nam, tuy sóng nhà đất cũng đồng pha với Mỹ về thời gian và kể cả thời điểm, nhưng chuyện tăng giá thì hơn Mỹ nhiều, và có thể nói là theo đuôi…Trung Quốc. Đó chính là việc giá nhà ở tại Bắc Kinh đã tăng đến 800% chỉ trong 5 năm từ 2003 đến 2007. Trong khi đó, giá nhà đất ở Việt Nam cũng không hề kém cạnh, bốc lên tương đương với mức tăng chẵn một chục lần của giá vàng trong nước từ năm 2000 đến 2011.

Một “đồng dạng” khác là từ năm 2007 đến nay, chỉ số giá nhà đất S&P/Case-Shiller của Mỹ đã giảm khoảng 25-30%, trong khi mức giảm này cũng được các quan chức ngành xây dựng Việt Nam “định giá” cho mặt bằng giá nhà đất tại đây. Và gần đây hãng tư vấn bất động sản Saville ở Việt Nam cũng đã tính là giảm khoảng 30%. Dĩ nhiên với trường hợp thị trường ở Việt Nam, phần lớn các con số thống kê chỉ mang tính tương đối, thậm chí nặng về cảm tính và độ tin cậy là rất đáng nghi ngờ. Hiện tượng “loạn số liệu tồn kho bất động sản” diễn ra trong thời gian gần đây là một minh chứng hùng hồn.

Đúng ra, thị trường nhà ở Mỹ đã hồi sinh trước thị trường bất động sản Việt Nam ít nhất một năm rưỡi, tính đến giờ phút này. Từ cuối năm 2011, cùng với việc nền kinh tế Mỹ tiếp nhận những kết quả bắt đầu khả quan, số lượng nhà phát mãi của Mỹ cũng bắt đầu xuất hiện tín hiệu giảm, trong khi số nhà khởi công mới dần tăng lên. Đà tăng răng cưa này đã diễn biến lặng lẽ trong suốt năm 2012, để đến cuối năm ngoái, giới phân tích Mỹ đã chính thức xác nhận rằng thị trường nhà ở quốc gia này đã chính thức “thoát khỏi suy thoái”.

Khác hẳn với Việt Nam, thị trường nhà ở Mỹ không hề có bong bóng, cho dù các đảng phái ở quốc gia này thỉnh thoảng vẫn nhắc lại từ ngữ bóng bẩy đó như một ẩn ý chính trị đối với đảng cầm quyền. Bất chấp số nhà ở bị niêm phong và đưa vào diện phải phát mãi là “khủng khiếp” trong năm 2008, chính sách tài chính hơn 900 tỉ USD của chính phủ Mỹ đã bắt đầu tỏ ra hiệu nghiệm. Tình trạng trì trệ lui dần.

Tới nay, 87% các thành phố ở Mỹ có giá nhà tăng, dẫn đầu là Sacramento thuộc bang California và Atlanta thuộc bang Georgia với mức tăng 39%, tiếp đó là Fort Myers thuộc bang Florida 36%, Reno thuộc bang Nevada tăng 33%, và Las Vegas thuộc bang Nevada tăng 31%. Đó cũng là lý do vì sao các chỉ số chứng khoán Mỹ tăng tiến không ngưng nghỉ trong thời gian gần đây.

Nhưng với thị trường bất động sản Việt Nam lại hoàn toàn khác. Khoảng thời gian cuối năm 2011 chỉ là khởi đầu cho tan vỡ. Còn nguyên năm 2012 lại chứng kiến sự thê thảm không khác gì tình trạng vỡ bong bóng. Tuy không phải tất cả các phân khúc, nhưng chỉ riêng chuyện gần 200.000 căn hộ các loại tồn kho từ Bắc vào Nam đã là một cái gì đó không thể cứu vãn nổi.

Lúng túng và chậm lụt, các cơ quan và chính sách “giải cứu” thị trường bất động sản ở Việt Nam đã không làm được một việc gì có ý nghĩa từ năm 2010, khi tình trạng nợ xấu bất động sản vẫn chưa quá xấu, và cho đến nay – vào lúc mọi chuyện đã trở nên cám cảnh đến mức có giám đốc công ty kinh doanh nhà đất phải ra đường bán trà đá.

Tình hình như thế đã cho thấy thị trường bất động sản Việt Nam nói riêng và nền kinh tế của nước này nói chung đã bị lệch pha rất lớn so với đà phục hồi thị trường nhà đất và nền kinh tế Mỹ. Điều đó cũng cho thấy sức khỏe của nền kinh tế Việt Nam đã rất yếu ớt, như một người bệnh thâm căn cố đế và không còn sức đề kháng trước cơn ung thư di căn đang hoành hành.

Nếu không giải quyết được nợ xấu bất động sản, nền kinh tế Việt Nam sẽ không có khả năng nào đối ứng với hiệp định TPP, cho dù có được chấp nhận tham dự vào bàn tiệc này.

RFI : Vậy theo anh thị trường bất động sản Việt Nam mất bao lâu mới có thể phục hồi được?

TS Phạm Chí Dũng : Như phân tích của một tổ chức nghiên cứu quốc tế, thị trường nhà ở Mỹ đã phải mất hơn 6 năm kể từ khi khủng hoảng để phục hồi trở lại, cũng như phải mất hơn 4 năm kể từ khi các chính sách giải cứu được áp dụng rộng rãi để thị trường tăng trưởng trở lại.

Còn với thị trường và cơ chế ở Việt Nam thì sao?

Một số nhà phân tích nêu ra một cách nhìn lạc quan hơn, căn cứ vào tính chu kỳ trong lịch sử vận động của thị trường bất động sản Việt Nam tính từ năm 1995. Khởi phát từ năm đó, thị trường này đã sôi trào vào năm 1997, để sau đó lần đầu tiên rơi vào suy thoái trong khoảng 4 năm. Đến năm 2001, bất động sản Việt Nam lại một lần nữa bật dậy. Chu kỳ tiếp theo chìm lắng suốt từ năm 2002 đến năm 2006. Như vậy, tính bình quân cho khoảng lắng giữa các đợt tạo sóng là thời gian khoảng 5 năm.

Cho đến nay, đã 6 năm trôi qua kể từ năm 2007, vượt hơn cả một chu kỳ suy thoái trong dĩ vãng. Nếu theo cách suy diễn này, thị trường tất nhiên có đầy đủ cơ sở để phục hồi.

Tuy thế, làm sao để tạo “sóng” lại là một câu chuyện hoàn toàn lạ lùng và có lẽ còn trở nên dị hợm trong bối cảnh đương đại, khi trong 20 năm qua, giá nhà đất tại những thành phố lớn trên cả nước đã tăng đến 100 lần. Như vậy những người có nhu cầu thực tế về nhà ở sẽ nhìn vào cái cấp số nhân đó để tính toán cho phép thử cung – cầu trên thị trường hiện nay.

Đó cũng là tất cả những gì mà hệ quả của nợ xấu đang tác động, và trở thành tác động có tính quyết định.

Với tất cả những gì bất cập đến mức không thể chấp nhận trong lịch sử tồn tại của thị trường bất động sản, không ai có thể trả lời được câu hỏi sẽ mất bao lâu để phục hồi nó.

Chỉ biết rằng nếu bất động sản không được “siêu thoát” trong năm nay và cùng lắm trong năm sau, không biết nền kinh tế còn bị “phủ nhận” đến bao giờ.

RFI : Nếu dùng từ của anh là nền kinh tế bị “phủ nhận”, liệu xã hội Việt Nam liệu có lâm vào một cuộc khủng hoảng?

TS Phạm Chí Dũng : Rất có thể. Hiện thời, giới điều hành đầy quan liêu cùng các nhóm lợi ích ở Việt Nam đang phải đối diện với một phương trình có quá nhiều ẩn số.

Muốn giải quyết nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng thì phải xử lý tồn kho nói chung và tồn kho bất động sản nói riêng; muốn xử lý tồn kho bất động sản lại phải làm tăng tổng cầu và niềm tin tiêu dùng cho nền kinh tế. Nhưng ai cũng biết rằng muốn tăng tổng cầu kinh tế thì phải bơm tiền, trong khi nguồn tiền đang có dấu hiệu cạn kiệt do bị tồn kho và không giải quyết được nợ xấu. Chưa tính tới yếu tố bơm tiền hoàn toàn có thể sinh ra lạm phát…

Đây chính là một cái vòng luẩn quẩn mà sẽ dẫn tới “thời điểm Minsky” – tức thời điểm nền kinh tế phải chịu cảnh đổ vỡ dây chuyền, bắt đầu từ khối doanh nghiệp con nợ và ngân hàng chủ nợ không thu hồi được các món nợ, dẫn tới khả năng sụp đổ kinh tế.

Theo một số chuyên gia phản biện độc lập như Bùi Kiến Thành và Nguyễn Trí Hiếu, triển vọng giải quyết tồn kho bất động sản sẽ rất chậm và phải kéo dài ít nhất 4-5 năm. Nhưng ngay trong ngắn hạn năm 2013 và năm 2014, tình trạng nợ khó đòi của các doanh nghiệp bất động sản lại luôn có thể tạo nên sang chấn bùng vỡ cho giới ngân hàng chủ nợ, mà có thể kéo theo một làn sóng sụp đổ dây chuyền giữa một số ngân hàng lớn.

Nếu không thể giải quyết núi tồn kho bất động sản vào thời hạn “Minsky” giữa năm 2014, hoặc chậm lắm đến cuối năm 2014, rất nhiều khả năng nợ xấu bất động sản sẽ làm bùng vỡ nợ xấu quốc gia và đẩy các ngân hàng vào thế tồn vong. Thế tồn vong đó cũng có thể gây tác động tiêu cực không nhỏ đến chân đứng của một nền chính trị vốn đang chịu nhiều xáo động.

Nếu không tự thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của mình, nền kinh tế Việt Nam sẽ có nhiều triển vọng rơi vào một cơn khủng hoảng mới còn ghê gớm hơn cả khủng hoảng 2008 và đợt suy thoái kéo dài suốt ba năm qua. Khủng hoảng kinh tế lại rất dễ dẫn đến khủng hoảng xã hội – một phạm trù vốn đã tiềm ẩn nhiều mầm mống được thể hiện trên nhiều đường phố. Khi đó, liệu một chính khách cao cấp nào – tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng – có thể dám chắc là không xảy ra một cơn địa chấn về chính trị?

RFI : Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Ô.Thái Văn Cầu: Đảng Cộng sản VN nên chấp nhận cạnh tranh chính trị

Thụy My, RFI

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130820-dang-cong-san-viet-nam-nen-chap-nhan-canh-tranh-

REUTERS/Kham

Bài viết của luật gia Lê Hiếu Đằng mang tựa đề « Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh », cũng như phần trả lời phỏng vấn RFI ngày 12/08/2013 với tựa đề « Cần cho lập thêm các đảng đối lập với đảng Cộng sản Việt Nam » đặt ra vấn đề đa đảng một cách thẳng thắn, đã được dư luận trong và ngoài nước hết sức chú ý.

Từ Hoa Kỳ, chuyên gia khoa học không gian Thái Văn Cầu đã có nhã ý góp thêm tiếng nói của trí thức Việt Nam ở nước ngoài, trên làn sóng của đài RFI.

 

Chuyên gia Thái Văn Cầu – Hoa Kỳ 20/08/2013  by Thụy My

RFI : Kính chào ông Thái Văn Cầu, chuyên gia khoa học không gian, rất cám ơn ông đã vui lòng tham gia chương trình hôm nay. Được biết ông cũng có một số suy nghĩ về ý kiến gần đây của luật gia Lê Hiếu Đằng ?

Chuyên gia Thái Văn Cầu: Xin chào chị Thụy My. Sau khi đọc bài viết và bài phỏng vấn luật gia Lê Hiếu Đằng về cuộc chiến tranh Việt Nam, về tình hình hiện nay và về con đường đi tới cho dân tộc, tôi trân trọng ý kiến ông đưa ra và xin chia sẻ vài suy nghĩ cá nhân.

Cuộc chiến tranh vừa qua là đề tài nghiên cứu thảo luận sôi nổi trong hơn ba mươi năm nay. Tìm hiểu sự thật, học hỏi lịch sử là một quá trình không ngừng nghỉ, để mỗi thế hệ tránh lặp lại sai lầm trong quá khứ, không để chỉ trích lên án. Nhất là khi sự chỉ trích dẫn đến mất đoàn kết – một điều rất cần phải có để giải quyết các vấn đề cực kỳ khó khăn của đất nước.

Tôi trích dẫn một câu nói trong bài viết của luật gia Lê Hiếu Đằng từ một bí thư đảng ủy. Ông nói rằng: « Chúng ta chiến đấu, xét đến cùng là vì con người ». Câu nói này cho thấy cuộc chiến đấu của luật gia Lê Hiếu Đằng, của những người cùng lý tưởng, cùng thế hệ với ông sẽ được tiếp tục một cách kiên quyết và mãnh liệt.

RFI : Nhưng thưa ông, những nhà hoạt động dân chủ hiện nay xuất thân có khác nhau, và tuy ông Lê Hiếu Đằng kêu gọi đoàn kết, nhưng vẫn còn những ý kiến săm soi những người đến từ “bên này” hay “bên kia”…

Về vấn đề yếu tố lịch sử, thì trong bao nhiêu năm nay đã có nhiều bài viết, nhiều thảo luận về công, tội của Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Hồ Chí Minh…Khi được bạn bè hỏi ý kiến, tôi cho biết tôi tin tưởng là thế hệ 2075, tức là đúng 100 năm sau khi đất nước thống nhất, sẽ có đánh giá đúng đắn hơn về vai trò của những người lãnh đạo đất nước trong hai cuộc chiến vừa qua.

Trong giai đoạn hiện nay, vì tương lai của con cháu, chúng ta phải tập trung giải quyết các nan đề của đất nước. Bằng không, tôi nghĩ là sẽ không có một ngày 30 tháng Tư năm 2075 trên quê hương Việt Nam cho con cháu chúng ta để mà nhìn lại.

Một đề tài nữa tôi muốn nói hôm nay là về quan hệ Việt-Trung. Có ý kiến cho rằng Việt Nam là nước nhỏ, ở sát bên Trung Quốc hùng mạnh, to lớn, lại đầy tham vọng bá quyền bành trướng. Do không di chuyển đi nơi khác được, Việt Nam cần khéo léo, nhún nhường, tránh mất lòng Trung Quốc để Việt Nam có được hòa bình, thúc đẩy phát triển.

Các điểm sau đây cho thấy ý kiến trên thiếu tính khách quan hoặc không phản ánh thực tế. Trước hết, trong 14 nước láng giềng với Trung Quốc, về dân số Việt Nam đứng hàng thứ tư, và về thu nhập bình quân đầu người thì Việt Nam đứng thứ sáu, dựa vào ước tính năm 2011.

Kế đến, với bờ biển dài hơn 3.000 km, với hơn 10 triệu hecta rừng, Việt Nam có lợi thế thiên nhiên hơn nhiều nước láng giềng của Trung Quốc. Nói một cách khác, Việt Nam không là nước nhỏ!

Lấy một trường hợp điển hình thôi là nước Mông Cổ. So sánh về dân số, về tài nguyên thiên nhiên, Mông Cổ thua Việt Nam rất xa, nhưng vẫn có lối đi độc lập. Gần đây có Miến Điện, cũng phụ thuộc, cũng có mối quan hệ lâu dài với Trung Quốc. Thế nhưng một khi lãnh đạo Miến Điện thấy rằng đã đến lúc cần phải đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết, thì họ vẫn sẵn sàng có những hành động độc lập với ý muốn của Trung Quốc.

Do đó lập luận trên chỉ là ngụy biện, che chở cho sự thiếu hiểu biết, hèn yếu của một số người.

RFI: Về Mông Cổ và Miến Điện thì đã rõ rồi, nhưng có lẽ còn một yếu tố nữa là chẳng may Việt Nam nằm ở vị trí chặn mất đường ra đại dương của Trung Quốc?

Việt Nam nằm ở vị thế chiến lược, Trung Quốc nhiều năm qua tìm cách khuynh đảo Việt Nam là vì vậy. Nhưng không vì thế mà chúng ta sẵn sàng chịu bó tay khi đối đầu với Trung Quốc.

Việt Nam phải ở trong tình trạng hiện nay vì lãnh đạo đa số không có tâm, không có tầm. Họ chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân của họ mà thôi, không đặt quyền lợi đất nước lên trên hết. Nếu họ có tài năng, có bản lĩnh thì cũng sẽ làm được như một số nước khác mà thôi.

Như luật gia Lê Hiếu Đằng nói, đã đến lúc cần đa nguyên đa đảng, cần phải có một xã hội dân sự, để đảng Cộng sản Việt Nam không còn là tổ chức duy nhất quyết định tất cả mọi điều, mà không được kiểm soát bởi các tổ chức khác.

Trong hàng ngàn năm, quá trình dựng nước và giữ nước của Việt Nam sáng ngời với tấm gương của Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…chống kẻ thù phương Bắc. Ngày nay đối chiếu với bài học Bạch Đằng Giang, ải Chi Lăng, gò Đống Đa…mà tiền nhân đã dạy cho phong kiến Trung Quốc, là câu nói quen thuộc của một blogger : « Tàu thì lạ, sự hèn hạ thì quen ».

Thật ra tranh chấp Biển Đông chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, phản ánh mối đe dọa mới của phương Bắc. Có nhiều bài viết, bài phỏng vấn phân tích mối đe dọa của Trung Quốc, mà buổi nói chuyện hôm nay không cho phép chúng ta đi vào chi tiết. Lịch sử thế giới nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng cho thấy sự yếu kém của lãnh đạo và sự thoái hóa trong xã hội của một nước, là yếu tố mời gọi ngoại bang xâm phạm chủ quyền, thôn tính lãnh thổ.

Hơn bao giờ hêt, lãnh đạo Việt Nam cần thể hiện mọi quyết tâm để đối phó với hiểm họa ngoại bang. Cần đánh giá, chấn chỉnh lại toàn bộ quan hệ Việt-Trung. Quan hệ này phải được xây dựng dựa trên quyền lợi của đất nước, không trên quyền lợi của bất cứ đảng chính trị nào.

RFI : Có những lãnh tụ bản lãnh, khôn khéo thì có thể người láng giềng Trung Quốc không dễ làm mưa làm gió như hiện nay…

Tôi nghĩ rằng Việt Nam không thiếu người tài. Ngay trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam, tôi nghĩ cũng có người có tâm, có tầm trong đấy.

Trước ý kiến cho rằng các đại biểu tốt không nên ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam mà phải ở lại để làm cho đảng chuyển hóa, tôi đồng ý với luật gia Lê Hiếu Đằng là khả năng đấy không còn. Nếu còn, thì Việt Nam không rơi vào tình trạng phí phạm hay xuống cấp nghiêm trọng trong quản lý kinh tế, đạo đức xã hội, giáo dục học đường, y tế an sinh, kiến trúc xây dựng v.v… như mọi người chứng kiến.

Một đảng chính trị phải dùng trấn áp, dùng bắt bớ, giam cầm để đối phó với người khác chính kiến là một đảng chính trị không có tương lai, không dựa vào nhân dân để tồn tại.

Cạnh tranh là điều tốt, nó thúc đẩy phát triển theo chiều hướng tích cực trên mọi lãnh vực. Những người có bản lĩnh, có tài năng, biết đặt quyền lợi Tổ quốc, quyền lợi nhân dân lên trên hết trong hàng ngũ lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam không nên lo sợ cạnh tranh chính trị.

Vì vậy mà tôi ủng hộ lời kêu gọi của luật gia Lê Hiếu Đằng. Những người yêu nước trong đảng Cộng sản Việt Nam, một khi thấy đảng không còn là môi trường tốt để cho họ đóng góp, nên công khai tuyên bố rời đảng, để tham gia thành lập đảng chính trị mới – đảng Dân chủ Xã hội.

RFI : Thưa ông, cũng có ý kiến cho rằng không có cơ sở pháp lý để thành lập các đảng chính trị mới ở Việt Nam, ông nghĩ thế nào?

Dưới Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã có đảng Dân chủ và đảng Xã hội hoạt động công khai bên cạnh đảng Cộng sản Việt Nam trong một thời gian dài. Hai đảng này tuyên bố tự giải tán năm 1988.

Một khi Việt Nam là Nhà nước pháp quyền thì không có một cá nhân, một phe nhóm, một đảng chính trị nào được đứng trên luật hay đứng ngoài luật. Sự hiện hữu song song của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng Dân chủ và đảng Xã hội trong hơn 40 năm đã chứng minh được rằng Hiến pháp Việt Nam không ngăn cấm thành lập đảng chính trị.

Trong tuyên bố chung Việt-Mỹ vào tháng trước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama cũng long trọng cam kết trước nhân dân hai nước và trước quốc tế, là lãnh đạo hai nước tuân thủ Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, tôn trọng các quyền tự do phát biểu, tự do biểu tình, tự do thành lập hội đoàn v.v…như được quy định trong Tuyên ngôn.

RFI : Ông hình dung một đảng Dân chủ Xã hội sẽ như thế nào?

Khác với đảng Dân chủ và đảng Xã hội trước đây không dựa vào nhân dân, tôi nghĩ là đảng Dân chủ Xã hội sẽ có điểm tựa là nhân dân. Độc lập, nhưng không nhất thiết là đối lập với đảng Cộng sản Việt Nam, một khi cả hai đảng cùng đặt quyền lợi đất nước lên trên quyền lợi đảng phái, quyền lợi phe nhóm.

Đảng Dân chủ Xã hội sẽ công khai cạnh tranh với đảng Cộng sản Việt Nam trong các cuộc bầu cử công bằng và tự do, hai đảng cử đại diện có tâm và có tầm ra tranh cử để được nhân dân cả nước chọn lựa vào chức vụ lãnh đạo.

Người Việt ở trong nước và ngoài nước nên chúc mừng người thắng cử, bất kể người thắng thuộc đảng phái nào. Thành phần lãnh đạo mới sẽ kết hợp tín nhiệm của nhân dân cùng với bản lĩnh và tài năng của họ để thúc đẩy sự hình thành một xã hội dân sự, một Nhà nước tam quyền phân lập, nhằm sớm đưa Việt Nam ra khỏi bế tắc hiện nay.

Tôi không thể không đề cập đến vai trò của tuổi trẻ Việt Nam, người lãnh đạo tương lai của đất nước. So với thế hệ của luật gia Lê Hiếu Đằng, tuổi trẻ ngày nay gặp không ít khó khăn, nhưng cũng có nhiều quyền lợi. Khó khăn lớn nhất của tuổi trẻ là niềm tin vào lãnh đạo đã bị đánh mất, họ không còn tin cậy những người đó. Tuổi trẻ chứng kiến sự thống trị của lừa dối trong mọi góc cạnh của xã hội, khiến họ cảm thấy lạc lõng và nghi ngờ tất cả.

Nhưng bên cạnh khó khăn là thuận lợi. Trong một nước có hơn 90 triệu người, với khoảng 60% dân số ở lứa tuổi 30 trở xuống, thì Việt Nam là một nước trẻ, có nhiều năng lực, nhiều ước mơ. Với hơn 35% dân số Việt Nam sử dụng internet, tỉ lệ này cao hơn cả Phi Luật Tân hay Thái Lan. Do đó việc tuổi trẻ tiếp cận thông tin, tìm hiểu sự thật không còn là một vấn đề như các thế hệ trước đã gặp phải.

RFI : Theo ông thì tuổi trẻ Việt Nam nên chọn con đường nào?

Có hai con đường trước mắt cho tuổi trẻ Việt Nam. Con đường thứ nhất là tiếp tục giữ thái độ tiêu cực, thụ động, theo chủ nghĩa « mặc kệ nó », không có phản ứng trước các chính sách, các quyết định sai lầm nghiêm trọng của lãnh đạo gây thiệt hại lâu dài, to lớn cho đất nước như đã xảy ra trong 30 năm qua. Con đường này dứt khoát sẽ dẫn tuổi trẻ Việt Nam đến một tương lai ảm đạm, u tối, không sánh được với tương lai của các nước láng giềng hay trên thế giới.

Con đường thứ hai là kiên quyết khẳng định vị thế của tuổi trẻ Việt Nam, tiếp nối lịch sử đấu tranh bất khuất, hào hùng của tiền nhân, vì Tổ quốc, vì dân tộc, như lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam – ông Võ Văn Kiệt tuyên bố ngày nào, tôi xin được trích dẫn ở đây : “Tổ quốc là của mình, dân tộc, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng người cộng sản, hay của bất cứ tôn giáo, phe phái nào cả”.

Việc chọn lựa con đường nào cho tuổi trẻ Việt Nam trở nên rõ ràng hơn, trở nên thôi thúc hơn qua suy nghĩ từ giường bịnh của một người yêu nước.

Một số người trong hàng ngũ lãnh đạo có thể bất tài, hèn yếu, nhưng tuổi trẻ Việt Nam không bất tài, không hèn yếu. Đã đến lúc tuổi trẻ Việt Nam kết hợp lòng can đảm, tính sáng tạo cùng với các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chứng minh điều này bằng hành động cụ thể, khi đối diện với đe dọa, đối diện với thách thức ở trong nước hay từ ngoại bang phương Bắc.

RFI : RFI Việt ngữ xin rất cảm ơn chuyên gia khoa học không gian Thái Văn Cầu ở Hoa Kỳ.

Xin cám ơn Thụy My đã cho tôi có cơ hội chia sẻ.

Công khai thành lập Đảng đối lập – Tại sao? Khi nào?

Tâm-8x (Danlambao)

http://danlambaovn.blogspot.com/2013/08/cong-khai-thanh-lap-ang-oi-lap-tai-sao.html#more

Tâm-8x (Danlambao) – Tin cho hay, trong những ngày chờ dưỡng bịnh, ông Lê Hiếu Đằng (nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam ở TP HCM, đảng viên 45 tuổi) đã khẳng khái: “Cần cho lập thêm các đảng đối lập với đảng Cộng sản Việt Nam.” Nhiều tín hiệu dư luận đánh giá đây là điều tốt và hồ hởi đón nhận, trong đó có ông Hồ Ngọc Nhuận (nguyên là phó chủ tịch UB Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, UB UB TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi ông cho rằng: “Vận hội mới cho nước nhà đã đến… Một chính đảng mới đang được vận động hình thành, với tên gọi tạm là Đảng Dân chủ Xã hội, do ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên cộng sản với 45 tuổi đảng, khởi xướng. Sẽ có hàng trăm, và rồi đây hàng ngàn đảng viên cộng sản đồng loạt khước từ độc tài toàn trị, thành lập chính đảng mới để đấu tranh công khai với Đảng Cộng sản cầm quyền.”

Công khai thành lập Đảng Dân chủ Xã hội – Nên hay không?

Thực sự mà nói, đón nhận tin này đối với tôi là một niềm vui, phấn khởi, là điều đáng mừng. Dù rằng, sự tuyên bố đó được thốt ra ở vị trí “nguyên là…”, tuy nhiên, tôi cho rằng, việc công khai tuyên bố thành lập “một đảng đối lập” là một bước đi khá phiêu, đầy nguy hiểm, không những cho chính người tuyên bố mà cũng gián tiếp gây nguy hiểm cho những người theo nó ở cả trước mắt lẫn lâu dài. Lý do:
– Thời điểm không thích hợp: Sự công khai tuyên bố thành lập đảng phái, phong trào, mạng lưới… trong thời điểm chế độ toàn trị còn mạnh, đặc biệt, khi chế độ đó có sự ưu đãi ngày một lớn với đội ngũ công an mật vụ, khiến cho giai đoạn “công an trị” được hình thành và hoạt động ngày một ráo riết hơn. Tình hình kinh tế – xã hội tuy có nhiều bất ổn, nhưng nó chưa phải là sự bất ổn đỉnh điểm cần thiết khiến người dân (vốn bị tuyên truyền, sợ hãi, lẫn vô cảm) phải quay lưng lại với chế độ và đến với một Đảng phái mới mà họ chưa biết nó đã làm gì, nó như thế nào, và hoạt động của nó ra sao. Do vậy, sự “công khai tuyên bố thành lập” là bước đi chết ngay trong lòng trứng. Nó khiến người tuyên bố lẫn số người đi theo bị tách ra và đàn áp một cách dễ dàng, khiến cho việc tiến hành các hoạt động tiếp theo nếu diễn ra thì chỉ là manh mún, không có liên kết giữa các chủ thể đảng viên, phạm vi đấu tranh chỉ nằm ở nhà và trên mạng internet. Bài học về phong trào Con đường Việt Nam vẫn còn mới mẻ…
– Tính Đảng dân chủ xã hội gần như không có: Dù tuyên bố một Đảng phái do một cựu Đảng cộng sản khởi xướng có thể đem lại niềm cảm hứng thoát Đảng cho một số người, nhưng nó lại gây ra sự hoài nghi cho nhiều người khác (nhất là những ai đã-đang sống ở chế độ toàn trị). Đặc biệt, một đảng phái ra đời phải trên cơ sở: sự nhận thức về tự do-dân chủ của người dân (1); sự phát triển mạng lưới người tham gia & tiến hành các hoạt động thúc đẩy mục tiêu đề ra trong đời sống chính trị – kinh tế – xã hội (2). Trong khi đó, Đảng Dân chủ Xã hội lại ra đời trên cơ sở “tuyên bố, chủ trương” chứ không phải gắn liền với bất kỳ một hoạt động nào mà nó mang tên cả, nghĩa nôm na là Đảng Dân chủ Xã hội đã “tập chạy trong khi chưa bò được”; nó làm cho Đảng này tồn tại trên “tuyên bố” chứ không phải trong thực tiễn đời sống. Nếu như vậy thì làm sao có thể gây dựng được niềm tin mà thu hút được lực lượng người tham gia, đặc biệt là những Đảng viên Cộng sản chấp nhận bỏ Đảng cũ để gia nhập vào Đảng mới cho được? Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa đều không có thì sự ra đời của tổ chức này không chết yểu thì cũng xem là lạ! Và cho dù ông Lê Hiếu Đằng không có chủ ý đi chăng nữa thì vô tình, với sự ra đời “nhanh chóng” trên cơ sở nền tảng gần như chưa-có-gì-cả sẽ vô tình tạo ra cái bẫy cho những ai đang và đã tìm đến hoạt động đấu tranh dân chủ.
Như vậy, sự ra đời của 1 tổ chức Đảng đối lập với ĐCS Việt Nam là NÊN và thực sự bức thiết. Ví dụ, trong lần trả lời BBC Vietnamese gần đây, Phương Uyên đã thẳng thắn thừa nhận rằng: “Tôi thấy trong lòng mình nhen nhóm lên một nhiệt huyết, cần phải cháy hơn nữa, chưa thể dừng ở đây được…” Tôi tin Phương Uyên nói thành thật những điều đó, nhất là sau những chuyện mà cô gái này đã trải qua. Nhưng sự nhiệt huyết của Uyên, Kha hay những người khác… cần được phát huy, nuôi dưỡng trong môi trường với nhóm người đồng chí hướng với cô, môi trường đó dạy bảo cô nên làm gì, sẽ phải làm gì để bảo vệ bản thân – gia đình khi tiến hành đấu tranh mà, làm giảm bớt sự khó khăn về phía chính quyền. Điều này, sẽ trở thành hiện thực nếu Phương Uyên là một thành viên trong một nhóm người, một phong trào, một mạng lưới đấu tranh… ở cả internet và trong đời sống thực tiễn với phương thức hoạt động phù hợp. Như vậy, quá trình đấu tranh sẽ giúp cô gái này vừa có DŨNG, lại vừa có cả MƯU, tạo điều kiện tốt nhất cho sự tranh đấu về tự do, dân chủ và chủ quyền quốc gia – lãnh hải của mình. Nhưng cái tổ chức mà Phương Uyên sẽ học được cái DŨNG, cái MƯU đó là một tổ chức hoạt động nguyên tắc – kỷ luật và có hệ thống đấu tranh (phương pháp, cách thức) linh hoạt chứ không phải là một tổ chức Đảng mang cái tên mĩ miều nhưng ra đời trên sự tuyên bố nóng vội. Đảng phái nào ra đời, mang tên gì cũng đẹp cả, nhưng khi tuyên bố thành lập, Đảng đó phải có một thời gian dài cùng đấu tranh với người dân, liên kết với mạng lưới blogger, các nhóm, phong trào khác trong nước. Đảng đó phải buộc qua cái quá trình tổ chức, hướng dẫn cho những cá nhân, nhóm người đấu tranh từng bước và đảm bảo sự đấu tranh đó được tiến lên, trưởng thành từng bước về mặt tổ chức lẫn người tham gia.

Sự cần thiết ra đời của một tổ chức 

Sự ra đời của một tổ chức dù trong hoàn cảnh lịch sử như thế nào thì đó phải là KẾT QUẢ của sự hoạt động và đấu tranh trước đó chứ không phải là sự ngẫu nhiên. Sự đấu tranh và hoạt động trước đó đi từ xác lập từ từ sự HIỆN DIỆN của tổ chức trong một vùng, thu hút một lực lượng nòng cốt nhất định, mở rộng mạng lưới hoạt động và lượng thành viên để hình thành nên 1 tổ chức – Đảng phái có cách thức hoạt động phù hợp với từng giai đoạn, hoàn cảnh Lịch sử vừa mang tính hệ thống – nguyên tắc – kỷ luật. Điều này giúp xác lập vị trí đứng trong lòng một nhóm dân, một cụm dân, một vùng dân dưới lá cờ chung về mục đích đấu tranh, là trung tâm của sự đoàn kết, hướng về đấu tranh. Đó là nền tảng để tiến trình đấu tranh đi đến thành công trong thực tiễn song song với sự phát triển của tổ chức đó (gắn với sự phát triển của phong trào tự do, dân chủ). Sự ra đời của một tổ chức như thế vừa giúp tránh việc phải đấu tranh lật đổ thể chế xong lại quay sang tranh giành quyền lực đến mức hỗn loạn như ở Ai Cập, hay sự đấu tranh chưa đủ mạnh để lật đổ được thể chế, buộc phải kéo dài và dẫn sang tình trạng chiến sự leo thang, bất ổn xã hội kéo dài như Lybia, vừa tạo động lực mở mang rộng hơn xã hội dân sự (thông qua việc khuyến khích, thúc đẩy các cá nhân, nhóm người hoạt động phản biện, đấu tranh trong xã hội từ thời kỳ thể chế Cộng sản còn tồn tại đến khi chế độ Cộng sản buộc phải chấm dứt).
Dù vậy, mặc cho nền kinh tế có bị suy thoái gần như toàn diện, hay “tài nguyên bị khai thác cạn kiệt và lòng dân quá bất an cùng bất mãn, các nhóm lợi ích lại vẫn tồn tại một cách đầy thách thức và trở thành những ông vua không ngai trên đầu dân nghèo” tiếp tục diễn ra đi chăng nữa và mức độ ngày càng trầm trọng hơn đi chăng nữa thì chẳng có “mùa xuân” nào ở đất nước Việt Nam vì nó thiếu một điều kiện CẦN. Đó là, nếu ngay bây giờ, các hoạt động đấu tranh dân chủ chỉ mới dừng lại ở mức độ tự phát, lấy tiếng tăm lẫn sự ngây thơ về “tinh thần đối thoại với người Cộng sản” mà không chịu hoạch định một kế hoạch lâu dài, có tính thực tiễn, có phương pháp đấu tranh…
 
Và điều kiện cần của nó
Nếu xác định con đường đấu tranh cho tự do, dân chủ ở Việt Nam. Tiến tới thay đổi thể chế chính trị từ độc tài sang đa đảng thì sự tập hợp một lực lượng lớn người cùng nêu lên yêu cầu tự do, dân chủ của mình sẽ buộc nhà cầm quyền phải trả lại quyền lực cho nhân dân. Nhưng muốn làm thế, thì từ ngay bây giờ, các nhóm, các phong trào đấu tranh trong nước trong từng điều kiện khác nhau, với phương pháp đấu tranh khác nhau… phải đảm bảo các điều kiện CẦN và mang tính nguyên tắc như sau:
– Đầu tiên là, tiến hành các hoạt động tuyên truyền nhằm phổ biến các giá trị tự do, dân chủ gắn với nhu cầu, lợi ích thiết thực mà người dân sẽ được hưởng trong từng hoàn cảnh nhất định: Nhiều nhà hoạt động dân chủ hoặc những người kỳ vọng vào tiến trình dân chủ hiện nay trong nước vẫn còn tin rằng, với sự phát triển internet như hiện nay thì chẳng mấy chốc sẽ có một mùa xuân Ả Rập tại Việt Nam. Nhưng họ không biết rằng, sự phát triển của internet chỉ tạo ra một lực lượng tri thức độc lập (được nhà báo Phạm Chí Dũng xem là “nhân tố có thể mang lại thiện cảm với các tổ chức và quốc gia trên thế giới quan tâm đến vấn đề dân chủ, nhân quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam”), số lượng tri thức này không nhiều trong tổng số 86 triệu dân, chưa kể nhóm tri thức độc lập vẫn chưa tìm ra một hướng đi chung để có thể “đồng lòng, đồng tâm” đấu tranh với chế độ. Muốn có sự thu hút, thúc đẩy nhu cầu tự do, dân chủ thì phải mở rộng phạm vi tuyên truyền các giá trị này ở các các tầng lớp người chưa (từng đọc các tin bài trên các trang mạng tri thức độc lập) hoặc hạn chế tiếp xúc với internet (đã đọc nhưng chưa có niềm tin với kiểu nguồn đấu tranh trên mạng) ở vùng nông thôn lẫn thành thị. Chính tầng lớp người này (công nhân, nông dân, tri thức, tư thương…) mới chính là lực lượng xuống đường, tạo đủ lực để làm nên một cuộc thay đổi thể chế chính trị ở nước ta. Khi tầng lớp người này vẫn chưa – hạn chế tiếp xúc với các nguồn tin do các tri thức độc lập chủ trì thì mãi mãi, phong trào đấu tranh dân chủ sẽ ở trong các vòng luẩn quẩn. Lên tiếng – bị đe dọa – bắt – tầm soát – ở nhà – internet – lên tiếng – bị đe dọa… Và sự đấu tranh đó chỉ có tính chất “đánh tiếng” cho nhà cầm quyền và thu hút sự quan tâm của các tổ chức quốc tế chứ nó không đánh động được sự ý thức về quyền tự do – dân chủ (vốn là điều kiện cần để người dân xuống đường) của đại đa số người dân (vốn là điều kiện tiên quyết cho cuộc cách mạng dân chủ). Bài học về sự xuống đường ở Tây Nguyên năm 2001, 2004; vùng Tây Bắc (Mường Nhé, Lai Châu) năm 2010… vẫn còn nóng hổi đấy thôi. Những dân hai vùng này không phải tự nhiên xuống đường mà không có sự thâm nhập, tuyên truyền và chỉ đạo của một tổ chức từ trước đó. Sự nổi dậy và tổ chức nổi dậy này (điển hình là tổ chức FULRO) làm sống dậy “nhu cầu” của nhóm dân khu vực trên.
Vì thế nên, cần tiếp tục đấu tranh trên mặt trận internet, phản ánh kịp thời hiện trạng tình hình kinh tế – văn hóa – xã hội – chính trị và các chủ thể chính trị trong nước. Đưa tin diễn biến quá trình đấu tranh công khai của một số nhà hoạt động, blogger và tìm cách bảo vệ cho các cá nhân đó thông qua truyền tin và đấu tranh tiếng nói với nhà cầm quyền (nhất là với lực lượng Công an- Mật vụ). Ví dụ: Lên tiếng về trường hợp bắt bớ, tạm giam phi pháp của công an; cập nhật kiến thức Pháp luật cho những ai đang và đã đấu tranh đấu tranh. Đặc biệt, cần thiết phải thành lập đường dây truyền bá và phổ biến các thông tin, kiến thức về tình hình kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội của nước nhà đối với bộ phận người dân ở nông thôn lẫn thành thị, chú tâm vào tầng lớp nông dân và công nhân thông qua đội quân tuyên truyền trong dân. Đây là sự “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh” như Phan Châu Trinh và lớp người cùng thời và sau ông (Hồ Chí Minh) đã thực hiện. Hình thành một lớp người hiểu biết về thực trạng đất nước và có nhu cầu đòi hỏi về quyền tự do, dân chủ.
– Thứ hai, trong quá trình đấu tranh, sẽ xuất hiện nhiều nhóm đấu tranh khác nhau, cần tránh sự triệt tiêu mà thay vào đó là sự hợp tác, tìm tiếng nói chung, tiến tới liên kết trong cùng một tổ chức và gắn hoạt động với yếu tố quốc tế: Như những bài trước tôi đã nói, lực lượng người đấu tranh dân chủ ở Việt Nam gần đây tuy xuất hiện nhiều nhưng lại rơi vào tình trạng lẻ tẻ, manh mún, phân tán, giữa các nhóm, phong trào chưa có sự liên kết nào để cùng nhau hoạt động nhằm tạo ra sự hiện diện trong đời sống – xã hội chỉ là sự hiện diện mang tính chất manh mún, dễ bị phân rã. Điều này không khó nhận ra với Phong trào Con Đường Việt Nam, Khối 8406, Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, Nhóm Boxitvn, Tập hợp Thanh Niên Dân Chủ… không có mối liên kết, liên hệ nào, nếu có thì lỏng lẻo, thậm chí đôi khi còn tìm cách bài xích lẫn nhau. Chỉ có Nhóm 258 là bắt đầu nhen nhóm sự hoạt động chung, tạo sự hiện diện và các hành động của nhóm này mang tính nguyên tắc, thực tiễn (yêu cầu xóa bỏ điều 258), trách nhiệm & phổ rộng (gửi đến các tổ chức Quốc tế ở Thái Lan) nhưng vẫn chưa thấy có sự liên kết nào với các nhóm khác. Do mới chỉ là sự nhen nhóm, và sự nhen nhóm này đang gặp phản ứng dập tắt của chính quyền. Nên về lâu dài, nó có phát triển mạnh lên hay không thì đó là một câu hỏi lớn. Tuy nhiên, bài học về tính nguyên tắc – tính thực tiễn và phổ rộng (tổ chức, không gian đấu tranh, nhóm người, phương pháp) trong hoạt động là một bài học lớn cho các nhóm, tổ chức sau này muốn ra đời.
Do vậy, việc tập hợp và đoàn kết lực lượng tri thức trong nước dưới một quan điểm, mục đích đấu tranh chung. Nhất là có tiếng nói chung nhất đối với các vấn đề biển đảo; vấn đề trung quốc; vấn đề tham nhũng; nhóm lợi ích; vấn đề việc làm; môi trường làm việc công nhân; giáo dục – y tế. Bên cạnh đó, nhanh chóng hình thành một các nhóm người tổ chức hoạt động bí mật ở một địa phương nhất định (trọng điểm), tìm kiếm nguồn tài chính hỗ trợ từ trong nhân dân. Đưa người đứng đầu trong tổ chức lãnh đạo, đấu tranh theo tôn giáo; dân oan mất đất; các nạn nhân về hành vi lạm quyền của công an; cơ quan chính quyền; trong công nhân… nhằm tạo ra sự liên kết (kể cả đối với các đảng phái, phong trào đấu tranh ở bên ngoài lãnh thổ). Tạo ra tiếng nói chung, niềm tin chung trong đấu tranh loại bỏ chế độ độc đảng tại Việt Nam.
– Thứ ba, cần nhận thức rõ ràng bản chất chế độ tại Việt Nam khác so với Myamar, hay các nước diễn ra mùa xuân Ả rập: Điều mà những ai đã, đang, sẽ tham gia trong con đường đấu tranh hiện nay đó là sự hiểu biết rõ bản chất “độc tài” cộng sản Việt Nam hiện nay, một chế độ mà được blogger Huỳnh Thục Vy đã có một sự đánh giá cực kỳ chính xác: “Độc tài cộng Sản là một dạng độc tài tinh vi và có hệ thống hơn hẳn dạng gia đình trị và quân phiệt. Họ có một mô hình cai trị sắt máu nhưng mị dân đã được kiểm chứng ‘tính hiệu quả’ trên một diện rộng quốc tế và trong một thời gian dài. Với hệ thống mật vụ đặc trưng của mọi chế độ cộng sản, chính quyền Việt Nam có thể kiểm soát tất cả hoạt động và quan hệ trong xã hội. Sự len lỏi và khống chế toàn bộ xã hội của hệ thống an ninh làm biến dạng mọi mối quan hệ thông thường. Sợ hãi và thiếu niềm tin lẫn nhau làm cho các cá nhân tồn tại rời rạc, thiếu hẳn những gắn kết cộng đồng, đặc biệt là trong những vấn đề liên quan đến chính trị.” Chưa kể, chế độ Cộng sản Việt Nam đã tồn tại qua thời điểm Đông Âu và Liên Xô sụp đổ; nghĩa là nó đã tiếp thu và học được những bài học lớn để tầm soát sự sụp đổ chế độ và cương quyết hơn trong bảo vệ chế độ. Ví như những cuộc diễn tập chống “phản loạn” hằng năm, mà gần đây nhất là cuộc diễn tập quy mô lớn về phương án giải tán đám đông phá rối an ninh trật tự; chống bạo loạn, khủng bố, giải cứu con tin, rà phá bom, mìn, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn.trong cuộc vào sáng ngày 16/8, tại nhà máy Đạm Phú Mỹ, KCN Tân Thành (Bà Rịa – Vũng Tàu) do 2 bộ: Công an và Quốc phòng phối hợp với Tập đoàn dầu khí Việt Nam tổ chức. Tránh sự mơ hồ về bản chất chế độ sẽ đem lại phương pháp đấu tranh, cách thức đấu tranh phù hợp không, tránh sự rập khuôn đấu tranh khô cứng từ bên ngoài vào.
Nhìn chung, trước mắt và lâu dài, muốn tập hợp được sức mạnh một lực lượng người thì cần phải làm cho những con người đó nhận thức về nhu cầu tự do – dân chủ của chính mình bằng nhiều hình thức, dưới nhiều nội dung khác nhau. Trong đó, yếu tố tuyên truyền đóng một vai trò hết sức quan trọng trong thời điểm trước khi tuyên bố thành lập Đảng phái đối lập. Vì sự giấu diếm và kiểm duyệt chính là nguyên tắc cơ bản của chế độ toàn trị ở Việt Nam hiện nay (và cũng là yếu điểm của nó), và nó là tảng đá ngăn chặn sự tập hợp lực lượng của các cá nhân, nhóm người đấu tranh dân chủ. Do vậy, đảm bảo từng bước phá được tảng đá về sự kiểm duyệt, giấu diếm của nhà cầm quyền và sự tự kiểm duyệt (vô cảm), chưa nhận thức, tìm thấy nhu cầu về tự do, dân chủ ở một bộ phận lớn người dân. Giúp họ không đứng yên run rẩy, nghĩ về sự lạnh lẽo và nguy hiểm mà buộc họ phải tiến tới, dùng hết sức mình giành giật. Tuyên truyền tự do, dân chủ trong dân là bước đi đầu tiên và xuyên suốt quá trình đấu tranh. Sự đấu tranh này sẽ khiến cho tổ chức đấu tranh ngày càng vững mạnh về chất và lượng. Đảm bảo đến một thời điểm chín mùi (khi khủng hoảng kinh tế, xã hội tác động mạnh mẽ nhất đến ý thức đòi hỏi quyền lợi của người dân – là điều kiện ĐỦ) sự nổi giận của người dân sẽ được dẫn dắt theo đúng hướng (bởi một tổ chức, đảng phái); đưa xã hội đi từ “phản ứng” đến giai điểm “phản kháng” mà theo dự đoán, thời điểm này sẽ là 4-5 năm tới (giai đoạn 2017 và kéo sang năm 2018).
Ngoài ra cần phải lưu ý, trong quá trình đấu tranh, nên tránh kỳ vọng vào sự nổi lên của một cá nhân bất kỳ và coi đó là một lãnh tụ. Điều này, nó khiến cho phong trào đấu tranh phụ thuộc vào “cá nhân – lãnh tụ”, vô hình chung, phong trào được dẫn dắt bởi một người, khiến phong trào dễ lụi tắt nếu như nhà cầm quyền bắt giữ – giết hại “lãnh tụ”, vừa khiến cho thành quả đấu tranh rơi vào tay một cá nhân, làm xuất hiện độc tài phong trào – cầm quyền, rơi vào tình trạng “kẻ độc tài giải phóng chính mình, nhưng lại nô dịch hóa nhân dân.”
Tóm lại, quá trình đấu tranh dân chủ, tự do còn là một quá trình dài, đầy gian khổ lẫn mất mát. Từ đây đến thời điểm mà Đảng Cộng sản phải trao quyền lại cho nhân dân thì chúng ta cần phải tiếp tục đấu tranh và học hỏi kinh nghiệm đấu tranh ở các nước, nhưng phải xác định phù hợp với lại hoàn cảnh và bản chất chế độ ở Việt Nam. Việc thành lập các Đảng phái phải được xem là kết quả của quá trình đấu tranh, chứ không phải là sự khởi đầu của đấu tranh, nhất là khi ở Việt Nam thời điểm hiện tại phong trào dân chủ tuy có xuất hiện nhiều cá nhân, nhóm… nhưng nó còn yếu và thiếu, tình trạng nghi kỵ lẫn nhau tồn tại, chưa có sự liên kết giữa yếu tố trong nước và nước ngoài. Nhất là các điều Cần có để duy trì sự tồn tại của mình lẫn đặt nền tảng cho sự phát triển như quan điểm tôi nêu trên.
Và phải chăng, những nhà đấu tranh tự do, dân chủ hiện nay (người trẻ tuổi, trung niên, người cao tuổi) phải đọc lại quá trình đấu tranh và hình thành và sự giành thắng lợi của ĐCS Việt Nam từ trước khi các tổ chức Cộng sản đầu tiên có mặt tại Việt Nam, đến khi hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam, các giai đoạn đấu tranh từ 1930-1931; 1936-1939; 1939-1945 để thấy rằng sự ra đời của 1 Đảng phái là một quá trình đấu tranh trước đó, chuẩn bị đầy đủ điều kiện CẦN và CÓ chứ không phải là thông qua một lời “tuyên bố, khởi xướng” nhất thời?

Giới blogger nghĩ gì về bản án Uyên – Kha

08192013-diemblog-tq.mp3

image-305.jpg

Hai sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha tại phiên tòa sơ thẩm hôm 16.05.2013.

AFP photo

Phiên tòa phúc thẩm ở Long An hôm 16 tháng 8 năm 2013 đã tuyên 3 năm tù treo, 4 năm 4 tháng quản chế dành cho Nguyễn Phương Uyên và 4 năm tù giam cộng thêm 3 năm quản chế dành cho Đinh Nguyên Kha.

Mong manh nhưng bất khuất

Nguyễn Phương Uyên đã trả lời dõng dạc tại tòa bằng câu nói lịch sử, “Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần toà xử đúng người đúng tội. Tôi cho rằng chống ĐCS không phải chống phá đất nước, dân tộc”. Lên tiếng với Đài ACTD, Phương Uyên cho biết:

Cháu nghĩ mình không phạm theo điều 88. Đáng lý ra cháu không nói lên hành động vi phạm của cháu nhưng cháu đã tự nói lên rằng “Tôi không vi phạm điều 88. Tôi phạm những điều khác”. Khi ở tòa, cháu trả lời thẳng thắn rằng “đó là lỗi do Viện kiểm sát và An ninh điều tra của Long An đã truy tố tội của tôi là sai. Tôi chỉ xúc phạm đảng. Sự xúc phạm này ép buộc tôi vào tội chống nhà nước. Tôi mong muốn có sự công bằng, không cào bằng. Đó là tính khoa học của pháp lý. Tòa hỏi tính khoa học của pháp lý như thế nào ? Tđó là phải rõ ràng, không cào bằng. Con nói được cái quan điểm của pháp lý tại vì con thấy rất nhiều bất công trong pháp luật.

Sự đối đáp khí khái, dũng cảm của Nguyễn Phương Uyên tại pháp đình được giới bloggers hình dung như một cuộc chiến rất căng giữa một bên là chế độc độc tài, tòan trị, vô cảm với đầy đủ phương tiện đàn áp người dân với một bên là phe dân chủ “liễu yếu mong manh” nhưng bất khuất. Và tinh thần bất khuất ấy được thôi thúc bằng sự đồng cảm sâu xa của giới trẻ yêu nước ngày càng nhiều hiện nay, sự ủng hộ mạnh mẽ của giới bloggers lề dân, sự hy sinh vô bờ của người thân cùng áp lực của công luận trong và ngòai nước vào thời điểm mà Hà Nội đang cần tới sự trợ giúp đặc biệt của Hoa Kỳ.

Theo blogger Châu Văn Thi thì chiến thắng lần này của Phương Uyên là sự thành công chung của tất cả những người dân nước Việt yêu tự do, của sự đóng góp không nhỏ của mạng xã hội facebook, của những tổ chức, cá nhân hải ngoại đã không ngừng tác động đến chuyến đi của Chủ tịch Trương Tấn Sang, tác động đến Tổng thống Barack Obama, của công lao Mạng lưới blogger Việt Nam đã đến tận những cơ quan nhân quyền LHQ, quốc tế để phản ánh về tình trạng vi phạm nhân quyền của đất nước!!! Blogger Châu Văn Thi khẳng định “Phiên tòa ngày hôm nay mặc nhiên công nhận: đảng cộng sản không phải là dân tộc, là đất nước. Đảng cộng sản không có quyền quyết định sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, và phê bình chỉ trích những cái sai của đảng không phải là tội!”

Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần toà xử đúng người đúng tội. Tôi cho rằng chống ĐCS không phải chống phá đất nước, dân tộc.
– Phương Uyên

Câu nói tại tòa mà nhiều người tin là đi vào lịch sử của Phương Uyên,  “Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần toà xử đúng người đúng tội. Tôi cho rằng chống ĐCS không phải chống phá đất nước, dân tộc”, theo blogger Nguyễn Văn Thạnh, là một “cuộc cách mạng suy tưởng” với “ Lý luận gãy gọn, sắc bén, có sức mạnh ngàn cân, không gì lay chuyển nổi!” khiến giới gọi là “cầm cân nẩy mực” “ngụy biện lòng vòng hòng né tránh”; và câu cuối  của Phương Uyên “Các ông đừng đánh đồng”, theo blogger Nguyễn Văn Thạnh, “như một lời mắng từ sự hào sảng của tuổi trẻ, của trí tuệ đối với sự mê muội, sự ngụy biện và lợi ích thấp hèn”, do đó, “Kể từ đây, những ngụy biện kiểu ‘yêu nước là yêu CNXH’; ‘Đảng là tổ quốc; đảng là đất nước’; ‘chống Đảng là chống nhân dân, chống đảng là có tội’… sẽ không còn đất dung thân”.

ta-200.jpg
Phương Uyên và bạn bè tối 16/8/2013. T.A gửi RFA

Qua bài “Hậu sinh khả úy”, blogger Dân Nguyễn đề cập tới “niềm vui lớn” về những bản án phúc thẩm của Uyên-Kha. Theo tác giả thì lời tuyên bố vừa nói của Phương Uyên “có thể lấy làm tuyên ngôn cho phong trào đòi tự do dân chủ cho VN”. Vì sao ? Bởi vì, blogger Dân Nguyễn giải thích, không còn “lời tuyên bố nào hùng hồn hơn, khúc chiết hơn, đanh thép hơn ! Hình ảnh chiếc áo trắng, nụ cười tươi trẻ bừng sáng, bao bọc bên trong là trái tim rực cháy tình yêu Đất Nước và một khối óc thông tuệ”.

Blogger Hòang Thanh Trúc nghe thấy “Tiếng ‘Họa Mi’ sổ lồng”, và quả quyết rằng lòng Bất Khuất, trong mọi hoàn cảnh đất nước, chỉ “nhân lên chứ không trừ đi bao giờ” khi tiếng hót thánh thót, vang lên của “chim họa mi” Nguyễn Phương Uyên vừa sổ lồng tù ngục chứng minh cho điều đó với đồng bào dân tộc Rồng Tiên Âu Lạc chúng ta.

Khi mô tả “Tuổi trẻ VN hôm nay qua hình ảnh của Nguyên Kha và Phương Uyên”, blogger Vũ Bất Khuất khẳng định là dù kết quả xét xử có ra sao thì phiên tòa tại VN “vẫn cứ là một trò hề” và “hai con người tuổi trẻ này vẫn cứ là một biểu tượng”. Theo MS Nguyễn Trung Tôn thì dù bản án phúc thẩm Long An có như thế nào đi chăng nữa, đó cũng là “hồi chuông thức tỉnh cho thế hệ trẻ VN”, và “phiên tòa này không thể chấm dứt được tinh thần đấu tranh của người dân Việt”.

Tinh thần đấu tranh ấy thể hiện rất rõ hôm 16 tháng 8 vừa rồi, như blogger Hoàng Hưng mô tả, đó là một “cuộc biểu dương khí thế của lương tri, của chính nghĩa, của tình đồng bào, đồng đội, của lòng yêu nước đẹp tuyệt vời”. Khí thế đó là:

Bà mẹ trẻ địu đứa bé một tuổi trước ngực lặn lội cả ngàn cây số vào Long An chia lửa cho hai bà mẹ của Uyên và Kha; …các cụ bảy mươi cùng các cháu gái trai nằm lăn xuống đường chặn bánh xe hung bạo bắt người;…tiếng hát vang “Dậy mà đi” do người cựu tù Côn Đảo tóc bạc phơ khởi giọng, tiếng hô “Đả đảo Trung Quốc xâm lược”, “Đả đảo bọn tay sai bán nước!”, “Uyên – Kha vô tội”… đánh thức cả khu trung tâm thành phố Tân An;… một bà bán quán chạy tới ôm chầm người mẹ có con đang lâm nạn, khiến hàng trăm người đi đường dừng lại lắng nghe. Hãy nhìn cảnh một rừng công an cảnh sát, dân phòng tự vệ… ngây mặt nghe một người đàn bà sang sảng kêu gọi “Hãy tìm một lối quay súng trở về với nhân dân”! Phiên phúc thẩm Uyên – Kha sẽ đi vào lịch sử…

Hồi chuông cho thế hệ trẻ

Trong khi án quyết phúc thẩm ấy khiến không những cả trăm người ủng hộ bên ngoài pháp đình cùng vô số những người quan tâm đến số phận Uyên-Kha đang hướng về Long An đã bật khóc mừng vui, hòa lẫn tiếng vỗ tay, hoan hô…, thì hình ảnh cảm động không kém cũng đã diễn ra một ngày trước phiên phúc thẩm, khi tâm trạng người thương mến Uyên-Kha “như chìm trong một cảm xúc đè nén khó tả” – nói theo lời blogger Phạm Chí Dũng, hay như blogger Huỳnh Ngọc Chênh mô tả, “Mắt của Nguyễn Tường Thụy dường như đang nhòe đi” và rồi blogger “Nguyễn Tường Thụy đã bậc khóc, nước mắt ràn rụa”…

Khi lên tiếng cảnh báo:

Giam tương lai vào ngục

Tự hủy chốn dung thân

GS Hòang Xuân Phú lưu ý rằng nhà nước tự xưng là nhà nước “pháp quyền” mà “trưng ra quá nhiều phiên tòa phi pháp”. Họ nhân danh công lý mà lại vi phạm cả Hiến pháp và luật pháp, bất chấp lẽ phải cùng sự thật. GS Hòang Xuân Phú khẳng định rằng Phương Uyên và Nguyên Kha là hai thanh niên yêu nước đến mức dám dấn thân… “Họ yêu nước theo cách của họ. Nhà cầm quyền không ưa kiểu yêu nước ấy, điều đó cũng dễ hiểu, bởi chính Phương Uyên và Nguyên Kha cũng không ưa kiểu yêu nước của phía cầm quyền”. GS Hòang Xuân Phú cảnh cáo:

Với cách xử sự như đối với Phương Uyên và Nguyên Kha, những người cầm quyền hiện nay đã dạy cho thế hệ trẻ một bài học rất xấu, rằng: Ở đất nước này thì không thể chấp nhận bất đồng chính kiến, không thể chung sống với những người đối lập, mà phải cương quyết diệt bỏ như kẻ thù không đội trời chung. Nếu cái “tư duy chuyên chính triệt để” ấy được thừa kế bởi chính quyền kế tiếp – mà ngày thay thế chính quyền chắc chắn sẽ đến nhanh hơn nếu thế lực cầm quyền cứ tiếp tục hành xử như hiện nay – thì sau này đừng có oán thán tại sao mình không có chỗ dung thân.

cafevn.org-250.jpg
Phương Uyên trong vòng tay người thân sau phiên phúc thẩm hôm 16/8/2013. Courtesy of xcafevn.org

Từ Hà Nội, blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh nhận xét về sự biến chuyển quan trọng ở giới trẻ có nhiệt tâm với vận nước, dân tộc:

Tôi thấy rằng nếu như trước đây, những người đấu tranh cho sự tiến bộ cho đất nước, đòi một nền dân chủ thật sự cho Tổ Quốc, Dân tộc là những người lớn tuổi, như ông Hà Sĩ Phu, Lê Hồng Hà, Hoàng Minh Chính chẳng hạn – là những người cao niên thao thức đến vận mạng đất nước, thì những phiên tòa gần đây, những hiện tượng gần đây, đặc biệt như phiên tòa vừa rồi dành cho Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha đang ở tuổi đôi mươi, điều đó làm tôi xúc động. Tôi nhận thấy chuyển biến xã hội hiện rất khác trước, rất rõ rệt, cho thấy thế hệ trẻ VN không phải vô cảm như người ta đã nghĩ, như báo chí nhà nước VN kêu gào. Thế hệ trẻ VN hiện ý thức được mình là ai, ý thức được trách nhiệm của mình là gì trước dân tộc, trước đất nước, trước các hiện tượng tha hoá của xã hội. Tôi cho rằng đó là một tín hiệu vui.

Thế hệ trẻ VN hiện ý thức được mình là ai, ý thức được trách nhiệm của mình là gì trước dân tộc, trước đất nước, trước các hiện tượng tha hoá của xã hội.
– J.B. Nguyễn Hữu Vinh

Mặc dù nền giáo dục VN hiện nay ra sức “tiêm nhiễm” giới trẻ rằng “yêu nước là yêu CNXH”, nhưng Phương Uyên và Nguyên Kha, nói theo lời MS Nguyễn Trung Tôn, đã “vượt qua cái giới hạn của nền giáo dục” ấy để “noi gương những anh hùng dân tộc” từng đánh cho giặc phương Bắc tan tác, không còn manh giáp, không kịp chạy về Tàu từ trước khi có đảng CS xuất hiện trên quê hương. Những vị anh hùng dân tộc, từ Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi cho tới Quang Trung…là những người yêu nước thiết tha, dũng cảm đánh đuổi phương Bắc xâm lược, nhưng “họ đâu có bị buộc phải yêu CNXH”. MS Nguyễn Trung Tôn nhớ lại:

Trước thời kỳ CS, lịch sử VN hơn 4 ngàn năm Văn Hiến đã có rất nhiều vị anh hùng dân tộc. Và họ đã nói những câu nổi tiếng, như danh tướng Trần Bình Trọng đã hiên ngang khẳng định với giặc phương Bắc rằng “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Hay Bà Triệu Thị Trinh đã từng nói rằng “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, để cho nhân dân ta khỏi bị lầm than đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì thiếp người ta”. Thì khẩu hiệu “Tàu khựa cút khỏi biển Đông” của Phương Uyên và Nguyên Kha cũng tương đương với những lời phát biểu của các vị anh hùng dân tộc trước kia.

Qua bài “Viết cho Phương Uyên và tuổi trẻ yêu nước VN”, blogger David Thiên Ngọc tâm sự rằng trước khi viết những dòng này cho những người trẻ yêu nước ấy, tác giả “xin ngả mũ nghiêng mình chào các em với lòng bái phục”, dù tác giả “đi trước các em hơn một thế hệ trên quãng đường đời”.

Sự dũng cảm, hiên ngang của Nguyễn Phương Uyên khiến nhà thơ, TS Đặng Huy Văn xúc cảm thành bài “Nước non sẽ nhớ Phương Uyên”, khẳng định rằng:

Ngàn năm Bắc Thuộc đủ rồi

Giặc Tàu tàn ác muôn đời chớ quên

Nước non sẽ nhớ Phương Uyên!

Nữ sinh nước Việt phất lên ngọn cờ

Hoà bình, dân chủ, tự do

Để xây đắp lại cơ đồ núi sông

Tàu khựạ cút khỏi Biển Đông!

Hoàng Sa, biển đảo cha ông quyết đòi!

Sau diễn tiến phiên tòa phúc thẩm ở Long An, nhà báo Kha Lương Ngãi trong nước khẳng định:

Tôi nghĩ đất nước phải xoay chuyển theo chiều hướng của thế giới văn minh, tiến bộ, dân chủ. Chuyển theo xu thế đó thì sẽ lần lượt thả những người tù lương tâm khác như anh Điếu Cày, chị Tạ Phong Tần, anh Cù Huy Hà Vũ…..Tôi nghĩ rằng sẽ phải thả những người đó, đất nước mới chuyển mình sang xu thế dân chủ tiến bộ được. Đất nước mới phát triển được.

Tin, bài liên quan

Ca sĩ teen hát những bài hát của Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình

Trà Mi-VOA.16.08.2013

http://www.voatiengviet.com/content/ca-si-teen-hat-cac-ca-khuc-cua-viet-khang-tran-vu-anh-binh/1731307.html

Ca sĩ teen Vivian Huỳnh trình diễn dòng nhạcTuổi Trẻ Yêu Nước

Ca sĩ teen Vivian Huỳnh trình diễn dòng nhạcTuổi Trẻ Yêu Nước

Một cô bé 13 tuổi nổi tiếng trong cộng đồng người Việt hải ngoại vì trình bày rất thành công các ca khúc từng khiến cho hai nhạc sĩ tại Việt Nam bị bỏ tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước”.Cô Vivian Huỳnh thời gian gần đây đã được mời đi nhiều nơi trên nước Mỹ để thể hiện các tác phẩm của nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình như Việt Nam tôi đâu, Anh là ai, Nỗi đau quê hương….Vì sao một thiếu niên sinh trưởng tại Mỹ lại đam mê các ca khúc bị nhà nước Việt Nam xem là phản động, không quản ngại thời gian và công sức để phổ biến các tác phẩm đó?Tạp chí Thanh Niên VOA có cuộc trao đổi với ca sĩ trẻ này hồi đầu tháng 8 nhân chuyến lưu diễn của cô từ San Jose, bang California lên thủ đô Washington DC để góp mặt trong chương trình Dòng nhạc Tuổi trẻ Yêu nước.

Bấm vào nghe cuộc trao đổi với ca sĩ 13 tuổi Vivian Huỳnh

Trà Mi

____________________________________________________________________

Đa đảng và độc đảng

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok.  2013-08-20

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/multi-party-vs-total-08202013055324.html

 08202013-multi-party-vs-total.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
Bích chương của đảng cộng sản Việt Nam khắp trên đường phố

Bích chương của đảng cộng sản Việt Nam khắp trên đường phố

AFP

Nghe bài này

Ngay sau khi có những bài viết của ông Lê Hiếu Đằng đưa ra chủ trương thành lập một chính đảng công khai đối lập với đảng  Cộng Sản Việt Nam, cuộc tranh luận về vấn đề đó trở nên sôi nổi tại Việt Nam.

Lý luận chống

Thông thường khi có những ý kiến, bài viết công khai đối lập lại với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, một số cơ quan ngôn luận của hệ thống Nhà Nước lên tiếng phản bác.

Trường hợp mới nhất là đối với bài viết của ông Lê Hiếu Đằng ‘Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…’ được công khai trên trang mạng Bô xít hồi tuần rồi.  Bài viết được cho nhằm tính sổ cuộc đời này của ông nêu lại quá trình của một người có thâm niên 45 tuổi đảng cộng sản như bản thân ông. Tuy nhiên nay ông nhận thấy có những sai lầm và muốn có thay đổi mà một trong những đổi thay đó là phải chấm dứt sự độc quyền cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước phải đa nguyên- đa đảng theo hướng dân chủ- xã hội.

Hôm chủ nhật ngày 18 tháng 8, báo Quân đội Nhân dân có bài viết của tác giả Trọng Đức tựa đề ‘Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh”’. Tác giả nêu ra 4 điểm để phản biện lại nội dung bài viết của ông Lê Hiếu Đằng mà tác giả cho là cổ xúy cho một vấn đề không mới tại Việt nam là ‘đa nguyên, đa đảng’.

Đâu có phải cứ đa nguyên đa đảng là tự nó đã có dân chủ? Đa đảng đối lập tại VN lúc này có đúng như các nhà dân chủ đã vẽ ra là sẽ làm cho đất nước dân chủ hơn, phát triển hơn, đời sống nhân dân tốt đẹp hơn? Hay sẽ diễn ra cảnh hỗn loạn, mất ổn định

Trọng Đức/báo QĐND

Tác giả Trọng Đức biện luận ‘Đâu có phải cứ đa nguyên đa đảng là tự nó đã có dân chủ? Đa đảng đối lập tại Việt Nam lúc này có đúng như các nhà dân chủ đã vẽ ra là sẽ làm cho đất nước dân chủ hơn, phát triển hơn, đời sống nhân dân tốt đẹp hơn? Hay sẽ diễn ra cảnh hỗn loạn, mất ổn định, đỗ vỡ nền kinh tế như đã xảy ra ở một số nước mà người gánh chịu không ai khác chính là nhân dân.”

Bài viết của tác giả Trọng Đức tựa đề ‘Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh”’ đăng trên báo Quân đội Nhân dân ngày 18/08/13
Bài viết của tác giả Trọng Đức tựa đề ‘Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh”’ đăng trên báo Quân đội Nhân dân ngày 18/08/13

Phản biện

Trong hai ngày qua trên các trang mạng xuất hiện một số bài viết phản biện lại bài của tác giá Trọng Đức trên báo Quân Đội Nhân dân. Một trong số đó là bài của Trung Nghĩa phản biện lại từng điểm mà tác giả Trọng Đức của tờ Quân Đội Nhân dân nêu ra. Tác giả Trung Nghĩa tỏ rõ sự buồn cười và làm phì cười trong bài viết của Trọng Đức như đưa ra trường hợp của một tù hình sự để bác chuyện cá nhân ông Lê Hiếu Đằng kể chuyện được cho ra đi thi khi đang bị cầm tù vì lý do chính trị; cũng như cách lập luận ngây ngô khi giải thích về mối quan hệ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

Tác giả Trung Nghĩa còn cho rằng việc Trọng Đức nói ‘Quốc hội Việt Nam do toàn thể nhân dân Việt Nam bầu ra để thay mình thực hiện quyền lực nhà nước. Do vậy, quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân’. Đây là điều mà tác giả Trung Nghĩa cho là sai sự thật. Thế rồi tác giả Trung Nghĩa còn dùng những lập luận khác để bác bỏ điều mà Trọng Đức của báo Quân Đội Nhân dân gọi là truyền thống ngoại giao mềm mỏng; cũng như ý kiến trên báo Quân đội Nhân dân về tam quyền phân lập.

Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 ghi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền được hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật

Ông Phạm Đình Trọng

Bên cạnh đó là những bài viết về ý kiến của giáo sư Vũ Minh Giang, thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương, khi trả lời BBC cho rằng chưa có đủ căn cứ pháp luật cho sự ra đời của những chính đảng mới.

Ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ TP.HCM
Ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ TP.HCM

Nhà văn Phạm Đình Trọng cho rằng ông giáo sư trong hội đồng lý luận trung ương ấp úng, quanh co; nói rất dài mà chỉ đưa ra một nội dung rất ngắn mà nhà văn Phạm Đình Trọng cho là hồ đồ; đó là chưa có căn cứ pháp lý cho việc thành lập chính đảng mới.

Ông Phạm Đình Trọng nhắc lại là người dân được làm mọi việc khi pháp luật không cấm. Ông nêu ra lại điều 69 của Hiến pháp năm 1992 ghi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền được hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật. Ông giải thích hội và đảng là hai cách gọi khác nhau của một tổ chức chính trị. Ông còn nêu ra điều 52 của Hiến pháp năm 1992 qui định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; hơn 3 triệu công dân có quyền lập đảng Cộng sản vậy số còn lại hơn 80 triệu cũng có quyền lập ra những đảng chính trị của họ.

điều 52 của Hiến pháp năm 1992 qui định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; hơn 3 triệu công dân có quyền lập đảng Cộng sản vậy số còn lại hơn 80 triệu cũng có quyền lập ra những đảng chính trị của họ

Ông Phạm Đình Trọng

Luật sư Nguyễn Lệnh, trên Dân Luận, nhắc lại điều 4 trong Hiến pháp năm 1980 và điều 4 trong Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 1980 với điều 4 qui định đảng CS là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội; nhưng điều 4 trong Hiến pháp năm 1992 không còn chữ ‘duy nhất’ nữa và còn thêm ‘mọi tổ chức của đảng CS hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.’

Vị luật sư này đặt vấn đề do quốc hội vẫn chưa ban hành Luật về tổ chức đảng chính trị nên không biết thể lệ thành lập một đảng chính trị là thế nào. Theo luật sư Nguyễn Lệnh phải chăng điều 4 hiến pháp năm 1992 chính là căn cứ pháp lý để để một lực lượng khác không phải đảng CS Việt Nam có thể tiến hành thành lập một đảng chính trị trên nguyên tắc ‘áp dụng pháp luật tương tự’ mà đảng CS Việt Nam đang hoạt động cho đến khi có Luật về tổ chức đảng và thể lệ thành lập đảng.

Ủng hộ

Blogger Nguyễn Thiện Nhân, người có bài viết góp ý xây dựng cương lĩnh Đảng Dân chủ Xã hội do ông Lê Hiếu Đằng chủ xướng, nói rõ những căn cứ để có thể hình thành ra một đảng chính trị đối lập tại Việt Nam như sau:

Trong Hiến pháp có cho người dân có quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội. Trên tinh thần hiến pháp người dân có quyền lập hội, mà trong lập hội có đảng phái chính trị

Blogger Nguyễn Thiện Nhân

Tất nhiên theo tinh thần luật, cán bộ nhà nước các cơ quan nhà nước chỉ được phép làm những điều luật pháp cho phép; còn người dân được phép làm những gì luật pháp không cấm. Trong Hiến pháp có cho người dân có quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội. Trên tinh thần hiến pháp người dân có quyền lập hội, mà trong lập hội có đảng phái chính trị.

Đảng phái chính trị ở đây tất nhiên chưa bàn đến việc có chấp chính hay không; tức tham gia vào việc quản lý quyền lực nhà nước hay không; nếu như không tham gia vào quyền lực quản lý nhà nước mà chỉ là một đảng sinh hoạt để thể hiện tiếng nói, quan điểm thì tinh thần hiến pháp không cấm.

Nhưng trong thực tế nhà nước, chính phủ cũng như đảng Cộng sản Việt Nam không nói cụ thể về vấn đề này, cũng như chưa được luật hóa về vấn đề này.

Sau này nếu như Đảng Dân chủ Xã hội mà có đi đến việc thành lập phải đụng đến vấn đề pháp luật; sẽ có những tranh luận một bên cho rằng chiếu theo pháp luật là được phép, và một bên cho rằng chưa có luật. Phía nhà nước lúc nào cũng cho rằng chưa luật hóa và không được phép.

Nhiều nhận định cho rằng đảng Cộng sản Việt Nam lúc này chắc chắn sẽ chặn đứng việc hình thành một đảng chính trị đối lập hoạt động công khai tại Việt Nam; tuy nhiên sự ngăn cản đó sẽ không thể kéo dài được lâu.

VN đã sẵn sàng cho hệ thống đa đảng chưa?

08202013-is-vn-ready-mult-party.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Cảnh sát đặc biệt vũ trang đứng gác trước các biểu ngữ của đảng cộng sản VN

Cảnh sát đặc biệt vũ trang đứng gác trước các biểu ngữ của đảng cộng sản VN. AFP

Nghe bài này

Sự kiện một số nhân sĩ trí, thức, đảng viên cộng sản Việt Nam công bố vận động thành lập đảng Dân chủ Xã hội được dư luận rất quan tâm. Kính Hòa trò chuyện cùng ông Hoàng Duy Hùng, Nghị viên thành phố Houston, Texas, người cũng có nhiều quan tâm đến tình hình chính trị xã hội Việt Nam.

Chưa có dấu hiệu chấp nhận đối lập

Kính Hòa: Một số nhân sĩ trí thức, trong đó có một đảng viên cộng sản là ông Lê Hiếu Đằng công bố vận động thành lập một đảng mới là Dân chủ xã hội để làm đối trọng với đảng cộng sản, với tư cách một người có quan tâm nhiều đến Việt Nam, ông nghĩ về việc này thế nào?

Hòang Duy Hùng: Tôi thì rất ủng hộ cho việc thành lập đảng dân chủ xã hội, nhưng mà tôi tin là đảng cộng sản Việt Nam sẽ bắt bớ vì họ chưa chấp nhận đối lập, và nội bộ của họ cũng chia rẽ không thuần nhất như trước, nên khi có sự xuất hiện một đảng đối lập họ sẽ sợ bị bể, họ chưa có chuẩn bị. Điều thứ hai là chắc chắn không chỉ có một mình ông Lê Hiếu Đằng, cho nên đảng cộng sản sẽ tìm xem thế lực nào đằng sau đó. Trước mắt họ sẽ để yên để tìm hiểu nhưng rồi họ sẽ không để yên đâu.  Có nhiều người bảo nhóm ông Đằng là đối lập cuội, nhưng tôi cho là không phải như vậy, họ là những người có tâm với đất nước, họ muốn thay đổi. Trong đảng cộng sản có nhiều phe và phe đang cầm quyền không thích chuyện này.

Nếu Việt Nam không có sự chuẩn bị thì có khả năng xảy ra việc trả thù đẫm máu. Những người đảng viên cộng sản về hưu hoặc không nắm quyền biết điều đó và họ muốn ngồi lại với nhau thành một khối để có thể tạo sự chuyển tiếp ôn hòa

Hòang Duy Hùng

Câu hỏi đặt ra là bao giờ VN có đối lập thật sự! Chuyện đối lập sẽ phải đến thôi mà vấn đề là khi nào. Cần phải có chuyện ý thức của nhà cầm quyền về chuyện đó, như kinh nghiệm Miến Điện cho thấy khi ông Theinsein chấp nhận chuyện đối lập. Việt Nam có lẽ cần có một nhà lãnh đạo ôn hòa lên cầm quyền.

Ông Hoàng Duy Hùng, Nghị viên thành phố Houston, Texas
Ông Hoàng Duy Hùng, Nghị viên thành phố Houston, Texas

Còn nếu cứ đàn áp hòai thì sẽ đưa đến sự xáo trộn. Nếu Việt Nam không có sự chuẩn bị thì có khả năng xảy ra việc trả thù đẫm máu. Những người đảng viên cộng sản về hưu hoặc không nắm quyền biết điều đó và họ muốn ngồi lại với nhau thành một khối để có thể tạo sự chuyển tiếp ôn hòa.

Kính Hòa: Thưa ông trong việc tuyên bố thành lập đảng Dân chủ xã hội này có chuyện khác với việc cụ Hòang Minh Chính tuyên bố phục họat đảng Dân chủ trước đây là có đề cập đến những đảng viên cộng sản. Phải chăng việc này có thể làm giảm cái rủi ro bị đàn áp không?

Nhà cầm quyền cộng sản hiện chưa có dấu hiệu nào chấp nhận đối lập, nên nếu họ thấy cái đảng này lớn mạnh đe dọa đến đảng cầm quyền của họ thì họ sẽ đàn áp.

Hòang Duy Hùng

Hòang Duy Hùng: Học cái kinh nghiệm của ông Hòang Minh Chính nên họ khôn khéo hơn. Có những người dường như chỉ muốn đấu tranh lật đổ, cực đoan, thì như vậy chỉ tạo cái cớ cho đảng Cộng sản đàn áp. Hiện giờ trong nước không có lực lượng nào đủ mạnh, cho nên nếu để một cái cớ nhỏ cho người cộng sản họ đàn áp thì là một thiệt hại lớn vô cùng. Cho nên những người như ông Lê Hiếu Đằng, ông Hồ Ngọc Nhuận rất khôn khéo kêu gọi những người cựu cộng sản, hoặc những người đã về hưu, như vậy bớt đi cái gai nhọn tạo cớ cho cộng sản đàn áp.

Tuy nhiên như tôi đã nói là nhà cầm quyền cộng sản hiện chưa có dấu hiệu nào chấp nhận đối lập, nên nếu họ thấy cái đảng này lớn mạnh đe dọa đến đảng cầm quyền của họ thì họ sẽ đàn áp.

Kính Hòa: Trong lịch sử sụp đổ của các đảng cộng sản thì không có một đảng nào tách ra từ đảng cộng sản lúc sự cầm quyền của họ đang mạnh mà thành công phải không thưa ông?

Hòang Duy Hùng: Vâng đúng vậy.

Kính Hòa: Vậy nếu lần này mà đảng Dân chủ xã hội thành công thì đó là một trường hợp đặc biệt của Việt Nam?

Hòang Duy Hùng: Vâng, nếu một đảng cộng sản thóai thân, hay là tách ra làm hai làm ba, vì mâu thuẫn quyền lợi, vì ý thức hệ, thậm chí vì mâu thuẫn chiến thuật cũng được nữa, thì tôi tin là sự tách ra đó là có thực, vì cái ý thức hệ cộng sản không còn như xưa nữa. Nếu thành công thì đây là trường hợp đầu tiên sự tách ra thành công từ nội bộ cộng sản,

Kính Hòa: xin cám ơn ông Hòang Duy Hùng.

Nguyễn Phú Trọng: Công an VN ‘phải trung thành với Đảng’

TBT Nguyễn Phú Trọng (giữa) tiếp tục thúc đẩy công tác xây dựng Đảng

Đến thăm và làm việc với Bộ Công an, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, nhấn mạnh rằng ngành an ninh phải ‘thường xuyên siết chặt kỷ cương và tuyệt đối trung thành với Đảng’, theo báo Việt Nam.

Trong buổi làm việc với Đảng ủy Công an Trung ương tại Hà Nội hôm 19/8 vừa qua, Tổng bí thư Đảng cũng nói nhiệm vụ của ngành này là “xây dựng lực lượng an ninh nhân dân tuyệt đối trung thành với Ðảng, Nhà nước, gắn bó mật thiết với nhân dân”.

Đón Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có Ðại tướng Trần Ðại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ðảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Công an và các cán bộ công an cao cấp khác, theo báo Bấm Nhân Dân, bản điện tử cùng ngày.

Tại buổi làm việc, Giáo sư Nguyễn Phú Trọng cũng nhấn mạnh lại rằng ngành công an Việt Nam “phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về xây dựng Ðảng”.

Chống chia rẽ nội bộ

Hồi tháng 2/2012, trong Bấm bài diễn văn nói về nhu cầu ra nghị quyết về xây dựng Đảng, ông Trọng đã cảnh báo về các nguy cơ chia rẽ nội bộ, và sự “thoái hóa”, “trở cờ” cùng các tệ nạn như quan liêu, tham nhũng.

Khi đó, ông nói về lý do cần chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh kinh tế thị trường và đặt một số câu hỏi:

“Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hoá giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không?”

“Mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai ? Có giữ được bản chất là đảng cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc không?”

“Lực lượng an ninh nhân dân Việt Nam phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về xây dựng Ðảng”

TBT Nguyễn Phú Trọng

“Thực tế đã có bộ phận suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Có người công khai bày tỏ ý kiến trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, làm trái nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, thậm chí có người “sám hối”, “trở cờ”; tình trạng tham nhũng, quan liêu, xa dân, tổ chức không chặt chẽ, nhiều nguyên tắc của Đảng bị vi phạm.”

Đó là nhìn vào nội bộ, còn nhìn ra bên ngoài, Giáo sư Trọng khi đó đã nêu ra một số điều ông gọi là hoạt động chống phá nhằm vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đây là các hoạt động có mục tiêu “phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định con đường xã hội chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa,”

Ngoài ra, các hoạt động đó cũng còn nhằm “hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, phê phán, đổ lỗi cho Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng. Kích động chia rẽ nội bộ, tung ra những luận điệu trong Đảng, trong Trung ương, Bộ Chính trị có phe này, phái kia”, theo nội dung bài phát biểu.

Nay, nhân dịp kỷ niệm 68 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh Việt Nam ngày 2 tháng 9 và Ngày truyền thống của Công an Nhân dân Việt Nam, TBT Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở ngành công an “không được lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Ðảng để thổi phồng khuyết điểm, yếu kém, chia rẽ nội bộ”.

Trước kỳ họp hội nghị trung ương Đảng tới, dự kiến được tổ chức vào tháng 10/2013, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có một loạt quyết định nhằm thúc đẩy công cuộc chỉnh đốn, xây dựng Đảng.

Theo báo Nhân Dân, ông Trọng, ở cương vị Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng hôm 6/8 vừa qua đã ký Quyết định số 17-QÐ/BCÐTW “thành lập bảy đoàn công tác kiểm tra, giám sát việc thanh tra” cho cả nước.

Các đoàn thanh tra này có cả nhiệm vụ “khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm” trong mấy năm qua nhưng nhà chức trách chưa làm được gì.

Người Việt và định mệnh dân chủ

Luật sư Vũ Đức Khanh.  Viết từ Canada. 19 tháng 8, 2013

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/blogs/2013/08/130819_vn_democratic_destiny.shtml

Sau gần 30 năm, Việt Nam lại rơi vào vòng xoáy của một cuộc khủng hoảng chính trị – kinh tế – xã hội mới.

Xã hội Việt Nam ngày càng tiến xa khỏi mô hình cộng sản

Trải qua gần một thập niên đạt tốc độ tăng trưởng cao, nền kinh tế chững lại giữa lúc các vấn đề chính trị – xã hội khác vốn tích tụ từ hàng chục năm qua đang ngày càng trở nên nhức nhối và không thể giải quyết nếu không có cải tổ hệ thống triệt để.

Bên cạnh đó, tình hình khu vực đang diễn biến ngày càng phức tạp, đặc biệt là sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đang đe doạ an ninh khu vực và thế giới, mà quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp và nguy hiểm nhất chính là Việt Nam.

Tình hình cả trong nước lẫn khu vực hết sức khó khăn đó buộc giới lãnh đạo Việt Nam phải đưa ra lựa chọn tương lai cho đất nước cũng như cho chính họ, nhất là khi mà hầu như ai cũng đã nhận ra rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn tồn tại mỗi cái tên.

Chuyến công du Hoa Kỳ của Chủ tịch Trương Tấn Sang (24 – 26/7/2013), xác lập quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ, diễn ra trong bối cảnh đó.

Sự kiện một Đảng Dân chủ Xã hội đang được xúc tiến thành lập và việc sinh viên Nguyễn Phương Uyên được thả tự do là những diễn biến phù hợp với xu thế này.

“Thay đổi hay là chết” là mệnh lệnh đang trở nên ngày càng thúc bách với cả những người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh nước nhà lẫn những người đang gánh vác trọng trách trong bộ máy hiện hành.

Một hệ thống đa đảng và tam quyền phân lập – bước đầu tiên trên chặng đường dài và khó khăn.

Chặng đường khó khăn

Một số người vẫn cho rằng nếu thực hiện bước quá độ từ một nhà nước độc đảng sang một chính thể đa đảng, Việt Nam sẽ đi đến tự do và dân chủ. Tuy nhiên, điều này có thể không hoàn toàn đúng.

Trước đây, ngoài Đảng Cộng sản, Việt Nam còn có hai chính đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Hai đảng này chủ yếu lệ thuộc vào Đảng CS và đã bị giải tán từ năm 1988.

Khi hai chính đảng này còn hoạt động thì tuy về mặt hình thức Việt Nam là một quốc gia đa đảng, nhưng do độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định trong Lời nói đầu Hiến pháp 1959 và Điều 4 Hiến pháp 1980, nên trên thực tế, Việt Nam là một nước độc tài độc đảng, không tam quyền phân lập.

“Sau khi dân chủ hóa Myanmar đang trở thành đối thủ cạnh tranh nguồn vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam “

Tuy nhiên, vấn đề không phải nằm ở chỗ liệu Việt Nam có thể thực hiện bước chuyển tiếp từ một nhà nước độc đảng sang một chính thể đa đảng hay không, mà là ở chỗ liệu điều đó có dẫn tới tự do và dân chủ hay không.

Một số quốc gia trên thế giới tuy theo thể chế tam quyền phân lập và đa đảng nhưng vẫn bị coi là chính thể độc tài, điển hình như Indonesia của Suharto và Philippines của Ferdinand Marcos trước đây hay Zimbabwe của Mugabe, Campuchia của Hunsen và nước Nga của Putin hiện nay.

Điều đó chứng tỏ con đường đi đến một nền dân chủ – tự do đích thực là một chặng đường đầy cam go, và một nước vừa thoát khỏi chế độ độc tài cộng sản toàn trị hoàn toàn có thể lại rơi vào một chính thể độc tài cá nhân, như Campuchia hay Nga chẳng hạn.

Ở Nga, sự sụp đổ đột ngột của nhà nước cộng sản khiến đất nước này rơi vào hỗn loạn một thời gian dài.

Nhà nước Nga bất lực, không duy trì trật tự xã hội mới bằng pháp luật tạo thời cơ cho các thế lực đen trong thế giới ngầm nổi lên, kiểm soát xã hội bằng thứ “luật lệ” riêng của họ.

Dưới thời Boris Yeltsin, giới tài phiệt cấu kết chặt chẽ với thế giới ngầm và các chính trị gia quyền lực đã thao túng và lũng đoạn xã hội.

Trong bối cảnh đó, các tổ chức xã hội dân sự cũng như các đảng phái chính trị đối lập chịu đủ thứ kìm kẹp của bộ máy quyền lực muốn duy trì địa vị quyền lực không bị thách thức của nó.

Đến thời Putin, sau khi dùng quyền lực nhà nước (vốn ít bị giám sát) để khống chế giới tài phiệt, Putin nhanh chóng thâu tóm quyền lực tuyệt đối bằng những bước đi hợp pháp.

Bên cạnh những biện pháp “truyền thống” như trấn áp lực lượng đối lập, khống chế và kiểm duyệt báo chí chặt chẽ, ông ta cũng không quên lợi dụng các “quy trình dân chủ” trước sự mất cảnh giác của Quốc hội cũng như nhân dân Nga để thâu tóm và duy trì quyền lực độc tài của mình.

Từ năm 1995, Hiến pháp Nga quy định những người đứng đầu các tỉnh, miền phải được dân cử thông qua hình thức bầu cử rộng rãi.

Năm 2006, theo “sáng kiến” của Tổng thông Putin, Hiến pháp lại quy định người đứng đầu các thực thể tỉnh, miền, nước cộng hòa tự trị trong Liên bang Nga là do tổng thống bổ nhiệm.

Ngày 14/11 và 26/11/2008, lần lượt Hạ viện (Duma) và Thượng viện (Hội đồng Liên bang) của Nga thông qua việc sửa đổi hiến pháp, kéo dài nhiệm kỳ tổng thống từ 4 năm lên 6 năm, một động thái được những người hiểu biết lúc bấy giờ nhìn nhận là nhằm mở đường cho “triều đại” mới kéo dài 12 năm của Putin bắt đầu từ năm 2012.

Giải thể xong cộng sản, nước Nga rơi vào chế độ độc đoán kiểu Putin

Ở Campuchia, nhân tố “góp công” lớn nhất cho triều đại độc tài kéo dài của Hunsen chính là việc Hiến pháp Campuchia không giới hạn nhiệm kỳ của Thủ tướng, một khiếm khuyết phổ biến ở các chính thể độc tài khác như Indonesia hay Philippines trước đây và Zimbabwe hiện nay.

Bước đi cụ thể

Sự chuyển mình mạnh mẽ của Myanmar khiến cả thế giới phải dõi theo với một tâm thái thán phục.

Đối với Việt Nam, Myanmar không chỉ là một tấm gương về dân chủ hoá đất nước, đây còn là hiện thân của một nguy cơ mà Việt Nam đang phải đối mặt.

Myanmar đang trở thành đối thủ cạnh tranh nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hàng đầu của Việt Nam và tiến tới sẽ là đối thủ cạnh tranh các sản phẩm của Việt Nam trên thị trường thế giới.

Để tránh vết xe đổ nói trên, Hà Nội cần lên kế hoạch cụ thể về lộ trình dân chủ hoá đất nước theo các bước sau:

  • Tiếp tục mạnh dạn trả tự do cho các tù nhân chính trị và những người bất đồng chính kiến đang bị giam cầm;
  • Cho phép thành lập các đảng phái chính trị ở Việt Nam;
  • Khẩn trương ban hành Luật về “Hội bất vụ lợi” trong kỳ họp Quốc hội tới đây để điều chỉnh việc thành lập và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự, một nền tảng quan trọng của trật tự xã hội tự do – dân chủ;

Ngoài ra, cần mở rộng Ủy ban Sửa đổi Hiến pháp 1992 bằng cách cho phép mời các chuyên gia quốc tế về luật Hiến pháp tham gia hỗ trợ kỹ thuật cho Uỷ ban, đồng thời mời một số đại diện của các tổ chức quần chúng phi cộng sản tham gia vào Uỷ ban.

Gia hạn cho Ủy ban thêm 6 tháng nữa, đến ngày 31/3/2014, để trình một bản dự thảo Hiến pháp mới lên cho Quốc hội thảo luận và thông qua trong kỳ họp thứ 7 (diễn ra vào cuối tháng Năm).

Bản Hiến pháp mới cần hết sức lưu ý những nguy cơ tiềm tàng có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng quyền lực.

Sau khi được Quốc hội thông qua, Hiến pháp mới phải được toàn dân phúc quyết thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, chậm nhất là 6 tháng kể từ ngày Quốc hội chính thức thông qua;

Điều nữa là Tổ chức bầu cử Quốc hội mới chậm nhất là 12 tháng kể từ ngày Hiến pháp mới được phúc quyết.

Vỗ tay cần hai bàn tay

Bên cạnh lộ trình dân chủ hoá đất nước mà Đảng Cộng sản Việt Nam cần thực hiện, cộng đồng những người đấu tranh cho tự do, dân chủ của Việt Nam trong và ngoài nước cũng cần khẩn trương thực hiện những bước đi cụ thể để tận dụng tốt thời cơ đã chín muồi này.

Trước cơ hội do quan hệ Mỹ – Việt mở ra, các phe phái người Việt vừa cần lập liên minh đối trọng với đảng Cộng sản, vừa cần hòa giải dân tộc

Thứ nhất, các lực lượng phi cộng sản trong và ngoài nước cần liên kết với nhau và phải được thống nhất để hình thành nên một lực lượng đủ sức đối trọng với Đảng Cộng sản.

Một Việt Nam tự do, dân chủ trong tương lai chắc chắn là sẽ có nhiều chính đảng, kể cả Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, khi Đảng Cộng sản còn mạnh như hiện nay, đặc biệt là với sự ủng hộ của bộ máy công an, quân đội và tuyên truyền, còn các đảng phái chính trị khác thì nhỏ bé và tản mát, việc tập hợp các lực lượng này dưới một ngọn cờ là hết sức cần thiết.

Điều này vừa tạo ra một lực lượng đủ mạnh để đối trọng với Đảng Cộng sản, vừa tạo ra sự đoàn kết trong các lực lượng đấu tranh, tránh âm mưu phân hoá, chia rẽ tiềm tàng của Đảng Cộng sản;

Thứ nhì, liên minh các đảng phái đối lập nói chung và các đảng phái thành viên nói riêng cần vạch ra cương lĩnh chính trị và chương trình hành động cụ thể để tập hợp lực lượng, chứ không thể cứ nói suông là đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền;

Thứ ba, đây tối quan trọng là các bên cần thành tâm hoà giải, hoà hợp dân tộc vì mục tiêu chung: xây dựng và bảo vệ một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân văn và cường thịnh.

Hoà giải là hành trang không thể thiếu trên hành trình hướng tới mục tiêu cao cả đó và chúng ta cần dứt khoát là người cộng sản nên thành tâm vì giờ đã là năm 2013 rồi, không phải như thời 1945, 1954 hay 1975 nữa.

Những người Cộng sản đừng nghĩ rằng họ vẫn tiếp tục tự dối mình, dối nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế về ý thức hệ của họ.

Lịch sử đã sang trang và đây là cơ hội cuối cùng để những người cộng sản một thời như ông Lê Hiếu Đằng và ông Hồ Ngọc Nhuận không chỉ trở về với dân tộc mà còn khảng khái lên tiếng góp phần xây dựng một nước Việt Nam mới.

Như đã chỉ ra ở trên, dân chủ là điều không hề dễ dàng.

Nó đòi hỏi cả công sức lẫn sự hy sinh, nhưng những cơ hội và phần thưởng mà nó đem tới lại hoàn toàn tương xứng.

Nhân dân Việt Nam đang đứng trước cơ hội làm chủ vận mệnh của nước nhà.

Tuy nhiên, tự do và dân chủ không thể tới nếu người dân không thực sự dũng cảm đứng lên đòi quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền làm chủ đất nước trong một xã hội văn minh, công bằng và nhân bản.

Bài thể hiện quan điểm riêng của luật sư Vũ Đức Khanh từ Ottawa, Canada và blogger Lê Anh Hùng từ Việt Nam.

_____________________________

LS VŨ ĐỨC KHANH GỪI THƯ CHO NGOẠI TRƯỞNG CANADA JOHN BAIRD VỀ VỤ ÁN TS CÙ HUY HÀ VŨ

https://www.youtube.com/watch?v=qJj6ycC9TCc

Phản ứng đầu tiên, Báo Quân Đội Nhân Dân: ‘Độc đảng vẫn tốt’

Bộ tứ quyền lực tối cao ở Việt NamQuyền quyết định các vấn đề tối cao ở Việt Nam nằm trong tay Quốc hội hay Bộ Chính trị?

Một trong những cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhanh chóng lên tiếng bác bỏ đòi hỏi đa đảng – đáp lại cuộc vận động mới nhất để thành lập một đảng đối lập ở Việt Nam trong những ngày vừa qua.

Tuy nhiên, chưa thẩy báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận số một của Đảng, lên tiếng gì về chuyện này.

Trước đó, ông Lê Hiếu Đằng, một cựu cán bộ của Đảng từng làm lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc ở thành phố Hồ Chí Minh, đã kêu gọi thành lập một đảng mới ở Việt Nam với tên gọi Đảng Dân chủ-Xã hội.

Ông Đằng đưa ra đề xuất này sau những ngày suy nghĩ trên giường bệnh – khi ông đang tĩnh dưỡng sau cơn trọng bệnh.

Quốc hội ở trên Đảng?

Chỉ hai ngày sau, báo Quân đội nhân dân đã có phản hồi với bài xã luận ‘Đôi điều với tác giả ‘Viết trên giường bệnh’’ của tác giả ký tên là Trọng Đức.

Bài xã luận được đăng trong chuyên mục ‘Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình’ hôm Chủ nhật ngày 18/8.

“Quốc hội Việt Nam do toàn thể nhân dân Việt Nam bầu ra để thay mình thực hiện quyền lực Nhà nước. Do vậy, quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân.”

Báo Quân đội nhân dân

Tác giả giãi bày cả thảy 4 điều muốn nói với ông Đằng, trong đó điều quan trọng nhất là điều thứ hai: bác bỏ đòi hỏi đa nguyên đa đảng của ông Đằng.

Lập luận chủ yếu của tác giả Trọng Đức để bảo quyền thống trị tuyệt đối của Đảng là quyền lực cao nhất ở Việt Nam là không phải của Đảng mà ‘thuộc về nhân dân thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội’.

“Quốc hội Việt Nam do toàn thể nhân dân Việt Nam bầu ra để thay mình thực hiện quyền lực Nhà nước,” bài xã luận viết, “Do vậy, quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân.”

Tuy nhiên, những người chỉ trích cho rằng lâu nay Quốc hội Việt Nam chỉ thực hiện theo mệnh lệnh của Đảng và mặc dù Quốc hội trên danh nghĩa là do dân bầu nhưng những chức danh lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội đều do Bộ Chính trị của Đảng quyết định.

Mặt khác, mặc dù Dự thảo Hiến pháp sửa đổi vẫn đang trong giai đoạn lấy ý kiến người dân và vẫn chưa được Quốc hội thông qua nhưng tác giả bài xã luận đã khẳng định rằng ‘việc duy trì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 theo quyết định của Quốc hội, do vậy, cũng thể hiện đúng nguyện vọng của nhân dân’.

Nông dân Việt Nam biểu tìnhMặc dù chính quyền nói ‘phục vụ nhân dân’ nhưng nông dân Việt Nam thường xuyên biểu tình đòi quyền lợi

Không rõ có phải tác giả dự đoán trước rằng Điều 4 quy định về sự lãnh đạo của Đảng ở Việt Nam chắc chắn sẽ được thông qua hay không.

‘Dân chủ độc đảng’

Một lập luận nữa mà bài xã luận đưa ra là ‘độc đảng vẫn dân chủ’ miễn là bản chất đảng cầm quyền phục vụ giai cấp nào.

Từ đó tác giả khẳng định bản chất chế độ độc đảng ở Việt Nam là ‘phục vụ nhân dân’.

“Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đem lại những quyền lợi cơ bản cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động,” bài xã luận viết.

Tuy nhiên, những người bất đồng với chế độ cũng đã chỉ ra rằng chế độ độc đảng hiện nay ở Việt Nam, do nhân dân không có quyền kiểm soát thật sự, chỉ phục vụ cho lợi ích có tầng lớp thống trị nắm quyền hành trong tay.

“Đâu có phải cứ đa nguyên, đa đảng là tự nó đã có dân chủ? Đa đảng đối lập ở Việt Nam lúc này, có đúng như các ‘nhà dân chủ’ đã vẽ ra, là sẽ làm cho đất nước dân chủ hơn, phát triển hơn, đời sống nhân dân tốt đẹp hơn?”

Báo Quân đội nhân dân

Mặc khác, trong xã hội Việt Nam hiện nay đang có sự chia rẽ giữa đa số người dân lao động có đời sống khó khăn với những cán bộ giàu có và nhiều đặc quyền đặc lợi.

“Đâu có phải cứ đa nguyên, đa đảng là tự nó đã có dân chủ? Đa đảng đối lập ở Việt Nam lúc này, có đúng như các “nhà dân chủ” đã vẽ ra, là sẽ làm cho đất nước dân chủ hơn, phát triển hơn, đời sống nhân dân tốt đẹp hơn?,” bài xã luận phản bác.

Ngoài ra tác giả Trọng Đức cũng nêu ra một số luận điểm rằng ‘Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có hành động gì gọi là ‘bức tử’ những đảng khác’ và ‘nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất của mình’ mà không hề đưa ra dẫn chứng chứng minh.

Bài xã luận chỉ đề cập đến ông Đằng là ‘tác giả Lê Hiếu Đằng’ mà không cho biết ông Đằng là ai. Bài báo cũng không hề một lần nhắc đến ông Đằng là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có 45 năm tuổi Đảng.

_____________________________________________________________

Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”
Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh”
QĐND – Chủ Nhật, 18/08/2013, 20:15 (GMT+7)

QĐND – Vừa qua, trên một vài trang mạng xuất hiện bài “Viết trên giường bịnh” của tác giả Lê Hiếu Đằng với nội dung xuyên suốt cổ xúy “đa nguyên, đa đảng” tại Việt Nam. Đây không phải là vấn đề mới, báo chí đã không ít lần đề cập và đã có nhiều học giả hiểu cao, biết rộng phân tích nông sâu mọi nhẽ. Trong bài viết này, tôi chỉ muốn trao đổi lại một số điều mà tác giả đưa ra.

1. Sau khi kể lại quá trình hoạt động và được kết nạp vào Đảng của bản thân, ông Lê Hiếu Đằng có nhắc đến “một kỷ niệm khó quên”. Đó là việc khi ông đang bị chính quyền Thừa Thiên – Huế (dưới chế độ cũ) “cầm tù”, nhờ có lá đơn của bố ông nên ông được “cho ra tù” để đi thi. Sau đó, ông nêu câu hỏi: “Tôi không biết với chế độ được gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”.

Thực tế, với tuổi đời như ông Đằng, chắc ông cũng thừa hiểu, trong thế giới hiện nay, hầu như chẳng có nước nào, kể cả những nước đang tự vỗ ngực là dân chủ và muốn áp đặt kiểu dân chủ của mình làm “khuôn vàng, thước ngọc” cho toàn thế giới, cho phép tù nhân đang thụ án ra tù để đi thi đại học. Ở Việt Nam cũng vậy. Nhưng với những người vi phạm pháp luật, bị phạt tù và đã chấp hành xong hình phạt tù, pháp luật Việt Nam, cũng như hầu hết các nước trên thế giới, Việt Nam không cấm họ dự thi đại học. Chàng trai Phan Hợi (sinh năm 1983, quê ở Sơn Quang, Hương Sơn, Hà Tĩnh) thi đỗ đại học sau khi ra tù mà báo chí đã nhắc tới là ví dụ cụ thể nhất minh chứng cho điều này.

2. Với lập luận “cơ sở hạ tầng như thế nào thì phản ánh lên kiến trúc thượng tầng như thế đó”, ông Đằng viết, khi đã chấp nhận nhiều thành phần kinh tế khác nhau (cơ sở hạ tầng), thì tất yếu phải đa nguyên, đa đảng (thượng tầng) để bảo vệ quyền lợi của các thành phần kinh tế khác nhau ấy và kêu gọi thành lập lại những đảng “đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị Đảng Cộng sản bức tử phải tự giải tán”.

Nếu đã dẫn học thuyết Mác – Lê-nin, chắc ông Đằng cũng không quên, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng gắn bó với nhau theo hình chóp xuôi. Không phải cơ sở hạ tầng có cái gì thì kiến trúc thượng tầng cũng phải có cái ấy. Chẳng hạn, Việt Nam cũng như bất cứ nền kinh tế mở nào khác trên thế giới đều có thành phần kinh tế nước ngoài (các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc các doanh nghiệp góp vốn liên doanh, mua cổ phần tại các doanh nghiệp trong nước). Điều đó không có nghĩa (cũng chẳng có nước nào cho phép) nhất thiết phải tồn tại “Đảng của những người làm trong khu vực kinh tế nước ngoài” để bảo vệ quyền lợi cho thành phần kinh tế ấy.

Tại Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, vừa có quyền lập hiến, lập pháp, vừa có quyền giám sát tối cao, vừa có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Nếu nhìn vào cơ cấu đại biểu Quốc hội sẽ thấy, các tầng lớp nhân dân, các thành phần xã hội đều có đại diện của mình trong Quốc hội. Quốc hội Việt Nam do toàn thể nhân dân Việt Nam bầu ra để thay mình thực hiện quyền lực Nhà nước. Do vậy, quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Việc duy trì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 theo quyết định của Quốc hội, do vậy, cũng thể hiện đúng nguyện vọng của nhân dân. Những đảng đã giải tán tại Việt Nam trước đây đều do “tự giải tán” sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có hành động gì gọi là “bức tử” những đảng đó.

Về vấn đề “đa đảng và dân chủ”, báo chí gần đây đã phân tích khá kỹ cả về lý luận và thực tiễn. Trên thực tế, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ độc đảng hay đa đảng mà nó phụ thuộc vào bản chất chế độ cầm quyền phục vụ giai cấp nào. Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất của mình. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đem lại những quyền lợi cơ bản cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động. Vậy tại sao ông phải hô hào thành lập đảng đối lập vào lúc này? Đâu có phải cứ đa nguyên, đa đảng là tự nó đã có dân chủ? Đa đảng đối lập ở Việt Nam lúc này, có đúng như các “nhà dân chủ” đã vẽ ra, là sẽ làm cho đất nước dân chủ hơn, phát triển hơn, đời sống nhân dân tốt đẹp hơn? Hay sẽ diễn ra cảnh hỗn loạn, mất ổn định, đổ vỡ nền kinh tế như đã từng xảy ra ở một số nước mà người gánh chịu những hậu quả ấy, không ai khác chính là nhân dân? Thực chất các lời khuyên “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” đưa ra gần đây một cách rất “tâm huyết”, chẳng qua chỉ nhằm tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản mà thôi. Thủ đoạn ấy, không ai còn lạ nữa.

Đúng như ông Đằng nói, từ khi có chủ trương đổi mới, nền kinh tế Việt Nam tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Và chắc chắn ông cũng đã thấy, từ khi đổi mới, bất kỳ thành phần kinh tế nào cũng được tự do phát triển nếu không vi phạm pháp luật, không kinh doanh những mặt hàng bị cấm, hay lậu thuế, trốn thuế, không vi phạm nghiêm trọng quyền lợi của người lao động… Chính từ chủ trương đó, nên Việt Nam đang thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư nước ngoài tới sản xuất, kinh doanh. Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng không hề cản trở bất kỳ sự tự do kinh tế nào tại Việt Nam. Khi ông nói: “Điều 4 Hiến pháp hiện nay là đi ngược lại với sự vận động của thực tiễn, cản trở sự phát triển của đất nước”, không biết là dựa trên căn cứ nào.

3. Ông Đằng cũng nhắc tới lịch sử đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua. Chắc ông không quên, đường lối ngoại giao mềm mỏng cũng là truyền thống của dân tộc Việt Nam ta. Việt Nam là dân tộc chuộng hòa hiếu, chưa bao giờ và không bao giờ muốn gây sự với bất cứ nước nào, dù lớn hay nhỏ, trên thế giới, trừ phi quyền độc lập, tự chủ của dân tộc, chủ quyền lãnh thổ bị chà đạp, xâm phạm và không còn sự lựa chọn ngoại giao nào khác. Đường lối ngoại giao mềm mỏng không có nghĩa là lệ thuộc. Bất cứ sự kích động chiến tranh nào trong khi vẫn còn những lựa chọn giải pháp ngoại giao đều đi ngược lại truyền thống ngoại giao của cha ông, đi ngược lại lợi ích của đất nước, của dân tộc. Chiến tranh xảy ra, ông quá biết, sẽ đồng nghĩa với việc hy sinh xương máu, mất mát về kinh tế, kéo lùi sự phát triển của đất nước. Điều đó cũng đi ngược với xu thế của thế giới hiện đại. Đất nước ta trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả tàn phá hết sức nặng nề, chúng ta quá hiểu giá trị của hòa bình. Trách nhiệm của chúng ta là bằng mọi cách giữ vững môi trường hòa bình để dựng xây, phát triển đất nước. Còn dĩ nhiên, chủ quyền quốc gia, độc lập tự do của đất nước là thiêng liêng, chúng ta sẽ kiên quyết bảo vệ bằng mọi giá.

4. Ông Đằng nói, để có tự do, dân chủ thì phải thực hiện “tam quyền phân lập”, tức là quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp phải độc lập hoàn toàn với nhau. Tuy nhiên, đây là quyền lựa chọn của mỗi quốc gia. Trên thực tế, mỗi nguyên tắc phân công quyền lực Nhà nước đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Việt Nam lựa chọn nguyên tắc thể hiện được cao nhất quyền lực của nhân dân, nguyên tắc “tập trung quyền lực”. Theo đó, ở Việt Nam, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân trao quyền đó cho cơ quan đại diện cao nhất của mình là Quốc hội. Quốc hội là cơ quan quyết định việc phân công quyền lực cho các cơ quan khác thông qua Hiến pháp, pháp luật (nhưng khi đã thông qua Hiến pháp, pháp luật thì buộc Quốc hội cũng phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật). Như trên đã nói, Quốc hội Việt Nam là cơ quan dân cử, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Do vậy, việc Quốc hội Việt Nam được trao quyền lực cao nhất chính là sự thể hiện tính dân chủ cao nhất. Cũng phải nói thêm, điều đó không có nghĩa hệ thống tư pháp, cụ thể là tòa án, không có quyền độc lập trong phán quyết. Pháp luật Việt Nam quy định rất rõ, tòa án nhân dân Việt Nam khi xét xử chỉ nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xét xử theo quy định của pháp luật, không chịu sự chỉ đạo của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào. Ông Đằng đã từng giữ chức vụ nhất định trong một cơ quan dân cử, chắc chắn ông đã biết, ngay cả cơ quan dân cử cũng không có quyền “chỉ đạo” tòa xử án. Do vậy, lo ngại của ông là không có căn cứ.

Ông Đằng cũng nói, “con người khác con vật ở chỗ là có tự do”. Thiết nghĩ, nếu nói cho đúng hơn phải là “con người khác con vật ở chỗ biết xác lập quyền tự do trong khuôn khổ có sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng, của dân tộc và của nhân loại”. Con người không thể đòi quyền tự do cắn xé đồng loại như con vật, nói rộng ra, không thể “thích làm gì thì làm” như con vật.

Cũng còn nhiều điều nữa muốn trao đổi với ông. Trong khuôn khổ của một bài báo nên chỉ có thể trao đổi một vài điều như vậy, nếu có làm ông phật lòng, cũng mong ông thông cảm.

TRỌNG ĐỨC

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/5/5/5/257875/Default.aspx

Nhiều người bị đánh đập, sách nhiễu, hành hung Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

RFA, 2013-08-19

Mẹ con chị Trần Thị Nga

Mẹ con chị Trần Thị Nga. RFA files

Nghe bài này

Những người có quan điểm đối lập với nhà cầm quyền tại Việt Nam tiếp tục bị sách nhiễu thậm chí hành hung, đánh đập một cách vô cớ.

Theo dõi- tấn công

Ngày 16 tháng 8 vừa qua Tòa án tỉnh Long An là nơi thu hút chú ý của nhiều người quan tâm đến công cuộc đấu tranh cho dân chủ nhân quyền tại Việt Nam. Có người từ Hà Nội, Hà Nam cho đến những người ở Sài Gòn, Vũng Tàu đã tụ về đó để theo dõi phiên xử phúc thẩm hai sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha về tội danh tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự. Trong số những người về Long An đó có mẹ con chị Trần Thị Nga ở Hà Nam, bà Bùi thị Minh Hằng ỡ Vũng Tàu…

Cũng như lâu nay, những người công khai lên tiếng đòi hỏi quyền lợp hợp pháp của công dân, phản đối những sai trái, nhũng lạm của các cấp chính quyền… thường bị các đối tượng mà họ cho là an ninh, công an theo dõi.

Bà Bùi Thị Minh Hằng cho biết lại việc bị theo dõi và hành hung đối với bản thân bà hồi ngày 17 tháng 8 vừa qua như sau:

Khi xe vừa dừng lại ở cửa khách sạn, nhóm người này đã núp sẵn ở ngã tư .Tôi vừa kịp băng qua đường đến điểm lấy vé mà lúc đó có cả trăm người quanh khu vực đó vì là bến xe, 2 tên nào đó vọt lên cầm hòn đá đập vào đầu tôi

Bà Bùi Thị Minh Hằng

Khách sạn có những bậc cao để đi lên quầy lễ tân, họ đã đi lên. Lúc đó tôi cầm máy nên chạy lùi vào trong. Không ngờ họ tấn công anh Truyển và mẹ con cô Thúy Nga trước. Cháu bé mới 8 tháng tuổi và bị bọn côn đồ này đánh đến khóc thét lên. Lúc đó tôi xót xa, vội vàng nhào ra và cùng lúc đó bảo vệ khách sạn và mọi người đến. Họ gọi điện cho công an nhưng một người đến, chắc là công an phường, và vẫn ngồi trên yên xe hỏi ‘cái gì đó’ và sau đó bỏ đi.

Chúng tôi thu xếp đến nhà thờ đi dự lễ và sau đó ra xe taxi về. Nhóm người này tiếp tục đeo bám. Ngay tại cửa nhà thờ Kỳ Đồng có một người đã cố tình đâm xe vào tôi khi tôi mở cửa xe taxi bước lên. Người đó rồ xe cố tình đâm tôi, nhưng tôi bước lên xe taxi kịp. Sau đó chúng tôi đến bến xe ở Quận nhất để mua vè về Vũng Tàu, nhà của tôi. Tôi cũng rất cẩn thận nói với anh chị em là họ tiếp tục đeo bám với tác phong cố tình gây hấn, nên phải để ý khi xuống xe taxi khả năng họ sẽ tấn công. Tôi nói bác lái xe đậu sát vào cửa khách sạn. Khi xe vừa dừng lại ở cửa khách sạn, nhóm người này đã núp sẵn ở ngã tư .Tôi vừa kịp băng qua đường đến điểm lấy vé mà lúc đó có cả trăm người quanh khu vực đó vì là bến xe, 2 tên nào đó vọt lên cầm hòn đá đập vào đầu tôi. Về đến nhà tôi hiện nay chúng cũng rất đông, sáng nay chỉ có hai bây giờ cả chục rồi.

Cựu tù nhân Trương Minh Đức, người chứng kiến sự việc mẹ con chị Trần thị Nga bị đánh khi ở tại khách sạn trên đường Phạm Ngũ Lão, kể lại điều diễn ra :

Chúng tôi nghỉ qua đêm tại khách sạn. Buổi sáng khi tôi và anh Truyển xuống định đi mua thức ăn sáng thì bất ngờ từ dưới chân cầu thang họ tấn công lên. Vừa đó có chị Nga cũng vừa trên cầu thang đi xuống bồng cháu Tài- 8 tháng tuổi. Lúc đó ở ngoài rất nhiều, nhưng có bốn thanh niên xông vào đánh chị Nga. Riêng tôi cũng bị một trong bốn người này khống chế để giật điện thoại, nhưng tôi đã bỏ vào túi quần và giằng giật nên họ chưa giật được. Riêng chị Nga bị hai người đánh, anh Bắc Truyển la lên sao lại đánh phụ nữ; hai người quay lại nắm cổ anh Bắc Truyển và đánh anh tại chân cầu thang.

Riêng chị Nga bị hai người đánh, anh Bắc Truyển la lên sao lại đánh phụ nữ; hai người quay lại nắm cổ anh Bắc Truyển và đánh anh tại chân cầu thang

Trương Minh Đức

Kỷ luật trong tù

Đó là trường hợp của một số người bất đồng chính kiến đang ở ngoài xã hội.

Cũng vào ngày 16 tháng 8, gia đình của tù nhân Trần Hữu Đức đi thăm anh này trong tù. Anh Đức là huộc nhóm những thanh niên Công giáo- Tin Lành, đang bị giam tù tại Trại K3-Phú Sơn 4, thuộc xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Thông tin từ người nhà của anh Trần Hữu Đức cho biết anh này trước đó bị biệt giam với lý do mà bản thân anh Đức cũng như gia đình cho là không theo đúng qui định. Em gái của tù nhân Trần Hữu Đức khi đang trên đường từ trại giam về cho biết như sau:

Lúc ra thăm anh thì gầy hơn, mặt mũi xanh xao hơn vì anh bị biệt giam 10 ngày và tuyệt thực từ hôm đó 10 ngày luôn. Anh nói hôm kia đưa anh ra còn tồi tệ không đi nổi. Tôi hỏi lý do làm sao. Anh nói họ bảo lý do gửi thư; nhưng anh thấy vô lý. Qui định cho gửi thư, đã qua kiểm duyệt của cán bộ Sơn và Triêm; nhưng khi ra gửi lại không cho với lý do hết sức vô lý. Họ còn đưa 5 tù nhân bên hình sự sang làm chứng gian nói là mặc đồ thế này, thế nọ… Anh cũng nói chưa có trường hợp nào biệt giam mà giống như anh. Trước lúc biệt giam phải qua hai lần cảnh cáo: lần thứ nhất rồi lần thứ hai; nhưng anh không được một lần cảnh cáo nào. Họ xiềng tay, xiềng chân anh cả ngày lẫn đêm. Anh nói xiềng tay, xiềng chân chỉ ban ngày thôi; nhưng đối với anh cả ban đêm luôn, không mở một phút, một giây nào.

Họ xiềng tay, xiềng chân anh cả ngày lẫn đêm. Anh nói xiềng tay, xiềng chân chỉ ban ngày thôi; nhưng đối với anh cả ban đêm luôn, không mở một phút, một giây nào

Em gái của tù nhân Trần Hữu Đức

Giải đáp- nhận định

Trước những hành xử bị cho là vô lý như thế, những người trong cuộc đã chất vấn cơ quan chức năng và họ nhận được câu trả lời không thỏa đáng.

Em gái của tù nhân Trần Hữu Đức trình bày lại chuyện xảy ra ở Trại giam K3:

Cán bộ bảo việc gì chị cũng cặn kẽ thế; lúc nào cũng bắt lẽ từng li từng tí. Làm việc cũng tương đối thôi, đâu phải tuyệt đối được.

Cù tù nhân lương tâm Trương Minh Đức đưa ra nhận định về hành động đánh người từ những thành phần được ông và những người trong cuộc xác định là người của công an, an ninh:

Điều hết sức băn khoăn: không hiểu họ nhận được lệnh của ai tấn công chị Nga. Có thể do chị Nga là người đã xuất hiện ở Long An hôm trước đó tại phiên tòa phúc thẩm xử Phương Uyên; vì họ chỉ nhắm vào chị Nga. Đây là hành động mà tôi cho là họ rất vô nhân tính.

Vào chiều ngày 16 tháng 8, những người đến Long An theo dõi phiên phúc thẩm hai sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha tỏ ra hết sức vui mừng và hoan nghênh tuyên bố của tòa giảm án phân nửa cho cả hai sinh viên và án treo cho sinh viên Nguyễn Phương Uyên. Dư luận sau đó cũng phần nào hy vọng có thay đổi gì đó trong hành xử của phía nhà cầm quyền. Tuy nhiên việc theo dõi, hành hung các đối tượng bất đồng chính kiến, rồi việc tra tấn tù nhân vẫn tiếp tục diễn ra như trình bày của những người trong cuộc khiến cho chút hy vọng mong manh của họ bị tắt mất.

Lãnh đạo Đảng đã sẵn sàng mở cửa?

Quốc Phương.  BBC Việt ngữ. 18 tháng 8, 2013

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/08/130818_vuminhgiang_newparty.shtml

Áp phích tuyên truyền của Đảng Cộng sảnLiệu Đảng CSVN và chính quyền của Đảng có thực sự muốn quyền lực được giám sát?

Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền do Đảng lãnh đạo có thể sẵn sàng mở cửa để cho quyền lực của họ được giám sát bởi toàn dân và đặc biệt là quốc tế, theo ý kiến của một học giả, cựu thành viên tham vấn tư tưởng và chính trị cho Ban Chấp hành trung ương Đảng.

Theo quan chức cựu thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương của Đảng, giới lãnh đạo cao cấp của Đảng hiện nay sẵn sàng cho việc giám sát này, nhưng cần có thời gian và điều kiện để chuẩn bị cho một quá trình và cơ chế thực hiện hiệu quả và tránh những hệ lụy không mong muốn.

Trao đổi với BBC hôm 17/8/2013, Giáo sư Bấm Vũ Minh Giang, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội nói:

“Tôi nghĩ rằng những người lãnh đạo cao nhất của Việt Nam cũng sẵn sàng, chứ không phải là ngại ngần lắm về việc đó.

“Thế nhưng hiện nay, việc ấy không phải chỉ là ý chí sẵn sàng của người này hay người kia, mà việc tổ chức một cách chủ động một hệ thống chính trị có giám sát quyền lực để đảm bảo dân chủ, cũng như để minh bạch hóa tất cả các quan hệ chính trị và rõ nhất để cho các tổ chức quốc tế có thể tham gia vào…

“Đây là một cách để thể hiện minh bạch, thì cũng cần phải có thời gian, bởi vì một việc làm minh bạch như vậy nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng, thì có thể nó dẫn tới những hệ lụy mà đôi khi nằm ngoài ý muốn.”

Mặc dù cho rằng Đảng cầm quyền sẽ cần có điều kiện, thời gian và quá trình để thực hiện việc kiểm soát quyền lực này, Giáo sư Giang không nghi ngờ về khả năng Đảng sẵn sàng mở cửa. Ông nói:

“Tôi nghĩ rằng những người có trách nhiệm về chính trị ở Việt Nam hiện nay cũng rất muốn, có một nguyện vọng là làm sao sự lãnh đạo của mình được các tổ chức quốc tế, hay có một cách nào đó để thể hiện sự minh bạch của mình, thí dụ như là tổ chức bầu cử, chẳng hạn như vậy.”

‘Quy luật tất yếu’

“Chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng [CSVN] chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này”

Luật gia Lê Hiếu Đằng

Phát biểu trên của Giáo sư Giang với BBC được đưa ra nhân sự kiện vừa xuất hiện một lời kêu gọi công khai về thành lập một chính đảng mới ở Việt Nam.

Chính đảng này có tên gọi “Đảng Dân chủ Xã hội” với lời kêu gọi được nhóm của luật gia Bấm Lê Hiếu Đằng, một cựu quan chức thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một Đảng viên cộng sản lâu năm chủ trương.

Trong ý tưởng thành lập đảng mới được vị nguyên Phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình bày giữa tháng Tám, ông Đằng nêu quan điểm:

“Về phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin mà tôi hiểu được có một điều cơ bản là cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ sở xã hội, cơ sở kinh tế, v.v.) như thế nào thì phản ảnh lên thượng tầng kiến trúc như thế đó.”

Luật gia cho rằng “một khi cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ có nhiều tầng lớp với lợi ích khác nhau, thì tất yếu họ phải có tổ chức để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của họ”.

“Đó là qui luật tất yếu, vì vậy không thể không đa nguyên đa đảng được, và như vậy điều 4 Hiến pháp hiện nay là vô nghĩa,” luật gia khẳng định.

Ông Đằng còn lập luận rằng “chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng [CSVN] chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này”.

“Mà nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm. Đó là quyền công dân chính đáng của chúng ta,” ông khẳng định thêm.

Phản hồi quan điểm này, Giáo sư Giang cho rằng mong muốn lập Đảng của một nhóm nào đó trong xã hội thuộc phạm trù tự do tư tưởng, tuy nhiên ông lưu ý trong lập luận của nhóm chủ trương có thể chỉ dừng ở “lôgic hình thức” và đặc biệt, ông dự đoán thách thức chính mà nhóm này gặp phải.

Ông nói: “Theo tôi được biết, Hiến pháp hiện nay đang thảo luận, nhưng vai trò của Đảng Cộng sản như một đảng chính trị duy nhất và kèm theo đó là những quy định khác nữa, tôi nghĩ rằng việc đề xuất để lập ra một đảng chính trị thì không biết cơ sở pháp lý của nó có hay không.

“Nhưng như hiểu biết của tôi là chưa có, cho nên nếu đề xuất lập một Đảng chính trị, nhất là đề xuất từ những người đang là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, thì có thể đó là nguyện vọng, mong muốn nào đó của cá nhân hay một nhóm cá nhân đó, nhưng tôi không hiểu nó dựa trên căn cứ pháp lý nào.”

‘Vấn đề pháp lý’

Theo cựu cố vấn lý luận của Đảng, mong muốn, nguyện vọng lập chính đảng mới cho dù có tính tích cực đến đâu, cũng phải nằm trong khuôn khổ cúa pháp luật.

Ông nói: “Nếu (dự kiến lập đảng mới) có vấn đề gì không thì tôi nghĩ rằng đó là vấn đề với hệ thống pháp luật hiện hành.”

Được biết, trong thực tế chính trị hiện nay ở Việt Nam, đã đang xuất hiện các đảng phái chính trị do các nhóm đối lập hoặc bất đồng chính kiến tuyên bố lập ra nhưng không được Đảng và chính quyền cộng sản thừa nhận và bị ngăn cấm hoạt động.

Tuy nhiên, từ trong nội bộ Đảng, việc có các đảng viên đang còn giữ thẻ đảng muốn hay đề xuất lập đảng mới như nhóm của luật gia Đằng, được cho là hiện tượng tương đối đặc biệt và tuy chưa rõ khả năng hiện thực của khuynh hướng này sẽ ra sao.

Trong một trao đổi với BBC hồi cuối tháng Tư năm nay, một quan chức khác trong ngạch tư tưởng của Đảng, Giáo sư Bấm Nguyễn Đình Tấn, Viện trưởng Viện Xa hội học, thuộc Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh từ Hà Nội tỏ ra tự tin về vị thế bất khả tranh chấp của Đảng.

Ông nói: “Thực chất ở Việt Nam hiện nay, có thể nói với Đảng Cộng sản Việt Nam không có đối thủ. Nếu thể hiện là đối thủ của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một tổ chức, tôi nghĩ là không có,”

“Nó chỉ có thể có những ý kiến của những cá nhân, những nhóm người ta có những khác biệt với Đảng Cộng sản. Với tư cách đối thủ, tôi quan niệm là không có và trong tương lai tôi nghĩ là không có.”

‘Mở hay đóng tiếp?’

“Phát triển theo cách nào, đặc thù đến đâu, thì theo quy luật chung của tiến tình phát triển xã hội loài người. Xã hội ngày càng tiến tới những thiết chế đem lại nhiều lợi ích hơn cho dân, nó dân chủ hơn, nó tiến bộ hơn”

GS Vũ Minh Giang

Trong một trao đổi từ trước với BBC, Giáo sư Bấm Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng cùng thuộc Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia từ Hà Nội khẳng định quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng về vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Ông nói: “Đảng Cộng sản Việt Nam dứt khoát, trước sau như một, không chấp nhận có đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam”.

“Hiện nay pháp luật Việt Nam, điều lệ và cương lĩnh của Đảng cộng sản Việt Nam không chấp nhận chuyện này. Và một đảng không có nghĩa là mất dân chủ và đa đảng không có nghĩa là dân chủ.”

Tuy nhiên, hôm thứ Bảy, trước câu hỏi trong tương lai gần, hoặc trung bình, liệu có viễn cảnh nào cho thấy sẽ có các chính đảng khác và đối lập với Đảng cộng sản Việt Nam xuất hiện và được thừa nhận ở quốc gia này hay không, Giáo sư Vũ Minh Giang cho rằng “khó nói trước được điều gì”.

Ông nói: “Phát triển theo cách nào, đặc thù đến đâu, thì theo quy luật chung của tiến tình phát triển xã hội loài người. Xã hội ngày càng tiến tới những thiết chế đem lại nhiều lợi ích hơn cho dân, nó dân chủ hơn, nó tiến bộ hơn.

“Thì đấy là quy luật chung. Thế nhưng hiện nay những quy luật chung ấy như thế nào ở từng nước lại liên quan đến đặc thù văn hóa, đặc thù lịch sử của mỗi nước, và với cái đó, thật là khó nói trước được điều gì.”

Hiện việc Đảng sẽ chia sẻ quyền lực cụ thể ra sao, hoặc họ có thực lòng muốn quyền lực được giám sát như thế nào, vì cái gì và bởi ai vẫn là những câu hỏi chưa có lời giải đáp và cũng có vẻ vẫn chưa hoàn toàn rõ lắm về thời điểm mà Đảng ‘sẵn sàng’ mở cửa thực sự cho một cải tổ chính trị, thể chế tổng thể và triệt để.

Như trong cuộc trao đổi hồi cuối tháng Tư, Giáo sư Nguyễn Đình Tấn đã nêu quan điểm về khả năng lựa chọn mô hình chính trị cùng hướng đi tương lai của Đảng, ông nói:

“Trong tương lai xa, rồi thì Việt Nam cũng sẽ đi vào quỹ đạo chung, quỹ đạo bình thường của nền văn minh. Việt Nam đang đi, nhưng phải đi từ từ, dần dần, Việt Nam là phương Đông, không thể thực hiện những cú sốc được theo kiểu phương Tây.”

Lê Hiếu Đằng: Những điều nói rõ thêm… Nếu chưa chín muồi thì chúng ta chủ động làm cho nó chín muồi

Bauxite Việt Nam

http://boxitvn.blogspot.com/2013/08/nhung-ieu-noi-ro-them.html

Lê Hiếu Đằng

clip_image002Sau khi bài viết Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh của tôi và bài viết Phá xiềng của nhà báo Hồ Ngọc Nhuận đăng tải trên các trang mạng, một số bạn bè, đồng đội, nhân sĩ trí thức, nhà báo…, hoặc qua điện thoại hoặc gặp trực tiếp tôi đặt một số vấn đề, khiến tôi thấy cần làm rõ thêm về những suy nghĩ của mình.

Trong tình hình đặc biệt cần có những biện pháp đặc biệt, những liệu pháp “sốc” để đẩy nhanh quá trình phát triển theo chiều hướng dân chủ, tiến bộ để hội nhập thực sự vào dòng chảy hiện nay trên thế giới.

Tôi còn nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói ý này trong một cuộc gặp gỡ với một số nhân sĩ, trí thức và anh em trong phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh trước năm 1975, được thường xuyên tổ chức vào ngày 30 tháng 4 hàng năm – ngày mà theo cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt “có triệu người vui, có triệu người buồn”.

Thế thì tình hình đặc biệt hiện nay là gì? Có thể nói một cách khái quát là Việt Nam đang rơi vào một cuộc tổng khủng hoảng sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lãnh vực mà nhiều chuyên gia, nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà báo trong cũng như ở nước ngoài đã phân tích. Tôi chỉ xin nêu một số tình hình sau đây.

Nền kinh tế của chúng ta đang trên bờ vực thẳm do nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chủ yếu là do sự lãnh đạo và điều hành yếu kém của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, những tập đoàn, những nhóm lợi ích đang càng ngày lũng đoạn, chi phối nhà nước một cách nghiêm trọng; tệ nạn tham nhũng, lãng phí tràn lan không thể nào ngăn chận, làm thất thoát không biết bao nhiêu của cải, tài sản của nhân dân. Về vấn đề này, nhiều bài báo, nhiều phát biểu của các chuyên gia kinh tế trong nước và ở nước ngoài đã phân tích một cách sâu sắc với những cứ liệu cụ thể, tôi không nói gì thêm.

Đạo đức xã hội, trong đó những giá trị truyền thống của dân tộc, của gia đình bị xoáy mòn dữ dội trước lối sống thực dụng, giả dối, chạy theo chức vụ, đồng tiền của đông đảo cán bộ, đảng viên và một bộ phận nhân dân. Đặc biệt hai lãnh vực liên quan đến sự hình thành nhân cách và thể chất con người là giáo dục và y tế ngày càng bị thương mại hóa một cách tàn nhẫn, nên đã xuống cấp nghiêm trọng và toàn diện, không phương cứu chữa.

Sự phân hóa xã hội giàu nghèo ngày càng dữ dội. Một bộ phận nhỏ giàu lên nhờ tham nhũng, buôn lậu, mua quan bán tước. Còn đại bộ phận nhân dân, nhất là nông dân, công nhân, những người lao động, cuộc sống vô cùng khó khăn, mất đất mất nhà, phải ly hương khắp nơi, đôi lúc phải cho con em đi lao động nước ngoài như một lối thoát cho gia đình. Thậm chí một số nữ thanh niên rơi vào những địa ngục lao động tình dục đầy thương tâm, mất đi phẩm giá, danh dự của những công dân Việt Nam mà nhà nước phải có trách nhiệm bảo hộ.

Đảng Cộng sản Việt Nam đang rơi vào tình trạng khủng hoảng về lý luận và đường lối nghiêm trọng, với một nền “chính trị cường quyền” – chữ mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ám chỉ đường lối chính trị của Trung Quốc hiện nay nhưng đau xót thay, lại được áp dụng triệt để cho nhân dân Việt Nam. Vì vậy Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng xa dân, mất lòng dân, không có khả năng tự điều chỉnh, thay đổi. Với kinh nghiệm của một người hoạt động trong hệ thống chính trị hiện nay dưới sự lãnh đạo “toàn diện và tuyệt đối” của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều năm, tôi xin chứng minh khả năng tự điều chỉnh, thay đổi của Đảng Cộng sản Việt Nam là không có, hoặc nếu có thì phải có những điều kiện nhất định.

– Lúc tôi còn là Phó Chủ tịch thường trực và là Ủy viên Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM, có buổi làm việc với ông Lê Quang Đạo, lúc đó là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ông Phạm Văn Kiết (Năm Vận), Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký của Mặt trận Trung ương. Trong cuộc họp, hai ông đặt vấn đề: Trong hệ thống chính trị hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức chính trị xã hội rộng lớn bao gồm nhiều giai cấp, nhiều tôn giáo, dân tộc (theo điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) cần phải giữ vai trò “đối trọng” để giám sát chính quyền, ngăn chận khuynh hướng độc đoán, bè phái, tham nhũng. Hai vị nói rất say sưa về vấn đề này. Tôi và các vị trong Đảng đoàn và Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM rất phấn khích, đồng tình. Nhưng một thời gian sau, được biết chủ trương về vai trò “đối trọng” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã bị phê phán kịch liệt và có lệnh không được phép nhắc lại nữa. Ông Lê Quang Đạo cũng được cho về nghỉ vì đã dám có chủ trương nói trên.

– Cách đây vài năm, lúc ông Phạm Thế Duyệt, nguyên Thường trực Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cũng có một đề án “Về vai trò giám sát và phản biện xã hội Việt Nam” gởi qua Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đề án này cũng bị xếp xó cùng với luật lập hội…

– Gần đây nhất là qua việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đề nghị 7 điểm và bản dự thảo một hiến pháp mới, Hiến pháp năm 2013 của 72 nhân sĩ trí thức của cả nước đã được hàng vạn người ký tên đồng tình ủng hộ và những ý kiến có thể gọi là “tiến bộ” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội đồng chính phủ đều bị lờ đi và dự thảo lần thứ tư trình trước Quốc hội vừa rồi có những điều còn lạc hậu thụt lùi hơn cả Hiến pháp năm 1992, nhất là quyền sở hữu đất đai, vấn đề lực lượng vũ trang. Về bản dự thảo lần thứ tư này, 40 vị nhân sĩ trí thức đã ra tuyên bố phê phán thẳng thừng, không còn nói một cách tế nhị như trong đề nghị 7 điểm, mà nói thẳng phải bỏ điều 4 Hiến pháp, phải thực hiện chủ trương đa nguyên đa đảng, phải thay đổi thể chế, v.v. Phải nói đây là những ý kiến quyết liệt nhất từ trước đến giờ của các nhân sĩ trí thức trong cả nước. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không nghe, như trước đây họ đã không nghe những ý kiến tiến bộ và rất xây dựng của những người đã từng đảm đương những trọng trách trong Đảng và nhà nước như Trung tướng Trần Độ, Trung tướng Đặng Quốc Bảo, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị và nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, và nhiều người nữa. Họ dùng phương châm làm ngơ, không nghe, không thấy để tiếp tục củng cố Đảng, ngỏ hầu “một mình một chợ” muốn làm gì thì làm, đưa đất nước đến bờ vực thẳm.

– Ngoài những sự kiện trên, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam là tạo ra một tầng lớp cán bộ, một loại “giai cấp mới” với nhiều đặc quyền đặc lợi để vì lợi ích cá nhân và gia đình mà sống chết bảo vệ chế độ. Chủ trương phát triển Đảng trong trường học là minh chứng cho việc này. Cho phát triển Đảng trong các trường trung học, đại học sẽ phá vỡ môi trường sư phạm, làm xấu đi quan hệ giữa thầy và trò. Trong một trường học, một lớp học thầy ngoài Đảng còn trò là đảng viên thì còn thể thống gì trong quan hệ giữa thầy và trò. Đoàn Thanh niên Cộng sản là lực lượng “kềm kẹp” học sinh sinh viên mà việc một số sinh viên trường Đại học Luật lập blog “Bảo vệ công lý cho Đoàn Văn Vươn” bị Đoàn Thanh niên Cộng sản của trường này dùng nhiều biện pháp ngăn cản, đe dọa là một ví dụ. Hoặc hiện nay con đường tiến thân của thanh niên để leo nên những nấc thang quyền lực, nấc thang xã hội là về phường xã công tác, vo tròn, luồn cúi, vân vân, dạ dạ để được kết nạp vào Đảng – bước đầu tiên để họ tiến thân vào nấc thang danh vọng. Họ biết rằng trong chế độ hiện nay không đảng viên là không được cất nhắc đảm nhận những chức vụ quan trọng cho họ có quyền hành để nhận quà cáp, hối lộ. Nhiều quan chức giữ vai trò chủ chốt trong chính quyền của TP HCM hiện nay là từ con đường này mà đi lên. Vì vậy trình độ của họ rất kém, thiếu hẳn văn hóa cơ bản, chẳng biết gì về xã hội nhân sự, xã hội công dân, tuyên ngôn Nhân Quyền và các nền văn hóa, triết học của thế giới, nền tảng của tri thức nhân loại hiện nay.

Điều nghiêm trọng hiện nay là nền Độc lập Dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ mà đồng bào, chiến sĩ chúng ta qua nhiều thế hệ đã hy sinh biết bao xương máu mới giành lấy được, nay bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhà cầm quyền Bắc Kinh mà bản chất bành trướng, xâm lược không hề thay đổi. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhượng bộ nhiều trong hội nghị Thành Đô năm 1990. Đây là cơ sở cho chánh quyền Bắc Kinh mưu toan độc chiếm Biển Đông, thực tế là đã chiếm hẳn Hoàng Sa và một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta và nay vẫn tiếp tục ngang ngược bắt bớ, truy đuổi cướp bóc ngư dân của chúng ta đang đánh bắt trong những ngư trường truyền thống. Thật là khó hiểu khi Đảng và nhà nước Việt Nam cho Trung Quốc triển khai lực lượng, tuy gọi là dân sự dưới chiêu bài các dự án kinh tế, ở các vùng chiến lược trọng điểm như Tây Nguyên, các vùng rừng núi phía Bắc, miền Trung và đến cả Cà Mau của đồng bằng sông Cửu Long. Họ biến những khu vực đó thành vùng riêng của họ, không cho người Việt Nam bén mảng vào. Một khi có biến, “đạo quân thứ 5” này sẽ là một lực lượng làm chúng ta không kịp trở tay mà kinh nghiệm trong những ngày đầu cuộc xâm lược của bành trướng Bắc Kinh năm 1979 ở các tỉnh biên giới phía Bắc là những kinh nghiệm đầy máu và nước mắt của cán chiến sĩ, đồng bào ta. Càng khó hiểu hơn khi Đảng và nhà nước Việt Nam lại cấm hoặc lờ đi trong một thời gian rất dài việc tổ chức các ngày tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc này.

Những điều nêu trên chứng minh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã không còn là đảng cách mạng như trước đây nữa, mà đang trở thành yếu tố ngăn cản sự phát triển của đất nước, đưa đất nước chúng ta vào một cuộc tổng khủng hoảng toàn diện chưa có lối ra. Gần 40 năm là thời gian quá đủ cho một nước “cất cánh” như các nước trong khu vực. Chủ trương đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản và chủ nghĩa lý lịch cùng với việc không thực tâm thực hiện chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc, làm hạn chế sức mạnh đoàn kết dân tộc, một yếu tố cực kỳ quan trọng để phát triển đất nước cũng như để chống lại sự bành trướng của bọn xâm lược Bắc Kinh. Tôi và nhiều bạn bè đồng đội khác cho rằng nguyên nhân chính là vai trò độc đảng của Đảng Cộng sản, không có những lực lượng xã hội khác thực sự làm đối lập, đối trọng để giám sát, ngăn chận sự lạm quyền, lộng quyền và các chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản đi ngược lại lợi ích của quần chúng, của đất nước. Vì vậy đã đến lúc phải đẩy mạnh sự phát triển của xã hội dân sự, xã hội công dân, trong đó có các tổ chức chính trị độc lập và cùng tồn tại với Đảng Cộng sản và đấu tranh qua các cuộc bầu cử công khai hợp pháp có sự quan sát của quốc tế. Sự ra đời của Đảng Dân chủ Xã hội hay một đảng hợp pháp nào đó là lẽ đương nhiên, phù hợp với sự phát triển hiện nay của một nước dân chủ thực sự. Đây là biện pháp đặc biệt để giải quyết một tình hình đặc biệt dù cho có gây “sốc” đối với đảng cầm quyền hiện nay. Việc rời bỏ hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam của nhiều đảng viên vừa qua cũng như hiện nay là để không còn ràng buộc gì nữa với 19 điều cấm đảng viên, tước đoạt một số quyền công dân cơ bản, mà Đảng Cộng sản đã tùy tiện đặt ra, để trở thành những công dân tự do.

Sau năm 1975 trong giới công giáo có một bài hát rất hay “Trước khi là người công giáo tôi đã là người Việt Nam”. Trước khi trở thành đảng viên Cộng sản, chúng tôi là người Việt Nam. Dù quá khứ như thế nào, khuynh hướng ra sao, chúng ta đều là người Việt Nam, đều có chung một mục đích là đấu tranh để xây dựng một nước VIỆT NAM ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

Vậy tình hình đã chín muồi để đặt vấn đề này chưa? Một số người đặt vấn đề với tôi như vậy. Tôi và nhiều người nữa thấy tình hình đã chín muồi, khẩn cấp lắm rồi, nếu không tích cực giải quyết thì Việt Nam sẽ rơi vào cuộc tổng khủng hoảng triền miên, không loại trừ nguy cơ sụp đổ, nhất là trước áp lực ngày càng nặng nề của Trung Quốc, một nước láng giềng rất tráo trở, muốn biến nước ta thành một bộ phận, hoàn toàn phụ thuộc họ. Đây là nguy cơ thực sự.

Còn giả thiết rằng tình hình chưa chín muồi thì lại càng phải đấu tranh để nhanh chóng thay đổi thể chế, từ chế độ độc tài toàn trị sang chế độ Dân chủ Cộng hòa, phát triển xã hội dân chủ, xã hội công dân với những lực lượng chính trị độc lập để qui tụ quần chúng ngõ hầu đấu tranh kềm chế, giám sát đảng cầm quyền một cách có hiệu quả. Nếu chưa chín muồi thì chúng ta chủ động làm cho nó chín muồi, chứ chẳng lẽ khoanh tay thụ động ngồi chờ cho nó chín muồi sao? Không thể có thái độ ngồi chờ sung rụng như vậy được. Chúng ta đã ngủ một giấc ngủ dài, làm ngơ trước những cái ác, cái xấu, cái bất công. Trước nỗi khổ của những người dân mất tự do, mất nhà, mất đất, chúng ta phải thức tỉnh, không thể chần chừ được nữa. Để đất nước rơi vào tình hình hiện nay có phần trách nhiệm của giới “sĩ phu”. Vậy đã đến lúc giới sĩ phu trong cả nước phải lãnh trách nhiệm đứng lên, dõng dạc và hiên ngang đi đầu trong cuộc đấu tranh này. Chẳng lẽ chúng ta không thấy xấu hổ trước tấm gương sinh viên Phương Uyên, người con gái 21 tuổi trong phiên xử của tòa án phúc thẩm tại Long An vừa qua hay sao? Trước áp lực của xã hội, của quần chúng, tòa án phúc thẩm buộc phải xem xét lại bản án và Phương Uyên được trả tự do ngay tại tòa. Đây là một kết quả ngoạn mục, ít ai nghĩ đến. Nếu chúng ta cứ thụ động ngồi chờ cho tình hình chín muồi thì chắn hẳn bản án sẽ khác đi. Bất cứ cuộc đấu tranh nào, qui luật chung là đều có những “đột phát khẩu” để phá rào cho quần chúng tiến lên. Sẽ có hy sinh mất mát nhưng chúng ta phải chấp nhận.

Một vấn đề nữa là quá trình ra đời và phát triển một tổ chức chính trị, kể cả một đảng chính trị, không thể một ngày một bữa mà có ngay.

Đọc bài viết Phá xiềng của nhà báo Hồ Ngọc Nhuận, nhiều người hỏi là Đảng Dân chủ Xã hội đã có trên thực tế chưa. Thực ra bài viết của nhà báo Hồ Ngọc Nhuận chỉ nêu ra một ý tưởng để mọi người cùng suy nghĩ. Chứ thực ra việc thành lập một tổ chức chính trị nào, kể cả Đảng Dân chủ Xã hội, đều phải theo một qui trình nhất định. Chúng ta chủ trương đây là một việc làm công khai, hợp pháp nên trước tiên phải thành lập một ban vận động để sơ thảo cương lĩnh, điều lệ để có cơ sở cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ tổ chức này như thế nào, đường hướng ra sao để ủng hộ hoặc không ủng hộ và cũng là cơ sở khi đăng ký với chánh quyền để họ xem đây có phải là một tổ chức khủng bố, phản động, như ngôn ngữ hiện nay họ thường dùng, hay không hay đây là một tổ chức có đường hướng tuy khác với Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng không có gì đi ngược lại lợi ích của đất nước, của dân tộc, có thể cùng song song tồn tại với Đảng Cộng sản và các tổ chức chính trị khác. Chủ trương của chúng ta là hòa bất bạo động, chống lại các hành động quá khích, khủng bố, vũ trang lật đổ. Chúng tôi tin rằng việc làm đúng đắn của chúng ta sẽ được sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp quần chúng, tuy bây giờ là đa số “thầm lặng”, những đến một lúc nào đó có điều kiện sẽ trở thành một lực lượng đấu tranh hùng hậu để xây dựng một nước VIỆT NAM HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT, TIẾN BỘ XÃ HỘI VÀ VĂN MINH, một khát vọng sâu xa mà nhiều thế hệ cha ông chúng ta đã mơ ước.

Cho nên đây là một quá trình vận động. Hiện nay chúng ta đang trong quá trình vận động.

Những điều tôi viết trong bài này cũng như bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh là lời tâm huyết mà tôi đem cả tim óc để bộc bạch cho bạn bè, đồng đội và những người đã cùng nhau chiến đấu trước hoặc hiện nay, cũng như những người chưa quen biết trong và ngoài nước. Bệnh tôi chưa biết sẽ diễn biến ra sao, nhưng tôi hạnh phúc được nhiều người – kể cả có vị lãnh đạo cao của Đảng, Nhà nước – thăm hỏi, chăm sóc, có người còn cho những loại thuốc quý. Trong tình hình bất an hiện nay, nếu biết đâu tôi bị một tai nạn nào đó thì xin mọi người xem đây như những gì tôi để lại cho những người thân trong gia đình, những người mà tôi thương yêu, cho bạn bè, đồng đội và cho đời. Đó là tâm nguyện của tôi, rất mong mọi người hiểu cho.

Sài Gòn, ngày 18 tháng 8 năm 2013

L. H. Đ.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Hộ Ngọc Nhuận: Đã đến lúc “phá xiềng”!

Mặc Lâm- RFA.  2013-08-17.   VML081713.mp3

ho-ngoc-nhuan

Cựu DB/VNCH đối lập Hồ Ngọc Nhuận. photo hoangquang1.worlpress.com

Sau khi ông Lê Hiếu Đằng nguyên Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt nam Tp.HCM tung ra liên tiếp ba bài viết tuyên bố cần phải thành lập một đảng đối lập tại Việt Nam mà ông là người sáng lập, để làm đối trọng với chế độ độc đảng hiện nay, ông Hồ Ngọc Nhuận, một trí thức nổi tiếng từng hoạt động công khai trong chính phủ Sài Gòn với vai trò của một dân biểu đối lập và sau năm 1975 ông tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng của chính quyền mới, đã tung bài viết mang tên Phá Xiềng đang tạo sôi nổi trong dư luận. Mặc Lâm phỏng vấn đặc biệt với ông để tìm hiểu thêm vấn đề quan trọng này.

Mặc Lâm:

“Thưa ông sau khi ông Lê Hiếu Đằng viết liên tiếp ba bài nói về sự bức thiết phải thành lập một đảng đối lập với cái tên gợi ý là Đảng Dân chủ Xã hội. Ngày hôm nay ông cũng có bài viết với tên gọi “Phá Xiềng” chẳng những ủng hộ quyết định của ông Lê Hiếu Đằng mà còn bổ túc thêm nhiều ý tuởng cho sự hình thành đảng này. Xin ông cho biết lý do chính của việc cần thiết phải thành lập đảng đối lập này là gì?”

“Chế độ này không dân chủ”

Ô. Hồ Ngọc Nhuận:

Chế độ này không có dân chủ. Anh thấy không, người ta lấy dân chủ người ta làm độc trị, độc quyền, độc đoán, đủ thứ hết trọi! Nhưng không có dân chủ thì không thể có lối thoát được. Và điều này thật sự ra những người nào yêu nước, những người có lòng, họ đã khổ sở đề nghị lâu rồi nhưng không ai nghe. Nếu mà dân chủ thì người ta sợ người ta mất. Ông Đằng đặt vấn đề cũng từ lâu rồi vì đây là lối thoát. Lối thoát cho những người đương cầm quyền mà còn là lối thoát cho dân mình, không còn cách nào khác. Hơn nữa, cái này cũng lâu đời rồi. Từ xưa đến giờ tất cả những nước đã phát triển thì tốt nhất là áp dụng dân chủ. Khi mà dân chủ được thì mọi người đều có dân chủ, mọi người mới hợp lực lại. Đâu có ai cản lại được đâu, có ai nói ngược lại đâu, có ai nói phải nói trái được đâu mà  nói phải nói trái thì tối thiểu là bị ém, bị trù, bị dập. Tức là nói nôm na có dân chủ mà không có đối lập thì  kể như là cụt chứ không phải cuội nữa mà nó là độc tài.”

Mặc Lâm:

“Ông đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền hiện nay ông nhận thấy nền dân chủ của nuớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có gì đáng để phân tích hay không và đặc biệt vai trò của Đảng Cộng sản đối với nền dân chủ pháp trị mà chính phủ luôn hô hào vận động có điều gì cần phải bàn luận hay không?”

Ô. Hồ Ngọc Nhuận:

Họ cứ nói là còn đảng còn mình nên quyết bảo vệ đảng. Một ngày nào đó, không sớm thì muộn, có thể họ ở lâu lắm, nhưng một ngày nào đó họ cũng ra đi nhưng là một sự tan nát ê chề bởi vì dân đâu có chịu! Nhiều đời lắm rồi, từ thời còn vua chúa kìa, dân mình không phải là dân không có tiếng nói. Luôn luôn có tiếng nói. Vua chúa ngày xưa cũng để cho dân nói. Cái chế độ cũ cũng để cho dân nói. Còn giờ đây không cho người ta nói thì làm sao mà góp ý và xây dựng đất nước được? Cho nên điều tâm đắc nhất của tôi từ xưa đến giờ là dân chủ mà muốn dân chủ là phải có 2,3 đảng. Người ta đâu có đòi phá mấy ổng, người ta đòi nói chuyện với mấy ổng một cách rất là tử tế và mấy ổng tử tế nói chuyện với người ta. Mà nói chuyện thì phải bình đẳng, bình quyền.

So sánh hai chế độ

Mặc Lâm:

“Trong chế độ cũ ông từng là một dân biểu chọn vai trò đối lập, đồng thời cũng là giám đốc chính trị của nhật báo Tin Sáng có từ trước năm 1975. Giữa hai chế độ thì trong thâm tâm ông, ông có nhận xét như thế nào về nền dân chủ pháp trị trước đây và nền pháp trị của chế độ mới, nếu so sánh một cách công bằng, thưa ông?”

Ô. Hồ Ngọc Nhuận:

Thật sự cái luật của chế độ mới bây giờ đâu phải là pháp trị mà là đảng trị. Họ thâu tóm tất cả trong tay họ hết. Chế độ này họ muốn cai trị nhưng họ không có luật. Họ không có luật thì làm sao ra luật được. Cái ông đảng này ổng thâu tóm hết rồi ổng “úm ba la” nay ổng làm cái luật này, mai ổng làm luật kia. Còn những cái mà ổng cho là quyền của dân thì ổng ghi trong hiến pháp thì ổng để đó. Ổng không dám làm luật vì nếu ổng làm luật, dẫu cho họ có nắm hết quyền hành từ Quốc hội cho đến đủ thứ đi nữa thì một ngày nào đó tối thiểu cũng mở cửa chút đỉnh. Còn cái này cũng không phải pháp trị mà cũng không pháp quyền nữa mà nó là đảng trị. Đảng trị từ đầu đến cuối. Đảng ta là đảng cầm quyền. Cầm quyền một mình nên đi tới độc quyền. Vậy thôi.

Còn chế độ cũ, tôi là một dân biểu đối lập trong chế độ đó. Tại sao ở chế độ cũ người ta cho đối lập? Từ hồi mới 75, mấy ổng nói với tôi là đây là kiểu thực dân mới nên nó mới áp dụng như vậy để nó coi là có dân chủ.

Đã có dân chủ thì phải có đa nguyên, có người này người khác chẳng hạn, không phải là tốt tuyệt đối đâu. Nó cũng có mặt này, mặt khác nhưng dưới chế độ cũ, tôi là dân biểu đối lập nhưng tôi làm báo được, mặc dầu tôi bị đóng cửa tới đóng cửa lui, rồi tôi bị tịch thâu tới, tịch thâu lui và sau cùng tôi bị đóng cửa hẳn năm 72. Đóng tờ này tôi lại làm tờ khác. Nói với anh Mặc Lâm, ngay cả bậc thầy của chúng ta trong làng báo là ông thầy Nguyễn An Ninh chẳng hạn, ổng từ Pháp về và viết những bài bằng tiếng Pháp. Hồi xưa dưới cái thời cai trị của thực dân nó cũng để cho người mình nói chuyện. Mặc dầu nó cũng bắt nhốt ổng và sau cùng ổng phải chết ở Côn đảo.

Thú thật ra bây giờ chế độ dân chủ ở M, ở Anh, ở Pháp hay ở Âu châu chẳng hạn, nó cũng có những đàn áp…bởi vì đây thật sự là đấu tranh mà! nhưng đấu tranh dân chủ ít ra phải có tiếng nói của dân, ít ra phải có tiếng nói của báo chí. Còn đằng này ổng tóm thâu hết. Cả cái suy nghĩ, cái tình cảm ổng cũng muốn làm chủ.

Anh Đằng ảnh nói đúng đó. Dưới chế độ cũ mấy ông làng văn cũ vô trong này hồi sau 75 chẳng hạn tôi còn tặng sách của mấy ổng mà ở ngoài đó mấy ổng không in được. Còn ở trong này in thả giàn. Tất cả những  sáng tác của thời gọi là thực dân, gọi là đủ thứ… tại sao những sáng tác đó có giá trị để đời còn bây giờ thú thật mấy ổng tặng thưởng này, tặng thưởng kia mà dân có ai đọc đâu?

Học sinh thì bị bắt học, thật tội nghiệp cho con cháu chúng ta quá. Nó bị nhồi nhét, nó bị một chế độ ngu dân. Cho nên nói thì nhiều lắm, anh Mặc Lâm ơi nhưng mà nói thì đâu có phải đả phá hay tranh đấu với mấy ổng đâu. Mấy ổng mạnh quá mà. Bao nhiêu lực lượng ở trong tay, còn lâu lắm nhưng nhất định mấy ổng không chịu, mấy ổng sợ.”

Sẽ đàn áp đảng viên Cộng Sản?

Mặc Lâm:

” Như ông vừa nói, đảng Cộng sản còn đang rất mạnh, có biết bao nhiêu lực lượng trong tay, như vậy khi một đảng đối lập mới được hình thành với cái tên Đảng Dân chủ Xã hội chắc chắn sẽ bị chính quyền chống phá mãnh liệt và sự mãnh liệt ấy có thể dẫn đến đổ máu. Ông có dự báo câu chuyện có thể dẫn đến mức độ tồi tệ như vậy hay không?”

Ô. Hồ Ngọc Nhuận:

Thât sự ra đâu có ai làm gì mấy ổng đâu mà đổ máu? Tất nhiên là mình bất bạo động mà. Vả lại tôi bây giờ, như anh Mặc Lâm có hỏi hồi nãy đó là vấn đề sức khỏe. Những ông già như chúng tôi thì làm cái gì mà đổ máu? Tất nhiên là bịt miệng thôi. Tôi chỉ làm đảng đối lập thôi chứ có làm gì đâu và không như các  đảng đối lập ở các nước làm loạn để họ đàn áp đẫm màu được?

Nếu họ đàn áp đẫm máu thì chuyện này rất là lạ lùng, quái dị nhưng tôi hy vọng ở tuổi trẻ. Thời nào cũng vậy hết, không có tuổi trẻ thì không làm ăn gì được hết. Và tôi hy vọng cả những ông đảng viên, thật sự như ông Đằng ổng nói đó, có nhiều người  chuyển sinh hoạt đảng đâu đó thì cũng không thèm. Con số âm thầm đó là bao nhiêu? Số đó đông lắm vì họ uất ức, họ nghẹn ngào, buồn tủi vì bị cấy lý tưởng thời còn trai trẻ. Họ vì dân vì nước mà bị người ta phản bội. Con số nguời đó thật tình đấu tranh, dấn thân, vào tù ra khám. Đó là thật sự những người đảng viên Cộng sản yêu nước họ cũng là những người đấu tranh kiên cường.

Mặc Lâm:

“Ông có cho rằng vì không thể im lặng nhìn một lực lượng nổi lên chống lại sự độc đảng của mình nên đảng cộng sản sẽ ra tay đàn áp, bắt bớ những người tham gia vào đảng Dân Chủ Xã Hội hay không?”

Ô. Hồ Ngọc Nhuận:

Có thể là bắt bớ người nhưng có ai làm gì đâu mà bắt bớ. Thật sự ra là họ bắt những người trong nội bộ đảng vì họ đã đứng ra không chấp nhận đảng nữa và lập cái đảng mới. Điều này tôi rất mong từ lâu rồi. Nói cách này thì họ ngại nhưng không có gì đáng ngại đâu, không phải là diễn tiến tự sụp đổ đâu mặc dù đúng là một hình thức đó, tự sụp từ bên trong.

Nếu họ bắt một người đảng viên cộng sản ly khai thì họ tự đục một cái lỗ hổng. Bắt nhiều người cộng sản ly khai thì họ đục thêm nhiều cái lỗ như vậy. Bắt nhiều người như vậy trong cùng một cái đảng của họ mà không còn chấp nhận họ nữa thì cứ cho họ tự phá con thuyền của họ.

Mặc Lâm:

“Để bắt đầu xây dựng một đảng đối lập trong bối cảnh hiện nay ông nghĩ bộ phận nào trong xã hội sẽ được kêu gọi và gây dựng làm thành phần nòng cốt?”

Ô. Hồ Ngọc Nhuận:

Tôi tin rằng với nòng cốt của đảng mới này như ông Đằng hô hào và kêu gọi. Ông ấy hỏi tại sao chúng ta là những người đảng viên cảm thấy mình hổ thẹn với tiền nhân, với con cháu vì bị phản bội; Nếu mình cứ tiếp tục làm thêm như vậy thì chính mình cũng là người phản bội. Ổng có kêu gọi những người bạn đó và tôi cũng kêu gọi những người đó. Bởi những người đó, đúng ra là một bộ phận của người cng sản muốn công khai đấu tranh ôn hòa, đấu tranh dân chủ để mà xây dựng đất nước, thế thôi.

Mặc Lâm:

“Nếu vượt qua được bước đầu thành lập đảng mà không bị bắt bớ hay đàn áp vì theo như ông nói Đảng Cộng sản sẽ không dại gì mà tự đục thuyền của mình bằng cách bắt bớ đảng viên ly khai, như vậy buớc kế tiếp Đảng Dân Chủ Xã hội mà cốt cán là thành phần đảng viên ấy sẽ làm điều gì với đảng Cộng sản hiện nay?”

Ô. Hồ Ngọc Nhuận:

“Nếu họ không làm chuyện đó vì họ nghĩ như vậy là tự đục thuyền thì chỉ còn một cách là ngồi lại với nhau, thử nói chuyện. Ông Đằng có nói rất rõ là ổng thách mấy ổng nói chuyện thẳng với ổng. Ổng thách cả ông đầu sỏ của tuyên huấn của đảng Cộng sản về lý luận nói chuyện với ổng. Chứ đâu có nói đấu võ đâu! Nói ra điều này ai cũng ngại nhưng mà đối với đảng Cộng sản thật sự mà thấy tình hình thực tế dân tình không cho phép mấy ổng làm chuyện cũ nữa. Không chuyên quyền nữa thì mấy ổng phải nghe.”

Mặc Lâm:

“Xin cám ơn ông Hồ Ngọc Nhuận đã cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.”

Buổi nói chuyện của LM Nguyễn văn Khải tại Melbourne

Nguồn: tổng hợp và lyhuong.net

Linh mục Nguyễn Văn Khải tại Đền Thờ Quốc Tổ  (Trung Tâm Bảo Tồn Di Sản Văn Hoá Việt Nam).

Trên dưới 400 đồng hương đã tề tựu về Đền Thờ Quốc Tổ (Trung Tâm Bảo Tồn Di Sản Văn Hoá Việt Nam) để tham dự buổi nói chuyện của LM/Cha Nguyễn văn Khải, một buổi nói chuyện thật vô cùng sâu sắc, lôi cuốn và thú vị đã để lại những cảm xúc sâu đậm trong lòng người dân Việt (xin vui lòng nghe phần âm thanh do đài Viễn Xứ FM88.9 thực hiện).

Ông Nguyễn Thế Phong (Trưởng Ban Ủy Ban Đền Thờ Quốc Tổ) đã có một bài diễn văn chào mừng Cha Khải với những lời lẽ đầy quý mến và cảm phục – “… may mắn thay trong vũng bùn đen của dối trá, của tàn ác, của vô lương tri ấy đã mọc lên không biết bao nhiêu là những đoá sen của sự thật và lương tâm con người … Họ đã mọc xuyên qua ao tù đen tối, vị kỷ và phi nhân của địa ngục CSVN để lên tiếng và để chứng minh cho chúng ta, cho toàn thể đồng bào Việt Nam trong cũng như ngoài nước, cho toàn thể con dân Việt Nam ngày nay cũng như mai hậu và cho toàn thể thế giới thấy và biết được rằng lương tâm của con người Việt Nam thực sự vẫn còn đó, nghĩa khí anh linh ngàn đời bất khuất của tổ tiên Việt Nam vẫn còn đó và để chứng minh rằng sự thật vẫn còn đó, và những người này, những đoá hoa này họ thà chết, thà bị tù đày rục xương, thà bị tra tấn dã man chứ nhất quyết không chịu mất đi lương tri, nhân phẩm và lòng yêu nước chân chính của con người Việt Nam …”

Buổi nói chuyện của Cha Khải – một vị tu sĩ còn rất trẻ, nhưng ăn nói rất hoạt bát, có một kiến thức rất rộng, có một trí nhớ thật tốt, có một cách nói giản dị với những lời lẽ khôn ngoan, khéo léo, cùng với lối pha trò thật dí dõm, … – đã bị ngắt quãng bởi những tràng pháo tay không ngớt, những tiếng cười rộn vang của đồng hương.

Qua những câu chuyện kể về kinh nghiệm đấu tranh của đời mình, cha Khải quả là một con người thông minh, lanh lợi, có ý chí, kiên trì, cương quyết, gan dạ, khí khái, đầy tâm huyết cùng với đức tính khiêm cung, chân chất, thật thà, vị tha và nhất là tấm lòng của Cha đối quê hương, đất nước đã làm cho đồng hương cảm phục và yêu mến Cha vô vàn. Càng quý mến Cha hơn nữa khi thấy Cha có những nhận xét thật khách quan, đúng đắng về tin đồ của tôn giáo bạn. Chẳng hạn như khi Cha chân thành bày tỏ lòng cảm phục của mình đối với tinh thần bất khuất của các tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo – một tôn giáo, mà theo nhận xét của Cha, đã bị CSVN thẳng tay trù dập, đàn áp thô bạo, dã man nhất tại Việt Nam.

Cha đã xót xa, đau đớn, tức giận khi nói về việc buôn dân bán nước của CSVN, việc Tàu cộng hàng ngày đưa dân vào âm thầm xâm chiếm Việt Nam trước sự làm ngơ và ươn hèn của CSVN là những điều đã làm cho Cha thao thức không nguôi. Cha Khải thao thao bất tuyệt, nói hết đề tài này sang đề tài khác không ngừng nghĩ, từ các vấn đề kinh tế suy sụp, tệ nạn tham nhũng, xã hội băng hoại, tôn giáo bị đàn áp, giáo dục thụt lùi, đạo đức suy đồi, … cho đến sự vô cảm của con người và càng ngày càng trở nên bạo lực hơn.

Được biết rằng tiến trình bảo lãnh Cha Khải sang Úc Châu du thuyết đã mất hơn 2 năm để làm thủ tục nhập cảnh và cũng nhờ sự bảo trợ của Đức Cha Nguyễn văn Long cho nên cuối cùng mọi việc mới được suôn sẽ. Cha Long cũng đã có mặt trong buổi nói chuyện để bày tỏ sự vui mừng được tiếp đón Cha Nguyễn văn Khải như là một nhân chứng sống trong lòng chế độ CSVN, một người đã từng tranh đấu cho tự do, nhân quyền của Người Việt thân yêu, nhất là tại giáo xứ Thái Hà. Theo Cha Long thì cuộc du thuyết của Cha Khải là để khơi lên ngọn lữa đấu tranh cho quê hương đất nước và đó cũng là sứ mạng của Cha Khải, là sự thao thức của mọi người. Cha Long cảm thấy ấm lòng, khích lệ khi thấy đông đảo đồng bào tham dự buổi chia sẽ của Cha Khải, điều này chứng tỏ ngọn lữa đấu tranh cho tự do, cho nhân quyền, trong lòng Người Việt tại Melbourne và tại Úc nói chung vẫn còn cháy sáng. Hy vọng với tinh thần đó hiệp thông cùng với đồng bào quốc nội và trên toàn thế giới thì cái ngày tươi sáng đó, cái ngày mà giòng sông lịch sử sẽ được khai thông tại quê cha đất tổ sẽ sớm đến với đất nước Việt Nam.

Đặc biệt tham dự buổi nói chuyện của Cha Khải có sự hiện diện của một vị giáo dân của giáo xứ Thái Hà, bác Việt, mà theo lời Cha Khải thì bà quả là một người đàn bà gan lì đã từng bị công an bắt giam, tra hỏi, khủng bố nhưng vẫn không bao giờ khuất phục trước tà quyền, không bao giờ sợ hãi trước kẻ ác. Nhắc đến sự gan lì của bác Việt thì Cha Khải có nói về những đức tính mà những người đấu tranh (khi phải đối đầu với bầy sói CSVN) cần phải có, đó là 3 “lờ” – lý, lì, liều – nghĩa là chúng ta cần phải có lý luận vững chắc, làm đúng theo pháp luật, kế đến là phải lì, phải kiên trì, phải giử vững lập trường, và cuối cùng là phải liều, phải biết nắm thời cơ để mạnh dạn tiến bước.

Buổi nói chuyện của Cha Khải đã được đội Hậu Duệ QLVNCH phụ diễn văn nghệ với những bản nhạc đấu tranh – “Anh là ai?”, “Việt Nam tôi đâu”, “Triệu con tim”, “Bước chân Việt Nam” … đã làm tăng thêm tinh thần đấu tranh và sự nô nức của lòng người. Ngoài ra ban ẩm thực/đầu bếp đã phải chuẩn bị nấu nướng từ ngày hôm trước và đã vất vã, quần quật suốt ngày để sửa soạn và tận tâm phục vụ cho đồng hương với trên 400 phần ăn (miễn phí và đưa đến tại chổ ngồi) có cả các thức ăn ngọt để tráng miệng.

Để đánh dấu cho buổi nói chuyện của Cha Khải và cũng là chặng đường đầu tiên của chuyến du thuyết Úc Châu, BTC đã trao tặng cho Cha Khải một tấm tranh vẽ chân của dung Cha do hoạ sĩ Trần Thúc Lân (Paris, Pháp quốc) chuyển qua trung gian Quỹ Tù Nhân Lương Tâm.

Chương trình buổi nói chuyện của Cha Khải bắt đầu từ lúc 2 giờ chiều và chấm dứt vào lúc 8 giờ tối. Đồng hương đã chăm chú, say sưa theo dỏi suốt buổi nói chuyện cho đến khi BTC tuyên bố đã hết giờ nhưng Cha Khải vẫn được đồng hương quấn quýt, vây quanh hỏi han, trò chuyện, chụp hình lưu niệm, phỏng vấn … và quyến luyến khi thấy Cha phải rời bước ra về.

Cha Nguyễn văn Khải quả là một vị tu sĩ thông suốt về đạo và đời và đã biết đem đạo vào đời và đem đời vào đạo, đã dùng đạo để tranh đấu, chăm lo cho sự an vui của con người. Theo lời của ông Nguyễn Thế Phong, Cha Nguyễn văn Khải là một người tu hành đúng nghĩa, một công dân việt Nam yêu nước, đã và đang xã thân vì đồng bào, một nhà tranh đấu cho nhân quyền can đảm, Cha đã hy sinh, hiến mình làm linh mục để cứu nhân độ thế đúng với danh xưng của Dòng mà Cha đã chọn – Dòng Chúa Cứu Thế.

Melbourne
04/08/2013

Buổi nói chuyện của LM Nguyễn văn Khải tại Melbourne
http://www.lyhuong.net/uc/index.php/shcd/3114-3114

Một số hình ảnh của buổi nói chuyện
https://plus.google.com/u/0/photos/104641728533747568275/albums/5908459576031700705

LM Nguyễn Văn Khải nói chuyện về hiện tình đất nước tại Melbourne, phần 1:

LM Nguyễn Văn Khải nói chuyện về hiện tình đất nước tại Melbourne, phần 2:

Một số hình ảnh trong buổi gặp gở

Hình ảnh LM Nguyễn Văn Khải được đón tiếp tại phi trường Melbourne

Dưới đây là 8 đoạn thâu thanh của LM Nguyễn Văn Khải ở Đền Thờ Quốc Tổ ở Melbourne. Thâu thanh của Đài Viễn Xứ Radio – Melbourne

  1. đoạn 1
  2. đoạn 2
  3. đoạn 3
  4. đoạn 4
  5. đoạn 5
  6. đoạn 6
  7. đoạn 7
  8. đoạn 8

PHƯƠNG UYÊN: ‘Chưa thể dừng ở đây’

BBC – thứ sáu, 16 tháng 8, 2013
Kha-Uyen2

Trả lời phỏng vấn BBC ngày 16/8 ngay sau khi ra khỏi trại tạm giam, sinh viên Nguyễn Phương Uyên nói: “Tôi rất hạnh phúc khi được trở về với gia đình”.

Giải thích về quyết định tự bào chữa, Uyên nói “tôi muốn nói nhiều hơn nhưng tại tòa thì những vụ án như tôi, quyền hạn của luật sư rất hạn chế, thậm chí là không có, nên tôi quyết định tự bào chữa cho mình.”

Trả lời trước câu hỏi của BBC về những thay đổi trong một năm qua, sinh viên này cho biết:

“Người ta bảo đi một ngày đàng học một sàng khôn”

“Tôi thấy trong lòng mình nhen nhóm lên một nhiệt huyết, chưa thể dừng ở đây được.”

“Nhưng như người ta bảo, hữu dũng vô mưu … Tôi sẽ điềm tĩnh hơn.”

“Tôi nghĩ hành động của mình nhỏ bé thôi … Nhưng tôi vui mừng và tự hào vì đã cống hiến cho đất nước, khơi dậy lòng yêu nước của các bạn trẻ, để họ không còn vô cảm nữa.”

“Tôi rất tiếc khi nhìn thấy những thanh niên là bạn ngồi cùng lớp với tôi, là các anh chị đã tốt nghiệp, nhưng vì sợ, họ lại trú mình.”

______________________________________________

Thả Phương Uyên vì áp lực của Mỹ?

Cập nhật: 13:02 GMT – thứ sáu, 16 tháng 8, 2013

Trong một phán quyết chưa có tiền lệ, tòa phúc thẩm tỉnh Long An xử sinh viên Nguyễn Phương Uyên 3 năm tù cho hưởng án treo, trong khi Đinh Nguyên Kha được giảm án xuống 4 năm tù giam, theo một luật sư có mặt tại phiên tòa.

Trả lời phỏng vấn BBC qua điện thoại ngay lúc ra khỏi trại tạm giam ngày 16/8, sinh viên Nguyễn Phương Uyên nói: “Tôi rất hạnh phúc khi được về với gia đình”.

Cây bút Phạm Chí Dũng từ TP. HCM cho rằng áp lực của chính phủ Mỹ góp phần dẫn đến việc Nguyễn Phương Uyên được hưởng án treo.

Kiểm soát quyền lực là chìa khóa?

BBC, 17 tháng 8, 2013

Đảng Cộng sản Việt NamNhà sử học cho rằng chìa khóa đổi mới và phát triển của VN hiện nay và tương lai là kiểm soát quyền lực

Ở phần hai cuộc trao đổi với BBC hôm 17/8/2013, nhân có lời kêu gọi thành lập một chính đảng mới, Đảng Dân chủ Xã hội, do nhóm của luật gia Lê Hiếu Đằng đưa ra, Giáo sư Vũ Minh Giang, Đại học Quốc gia Hà Nội, nêu quan điểm đâu là chìa khóa chính đảm bảo công cuộc cải tổ chính trị – xã hội lành mạnh và ôn hòa cho Việt Nam.

Ông nói: “Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo Việt Nam hiện nay đang rất cần kiểm soát quyền lực.

“Hệ thống đó, làm sao để vai trò giám sát của dân, của các tổ chức dân sự ngày càng nhiều hơn, đối với quyền lực nhà nước, cũng như quyền lực của Đảng.”

Giáo sư Giang cho rằng quốc tế có thể ủng hộ các cơ chế giám sát như vậy ở Việt Nam, bên cạnh người dân.

Ông nói: “Quyền lực không phải là vô cùng tối thượng, mà nó phải có giới hạn và phải có kiểm soát quyền lực.”

Nhà sử học cho rằng các lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam hiện nay cũng “sẵn sàng chứ không phải là ngại ngần lắm” trong việc mở rộng không gian và điều kiện để cơ chế kiểm soát quyền lực có thể được mở ra với quốc tế.

Tuy nhiên, ông chưa cho biết việc mở cửa cơ chế này có thể diễn ra vào thời điểm nào.

Trước hết Giáo sư Vũ Minh Giang nêu quan điểm và dự đoán khả năng phản ứng của người dân tại Việt Nam trước giả thuyết có trưng cầu dân ý mở ra lúc này về việc họ có mong muốn giải thể hệ thống chính trị đơn nguyên hay hệ thống ‘độc đảng’ nắm quyền hay không.

Xin mời quý vị theo dõi phần đầu cuộc trao đổi giữa BBC với Giáo sư Vũ Minh Giang Bấm tại đây.

Cụ Lê Quang Liêm – Chúc Mừng Luật Sư Lê Hiếu Đằng

VietVungVinh, Friday, 16 August 2013 04:38

Cụ Lê Quang Liêm, hội trưởng GHPG Hoà Hảo tại VN

LeQuangLiem

 

PHẬT GIÁO HÒA HẢO THUẦN TÚY

— o0o —

Củng Cố Giáo Quyền – Thống Nhất Giáo Hội – Xiển Dương Giáo Pháp

THƯ CHÚC MỪNG LUẬT SƯ LÊ HIẾU ĐẰNG, NHỮNG NGƯỜI TỪ BỎ ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ LỜI KÊU GỌI ĐỨNG LÊN GIÀNH LẠI TỰ DO.

Kính Luật sư Lê Hiếu Đằng

Kính tòan thể đồng bào, đồng đạo, đồng chí Dân Xã Đảng,

Trong tinh thần hòa giải dân tộc do Đức Hùynh Phú Sổ truyền dạy, đại diện cho Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy và Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, chúng tôi xin chúc mừng Luật sư và những đảng viên cộng sản đã dứt khóat từ bỏ đảng Cộng sản để quay về với chính nghĩa dân tộc. Nhưng để tránh những ngộ nhận, dẫn tới tình trạng phân hóa lực lượng dân tộc, chúng tôi xin có đôi lời cùng qúy vị.

Ngày 21/9/1946, Đức Thầy Hùynh Phú Sổ loan báo một tin quan trọng: Ngài thành lập một đảng chánh trị lấy tên là Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã Đảng.

Đức Thầy kêu gọi “Vậy tất cả anh em tín đồ, nếu thấy mình còn nặng nợ với Non Sông, Tổ Quốc, thương nước thương dân, hãy tham gia đảng mà tranh đấu.” Vì vậy tín đồ Hòa Hảo chúng tôi đã tự đặt mình trong Dân Xã Đảng.

Đức Thầy còn giải thích: “Việt Nam Dân Xã đảng là một đảng dân chủ, chủ trương thiệt thi triệt để nguyên tắc chánh trị của chủ nghĩa dân chủ: chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân. Đã chủ trương Toàn Dân Chánh Trị thế tất đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào”. Nói cách khác, chúng tôi không chấp nhận chủ nghĩa Mác và chống độc tài cộng sản.

Theo lời Đức Thầy dạy, chiến sĩ Dân Xã chúng tôi hi sinh giành độc lập, bảo vệ và xây dựng miền Nam tự do. Hiện nay nơi nào có đồng đạo chúng tôi nơi đó có sinh họat Dân Xã. Chúng tôi đang đấu tranh giành tự do và hướng đến xây dựng một xã hội dân chủ và công bằng. Ở đó mọi người đều có cơ hội để tham gia chánh trị, theo đúng chủ trương Tòan Dân Chánh Trị Đức Thầy đã đề ra.

Tôi Lê Quang Liêm đã được Đức Thầy giao trọng trách Dân Xã Đảng, trước tình trạng nước mất nhà tan và nhân bức thư này xin kêu gọi đồng bào, đồng đạo, đồng chí, đồng lòng liên kết đứng lên để giành lại tự do.

Sài Gòn, ngày 16 tháng 08 năm 2013
Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy

LÊ QUANG LIÊM

Kêu gọi thành lập đảng Dân chủ Xã hội

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok. 2013-08-18

 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/new-ini-part-sdp-solut-08182013054424.html 

08182013-new-ini-part-sdp-solut.mp3

Ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ TP.HCM

Ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ TP.HCM. Infonet

Nghe bài này

Dư luận tại Việt Nam hiện đang chú ý đến thông tin một đảng  mới được khởi xướng bởi ông Lê Hiếu Đằng. Ông này từng là phó tổng thư ký UB TW Liên Minh Các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam, nguyên phó chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1989 đến năm 2009.

Lý do nào để ông này đưa ra ý tưởng đó và cơ sở của việc hình thành nên một đảng mới như thế ra sao?

Muốn cho một xã hội phát triển

Ông Lê Hiếu Đằng: Sở dĩ tôi suy nghĩ phải thành lập một đảng chính trị mới song song cùng với Đảng Cộng sản vì trong bất cứ sự phát triển của xã hội nào cũng cần phải có những ý kiến khác nhau mới tích cực được. Chứ còn chỉ một chiều, một đảng toàn trị thì không thể nào xã hội phát triển. Do đó việc hình thành một đảng chính trị mới mà đảng này có nguồn gốc quá khứ chứ không phải bỗng nhiên nó có: tức trước đây Việt Nam có ba đảng, ngoài năm 1946 còn có những đảng như Quốc Dân Đảng, Đảng Đại Việt … Thế nhưng hai đảng Dân chủ và Đảng Xã hội bị Đảng Cộng sản bức tử, giải tán một cách ngang nhiên; bây giờ tôi muốn khôi phục lại nhưng không phải Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội một cách hình thức; mà làm phải làm thật có tính chất đối lập.

Trong bất cứ sự phát triển của xã hội nào cũng cần phải có những ý kiến khác nhau mới tích cực được. Chứ còn chỉ một chiều, một đảng toàn trị thì không thể nào xã hội phát triển

Ông Lê Hiếu Đằng

Có người đặt vấn đề tình hình đã chín muồi chưa?

Ý của tôi thế nào gọi là tình hình chín muồi. Theo tôi tình hình cũng đã chín muồi rồi; tức xã hội Việt Nam về kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa quá xuống cấp. Lo ngại nhất là vấn đề kinh tế và giáo dục. Về vấn đề độc lập, ngoài vấn đề Biển Đông ra không hiểu sao Nhà nước Việt Nam để cho Trung Quốc vào tràn lan nhất là ở các vùng chiến lược như Tây Nguyên, thậm chí kể cả Cà Mau, dưới dạng những nhà thầu kinh tế nhưng thực chất là những vùng Trung Quốc họ hình thành nên khu vực riêng của họ mà dân Việt Nam không vào được. Tôi thấy đó là tình hình hết sức nghiêm trọng. Do đó tôi nghĩ phải có một đảng chính trị mới làm vai trò đối lập.

Tôi cũng nói thêm ý này nữa cho rõ: tôi chủ trương đảng này hoạt động trong vòng hợp pháp chứ không phải bí mật. Tất nhiên khi có chủ trương như vậy chúng ta phải làm từng bước như vận động, rồi đến có nhiều người tán thành.

Có người nói chưa chín muồi. Thế nào là chưa chín muồi? Chúng ta phải tác động đến xã hội dân sự, tác động để cho tình hình chín muồi phải bụ ra, những ‘cái mưng mủ’ phải bục ra mới được. Chứ còn chờ thì biết đến bao giờ mới chín muồi; nếu mình không hành động, không làm. Do đó theo tôi nhân thời cơ góp ý hiến pháp, nhân tình hình kinh tế- xã hội quá xuống cấp; nhất là dựa vào khát vọng của nhân dân Việt Nam về rất nhiều vấn đề, tôi đặt vấn đề như vậy.

Gia Minh: Ông vừa đề cập sơ lược đến chủ trương và tên gọi của đảng là Dân chủ Xã hội, hẳn nhiên ông cũng nghĩ đến những tôn chỉ chính của Đảng?

Ông Lê Hiếu Đằng: Thật ra tôi mới nghĩ thôi; nhưng sỡ dĩ tôi chọn tên Đảng Dân chủ Xã hội vì trước đây tại Việt Nam có hai đảng đó, nay nhập chung thành Đảng Dân chủ Xã hội. Hiện nay hệ thống dân chủ xã hội trên thế giới là hệ thống tương đối tiến bộ. Ở Pháp có Đảng Xã hội, và nhất là ở các nước Bắc Âu, hay những nước khác… Tôi nghĩ mình sẽ nằm trong hệ thống chung như vậy thì sẽ có sự giúp đỡ tích cực của quốc tế, của thời đại. Như thế sẽ tăng cường sức mạnh; nhưng nội lực vẫn là nhân dân Việt Nam. Khuynh hướng dân chủ- xã hội là khuynh hướng tiến bộ hiện nay. Ngay Mác trong thời kỳ già ông ta cũng chuyển qua hướng dân chủ xã hội trong đường lối quốc tế rồi. Nói thật các vị lãnh đạo chỉ học thời kỳ Mác trẻ là đấu tranh giai cấp… mà không nghiên cứu thời kỳ già của ông ta.

Sỡ dĩ tôi chọn tên Đảng Dân chủ Xã hội vì trước đây tại Việt Nam có hai đảng đó, nay nhập chung thành Đảng Dân chủ Xã hội. Hiện nay hệ thống dân chủ xã hội trên thế giới là hệ thống tương đối tiến bộ. Ở Pháp có Đảng Xã hội, và nhất là ở các nước Bắc Âu, hay những nước khác

Ông Lê Hiếu Đằng

Người ta phải từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà theo xu hướng tiến bộ dân chủ xã hội đó là bảo vệ nhân quyền, dân quyền, bảo vệ môi trường; tức cho con người và vì con người. Rõ ràng đó là mục tiêu nếu có Đảng Dân chủ Xã hội phải xây dựng trên cơ sở đó.

Gia Minh: Ông thấy đã có những thành phần có thể tham gia Đảng Dân chủ Xã hội như thế trong xã hội chưa?

Ông Lê Hiếu Đằng: Tôi nghĩ có cơ sở: có những đảng viên Đảng Cộng sản mà tôi biết ( bạn bè tôi) có người cương quyết ra khỏi đảng, có người giấy sinh hoạt đảng chuyển về địa phương họ bỏ trong ngăn kéo, không sinh hoạt. Trên thực tế có người đã ra khỏi đảng như ông Phạm Đình Trọng, anh Kha Lương Ngãi, phó tổng biên tập Báo Sài Gòn Gải Phóng trước đây, và một số người mà tôi biết được cũng khá đông tán thành việc hình thành đảng chính trị mới. Tôi nghĩ thành phần này không phải ít.

Tại sao tôi có ý kiến như thế? Thật ra tôi hoạt động trong hệ thống mặt trận trên 20 năm, tôi biết trong hệ thống chính trị của Việt Nam thì Mặt Trận hay Quốc hội chỉ là hình thức thôi, những công cụ được công khai hóa. Và với yếu tố không được, cấm đa nguyên- đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng Cộng sản chứ chưa được thể chế hòa thành văn bản luật pháp nào cả. Do đó chúng ta phải sống và làm việc theo luật pháp; có nghĩa những gì luật pháp không cấm thì chúng ta làm. Đó là quyền công dân của chúng ta. Và điều này phù hợp với xu thế phát triển. Việt Nam có điều kỳ cục là hòa nhập với thế giới, tham gia những định chế quốc tế để chủ yếu lấy phần lợi, trong khi để lấy phần lợi về nhân quyền, dân quyền cho người dân thì lờ đi; đổi mới về mặt kinh tế mà không đổi mới về mặt chính trị. Có một xã hội dân chủ thực sự với những đảng đối lập, theo tôi nghĩ đó là điều rất lành mạnh.

Gia Minh: Cám ơn ông.

Con đường “xã hội dân chủ”

Hà Sĩ Phu.  Bài thứ nhất

Hasiphuhttp://www.boxitvn.net/bai/18574

Ý tưởng cũ, bước đột phá mới

Sau cơn đau thập tử nhất sinh, người đảng viên Lê Hiếu Đằng xưa rất “trung kiên” đã viết liền ba bài, đề xuất việc ra khỏi Đảng Cộng sản, bỏ đảng một cách tập thể, công khai, để thành lập một đảng, Đảng Xã hội Dân chủ (hay Dân chủ Xã hội).

Hẳn ông Lê Hiếu Đằng đã biết ý tưởng đưa thể chế chính trị Việt Nam sang quỹ đạo Xã hội Dân chủ, để thoát khỏi con đường Cộng sản một cách vừa triệt để vừa “êm thấm”, như các nước Bắc Âu, đã được nung nấu khá lâu [1] nhưng nay ông mới phát ngôn bởi theo ông lúc này “thời cơ đã đến”, ông và các chiến hữu đi bước đột phá rất mới.

Trước khi giới thiệu ba bài viết cũ của nhiều tác giả liên quan đến con đường Xã hội Dân chủ cho Việt Nam xin được lưu ý mấy điểm:

1/ Từ ngữ Social Democracy một số tác giả dịch là Xã hội Dân chủ, ông Mai Thái Lĩnh và một số khác đề nghị dịch là Dân chủ Xã hội để đừng lầm với khái niệm “chủ nghĩa Xã hội dân chủ” (Democratic Socialism, đây là ý tưởng riêng của một số nước Cộng sản vì thực ra đã là Cộng sản thì phải chuyên chính, ngược với dân chủ).

2/ Ngày nay tuy không còn một chủ nghĩa nào có thể đóng vai trò một khuôn mẫu giáo điều, nhưng xây dựng mỗi công trình lớn đều cần có một “triết lý” làm cơ sở huống chi sự nghiệp phát triển của một quốc gia? Ngày nay, xu thế Xã hội Dân chủ là chân lý phổ biến nhất, thành công nhất trên thế giới.

Hiện nay, Quốc tế Xã hội Chủ nghĩa (Socialist International, viết tắt: SI) là một tổ chức của các đảng phái chính trị lớn nhất thế giới với 143 thành viên và đại diện là các tổ chức, các đảng theo theo lý tưởng Xã hội Dân chủ ở 140 quốc gia khắp các châu lục” […]. “Sau năm 1945, các đảng XHDC thường xuyên cầm quyền ở tất cả các nước công nghiệp phát triển, các nước Tây Âu, Bắc Âu, đã góp phần quyết định vào việc xây dựng thành công nhà nước pháp quyền dân chủ, xã hội công bằng văn minh và thịnh vượng[2].Khi chủ nghĩa xã hội bạo lực đi đến sơn cùng thuỷ tận, thì chủ nghĩa xã hội ở Tây Âu và Bắc Âu lại giành được thành công cực lớn” […]. “Thuỵ Điển là tấm gương của chủ nghĩa xã hội dân chủ, kinh nghiệm của Thuỵ Điển có giá trị phổ cập thế giới, là cống hiến vĩ đại cho văn minh nhân loại”. [3]

3/ Tuy về gốc gác, con đường Dân chủ Xã hội bắt nguồn từ Quốc tế II, anh em sinh đôi với Quốc tế III Cộng sản, song đó là con đường mở, đã dẫn đến sự đoạn tuyệt hoàn toàn với những nguyên lý sai lầm Mác-xít.

“[…] phong trào XHDC ngày nay đã được giải phóng khỏi sự ràng buộc truyền thống vào ý thức hệ tư tưởng” […]. “Họ hoạt động không theo chủ thuyết, hay vì chủ thuyết, mà vì con người, vì sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và xã hội, vì sự bảo vệ và phát triển hài hòa quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội[2]

4/ Phan Châu Trinh chính là nhà “Dân chủ Xã hội” đầu tiên mang màu sắc Việt Nam, không gợn chút ảnh hưởng sai lầm nào của chủ nghĩa Mác.

Phan Chu Trinh thuộc những nhà DÂN CHỦ XÃ HỘI tiên phong, một chủ nghĩa dân chủ xã hội mang dấu ấn Việt Nam, sinh ra từ điều kiện Việt Nam. Cái chủ nghĩa xã hội nhân đạo mà ta đang định hướng về Bắc Âu để kiếm tìm thì nay chẳng những không phải tìm đâu xa, mà còn sẵn có một phương sách thích hợp hơn với dân với nước ta nữa[4]. “Cũng đau lòng vì cảnh đất nước trong vòng nô lệ, cũng một môi trường trưởng thành là Paris nước Pháp, lại cũng yêu lý tưởng xã hội đến say mê, vậy mà khác với Nguyễn Tất Thành, Phan Chu Trinh không sa vào chủ nghĩa chuyên chính. Trước sau trong tâm hồn nhà nho cách mạng vẫn thắp sáng một ngọn đèn dân chủ[5]. “Trong khi những người xã hội chủ nghĩa ở Pháp vẫn còn bị ràng buộc ít nhiều với chủ nghĩa Marx thì quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Phan Châu Trinh lại không có dính dáng chút gì với chủ nghĩa Marx. Không có đấu tranh giai cấp, không có sự lên án đối với chế độ tư hữu, và do đó cũng không có chủ trương quốc hữu hoá.[5]

5/ Con đường “Xã hội Dân chủ” cho Việt Nam hoàn toàn không mâu thuẫn hay hạn chế những tư duy khác, những con đường khác, nếu cùng dẫn đến một đích chung. Chính Phan Châu Trinh chủ trương các cánh tả, cánh hữu đều phải cùng tồn tại. Đảng Dân chủ Xã hội không bài bác bất cứ đảng phái nào, kể cả hai thái cực Cộng sản và Chống Cộng, vấn đề là một đảng nào đó có ra đời được không, có được đông đảo nhân dân ủng hộ hay không là do sức sống của bản thân đảng đó quyết định. Xin nói ngay rằng chúng ta cứ bàn vấn đề đa đảng thoải mái vì Hiến pháp và Luật Việt Nam (ngay cả điều 4) không cấm đa đảng, và chính Trung Quốc Cộng sản cũng đang có 7-8 đảng kia mà, tất nhiên ta cần đa đảng thật sự chứ không cần đa đảng cuội như họ.

6/ Bàn về khả năng thành công của một con đường hay một lộ trình, tôi nhớ đến một quy luật mà tôi nhận thức được khi còn đi học. Trong các hiện tượng vật lý, hóa học, hay tiến hóa sinh học, nếu việc chuyển từ trạng thái A đến một trạng thái B nào đó có nhiều con đường thì bao giờ thực tế cũng “chọn” con đường nào có tiêu hao năng lượng thấp nhất, phải cung cấp năng lượng ít nhất! (Thế giới vô sinh cũng “khôn” đáo để!). Muốn đánh đổ một khối đá lớn không nhất thiết phải đập thẳng vào khối đá ấy nếu có giải pháp ít tốn năng lượng hơn mà đạt cùng hiệu quả, làm đúng cách có khi “bất chiến tự nhiên thành” là do biết “chiến” vào nơi yếu nhất của đối tượng.

Bậc anh hùng tất nhiên cần tiết tháo và đức hy sinh, nhưng Chính trị lại khác. Chính trị là một nghệ thuật. Yếu muốn thắng mạnh thì nghệ thuật lại càng phải cao, cổ nhân dạy thế.

Chỉ 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt và tình hữu nghị, chữ nghĩa mềm như bún mà buộc chặt cả một Đảng Cộng sản không biết cựa quậy ra sao, đó là “nghệ thuật” của kẻ xâm lược. Chỉ việc sang Thái Lan trao “Kiến nghị 258” của các blogger trẻ cho các tổ chức quốc tế mà mở được một bước đột phá về nhân quyền có hiệu quả thực tế, đó cũng là nghệ thuật. Lê Hiếu Đằng vận động bỏ Đảng Cộng sản để tham gia một “đảng anh em” là Đảng Dân chủ Xã hội, rất ôn tồn chững chạc và “hữu nghị” mà hiệu quả chưa thể lường trước, đó cũng là nghệ thuật.

Cuộc chiến dân chủ hóa cũng như mọi cuộc chiến, phải gồm nhiều binh chủng, mỗi binh chủng có chức năng riêng, phương pháp riêng. Nếu anh lính pháo binh hay lính quyết tử lại trách sao “đội quân tóc dài” không đánh địch giống mình thì thật hài hước.

Có việc người dân chủ trong nước chưa nên làm hoặc chưa thể làm, dành việc ấy cho anh em ngoài nước, ngược lại có việc chỉ người trong nước nên làm, làm giống nhau nhiều khi hỏng việc. Nhiều việc nhận thức giống nhau nhưng cách làm phải khác nhau.

7/ Tác động đúng “huyệt”, đúng nền tảng thì sai một ly đi một dặm. Nếu năm 1920 Nguyễn Ái Quốc đã chuyển từ Quốc tế II sang Quốc tế III chỉ như một “cú nhích chân” nhẹ nhàng tại hội nghị Tours [6], để “đi một dặm” đến cuộc khủng hoảng toàn diện cho Dân tộc hôm nay, thì hiện nay sao ta không biết “nhích chân” rất “nhẹ nhàng” từ Cộng sản Quốc tế III trở về Quốc tế II, với nội hàm hiện đại, của con đường Dân chủ Xã hội mà thế giới văn minh đã kiểm chứng?

Song chúng ta không hề ảo tưởng rằng sự “nhích chân” tưởng như nhỏ nhẹ và đơn giản này sẽ dễ dàng. Đừng quên Đảng Cộng sản không sợ các đế quốc to hay các “thế lực thù địch”, không sợ những đao to búa lớn, mà chỉ sợ nhất “người anh em sinh đôi” là phong trào Dân chủ Xã hội của Quốc tế II mà họ gọi là “chủ nghĩa xét lại hiện đại”, vì chỉ có đảng Dân chủ Xã hội mới là đối thủ có thể giành mất quần chúng của họ trong nước Việt Nam này. Đọc bài “Xây dựng Đảng ta thật vững mạnh” của ông Nguyễn Đức Bình tháng 2-2006 đủ biết Đảng Cộng sản ghét (và e sợ) “người anh em” Quốc tế II như thế nào.

Nhưng ghét là một chuyện, bây giờ Đảng Cộng sản có chống được hay không, là chuyện… hãy đợi đấy!

H. S. P. (16/8/2013)

[1] Lê Bảo Sơn – Phan Trọng Hùng, “Năm nhà trí thức phát biểu về “Con đường xã hội – dân chủ” ở nước ta”,

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5273&rb=0401

[2] Huệ Đăng, “Xã hội Dân chủ là xu thế ngày nay”, http://thongluan.co/vn/modules.php?name=News&file=print&sid=499

[3] Tạ Thao, “Mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ và tiền đồ Trung Quốc”,

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10006&rb=0402

[4] Hà Sĩ Phu, “Tư tưởng và dân trí là nền móng xã hội”,

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10080&rb=0306

[5] Mai Thái Lĩnh, “Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh”, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9307&rb=0306
[6] Hà Sĩ Phu, “Xưa nhích chân đi, giờ nhích lại”

http://www.hasiphu.com/ll4.html

LS Sơn: “Vụ Phương Uyên vẫn không công bằng và khó tạo tiền lệ”

‘Vụ Phương Uyên khó tạo tiền lệ’.  bbc, 18 tháng 8, 2013

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/08/130818_phuonguyen_trial_comments.shtml

Phương Uyên và Nguyên Kha trong phiên tòa sơ thẩmBản án phúc thẩm đã làm nhiều người bất ngờ

Một vị luật sư có kinh nghiệm trong các phiên tòa mang tính chính trị ở Việt Nam bình luận rằng sẽ không chuyện việc giảm án cho Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha sẽ tạo tiền lệ cho các phiên tòa tương tự về sau.

Trong phiên xử phúc thẩm hôm thứ Sáu ngày 16/8, Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã giảm án đáng kể cho cả hai bị cáo.

Theo đó, Phương Uyên vừa được giảm nửa bản án vừa được cho hưởng án treo và được thả tự do ngay tại tòa, còn Nguyên Kha cũng được giảm phân nửa bản án xuống còn bốn năm tù giam.

Đáng chú ý là hai bị cáo này bị xét xử theo điều 88 Bộ Luật hình sự với tội danh ‘Tuyên truyền chống Nhà nước’ – một tội danh bị chính quyền xem rất nghiêm trọng mà trước giờ hầu như không bị cáo nào được giảm án.

‘Yếu tố bên ngoài’

Trao đổi với BBC, luật sư Hà Huy Sơn, người từng bào chữa cho Phương Uyên trong phiên sơ thẩm, nói rằng việc giảm án này có thể không phải dựa trên bản chất sự việc hay tranh tụng tại tòa.

“Qua kinh nghiệm của tôi, người ta (tòa án) không xem xét ý kiến của luật sư hay bản chất sự việc là mấy,” ông nói, “Thường phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.”

Do đó ông nhận định rằng việc tòa án Long An tha cho Phương Uyên có thể là ‘do yếu tố bên ngoài’.

“Tôi cho rằng Phương Uyên phải vô tội. Tất cả bản án dù nhẹ đến đâu thì cũng không công bằng.”

Luật sư Hà Huy Sơn

“Có thể là do áp lực hay tính toán gì đấy chứ chưa hẳn là sự độc lập của Hội đồng xét xử,” ông nói và cũng cho biết là ông bất ngờ với bản án.

“Có thể là do áp lực xã hội, có thể là do nhu cầu của Nhà nước,” ông nói thêm và phán đoán rằng vào lúc này Việt Nam cũng đang muốn cải thiện về thành tích nhân quyền trong mắt của cộng đồng quốc tế.

Do việc xét xử trong các phiên tòa mang tính chính trị như thế này ‘không căn cứ theo quy định của pháp luật’ nên ông Sơn cho rằng từ phiên tòa này ‘không có căn cứ để cho rằng các phiên tòa tương tự có hy vọng giảm án hay không’.

‘Không công bằng’

Luật sư Sơn, cũng là người từng bào chữa cho blogger Điếu Cày, tức ông Nguyễn Văn Hải, người bị cáo buộc với tội danh tương tự như của Phương Uyên.

Điểm khác biệt mà ông Sơn nêu ra là vụ Phương Uyên ‘không liên quan đến một tổ chức chính trị gì, một đảng phái chính trị gì cả’.

Chính quyền Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt nhạy cảm với những ai có liên quan đến Đảng Việt Tân, một đảng phái chính trị của người Việt ở hải ngoại vốn thách thức quyền thống trị của Đảng Cộng sản.

Mặt khác, luật sư Sơn cũng nhận định có lẽ việc Phương Uyên là một sinh viên trẻ tuổi cũng là một yếu tố khác biệt để tòa xem xét vì ‘đó chỉ là nhận thức của tuổi trẻ thôi chứ không phải thành kiến hay hằn học gì đó’.

Tuy nhiên, ông cho rằng mặc dù bản án đối với Phương Uyên đã được giảm đáng kể nhưng đối với ông vẫn là ‘không công bằng’.

“Tôi cho rằng Phương Uyên phải vô tội. Tất cả bản án dù nhẹ đến đâu thì cũng không công bằng,” ông nói.

Đại sứ Shear nói về nhân quyền

Trần Đông Đức.  Gửi cho BBC từ Hoa Kỳ. 17 tháng 8, 2013

Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, David ShearĐại sứ David Shear trao đổi với cử tọa tại cuộc trao đổi

Trong cuộc gặp gỡ với cộng đồng Việt Nam tại tư gia của bác sĩ Nguyễn Quốc Quân hôm 16/8/2013, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông David Shear tái khẳng định tình hình nhân quyền Việt Nam vẫn không có sự cải thiện nào đáng kể như sự mong đợi của Hoa Kỳ.

Ông David Shear đã dành nhiều thì giờ để trả lời với các cơ quan truyền thông Việt Ngữ về quá trình công tác ở Việt Nam cũng như cập nhật các tình huống sẽ xảy ra trong quan hệ Mỹ – Việt sắp tới.

Tuy cuộc viếng thăm mang tính thăm viếng tư gia đến người anh ruột của nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Đan Quế như mọi người thường biết, nhưng đây chính là một cơ chế tiếp xúc để lắng nghe tiếng nói trực tiếp nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt đến với Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Nội dung chủ yếu của cuộc gặp gỡ là ông Đại sứ thông báo kết quả cuộc hội đàm giữa Obama và Trương Tấn Sang và qua đó nói về chiến lược Đối tác xuyên Thái Bình Dương Trans-Pacific Partnership (TPP) mà Hoa Kỳ thực lòng muốn Việt Nam tham gia vào sân chơi mới.

Sân chơi này sẽ như là chiếc chìa khóa cho sự phát triển của Việt Nam. Nhưng đổi lại Việt Nam phải giải quyết vấn đề hồ sơ nhân quyền, tự do tôn giáo một cách nghiêm túc theo quy ước về giá trị căn bản trong quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ.

Hiện nay Việt Nam đang cần Hoa Kỳ nhiều hơn trong các quân vụ về vũ khí sát thương. Hồ sơ nhân quyền sẽ trở thành điều kiện ràng buộc trong việc mua bán vũ khí, phát triển quan hệ đối tác. Ông Đại sứ cho biết chính tổng thống Obama đã nói thẳng với ông Trương Tấn Sang như thế trong chuyến viếng thăm vào ngày 25/7/2013 gần đây.

Trong những thiện chí để làm hài lòng cử toạ về vấn đề nhân quyền, ông David Shear đã tận tình trả lời các câu phỏng vấn từng người và dành thời gian trực tiếp cho từng cơ quan truyền thông Việt Ngữ quốc tế từ VOA, RFA, BBC, đài SBTN, các tờ báo Việt Ngữ… cho đến cả Phố Bolsa TV, một kênh TV đơn giản trên youtube của hoạ sĩ Vũ Hoàng Lân.

‘Hết lòng đấu tranh’

“Qua những nỗ lực đấu tranh và thương lượng, ông (David Shear) cho mọi người thấy rõ sự khó khăn và có khi là bế tắc khi nói chuyện với phía nhà cầm quyền VN về những điều Hoa Kỳ muốn nhấn mạnh”

Với tính cách tận tuỵ của nhà ngoại giao, ông Đại Sứ David Shear được mọi người khen ngợi là ông đã làm hết lòng về việc đấu tranh cho nhân quyền ở Việt Nam.

Trong những trường hợp điển hình mà ông Đại sứ nêu ra là việc phía Việt Nam đã thả luật sư Lê Công Định, tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân (người của đảng Việt Tân về nước biểu tình chống Trung Quốc và bị bắt).

Khi được hỏi về trường hợp Điếu Cày, ông Đại sứ cho biết đây là nhân vật nằm đầu bảng trong sự đòi hỏi của Hoa Kỳ. Hiện nay, Toà Đại sứ đang theo dõi sát tình hình sức khỏe cũng như điều kiện giam cầm.

Qua những nỗ lực đấu tranh và thương lượng, ông cho mọi người thấy rõ sự khó khăn và có khi là bế tắc khi nói chuyện với phía nhà cầm quyền Việt Nam về những điều Hoa Kỳ muốn nhấn mạnh.

Các câu hỏi cũng được đặt về hồ sơ Lê Phương Uyên (phóng thích tại tòa sau khi nhận án 3 năm tù treo và Đinh Nguyên Kha giảm từ 8 năm xuống còn 4 năm), viên chức chính trị của Đại sứ quán Hoa Kỳ, Michael Orona đã trả lời rằng đây là sự đấu tranh không ngừng nghỉ từ nhiều phía.

Ông Orona cho biết ngay từ đầu tiên, Tòa Đại sứ đã ra thông cáo báo chí về việc này và tiếp tục lên tiếng bằng nhiều kênh đối thoại.

Trong cuộc tiếp tân và chiêu đãi khoảng ba tiếng đồng hồ, ông Đại sứ David Shear đã gặp gỡ và trao đổi tận tình với rất nhiều đại diện cộng đồng, các đảng phái chính trị người Việt tại Hoa Kỳ.

Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, gia chủ tổ chức cuộc chiêu đãi này cho biết đây là một thủ tục bán chính thức được thiết lập từ nhiều đời Đại sứ Hoa Kỳ đến Việt Nam. Dần dần, nghi thức này được hoàn thiện và hiện này là cơ chế giải thích các chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Bài viết phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, người cũng là chủ bút tuần báo Người Việt ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.

‘Căn cứ đâu để lập chính đảng mới?’

Giáo sư Vũ Minh GiangGiáo sư Giang chưa thấy cơ sở pháp lý nào ở VN hiện nay cho phép thành lập chính đảng mới

Hiện chưa thấy có cơ sở pháp lý nào để cho phép việc thành lập các chính đảng mới ở Việt Nam, bên cạnh Đảng Cộng sản, tuy việc tư duy về các dự án chính trị, xã hội, kể cả mong muốn, nhu cầu lập đảng mới thuộc phạm trù tự do tư tưởng và là quyền tự do của mỗi người, theo Giáo sư Vũ Minh Giang, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trao đổi với BBC hôm 17/8/2013, bình luận về lời kêu gọi thành lập đảng mới, Đảng Dân chủ Xã hội do nhóm của luật gia Lê Hiếu Đằng, quan chức thuộc Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN, đảng viên cộng sản lâu năm, đưa ra, Giáo sư Giang cho rằng nếu có vấn đề nào mà dự án chính trị này có thể gặp thách thức thì đó chính là các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành.

Giáo sư Giang, nguyên thành viên Hội đồng lý luận trung ương, cơ quan cố vấn của BCH Trung ương Đảng, cho rằng trong quá khứ chưa xa, Đảng cộng sản Việt Nam từng có giai đoạn cầm quyền bên cạnh hai đảng phái khác.

“Trong lịch sử Việt Nam kể từ khi sau cuộc Cách mạng tháng 8/1945, trong hệ thống chính trị từng có tồn tại một cơ cấu có những đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, lúc đó gọi là Đảng Lao động Việt Nam, thí dụ như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội v.v…

“Cho nên tôi cho rằng việc ở đâu đó có những người hoặc có những nhóm người xuất phát từ những quan niệm, những mong muốn mà họ có những đề xuất này khác, tôi cho cũng là hiện tượng bình thường thôi.”

Giáo sư Vũ Minh Giang cho rằng chưa thể dự đoán được khi nào Việt Nam xuất hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, nhưng cho rằng lý luận của một nhóm nào đó nói ‘đa thành phần kinh tế ở hạ tầng cơ sở thì cũng có thể mở đường cho nhu cầu đa nguyên, đa đảng xuất hiện tương ứng ở thượng tầng kiến trúc’ có thể chỉ là suy luận lôgic hình thức.

Xin mời quý vị tiếp tục theo dõi phẩn cuối của cuộc trao đổi giữa Giáo sư Vũ Minh Giang với Quốc Phương của BBC Bấm tại đây.

Con đường “xã hội dân chủ”: Năm nhà trí thức phát biểu về “Con đường xã hội – dân chủ” ở nước ta

Năm nhà trí thức phát biểu về “Con đường xã hội – dân chủ” ở nước ta

Chuyên đề “Con đường Xã hội-Dân chủ : Tìm hiểu hai trường phái của chủ nghĩa xã hội”

Lê Bảo Sơn, Phan Trọng Hùng

Trong những tháng cuối năm 2004, Ban Tổ chức Trung ương của ĐCSVN đã thực hiện chương trình khoa học KX. 10 [1] nhằm phục vụ cho Đại hội X của Đảng. Đây là một công việc mang tính chất “nội bộ”, nghĩa là hoàn toàn bí mật đối với công luận. Đáng lý chúng ta không được biết gì về những nội dung được trình bày. Tuy nhiên, có hai bài phát biểu đã lọt ra ngoài, gây xôn xao trong dư luận:

1. Giáo sư Phan Đình Diệu

Trước hết là bài phát biểu của Giáo sư Phan Đình Diệu, thuộc Viện Đại học Quốc Gia Hà Nội, nhan đề “Một số suy nghĩ về con đường tiếp tục đổi mới của đất nước ta’’. Giáo sư Diệu là một trí thức đã từng nhiều lần phát biểu những suy nghĩ cấp tiến, nhất là về chế độ dân chủ đa nguyên, nhưng lại có cái may mắn là chưa lần nào bị áp dụng biện pháp mạnh để đe doạ, trấn áp. Có thể vì ông nổi tiếng cả trong lẫn ngoài nước nên Đảng và Nhà nước vẫn còn kiêng nể, vẫn còn phải tìm cách “tranh thủ” để thông qua ông, chiêu dụ trí thức trong nước và nhất là trí thức Việt kiều.

Trong bài phát biểu này, Phan Đình Diệu đề nghị một “khung mẫu tư duy” (paradigm of thinking) mới để thay thế cho khung mẫu tư duy hiện nay – vốn đã bộc lộ nhiều bất cập trong thực tế. Theo ông Diệu, cuộc cách mạng mới trong khoa học từ giữa thế kỷ XX đến nay đã đem đến cho loài người một cách nhìn mới, một cách hiểu mới khác với kiểu “tư duy cơ giới”. Một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi trong thời gian gần đây là mô hình “các hệ thống thích nghi phức tạp” (complex adaptive systems). Mô hình này có thể giúp chúng ta nghiên cứu các hệ thống kinh tế và xã hội – vốn là những hệ thống thích nghi phức tạp “trong đó các yếu tố được coi là đối lập không chỉ có kiểu đấu tranh “ai thắng ai”, mà thông qua những tương tác có tính hợp trội còn có thể tìm được khả năng hiệp tác để đạt tới trạng thái “thắng – thắng“, tức là cả hai đều thắng.”

Vận dụng khung mẫu tư duy mới vào lĩnh vực kinh tế, ông cho rằng không thể phát triển nền kinh tế thị trường một cách lành mạnh năng động, sáng tạo, nếu bị đặt dưới sự chỉ đạo của một “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Lý luận của nhiều nhà kinh tế học lỗi lạc (trong đó có J. Kornai) cũng như thực tiễn của các nước Đông Âu và Nga cho thấy rõ sự thất bại của định hướng đó. Mặt khác, theo kinh tế gia người Áo J. Schumpeter (1883-1950), “kẻ đóng vai trò chủ yếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại là tầng lớp doanh nhân, và các nhà doanh nghiệp không phải là một giai cấp theo nghĩa xã hội học”.

Về chính trị–xã hội, ông cho rằng mô hình “chủ nghĩa xã hội khoa học” theo kiểu Marx-Lenin vốn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý và cơ giới luận đã “bị thực tiễn bác bỏ”. Trong khi đó: “Một mô hình khác của chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa xã hội dân chủ, từng bị phê phán là tay sai của chủ nghĩa tư bản, kẻ phản bội cách mạng vô sản, đã chứng tỏ là có sức sống hơn, và trong chừng mực nào đó đã thành công ở các nước Bắc Âu và có ảnh hưởng to lớn đến thế giới ngày nay. Ta thấy rõ ràng là các nước Phần Lan, Thuỵ Điển, Na Uy, Đan Mạch vẫn luôn đứng đầu về chất lượng sống, xã hội trong sạch, có tự do dân chủ nhất trong thế giới hiện đại. Bước sang thế kỷ 21, các lực lượng tiến bộ trên thế giới, tập hợp xung quanh Quốc tế Xã hội, vẫn đang tiếp tục tìm con đường cho một chủ nghĩa xã hội của thế kỷ 21 với mục tiêu “tự do, công bằng, đoàn kết”, chắc chắn sẽ có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhân loại, rất đáng được chúng ta quan tâm.”

Kết luận bài phát biểu, Giáo sư Phan Đình Diệu khẳng định: Trước sau gì thì một nền dân chủ cũng phải là đa nguyên thôi, vì đa nguyên luôn luôn là điều kiện cần của dân chủ, đó là điều mà cả về lý luận lẫn thực tiễn ta không có cách gì có thể bác bỏ được.”

2. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh

Bài phát biểu thứ hai có đề cập đến mô hình xã hội–dân chủ là của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, một chuyên gia kinh tế hàng đầu của Đảng CSVN, từng giữ vai trò cố vấn cho nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam như các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Duy Trinh… Đây là một bài nói chuyện hoàn toàn mang tính chất “nội bộ”, nhằm phục vụ cho các nhà “tham mưu” của Đảng trong việc chuẩn bị văn kiện Đại hội X. Không rõ vì lý do nào, băng ghi âm cuộc nói chuyện hôm 2-11-2004 này lại lọt ra ngoài, được ghi chép lại thành một bài dài 32 trang và được phổ biến rộng rãi qua mạng Internet.

Trong bài nói chuyện này, Lê Đăng Doanh đã nêu rất nhiều dẫn chứng về các nước Bắc Âu như Thuỵ Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch,… tức là những quốc gia mà đảng Xã hội – Dân chủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị.

Khi nói về công bằng xã hội, ông nói về thực trạng ở nước ta:

“Chúng ta nhận là chúng ta có định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng bất công trong xã hội hiện nay cực kỳ lớn. (…) Hiện nay, ở Hà Nội mức chênh lệch giàu nghèo là khủng khiếp luôn. Chỗ nhà tù Hỏa Lò cũ, nó có một nhà trẻ quốc tế, giá là 2.800 đô la một tháng. Quá 16h30 mà anh không nhận trẻ thì nó giữ lấy cho anh, nhưng mỗi giờ nó đòi thêm anh 4 đôla. Có một cô người nước ngoài tưởng rằng là giá cao thế chắc không đến lượt người Việt Nam nên cô ấy đến chậm một chút. Cô ấy gặp tôi bảo là có 20 chỗ thì người Việt Nam làm hết rồi, không đến chỗ cho con bà nữa, lại phải đi kiếm nhà trẻ khác. Thế tức là 2.800 đô la không là cái gì. Các anh chị cứ xem mà xem, có rất nhiều người đi khám bệnh ở Singapore, đi nghỉ, đi chữa bệnh luôn xoành xoạch, rồi giám đốc đi Macao đánh bạc luôn xoành xoạch. Thử hỏi các cơ quan xuất nhập cảnh báo cáo xem nào, những ai đi nhiều, đi đâu lúc này chúng ta sẽ biết.”

Trong khi đó, về kinh tế, với dân số 81,3 triệu người, diện tích 330.900 km2, GDP bình quân đầu người chỉ “vào khoảng 500 đô la một năm”. Nếu tính theo sức mua tương đương thì chúng ta xếp thứ 130/175 nước, nhưng nếu xếp theo tỷ giá thì chúng ta xếp thứ 149/203 nền kinh tế. Về chỉ số phát triển con người thuộc loại trung bình, năm 2003 xếp thứ 109/175 nước, năm 2004 xếp thứ 112/177 nước. “Tức là sau ngần ấy năm phát triển, sự thực là chúng ta vẫn là một nước nghèo”.

Sau đó, ông liên hệ đến Thuỵ Điển để chứng minh rằng họ công bằng hơn:

“Xin báo cáo là ở Thụy Điển, thuế thừa kế tài sản là 50%. Bố anh chết, anh chỉ được nhận 50% tài sản còn lại. Tôi hỏi Thụy Điển là tại sao mày làm dã man thế mày. Nó bảo, triết lý của chúng tao là không cho thằng nào sống phè phỡn được bằng tiền thừa kế cả. Bố nó giàu, chúng tao sẽ lấy cái giàu có ấy đi cho đất nước; còn lại, nó phải tự đi làm. Tiền thừa kế ấy có thể làm một bệ phóng tốt, nếu mà nó muốn thành người.”

Nói như vậy chẳng khác nào thừa nhận mô hình xã hội-dân chủ tỏ ra công bằng hơn so với mô hình cộng sản (hay nói theo ngôn ngữ dân gian Nam Bộ, mô hình cộng sản là xã hội chủ nghĩa “dỏm”; còn mô hình xã hội–dân chủ mới là xã hội chủ nghĩa “thứ thiệt”).

Khi đề cập đến vấn đề hệ thống giám sát, ông nhận xét:

“Báo cáo với các anh về hệ thống Thụy Điển là thế này. Anh tốt nghiệp đại học mà muốn làm tiến sĩ thì anh đi ông thầy khác. Anh không bao giờ được làm tiến sĩ ở ông thầy đã cho anh tốt nghiệp đại học ở trường đại học ấy. Tốt nghiệp rồi, anh phải ra nước ngoài kiếm ăn 3 năm. Bất kỳ tiến sĩ nào, anh cũng phải kiếm được việc, anh phải ra nước ngoài anh làm ba năm trời rồi anh mới được về Thụy Điển làm. Anh về anh không được làm ở cái chỗ nó đã cấp cho anh bằng tiến sĩ, anh phải đi chỗ khác. Và cứ như thế, cứ năm năm anh lại thay đổi, từ ông Vụ trưởng đến ông nhân viên. Nó thay rất ác liệt luôn. Một ông Vụ tài chính quản trị đùng một cái gửi sang làm Vụ chính sách. Ông không làm được thì chuyển. Vì vậy, cái nước Thụy Điển chỉ có 10 triệu người thôi nhưng thằng nào cũng giỏi giang cả. Đi đến đâu cũng thấy thằng ấy làm việc tốt quá, thả vào đâu nó cũng làm được.”

“Có một mệnh đề là một hệ thống đóng kín là một hệ thống tự tha hóa. Một chủng tộc cứ loạn luân, cứ lấy nhau mãi như thời nhà Trần thì sẽ bị thoái hóa. Một khu rừng mà chỉ có một loại cây, không cho mọc một loại cây gì khác thì sâu bệnh nó sẽ hại cho bằng hết. (…) Nên một hệ thống muốn phát triển phải rộng mở… phải chấp nhận sự giám sát và phải chấp nhận sự thách thức, chấp nhận đi ra ngoài khơi.” Nói thế chẳng khác nào nói: “Có một quy luật là: một chế độ độc đảng là một hệ thống tự tha hoá” ?

Nhận xét về việc điều tiết thu nhập để tạo nên sự công bằng trong xã hội, ông so sánh:

“Một điều mà tôi nhấn mạnh lại một lần nữa là sự thất bại, sự yếu kém của chế độ là không điều tiết được. Cái đó mình kém xa thằng Thụy Ðiển. Xã hội Thụy Ðiển, Phần Lan đấy, trở nên mẫu mực của thế giới là vì nó có tình đoàn kết, nó đánh thuế công khai, minh bạch. Tôi có biết Thứ trưởng Ngoại giao Thụy Ðiển, hôm tôi đi họp, vào cái nhà hàng Indonesia, cái nơi mà có múa khỏa thân, uống khoảng nửa chai sâm banh và ăn một bữa, một tối vào đấy nó lấy đâu khoảng 300 đô la. Thằng ấy chi. Về kiểm toán, Bộ Ngoại giao nó bảo là đừng có chi vào đây, khoản này là không được. Thằng này nó bảo là mày cứ chi đi. Kiểm toán chuyển sang Quốc hội. Quốc hội lập tức gọi báo chí đến thông báo, cho chụp ảnh, đưa ra công luận. Báo chí đưa ra một cái là ngay ngày hôm sau ông Thứ trưởng xin từ chức ngay. Bởi vì không thể nào chấp nhận được. Tiền của nhân dân không phải để cho ông đi xem múa khỏa thân. Ông xem thì ông phải bỏ tiền túi của ông ra, tôi không cấm ông. Ðằng này ông lại bắt tôi trả, lại còn hống hách mượn quyền của Bộ Ngoại giao nữa. Tôi thấy là quyền hạn càng nhiều thì phải có sự khống chế quyền lực. Không nên được bỏ nguyên lý cơ bản đó”.

Giám sát là thế đó! Quốc hội, báo chí có quyền độc lập là như thế đó! Chống tham nhũng, lãng phí với cái tâm ngay thẳng là như thế đó! Vậy thì: Thuỵ Điển, Phần Lan (chứ không phải là Trung Quốc) mới thật sự là “mẫu mực của thế giới”!

Việc ông Lê Đăng Doanh ca ngợi mô hình xã hội–dân chủ một cách khéo léo trong cùng một chương trình nghiên cứu khoa học với ông Phan Đình Diệu cho thấy hai trí thức tiêu biểu (một ngoài Đảng, một trong Đảng) đã đồng thuận với nhau ở một điểm: coi mô hình dân chủ-xã hội là mô hình có thể thay thế cho mô hình cộng sản đã sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới.

Một điều đáng lưu ý là hai ông chỉ phát biểu mạnh mẽ như thế trong phạm vi “nội bộ”, còn khi ra công khai trước công luận, thì tiếng nói của hai ông lại trở nên thận trọng hơn, mực thước hơn. Đã đành ông Doanh là một đảng viên, tất nhiên phát ngôn có kỷ luật. Thế còn ông Diệu? Hồi cuối tháng 7, tại Hội nghị Đà Nẵng, ông phát biểu nhẹ nhàng hơn trước rất nhiều. Nhiều người tự hỏi: phải chăng, vì trước đó (ngày 14.6.05), hai “nhà lý luận” chính thống Phạm Văn Chúc và Lương Khắc Hiếu đã có bài đả kích ông trên trang web của ĐCSVN? Tuy không nêu đích danh tác giả và tên tài liệu, ai đọc qua cũng đều hiểu hai nhà “trí thức” khả kính nói trên nhắm vào ai; vì họ nói khá rõ: tài liệu đó “được giới thiệu là “đề cương ý kiến phát biểu”, tác giả của tài liệu đó là “một nhà toán học”, mà lại được lưu hành “gần đây, trên trang thông tin điện tử X”. Quan niệm được nêu ra để “phê phán” chính là quan điểm của ông Diệu.

3. Nhà lý luận Lữ Phương

Người thứ ba nêu ý kiến về con đường xã hội-dân chủ là nhà lý luận Lữ Phương. Vốn là một trí thức khuynh tả nổi tiếng ở miền Nam, ông Lữ Phương đã rời bỏ Sài Gòn để vào bưng, trở thành Thứ trưởng Bộ Văn hoá trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam. Sau 1975, ông dần dần rời xa Đảng, thay đổi quan điểm, trở thành một người bất đồng chính kiến. Là một người cộng tác của nhóm Câu lạc bộ Kháng chiến do Nguyễn Hộ lập ra vào cuối thập niên 1980, sau khi nhóm này bị đàn áp, ông vẫn tiếp tục cộng tác với Linh mục Chân Tín và Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan để làm báo (tờ Tin Nhà, về sau là tờ Thư Nhà).

Trong một bài viết đề ngày 11.4.2005 nhan đề “Lại một bóng ma của Marx!”, nhằm nhận xét, đánh giá tập tài liệu Thời đại mới, tư tưởng mới của Hoàng Tùng, ông cho rằng nhà mác-xít nổi tiếng này mặc dù có “một cái nhìn lại” “khá triệt để, táo bạo” so với đường lối chính thống (phê phán Stalin, Mao Trạch Đông) nhưng vẫn còn “rất nhiều gượng ép, thiếu nhất quán”. Đó là “một thứ chủ nghĩa Lenin “vận dụng” vào một hoàn cảnh mới” nhằm mục đích “cố gắng duy trì cho được quyền lực độc tôn của đảng cộng sản đối với xã hội”.

Phê phán thái độ nửa vời của Hoàng Tùng, Lữ Phương viết:

Tôi thấy ở Việt Nam đã có những đề xuất minh bạch, nhất quán hơn tác giả rất nhiều: nếu thật sự muốn canh tân chủ nghĩa xã hội theo con đường dân chủ và ôn hoà thì cũng phải chuyển hoá đảng cộng sản thành đảng dân chủ-xã hội, chấm dứt toàn trị, chấm dứt độc tôn, hoạt động dưới sự kiểm soát của một nhà nước pháp quyền, một chế độ chính trị đa nguyên, thực hiện những chính sách phúc lợi, ưu tiên bảo vệ những người lao động…

Không thể khác hơn, vì chỉ có trong điều kiện đó mới có thể nói đến chủ nghĩa xã hội có cái đuôi “thị trường” đi theo và tiếp tục viện dẫn Marx với cái học thuyết Marx đã được canh tân. Những đề nghị có nội dung như vậy đã xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng rất tiếc, lại không được tác giả tham khảo, thừa kế.”

4. Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa

Người thứ tư đề cập đến con đường xã hội–dân chủ là một trí thức Việt kiều nổi tiếng: kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong bài phỏng vấn dành cho đài Châu Á Tự do (R.F.A.) ngày 6.7.2005, ông cho rằng khái niệm mang tính chiến lược “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” là “một khái niệm tai hại”, bởi vì: “Lòng dân là kinh tế thị trường, ý Đảng là “định hướng xã hội chủ nghĩa”, thực chất vẫn chỉ là lý luận nhằm biện minh cho vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.”

Thay cho khẩu hiệu đó, ông đề nghị một khẩu hiệu khác: “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội dân chủ”. Ông giải thích như sau:

“Về cải cách kinh tế thì nên để từ dưới bung lên, nên giải phóng cho người dân được tự do sinh hoạt, không có hạn chế nơi này, ưu đãi nơi khác, khiến tiềm năng quốc gia bị kềm hãm và xã hội bị mất kỷ cương vì tham ô và luật lệ chặt lỏng thất thường.

Về cải cách chính trị, vốn là điều không thể trì hoãn được nữa, thì nên giảm bớt vai trò nhà nước trong kinh tế, tăng cường vai trò của chức năng làm luật và chấm dứt tình trạng thống trị của một đảng độc quyền. Đấy là định hướng “xã hội dân chủ.”

So sánh mô hình xã hội–dân chủ với mô hình cộng sản, ông nói: Thế giới thiếu gì đảng chính trị tự mệnh danh Xã hội Dân chủ và chẳng vì vậy mà xã hội bị loạn. Ngược lại, cứ theo xã hội chủ nghĩa thì còn lâu mới làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh, công bằng. Trước mắt thì việc công nghiệp hóa và hiện đại hóa chỉ tạo ra lệch lạc làm xứ sở bị mất chủ quyền thực tế về kinh tế và bị tụt hậu so với các nước khác.”

5. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ (tức Hà Sĩ Phu)

Ngày 11.7.2005, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ (tức Hà Sĩ Phu) nhà lý luận nổi tiếng với những bài tiểu luận gây sóng gió trong những năm 1988-1995, người được ngành an ninh Việt Nam “chăm sóc” kỹ nhất từ 10 năm nay, đã gửi một lá thư cho ông Trần Khuê, để trao đổi ý kiến nhân cuộc hội luận giữa ông Khuê và Giáo sư Đoàn Viết Hoạt. Trong lá thư đó, ông Hà Sĩ Phu đề nghị một cương lĩnh mới về xây dựng đất nước: cải biến theo con đường xã hội–dân chủ (social–démocratie, Social Democracy) như các nước Bắc Âu, như Tây Đức,… Ông nhận xét:

“Phương án Xã hội Dân chủ là phương án trung dung, nhưng không đồng nghĩa với cải lương. Tuy trung dung thế mà vẫn đòi hỏi sự dũng cảm và thật lòng, chứ không dùng mẹo được. Cha ông ta vẫn bảo “Thật thà là cha quỷ quái”.

Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Dân chủ! Đơn giản thế thôi, dân chấp nhận ngay, vì như thế cũng chính là xã hội dân chủ đa nguyên pháp trị.”

*

Như vậy là chỉ trong vòng nửa năm, một cái gì đó như thể là “cương lĩnh mới để xây dựng đất nước” đã được hình thành một cách ngẫu nhiên, từ cái tâmcái trí của năm nhà trí thức xuất phát từ những nguồn khác nhau, từ những vị trí khác nhau, nhưng cùng nhắm tới chung một mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”

Có thể tóm tắt ngắn gọn như sau:

* Cương lĩnh cũ (mà ĐCS đang chủ trương) = một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa + một chế độ độc đảng toàn trị

* Cương lĩnh “Xã hội-Dân chủ” = một nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa + một chế độ dân chủ đa nguyên – pháp trị

Chúng ta có thể đánh giá ngay cương lĩnh nào là tiến bộ, là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại? Cương lĩnh nào thế giới đã có nhiều mô hình thành công để ta tham khảo, cương lĩnh nào tiếp tục đưa đất nước vào một cuộc phiêu lưu mới chưa hề có ai đặt chân đến bao giờ?

Câu trả lời thiết tưởng đã quá rõ.

Việc năm nhà trí thức phát biểu trong những hoàn cảnh khác nhau, từ những vị trí khác nhau – không hẹn trước, rõ ràng là tình cờ, ngẫu nhiên. Nhưng tập hợp những cái ngẫu nhiên ấy trong cùng một thời điểm lại thể hiện một quy luật. Quy luật đó là: Nếu Đảng CSVN đã có gan rời bỏ mô hình kinh tế tập trung chỉ huy để hoà nhập vào nền kinh tế thị trường của thế giới thì họ cũng cần có gan chuyển từ nền chính trị chuyên chính vô sản – toàn trị sang chế độ dân chủ – đa nguyên, nếu không muốn bị lịch sử đào thải.

Chúng ta thử đọc lại lời đề nghị của Giáo sư Phan Đình Diệu: “Tôi hy vọng là Đảng sẽ tự biến đổi thành một Đảng xã hội dân chủ để lãnh đạo nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa dân chủ, như vậy thì cả vấn đề giữ quyền lãnh đạo cho Đảng và tạo ra một nền dân chủ của xã hội đều được giải quyết một cách trọn vẹn, và do đó, nước ta sẽ sớm thực hiện được mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, hội nhập vào quốc tế.”

Nhưng nếu Đảng không chấp nhận lột xác để trở thành Đảng xã hội–dân chủ thì sao? Cũng ông Diệu nói tiếp: “Nếu không được như vậy, tức là Đảng vẫn kiên quyết giữ nguyên như hiện nay, thì vì quyền lợi của dân tộc, Đảng phải tôn trọng quyền dân chủ, kể cả quyền lập đảng, của xã hội, và ta sẽ có một chế độ đa đảng hoạt động trong phạm vi luật pháp”.

Dù muốn hay không, một “cương lĩnh mới” tự nhiên đã hình thành song song với cương lĩnh chính thống của Đảng Cộng sản. Một cương lĩnh hình thành trong lòng nhân dân tất nhiên sẽ được nhân dân đón nhận, góp ý bổ sung để trở thành hoàn thiện. Đó không phải chỉ là sản phẩm của các chuyên gia của Đảng, được quyết định bởi “hơn một trăm Ủy viên Trung ương, thậm chí chủ yếu là mười mấy Ủy viên Bộ Chính trị” (tạo nên cái mà nhà thơ Bùi Minh Quốc gọi là “cái ách nô lệ vàng son mang tên là sự lãnh đạo của Đảng”). Ngược lại, cương lĩnh mới đó sẽ là sản phẩm của những bộ óc ưu tú nhất trong nhân dân – bao gồm cả trí thức trong nước lẫn ngoài nước.

Trong bài trước chúng tôi đã đề cập tác phẩm Huyền thoại về một Nhà nước tự tiêu vong của Mai Thái Lĩnh, củng cố thêm cho luận điểm của năm nhà trí thức nói trên. Đây lại thêm một minh chứng hùng hồn, cho thấy dân tộc ta không thiếu người có cái tâm và có cái trí lo cho dân, cho nước. Chỉ lo người cầm quyền thiếu cái tâmcái trí, dẫn đến chỗ hãm hại người tài, làm hao tổn nguyên khí của dân tộc!

Cạnh tranh, nhất là cạnh tranh trí tuệ, vốn là động lực tiến hoá của xã hội. Sau khi được đọc những bài lý luận đầy tâm huyết của các nhà trí thức nói trên, chúng tôi nảy sinh một mong muốn sao cho đông đảo mọi người, những người yêu nước – yêu dân chủ, trong Đảng và ngoài Đảng, hãy cùng nhau đóng góp tâm trí, góp phần xây dựng một cương lĩnh có chất lượng và có sức thuyết phục cao, tạm gọi là “cương lĩnh xã hội-dân chủ” chẳng hạn, tạo ra một sự “cạnh tranh lành mạnh” với cương lĩnh của Đảng Cộng sản, theo quy luật chọn lọc rất bình thường của một xã hội tiến bộ ngày nay!

Sống trong nền kinh tế thị trường chắc tâm lý ai cũng muốn “có hai hay ba để chọn một” thì sẽ vừa lòng hơn là chẳng được quyền chọn gì cả.

2.9.2005

© 2005 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5273&rb=0401


[1] Chương trình này có nội dung là: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”.

Con đường “xã hội dân chủ”

Hà Sĩ Phu, Bài thứ nhất

http://www.boxitvn.net/bai/18574

Ý tưởng cũ, bước đột phá mới

Sau cơn đau thập tử nhất sinh, người đảng viên Lê Hiếu Đằng xưa rất “trung kiên” đã viết liền ba bài, đề xuất việc ra khỏi Đảng Cộng sản, bỏ đảng một cách tập thể, công khai, để thành lập một đảng, Đảng Xã hội Dân chủ (hay Dân chủ Xã hội).

Hẳn ông Lê Hiếu Đằng đã biết ý tưởng đưa thể chế chính trị Việt Nam sang quỹ đạo Xã hội Dân chủ, để thoát khỏi con đường Cộng sản một cách vừa triệt để vừa “êm thấm”, như các nước Bắc Âu, đã được nung nấu khá lâu [1] nhưng nay ông mới phát ngôn bởi theo ông lúc này “thời cơ đã đến”, ông và các chiến hữu đi bước đột phá rất mới.

Trước khi giới thiệu ba bài viết cũ của nhiều tác giả liên quan đến con đường Xã hội Dân chủ cho Việt Nam xin được lưu ý mấy điểm:

1/ Từ ngữ Social Democracy một số tác giả dịch là Xã hội Dân chủ, ông Mai Thái Lĩnh và một số khác đề nghị dịch là Dân chủ Xã hội để đừng lầm với khái niệm “chủ nghĩa Xã hội dân chủ” (Democratic Socialism, đây là ý tưởng riêng của một số nước Cộng sản vì thực ra đã là Cộng sản thì phải chuyên chính, ngược với dân chủ).

2/ Ngày nay tuy không còn một chủ nghĩa nào có thể đóng vai trò một khuôn mẫu giáo điều, nhưng xây dựng mỗi công trình lớn đều cần có một “triết lý” làm cơ sở huống chi sự nghiệp phát triển của một quốc gia? Ngày nay, xu thế Xã hội Dân chủ là chân lý phổ biến nhất, thành công nhất trên thế giới.

Hiện nay, Quốc tế Xã hội Chủ nghĩa (Socialist International, viết tắt: SI) là một tổ chức của các đảng phái chính trị lớn nhất thế giới với 143 thành viên và đại diện là các tổ chức, các đảng theo theo lý tưởng Xã hội Dân chủ ở 140 quốc gia khắp các châu lục” […]. “Sau năm 1945, các đảng XHDC thường xuyên cầm quyền ở tất cả các nước công nghiệp phát triển, các nước Tây Âu, Bắc Âu, đã góp phần quyết định vào việc xây dựng thành công nhà nước pháp quyền dân chủ, xã hội công bằng văn minh và thịnh vượng[2].Khi chủ nghĩa xã hội bạo lực đi đến sơn cùng thuỷ tận, thì chủ nghĩa xã hội ở Tây Âu và Bắc Âu lại giành được thành công cực lớn” […]. “Thuỵ Điển là tấm gương của chủ nghĩa xã hội dân chủ, kinh nghiệm của Thuỵ Điển có giá trị phổ cập thế giới, là cống hiến vĩ đại cho văn minh nhân loại”. [3]

3/ Tuy về gốc gác, con đường Dân chủ Xã hội bắt nguồn từ Quốc tế II, anh em sinh đôi với Quốc tế III Cộng sản, song đó là con đường mở, đã dẫn đến sự đoạn tuyệt hoàn toàn với những nguyên lý sai lầm Mác-xít.

“[…] phong trào XHDC ngày nay đã được giải phóng khỏi sự ràng buộc truyền thống vào ý thức hệ tư tưởng” […]. “Họ hoạt động không theo chủ thuyết, hay vì chủ thuyết, mà vì con người, vì sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và xã hội, vì sự bảo vệ và phát triển hài hòa quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội[2]

4/ Phan Châu Trinh chính là nhà “Dân chủ Xã hội” đầu tiên mang màu sắc Việt Nam, không gợn chút ảnh hưởng sai lầm nào của chủ nghĩa Mác.

Phan Chu Trinh thuộc những nhà DÂN CHỦ XÃ HỘI tiên phong, một chủ nghĩa dân chủ xã hội mang dấu ấn Việt Nam, sinh ra từ điều kiện Việt Nam. Cái chủ nghĩa xã hội nhân đạo mà ta đang định hướng về Bắc Âu để kiếm tìm thì nay chẳng những không phải tìm đâu xa, mà còn sẵn có một phương sách thích hợp hơn với dân với nước ta nữa[4]. “Cũng đau lòng vì cảnh đất nước trong vòng nô lệ, cũng một môi trường trưởng thành là Paris nước Pháp, lại cũng yêu lý tưởng xã hội đến say mê, vậy mà khác với Nguyễn Tất Thành, Phan Chu Trinh không sa vào chủ nghĩa chuyên chính. Trước sau trong tâm hồn nhà nho cách mạng vẫn thắp sáng một ngọn đèn dân chủ[5]. “Trong khi những người xã hội chủ nghĩa ở Pháp vẫn còn bị ràng buộc ít nhiều với chủ nghĩa Marx thì quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Phan Châu Trinh lại không có dính dáng chút gì với chủ nghĩa Marx. Không có đấu tranh giai cấp, không có sự lên án đối với chế độ tư hữu, và do đó cũng không có chủ trương quốc hữu hoá.[5]

5/ Con đường “Xã hội Dân chủ” cho Việt Nam hoàn toàn không mâu thuẫn hay hạn chế những tư duy khác, những con đường khác, nếu cùng dẫn đến một đích chung. Chính Phan Châu Trinh chủ trương các cánh tả, cánh hữu đều phải cùng tồn tại. Đảng Dân chủ Xã hội không bài bác bất cứ đảng phái nào, kể cả hai thái cực Cộng sản và Chống Cộng, vấn đề là một đảng nào đó có ra đời được không, có được đông đảo nhân dân ủng hộ hay không là do sức sống của bản thân đảng đó quyết định. Xin nói ngay rằng chúng ta cứ bàn vấn đề đa đảng thoải mái vì Hiến pháp và Luật Việt Nam (ngay cả điều 4) không cấm đa đảng, và chính Trung Quốc Cộng sản cũng đang có 7-8 đảng kia mà, tất nhiên ta cần đa đảng thật sự chứ không cần đa đảng cuội như họ.

6/ Bàn về khả năng thành công của một con đường hay một lộ trình, tôi nhớ đến một quy luật mà tôi nhận thức được khi còn đi học. Trong các hiện tượng vật lý, hóa học, hay tiến hóa sinh học, nếu việc chuyển từ trạng thái A đến một trạng thái B nào đó có nhiều con đường thì bao giờ thực tế cũng “chọn” con đường nào có tiêu hao năng lượng thấp nhất, phải cung cấp năng lượng ít nhất! (Thế giới vô sinh cũng “khôn” đáo để!). Muốn đánh đổ một khối đá lớn không nhất thiết phải đập thẳng vào khối đá ấy nếu có giải pháp ít tốn năng lượng hơn mà đạt cùng hiệu quả, làm đúng cách có khi “bất chiến tự nhiên thành” là do biết “chiến” vào nơi yếu nhất của đối tượng.

Bậc anh hùng tất nhiên cần tiết tháo và đức hy sinh, nhưng Chính trị lại khác. Chính trị là một nghệ thuật. Yếu muốn thắng mạnh thì nghệ thuật lại càng phải cao, cổ nhân dạy thế.

Chỉ 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt và tình hữu nghị, chữ nghĩa mềm như bún mà buộc chặt cả một Đảng Cộng sản không biết cựa quậy ra sao, đó là “nghệ thuật” của kẻ xâm lược. Chỉ việc sang Thái Lan trao “Kiến nghị 258” của các blogger trẻ cho các tổ chức quốc tế mà mở được một bước đột phá về nhân quyền có hiệu quả thực tế, đó cũng là nghệ thuật. Lê Hiếu Đằng vận động bỏ Đảng Cộng sản để tham gia một “đảng anh em” là Đảng Dân chủ Xã hội, rất ôn tồn chững chạc và “hữu nghị” mà hiệu quả chưa thể lường trước, đó cũng là nghệ thuật.

Cuộc chiến dân chủ hóa cũng như mọi cuộc chiến, phải gồm nhiều binh chủng, mỗi binh chủng có chức năng riêng, phương pháp riêng. Nếu anh lính pháo binh hay lính quyết tử lại trách sao “đội quân tóc dài” không đánh địch giống mình thì thật hài hước.

Có việc người dân chủ trong nước chưa nên làm hoặc chưa thể làm, dành việc ấy cho anh em ngoài nước, ngược lại có việc chỉ người trong nước nên làm, làm giống nhau nhiều khi hỏng việc. Nhiều việc nhận thức giống nhau nhưng cách làm phải khác nhau.

7/ Tác động đúng “huyệt”, đúng nền tảng thì sai một ly đi một dặm. Nếu năm 1920 Nguyễn Ái Quốc đã chuyển từ Quốc tế II sang Quốc tế III chỉ như một “cú nhích chân” nhẹ nhàng tại hội nghị Tours [6], để “đi một dặm” đến cuộc khủng hoảng toàn diện cho Dân tộc hôm nay, thì hiện nay sao ta không biết “nhích chân” rất “nhẹ nhàng” từ Cộng sản Quốc tế III trở về Quốc tế II, với nội hàm hiện đại, của con đường Dân chủ Xã hội mà thế giới văn minh đã kiểm chứng?

Song chúng ta không hề ảo tưởng rằng sự “nhích chân” tưởng như nhỏ nhẹ và đơn giản này sẽ dễ dàng. Đừng quên Đảng Cộng sản không sợ các đế quốc to hay các “thế lực thù địch”, không sợ những đao to búa lớn, mà chỉ sợ nhất “người anh em sinh đôi” là phong trào Dân chủ Xã hội của Quốc tế II mà họ gọi là “chủ nghĩa xét lại hiện đại”, vì chỉ có đảng Dân chủ Xã hội mới là đối thủ có thể giành mất quần chúng của họ trong nước Việt Nam này. Đọc bài “Xây dựng Đảng ta thật vững mạnh” của ông Nguyễn Đức Bình tháng 2-2006 đủ biết Đảng Cộng sản ghét (và e sợ) “người anh em” Quốc tế II như thế nào.

Nhưng ghét là một chuyện, bây giờ Đảng Cộng sản có chống được hay không, là chuyện… hãy đợi đấy!

H. S. P. (16/8/2013)

[1] Lê Bảo Sơn – Phan Trọng Hùng, “Năm nhà trí thức phát biểu về “Con đường xã hội – dân chủ” ở nước ta”,

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5273&rb=0401

[2] Huệ Đăng, “Xã hội Dân chủ là xu thế ngày nay”, http://thongluan.co/vn/modules.php?name=News&file=print&sid=499

[3] Tạ Thao, “Mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ và tiền đồ Trung Quốc”,

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10006&rb=0402

[4] Hà Sĩ Phu, “Tư tưởng và dân trí là nền móng xã hội”,

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10080&rb=0306

[5] Mai Thái Lĩnh, “Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh”, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9307&rb=0306
[6] Hà Sĩ Phu, “Xưa nhích chân đi, giờ nhích lại”

http://www.hasiphu.com/ll4.html

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Vào Đảng, Bỏ Đảng

Kính Hòa, phóng viên RFA.  2013-08-15
EmailChia sẻIn trang này 08152013-bodang-kh.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
000_Del439721-305.jpg

Từ trái qua: Chủ tịch Trương Tấn Sang, TBT Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bỏ phiếu tại Đại hội toàn quốc lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội hôm 17/1/2011. AFP photo

Tờ báo The Epoch Times, được cho là gần gủi với phong trào Pháp Luân Công tại Trung quốc có hẳn một góc nhỏ để công bố số đảng viên đảng cộng sản Trung quốc rời khỏi đảng.

Trong bài viết mới nhất của ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên lâu năm của đảng cộng sản Việt Nam có câu “tôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng (giấy sinh hoạt bỏ vào ngăn kéo). Vậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới”.

Trong suốt lịch sử Việt Nam hiện đại, không có một tổ chức chính trị nào ngự trị vũ đài chính trị của đất nước một cách tòan diện và dài lâu như đảng cộng sản. Đó là một tổ chức chính trị chặt chẽ, có sức hấp dẫn từ những năm đầu thế kỷ 20.

Sức hấp dẫn ấy đến từ những lý tưởng công bằng xã hội, từ nỗi niềm mong ước giải quyết tòan diện các vấn đề của xã hội lòai người. Sự hấp dẫn cộng sản còn mạnh mẽ hơn nữa sau khi thí nghiệm đầu tiên được thực hiện tại nước Nga và các quốc gia phụ thuộc của nó, nơi mà thông tin ít ỏi được mang ra làm khơi gợi trí tò mò.

Bức màn sắt đã sụp đổ. Thí nghiệm cộng sản đầu tiên đã thất bại một cách rõ ràng, khó có lời biện hộ mang tính thuyết phục. Chỉ còn lại trên trần gian này những thí nghiệm cộng sản, biến thái với thời gian, trong cuộc hôn nhân đầy sóng gió của nó với kinh tế thị trường.

Khoảng năm 2011 thì tôi thấy tình hình không ổn. Chính sách không ổn, thực tế không ổn, sự quản trị không ổn của một đảng duy nhất, nên tôi làm đơn xin ra khỏi đảng.
– Một đảng viên

Một cán bộ giảng dạy có bằng Tiến sĩ, là đảng viên cộng sản dạy đại học tại thành phố Hồ Chí Minh, đang rời khỏi đảng cho chúng tôi biết,

“Khoảng năm 2011 thì tôi thấy tình hình không ổn. Chính sách không ổn, thực tế không ổn, sự quản trị không ổn của một đảng duy nhất, nên tôi làm đơn xin ra khỏi đảng.”

Ngoài những lý do của sự hấp dẫn cộng sản là mong ước về công bằng xã hội đã đề cập bên trên, sự hấp dẫn của đảng cộng sản Việt Nam còn có lý do từ một cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mà bao lâu nay Đảng đã rất thành công trong việc duy trì tính chính danh của mình. Từ cuộc đấu tranh đó đảng biện minh cho ngôi vị độc tôn của mình. Tuy nhiên lý do biện minh đó cũng đang bị thách thức. Một trong những thủ lĩnh phong trào sinh viên tại các thành thị miền Nam trước 1975 là Huỳnh Kim Báu nói với đài Á châu tự do,

Chuyện công lao quá khứ với hiện tại là hai phạm trù khác nhau. Anh có thể có công với quá khứ nhưng bây giờ có tội với tương lai. Không thể xét đoán công với tội mà cả dân tộc này chịu sự cai trị của Đảng suốt đời như vậy. Trong khi đó dân tộc, đất nước có trước Đảng. Trước khi là một Đảng viên thì là người Việt Nam đã, cái đó là điều hiển nhiên cho nên không thể lấy lập luận đó để bảo vệ.”

Sự bất hợp lý của mô hình cai trị độc đảng đó được người giảng viên đại học đang rời khỏi đảng nêu rõ,

“Cái đa đảng nó làm cho nhiều trường phái đấu tranh với nhau, từ đó chọn ra cái tốt nhất cho đất nước, chứ kiểu độc tôn là hoàn toàn không ổn.”

Người giảng viên này cũng nói về sự khủng khiếp hiện tại ở Việt Nam khi chứng kiến sự cấu kết giữa đảng nắm quyền và các nhóm lợi ích, hiện đang chi phối xã hội.

Những đảng viên nông dân, một lực lượng quan trọng của đảng cộng sản, không có những lý luận về quản trị như trên, chắc là cũng không hiểu lý tưởng cộng sản ở những năm đầu thế kỷ 20 như thế nào, nhưng họ hòan tòan ý thức được là đứng trong hàng ngũ đảng cộng sản hiện nay là không cần thiết, khi cuộc sống của họ bị đe dọa bởi các nhóm lợi ích. Một nữ đảng viên ở làng Trịnh Nguyễn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, vì không chấp nhận giao đất cho các công ty, đã bị khai trừ khỏi đảng, bà nói với chúng tôi về chuyện đó không chút luyến tiếc,

Cái đa đảng nó làm cho nhiều trường phái đấu tranh với nhau, từ đó chọn ra cái tốt nhất cho đất nước, chứ kiểu độc tôn là hoàn toàn không ổn.
– Một đảng viên

“Bao năm phấn đấu vào đảng, nhưng nay họ làm sai, tôi không cần nữa. Bây giờ cần dân hơn cần Đảng. Thân mình mình phải lo, chứ khi người ta lo đến mình là mình toi rồi.”

Sự hấp dẫn của chủ nghĩa đã không còn nữa, cho nên đảng cộng sản phải lấy tư lợi ra để thu hút người vào đảng. Ông Lưu Hiểu Ba, người bất đồng chính kiến nổi tiếng đang bị cầm tù tại Trung Quốc viết rằng động cơ xin vào đảng của thanh niên Trung Quốc chỉ là tư lợi.

Người anh em của đảng Trung quốc là đảng Việt Nam cũng có cùng phương pháp. Người cán bộ giảng dạy ở TP HCM nói tiếp về nguyên nhân tại sao anh vào đảng,

“Lúc ấy tôi muốn lấy một học bổng trong chương trình liên kết với Đại học Curtin bên Úc, mà muốn như thế thì phải là đảng viên đảng cộng sản.”

Bỏ qua ý tưởng tư lợi, thì sự ham mê cống hiến có lẽ cũng là lý do của nhiều trí thức trẻ, với hòai bão được cống hiến, được làm khoa học, và trong một thời điểm lãng mạn nào đó của cuộc đời, nghĩ rằng đảng cộng sản sẽ giúp mình thực hiện hòai bão ấy. Khi được hỏi anh nhìn nhận như thế nào về cảm tình của giới trẻ có học thức hiện nay đối với đảng cộng sản, anh trả lời ngay lập tức là không hề có.

Nếu cách đây mấy mươi năm người cộng sản Nam Tư Milovan Djilas có nói:

“Nếu ở tuổi hai mươi mà không vào đảng thì là người không tim, nhưng đến tuổi 40 mà còn ở trong đảng lại là người không có trí.”

Thì nay có lẽ giới trẻ Việt Nam không cần đến sự chênh lệch đến 20 năm để quyết định.

Tin, bài liên quan

Đại sứ Hoa Kỳ: ‘Người Mỹ gốc Việt có tiếng nói mạnh mẽ’

Nguyễn Trung. 17.08.2013

 http://www.voatiengviet.com/content/dai-su-hoa-ky-viet-kieu-co-tieng-noi-manh-me/1731852.html
Đại sứ Shear nhấn mạnh rằng cộng đồng người Mỹ gốc Việt hiện đóng vai trò hết sức quan trọng trong mối bang giao song phương

Đại sứ Shear nhấn mạnh rằng cộng đồng người Mỹ gốc Việt hiện đóng vai trò hết sức quan trọng trong mối bang giao song phương

Dược sỹ Nguyễn Mậu Trinh cùng vợ tới nhà bác sỹ Nguyễn Quốc Quân từ sớm vì hôm nay, 16/8, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Shear gặp mặt người gốc Việt tại vùng thủ đô Hoa Kỳ.

Đây không phải là lần đầu tiên tham dự một sự kiện như vậy nhưng ông Trinh cho biết vẫn thấy phấn chấn vì có ‘dịp tốt để chia sẻ tin tức’ với ông Đại sứ.

Còn bác sỹ Quân, một nhà hoạt động dân chủ đồng thời là chủ bữa tiệc, thì nói đây là dịp để trình bày với ông Shear về nguyện vọng của cộng đồng gốc Việt.

Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội đã đề cập tới nhiều vấn đề ngoài chủ đề nhân quyền như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương mà hai nước đang gấp rút bàn thảo.

Hòa giải cũng là một từ mà đại sứ Mỹ sử dụng khi nói tới vai trò của Việt Kiều ở Hoa Kỳ.

Nhà ngoại giao Mỹ nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ muốn Việt Nam giàu mạnh, độc lập nhưng phải tôn trọng nhân quyền và pháp quyền.

Bác sỹ Quân nói: “Chính quyền thì nó sẽ đến và sẽ đi, nhưng nhân dân hai nước sẽ tồn tại mãi mãi”.

Mời quý vị xem tường thuật chi tiết trong phóng sự dưới đây: