Các Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ Đến Việt Nam: Có gì mới?

Ts. Nguyễn Đình Thắng, http://machsong.org

Ngày 9 tháng 8, 2014

Trong những ngày gần đây các phái đoàn của Quốc Hội Hoa Kỳ nối nhau đến Việt Nam. Mới tuần trước là Thượng Nghị Sĩ Bob Corker (Cộng Hoà, Tennessee) và bây giờ là Thượng Nghị Sĩ John McCain (Cộng Hoà, Arizona) và Thượng Nghị Sĩ Sheldon Whitehouse (Dân Chủ, Rhode Island).

Hiện tượng này nói lên hai điều: Việt Nam có cơ hội để phát triển quan hệ đối tác toàn diện, bao gồm cả an ninh và mậu dịch, với Hoa Kỳ, và cánh cửa cơ hội chỉ mở đến cuối năm nay – sau đó thì quá trễ.

Các thượng nghị sĩ chỉ có mấy tuần để công du vì Quốc Hội vừa bãi khoá và sẽ trở lại làm việc tuần thứ 2 của tháng 9. Chờ đến kỳ bãi khoá kế, vào cuối tháng 9, thì e quá trễ vì từ đó đến đầu tháng 11 là cao điểm của mùa tranh cử — các dân biểu và thượng nghị sĩ không còn tâm trí đâu để quan tâm đến những gì khác.

Do đó, lần này các vị thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đến Việt Nam trong một hoàn cảnh rất khác và một tâm lý cũng rất khác với trước đây: Việt Nam đang bơ vơ vì mất thế dựa nơi Trung Quốc và đây là cơ hội vàng cho chính sách chuyển trục của Hoa Kỳ về Á Châu-Thái Bình Dương.

Tại buổi điều trần về tình hình nhân quyền ở Đông Nam Á do DB Ed Royce, Chủ Tịch Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện, triệu tập ngày 9 tháng 7, tôi giải thích cơ hội vàng này:

“Trong 6 tháng tới đây sẽ có một số cơ hội để Quốc Hội khoá này hành động đối với Việt Nam nhằm bảo đảm rằng nhân quyền sẽ là một nền tảng trong chính sách Hoa Kỳ đối với quốc gia này, cụ thể là qua Thoả Thuận về Hợp Tác Nguyên Tử Lực, việc tháo gỡ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam và, quan trọng nhất, các cuộc thương thảo với Việt Nam về việc tham gia của họ vào Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương, hay TPP.

TNS John McCain và TNS Jeff Flake tiếp đón phái đoàn cử tri Việt đến từ Arizona cùng với DB Cao Quang Ánh, Quốc Hội Hoa Kỳ, ngày 16 tháng 7, 2014

 

“Chúng ta cần đòi hỏi các cải thiện nhân quyền căn bản, gồm có trả tự do vô điều kiện cho tất cả tù nhân lương tâm, xoá bỏ tất cả các công cụ đàn áp mà chính quyền dùng để bắt giam và bỏ tù các người bất đồng chính kiến, và tôn trọng trọn vẹn quyền của công nhân thành lập và tham gia các công đoàn lao động tự do và độc lập.”

Do sự kiện giàn khoan HD-981, Hoa Kỳ có thể mạnh tay về nhân quyền mà không phải e ngại là Việt Nam sẽ ngả thêm về Trung Cộng.

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng đã thấy điều này nên nhắn nhủ phái đoàn Việt Nam tại buổi đối thoại nhân quyền diễn ra ở Hoa Thịnh Đốn ngày 12 tháng 5, chưa đầy 2 tuần sau ngày Trung Cộng cắm giàn khoan HD-981 vào Biển Đông: Muốn phát triển đối tác với Hoa Kỳ, Việt Nam cần cải thiện nhân quyền, và điều này phải thực hiện trước cuối năm nay. Ngoại Trưởng John Kerry bất ngờ có mặt ở buổi đối thoại.

Còn một điều khác nữa: Lần này các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đã tiếp xúc và lắng nghe tiếng nói của cử tri gốc Việt trước khi họ gặp gỡ và trao đổi với giới lãnh đạo chính quyền và đảng cộng sản Việt Nam.

Đó chính là lý do Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do và Dân Chủ đã gấp rút thực hiện cuộc tổng vận động giữa tháng 7 vừa rồi. Trong hai ngày 15 và 16 tháng 7, trên 400 người Việt đổ về Hoa Thịnh Đốn từ 22 tiểu bang Hoa Kỳ và 3 tỉnh bang Canada để tiếp xúc với khoảng 70 vị dân cử liên bang hay nhân viên lập pháp của họ. Nhờ vậy hai vị thượng nghị sĩ như Bob Corker và John McCain đều nắm rõ tình hình vi phạm nhân quyền, nhất là đàn áp tự do tôn giáo, đang diễn ra ở Việt Nam. Sau đó văn phòng của họ tiếp tục nhận thông tin cập nhật và hồ sơ cho đến sát ngày họ lên đường đi Việt Nam.

Một phần các hồ sơ này được lưu trữ tại: http://dvov.org/religious-freedom/. Còn phần khác đã được chuyển riêng, vì những thông tin “nhạy cảm” trong đó.

Thêm vào đó, buổi họp báo ngày 31 tháng 7 của Ông Heiner Bielefeldt, Báo Cáo Viên Đặc Biệt của Liên Hiệp Quốc về Tự Do Tôn Giáo hay Tín Ngưỡng, mang tầm vóc của một “xì căng đan” quốc tế và rất được chú ý bởi các giới chức Hành Pháp và Lập Pháp Hoa Kỳ. Ông khẳng định: không có tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Bởi vậy, TNS John McCain, người luôn nói thẳng, cũng khẳng định tại buổi họp báo ở Việt Nam:

“Chúng ta có thể làm được bao nhiêu, như trong các mục tiêu tham vọng nhất của chúng ta về mậu dịch và an ninh, tùy thuộc phần lớn vào những hành động của Việt Nam về nhân quyền…”

Và Ông nêu ra một số điều kiện nhân quyền: “trả tự do cho tù nhân lương tâm, tạo không gian cho xã hội dân sự, và cuối cùng làm rõ trong luật và chính sách rằng quyền của nhà nước là hạn chế và các nhân quyền phổ cập — quyền tự do phát biểu, lập hội, thờ phụng, xuất bản, và tiếp cận thông tin– được bảo vệ cho mọi công dân.”

Ông Sinh Cẩm Minh, Tín Đồ Cao Đài, hướng dẫn phái đoàn Tennessee tiếp xúc TNS Bob Corker và TNS Lamar Alexander, Quốc Hội Hoa Kỳ, tháng 6, 2013

TNS Bob Corker tế nhị hơn, không tuyên bố với báo chí nhưng nói thẳng với giới lãnh đạo của chế độ. Ngay trong ngày đầu làm việc ở Việt Nam, Ông đã gặp riêng một số chức sắc Cao Đài độc lập để phối kiểm các báo cáo đàn áp mà Ông nhận được từ cử tri gốc Việt, trong đó có tín đồ Cao Đài.

Chế độ cộng sản ở Việt Nam đang nhận ngày càng nhiều thông điệp rõ ràng và dứt khoát từ các nhà Lập Pháp và các giới chức Hành Pháp Hoa Kỳ: cải thiện nhân quyền ngay và đáng kể nếu muốn phát triển hợp tác với Hoa Kỳ về an ninh và mậu dịch; càng chần chờ thì cánh cửa cơ hội càng khép lại và sang năm thì hầu như không còn hy vọng gì nữa.

Đó là lý do đằng sau các chuyến công du dồn dập của các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ: cảnh báo cho chính quyền Việt Nam biết về cơ hội đang có nhưng khép lại rất nhanh; không hành động ngay thì sẽ quá trễ.

Bài liên quan:

Video buổi điều trần ngày 9 tháng 7, 2014, lúc 1 giờ 12 phút từ đầu đoạn video:

http://foreignaffairs.house.gov/hearing/hearing-spotlighting-human-rights-southeast-asia

Người Mỹ gốc Việt đầu tiên thăng chức Chuẩn Tướng

Vietonthehorse-600-123.jpg

Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt. Photo courtesy of luongxuanviet.blogspot

Sáng ngày 6 tháng 8 năm 2014, lần đầu tiên trong quân sử Hoa Kỳ, một người Việt tị nạn được vinh thăng Chuẩn tướng.

Ông là Đại tá Lương Xuân Việt, Phó tư lệnh đặc trách hành quân của Sư đoàn I Thiết kỵ. Chức vụ vừa được gắn lên chiếc nón Thiết kỵ đã đưa ông vào danh sách người Việt Nam đầu tiên vinh dự có tên trong hàng tướng lãnh Hoa Kỳ vốn là nơi xét duyệt một cách nghiêm ngặt chức vụ này trong quân đội của họ.

Vinh quang của Chuẩn tướng Lương Xuân Việt cũng là niềm tự hào của người Việt tại Hoa Kỳ. Hàng trăm đồng hương đã lặn lội đến tận Cooper Field, tiểu bang Texas nơi tổ chức gắn lon cho ông để chia sẻ những gì mà một đứa con trong gia đình có đến bảy chị em gái, theo cha mẹ sang Mỹ lúc ông mới 10 tuổi. Cha ông là Thiếu tá Thủy quân lục chiến Quân lực VNCH và do đó ông đã thấm sâu ba chữ Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm.

Trong bài phát biểu bằng tiếng Việt, Chuẩn tướng Lương Xuân Việt nhắc lại truyền thống này một cách tự hào và cũng không quên cám ơn đồng ngũ với cha của ông, người từng mang trên người trọng trách bảo vệ quốc gia như ông đang làm trong vai trò một tướng lãnh:

“Nhìn những bộ quân phục lòng tôi thật bùi ngùi xót xa. Những người đã làm con tim tôi rung động vì ba chữ Danh dự, Trách nhiệm, Tổ quốc và những ý nghĩa của các câu dặn dò do cha ông để lại như. “Nam quốc sơn hà nam đế cư”… Chính là thân phụ tôi, đồng đội của các anh, vì vậy ngọn lửa trong tim tôi lúc nào cũng hướng về đất mẹ dù đã 30 năm xa cách. Không có sự hy sinh xương máu của các anh thì chúng tôi chắc chắn không có ngày hôm nay. Tổ quốc mãi mãi ghi ơn, vì vậy tôi xin các anh nhận cái chào của tôi!”

Chuẩn tướng Lương Xuân Việt gia nhập quân đội Hoa kỳ chức vụ đầu tiên ông nhận được vào năm 1987 là Thiếu úy bộ binh. Từ đó ông lần lượt được thăng tới cấp Đại tá và giữ chức Lữ đoàn trưởng cho chiến trường Afghanistan  năm 2012.

09/08/2014 18:02

Nam nơi gửi USA

Chúc mừng và hảnh diện về thành quả của những “đứa con yêu VN ” trên toàn thế giới. Hy vọng ngày gần đây, dân VN sẽ có tự do, dân chủ thật sự.

Đã đến lúc toàn dân VN trong và ngoài nước phải vượt qua sợ hải như người ViệtNam đã can đãm ra đi tìm tự do trong cái chết sau 30-4-1975 và dân tộc Ukraine chống độc tài, đứng lên cứu mình, gia đình và Quê Hương VN. Còn csvn cai trị độc tài, làm chó săn cho tàu khựa thì toàn dân VN sẽ mãi mãi là “nô lệ đỏ” cho bọn csvn và tàu khựa và chờ ngày mất nước VN. *** FREEDOM IS NOT FREE ***.

New one-star is U.S. military’s first general born in Vietnam

Aug. 6, 2014 – 06:00AM   |

Brig. Gen. Viet Luong's family escaped Vietnam when he was 9, shortly before the fall of Saigon. He is the first Vietnamese-American general officer in the U.S. military's history.

 
Brig. Gen. Viet Luong’s family escaped Vietnam when he was 9, shortly before the fall of Saigon. He is the first Vietnamese-American general officer in the U.S. military’s history. (Army)

Col. Viet Luong pinned on his first star during a ceremony Wednesday at Fort Hood, Texas, becoming the first Vietnamese-born general officer in the U.S. military.

Luong, the 1st Cavalry Division’s deputy commanding general for maneuver, and his family escaped Vietnam in 1975 as political refugees. The infantry officer and 1987 graduate of the University of Southern California has commanded a battalion of 82nd Airborne Division paratroopers in Iraq and led the 101st Airborne Division’s 3rd Brigade Combat Team, the storied Rakkasans, into combat in Afghanistan.

“It’s a personal honor for me to be promoted to the rank of general officer, but I don’t want the promotion to be too much about me,” Luong told Army Times. “It’s a tribute to my soldiers and [noncommissioned officers], the folks who’ve worked to get me where I am.”

Luong said he is grateful for the opportunities granted to him as a U.S. citizen.

“It’s a testament to what this nation stands for, and her ideals, and the opportunities my family has gotten,” he said.

Luong, the only son in a family of eight kids, was born right outside Saigon, now named Ho Chi Minh City.

His father served in the Vietnamese Marine Corps, so “during a time of war, my dad was always away,” Luong said.

He was 2 during the 1968 Tet Offensive, one of the largest military campaigns of the Vietnam War.

“I don’t remember much about it but images of explosions and bad things happening,” Luong said.

In 1975, when Luong was 9, his family escaped the chaos in Vietnam.

“My family made the escape the day before the fall of Saigon,” he said. “We barely escaped.”

They were taken to the USS Hancock, a now-decommissioned Navy aircraft carrier, and eventually to Fort Chaffee, Arkansas, which was set up to receive refugees from Vietnam.

Luong and his family stayed there for about two months, until one of his father’s friends helped the family resettle in Los Angeles.

The family, starting from nothing, worked hard, and “over time, we were able to send all the kids to college,” Luong said.

The family’s experience has made him and his sisters “very patriotic,” Luong said.

“As a transplanted American, or an immigrant coming from a different country, there’s no sense of entitlement as far as earning that citizenship, and working hard to contribute to our nation,” he said. “There’s a sense of service, for me, to be able to give back to our nation for all the opportunities it’s given us, saving us from harm’s way but also the opportunity to assimilate and move up through education.”

Luong said his father, “the biggest influencer in my life,” inspired him to serve in the military. But he knew he would serve even as he stood on the deck of the USS Hancock, Luong said.

“That was such a profound moment for me, to see our service men and women and get an appreciation for what they did,” he said.

Luong initially considered joining the Marine Corps to become an infantryman like his father. Then he met an ROTC instructor, an airborne-qualified sergeant major, who told him about the opportunities offered by the Army and ROTC.

His 27-year career has been highlighted by the opportunity to command troops in combat, Luong said.

“Those were the most challenging times for me,” he said. “I’ve lost so many soldiers, and that has always been part of what the future has in store for me, in trying to really get people to understand that freedom comes at a pretty high price. For us who’ve lost troops in combat, it’s very personal.”

The wars in Iraq and Afghanistan have changed all of those who served in them, he said, and Luong is preparing to return to Afghanistan later this year.

The 1st Cavalry Division headquarters is already deployed to Afghanistan and is running Regional Command-South.

When RC-South, as part of the ongoing transition and drawdown in Afghanistan, is converted into a one-star Train, Advise and Assist Command, Luong will deploy to lead the new organization.

Dân biểu Mỹ kêu gọi trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

Poster-NgTrang-QD-2014-LoB5-2-622.jpg

Công trình trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa Lô B5 tháng 7 năm 2014.

Courtesy VAF

Hôm thứ Ba vừa qua văn phòng dân biểu liên bang Alan Lowenthal ở DC phổ biến bức thư của ông Lowenthal thảo với chữ ký của 18 đồng viện, yêu cầu Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng Mỹ nêu vấn đề với chính quyền Việt Nam về việc Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa có 16.000 mộ của binh sĩ tử trận miền Nam đang bị bỏ hoang phế lâu nay.

Hàn gắn và chứng tỏ sự hiểu biết

Lên tiếng với đài Á Châu Tự Do, dân biểu Alan Lowenthal, đại diện dân cử California các thành phố từ Long Beach, Westminster, Garden Grove đến Anaheim vân vân… giải thích lý do ông chú ý đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa:

Tất cả mọi việc như hàn gắn, chứng tỏ sự hiểu biết và chứng minh là quyền căn bản của người đã chết cũng được tôn trọng phải là những điều kiện tiên quyết trong tương quan Mỹ Việt.
-DB Alan Lowenthal

DB Alan Lowenthal: Có hai chuyện khiến tôi chú ý. Thứ nhất là một số cử tri trong đơn vị tôi làm đại diện báo cho tôi biết họ muốn lập một khu nghĩa trang tương tự như Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa ngay tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến chuyện ấy.

Tiếp đến, tôi được Vietnamese American Foundation Sáng Hội Việt Mỹ, gọi tắt là VAF, tổ chức đang hoạt động tích cực trong việc trùng tu nghĩa trang quân đội này, tìm cách liên lạc và tôi nhận lời giúp VAF là vậy.

Thanh Trúc: Thưa ông dân biểu, điều gì ông nghĩ có thể thuyết phục Ngoại trưởng John Kerry và Bộ trưởng quốc phòng Chuck Hagel lên tiếng với chính quyền Việt Nam liên quan đến việc sửa sang và trùng tu lại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa?

DB Alan Lowenthal: Nhiều điều lắm mà căn bản nhất thì đây là nơi yên nghỉ cuối cùng của 16.000 binh sĩ miền Nam đã ngã xuống trong cuộc chiến, trong lúc khu nghĩa trang nơi họ yên nghỉ đó vẫn đang bị bỏ phế.

Alan-Lowenthal-250.jpg
Dân biểu Alan Lowenthal trong lần đến Đài Á Châu Tự Do trước đây. RFA PHOTO.

Quan trọng là các vị Bộ trưởng Kerry cũng như Hagel phải đề cập vấn đề tôi vừa nêu với chính phủ Việt Nam qua những vòng đối thoại song phương, bởi nếu có một nỗ lực hàn gắn khả dĩ nào giữa chính phủ Việt Nam với người dân của họ thì nỗ lực đó phải dựa trên sự phát huy nhân quyền, bảo vệ quyền con người cũng như tôn trọng nhân phẩm về mọi mặt. Đó là điểm chính yếu nhằm thúc đẩy Việt Nam chứng tỏ và thể hiện thiện chí hòa giải bằng thái độ tôn trọng quyền căn bản và phẩm giá con người.

Và tôi nghĩ cũng rất là quan trọng cho thân nhân cho gia đình của những người tử trận có thể sang trang và khép lại vết thương quá khứ.

Điểm thứ ba, tôi nghĩ, mà Ngoại trưởng Kerry và Bộ trưởng quốc phòng Hagel cần lưu ý lãnh đạo Việt Nam rằng những người nằm trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa này từng một thời là đồng minh của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đương nhiên phải đứng về phía đồng minh để yêu cầu Việt Nam tôn trọng những người bạn cùng hàng ngũ với mình.

Tóm lại, tất cả mọi việc như hàn gắn, chứng tỏ sự hiểu biết và chứng minh là quyền căn bản của người đã chết cũng được tôn trọng phải là những điều kiện tiên quyết trong tương quan Mỹ Việt.

Yêu cầu chứng tỏ thiện chí

Thanh Trúc: Cuộc chiến chấm dứt gần 40 năm, với người trong nước chừng như mọi chuyện đang rơi vào quên lãng, ông hy vọng bao nhiêu phần trăm khi nêu vấn đề Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa với nhị vị Bộ trưởng John Kerry và Chuck Hagel. Lại nữa, ông có tin là nhà cầm quyền Việt Nam sẽ chú tâm đến yêu cầu của ông hay không?

Chúng ta không đòi chính phủ Việt Nam phải bỏ ra nhiều tiền cho công cuộc trùng tu này, chúng ta chỉ yêu cầu họ nhận biết và thấu hiểu việc làm của Vietnamese American Foundation.
-DB Alan Lowenthal

DB Alan Lowenthal: Xin hãy nhớ VAF tức Sáng Hội Việt Mỹ chính là tổ chức đã và đang tự mình cáng đáng phần lớn công việc liên quan đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Chúng ta không đòi chính phủ Việt Nam phải bỏ ra nhiều tiền cho công cuộc trùng tu này, chúng ta chỉ yêu cầu họ nhận biết và thấu hiểu việc làm của Vietnamese American Foundation Sáng Hội Việt Mỹ, yêu cầu họ chứng tỏ thiện chí giúp VAF hoàn thành trách nhiệm. Chuyện này không làm Việt Nam hao tốn gì hết, có chăng chỉ là sự cho phép và tạo điều kiện để VAF có thể trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa một cách thuận lợi nhất. Chính vì thế, tôi nhắc lại, quan trọng là ngoại trưởng Mỹ và bộ trưởng quốc phòng phải tích cực nêu vấn đề với phía Việt Nam, hãy nói với họ rằng nếu họ muốn bang giao Việt Mỹ phát triển theo chiều hướng tốt đẹp hơn nữa thì nên bày tỏ thiện chí trong việc tôn trọng anh linh những người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nghĩa trang bị hoang phế đó.

Thanh Trúc: Xin được hỏi ông dân biểu đôi chút về tiến trình thảo thư và vận động chữ ký 18 đồng viện lưỡng đảng mà ông đã làm hơn tháng nay?

DB Alan Lowenthal: Sau khi được VAF tiếp xúc thì chúng tôi đã soạn ngay thư gởi nhị vị bộ trưởng, sau đó yêu cầu 18 đồng viện Cộng Hòa cũng như Dân Chủ đồng ký tên. Đây là những vị đại diện dân cử thường quan tâm sâu sắc đến nhân quyền như dân biểu Frank Wolf thuộc Ủy Ban Nhân Quyền Tom Lantos, dân biểu Chris Smith, quán quân về vấn đề cải thiện và thúc đẩy nhân quyền cho Việt Nam, các dân biểu Gerald Conolly, Zoe Lofgren, James McGovern, Dana Rohrabacher cùng nhiều vị đại diện các tiểu bang khắp nước. Mọi người đều đồng ý rằng hành động hàn gắn vết thương chiến tranh mà chính phủ Việt Nam nên chứng tỏ qua việc cho trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là điều tiên quyết nếu muốn tương quan với người Việt bên ngoài được tốt đẹp hơn.

Thanh Trúc: Sau cùng ông đánh giá thế nào về công việc của VAF Sáng Hội Việt Mỹ tính đến lúc này?

DB Alan Lowenthal: Họ đang nắm vai trò chỉ đạo trong việc chăm sóc mồ mả và sửa sang lại bộ mặt tàn phế của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Đó là lý do tôi quyết định ủng hộ tổ chức này. Tôi cũng lấy làm vinh dự là người khởi xướng và vận động các vị dân biểu hai đảng trong quốc hội ký vào lá thư gởi cho Ngoại trưởng Kerry và Bộ trưởng quốc phòng Hagel mà chúng ta đang đề cập tới nãy giờ.

Thanh Trúc: Xin cản ơn dân biểu Alan Lowenthal.

Cựu chiến binh tranh luận về chiến tranh Việt nam

 Kính Hòa, phóng viên RFA.  2014-08-07

Đài tưởng niệm các chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh tại Việt Nam

Đài tưởng niệm các chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh tại Việt Nam

AFP

Chiều ngày 5/8/2014 tại thủ đô Washington có một cuộc thảo luận về chiến tranh Việt nam do Hội cựu chiến binh về sự thật lịch sử tổ chức.

Bỏ rơi miền Nam Việt Nam là một điều xấu hổ cho Hoa Kỳ

Mở đầu buổi hội thảo là Tiến sĩ Robert Turner. Ông từng là Chủ tịch đầu tiên của Viện hòa bình Hoa kỳ do Hạ viện thành lập. Trong bài nói gần một tiếng đồng hồ của mình, ông Turner lượt lại lịch sử cuộc chiến tranh Việt nam với sự can thiệp quân sự của Hoa kỳ. Ông nhấn mạnh đến bối cảnh xung đột ý thúc hệ mà trong đó khối cộng sản muốn sử dụng Việt nam như một cuộc thí nghiệp trong cuộc chiến đối đầu với phương Tây.

Tiến sĩ Turner trích lời ông Lâm Bưu, một chỉ huy quân sự nổi tiếng của Hồng quân Trung quốc rằng nếu cộng sản Việt nam thành công thì cộng sản các nơi khác cũng sẽ thành công.

Sự bỏ rơi miền Nam Việt nam của Hoa kỳ là một sự xấu hổ trong lịch sử

Tiến sĩ Turner

Ông Turner cũng nói đến phong trào phản chiến ở Mỹ, và sau đó là quyết định của Quốc hội Hoa kỳ vào năm 1973 không can dự vào cuộc chiến Việt nam nữa. Việc này dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt nam, và các thảm cảnh của người dân Việt nam nói riêng, người dân Đông dương nói chung trong các trại tị nạn của thuyền nhân, trong các vùng kinh tế mới, cũng như các trại tù cải tạo.

Ông Turner kết luận rằng sự bỏ rơi miền Nam Việt nam của Hoa kỳ là một sự xấu hổ trong lịch sử.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích tiếp nối buổi hội thảo, theo ông thì cuộc chiến Việt nam là một công việc dang dở của người Mỹ. Ông nói tiếp về chủ đề ông trình bày

Người ta cho rằng cuộc chiến Việt nam là không hợp pháp, không hợp đạo lý, và không thể thắng. Tôi sẽ trình bày về khía cạnh đạo lý của cuộc chiến.

Giáo sư Bích lượt lại lịch sử của tư tưởng cộng sản ở Việt nam, việc thiết lập một chế độ đàn áp của những người cộng sản Việt nam. Trong bài viết Giáo sư có trích dẫn những người phản kháng ngay trong hàng ngũ của chế độ cộng sản như nhà văn Dương Thu Hương, Đại tá quân đội cộng sản Bùi Tín, nhà báo Huy Đức. Theo đó cuộc chiến Việt nam đã thắng bởi một phe kém phát triển hơn về mặt xã hội. Và đó là vấn đề đạo đức của cuộc can thiệp của người Mỹ.

Những người phản kháng ngay trong hàng ngũ của chế độ cộng sản như nhà văn Dương Thu Hương, Đại tá quân đội cộng sản Bùi Tín, nhà báo Huy Đức. Theo đó cuộc chiến Việt nam đã thắng bởi một phe kém phát triển hơn về mặt xã hội. Và đó là vấn đề đạo đức của cuộc can thiệp của người Mỹ

Giáo sư Bích

Diễn giả cuối cùng là Đại tá về hưu Andrew Finlayson.

Tôi nói về chiến lược của miền bắc Việt nam, và chiến lược mà chúng ta đã có thể sử dụng để tạo cho miền Nam Việt nam một cơ hội tốt hơn.”

Đại tá Finlayson nói về những vấn đề quân sự ở vùng giáp ranh vĩ tuyến 17. Theo ông thì quân đội Mỹ có thể làm tốt hơn khi triển khai ở vùng hạ Lào để ngăn chận đường mòn Hồ Chí Minh, và từ đó ngăn chận sự tiếp tế cho quân nổi dậy cộng sản tại miền Nam.

Trong ít phút đồng hồ còn lại của buổi hội thảo, một số người nghe đã đặt câu hỏi và lời bình luận.

Trả lời câu hỏi rằng liệu sau khi quân đội Mỹ rút đi, nhưng nguồn viện trợ từ Hoa kỳ cho miền Nam Việt nam vẫn giữ vững thì liệu tình hình có khá hơn không! Ông Finlayson nói rằng ông không chắc.

Một người nghe lại nhận định là cuộc chiến Việt nam không chỉ đơn thuần là vấn đề quân sự mà còn có các yếu tố chính trị, hay những quan hệ với Liên Xô và Trung quốc nữa.

Một người nghe khác là cựu thiếu tá bộ binh Andre Sauvageot, có mặt tại chiến trường Việt nam trong chín năm, thì có một nhận định rằng cuộc chiến Việt nam là không thể thắng.

Tôi đi công tác khắp nước và làm nhiều báo cáo cho ông Colby, những bài phân tích, và tôi ngày càng bi quan khả năng Việt nam cộng hòa tồn tại được.”

Ông Sauvageot cũng có nói là ông cũng hài lòng vì đã tham gia buổi hội thảo vì ông được nghe những điều mà những người lính trên chiến trường như ông chưa được biết.

Vì sao phải thoát Trung?

BBC Tiếng Việt mở tọa đàm xung quanh các thảo luận về ‘thoát Trung’ nhân những tranh luận gần đây về vấn đề này.

Tọa đàm được phát trực tiếp trên Bấm Google+ và kênh YouTube của BBC từ 19:30 tới 20:00 giờ Việt Nam ngày 7/8/2014.

Tham gia có các nhà quan sát Việt Nam từ Hà Nội, Hong Kong, Geneva và Berlin.

Cựu quan chức ngoại giao Đặng Xương Hùng, một trong các khách mời, bình luận trên Facebook của ông sau khi Trung Quốc rút giàn khoan:

“Hầu hết đều mong mỏi, khi đã được bình tâm, giới lãnh đạo sẽ đánh giá lại toàn bộ sự kiện, điều chỉnh chính sách để có được những quyết sách phù hợp, đưa Việt Nam ra khỏi vòng luẩn quẩn 25 năm thời kỳ đô hộ kiểu mới của Trung quốc. Đây là một cơ hội.

“25 năm sau lựa chọn ‘giải pháp đỏ’ Thành Đô, giàn khoan đã cho một cơ hội, cơ hội cho những ai dù kém cỏi nhất cũng nhìn ra bộ mặt thật của mưu đồ Đại Hán.

“Nói đúng ra, Trung Quốc đã không còn giấu tham vọng bành trướng của mình. Quan sát cách mà lãnh đạo cấp cao Việt Nam đánh giá lại tác động của Thành Đô, xem xét lại cách đối xử với Trung Quốc, chúng ta có thể phán đoán tương lai của đất nước sẽ đi về đâu,” ông Hùng viết.

‘Canh bạc đã thua’

Nhiều người Việt đòi xem xét lại quan hệ với Trung Quốc

Vị cựu quan chức, nguyên phó vụ trưởng và cựu tham tán ở Geneva, bình luận thêm:

“Chưa bao giờ lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam đứng trước áp lực cần phải thay đổi lớn như hiện nay.

“Mọi thay đổi phải bắt nguồn từ thay đổi tư tưởng, thay đổi cách suy nghĩ và đánh giá sự việc. Liệu các nhà lãnh đạo hiện nay có đủ nghị lực để chiến thắng được chính mình, chiến thắng được ràng buộc về lợi ích cá nhân, phe nhóm. Có đủ can đảm để đưa ra công khai những thỏa thuận sai lầm trong quá khứ.

“Một khi đã nhận sai lầm, minh bạch hóa nó, không phải bỏ công để che dấu và bao bọc nó.

Chưa bao giờ lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam đứng trước áp lực cần phải thay đổi lớn như hiện nay.

“Canh bạc đã thua, càng ham gỡ, càng thua. Hãy từ bỏ nó, chơi một cuộc chơi mới. Một bài toán phải giải theo cách khác mới có một kết quả mới khác trước.”

Bình về quan hệ với Bắc Kinh và Washington, ông Hùng viết:

“Hãy từ bỏ trò chơi cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Ta chỉ đủ khôn lỏi, chứ không đủ khôn ngoan và không đủ lực để tiếp tục đánh đu trong quan hệ với hai nước lớn này.

“Không dễ gì đạt được TPP và không có cải thiện dân chủ và nhân quyền trong nước. Không dễ gì lúc nào cũng muốn hưởng sự bao che của Trung Quốc mà không phải trả giá của sự lệ thuộc nhẫn nhịn. Hãy chìa tay ra để dựa vào sự hỗ trợ rất nhân bản của nước Mỹ đưa đất nước dần một đi lên và lúc đó câu chuyện quan hệ với ông láng giềng bất hảo phương Bắc sẽ dễ đi rất nhiều.”

“Bài học Miến Điện là bài học dễ học nhất,” ông Hùng viết.

Thay đổi kinh tế hay thay đổi chính trị?

Trên Diễn đàn BBC ngày 7-5-2014, Luật sư Ngô Ngọc Trai cho rằng nguyên lý thị trường thực chất là lẽ công bằng trong địa hạt kinh tế và để phát triển kinh tế thì phải duy trì động lực cố gắng của các doanh nghiệp, bảo vệ lẽ công bằng hay tôn trọng các nguyên lý thị trường.

Luật sư Trai cho rằng dựa trên định hướng xã hội chủ nghĩa nhà cầm quyền Việt Nam lấy thẩm quyền quản lý điều tiết nền kinh tế, liên tục tác động vào thị trường, hệ quả là nền kinh tế yếu kém và vì thế để phát triển xã hội cần phải có một “chủ thuyết” kinh tế mới cho Việt Nam.

Đến ngày 7-6-2014 trong kỳ họp Quốc hội thứ 7 – khóa XIII bà Trương Thị Mai Ủy viên Thường vụ Quốc hội, Chủ Nhiệm Ủy Ban Các Vấn Đề Xã Hội, đánh giá và đưa ra nhận định sự chênh lệch giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng.

Nhìn từ góc cạnh xã hội chúng ta sẽ thấy rõ hơn vai trò của chính phủ trong việc phát triển kinh tế xã hội và để từ đó có thể thấy được cần thay đổi kinh tế hay chính trị.

Quan hệ chủ thợ

Người chủ doanh nghiệp có tiền vốn, có công cụ sản xuất, có quyền quyết định đầu tư sản xuất, quyền thuê mướn lao động, quyền tối thiểu chi phí để tối đa lợi nhuận.

Trong khi ấy ngừơi thợ chỉ có sức lao động để trao đổi cho cuộc sống cá nhân và gia đình.

Ở các doanh nghiệp sản xuất nhỏ, chủ và thợ còn có thể tự thương lượng và thỏa thuận các điều kiện để hai bên cùng có lợi. Khi doanh nghiệp mở rộng hơn quan hệ này dần dần mất đi.

Ở các quốc gia dân chủ người thợ tham gia các công đoàn, tạo một tiếng nói chung, thương lượng cho quyền lợi chính mình.

Ở Việt Nam Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam là tổ chức duy nhất được phép tổ chức các vụ đình công và được đứng ra bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Theo báo cáo của tổ chức này, từ năm 1995 đến hết năm 2012, cả nước xảy ra 4,922 cuộc đình công, trong đó: doanh nghiệp nhà nước xảy ra 100 vụ; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xảy ra hơn 3,500 vụ; doanh nghiệp tư nhân xảy ra gần 1,300 vụ.

Hầu hết các cuộc đình công là do doanh nghiệp trả lương thấp hoặc còn nợ lương, trả lương làm thêm quá thấp hay không trả lương làm thêm, điều kiện lao động không được bảo đảm, bữa ăn trưa kém phẩm chất, không được ký hợp đồng lao động hay không đóng bảo hiểm xã hội. Nói chung là vì quyền lợi lao động.

Hầu hết các cuộc đình công các chủ doanh nghiệp đã nhượng bộ đòi hỏi của công nhân, chứng tỏ các doanh nghiệp bóp chẹt hay bóc lột người lao động. Điều cần nói là tất cả các cuộc đình công đều tự phát, bất hợp pháp hay Tổng Liên Đòan luôn đứng bên ngòai các cuộc đình công.

Điều này không lạ vì Tổng Liên Đòan và các Công Đòan cơ sở chỉ là những tổ chức ngọai vi nhằm thực hiện các kế họach, đường lối, nghị quyết và chỉ thị của đảng Cộng sản. Thậm chí Công đòan được chủ trả lương nên gần như đứng về phía chủ hơn là phía công nhân.

Đời sống công nhân thì càng ngày càng khó khăn, lạm phát gia tăng, thu nhập giảm sút, ngừơi công nhân chỉ còn hai cách hoặc nghỉ việc hay phải liên tục đình công. Một số các cuộc đình công đã biến thành bạo động, cảnh sát phải giữ an ninh và thậm chí đánh công nhân đến trọng thương.

Việc đình công tự phát sẽ được giải quyết khi Việt Nam có những công đòan tự do và độc lập. Người công nhân có quyền tự do gia nhập các công đòan, được tự do chọn lựa và bầu ra ban đại diện công đòan, để họ đứng ra thương lượng cho quyền lợi công nhân. Và khi ấy chính giới chủ doanh nghiệp cũng không dám vi phạm luật pháp quốc gia.

Công Đoàn và Chính Phủ

Khi nền kinh tế mở rộng, với đầu tư và giao thương quốc tế, việc bóc lột lao động tại một nước đồng nghĩa với việc giảm cạnh tranh lao động tại nước khác và tạo ra thất nghiệp tại nước này. Bởi thế công đòan các nước thường liên kết thêm sức mạnh tạo sự công bằng cho công nhân trên tòan thế giới.

Vai trò của chính phủ là đề ra những chính sách mang lại lợi ích cho người dân, rõ ràng ‘mức lương tối thiểu’ chưa hay không mang lại lợi ích thiết thực cho tầng lớp công nhân Việt Nam.

Gần đây hai tổ chức công đoàn lớn ở Hoa Kỳ: AFL-CIO và Communications Workers of America đã cùng hằng trăm dân biểu Hoa Kỳ đồng tuyên bố Việt Nam không hội đủ tiêu chuẩn để tham gia Hiệp Định Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vì Việt Nam không tôn trọng quyền tự do lập công đoàn độc lập.

Nói rõ hơn họ ngăn chặn Việt Nam gia nhập TPP không phải vì quyền lợi của người công nhân Việt Nam, mà vì họ muốn giảm thiểu ảnh hưởng từ sự bóc lột lao động tại Việt Nam, tạo công bằng cạnh tranh và giữ công việc cho công nhân tại Hoa Kỳ.

Việc đình công tại Việt Nam không phải chỉ giới hạn giữa chủ doanh nghiệp và công nhân. Vào đầu năm 2006 cuộc Tổng Đình Công với hằng trăm ngàn công nhân đồng lọat tham dự đã buộc thủ tướng Phan Văn Khải phải ký chỉ thị tăng mức lương tối thiểu cho công nhân thêm 40 phần trăm.

Vai trò của chính phủ là đề ra những chính sách mang lại lợi ích cho người dân, rõ ràng “mức lương tối thiểu” chưa hay không mang lại lợi ích thiết thực cho tầng lớp công nhân Việt Nam.

Trên thương trường không phải lúc nào người chủ cũng đầu tư một cách khôn ngoan sáng suốt. Khi người chủ thua lỗ phải đóng cửa người thợ sẽ lâm vào tình trạng thất nghiệp.

Kinh tế thị trường cũng thừơng xuyên bước và những chu kỳ suy thoái ảnh hưởng trực tiếp đến tầng lớp công nhân.

Vai trò của Công đòan là vận động các đảng chính trị để chính phủ phải đề ra những chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội, cho tập thể công nhân.

Vì thế Công đòan cần phải độc lập với các đảng chính trị để có thể sử dụng sự độc lập và sức mạnh tập thể công nhân ảnh hưởng đến các chính sách quốc gia.

Chính Phủ đối với các Tầng Lớp Khác

Trong quá trình sản xuất các doanh nghiệp thường không tính đến môi trường bị hủy họai ảnh hưởng đến sức khỏe của người thợ và của các cư dân trong vùng. Môi trường bị hủy họai còn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nối tiếp, tạo ra những nỗi bất công truyền kiếp cho dân nghèo.

Nhìn rộng hơn việc chính phủ trợ giúp cho một tầng lớp nhất định, dễ tạo ra bất công cho các tầng lớp khác. Như phát triển kỹ nghệ và đô thị gần đây tạo ra nạn dân oan mất đất hay không được bồi hòan một cách thỏa đáng. Dẫn đến các cuộc biểu tình, những cuộc đàn áp, liên tục tạo ra những bất ổn xã hội.

Nhìn xa hơn một xã hội được ổn định phát triển khi mà đời sống của tòan dân đựơc nâng cao và khỏang cách chênh lệch giàu nghèo được giới hạn. Muốn thế năng xuất lao động phải cao, giáo dục và đào tạo phải đúng tầm, vệ sinh ý tế phải được quan tâm, an sinh phải đựơc bảo đảm… và nhất là tự do dân chủ cần được thăng tiến. Muốn đạt được như thế Việt Nam cần:

Thứ nhất, một xã hội dân sự gồm các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức dân sự được hình thành và phát triển, để tạo sức mạnh vận động các đảng chính trị đề ra những chính sách phát triển quốc gia. Các tổ chức này cần độc lập với các đảng chính trị để có thể sử dụng sự độc lập và sức mạnh tập thể ảnh hưởng đến các chính sách quốc gia.

Thứ hai, một môi trường chính trị lành mạnh gồm sự phát triển của các đảng chính trị cạnh tranh quyền lực qua những chính sách quốc gia và cầm quyền qua những cuộc bầu cử tự do và được sự tín nhiệm của người dân.

Mặc dù cả hai nhóm có những khác biệt về quyền lợi và phương cách họat động nhưng đều có cùng chung một mục đích là phát triển kinh tế, xã hội và quốc gia.

Nói tóm lại việc thay đổi kinh tế Việt Nam chỉ là điều kiện cần, thay đổi chính trị mới là chính điều kiện đủ, để đưa đất nước đi lên đồng thời tạo một xã hội công bằng và thịnh vượng.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, nguyên chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Canberra và phó chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc Châu.

Chuẩn Tướng “Brigadier General” Lương Xuân Việt

Bửa cơm gia đình khó quên…

Cổng vào tư gia Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt 
Chiều hôm qua được mời đến nhà chuẩn tướng Lương Xuân Việt ăn cơm gia đình, có dịp trò chuyện mới biết là chuẩn tướng nhỏ hơn Trúc Hồ một tuổi…. cuộc nói chuyện tự nhiên thân mật hơn, gọi nhau là anh em …
Trúc hồ nói, Việt nói tiếng Việt giỏi hơn trúc hồ làm cà nhà cười thật lớn …
Việt nói tiếng Việt giọng bắc 54 rất là hay, hỏi làm sao mà Việt giỏi tiếng VIỆT khi rời xa Việt Nam khi chưa tròn 10 tuổi, Việt nói. vì được người Bố dạy .. anh nhắc đến thân phụ mình với tất cả niềm hành diện… tất cả các sách của bố anh mang theo sau 1975, anh đọc hết, bố anh là thiếu tá Thuỷ Quân Lục Chiến và có bằng Cử Nhân Văn Chương… bên Mẹ thì có hai người cậu là sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà … sau 30 tháng 4 /75, một người bị tù 10 năm , một người 17 năm…..
Việt nói là mỗi ngày đều dành thời gian đọc tiếng Việt, nghe nhạc Việt Nam,
Thích nhạc Lê Uyên Phương và giọng hát Nguyên Khang ..
hồi nhỏ thì học chơi đàn violin, nhưng lớn thì thích chơi đàn guitar và hát…
Cuộc nói chuyện được chuyển qua nhiều đề tài..
Từ chuyện ông Tướng mà Trúc Hồ rất kính trọng General MacArthur cho đến đời Lính của một quân nhân Hoa Kỳ …
đã trên 2 năm qua Việt chưa có được một ngày nghĩ , dù là có được phép nghĩ, nhưng vì quá bận rộn nên không đi vacation hay về thăm Mẹ của mình ….. nói đến đó trúc hồ thấy ánh mắt của Việt hình như rươm rươm nước mắt….
Việt có một người vợ đẹp, hiền, nhìn rất là phúc hậu …..
Và có 7 chị em thật là dể thương và rất là có máu văn nghệ…
Cuối cùng Trúc Hỏi cảm nghĩ của Việt khi là người Việt Nam đầu tiên mang cấp Chuẩn Tướng chỉ huy hơn 20 ngàn quân lính …
Việt nói là mình phài cố gắng nhiều hơn nữa vì mình là người mỹ gốc VIỆT….
Cảm tưởng của Trúc Hồ sau khi đến thăm và ăn cơm gia đình, Trúc Hồ thấy mình rất gần gủi với các chị em của Việt .. còn đối với vị tướng Lương Xuân Việt thì Trúc Hồ thấy được cái TÂM của anh… tự nói với mình, nếu là lính mà được phục vụ với vị tướng này thì chắc chắn là sẽ an tâm …..
Sưu tầm từ FB Trúc Hồ 
Video Nam Lộc đọc thư của Tướng Lương Xuân Việt gữi cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh

Wednesday, August 6, 2014

Buổi Lễ Thăng Cấp General Lương Xuân Việt 8/6/2014 9:00 AM

Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt đọc diễn văn sau Lễ Thăng Cấp và phía sau là các cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Hắc Long Võ Tấn Y (Dallas) trong bộ huyết dù và huy hiệu Hắc Long Nha Kỹ Thuật ngồi cạnh một chiến hữu Nhảy Dù
FORT HOOD — As Viet Luong’s wife pinned the star on his chest Wednesday morning to promote him to the rank of brigadier general, history was made. Born in Vietnam and brought to America during the 1975 fall of Saigon, Luong is the first Vietnamese-American to make general officer in the United States Army.     “The journey was arduous,” said Luong, deputy commander for maneuver for 1st Cavalry Division, standing at the podium at Cooper Field.
At age 10, Luong’s father, a Vietnamese marine, got their family of 10 onto a flight during Operation Frequent Wind and into a refugee camp in Arkansas. The family then settled in Los Angeles.
“Viet and sisters are Americans now by choice,” said Lt. Gen. Mark Milley, commander of III Corps and Fort Hood and reviewing officer for the promotion ceremony. “He has served this great nation honorably over the last many decades. … There’s no one in uniform today that epitomizes what it takes to be an American soldier more than Viet Luong.”
Among the hundreds in attendance were Luong’s seven sisters, mother, wife and three children. State-based Vietnamese news outlets traveled to capture the historic moment.
Luong described the day as “fairly emotional.
“I don’t like to tell that story too much,” he said. “I’m deeply humbled. I do have some responsibility … to tell the story of our nation and what it stands for.”
Luong said his promotion is about America and the soldiers, especially those who gave the ultimate sacrifice — some under his command in Iraq and Afghanistan.
“I’m a symbol of democracy, freedom and the justice of our constitution,” he said.

Lt. Gen. Mark A. Milley (left), commanding general of III Corps and Fort Hood, recites the oath of commissioned officers with Brig. Gen. Viet Luong, deputy commanding general for maneuver, during a promotion ceremony at Cooper Field on Fort Hood, Texas, Aug. 6. Luong, a Vietnamese emigrant is the first Vietnamese-born general/flag officer in the U.S. military. (U.S. Army photo by Sgt. Angel Turner, 1st Cavalry Division)
Kim Luong, wife of Brig. Gen. Viet Luong, deputy commanding general for maneuver, places the brigadier general rank on her husband during a promotion ceremony at Cooper Field on Fort Hood, Texas, Aug. 6. Luong is the first Vietnamese-born general/ flag officer in the U.S. military. Luong credits his advancement in rank to the Soldiers and noncommissioned officers he has served with throughout the years. (U.S. Army photo by Sgt. Angel Turner, 1st Cavalry Division)
Brig. Gen. Viet Luong, deputy commanding general for maneuver, claps to “Garryowen” during his promotion ceremony at Cooper Field on Fort Hood, Texas, Aug. 6. Luong is the first Vietnamese-born general/flag officer in the U.S. military. Luong came to the U.S. as a political refugee in 1975 as part of Operation Frequent Wind. (U.S. Army photo by Sgt. Angel Turner, 1st Cavalry Division)

NHỮNG LÃNH ĐẠO CỘNG ĐỒNG VÀ CÁC ANH EM QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ. SỰ HIÊN DIỆN CỦA QUÍ KHÁCH LÀ MỘT VINH DỰ LỚN CHO GIA ĐÌNH TÔI. TÔI BIẾT RẤT NHIỀU NGƯỜI PHẢI LẬN ĐẬN ĐƯỜNG XA ĐẾN DỰ BUỔI TIÊC HÔM NAY. NHÌN NHỮNG BÔ QUÂN PHỤC LÒNG TÔI THẬT BÙI NGÙI, XÓT XA. NHỮNG NGƯỜI ĐÃ LÀM CON TIM TÔI RUNG ĐỘNG VỀ 3 CHỮ DANH DỰ, TRÁCH NHIÊM, TỔ QUỐC. VÀ NHỮNG Ý NGHĨA CỦA NHỮNG CÂU DẶN DÒ CHA ÔNG ĐỂ LẠI NHƯ:
NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ
DĨ ĐẠI NGHĨA NHI THẮNG HUNG TÀN , DĨ CHÍ NHÂN NHI DỊCH CƯỜNG BẠO
(ĐEM ĐẠI NGHĨA ĐỂ THẮNG HUNG TÀN , LẤY CHÍ NHÂN ĐỂ THAY CƯỜNG BẠO)
CHÍNH LÀ THÂN PHỤ TÔI, MỘT ĐỒNG ĐỘI CỦA CÁC ANH MÀ VÌ VẬY MỘT NỬA CON TIM TÔI, LÚC NÀO CŨNG HƯỚNG VỀ ĐẤT MẸ DÙ ĐÃ 30 NĂM XA CÁCH. KHÔNG CÓ SỰ HY SINH XƯƠNG MÁU CỦA CÁC ANH THÌ CHÚNG TÔI CHẮC CHẮN CŨNG KHÔNG CÓ NGÀY HÔM NAY. TỔ QUỐC MÃI MÃI GHI ƠN. VẬY TÔI XIN CÁC ANH NHẬN CÁI CHÀO CỦA TÔI.

(Trúc Hồ ghi lại)

Trúc Hồ và Anh Lương Xuân Việt 
Với nữ đại uý ..trước giờ làm lễ. ..trên 200 quân nhân người Mỹ gốc Việt tại trại fort hood

Lương Xuân Việt, từ cậu bé tị nạn thành tướng quân đội Mỹ Wednesday, August 06, 2014 7:19:27 PM

Vinh thăng Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt


Hà Giang/Người Việt

FORT HOOD, Texas (NV) Ðại Tá Lương Xuân Việt, phó tư lệnh đặc trách hành quân Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ được vinh thăng Chuẩn Tướng sáng 6 Tháng Tám, 2014, trở thành người gốc Việt đầu tiên được thăng cấp tướng trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.



Trung Tướng Mark Milley (trái) giúp Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt cử hành nghi thức lập lại lời tuyên thệ trung thành với lý tưởng tự do, một thông lệ sau khi thăng cấp của quân đội Hoa Kỳ. (Hình: Hà Giang/Người Việt)


Giây phút lịch sử

Từ 8 giờ sáng, với sự xuất hiện đông đảo của giới truyền thông báo chí, trong đó, hơn một nửa là người gốc Việt, trung tâm tiếp khách của Fort Hood đông đảo và nhộn nhịp khác thường.
Từ khắp nơi trên nước Mỹ, California, Arizona, Washington D.C, họ tề tựu về đây để chờ được đưa vào Cooper Field, trong khuôn viên Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ, đưa tin tức về buổi lễ thăng cấp Chuẩn Tướng cho Ðại Tá Lương Xuân Việt.
Lễ thăng cấp của tân Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt có một ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng gốc Việt trên khắp Hoa Kỳ. Và cũng là niềm hãnh diện của quân đội trong đó binh sĩ mọi cấp không tuyên thệ trung thành với một lãnh đạo nào, một thể chế nào; họ chỉ có một lý tưởng: Bảo vệ tự do – tự do cho người dân Hoa Kỳ và cho cả thế giới.
Ðặc biệt hơn nữa, Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, với nhiều dấu tích còn được trưng bày tại Bảo Tàng Viện có tên “1st Calvary Division Museum.”
Sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, rồi theo gia đình bỏ tất cả để ra đi, tìm tự do từ lúc còn là cậu bé chưa tròn mười tuổi, lý tưởng tự do có lẽ là một trong những nguyên nhân thúc đẩy Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt gia nhập quân đội Hoa Kỳ sau khi ông tốt nghiệp đại học University of Southern California (USC).

Niềm vui và ký ức
Với sự hỗ trợ của cảnh sát thành phố Austin, đúng 8:30 sáng, phòng giao tế của Fort Hood tránh dòng xe cộ đông đúc, đưa được đoàn xe hơn mười chiếc của giới truyền thông vào đến Cooper Field.
Nhộn nhịp, từng bừng hơn những buổi lễ thăng cấp khác, sân khấu lộ thiên của Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ hôm nay chật kín người.
Bên trái khán đài, ở ghế hàng đầu là gia đình vị tân chuẩn tướng, gồm mẹ, vợ, ba người con của ông, cùng bảy chị em gái. Phía sau là rất nhiều cựu quân nhân, sĩ quan của đủ mọi binh chủng trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có cậu, có bác của ông, cũng như một số đồng đội của thân phụ Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt trước đây.



Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt xúc động trong lời cảm tạ sau nghi lễ thăng cấp tại Fort Hood, Texas. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Bên phải khán đài là không biết bao nhiêu binh sĩ các cấp trong Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ, chen vai thích cánh chứng kiến giây phút quan trọng trong quân nghiệp của bậc chỉ huy mà họ quý mến. Một số sĩ quan cao cấp đã về hưu trong quân đội Hoa Kỳ, trước đây từng làm việc với Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, cũng có mặt, để chung vui và chứng kiến một sự kiện mang nhiều ý nghĩa. Nhưng cảm động nhất phải kể đến sự hiện diện của một số cựu quân nhân Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam.
Xa xa, trên bãi cỏ phía trái, đối mặt với khán đài, các thành viên trong ban quân nhạc hùng hậu của Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ chuẩn bị cho phần trình diễn. Ðối diện ban nhạc, mọi người trong giới truyền thông bận rộn chỉnh lại máy móc dụng cụ, sẵn sàng làm việc. Một đội ngũ đông đảo các binh sĩ có nhiệm vụ lo trật tự được điều phối rải rác khắp nơi, và những viên chức trong phòng giao tế tất bật qua lại lo mọi chi tiết cho buổi lễ.
Niềm hãnh diện tràn trề trên khuôn mặt những người tham dự, đặc biệt là giữa những cựu quân nhân sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Ông Bùi Quang Thống, từng thuộc Tiểu Ðoàn 9, Sư Ðoàn Nhảy Dù, quân lực VNCH, chia sẻ: “Chúng tôi rất hãnh diện đến đây để hoan nghênh tinh thần của tuổi trẻ.”
Ông Ðinh Thạch On, thuộc binh chủng Không Quân, quân lực VNCH, xúc động bày tỏ: “Tôi đến để mừng ngày vinh thăng Chuẩn Tướng của Ðại Tá Lương Xuân Việt, là người trẻ tôi hằng ngưỡng mộ. Người được nhiều tiếng tốt và tài giỏi trong quân lực Hoa Kỳ. Ông Lương Xuân Việt cũng là người tôi thương mến, vì có tinh thần phục vụ và nhất là muốn noi gương người bố.”
Ông Bùi Ðức Lạc, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, Pháo Binh Nhảy Dù, vai bác của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, khiêm tốn: “Tôi đến đây với tâm trạng một người Việt Nam mừng cho một người trẻ Việt Nam được lên cấp bậc cao nhất từ trước đến giờ trong quân đội Hoa Kỳ. Chúng tôi rất kỳ vọng vào giới trẻ gốc Việt ở đây, và mong giới trẻ mỗi ngày một tiến hơn. Tôi kỳ vọng vào các cháu.”
Từ San Antonio, Texas, đến dự lễ thăng cấp, đại tá về hưu Michael Kershaw, trước kia là cấp trên của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, từng phục vụ bên ông tại Iraq, nói về ông như một người tận tụy với gia đình, có tinh thần thẳng thắn, trung trực, và nhất là tinh thần trách nhiệm với đất nước. Cựu Ðại Tá Michael Kershaw nói: “Tôi lấy làm vinh dự đã được phục vụ với Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, tôi có thể ngồi đây hàng tuần để kể về những kỷ niệm của mình, nhưng quan trọng nhất là ông là người đã cho tôi những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ về một gia đình Việt Nam.”


Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt chụp hình lưu niệm cùng gia đình sau lễ thăng cấp chuẩn tướng tại Fort Hood, Texas. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Ông Geary Willis, một cựu chiến binh Việt Nam, nay là giám đốc tổ chức “Society of the Vietnamese Airborne,” một hội ái hữu của những cựu cố vấn Không Quân Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho Không Quân Việt Nam trước năm 1975, cho biết ông rất vui dù “lòng đầy xúc động.”
“Thật là tuyệt vời. Thật tuyệt vời. Hơn 50 năm trước, chúng tôi đã chiến đấu cho đất nước Việt Nam; và giờ đây, con em của một người ngày xưa chúng tôi đã giúp đang xả thân làm cho đất nước này mạnh hơn.” Ông Willis xúc động.
“Nhìn những khuôn mặt lớn tuổi trong bộ đồng phục ngày xưa của quân lực VNCH, tôi nhớ lại lòng tử tế và sự can đảm của những người Việt tôi đã gặp khi tôi đóng quân ở Việt Nam vào những năm 69 và 70. Tôi nhớ mình đã buồn hết sức buồn khi Sài Gòn thất thủ, và lo lắng không biết bạn bè người Việt của mình có được an toàn không. Thời đó tôi cũng là một huấn luyện viên cho các phi công Việt Nam, và tôi nhớ nỗi vui của mình khi cách đây hai năm, tôi biết được là người phi công Việt Nam đầu tiên mà tôi huấn luyện đã thoát khỏi Việt Nam, và giờ đây đang sống với gia đình tại Arlington, Texas. Ông ấy đã có 5 người con, người nào cũng tốt nghiệp đại học. Ông ấy cũng giống như Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, thành công ở đây và đóng góp nhiều cho đất nước này.”
Từ California, Dân Biểu Liên Bang Alan Lowenthal gửi thông điệp: “Tôi rất vui mừng khi nhận được tin về việc thăng cấp của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt. Là vị tướng gốc Việt đầu tiên trong quân đội Hoa Kỳ, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt là một hình ảnh nổi bật không chỉ về nét đa dạng trong văn hóa, truyền thống và sắc tộc của nước Mỹ nói chung mà còn trong hàng ngũ các quân nhân nam nữ đang anh dũng phục vụ trong Quân Lực Hoa Kỳ. Tôi xin chúc Chuẩn Tướng Việt những điều tốt đẹp nhất trên con đường phục vụ quốc gia trong danh dự, anh dũng, và lòng can đảm.”
Bảy chị em gái nổi danh như một “huyền thoại” của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, mà ai cũng từng nghe nói đến, nhưng chưa bao giờ gặp mặt họ cùng một lúc, hôm nay ngồi theo đúng thứ tự, chị cả ngồi cạnh mẹ, rồi đến chị Hai, chị Ba…
Bà Lương Minh Hạnh, chị thứ ba của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, cho biết “rất hãnh diện là Việt đã tạo được dịp cho tất cả mọi người trong gia đình cũng như cộng đồng quây quần, em nghĩ rằng cả cộng đồng chứ không riêng gì gia đình chia sẻ niềm vui và hãnh diện chung.”
Bà Lương Minh Dung, người chị thứ hai của Tướng Lương Xuân Việt cho biết “cảm thấy bị áp đảo vì xúc động” và nhìn thấy các quân nhân Việt Nam ngày xưa mặc mũ đỏ mũ xanh tới đây, rồi các em nhỏ hơn mặc đồng phục quân đội Hoa Kỳ, thì trong lòng “cảm động, và vô cùng nhớ bố.”

CQN/QLVNCH tham dự lễ gắn lon Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt 
Hắc Long Hoàng Như Bá và các C/H Nhảy Dù

Người chị cả Lương Minh Tâm ngậm ngùi: “Hôm nay là một ngày vui cho gia đình mình và cho mọi người trong cộng đồng. Rất tiếc là ngày hôm nay bố chúng tôi không còn sống nữa để thấy người con trai của mình đã chọn con đường và đi đến nơi mà ông đã muốn con mình đến. Bố chúng tôi ngày xưa ấp ủ trong lòng nhiều hoài bão cho Việt, giờ nhìn Việt thì tôi cứ nhớ hình ảnh của bố, chỉ tiếc là bố không còn sống để thấy được ngày hôm nay.”

Cậu bé tị nạn thành vị tướng
Sau nghi thức chào quốc kỳ và bài quốc ca trầm hùng do ban quân nhạc của Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ trình tấu, Trung Tướng Mark Milley, người cử hành nghi lễ, nhắc đến kỷ niệm 40 năm sắp đến của Tháng Tư Ðen, để giới thiệu nguyên nhân tại sao Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt và hơn một triệu đồng hương của ông hôm nay có mặt tại Mỹ.
Trung Tướng Mark Milley hoàn toàn chiếm lấy sự chú ý của cử tọa, nhất là giới truyền thông Hoa Kỳ, khi ông kể lại cuộc đời cậu bé tị nạn Việt Nam 9 tuổi thành vị tướng trong quân đội Mỹ.
Tất cả bắt đầu vào Tháng Hai, 1975, Trung Tướng Milley kể, sau khi thân phụ của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt là ông Lương Xuân Ðương, lúc đó là thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến trở về nhà sau khi đi một vòng thanh tra khắp các chiến trường.
Thiếu Tá Lương Xuân Ðương buồn bã báo cho gia đình biết ông nghĩ có lẽ Sài Gòn sẽ thất thủ vào Tháng Tư, và bắt đầu tính đến chuyện tìm cách đưa gia đình rời khỏi Việt Nam.
Nhưng đi bằng cách nào?
Trung Tướng Milley đặt câu hỏi, rồi tự trả lời: “Thoạt đầu ông (Lương Xuân Ðương) nghĩ sẽ đưa cả gia đình cùng đi, rồi lại nghĩ làm sao có thể đưa được gia đình 10 người đi cùng một lúc cho an toàn, chắc ông chỉ có thể mang được hai người con gái và cậu con trai duy nhất. Một lúc nào đó, ông lại nghĩ chắc rút vào rừng một mình để tìm cách thu góp binh sĩ, tạo lực lượng đánh lại cộng sản.”
Rất may, trong những giờ cuối của chiến tranh Việt Nam vào cuối Tháng Tư, cả gia đình Thiếu Tá Lương Xuân Ðương được quân đội Hoa Kỳ giúp đỡ an toàn thoát khỏi Việt Nam.
Những năm sau này, nhớ lại những ngày hoảng loạn cuối Tháng Tư, 1975, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt thường nhắc đến việc được bố trao cho chiếc samsonite màu nâu và bắt “phải bảo vệ nó bằng tính mạng.” Chiếc samsonite này, “mà giờ này tôi vẫn còn nhớ như in trong óc,” chứa tất cả giấy tờ của gia đình, tài sản duy nhất mà gia đình họ Lương mang đi theo được.
Thắm thoát đã hơn 39 năm.
“Việt và bảy chị em của ông giờ đây tự nguyện là công dân Mỹ.” Trung Tướng Mark Milley nói, và khẳng định: “Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt đã phục vụ đất nước vĩ đại này trong danh dự từ nhiều thập niên qua. Ngày hôm nay, không có ai trong bộ quân phục… Không có ai trong bộ quân phục ngày hôm nay có thể là biểu hiện cho những tính cách cần có của một sĩ quan quân đội Hoa Kỳ thích hợp hơn Việt.”
Trong phần phát biểu đầy cảm xúc, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt ngỏ lời cảm ơn gia đình, mẹ, các con, người vợ thân yêu, bảy người chị em “huyền thoại” của mình, và tỏ lòng biết ơn các chiến sĩ trong quân lực VNCH, trong đó nhiều người là đồng đội với thân phụ ông, rằng: “Nếu không có sự hy sinh bảo vệ cho chính nghĩa tự do của quý vị, chúng ta không có ngày hôm nay.”
Về thân phụ, ông nói: “Trong ngày vui này, tôi chỉ biết thầm cám ơn bố tôi. Ông là người đã cho tôi hiểu thế nào là ba chữ Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm.”
Về câu hỏi của phóng viên nhật báo Người Việt sau buổi lễ, là nếu giờ đây được ngồi trước mặt thân phụ, ông sẽ nói gì với cha, vị tân chuẩn tướng đáp trong nụ cười, dù mắt long lanh xúc động: “Thật sự thì tôi rất gần với Bố tôi. Tất cả những ảnh hưởng về quân sự, về lãnh đạo thì đều của thân phụ tôi, và tôi rất gần với ông. Và tôi nghĩ là nếu bây giờ tôi được gặp bố, thì tôi chỉ muốn được ôm lấy bố một lần.”
–-
Liên lạc tác giả: hagiang@nguoi-viet.com

 Brig. Gen. Viet Luong’s family escaped Vietnam when he was 9, shortly before the fall of Saigon. He is the first Vietnamese-American general officer in the U.S. military’s history. (Army)
Col. Viet Luong pinned on his first star during a ceremony Wednesday at Fort Hood, Texas, becoming the first Vietnamese-born general officer in the U.S. military.

Luong, the 1st Cavalry Division’s deputy commanding general for maneuver, and his family escaped Vietnam in 1975 as political refugees. The infantry officer and 1987 graduate of the University of Southern California has commanded a battalion of 82nd Airborne Division paratroopers in Iraq and led the 101st Airborne Division’s 3rd Brigade Combat Team, the storied Rakkasans, into combat in Afghanistan.
“It’s a personal honor for me to be promoted to the rank of general officer, but I don’t want the promotion to be too much about me,” Luong told Army Times. “It’s a tribute to my soldiers and [noncommissioned officers], the folks who’ve worked to get me where I am.”
Luong said he is grateful for the opportunities granted to him as a U.S. citizen.
“It’s a testament to what this nation stands for, and her ideals, and the opportunities my family has gotten,” he said.
Luong, the only son in a family of eight kids, was born right outside Saigon, now named Ho Chi Minh City.
His father served in the Vietnamese Marine Corps, so “during a time of war, my dad was always away,” Luong said.
He was 2 during the 1968 Tet Offensive, one of the largest military campaigns of the Vietnam War.
“I don’t remember much about it but images of explosions and bad things happening,” Luong said.
In 1975, when Luong was 9, his family escaped the chaos in Vietnam.
“My family made the escape the day before the fall of Saigon,” he said. “We barely escaped.”
They were taken to the USS Hancock, a now-decommissioned Navy aircraft carrier, and eventually to Fort Chaffee, Arkansas, which was set up to receive refugees from Vietnam.
Luong and his family stayed there for about two months, until one of his father’s friends helped the family resettle in Los Angeles.
The family, starting from nothing, worked hard, and “over time, we were able to send all the kids to college,” Luong said.
The family’s experience has made him and his sisters “very patriotic,” Luong said.
“As a transplanted American, or an immigrant coming from a different country, there’s no sense of entitlement as far as earning that citizenship, and working hard to contribute to our nation,” he said. “There’s a sense of service, for me, to be able to give back to our nation for all the opportunities it’s given us, saving us from harm’s way but also the opportunity to assimilate and move up through education.”

Luong said his father, “the biggest influencer in my life,” inspired him to serve in the military. But he knew he would serve even as he stood on the deck of the USS Hancock, Luong said.
“That was such a profound moment for me, to see our service men and women and get an appreciation for what they did,” he said.
Luong initially considered joining the Marine Corps to become an infantryman like his father. Then he met an ROTC instructor, an airborne-qualified sergeant major, who told him about the opportunities offered by the Army and ROTC.
His 27-year career has been highlighted by the opportunity to command troops in combat, Luong said.
“Those were the most challenging times for me,” he said. “I’ve lost so many soldiers, and that has always been part of what the future has in store for me, in trying to really get people to understand that freedom comes at a pretty high price. For us who’ve lost troops in combat, it’s very personal.”
The wars in Iraq and Afghanistan have changed all of those who served in them, he said, and Luong is preparing to return to Afghanistan later this year.
The 1st Cavalry Division headquarters is already deployed to Afghanistan and is running Regional Command-South.
When RC-South, as part of the ongoing transition and drawdown in Afghanistan, is converted into a one-star Train, Advise and Assist Command, Luong will deploy to lead the new organization.

Video Video

Division deputy commander to pin first star

FOR IMMEDIATE RELEASE
DATE: July 30, 2014 4:30:00 PM CDT

Division deputy commander to pin first star

FORT HOOD, Texas – Col. Viet Luong, the 1st Cavalry Division deputy commanding general for manuever, will be promoted to brigadier general in a ceremony at 9 a.m., Wed., Aug. 6 at Cooper Field here.
Luong will become the first Vietnamese-born general/flag officer in the U.S. military.
Luong emigrated from Vietnam with his family to the United States in 1975 as a political refugee.  He began his military career upon graduating from the University of Southern California in 1987. 
Media wishing to attend the event click here

Colonel Viet Xuan Luong

Colonel Joseph M. Martin

Colonel Viet Xuan Luong emigrated from Vietnam with his family to the United States in 1975 as a political refugee. He began his military career upon graduating from the University of Southern California.

His first assignment was with 1st Battalion, 8th Infantry Regiment at Fort Carson, Colorado, where he served as Rifle Platoon Leader, Anti-Tank Platoon Leader, Company Executive Officer, and Battalion Maintenance Officer. In 1993, Luong was assigned to Fort Bragg, North Carolina and served in the 2nd Battalion, 325th Airborne Infantry Regiment, 2nd Brigade, 82nd Airborne Division, as the Battalion Assistant S-3 (Operations) and Commander of Alpha Company. While commanding Alpha Company, he deployed to Haiti in support of Operation Uphold Democracy as the Commander of the Theater Quick Reaction Force. Following his assignment at Fort Bragg, he was assigned to the Joint Readiness Training Center in Fort Polk, La., as an Observer Controller.

Following his assignment at JRTC, Luong attended the Command and General Staff College and then was assigned to the Southern European Task Force (SETAF). Luong served as SETAF G-3 Chief of Plans, and the Operations Officer and Executive Officer of 1st Battalion, 508th Parachute Infantry Regiment, 173d Airborne Brigade, in Vicenza, Italy. During his assignment at Southern European Task Force, Luong deployed to Kosovo and Bosnia-Herzegovina on several occasions as part of the NATO Strategic Response Force.

Following this assignment, Colonel Luong was assigned to Joint Task Force North at Fort Bliss, Tx., where he served as a plans officer and Chief, Targeting and Exploitation Division in support of the Department of Homeland Defense. In 2005, he assumed command of the 2nd Battalion, 505th Parachute Infantry Regiment, 3d Brigade Combat Team, 82d Airborne Division. During this command, Luong deployed his battalion in September 2005 as the Division Ready Force 1, in support of Operation American Assist, the Hurricane Katrina Relief efforts in New Orleans, and Operation Iraqi Freedom 06-08, in support of the War on Terror.

In February 2009, Colonel Luong assumed command of the 3rd Brigade Combat Team (Rakkasans), 101st Airborne Division (Air Assault). In January 2010, 3rd BCT deployed to Afghanistan for Operation Enduring Freedom 10-11. Following BCT command, Luong attended Stanford University as a National Security Fellow and subsequently served as the Deputy Director, Pakistan Afghanistan Coordination Cell, J5, The Joint Staff.

Colonel Luong holds a degree in Biological Sciences from the University of Southern California and a Master of Military Arts and Science.

Lễ gắn cấp bậc Chuẩn Tướng cho Đại tá Lương Xuân Việt,
Tư Lệnh Phó Đệ nhất Sư đòan Không Kỵ, đặc trách hành quân,
sẽ được cử hành vào lúc 9 giờ sáng, Thứ Tư, ngày 6 tháng 8, 2014, tại bản doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, Cooper Field, Ford Hood, TX.

Bạch hoá Hội nghị Thành Đô?

Thanh-do-1990-600.jpg

Hội nghị Thành đô ngày 3/9/1990 tại Tứ Xuyên, TQ

Files photos

Hoang mang, lúng túng trước sự tan rã nhanh chóng của khối cộng sản ở châu Âu, lo sợ khả năng mất kiểm soát và độc quyền lãnh đạo, vào đầu tháng 9 năm 1990, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu đã xúc tiến cuộc gặp gỡ với lãnh đạo Trung Nam Hải tại Thành Đô, để bình thường hoá quan hệ sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.

Những thoả thuận của cuộc hội nghị này là nền móng cho mọi mối quan hệ hợp tác giữa CHXHCN Việt Nam và Trung Quốc. Mối quan hệ hết sức bất bình đẳng, thể hiện chính sách hèn mạt, nhu nhược của nhà cầm quyền Việt Nam.

Trên đất liền, được ưu đãi đặc biệt, Trung Quốc thực hiện cuộc xâm thực khống chế Việt Nam, không mất một viên đạn nào. Ngoài biển, Trung Quốc băt đầu từ việc xua đuổi bắt giữ ngư dân, cấm bắt cá, đến cắt cáp tàu của Việt Nam và cuối cùng là đưa giàn khoan vào khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Hiện đang phổ biến lá thư ngỏ của ông Lê Văn Mật, Thiếu tướng, cựu phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận 1979-1984 (Hà Giang), nêu thắc mắc và kiến nghị Đảng Cộng sản Việt Nam công khai nội dung thoả thuận của Hội nghị thành Đô ngày 3-4 tháng 9 năm 1990.

Lấy nguồn từ báo chí Trung Quốc, bức thư có đoạn viết:

“Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa hiệp Thành Đô ngày 4/9/1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản Thỏa hiệp đó.

“Xin trích một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô:  “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….

“Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

Ông Nguyễn Trung, một chuyên viên nghiên cứu, cựu đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, viết:

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau Hội nghị Thành Đô cũng đã trở thành một mối quan hệ vượt mức bình thường với những mỹ từ kèm theo như “tình hữu nghị giữa hai nước xã hội chủ nghĩa anh em”, rồi lại còn “16 chữ vàng”… Những yếu tố bất bình thường này cũng đang là những nhân tố lấn át và có nguy cơ làm cho những nguyên tắc bình thường giữa hai quốc gia trở thành thứ yếu và phần thua thiệt tất nhiên bao giờ cũng thuộc về “đàn em” mà điều xấu nhất nếu xảy ra rất có thể sẽ là “Hoa quân nhập Việt”.

Vì vậy, với một sự kiện sẽ đi vào lịch sử dân tộc như Hội nghị Thành Đô, thay vì nói đó là Hội nghị bình thường hóa quan hệ Việt – Trung như cách nói từ trước đến nay thì phải nói rằng đó là sự kiện mở ra một sự bất bình thường trong quan hệ giữa hai nước thì đúng hơn”.

Vào cùng thời gian với thiếu tướng Lê Duy Mật, có một lá thư khác của cựu đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang, được đăng trên Blog Nguyễn Tường Thụy.

Đưa ra một số hiện tượng xâm thực mềm nguy hiểm, đẩy nền kinh tế Việt Nam vào sự phụ thuộc Bắc Kinh nghiêm trọng, như cho thuê hàng trăm ngàn rừng đầu nguồn 50 năm, khai thác bauxite Tây Nguyên, hơn 90% các dự án EPC lọt vào tay thầu Trung Quốc, v.v…, bức thư nhấn mạnh:

“Xung quanh Hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà Việt Nam đã ký với Trung Quốc  ở Thành Đô có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định, thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm, bất lợi về mặt dư luận… làm người dân hoang mang, bán tín bán nghi, không biết đâu là hư, đâu là thực! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ Việt-Trung, đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với Trung Quốc ở Thành Đô”.

Cho rằng, “Việt Nam gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc” như là một khu vực tự trị giống như Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… theo tôi chỉ là tin đồn đoán, nếu có trích từ nguồn báo chí Trung Quốc thì cũng là những ngôn ngữ điêu ngoa, phóng đại.

Trung Quốc thực tâm muốn biến Việt Nam thành một nước chư hầu, hoàn toàn lệ thuộc về kinh tế và cả chính trị, chứ không thể nào biến Việt Nam thành một Tây Tạng hay Nội Mông được.

Cho dù triều đại cộng sản có bán nước cầu vinh, thì tinh thần chống ngoại xâm phương Bắc từ ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam, vẫn nung nấu. Họ sẽ dễ dàng thao túng, điều khiển hơn khi có một tập đoàn thái thú ngoan ngoãn. Trung Quốc chẳng dại dột đối diện với sự chống đối quyết liệt nếu biến mình thành kẻ cai trị trực tiếp. Lịch sử hai nước đã chứng minh điều này. Qua một ngàn năm Bắc thuộc, Trung Quốc đã không đồng hoá nổi dân tộc Việt và cuộc chiến đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng nổi tiếng của Ngô Quyền, chính thức kết thúc ách đô hộ hơn một thiên niên kỉ, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam.

Song song, dù ĐCSVN áp dụng chính sách phò Trung Quốc để duy trì độc quyền cai trị,  nhưng trong giới lãnh đạo không phải không có mâu thuẫn, chia rẽ. Vẫn tồn tại xu hướng hợp tác với Mỹ, Nhật Bản và các nước khác trong khu vực để kiềm chế Trung Quốc, cho dù ảnh hưởng của phe thân Trung Quốc đang mạnh hơn nhiều.

Mang giàn khoan HD 981 vào vùng kinh tế Việt Nam là một bước đi quan trọng của Trung Quốc trong việc thăm dò phản ứng của Việt Nam và quốc tế, nhưng cuối cùng Bắc Kinh đã cho rút sớm hơn dự định một tháng, là do trong lúc này chưa thể vì một giàn khoan mà có thể mất đứt cả nước CHXHCN Việt Nam.

Không thể bỗng dưng đánh mất một tập đoàn lãnh đạo dường như đang ngả hẳn về Trung Quốc. Không thể có đuợc ở bất cứ nơi nào những gì đang nắm trong tay như trên lãnh thổ Việt Nam. Không thể đánh mất một thị trường 100 triệu dân dễ dãi và thực dụng để tống khứ hàng hoá độc hại.

“Dục tất bất đạt”, Trung Nam Hải không thể vì mộng bành trướng mà quá vội vã. Họ cần có thêm thời gian. Trước mắt vẫn tiếp tục tiến hành mạnh mẽ cuộc xâm thực trên đất liền. Việc Nguyễn Tấn Dũng đồng ý để Trung Quốc tiếp tục xây dựng sân bay quốc tế Quảng Ninh hay thi công đường cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi, chưa nói tới khu Formosa năm ở Hà Tĩnh cho thuê 70 năm, chứng tỏ chính sách xâm lược mềm và khuynh loát Việt Nam bằng kinh tế rất hiệu quả.

Thiết nghĩ chẳng bao giờ ĐCSVN bạch hoá nội dung Hội nghị Thành Đô, bởi vì chế độ cộng sản luôn đồng nghĩa với dối trá, bưng bít thông tin. Nhưng, dù có bạch hoá hay không cũng chẳng mấy quan trọng. Quan sát những gì mà họ làm với Trung Quốc và thẳng tay đàn áp mọi tư tuởng yêu nước chống Trung Quốc trong hơn hai thập niên qua, ta đã đủ hiểu được thực chất của những thoả thuận như thế nào.

Không đến nỗi trở thành Tây Tạng, Nội Mông, nhưng Việt Nam đang và sẽ trở thành một cứ điểm quan trọng trong chính sách bành trướng của Trung Quốc. ĐCSVN thực sự  nối giáo cho giặc, đã và đang dẫm đạp lên lợi ích lâu dài và chủ quyền của dân tộc.

© Lê Diễn Đức

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Hà Nội kêu gọi Quốc hội Mỹ ủng hộ Việt Nam vào TPP

Trà Mi-VOA. 06.08.2014

http://www.voatiengviet.com/content/ha-noi-keu-goi-quoc-hoi-my-ung-ho-vietnam-vao-tpp/1972743.html

Việt Nam kêu gọi Quốc hội Hoa Kỳ thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại song phương, tạo điều kiện để Việt Nam gia nhập Hiệp định Tự do Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), và ủng hộ giải pháp ôn hòa cho vấn đề Biển Đông.

Đề nghị của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được đưa ra hôm 5/8 tại Hà Nội nhân buổi tiếp Thượng nghị sĩ Bob Corker, thành viên cao cấp trong Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, sang thăm Việt Nam.

Trang web Bộ Ngoại giao Việt Nam trích lời ông Sang nói ‘Việt Nam quyết tâm hoàn thành đàm phán về TPP’ và mong ‘Hoa Kỳ tạo điểu kiện để Việt Nam có lộ trình phù hợp.’

Chủ tịch Trương Tấn Sang cho biết Việt Nam ‘sẵn sàng mở rộng hợp tác kinh tế thương mại với Hoa Kỳ’, ‘trao đổi thẳng thắn’ để tránh những trở ngại trong thương mại song phương.

Chưa có thông cáo từ văn phòng Thượng nghị sĩ Corker và VOA Việt ngữ chưa liên lạc được với nhà lập pháp này để ghi nhận phản hồi của ông trước lời kêu gọi của Việt Nam.

Một tuần trước, hàng chục dân biểu thuộc lưỡng đảng trong Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 29/7 gửi thư cho Tổng thống Barack Obama phản đối cho Việt Nam gia nhập TPP nếu không có những cải thiện nhân quyền cụ thể từ chính phủ Hà Nội.

Dân biểu Cộng hòa Frank Wolf trong cuộc phỏng vấn với đài VOA.
Dân biểu Cộng hòa Frank Wolf trong cuộc phỏng vấn với đài VOA.

Thư do dân biểu Cộng hòa Frank Wolf khởi xướng với chữ ký của 32 dân biểu khác nêu rõ Quốc hội Mỹ sẽ khó cho Việt Nam vào TPP nếu Hà Nội không có những thay đổi đáng kể về mặt nhân quyền, cải tổ luật lệ đáp ứng các tiêu chuẩn lao động quốc tế, và tỏ rõ cam kết về pháp quyền.

Trước đó hồi thượng tuần tháng 7, Đồng Chủ Tịch Ủy ban An ninh Quốc Nội và thành viên Ủy Ban kinh tế  Lưỡng viện quốc hội Hoa Kỳ, dân biểu Loretta Sanchez ra thông cáo báo chí chống đối việc thương thuyết với Việt Nam về hiệp định tự do thương mại TPP viện dẫn các quan ngại về quyền của người lao động, tình trạng mất cân bằng mậu dịch, và vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

Trả lời phỏng vấn VOA Việt ngữ, bà Sanchez nhấn mạnh:

“Tôi chắc chắn sẽ làm chậm tiến trình thương thuyết TPP với Việt Nam cho tới khi nào chúng tôi thấy được một số chuyển biến tích cực trong lĩnh vực nhân quyền của Hà Nội. Chúng tôi muốn nhìn thấy những sự thay đổi thật sự. Chúng tôi muốn thấy các blogger bị tù đày vì thể hiện quan điểm bất đồng với nhà nước được phóng thích. Chúng tôi muốn thấy sự đàn áp nhắm vào các tín đồ Công giáo hay Phật giáo Việt Nam Thống nhất phải chấm dứt, và các điều luật mơ hồ về an ninh quốc gia Hà Nội dùng để bỏ tù dài hạn những người bất đồng chính kiến phải được sửa đổi.”

Dân biểu Loretta Sanchez.
Dân biểu Loretta Sanchez.

Để TPP được thông qua, cần có sự phê chuẩn của Tổng thống và sự tán đồng của cả lưỡng viện trong Quốc hội Hoa Kỳ. Nếu không được đa số ủng hộ ở Hạ viện hoặc chỉ cần 1 thành viên trong Thượng viện chặn lại thì Việt Nam cũng không vào được TPP.

Nhà vận động về vấn đề nhân quyền và TPP của Việt Nam tại Mỹ, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc Ủy ban Cứu người Vượt biển BPSOS, cho biết tiến trình vào TPP của Việt Nam khó khăn vì hai nút chặn chính tại Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ, với khoảng 260 dân biểu Mỹ đã tỏ ra không đồng ý cho Việt Nam vào TPP nếu như không có những cải thiện căn bản về nhân quyền.

Tại Thượng viện Mỹ, một số Thượng nghị sĩ trong đó có ông Ben Cardin, Chủ tịch Tiểu ban đặc trách Châu Á-Thái Bình Dương, đã kêu gọi phải đưa các điều kiện về nhân quyền và quyền của người lao động vào các cuộc thương lượng TPP với Hà Nội.

Ngoài vấn đề TPP, tại buổi tiếp Thượng nghị sĩ Corker ở Hà Nội, Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng cảm ơn Ủy ban Đối ngoại và Thượng viện Mỹ ủng hộ quan điểm của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Ông Sang nói Việt Nam mong muốn một Biển Đông hòa bình, không có sự đe dọa hay dùng võ lực trong các các tranh chấp, và các tranh cãi phải được giải quyết trên luật pháp quốc tế.

Dân biểu Chris Smith (trái) và Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng (giữa).
Dân biểu Chris Smith (trái) và Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng (giữa).

Một thành viên cao cấp trong Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ từng tuyên bố Việt Nam có thể trông cậy vào một nước bạn Hoa Kỳ trước sự uy hiếp ngày càng tăng của Trung Quốc trên Biển Đông nếu Hà Nội cải thiện các thành tích nhân quyền đang bị lên án gay gắt.

Dân biểu Chris Smith nói với VOA Việt ngữ:

“Với sự đe dọa ngày càng tăng từ Trung Quốc ở Biển Đông và toàn khu vực, Việt Nam cần hết sức quan tâm về các vấn đề an ninh. Họ sẽ tìm thấy nơi Hoa Kỳ một người bạn sẵn lòng nhưng trước nhất, Mỹ cần Hà Nội chứng tỏ có cải thiện đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền, mà chúng tôi lại chưa thấy, chỉ thấy tồi tệ đi.”

Hà Nội kêu gọi Quốc hội Mỹ ủng hộ Việt Nam vào TPP

Hai nước cựu thù Việt-Mỹ hy vọng hoàn tất đàm phán TPP trước cuối năm nay. Đôi bên sẽ kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm sau.

Bị khai trừ vì không muốn Đảng chỉ đạo?

Luật sư Trừng là người nói thẳng tại diễn đàn Quốc hội

Ông Nguyễn Đăng Trừng, chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ‘muốn duy trì sự độc lập’ của cơ quan của ông trước sự chỉ đạo của Đảng, một luật sư từ Hà Nội nhận định với BBC.

Cách nay gần một tuần, hôm 31/7, báo chí trong nước loan báo quyết định của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh khai trừ Đảng đối với ông Trừng vì có những dấu hiệu ‘suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống’.

Ông Trừng, năm nay 72 tuổi, từng tham gia trong phong trào sinh viên học sinh chống chính quyền ở miền Nam trước năm 1975 và từng bị chính quyền khi đó kết án vắng mặt 10 năm khổ sai.

Ông Trừng từng là đại biểu Quốc hội nổi tiếng nói thẳng tại nghị trường. Ông cũng từng là cán bộ công an sau chuyển sang làm bí thư Đảng đoàn và chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh đã gần 20 năm.

‘Xem nhẹ sự lãnh đạo của Đảng’

Quyết định của Thành ủy được báo chí trong nước dẫn lại cáo buộc ông Trừng ‘xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng đoàn đối với hoạt động của Đoàn Luật sư’ và ‘không tổ chức cho Đảng đoàn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy chế’.

Ngoài ra, ông Trừng cũng bị cho là ‘vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ’ trong phân công, bổ nhiệm số cán bộ, chỉ đạo chuẩn bị nhân sự đại hội Đoàn Luật sư nhiệm kỳ 6 ‘không đúng quy trình, thiếu minh bạch’ và có phong cách lãnh đạo ‘độc đoán, thiếu dân chủ’.

Theo kết luận của Thành ủy, ông Trừng đã từng bị kiểm điểm, ‘đã nhận lỗi’ và được tạo cơ hội sửa chữa nhưng lại ‘tiếp tục có những vi phạm nghiêm trọng hơn’.

Tôi bị kỷ luật chỉ vì một lý do duy nhất là đã kiên quyết bảo vệ dân chủ và sự tự quản độc lập của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư Nguyễn Đăng Trừng

BBC đã liên hệ ông Trừng để hỏi phản ứng của ông về việc bị khai trừ Đảng nhưng ông từ chối trả lời.

Trong khi đó, trên mạng lan truyền một văn bản của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Đăng Trừng ký đề ngày 1/8, tức là chỉ một ngày sau khi ông bị khai trừ, phản bác quyết định khai trừ của Thành ủy.

Văn bản này ghi lời của ông Trừng nói rằng: “Tôi bị kỷ luật chỉ vì một lý do duy nhất là đã kiên quyết bảo vệ dân chủ và sự tự quản độc lập của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh”.

Văn bản cũng đưa con số ông Trừng được 351 phiếu trong tổng số 468 phiếu trong đợt thăm dò tín nhiệm vào chức danh chủ nhiệm luật sư đoàn trong nhiệm kỳ mới do Thành ủy tổ chức.

‘Vì sự dân chủ của luật sư’

Đã có luâṭ sư ở Việt Nam bị chính quyền bỏ tù

Ông Trần Vũ Hải, một luật sư từ Hà Nội, cũng đồng ý với luật sư Nguyễn Đăng Trừng.

Trao đổi với BBC, luật sư Hải cho rằng ông Trừng đấu tranh với Thành ủy và Liên đoàn luật sư Việt Nam trong việc ngăn cho ông không cho ông Trừng tái cử ‘không phải là đấu tranh cho bản thân ông Trừng mà đấu tranh cho quyền dân chủ và tự quản của luật sư nói chung’.

“Đối với ông Trừng, việc ở lại cái ghế chủ nhiệm hay không là không quan trọng mà điều quan trọng là tôn trọng quyền dân chủ và tự quản của các luật sư và chấp nhận ý kiến của đa số luật sư,” ông nói.

“Ông Trừng không chấp nhận việc người ta loại bỏ một ứng viên được rất nhiều luật sư ủng hộ một cách không công bằng và không đúng luật,” ông nói thêm.

Việc ‘loại bỏ’ này là ông Hải nói đến việc Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Liên đoàn Luật sư Việt Nam ra ‘thêm tiêu chuẩn’ đối với chức danh chủ nhiệm là ‘dưới 70 tuổi và không phục vụ quá hai nhiệm kỳ’.

Quyền của ông Trừng với tư cách là một luật sư là được ứng cử. Còn việc ông có được đề cử và được bầu hay không là do đại hội luật sư quyết định chứ không phải ai khác.
Luật sư Trần Vũ Hải

Theo ông Hải thì tiêu chuẩn này là ‘không công bằng’ và ‘nhằm loại ông Trừng ra khỏi danh sách ứng cử viên’.

“Nhiều tỉnh thành khác cũng có những chủ nhiệm luật sư đoàn trên 70 tuổi và bản thân ông Lê Thúc Anh (chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam) cũng đã trên 70 tuổi và cũng đang muốn tái cử,” luật sư Hải giải thích.

“Bản thân tôi cũng chưa bao giờ thấy một sự can thiệp như vậy của bất kỳ cơ quan nào đối với một đoàn luật sư lớn như ở Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh.”

“Quyền của ông Trừng với tư cách là một luật sư là được ứng cử,” ông Hải nói, “Còn việc ông có được đề cử và được bầu hay không là do đại hội luật sư quyết định chứ không phải ai khác.”

‘Không thể chỉ đạo Luật sư Đoàn’

Hoạt động tư pháp ở Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

Ông Hải cho rằng các tiêu chuẩn ứng cử chức chủ nhiệm ‘phải ghi trong điều lệ luật sư đoàn và trong Luật Luật sư’ chứ ‘không phải bằng một văn bản dưới luật một cách tùy nghi như vậy’.

“Nếu có sự tranh cãi về tiêu chuẩn ứng cử viên thì phải do đại hội quyết định,” ông phân tích để khẳng định rằng ‘nguyên tắc dân chủ và tự quản của luật sư cần phải được tuyệt đối tôn trọng’.

Về sự lãnh đạo của Thành ủy đối với Đảng đoàn Luật sư, ông Hải cho rằng Đoàn Luật sư ‘không có khái niệm chủ quản và chỉ đạo’.

“Các tổ chức luật sư có tính độc lập vì chúng hoạt động được là sự thu phí hàng tháng của các luật sư đóng góp,” ông giải thích, “Có sự lãnh đạo thì chỉ là lãnh đạo đường lối để đảm bảo luật sư đoàn không đi khỏi khuôn khổ pháp luật Việt Nam.”

Khi được hỏi về sự đấu đá quyền lực trong nội bộ Luật sư Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, ông Hải nói: “Có những người không thích ông Trừng là chuyện bình thường vì ông Trừng là người thẳng thắn.”

“Còn các lãnh đạo không thích ông Trừng vì ông ấy muốn duy trì tính độc lập và tự quản của Đoàn Luật sư.”

‘Chính trực, nói thẳng’

Trong bối cảnh xã hội ở Việt Nam, tìm một vị thủ lĩnh luật sư đoàn sẵn sàng đương đầu, chống lại sự can thiệp thô bạo từ phía Đảng Cộng sản và chính quyền như luật sư Nguyễn Đăng Trừng thì thật là mò kim đáy bể.

Luật sư Lê Công Định

“Họ có muốn ông Trừng làm chủ nhiệm hay không không quan trọng. Nếu ở đại hội nhiều người không muốn ông Trừng làm chủ nhiệm thì ông Trừng sẽ mất phiếu,” ông Hải nói.

Về nhận xét của cá nhân, ông Hải cho rằng ‘ông Trừng là người chính trực, nói rất thẳng, không e dè đối với những việc sai trái của các cơ quan hay của đồng nghiệp’.

Trên trang Facebook của mình, luật sư Lê Công Định, người từng là cấp phó của ông Trừng trong Ban chủ nhiệm Luật sư Đoàn, nhận định rằng ông Trừng là ‘vị thủ lĩnh thật sự của giới luật sư Sài Gòn’.

“Trong bối cảnh xã hội ở Việt Nam bấy lâu nay, tìm một vị thủ lĩnh luật sư đoàn sẵn sàng đương đầu, chống lại sự can thiệp thô bạo từ phía Đảng Cộng sản và chính quyền để bảo vệ sự độc lập và tự quản của giới luật sư trong khả năng có thể như luật sư Nguyễn Đăng Trừng đã làm, thì thật là mò kim đáy bể,” ông Định viết.

“Lý do ông tham quyền cố vị dù đã cao niên chỉ là cớ để người ta buộc ông rút lui. Vì vậy việc ông bị khai trừ khỏi Đảng là điều dễ hiểu.”

Phạm Chí Dũng : Nhà nước cần chấp nhận hoạt động ôn hòa của xã hội dân sự

Thụy My, rfi, 05-8-14

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140805-pham-chi-dung-nha-nuoc-can-chap-nhan-hoat-dong-on-hoa-cua-xa-hoi-dan-su

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng.

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng. DR

Nhà báo Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam (Hội NBĐLVN) – vừa nhận hai giấy triệu tập liên tiếp của Cơ quan an ninh điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu anh phải đến trụ sở cơ quan này vào 8h sáng các ngày 4/8 và 5/8 để “trả lời các bài viết trên Internet”.

Được biết ngày 4/8 cũng là thời điểm một cuộc sinh hoạt định kỳ của Hội NBĐLVN được tổ chức tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Ngày 5/8 là ngày họp mặt các nhóm xã hội dân sự tại Saigon.

Với giấy triệu tập lần 1, nhà báo Phạm Chí Dũng đã từ chối không đến, nhưng đành vắng mặt trong buổi họp vì bị ngăn chặn. Còn hôm nay 05/08/2014, anh đã chấp nhận đến trụ sở công an để làm việc. Sau khi kết thúc buổi làm việc này, anh cho đài RFI biết:

Nhà báo Phạm Chí Dũng : Một chi tiết thú vị là tôi lại gặp chính ông Lê Đình Thịnh – điều tra viên mà vào năm 2012 đã tham gia bắt và hỏi cung tôi. Lần này, điều tra viên hỏi khá nhiều về Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, nội dung xoay quanh mục đích tôn chỉ của Hội và một số vấn đề khác. Có vẻ họ rất quan tâm đến tiêu chí “hoạt động ôn hòa” của Hội và cố gắng dò tìm xem hội này thực sự ôn hòa hay có định xách động dân chúng không.

Tôi trả lời thẳng là Hội NBĐLVN là tổ chức nghề nghiệp về báo chí, đã tuyên bố hoạt động ôn hòa tức sẽ luôn ôn hòa về quan điểm, trong đó có quan điểm chính trị. Nhà nước Việt Nam luôn đa nghi, nhưng sẽ hoài công vì Hội NBĐLVN chẳng bao giờ có ý định “lật đổ chế độ”.

Tuy nhiên, mục tiêu chính của Hội là phản biện, và Hội chấp nhận các luồng quan điểm và ý kiến đa chiều, kể cả trái chiều giữa các hội viên để tạo nên một môi trường đa nguyên tư tưởng theo đúng nghĩa.

Về ngày thành lập 4/7 của Hội NBĐLVN trùng với ngày Quốc khánh Mỹ, ngay từ đầu chúng tôi đã xác định đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng rất ý nghĩa, vì điểm thời gian này tương hợp với Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hơn hai trăm năm trước – năm 1776. Nhưng không thể lấy sự trùng hợp về thời điểm như thế để quy cho Hội NBĐLVN là “theo đuôi Mỹ”.

Họ cũng cho rằng có thể tôi bị “cuốn theo đô la và ảo vọng”, tức “khen Mỹ” nhiều quá. Tôi trả lời thẳng là: “Các anh có chứng minh được chúng tôi dùng nguồn tiền bất hợp pháp cho hoạt động của Hội NBĐLVN không? Các anh có bao giờ thấy tôi hoang tưởng chính trị không? Vừa qua sau vụ giàn khoan HD 981 của Trung Quốc, nếu không có sự lên tiếng mạnh mẽ của Hoa Kỳ và phương Tây thì liệu Trung Quốc có nhượng bộ Việt Nam không? Như vậy cần thấy rằng phải cố mà xây cho được mối quan hệ đồng minh với Mỹ chứ. Quan hệ này không chỉ bảo toàn lãnh thổ cho dân tộc Việt Nam mà còn có lợi cho cả đảng của các anh đấy”.

Nội dung hỏi và trả lời chỉ có thế. Sau đó họ đề nghị tôi ký xác nhận vào những bài viết của tôi trên mạng Internet, nhưng tôi yêu cầu họ về nhà tôi để tôi tự in các bài viết từ trên mạng rồi mới có thể ký được.

Điều đọng lại cuối cùng nhưng ấn tượng nhất đối với tôi sau buổi làm việc hôm nay là Cơ quan ANĐT không hề đề cập đến việc hình thành Hội NBĐLVN là đúng hay sai luật pháp, cũng không đả động gì đến việc “xử lý vi phạm” hay bắt bớ nào đối với các hội viên của Hội NBĐLVN.

Họ cũng không đề cập đến cụm từ “đối lập chính trị” mà giới dư luận viên đã luôn dùng để công kích và quy chụp Hội NBĐLVN trong gần ba chục bài viết trên mạng trong một tháng qua, hay truy tìm nguồn tài chính của Hội mà có thể họ luôn cho rằng không minh bạch. Và Cơ quan ANĐT cũng chỉ hỏi về hoạt động của cá nhân tôi chứ không đề cập đến bất cứ người nào khác trong Hội NBĐLVN.

Tôi cho rằng đã đến lúc Nhà nước Việt Nam cần chấp nhận hoạt động ôn hòa của các hội đoàn dân sự độc lập, và thay vì điều tra xét hỏi và triệu tập liên miên mà có thể phạm vào việc lạm dụng quyền lực, họ nên đối thoại với chúng tôi về những giải pháp cho đất nước.

Nhà báo Phạm Chí Dũng – Saigon  05/08/2014  by Thụy My
 

Phái viên LHQ kể việc bị ‘cản trở’ ở VN

Ông Heiner Bielefeldt nói phái đoàn của ông đã bị công an chìm theo dõi

Đặc phái viên của Liên Hiệp Quốc về tự do tôn giáo Heiner Bielefeldt nói ông bị ‘cản trở’ trong chuyến đi Việt Nam và không thể tiếp cận một số nhà hoạt động trong nước.

Thông tin trên được ông đưa ra trong buổi phỏng vấn với đài Deutsche Welle (DW) của Đức hôm 4/8.

Ông Bielefeldt đã có 10 ngày làm việc tại Việt Nam từ hôm 21/7.

Liên Hiệp Quốc nói mục tiêu của chuyến đi là để tìm hiểu việc “thúc đẩy và bảo vệ quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng”.

“Các điều khoản quy định chuyến thăm một quốc gia của Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc đã bị vi phạm”, ông nói.

“Một số các cá nhân đã bị ngăn cản không cho gặp tôi, một số khác thì bị cảnh cáo, đe dọa hoặc sách nhiễu”.

“Bên cạnh đó, phái đoàn của tôi còn bị công an hoặc an ninh ngầm theo dõi và tính bí mật của các cuộc gặp riêng cũng bị vi phạm”.

“Chính phủ Việt Nam nhấn mạnh rằng đây chỉ là sự hiểu lầm và nói nước chủ nhà có trách nhiệm đảm bảo sự an toàn của phái đoàn”.

“Tuy nhiên, tôi không xem sự quấy nhiễu này là hiểu lầm. Cho đến hôm nay, tôi vẫn nhận được tin công an đang tiếp tục sách nhiễu những người tôi đã gặp trong chuyến thăm”.

Trước đó, hãng thông tấn AFP hôm 31/7 dẫn lời Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình nói với báo giới rằng chính phủ Việt Nam “đã làm mọi thứ trong khả năng … để đáp ứng yêu cầu của phái đoàn” trong suốt chuyến thăm của ông Bielefeldt.

‘Ngăn không cho ra khỏi nhà’

Các điều khoản quy định chuyến thăm một quốc gia của Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc đã bị vi phạm

Đặc phái viên Liên Hiệp Quốc về tự do tín ngưỡng Heiner Bielefeldt

Tuy nhiên, nhà báo Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, nói công an TP HCM và một số địa phương khác đã “ngăn chặn không cho ra khỏi nhà đối với những người đấu tranh dân chủ vào ngày 25/7/2014 và cả một số ngày sau đó” để họ không thể tiếp xúc với đoàn đặc phái viên.

Ông Dũng cho BBC hay những người bị ngăn cản có bản thân ông, các nhà hoạt động khác như bác sỹ Nguyễn Đan Quế, bà Dương Thị Tân (vợ ông Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày), cựu tù nhân chính trị Phạm Bá Hải, và hai mục sư Tin Lành là Nguyễn Hoàng Hoa và Nguyễn Mạnh Hùng.

Những người này đều nằm trong số các chức sắc tôn giáo và nhân chứng mà ông Bielefeldt có kế hoạch gặp gỡ nhằm kiểm chứng việc “Việt Nam chấp nhận các khuyến nghị của Hội đồng Nhân quyền LHQ”.

Theo ông Phạm Chí Dũng, những người này “bị công an địa phương ngăn chặn ngay tại nhà riêng” và khi họ “muốn rời khỏi nhà đều bị nhân viên an ninh và cảnh sát xô đẩy bằng hành vi thô bạo và hoàn toàn bất hợp pháp”.

Phó giám đốc tại châu Á của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch được AFP dẫn lời nói Việt Nam đã “tìm cách che giấu những tiếng nói trái chiều trước đặc phái viên bằng cách ngăn cản các nhà hoạt động tự do tín ngưỡng”.

Trong cuộc phỏng vấn với DW, ông Bielefeldt nói các cộng đồng tôn giáo tại Việt Nam phải báo cáo hoạt động hàng năm với chính quyền địa phương nếu không muốn gây khó dễ.

Ông cũng cho biết nhiều người bị gây áp lực phải từ bỏ các hoạt động tôn giáo nhật định để đi theo các kênh được nhà cầm quyền công nhận.

“Họ phải đối mặt với các đợt trấn áp mạnh tay của công an, bị liên tục mời ‘làm việc’ với công an, các hoạt động tôn giáo bị giám sát chặt chẽ, các lễ hội tôn giáo bị quấy rối,” ông nói.

“Bên cạnh đó, họ còn bị giam lỏng tại gia, bị bắt giữ, đánh đập, tấn công, bị đuổi việc, mất phúc lợi xã hội, các thành viên trong gia đình bị gây áp lực, nơi cầu nguyện bị phá hủy…”

Trước đó, trong tuyên bố báo chí, ông Heiner Bielefeldt phê phán việc ông “bị giám sát chặt” bởi công an, và một số người ông muốn gặp bị “đe dọa, sách nhiễu”.

Mặc dù nói Việt Nam đã có “một số chuyển biến tích cực”, ông nói mình tin rằng “vi phạm nghiêm trọng…là thực tế” ở Việt Nam.

Ông Heiner Bielefeldt, Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, được Việt Nam mời thăm từ 21 đến 31/7.

Ngày 31/7, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói chuyến thăm của ông Heiner Beilefeldt thể hiện “thiện chí, thái độ hợp tác, cởi mở của Chính phủ Việt Nam”.

Ông Phạm Hải Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Các Tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao, nói “một số vấn đề” mà ông Beilefeldt nêu ra “đã có sự hiểu lầm, chưa trao đổi hết thông tin”.

“Nước chủ nhà có trách nhiệm đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối cho Báo cáo viên đặc biệt trong suốt chuyến thăm.”

“Luật pháp Việt Nam bảo đảm mọi người dân có quyền tự do tiếp xúc, gặp gỡ với bất cứ ai họ muốn,” ông Hải Anh nói.

Kêu gọi thay đổi trước Đại hội XII

TS Lê Đăng Doanh kêu gọi để đảng viên tiến cử ứng viên

Cựu Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương ở Việt Nam lên tiếng kêu gọi thay đổi trong việc giới thiệu ứng viên vào các vị trí của Đảng Cộng sản.

Lời kêu gọi của ông Lê Đăng Doanh, được đưa ra trong lúc việc chuẩn bị cho Đại hội XII, dự kiến diễn ra trong nửa đầu năm 2016, đang được ráo riết chuẩn bị.

Vị cựu viện trưởng nói với Nguyễn Hùng của BBC tại Toulouse, nơi ông có chuyến thăm:

“Việc hạn chế đảng viên không được giới thiệu các ứng cử viên ngoài các ứng cử viên đã được cấp ủy giới thiệu làm cho tôi, là một đảng viên, rất lo ngại.

“Thực tế đã cho thấy có những lần cấp ủy giới thiệu những ứng cử viên mà sau đó không được bầu.

“Trái lại những ứng cử viên không được cấp ủy giới thiệu thì lại được bầu.”

Tại Hội nghị Trung ương 7 của Đảng Cộng sản trong năm ngoái, cả hai ứng viên được Bộ Chính trị đề cử để bầu bổ sung vào cơ quan này đều không đủ phiếu.

Đó là hai ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương và ông Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Đảng.

Thay vào đó hai ứng viên Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch Quốc hội và Nguyễn Thiện Nhân, khi đó là Phó Thủ tướng, đã được bầu ra từ danh sách hàng chục ứng viên.

‘Đổi mới chính trị’

Tiến sỹ Doanh cũng bày tỏ lo ngại về thực trạng hiện nay ở Việt Nam và nói về nhu cầu phải có những thay đổi về chính trị.

Ông nói với BBC: “Việt Nam hiện nay đứng về mặt kinh tế đang ở trong giai đoạn tăng trưởng thấp nhất từ khi Đổi Mới cho tới nay.

“Đây là giai đoạn tăng trưởng thấp kéo dài và nó dưới tiềm năng của Việt Nam.

“Mặc dù từ năm 2013 đã có sự hồi phục, kinh tế có tăng trưởng trở lại nhưng vẫn dưới tiềm năng.

“Về chính trị, hiện Việt Nam đang chuẩn bị Đại hội XII song các văn bản và thảo luận trong xã hội chưa được mở rộng. Còn về các mặt khác, xã hội Việt Nam đang gặp khá nhiều vấn đề. Một là tham nhũng, hai nữa là muốn xin công ăn việc làm đều phải có mối quan hệ và đều phải có đút lót, có tiền.

Việt Nam hiện nay đứng về mặt kinh tế đang ở trong giai đoạn tăng trưởng thấp nhất từ khi Đổi Mới cho tới nay.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh

“Giáo dục và y tế cũng gặp khá nhiều khó khăn và ngay cả an toàn trật tự xã hội cũng đang có vấn đề.”

Ông Doanh nói mặc dù các báo cáo của Viện chuyên nghiên cứu dư luận của Ban Tư tưởng văn hóa trung ương “phản ánh khá chính xác tâm tư nguyện vọng” của người dân, thực tế được công bố và những gì người dân cảm nhận vẫn có “khoảng cách đáng kể”.

Vị Tiến sỹ nói thêm: “Cho đến nay tôi thấy dấu hiệu cho một sự thay đổi chuyển biến, tích cực chưa rõ.

“Chính Đại hội XI đã nói rằng phải đổi mới chính trị song song với đổi mới kinh tế.

“Rất tiếc là cho tới tay, đã quá nửa nhiệm kỳ rồi, nhưng quyết định của Đại hội XI vẫn chưa được thực hiện.”

Mối lo Trung Quốc

Ông Doanh nói việc chống tham nhũng ở Việt Nam vẫn chưa mang lại sự thay đổi cần thiết.

“Như thực tế trong xã hội mà báo chí chính thức công khai nêu lên thì thấy rất nhiều cán bộ giàu có một cách không thể giải thích được và thu nhập cũng không thể giải thích được,” vị Tiến sỹ nói.

TS Doanh cho rằng chống tham nhũng ở Việt Nam chưa tạo ra thay đổi

“Vấn đề không phải chỉ có một vài vụ án. Vấn đề là phải thay đổi thể chế và cơ chế, phải thực hiện công khai minh bạch, phải giảm bớt chi tiêu bằng tiền mặt và phải có trách nhiệm giải trình.

“Anh dùng tiền của dân thì anh phải giải thích anh chi tiêu như thế đem lại hiệu quả gì cho người dân.

“Và điều đó phải được thể hiện trong cả lựa chọn cán bộ, lắng nghe ý kiến của người dân, lắng nghe các ý kiến khác nhau và điều đó đòi hỏi phải có cải tiến rõ rệt trong thực hiện các quyền tự do dân chủ của người dân.”

Trong phỏng vấn với BBC, ông Doanh cũng nói về những lo ngại liên quan tới Trung Quốc:

“Trung Quốc có mạng lưới thu thập thông tin rất có hiệu quả ở Việt Nam và trong thực tế họ biết về chúng ta rất nhiều, biết về con người và sự việc.

“Vì họ biết nên họ có những đối sách và làm khó khăn cho những quyết định của chúng ta.

“Tôi rất hy vọng không vì những biện pháp có tính chiến thuật của Trung Quốc mà chúng ta không thực hiện hay thực hiện chậm trễ những quyết định chiến lược và rất quan trọng để bảo vệ độc lập chủ quyền của chúng ta,” Tiến sỹ Doanh nói.

Giải mã chuyến đi Mỹ của Bí thư Hà Nội

Ông Phạm Quang Nghị thăm Mỹ

Ông Phạm Quang Nghị gặp gỡ Thượng nghị sỹ John McCain.

Chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, có nhiều tầng thông điệp mà giới quan sát trong và ngoài nước đang theo dõi.

Hôm 04/8/2014, Giáo sư Carl Thayer, nhà phân tích từ Úc, nói với BBC chuyến đi mang theo thông điệp của người lãnh đạo Đảng ở Việt Nam về vị trí của ông Nghị.

Ông Thayer nói: “Đương kim Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn cho thấy ông Phạm Quang Nghị như là một ứng cử viên mà ông Trọng đề cử kế tục ghế Tổng Bí thư và ông Nghị cần kinh nghiệm đối ngoại. Đây là bước mở đầu để thử thách năng lực của ông.”

Theo nhà phân tích này, ông Nghị nay có thể đáp lại những ai trong Đảng thách thức ông về kinh nghiệm đối ngoại ở quốc tế.

GS Thayer nói thêm: “Trước những ai đặt dấu hỏi tại sao một ông Bí thư Thành ủy ở Hà Nội lại đi Mỹ, ông ấy định đạt mục đích gì. Nay ông Nghị có thể nói lại rằng ông ấy cũng có thể có quan điểm không kém cạnh gì so với một người trẻ hơn là ông Phạm Bình Minh, một người chưa phải là ủy viên Bộ Chính trị.

“Nay ông ấy có thể nói với những ai chỉ trích rằng ông ấy đã ở Washington và ông ấy đã có kinh nghiệm.”

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn cho thấy ông Phạm Quang Nghị là một ứng cử viên mà ông Trọng đề cử kế tục ghế Tổng Bí thư.

GS Carl Thayer

Theo nhà nghiên cứu từ Úc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể vẫn không từ bỏ mục tiêu là một ứng cử viên cho chức vụ Tổng Bí thư.

GS Thayer nói: “Tôi có tới Việt Nam trong nhiều chuyến đi gần đây. Việt Nam đang tiến hành nhiều cuộc họp ở Trung ương Đảng để tới gần hơn việc chuẩn bị cho Đại hội Đảng sắp tới.

“Có thông tin nói ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ được tạo cho một tư thế hợp thức, hợp lệ với việc quy chế giới hạn tuổi tác ở 65 tuổi có vẻ sẽ được gỡ bỏ với một hay hai cá nhân. Ông Nguyễn Tấn Dũng được cho là vẫn muốn và quan tâm tới chức vụ lãnh đạo cao cấp nhất đó của Đảng.”

Trở lại chuyến công du của ông Nghị tới Mỹ, theo nhà phân tích, Trung Quốc sẽ ‘quan tâm’ tới chuyến đi này.

“Tất nhiên là Trung Quốc quan tâm. Trung Quốc đang đọc những ý hướng chính trị trong nội bộ lãnh đạo Việt Nam, và gần đây họ đã chứng kiến phản ứng kiên quyết, mạnh mẽ cả trong xã hội chống lại động thái gây hấn của Trung Quốc.

“Một trong những lý do và là lý do chính để rút sớm giàn khoan dầu khí Hải Dương 981 là để ngăn chặn Việt Nam trở nên thường trực chống đối lại Trung Quốc. Việc rút giàn khoan làm tháo ngòi nổ tình thế, họ không chỉ rút giàn khoan mà cùng ngày hôm đó đã thả 13 ngư dân Việt Nam bị bắt.”

Nhà nghiên cứu cho rằng Trung Quốc đã không dự kiến được hết sự phản ứng mạnh mẽ của Việt Nam, kể cả các ủy viên trong Bộ chính trị lẫn các cựu ủy viên và do đó họ đã thấy phải thay đổi để tránh sự thù địch và căng thẳng quá mức.

Ông Phạm Quang Nghị thăm Mỹ

Ông Phạm Quang Nghị cũng làm việc với một số tổ chức, hội phái chính trị ở Mỹ.

“Trung Quốc thấy là không thể để chiếm được một lô dầu khí với một mũi khoan mà mất đi cả một nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,” ông Thayer nói thêm.

‘Một giai đoạn mới’

Cũng về chuyến đi của ông Nghị, hôm thứ Hai, nhà phân tích chính trị Jonathan London từ Đại học Thành thị Hong Kong nói:

“Nhiều người suy đoán là nó có liên quan việc trong tương lai sắp tới, ông Phạm Quang Nghị cũng có thể thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, và đó là một dịp để giới thiệu ông với các nước quan trọng như Mỹ chẳng hạn.

“Nhưng cũng có những người cho rằng việc ông Phạm Quang Nghị sang Mỹ cho thấy có một phái nào đó trong lãnh đạo Việt Nam chưa sẵn sàng cho phép Bộ Ngoại giao quyết định quan hệ song phương giữa hai nước Việt – Mỹ.

Dù sao quan hệ của hai nước cũng đang phát triển một cách mạnh mẽ hơn so với trước.

PGS. TS. Jonathan London

“Dù sao đã có một lãnh đạo lớn của Đảng mà có thể là một trong những người sẽ có quyền lực lớn nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam sang Mỹ, thì dù sao quan hệ của hai nước cũng đang phát triển một cách mạnh mẽ hơn so với trước.

“Và chúng ta đang thấy sự phát triển song phương của quan hệ Mỹ – Việt đang đi vào một giai đoạn mới.”

Cũng hôm 04/8, một cựu quan chức ngoại giao của Việt Nam, ông Đặng Xương Hùng, nguyên Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Geneva, Thụy Sỹ, đưa ra bình luận về chuyến đi của ông Nghị từ góc độ một thông điệp với Trung Quốc.

Ông Xương Hùng nói với BBC : “Việc ông Phạm Quang đi Mỹ thể hiện rất rõ ‘hội chứng Nguyễn Cơ Thạch’ vẫn còn đang có tác dụng ở trong giới lãnh đạo của Việt Nam. Nó như một tín hiệu đối với Trung Quốc rằng chúng tôi xử lý vấn đề với Mỹ cũng nằm trong chính sách đối xử với Trung Quốc, chứ không lệch khỏi con đường mà Trung Quốc có thể không kiểm soát được.”

‘Gõ cửa phương Tây’

Hội nghị Thành Đô

Một số nhà quan sát nói hội nghị Thành Đô khiến Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc

Ông Hùng giữ quan điểm cho rằng ông Nguyễn Cơ Thạch mất ghế bộ trưởng ngoại giao sau hội nghị Thành Đô 1990 vì ông bị Trung Quốc cho là nhân vật chống Bắc Kinh.

Ông Xương Hùng nói thêm: “Việc cử ông Phạm Quang Nghị đi cũng còn có một ý khác rằng ông Phạm Quang Nghị sẽ là một nhân vật rất quan trọng của Việt Nam trong quan hệ đối với Mỹ.

“Cái thông điệp hơi thâm, lấy một người lãnh đạo Đảng để thay thế một người lãnh đạo nhà nước đi thăm nước Mỹ. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng chính sách của Việt Nam cho đến bây giờ vẫn chưa thay đổi, vẫn đánh đu trong quan hệ giữa hai nước này, mà họ không có tư tưởng rằng mối quan hệ phải tạo ra một niềm tin, tạo ra sự tin cậy.”

Hôm thứ Hai, một chuyên gia ở Hà Nội nghiên cứu về chính sách quan hệ ngoại giao của Việt Nam, muốn giấu tên, nói với BBC:

“Việc ông Nghị đi Mỹ là một tín hiệu phức tạp. Tín hiệu này cho thấy phe bảo thủ trong Đảng có vẻ muốn chủ động và trực tiếp hơn trong quan hệ với Mỹ, trong lúc cả đối sách của Việt Nam với Trung Quốc và Mỹ hậu vụ giàn khoan còn chưa rõ ràng.

“Và chính sự chưa rõ ràng này cũng có thể là một tín hiệu làm Trung Quốc quan tâm hơn. Đó là nếu anh gây áp lực quá mạnh, ngay phe bảo thủ, thân hữu về ý thức hệ với Trung Quốc cũng có thể sẽ bị lay chuyển lập trường và gõ cửa phương Tây,” ý kiến này nói với BBC.

TQ ‘giương móng vuốt bắt con hổ họ Chu’

Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chính thức thông báo điều tra một trong những chính trị gia quyền uy nhất, cựu lãnh đạo an ninh Chu Vĩnh Khang.

Trong động thái chứng tỏ Chủ tịch Tập Cận Bình đã chiến thắng trong trận đấu khó khăn giành quyền chỉ huy tối cao, Tân Hoa xã nói ông Chu sẽ bị điều tra do các vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, một cách nói để ám chỉ tội tham nhũng.

“Không cần biết con hổ to như thế nào, một khi vi phạm pháp luật… và vi phạm luật lệ đảng, con hổ đó sẽ khó có thể thoát được lồng sắt.”

Đây là phán quyết từ cơ quan ngôn luận của đảng, Nhân dân Nhật báo, khi đưa tin về vụ điều tra ông Chu Vĩnh Khang.

Nhưng với sự bẽ bàng của ông ta, chính trị Trung Quốc bước vào giai đoạn chưa từng có. Ông Chu là chính trị gia cấp cao nhất bị làm nhục theo cách này trong nhiều thập niên qua.

Trong giai đoạn đổi mới từ 35 năm qua, có bộ quy tắc không thành văn rằng những người mới lên nắm quyền không tấn công những người đã rời chức, nỗ lực nhằm tránh tình trạng thanh trừng chính trị man rợ trong thời Mao.

Chu Vĩnh Khang nghỉ hưu sau khi điều hành mạng lưới an ninh đầy quyền lực cùng lúc với ông Tập Cận Bình được thăng chức lãnh đạo Đảng năm 2012.

Nhưng với thông báo về vụ điều tra ông Chu, Chủ tịch Tập đã xé bỏ bộ quy tắc dành riêng cho chính giới cấp cao Trung Quốc, và các chính trị gia quyền lực một thời khác đang lo lắng mình có thể là người tiếp theo.

Ông Chu Vĩnh Khang thời còn làm lãnh đạo công an

Biến mất trước công chúng

Chu Vĩnh Khang nổi lên từ một gia đình nghèo và trở thành k‎ỹ sư ngành dầu khí, dần thăng tiến qua các cấp bậc trong đảng để lên nắm công ty dầu khí lớn nhất Trung Quốc rồi sau đó dẫn dắt Tứ Xuyên, tỉnh lỵ có 80 triệu dân.

Đỉnh cao sự nghiệp của ông là chiếc ghế trong đội ngũ chính trị cao nhất của đảng, Ủy viên thường trực Bộ chính trị.

Ngoài ngôi làng ở quê nhà, khó có thể nói ông là người được yêu quý ở Trung Quốc, nhưng tới năm 2012, ông có thể đạt được cái tiếng là người đáng sợ nhất.

Thông báo từ cơ quan thông tấn chính thống của Trung Quốc không ghi rõ chi tiết các cáo buộc đối với ông Chu.

Nhưng nhiều nhà quan sát tin rằng, số phận của ông đã được định đoạt khi người mà ông bảo trợ, Bạc Hy Lai, thất thế sau việc vợ ông liên quan tới vụ sát hại một doanh nhân người Anh đầy tai tiếng.

Rõ ràng là ông Chu Vĩnh Khang đã gặp rắc rối khi bỗng biến mất trước công chúng từ năm ngoái.

Trong những tháng sau đó, tên tuổi ông không được truyền thông Trung Quốc nhắc tới, nhưng lần lượt các đồng minh chính trị của ông, trong ngành dầu khí, ở tỉnh Tứ Xuyên hay trong bộ máy an ninh, đều trở thành con mồi cho chiến dịch chống tham nhũng ngày càng khốc liệt.

Các thành viên gia đình, tài xế, vệ sỹ, và những người được ông bảo trợ cũng bị sa lưới. Thông báo điều tra ông chỉ là vấn đề thời gian.

Vụ xử Bạc Hy Lai khiến nhiều nhân vật sửng sốt

‘Cả hổ lẫn ruồi’

Hệ thống chính trị độc đảng của Trung Quốc thiếu hệ thống bầu cử để có chỗ cho người mới và ý tưởng mới và chiến dịch chống tham nhũng thường được coi là phương thức tiện lợi để lãnh đạo mới khống chế đối thủ và củng cố quyền lực.

Nhưng khi làm nhục một nhân vật cấp cao đến thế, ông Tập Cận Bình đang đánh tín hiệu cho thấy chiến dịch của ông rất khác.

Suốt nhiều năm, các lãnh đạo Đảng Cộng sản đã cảnh báo rằng tham nhũng tràn lan là mối đe dọa lớn nhất đối với sự sống còn của đảng. Khó phóng đại nghi ngờ sâu sắc của dân chúng đối với tầng lớp lãnh đạo.

Khi kinh tế phát triển mạnh, các quan chức cấp cao vơ vét hàng tỷ từ tài sản công, rất nhiều trong số đó giấu của trong các tài khoản và tài sản ở nước ngoài.

Các chỉ trích gia cáo buộc ông Tập là người giả nhân giả nghĩa khi một số người trong gia đình ông trở nên giàu có hơn trong những năm gần đây.

Nhưng tuyên bố quyết tâm trị “cả hổ lẫn ruồi” của ông đã được sự ủng hộ của dân chúng và gửi tín hiệu tới hệ thống đảng và chính quyền rằng ông thực sự nghiêm túc trong việc giải quyết vấn đề tư lợi, đặc biệt là với những ai có thể có ý định cản trở kế hoạch đổi mới kinh tế của ông.

Hàng ngàn quan chức đã bị điều tra và không có dấu hiệu cho thấy chiến dịch này sẽ ngưng lại.

Nhân dân Nhật báo viết hôm 29/07: “Tình hình vẫn dữ dội và phức tạp… Đấu tranh chống tham nhũng sẽ không kết thúc. Lôi được Chu Vĩnh Khang ra không phải là hết. Đây chỉ là một bước, một giai đoạn. Bất kỳ ai tham nhũng cũng sẽ bị trừng phạt.”

Với ông Tập Cận Bình, đây là chiến thắng cá nhân quan trọng. Ông đã kết liễu những nghi ngại về việc liệu ông có thể hạ một trong những “con hổ” lớn nhất này và chứng tỏ mình là người đứng đầu mạnh mẽ không ai địch nổi.

Nhưng một bình luận trên mạng xã hội đưa ra vào đêm có thông báo điều tra rằng liệu ông Chu có thực sự là “vua của bầy hổ hay cũng chỉ là một con hổ thường mà thôi?” Và rất nhiều người Trung Quốc khác đồn đoán về “bầy hổ” còn lại vẫn đang tự do, những cựu lãnh đạo hay lãnh đạo đương chức che chắn cho các đế chế doanh nghiệp tham nhũng của người trong gia đình.

Hơn nữa, thông báo này chẳng có gì là cứu vãn danh tiếng của Đảng cả.

Cú đánh chính trị trọng đại lại chỉ được chuyển tải bằng một dòng ngắn gọn trên các cơ quan thông tấn và truyền thông nhà nước cho thấy người Trung Quốc hay công chúng thế giới vẫn chỉ được phép biết ít ỏi về các vấn đề nội chính của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này.

Những thành công trong chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghị

http://www.boxitvn.net/bai/28458

Phạm Quang Tuấn

Nhiều người đã đặt câu hỏi: Ông Phạm Quang Nghị thăm Mỹ để làm gì? Có thành công không? Người ta cũng chú ý đến món quà lạ lùng mà ông Nghị “tặng” cho Thượng nghị sĩ John McCain, món quà chỉ có thể coi là một sự hạ nhục [1]: hai tấm ảnh chụp bia kỷ niệm chỗ bắn rơi máy bay của McCain, bia khắc ông McCain đang quỳ gối giơ tay đầu hàng và có dòng chữ “NGÀY 26 10 1967 TẠI HỒ TRÚC BẠCH QUÂN VÀ DÂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI BẮT SỐNG TÊN JOHN SNEY MA CAN THIẾU TÁ KHÔNG QUÂN MỸ LÁI CHIẾC MÁY A4 BỊ BẮN RƠI TẠI NHÀ MÁY ĐIỆN YÊN PHÚ. ĐÂY LÀ MỘT TRONG 12 CHIẾC MÁY BAY BỊ BẮN RƠI CÙNG NGÀY“.

Bia kỷ niệm bắn rơi máy bay của John McCain

Đối với một người bình thường ở một nước văn minh, thì chỉ cái giọng kém học thức, gọi kẻ địch là “tên”, và đánh vần sai be bét cũng đủ khiến phải giấu tấm bia đó đi, đừng nói là chụp ảnh nó rồi đưa cho người trong cuộc, mà nay đã thành Thượng nghị sĩ của một siêu cường. Có bao giờ một lãnh đạo Việt Nam dám đưa một tấm ảnh chụp bia kỷ niệm một tướng Tàu trong tình trạng tương tự cho đương sự? À, có bia đâu mà chụp, Việt Nam đời nào dám tạc bia kỷ niệm chiến tranh với Tàu cộng.

Tuy nhiên chuyện tặng quà này rất dễ hiểu nếu ta đọc một phát ngôn khác của ông Phạm Quang Nghị trong chuyến đi [2]:

“Ông Phạm Quang Nghị chân thành cảm ơn các bạn bè cánh tả và nhân dân Mỹ đã kiên trì ủng hộ và giúp đỡ cách mạng và nhân dân ta trong những năm tháng đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay”.

Rõ ràng là, với tuyên bố này cũng như với “món quà” cho TNS McCain, ông Phạm Quang Nghị muốn nhắc cho Chính phủ Mỹ nhớ lại thời kỳ thù địch giữa hai nước. Ông không nhắc lại thời đó với giọng điệu của một cựu chiến binh đã thoát khỏi hận thù và hướng về tương lai, như ông McCain khi thăm Việt Nam, mà nhắc lại với những lời lẽ và hành động xỏ xiên, châm chọc.

Trong khi đó, khi nói về cuộc tranh chấp biển đảo với Tàu thì…

“Đặc biệt là cuộc gặp gỡ, trao đổi với các đại biểu từ nhiều cơ quan, tổ chức Mỹ do Hội châu Á tổ chức, ông Phạm Quang Nghị đã điểm lại tình hình diễn biến ở Biển Đông trong thời gian qua, nêu bật quyết tâm, chủ trương, biện pháp đấu tranh đúng đắn, sáng suốt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, đồng thời hết sức coi trọng, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; giữ gìn và củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển với các nước, trước hết là các nước láng giềng“.

Tức là: Chúng tôi vẫn tiếp tục chung thủy, bốn tốt, 16 chữ vàng với ông anh của chúng tôi, các ông (Mỹ) đừng hòng mà xen vào.

Những việc chính thức đã làm với chính phủ Mỹ thì gói gọn trong vài câu rỗng tuếch, sặc mùi Tuyên giáo: “Trao đổi làm việc”, “Trao đổi về những vấn đề hai bên cùng quan tâm”, “Các cuộc gặp, làm việc diễn ra trong bầu không khí cởi mở, xây dựng, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau“[2].

Tới đây thì chúng ta có thể trả lời câu hỏi về mục đích chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghị: thứ nhất, là để trấn an và gián tiếp xin lỗi người anh cả phương Bắc sau vụ giàn khoan HY981, cho ông ta vững lòng rằng “thằng nhỏ” vẫn trung thành, không nghĩ tới chuyện đi tìm đồng minh khác. Thứ hai, là để làm sao cho Mỹ từ bỏ ý định xáp lại gần Việt Nam, thậm chí còn bực mình tránh xa “thằng nhỏ” vô ơn mà mình đã lên tiếng ủng hộ trong những ngày nó bị anh nó bắt nạt.

Chúng ta cũng hiểu tại sao Ngoại trưởng Phạm Bình Minh được Mỹ mời mà không đi, lại đi… Ba Lan trong thời gian đó. Phạm Bình Minh là người đã từng làm ngoại giao ở Anh, Mỹ và Liên Hiệp Quốc, lại là con cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người có khuynh hướng thân Tây phương và nghi kỵ Tàu (ít ra là đối với Đảng Cộng sản Việt Nam) và nghe nói đã bị Trung Quốc đẩy ra khỏi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam. Hẳn ông ta không thể được Tàu tin cậy bằng Phạm Quang Nghị, một apparatchik thuần túy, thành viên lâu năm và cựu Phó Trưởng ban của Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương (Ban Tuyên giáo Trung ương hiện thời), nơi tập hợp những cái đầu thủ cựu, hẹp hòi, maoist, thân Tàu nhất trong Đảng. Chỉ việc thay đổi sứ giả cũng đã cho thấy mục đích của chuyến đi. Rất có thể, đây là giá mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải trả để đổi lại việc giàn khoan HY981 nhổ neo sớm một tháng.

Về câu hỏi “chuyến đi có thành công không”, tôi nghĩ rằng có lẽ đã thành công đối với mục đích thứ nhất (trấn an người anh cả, thậm chí làm cho ngài hể hả). Về mục đích thứ hai (chọc giận và đẩy Mỹ ra) thì chưa chắc, vì những hành động và lời nói của ông Phạm Quang Nghị quá con nít và lộ liễu – nhưng  chắc chắn không thể nói là chuyến đi đã giúp xúc tiến quan hệ Việt Mỹ.

Còn một mục đích nữa có thể nằm trong đầu ông Phạm Quang Nghị – đó là cái ghế Tổng Bí thư biết đâu có thể tới với ông trong tương lai, nhờ sự nâng đỡ của đàn anh Tàu đang hồ hởi với chuyến đi này. Chuyến đi sẽ giúp nhiều cho chuyện đó. Hơn nữa, chức Tổng Bí thư phải cho một người có tầm cỡ trí tuệ tương đương như ngài đương kim Tổng Bí thư kiêm Giáo sư Nguyễn Phú Trọng, mà tiêu chuẩn đó thì ông Phạm Quang Nghị rất vừa vặn.

P.Q.T.

Ghi chú

[1] http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/189997/mon-qua-ong-pham-quang-nghi-tang-tns-mccain.html.

[2] http://dantri.com.vn/chinh-tri/ong-pham-quang-nghi-ket-thuc-chuyen-tham-lam-viec-tai-new-york-907206.htm

 

Món quà ông Phạm Quang Nghị tặng TNS McCain

Trong quan hệ Việt – Mỹ, thời điểm tháng 7 được đánh dấu bởi những sự kiện quan trọng: 15-7-1995 hai nước thiết lập quan hệ bình thường hóa; 25-7-2013, hai nước ký tuyên bố chung cấp cao, xác lập quan hệ đối tác toàn diện. Và lần này, cũng vào dịp nửa cuối tháng 7, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã có lời mời một đoàn do cấp Ủy viên Bộ Chính trị Việt Nam dẫn đầu sang thăm. 

Tháp tùng Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị lần này, chúng tôi có dịp được dự một cuộc gặp đặc biệt lôi cuốn và đầy ấn tượng giữa Thượng nghị sĩ John McCain với vị khách tới từ Việt Nam.

Được nghe về con người này đã lâu, có lẽ là từ những năm 60 của thế kỷ trước, khi mà cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ diễn ra vào thời kỳ rất khốc liệt trên bầu trời và mặt đất Thủ đô Hà Nội. Và việc máy bay của viên phi công này bị bắn rơi, rồi ông ta nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch. Bức ảnh được ông coi là kỷ niệm đặc biệt đáng nhớ, xen lẫn tự hào ai đó đã tặng, được ông treo ngay cạnh cửa ra vào trong căn phòng làm việc của ông. Bức ảnh đó tuy không còn được nét cho lắm, nhưng cũng đủ để nhận rõ về ông và những người dân Hà Nội bơi xung quanh, đang cố tìm cách đưa ông lên bờ. Và nếu như tôi nhớ không nhầm, thì sau đó John McCain còn có may mắn được nhà văn Nguyễn Tuân trực tiếp vào trại giam Hỏa Lò để phỏng vấn và mời hút thuốc lá.

Bí thư Thành ủy, Phạm Quang Nghị, John McCain

Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị trao tặng Thượng nghị sĩ John McCain bức ảnh chụp
bia chứng tích bên hồ Trúc Bạch

Đã gần tuổi 80, với dáng người chắc đậm, mái tóc màu bạch kim, phong thái linh hoạt. Nghe nói, ông vừa từ phòng họp Quốc hội, tham gia một cuộc bỏ phiếu rồi trở về phòng làm việc tiếp các vị khách Việt Nam.

Ông hồ hởi, nhiệt tình bắt tay Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Trưởng đoàn Việt Nam Phạm Quang Nghị. Chào hỏi với một thái độ thân thiện những người đến từ đất nước mà ông không ngần ngại thừa nhận, cho tới lúc máy bay của ông bị bắn rơi vào ngày 26-10-1967, ông đã có trên 20 phi vụ xuất kích từ Hạm đội 7 để ném bom miền Bắc Việt Nam.

Khi hỏi Trưởng đoàn Việt Nam quê tỉnh nào. Được nghe trả lời là ở Thanh Hóa, ông cất tiếng nửa ngạc nhiên, nửa như thán phục:

– “Ồ, nơi đó có cầu Hàm Rồng, một lưới lửa phòng không thật là khủng khiếp; và cả Bắc Việt Nam lúc bấy giờ là một trận địa phòng không thật là khủng khiếp”. Trong một câu, có đến hai lần ông nhắc đến từ “khủng khiếp”.

Có lẽ, đấy cũng là cách ông giải thích lý do vì sao máy bay của ông đã bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội.

Tôi xin không đi vào ngõ ngách những câu chuyện riêng về công việc trao đổi ngoại giao của hai người, những nội dung vừa quan trọng, vừa thiết thực, nói theo cung cách ngoại giao, là những vấn đề hai bên cùng quan tâm. Tôi chỉ xin ghi lại những mẩu chuyện bên lề cuộc đối thoại.

Về Thượng nghị sĩ J.McCain, nếu ai đó đã từng đọc bài giới thiệu khá dài trên mạng thì sẽ biết được rất nhiều thông tin vô cùng ấn tượng về ông. Một con người đầy cá tính, mạnh mẽ và quyết đoán, đã từng là ứng cử viên Tổng thống của đảng Cộng hòa. Trên những trang mạng đó cũng có cả tấm ảnh chụp cảnh dân quân Hà Nội đang vây bắt ông, hay có thể nói là đang ra sức cứu ông ở hồ Trúc Bạch, trong đó có một người đang cố quàng vào cổ ông chiếc phao cứu sinh để ông không bị đuối nước.

Đại để, mở đầu cuộc gặp, với sự chủ động vào đề của Trưởng đoàn Việt Nam bằng những lời nêu lên cảm tưởng, nhận xét về ý nghĩa, tầm quan trọng cuộc gặp này, rằng tên tuổi và những đóng góp của Thượng nghị sĩ J.McCain từ vài chục năm qua đã trở nên rất quen thuộc với nhân dân Việt Nam. Ông cùng Thượng nghị sĩ John Kerry – nay là đương kim Ngoại trưởng Hoa Kỳ, rất tiếc phải bay đi gấp Trung Đông để giải quyết những vấn đề của cuộc khủng hoảng vừa mới bùng phát ở dải Gaza nên đã không thể ở lại Washington để tiếp Trưởng đoàn Việt Nam Phạm Quang Nghị theo như kế hoạch đã tiên liệu – và vị tướng đã về hưu John Vetsy… là những người đi tiên phong trong quá trình thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Và cho đến tận ngày hôm nay, chúng tôi vẫn cảm nhận được ở Thượng nghị sĩ J.McCain vẫn hừng hực một bầu nhiệt huyết, muốn làm nhiều việc hơn nữa để góp phần thúc đẩy quan hệ với Việt Nam, theo đúng tinh thần đối tác toàn diện mà hai bên đã chính thức ký kết.

Cuộc làm việc hôm đó thời gian kéo dài hơn dự kiến. Những tưởng, với vẻ bận rộn ban đầu, ngài Thượng nghị sĩ sẽ sớm kết thúc câu chuyện, chào khách để chia tay. Nhưng cuộc gặp đã diễn ra theo chiều ngược lại. Và những cử chỉ, tình tiết cuối của cuộc gặp mới đặc biệt và ấn tượng làm sao. Cả chủ và khách đều dành cho nhau những sự bất ngờ, mà ngay cả chúng tôi là những thành viên tham dự cũng không ai tiên liệu trước được.

Ngài Thượng nghị sĩ J.McCain cất tiếng hỏi: “Thưa ngài Phạm Quang Nghị, sau đây ngài có còn bận gì không?”.

– “Không. Thưa ngài, sau cuộc gặp này là tôi đã hoàn thành chương trình làm việc trong ngày. Tôi có thể cùng ngài tiếp tục cuộc nói chuyện. Nhưng, trước khi kết thúc, tôi muốn tặng ngài một tấm ảnh. Thật tình, tôi không biết ngài có muốn có nó hay không? Nếu ngài không thích thì ngài có thể không công bố cho bất kỳ ai được biết. Còn ngài thích, thì tùy ngài”.

Trong chúng tôi, không phải ai cũng biết trước món tặng phẩm rất ư là bình thường, xét về mặt thông lệ tặng quà cũng như về giá trị vật chất mà Trưởng đoàn ta sắp trao cho Thượng nghị sĩ J.McCain.

Thì ra, đó là hai tấm ảnh, lớn bằng khổ giấy A4, vừa mới chụp trước ngày đoàn lên đường, ghi lại tấm bia tại đường Thanh Niên bên hồ Trúc Bạch. Chính nơi đây 47 năm về trước vị thiếu tá phi công hải quân J.McCain đã bị quân và dân ta bắt làm tù binh. Và sau đó, nhân dân Thủ đô Hà Nội đã dựng lên tấm bia với kích cỡ khá là khiêm tốn nên không thật mấy gây chú ý cho những người qua lại.

Hai tấm hình chụp chiếc bia, ghi hình ảnh viên phi công đang giơ tay đầu hàng, cạnh đó là những thanh thiếu niên đang thong dong đi dạo ven hồ đã làm cho ngài Thượng nghị sĩ thực sự hào hứng và xúc động. Nó gợi lại cho con người mà chúng tôi đang ngồi bên cạnh nhớ lại quá khứ – một quá khứ thật là khốc liệt và đầy ý nghĩa với cả người “từ trên trời rơi xuống” theo đúng nghĩa đen, và những người “từ dưới đất xông lên”, vít cổ chiếc máy bay của vị thiếu tá phi công năm xưa, bây giờ là một Thượng nghị sĩ có thâm niên và uy tín lớn trong chính giới Hoa Kỳ.

Sau khi ngắm nhìn tấm ảnh, chúng tôi có đôi chút thảng thốt, e ngại bởi ngài Thượng nghị sĩ vốn rất nổi tiếng là thẳng thắn và bộc trực, kể cả trong chính trường cũng như trong đời thường, chỉ tay vào góc tấm ảnh: “Tôi rất cám ơn ngài đã tặng tôi bức ảnh. Nhưng có một chi tiết trong này làm cho tôi cảm thấy không thể hài lòng (người phiên dịch đã dùng một từ khá mạnh là “bị xúc phạm”). Ngài có biết không, tôi là thiếu tá hải quân chứ không phải là thiếu tá không quân. Tôi thuộc lực lượng không quân của hải quân. Các ngài đã ghi vào tấm bia này không đúng”.

Trong lúc chúng tôi chưa biết phải ứng xử ra sao, thì Trưởng đoàn ta đã lên tiếng giải thích. Một sự giải thích rất chân xác, như ta vẫn thường nói, rất có lý, có lẽ chứ không phải là một sư biện minh hay né tránh về lời than phiền của Thượng nghị sĩ J.McCain: “Tôi xin được giải thích với ngài thế này. Với người Việt Nam chúng tôi, bất cứ ai là phi công lái máy bay, chúng tôi đều coi họ thuộc lực lượng không quân. Như ngài biết đấy, ở Việt Nam, vào lúc bấy giờ chúng tôi làm gì có hàng không mẫu hạm, làm gì có lực lượng không quân của hải quân”.

Mà quả thật, vào những năm cuộc chiến tranh phá hoại được tiến hành ở miền Bắc nước ta, bộ máy tuyên truyền của nước Mỹ đã hết lời tán dương “Sức mạnh không thể tưởng tượng được của không lực Hoa Kỳ”. Cho nên, việc Hà Nội ghi trên tấm bia, thiếu tá phi công J.McCain là của không lực Hoa Kỳ nào có hàm ý hạ thấp địa vị của ngài. Và ngoài ra, những người làm tấm bia lưu niệm này mấy ai biết được còn có một lý do khác sâu xa hơn thế.

Nghe lời giải thích, ngài Thượng nghị sĩ dường như hiểu ra được lý do của một sự nhầm lẫn vô tình. Thật ra, ít ai hiểu được ý tứ sâu xa của sự thắc mắc, sự không hài lòng của ngài Thượng nghị sĩ. Đó là bởi cá nhân ngài luôn rất tự hào là người đã được sinh ra trong một gia đình, như mọi người thường gọi là “con dòng cháu giống”. Ông nội là đô đốc hải quân. Rồi cha lại cũng là đô đốc hải quân. Đến lượt ngài, tuy chưa được phong là đô đốc, nhưng cũng là phi công hải quân. Và ngài còn vui vẻ tiết lộ, con trai ngài bây giờ cũng đang ở trong lực lượng hải quân. Thảo nào, cái điều làm cho ngài rất thắc mắc không phải vì Việt Nam đã dựng bia về sự kiện máy bay do ngài lái đã bị bắn rơi, mà vì việc ngài “bị” ghi là phi công “thuộc không lực Huê Kỳ”. Với nước Mỹ, không lực Hoa Kỳ vốn sinh sau đẻ muộn so với lực lượng hải quân. Và cũng có thể, theo như đánh giá của ngài, xét về mặt bề dày trận mạc thì lực lượng hải quân mới thật là nổi trội. Vì thế, ngài không hề có ý bày tỏ sự không hài lòng về tấm bia, mà ngược lại ngài luôn tự hào về điều đó. Chả thế mà đã có lần ngài đề nghị với các vị khách Việt Nam khi sang thăm nước Mỹ, rằng ngài rất mong thành phố Hà Nội luôn quan tâm, giữ gìn vệ sinh cho khu vực xung quanh tấm bia. Nghe nói những lần tới thăm Việt Nam, ngài đã từng dừng xe để chụp ảnh bên tấm bia này.

Câu chuyện mà hôm nay chúng tôi được biết thật là thú vị. Dường như, Trưởng đoàn của ta cũng không muốn kéo quá dài thời gian cuộc gặp, nếu không thì ông cũng có biết bao là chuyện hấp dẫn để nhắc lại những kỷ niệm về những năm tháng chiến tranh mà Trưởng đoàn của ta vốn cũng từng là người trong cuộc; từng trong đội ngũ hàng triệu thanh niên Việt Nam có một thời thanh xuân “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, từng hứng chịu không biết bao nhiêu là trận bom đạn kể cả ở quê hương ông, nơi có cầu Hàm Rồng lịch sử cũng như những tháng năm ông chiến đấu ở chiến trường miền Nam lúc bấy giờ.

Thủ đô Washington buổi chiều ngày 23 tháng 7, một ngày thật đẹp trời, chúng tôi đã được chứng kiến một cuộc tiếp khách, trao đổi những công việc hệ trọng của hai đất nước vốn đã từng là cựu thù của nhau, diễn ra trong bầu không khí cởi mở, với tinh thần khép lại quá khứ, mở ra tương lai giữa những con người đại diện cho hai đất nước, đã từng trải qua cuộc chiến vô cùng ác liệt. Từ kết quả của cuộc gặp cấp cao vào chính những ngày này năm trước, hôm nay họ đã gặp nhau trong tinh thần hai bên thúc đẩy phát triển quan hệ đối tác toàn diện, “khép lại quá khứ, mở ra tương lai”. Đó cũng là tinh thần nhân văn, nhân đạo của một dân tộc mà từ hơn 600 năm trước Nguyễn Trãi đã từng tuyên cáo: “Tắt lửa chiến tranh, mở nền thái bình muôn thuở”, mà cuộc gặp hôm nay giữa Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị và Thượng nghị sĩ J.McCain là một biểu hiện rất cụ thể và sinh động.

Rồi với dáng đi nhanh nhẹn, ngài Thượng nghị sĩ có lời mời: “Hôm nay, tôi xin mời ngài Trưởng đoàn Việt Nam và các bạn hãy đi theo tôi. Tôi sẽ đích thân làm người hướng dẫn các ngài thăm tòa nhà Quốc hội”.

Ngài Thượng nghị sĩ đã dẫn chúng tôi thăm, trực tiếp giới thiệu từng địa điểm, từng căn phòng, nơi họp chung, nơi nghỉ ngơi giữa giờ, nơi đặt tượng các vị Tổng thống nổi tiếng của nước Mỹ, nơi tổ chức nghi thức lễ tang khi các vị Tổng thống qua đời, v.v… Dừng lại ở một căn phòng, ngài Thượng nghị sĩ vui vẻ giải thích với Đoàn vì sao lại có thuật ngữ “vận động hành lang”. Đó là nơi các Thượng nghị sĩ vừa nghỉ giải lao, vừa tiếp xúc với các cử tri, quan khách để đối thoại, vận động thuyết phục họ ủng hộ cho những đề xuất, chủ trương kiến nghị của mình. Tại căn phòng đó, có treo ảnh chân dung những thượng nghị sĩ nổi tiếng trong hoạt động “vận động hành lang” của nước Mỹ.

Trưởng đoàn ta đã đặt một câu hỏi rất thú vị: “Thưa ngài, tôi thấy tất cả các vị trí đẹp trong căn phòng này đều đã treo ảnh các Thượng nghị sĩ tiền nhiệm tiếng tăm. Vậy sau này, ảnh của ngài sẽ được treo ở đâu?”.

Bất ngờ vì câu hỏi ấy, Thượng nghị sĩ J.McCain tươi cười, chỉ tay: “Có lẽ đến lượt tôi, ảnh của tôi sẽ được treo ở trên trần nhà”.

Hai đất nước Việt Nam và Hoa Kỳ đã được cả thế giới biết tới, thậm chí là đã quá nổi tiếng bởi một cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt kéo dài 30 năm. Rồi lại thêm đúng 20 năm Hoa Kỳ thực hiện chính sách bao vây cấm vận. Tổng cộng vừa tròn nửa thế kỷ.

Những người dân của hai đất nước, nhất là những con người đã trải qua cuộc chiến tranh ấy, hôm nay còn sống, thì cũng đã không còn trẻ trung nữa, và dù sao những kỷ niệm về cuộc chiến tranh đẫm máu ấy vẫn phải ghi vào sử sách. Song cái mà chúng tôi cảm thấy sự bứt phá, chính là ở quyết tâm của hai đất nước, hai dân tộc trong việc khép lại quá khứ, mở ra tương lai, đúng như tinh thần lời văn được ghi trong tuyên bố chung của hai vị lãnh đạo, đại diện cho hai quốc gia vốn là cựu thù của nhau. Đó là những câu chữ được ghi một cách trang trọng vào trong Tuyên bố chung cấp cao đúng những ngày này năm trước. Trong chuyến thăm Mỹ lần này, Trưởng đoàn của ta đã long trọng nhắc lại tại các cuộc gặp, làm việc ở thủ đô nước Mỹ: “Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh các nguyên tắc trong quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ, trong đó tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Hai nhà lãnh đạo tuyên bố quan hệ đối tác toàn diện nhằm góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng của mỗi nước, của khu vực và trên toàn thế giới…”.

Cuộc tiếp Trưởng đoàn Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội của Thượng nghị sĩ J.McCain kết thúc khi chúng tôi cùng đứng trên ban công lớn của tòa nhà Quốc hội. Ngài Thượng nghị sĩ chỉ tay ra quảng trường rộng bao la trước mặt, những thảm cỏ xanh trải dài cho tới Đồi Capitol và Tháp Bút chì. Với giọng nói trầm hơn lúc ban đầu, ngài Thượng nghị sĩ nhắc lại: “Nơi đây vào những năm 60, 70 thế kỷ trước đã từng diễn ra những cuộc mít tinh, biểu tình với hàng vạn người Mỹ xuống đường yêu cầu Chính phủ chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam”.

Còn hôm nay tại nơi đây, ngài Thượng nghị sĩ bắt tay Trưởng đoàn Việt Nam, rồi lần lượt từng người chúng tôi. Trong chúng tôi, nhiều người đã từng dự các cuộc tiếp ngoại giao, những cuộc đàm phán, thương lượng với đủ các đối tác, nhưng với những gì vừa diễn ra, quả là một cuộc tiếp thật khác thường và đặc biệt. Một cuộc tiếp của một Thượng nghị sĩ đại diện cho nước Mỹ đã từng có những kỷ niệm sâu sắc trong đời về một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất trong lịch sử ở một đất nước xa xôi, cách nước Mỹ nửa vòng trái đất, với các vị khách đến từ Việt Nam.

Ngày nay, du khách từ Việt Nam tới Hoa Kỳ, hoặc từ Hoa Kỳ tới Việt Nam đều phải trải qua khoảng 20 giờ bay. Nhưng chuyến đi này của chúng tôi, có lẽ phải nói thêm rằng, mỗi công dân của hai nước, để đến được với nhau hôm nay, là đã vượt qua cả một chặng đường dài đầy chông gai, có cả máu và nước mắt, đã phải đi qua những năm tháng chiến tranh và cấm vận rồi mới có được hòa bình. Để rồi, một bản tuyên bố chung có tầm quan trọng lịch sử, được long trọng ký kết, để xây dựng và phát triển mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong tinh thần bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị của nhau, cùng cam kết phấn đấu cho hòa bình và thịnh vượng của hai nước, của khu vực và trên toàn thế giới.

Theo Hà Nội mới

GS Đỗ Quý Toàn Nói Chuyện Sôi Nổi ‘Đứng Vững Ngàn Năm’

VietBaa, 31/07/201401:10:00

http://vietbao.com/p113a224892/gs-do-quy-toan-noi-chuyen-soi-noi-dung-vung-ngan-nam

WESTMINSTER (VB) – Cuộc nói chuyện của tác giả Đỗ Quỹ Toàn về tác phẩm biên khảo mới của ông — Đứng Vững Ngàn Năm — tại Viện Việt Học hôm Chủ Nhật 27-7-2014 đã mở ra một cuộc thảo luận hào hứng, từ chủ đề tại sao Việt Nam bị quân phương Bắc đô hộ cả ngàn năm mà không bị đồng hóa như các sắc tộ khác ở phía Nam Trung Quốc như Vân Nam, Đại Lý, Lưỡng Quảng… đã dẫn tới chủ đề thực tế hiện nay, rằng nên hiểu nghĩa “thoát Trung” ra làm sao, khi nền văn hóa Nho Giáo chân chính đã đào tạo ra những cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Tri Phương… tuyệt vời.

Đặc biệt, trong buổi nói chuyện, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh đã trình bày về ngữ học Việt Nam với tính đối kháng quan quân Trung Hoa.

Buổi nói chuyện đã được trực tiếp truyền hình lên mạng http://freevn.net/ và lưu trữ nơi đây. GS Bùi Bỉnh Bân, người phụ trách truyền hình FreeVN.net, hôm Chủ Nhật cũng nói với Việt Việt Học rằng ông muốn làm một chương trình đặc biệt, thu hình GS Trần Ngọc Ninh, muốn nói gì thì nói, nói cả trăm giờ hay dài bao nhiêu cũng được, vì GS Trần Ngọc Ninh đã hơn 90 tuổi rồi, và những suy nghĩ của GS Ninh thật là sâu sắc.

Nhà văn Phan Tấn Hải cũng trình bày với GS Bùi Bỉnh Bân rằng ông luôn luôn xem GS Trần Ngọc Ninh là quốc bảo của dân tộc Việt Nam vì những đóng góp về văn hóa và ngữ học Việt.

Nhà văn Đỗ Quý Toàn — với bút danh Ngô Nhân Dụng khi viết Đứng Vững Ngàn Năm — đã được MC Lâm Dung giới thiệu sơ lược về tiểu sử.

Ông Đỗ Quý Toàn nói rằng cụ Trần Trọng Kim khi viết cuốn Việt Nam Sử Lược có để riêng một chương “Hậu Quả Thời Bắc Thuộc,” trong đó nêu câu hỏi vì sao VN chưa trở thành 1 tỉnh của TQ, và cụ Trần trả lời là “nhờ nghị lực riêng và tính cách riêng.”

Họ Đỗ nói, cụ Trần nói gọn, nhưng cũng đủ, vì nghị lực là ý chí của tổ tiên mình, còn tính cac1h là quan niệm, là cách sống, là đời sống xã hội dị biệt với văn minh TQ.

blank

GS Đỗ Quý Toàn đứng nói chuyện, bản đồ cổ VN chiếu lên màn ành trắng.

Họ Đỗ cũng nói rằng sử gia Lê Thành Khôi trong một tác phẩm viết bằng tiếng Pháp cũng hỏi vì sao VN bị cai trị cả ngàn năm mà chưa mất nước, rồi họ Lê trả lời “vì dân VN giữ tiếng nói riêng.”

Họ Đỗ cũng kể rằng sử gia Keith Taylor trong tác phẩm “The Birth of Vietnam” xuất bản bởi UC Berkeley đã ghi nhận rằng yếu tố giúp VN có bản sắc đứng vững sau ngàn năm bị cai trị vì (1) tiếng nói riêng đã giúp VN không bị đồng hóa, và (2) sự hình thành hệ thống Phật Giáo tại VN tuy truyền thừa từ Trung Hoa nhưng đã đaò tạo ra một giới trí thức mới có suy nghĩ độc lập.

Ông Đỗ Quý Toàn nói thực ra không riêng gì Phật Giáo, trong lịch sử đã cho thấy nhiều quốc gia được lập quốc nhờ tôn giáo, như trường hợp Ba Lan nhờ Thiên Chúa Giáo khi giới trí thức Ba Lan sử dụng tôn giáo như một công cụ để lập quốc.

Họ Đỗ cũng nói về sử gia Phạm Cao Dương với tác phẩm Lịch Sử Đại Cương nêu ra rằng ngoaì ngôn ngữ Việt dị biệt với tiếng Tàu, còn có yếu tố rằng kinh tế VN đã đủ mạnh để nuôi lực lượng quân sự đối kháng.

Họ Đỗ cũng nói, sử gia Lê Mạnh Hùng nêu thêm lý do nhờ dân số Việt lú đó gia tăng nhanh, dẫn tới kinh tế tăng nhanh để nuôi quân đánh Tàu.

Họ Đỗ nói, tất cả các lý do trên đều xác đáng, nhưng nên thấy là miền Nam Trung Hoa có nhiều sắc dân còn giữ ngôn ngữ riêng, như tiếng Quảng Đông, tiếng Tiều, tiếng Hẹ… nhưng họ đều tự xem như cùng một quốc gia Trung Hoa; trong khi đó, cùng tiếng nói nhưng lại đòi tách riêng như trường hợp Mỹ lập quốc, chống lại Anh quốc tuy cùng tiếng nói, hay như Thụy Sĩ dùng 4 tiếng nói chính thức nhưng vẫn tự xem là một quốc gia.

blank

Từ phải: GS Bùi Bỉnh Bân (đứng) nói với GS Trần Ngọc Ninh và GS Đỗ Quý Toàn, rằng Freevn.net mời GS Trần Ngọc Ninh nói bao nhiêu giờ cũng được để lưu giữ những suy nghĩ cho đời sau.

GS Đỗ Quý Toàn cũng nói rằng VN trước thời bị Trung Hoa đô hộ đã có nền văn minh Đông Sơn độc đáo, có ngôn ngữ gốc Môn-Khmer dị biệt với tiếng Tàu, trong khi đó Nho Giáo và Phật Giáo vào VN lại là cơ hội đaò tạo giới trí thức suy nghĩ độc lập vì những người như Nguyễn Trãi một là sản phẩm đẹp của Nho Giáo – và họ Đỗ nói, quan trọng nhất là một tình tự dân tộc, vì phải có tình tự dân tộc từ nhiều ngàn năm mới có những huyền sử khó tin như chuyện 18 đời vua Hùng Vương, trong khi đó Tây Phương thế kỷ thứ 19 mới có khái niệm về dân tộc.

Họ Đỗ phân tích rằng khaí niệm về quốc gia của dân tộc VN đã có từ thời Hai Ba Trưng, nghĩa là từ thế kỷ thứ 1, vì câu ca dao thời này được dùng để tuyên truyền chống Tàu là:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Khaí niệm “người trong một nước” là khaí niệm rất trí thức, và rất độc lập. Trong khi đó, bân Taù vẫn còn là thời các lãnh chúa, thời Chiến Quốc… chưa có khái niệm quốc gia.

Họ Đỗ dẫn thêm sử gia người Pháp Paul Mus khi nghiên cứu sử VN đã nói rằng Việt Nam độc đáo nhờ nền văn hóa, nhờ Đaọ Phật và nhờ tổ chức xã hội “xã thôn” đã biến mỗi làng là một khúc của con rồng VN, dù mất khúc nào thì con rồng VN cũng vẫn trường tồn được.

GS Trần Ngọc Ninh được Viện Việt Học mời lên nêu ý kiến, đã cảm ơn GS Đỗ Quý Toàn đã viết sách bằng tâm, chứ không phải bằng trí, và sách này nên có trong tủ sách mọi gia đình Việt, vì sách này khôngt hể tóm tắt trong 1 giờ mà được.

GS Ninh nói, “Lịch sử nhiều ngàn năm cho thấy rằng khi nào Taù mạnh là chúng ta nguy; khi nào Tàu yếu, chúng ta mới mạnh được. Cách mạng đánh Pháp là đúng, nhưng khi trương bảng hiệu Cộng Sản thì chẳng còn là cách mạng nữa. Nguyễn Trãi ngày xưa viết Bình Ngô Đại Cáo đã ghi ‘Vống xưng nền Văn hiến đã lâu’ thì Văn hiến là cái để làm dân tôc này dị biệt dân tôc kia, là tất cả những gì xây dựng trong dân tộc, là ngôn ngữ và đặc biệt chúng ta là nền văn minh lúa nước, trong khi Tàu là lúa mạch trên đất.”

GS Trần Ngọc Ninh nói rằng tiếng Việt là ngôn ngữ gốc Môn-Khmer-Thái, nên khác gốc với tiếng Tàu. Trong thời gian đô hộ VN, người Tàu đã lấy một số ngôn ngữ Việt để chuyển thành tiếng Tàu, như chữ “sông” của tiếng Việt qua nhiều thời gian chuyển thành chữ “giang” của Tàu, hay chữ “nàng” trong Việt ngữ được Tàu mượn để chuyển thành chữ “nương.”

blank

Tham dự, chăm chú lắng nghe.

GS Trần Ngọc Ninh cũng nói rằng VN đã có Hiến Pháp từ nhiều ngàn năm trước, đó là bản Hiến Pháp vô tự, không có chữ, nằm trong chiếc bánh chưng được vua Hùng Vương phê chuẩn, vì bánh này buộc lạt tre chia làm 12 ô, tượng trưng các ô ruộng trong đó có công điền (ruộng dùng cho việc công của làng), học điền (để làm học bổng cho học sinh)… trong đó các ô ruộng chung quanh là quyền người cày có ruộng, một công nhận quy chế tư sản.

GS Trần Ngọc Ninh cũng nói về tính đối kháng trong ngôn ngữ Việt: khi bị Hán Tộc cai trị, ông bà mỉnh gọi kẻ địch là “quân Hán” dần dà chữ “Hán” thành chữ “hắn” để chỉ người mình không ưa; tương tự, khi Ngô Quyền lên nắm quyền ở Trung Hoa, ông bà mình gọi người Taù là “thằng Ngô”… và rồi khi Tào Tháo nắm quyên Phương Bắc, ông bà mình mới gọi họ là “quân Tào” và dần dà thành “Tàu” cho gọn.

GS Trần Ngọc Ninh cũng nói rằng Phật Giáo không chủ trương giết người nhưng đã đem lại ý thức về tự do, bình đẳng (trong Phật Tánh) trong khi đào tạo giới trí thức mới, dẫn tới cuộc nổi loạn đầu tiên của Phật Giáo tại VN là của Lý Bôn thế kỷ thứ 6, tự xưng là Lý Phật Tử, thời nhỏ vào chùa tu học, văn võ kiêm toàn, dấy binh khởi nghĩa, đuổi quân của Lương Vũ Đế về Tàu, tuyên bố Giao Châu độc lập và đổi tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Hà Nội, xưng là Lý Nam Đế.

GS Ninh nói, lúc đó các cụ có biết gì về độc lập đâu, chỉ biết kháí niệm bình đẳng của nhà Phật thôi, và khởi nghĩa vì lòng từ bi thương dân.

Cô Kim Ngân của Viện Việt Học hỏi rằng bây giờ với tình hình làm sao phải ‘Thoát Trung” để khỏi bị Taù xâm lăng.

GS Đỗ Quý Toàn nói, chúng ta nên phân biệt là chúng ta chống chính quyền TQ với chính sách xâm lăng, nhưng không chống lại nhân dân TQ; trong khi đó, văn hóa Nho Giáo nên giữ và nên khai thác những gì có thể làm sức mạnh cho dân tộc, cũng như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore vẫn nằm trong nền văn hóa Nho giáo… riêng người Nhật học Nho giáo rất kỹ, hơn chúng ta nhiều.

GS Toàn dẫn ra rằng Nho giaó chân chính không hề có tư tưởng ngu trung như thời Tống Nho bóp méo, trong khi đó Mạnh Tử đã kêu gọi rằng người dân có quyền giết vua hung bạo, vì hung bạo như Trụ Vương không đáng gọi là vua.

GS Đỗ Quý Toàn nói, chúng ta hiện đang trong thời cách mạng thông tin, nên cần sự “lựa chọn thông minh,” như thế khi tiếp cận các nên văn hóa toàn cầu, chúng ta đều giữ những giá trị đẹp để học hỏi.

GS Đỗ Quý Toàn cũng nói rằng người Việt có những độc đáo, chứ không hề kỷ luật như người Nhật, vì điển hình của cuộc cách mạng bình đẳng nam nữ sớm nhất của nhân loại là khi Công Chúa Tiên Dung bỏ nhà đi theo trai… Trong khi khái niệm Khổng Giaó về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cần, kiệm, liêm, chính vẫn là giá trị phải giữ vậy, nên sống “phải lựa chọn thông minh.”

‘Đảng viên không còn tha thiết CNXH’

Ngoại trừ các đảng viên nắm quyền, đa số các đảng viên đã không còn tin vào chủ nghĩa xã hội?

Đa số các đảng viên về hưu ‘không còn tha thiết với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội nữa’, một đảng viên kỳ cựu tham gia ký tên vào thư ngỏ gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng nói với BBC.

Trao đổi với BBC từ Huế, ông Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa có hơn 40 năm tuổi Đảng, còn nói việc ông ký vào thư ngỏ là ‘thể hiện trách nhiệm của một đảng viên trước Đảng’.

Ông Xuân là một trong số 61 đảng viên lão thành ký tên vào bức thư ngỏ mới đây yêu cầu Đảng ‘từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội’ và ‘từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng’ trong quan hệ với Trung Quốc’.

‘Trách nhiệm của đảng viên’

Ông Xuân nói rằng những kiến nghị nêu trong thư ngỏ là những vấn đề mà ‘ông đã suy nghĩ nhiều năm rồi’.

“Khi có một tập thể với những đảng viên tử tế mà tôi rất quý trọng thảo ra một bức thư ngỏ thì tôi rất vui được ký chung với họ,” ông nói.

Trừ những người vì quyền lợi, vì chức vụ này kia còn các đảng viên về hưu từ Bộ Chính trị trở xuống không ai còn tha thiết với chủ nghĩa xã hội cả.

Nguyễn Đắc Xuân, đảng viên lão thành ở Huế

Ông cho biết thư ngỏ được đưa ra vào thời điểm Đảng đang chuẩn bị cho Đại hội lần thứ 12 (vào đầu năm 2016) để ‘đóng góp ý kiến cho Trung ương tham khảo để họ hoạch định chính sách sắp tới của Đảng’.

Với lại, tình hình Trung Quốc đặt giàn khoan trên Biển Đông, theo ông Xuân, ‘đã bộc lộ ra hết âm mưu trước mắt và lâu dài của Trung Quốc muốn xâm lược Việt Nam’.

“Trách nhiệm của đảng viên là tham gia với Trung ương để làm sao khắc phục những khuyết điểm để có tương lai tốt hơn,” ông nói và cho biết với tư cách đảng viên ông sẽ nói lên ý kiến của ông trong các sinh hoạt chi bộ từ nay đến Đại hộ 12 và sẽ có những bài viết ‘cụ thể hóa’ những kiến nghị trong thư ngỏ trên trang blog riêng của ông.

“Đôi khi Trung ương không thấy hết trong khi tôi về hưu ở cùng quần chúng tôi có thể thấy được những nhược điểm trong sự lãnh đạo của Đảng.”

“Trừ những người vì quyền lợi, vì chức vụ này kia còn các đảng viên về hưu từ Bộ Chính trị trở xuống không ai còn tha thiết với chủ nghĩa xã hội cả,” ông cho biết.

‘Đảng viên biết Đảng sai’

Liệu Đảng Cộng sản có chấp nhận từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin?

Ông nói những sai lầm của Đảng nêu trong thư ngỏ các đảng viên ‘đều thấy cả’.

“Nhưng với sự lãnh đạo toàn trị thì việc đảng viên đưa ý kiến lên Bộ Chính trị, lên Trung ương không phải dễ. Họ nghĩ rằng có tới nơi đi nữa thì cũng không được quan tâm nên họ lặng lẽ chờ thời,” ông giải thích.

Ông Nguyễn Đắc Xuân nói rằng dù Đảng có chấp nhận thư ngỏ của các ông hay không thì ‘xu thế là phải dân chủ hóa’ vì ‘không dân chủ thì không có sức mạnh và không đoàn kết được dân tộc’.

Ông Nguyễn Đắc Xuân nói ông vào Đảng ‘không phải vì chủ nghĩa xã hội’

Ông cũng nói là việc ông yêu cầu từ bỏ con đường chủ nghĩa xã hội ‘không đi ngược lại niềm tin lúc đầu của ông khi vào Đảng’.

“Tôi vào Đảng trong rừng – là Đảng Nhân dân Cách mạng – để đóng góp vào công cuộc thống nhất đất nước,” ông nói, “Hầu như trong miền Nam những người hoạt động chống Mỹ hết 99% là vì thống nhất đất nước chứ không vì chủ nghĩa xã hội.”

Tuy nhiên, sau năm 1975, mặc dù ông nói ông vẫn tiếp tục ở trong Đảng Cộng sản nhưng đến bây giờ ông thấy chủ nghĩa cộng sản ‘không còn hợp thời nữa’.

“Cái gì trở ngại thì phải bỏ để xây dựng đất nước,” ông nói.

Phỏng vấn tiến sĩ Heiner Bielefeldt, báo cáo viên đặc biệt của LHQ về tự do tôn giáo

Tiến sĩ Heiner Bielefeld, báo Cáo Viên LHQ gặp HT Thích Quảng Độ hôm 27.5.2014

Tiến sĩ Heiner Bielefeld, báo Cáo Viên LHQ gặp HT Thích Quảng Độ hôm 27.5.2014

RFA
 
Tiến sĩ Heiner Bielefeldt, Báo cáo viên LHQ Đặc nhiệm Tự do Tôn giáo vừa kết thúc chuyến viếng thăm điều tra tình hình tôn giáo tại Việt Nam, từ ngày 21 đến ngày 31.7.2014Trong cuộc Họp báo trưa ngày 31.7 tại Hà Nội, ông xác nhận “những vi phạm trầm trọng tự do tôn giáo tại Việt Nam” và ông đã bị “ngăn cấm gặp gỡ một số người cần gặp trong chuyến đi”.

Liền sau cuộc họp báo của ông, từ Paris chúng tôi đã kết nối đường dây phỏng vấn ông khi ông đang ngồi trên xe ra phi trường rời Việt Nam về lại Âu châu. Xin mời quý thính giả theo dõi cuộc phỏng vấn :

Ỷ Lan : Xin chào Tiến sĩ Heiner Bielefeld. Xin ông vui lòng cho biết cảm tưởng sau khi kết thúc chuyến điều tra tình hình tôn giáo tại Việt Nam ?

Heiner Bielefeldt : Cảm tưởng thường rất phức tạp và lắm khi xung đột. Cho tôi rút ngắn rằng, cần phải biết đời sống tôn giáo đã phát triển tại Việt Nam như thế nào. Các thiết chế tôn giáo đa dạng đang có mặt, người ta thấy các kiến trúc tôn giáo, các tín đồ đi cúng lễ. Tuy nhiên, tất cả đó bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ. Tín đồ tôn giáo bị thúc bách trong việc thực hành tín ngưỡng qua một số hình thái nào đó. Vì vậy, dù không gian cho sự thực hành này được mở rộng, nhưng nhìn từ viễn cảnh đặc thù nhân quyền và tự do tôn giáo, thì mọi sự tuỳ vào thiện chí của chính quyền. Chính quyền thi hành nhiều sự kiểm soát, nên tính hình tự do tôn giáo tại Việt Nam vẫn đặt ra nhiều vấn nạn.

Trong bản tuyên bố báo chí của tôi phổ biến tại cuộc Họp báo hôm nay, tôi nhận dạng những vi phạm trầm trọng trên đất nước này, đồng thời tôi cũng nhận biết một số thiện chí của chính quyền nhằm điều chỉnh tình hình, ví dụ như nắm lấy cơ hội cho việc sửa đổi pháp luật sắp tới để điều chỉnh cơ cấu hạ tầng.

Các thiết chế tôn giáo đa dạng đang có mặt, người ta thấy các kiến trúc tôn giáo, các tín đồ đi cúng lễ. Tuy nhiên, tất cả đó bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ. Tín đồ tôn giáo bị thúc bách trong việc thực hành tín ngưỡng qua một số hình thái nào đó

Tiến sĩ Heiner Bielefeldt

Cuộc thăm viếng không phải lúc nào cũng trôi chảy. Đã có những sự cố khi những người muốn gặp tôi, bị sách nhiễu, hăm doạ, và ngăn cấm đến cuộc hẹn. Một vài cuộc gặp gỡ riêng tư bị theo dõi — chúng tôi nhận chân nhiều dấu hiệu theo dõi này. Kết quả là, cuộc thăm viếng phải bỏ dở. Do đó chúng tôi không thực hiện được nhiều phần quan trọng trong chương trình. Chúng tôi đã không thể giúp được họ vì muốn bảo vệ nguồn tin và đối tác của chúng tôi. Tôi đã nêu việc này với chính quyền Việt Nam, đồng thời phản ảnh qua bản tuyên bố báo chí của tôi.

Ỷ Lan : Ông có thể cho biết nhóm tôn giáo nào bị ngăn cản gặp ông ?

Heiner Bielefeldt : Một số rộng rãi các cộng đồng tôn giáo, các nhà hoạt động Xả hội dân sự — không riêng cho một nhóm tôn giáo nào, là điều xấu tệ hơn. Tôi không thể nói ai tạo ra các áp lực ấy, là điều tôi không thể nào biết được. Nhưng sự phá rối này rất trầm trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ chuyến viếng thăm của tôi.

Tiến sĩ Heiner Bielefeld
Tiến sĩ Heiner Bielefeld

Ỷ Lan : Thưa ông, cuộc gặp gỡ song suốt của ông phải chăng là cuộc gặp gỡ Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon ? Xin ông cho biết đôi chút về cuộc gặp này ?

Heiner Bielefeldt : Vâng. Một trong những khía cạnh quan trọng trong chuyến đi của tôi là tìm hiểu tình hình các cộng đồng tôn giáo ngoài luồng của Nhà nước, kể cả các cộng đồng tôn giáo không được nhà nước công nhận. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) là một ví dụ của một cộng đồng tôn giáo bị đẩy ra ngoài lề xã hội một cách có chủ tâm. Họ đã bị phi pháp hoá, bị đối diện với những sách nhiễu, hăm doạ trầm trọng, kể cả hình thức quản chế và cầm tù. Trong cuộc gặp ngài Thích Quảng Độ, chúng tôi đã có cuộc trao đổi, qua đó ngài trình bày rõ ràng hiện tình của ngài và Giáo hội ngài.

Đã có những sự cố khi những người muốn gặp tôi, bị sách nhiễu, hăm doạ, và ngăn cấm đến cuộc hẹn. Một vài cuộc gặp gỡ riêng tư bị theo dõi — chúng tôi nhận chân nhiều dấu hiệu theo dõi này. Kết quả là, cuộc thăm viếng phải bỏ dở

Tiến sĩ Heiner Bielefeldt

Ỷ Lan : Nói chung, ông thấy những chướng ngại nào cho tự do tôn giáo tại Việt Nam ?

Heiner Bielefeldt : Như tôi đã nói qua cuộc Họp báo, hệ thống pháp lý rất hạn định. Bản Hiến pháp mới năm 2013 bảo đảm tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, nhưng những hạn định lại bao trùm khắp nơi, cho phép nhà cầm quyền có nhiều uy quyền xâm phạm. Pháp lệnh về tôn giáo năm 2005 bắt buộc các tôn giáo phải đăng ký hoạt động và đệ trình chính phủ kế hoạch thường niên về mọi hoạt động. Bộ Luật Hình sự với những điều luật mơ hồ về “lợi dụng tự do dân chủ” được sử dụng rộng rãi để hạn chế tự do, kể cả tự do tôn giáo hay tín ngưỡng.

Tôi cũng chú ý tới não trạng thích viện dẫn những quyền lợi chính thống cho số đông, và thải hồi những đời hỏi của các nhóm tôn giáo “không được thừa nhận” bị coi như quyền lợi tư kỷ. Mọi cầu viện pháp lý không được vận hành. Chúng tôi gặp một số thành viên tư pháp, họ chẳng hề biết một trường hợp nào bị vi phạm quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng được đưa ra trước toà án. Như thế là đã có cấu trúc, thiết chế, và loại tâm thần gắn kết với các vấn nạn — thật là một gói vấn đề ! Nhưng đồng thời, tôi luôn nhìn tới những điểm tích cực và nhìn xem các ý chí của chính quyền trong việc thay đổi nền pháp lý sắp tới cùng các cơ hội cho cuộc thảo luận thực thi tương lai.

Hãy thực sự nắm bắt quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, hãy tuyên cao quyền ấy cho chính bạn, tôn trọng nó, và hãy biết rằng quyền này là quyền của mọi người, mà chẳng cần có sự chẩn thuận của chính quyền

Tiến sĩ Heiner Bielefeldt

Ỷ Lan : Ông có nghĩ rằng cuộc viếng thăm vừa qua sẽ đóng góp cho sự thực thi tôn trọng tự do tôn giáo tại Việt Nam không ?

Heiner Bielefeldt : Tôi luôn luôn hy vọng như thế. Chúng ta phải luôn luôn mang trong đầu ý nghĩ, rằng mọi cuộc thay đổi quan trọng phải đến từ lòng xã hội. Là Báo cáo viên đặc biệt và đại diện LHQ về nhân quyền quốc tế, tôi luôn có thể phụ giúp cách làm thế nào cấu tạo những không gian mới cho tự do tôn giáo, làm thế nào cho chính quyền chấp nhận đối thoại, vân vân. Đây là hoạt động thăng tiến, nhưng trong sâu thẳm, mọi cuộc đổi thay phải đến từ lòng xã hội. Điều này chưa có tại Việt Nam. Tôi luôn hy vọng điều ấy xẩy ra. Tại Việt Nam, tôi gặp một số người thực sự muốn thấy sự thay đổi, khiến tôi càng thêm hy vọng.

Ỷ Lan : Xin ông Báo cáo viên LHQ một câu hỏi chót. Cuộc phỏng vấn này sẽ được phát thanh về Việt Nam, và có thể một số người không được gặp ông cũng sẽ được nghe. Nếu có thông điệp gì nhắn gửi nhân dân Việt Nam, ông sẽ phát biểu như thế nào ?

Heiner Bielefeldt : Ô, ô… đây quả là một câu tra vấn ! Tôi không phải là hạng người thích “khẩu hiệu”. Nhưng nếu là thông điệp thì sẽ phải là : Hãy thực sự nắm bắt quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, hãy tuyên cao quyền ấy cho chính bạn, tôn trọng nó, và hãy biết rằng quyền này là quyền của mọi người, mà chẳng cần có sự chẩn thuận của chính quyền. Nhân phẩm đã có địa vị. Là điều mà ai cũng dễ hiểu. Nếu họ nhận chân họ được phú cho các quyền ấy, mà chẳng cần sự chuẩn thuẩn của chính phủ hay nhà cầm quyền, thì trong tinh thần ấy, mọi cuộc thay đổi sẽ hoàn thành.

Ỷ Lan : Xin cám ơn Tiến sĩ Heiner Bielefeldt cho cuộc phỏng vấn mà ông phải nhọc nhằn hồi đáp trên chuyến xe ra phi trường rời Việt Nam sau 11 ngày thăm viếng.

Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á Châu Tự do tại Paris

‘Cái gì trở ngại thì phải bỏ’

Trao đổi với BBC từ Huế, ông Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa có hơn 40 năm tuổi Đảng, còn nói việc ông ký vào thư ngỏ gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng là ‘thể hiện trách nhiệm của một đảng viên trước Đảng’.

Ông Xuân là một trong số 61 đảng viên lão thành ký tên vào bức thư ngỏ mới đây yêu cầu Đảng ‘từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội’ và ‘từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng’ trong quan hệ với Trung Quốc’.

Ông Xuân nói rằng những kiến nghị nêu trong thư ngỏ là những vấn đề mà ‘ông đã suy nghĩ nhiều năm rồi’.

Ông cho biết thư ngỏ được đưa ra vào thời điểm Đảng đang chuẩn bị cho Đại hội lần thứ 12 (vào đầu năm 2016) để ‘đóng góp ý kiến cho Trung ương tham khảo để họ hoạch định chính sách sắp tới của Đảng’.

“Trách nhiệm của đảng viên là tham gia với trung ương để làm sao khắc phục những khuyết điểm để có tương lai tốt hơn,” ông nói và cho biết với tư cách đảng viên ông sẽ nói lên ý kiến của ông trong các sinh hoạt chi bộ từ nay đến Đại hộ 12 và sẽ có những bài viết ‘cụ thể hóa’ những kiến nghị trong thư ngỏ trên trang blog riêng của ông.

“Đôi khi Trung ương không thấy hết trong khi tôi về hưu ở cùng quần chúng tôi có thể thấy được những nhược điểm trong sự lãnh đạo của Đảng.”

“Trừ những người vì quyền lợi, vì chức vụ này kia còn các đảng viên về hưu từ Bộ Chính trị trở xuống không ai còn tha thiết với chủ nghĩa xã hội cả,” ông cho biết.

Ông nói những sai lầm của Đảng nêu trong thư ngỏ các đảng viên ‘đều thấy cả’.

“Cái gì trở ngại thì phải bỏ để xây dựng đất nước,” ông nói.

Bản Tuyên bố của Báo Cáo Viên Đặc biệt LHQ về Quyền Tự Do Tôn Giáo hay Tín Ngưỡng sau chuyến thăm Việt Nam

Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

(tiếp theo Bản tin LHNQVN-TS 17.07.14)

kính chuyển quý Diễn đàn và quý Bạn đọc

Bản Tuyên bố phổ biến cho báo chí của ông Heiner Bielefeldt, Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng sau Chuyến thăm nước CHXHCNVN (Cộng sản Việt Nam)

Phần 1. Bản tiếng Việt 

Phần 2. Bản tiếng Anh (xin đọc Bản Tin LHNQVN-TS kế tiếp)
———————————

Nguyên văn :

Tuyên bố báo chí về Chuyến thăm Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam .

Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng,

Heiner Bielefeldt

Hà Nội, Việt Nam, 31/7/2014.

Với tư cách là Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, tôi đã được Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mời tiến hành một chuyến thăm quốc gia từ ngày 21 đến 31 tháng 7 năm 2014.

Trước hết, tôi cảm ơn Chính phủ Việt Nam đã mời tôi đến đây và đã duy trì mối quan hệ hợp tác mang tính xây dựng với Thủ tục Đặc biệt mà tôi phụ trách. Báo cáo viên tiền nhiệm của tôi, ông Abdelfattah Amor đã quá cố, cũng đã đến thăm Việt Nam vào năm 1998. Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam đã tích cực hợp tác với các Thủ tục Đặc biệt và đã mời sáu chuyên gia thực thi các thủ tục này, trong đó có tôi, tiến hành các chuyến thăm quốc gia. Việt Nam cũng là một thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đã rất tích cực trong việc chuẩn bị và hỗ trợ trong suốt chuyến thăm này. Bộ cũng tạo điều kiện để chúng tôi thăm một tù nhân.

Tôi cảm ơn tất cả các bên đã gặp và tham gia trao đổi với tôi trong chuyến thăm này, từ các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Chính phủ, các cộng đồng hay tổ chức tôn giáo (đã được công nhận hay chưa được công nhận), đến cộng đồng ngoại giao và các cơ quan Liên Hợp Quốc. Tôi cũng muốn cảm ơn Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Hà Nội đã hỗ trợ về hậu cần cho chuyến đi. Những cuộc thảo luận ở Hà Nội, Tuyên Quang, thành phố Hồ Chí Minh và Vĩnh Long nhìn chung đều cởi mở, thẳng thắn và mang tính xây dựng..

Dự định đi thăm An Giang, Gia Lai và Kon Tum của đoàn không may đã bị gián đoạn từ ngày 28 đến 30 tháng 7. Tôi nhận được những thông tin đáng tin cậy là một số cá nhân tôi muốn gặp đã bị đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ, cảnh cáo, đe dọa, sách nhiễu hoặc bị công an ngăn cản việc đi lại. Ngay cả những người đã gặp được tôi cũng không tránh khỏi việc bị công an theo dõi hoặc chất vấn ở một mức độ nhất định. Ngoài ra, việc di chuyển của tôi cũng bị giám sát chặt bởi “những cán bộ an ninh hoặc công an” mà chúng tôi không được thông báo rõ, đồng thời sự riêng tư và bảo mật của một số cuộc gặp gỡ cũng bị ảnh hưởng. Những việc này là sự vi phạm rõ ràng các điều khoản tham chiếu củabất kỳ chuyến thăm quốc gia nào.

Hôm nay, tôi trình bày với các bạn ở đây những phát hiện sơ bộ và một số nhận xét chính của tôi mà tôi muốn các bạn chú ý tới. Tuyên bố báo chí này không phải là báo cáo cuối cùng. Báo cáo chính thức sẽ được trình bày tại kỳ họp thứ 28 của Hội đồng Nhân quyền vào tháng 3 năm 2015. Trong quá trình chuẩn bị báo cáo, tôi sẽ tiếp tục hợp tác và làm việc trên cơ sở tham vấn với Chính phủ và tất cả các bên liên quan để có thêm các thông tin và làm sáng tỏ những điểm chưa rõ, đặc biệt về các vấn đề liên quan đến những vùng tôi không thể đến thăm. .

I. Tóm lược tình hình tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng. Ban Tôn giáo Chính phủ cho tôi biết hiện có 37 tổ chức tôn giáo được đăng ký trong cả nước. Theo con số thống kê của Chính phủ, tổng số tín đồ của các tôn giáo được công nhận là khoảng 24 triệu người trong tổng dân số 90 triệu người. Các cộng đồng tôn giáo được công nhận chính thức gồm 11 triệu Phật tử, 6,2 triệu tín đồ Công giáo, 1,4 triệu người theo đạo Tin lành, 4,4 triệu người theo đạo Cao Đài, 1,3 triệu phật tử Hòa Hảo cùng với 75.000 người Hồi giáo, 7.000 người Baha’ís, 1.500 người Ấn Độ giáo và những người theo các tôn giáo khác. Chính thức có 26.387 cơ sở thờ tự gồm chùa, đền thờ, nhà thờ và các nơi thờ tự khác. Việt Nam tự hào đã tổ chức các hội nghị quốc tế của các nhà lãnh đạo tôn giáo, cụ thể là một đại hội các chức sắc Phật giáo được tổ chức vào Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc vào tháng 5/2014. Tôi cũng được cho biết là ở Việt Nam có 54 dân tộc. Đôi khi các nhóm dân tộc thiểu số cũng chính là các nhóm tôn giáo thiểu số.

Trong khi đa số người dân Việt Nam không thuộc một cộng đồng tôn giáo được chính thức công nhận, họ cũng vẫn thỉnh thoảng hoặc thường xuyên thực hiện những nghi lễ truyền thống – mà ở Việt Nam thường gọi là “tín ngưỡng”. Nhiều nghi lễ truyền thống biểu đạt sự tôn kính tổ tiên. Ngoài ra, trong thực tế có những niềm tin và thực hành tôn giáo nằm ngoài các cộng đồng tôn giáo đã chính thức được công nhận. Khó có thể có một bức tranh rõ ràng và đầy đủ về vấn đề này, nếu không muốn nói là không thể. Một vài chuyên gia của Chính phủ đưa ra ước tính tương đối thấp về số người đang thực hành các tôn giáo bên ngoài các cộng đồng đã được công nhận. Nhưng đồng thời tôi cũng nghe được những phỏng đoán rằng số người đang thực hành tôn giáo ngoài các cộng đồng đã được đăng ký – hoặc đang muốn đăng ký – có thể lên đến hàng triệu người. Bên cạnh những ước đoán khác nhau về con số, tôi cũng nhận được những thông tin trái ngược nhau về các điều kiện để những người này có thể thụ hưởng quyền con người về tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo hay tín ngưỡng.

Nhiều người chúng tôi tiếp xúc nhấn mạnh một thực tế rằng các điều kiện để thực hành tự do tôn giáo ở Việt Nam nhìn chung đã được cải thiện so với tình hình sau năm 1975. Nhiều đại diện các cộng đồng tôn giáo cũng chia sẻ nhận xét này, và họ công nhận rằng, mặc dù còn có nhiều khó khăn nhưng hiện nay nhìn chung họ có nhiều không gian để thực hành tôn giáo hơn trong quá khứ. Mặt khác, điều kiện để các cá nhân hoặc các nhóm thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng cũng khó đoán, và thường phụ thuộc vào thiện chí của các cơ quan Chính phủ, đặc biệt là chính quyền địa phương. Ngoài ra, thành viên của các nhóm thiểu số về tôn giáo không được công nhận chính thức tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong việc thực hành tự do tôn giáo tín ngưỡng của mình, đặc biệt khi các thực hành tôn giáo hay nghi lễ của họ bị cho là không phù hợp với “lợi ích chính đáng của số đông” – một cụm từ thường được nhắc đến trong một số cuộc thảo luận..

II. Các quy định pháp lý và việc thực hiện

a) Quy định pháp lý điều chỉnh thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng

Việt Nam đã phê chuẩn hầu hết các công ước nhân quyền quốc tế, bao gồm Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị, trong đó Điều 18 bảo vệ chung tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo hay tín ngưỡng.

Hiến pháp mới sửa đổi của Việt Nam1 quy định chương II “Quyền con người, Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Tại đó, Hiến pháp 2013 cũng nhắc đến tự do tôn giáo hay tín ngưỡng trong Điều 24. Các đại diện của Chính phủ đã nhắc lại nhiều lần và nhấn mạnh rằng những người có quyền được quy định trong điều này bao gồm tất cả mọi người, trong khi quy định tương ứng tại Hiến pháp 1992 giới hạn ở các công dân Việt Nam. Điều này được trình bày như một dấu hiệu cho thấy thái độ nhìn chung là tích cực hơn đối với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng.

Điều 24 quy định như sau:

1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Việt Nam chưa có một luật riêng điều chỉnh các vấn đề tôn giáo. Văn bản pháp lý liên quan nhất là Pháp lệnh về Tôn giáo và Tín ngưỡng ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2004. Nghị định số 92 ngày 8/11/2012 quy định chi tiết các điều khoản trong Pháp lệnh.

Trong Pháp lệnh về Tôn giáo và Tín ngưỡng, Điều 38 khẳng định các quy định trong các điều ước quốc tế sẽ có hiệu lực trong trường hợp có sự khác biệt giữa quy định của Pháp lệnh và các điều ước quốc tế.

Tôi được biết một dự án xây dựng luật về các vấn đề tôn giáo trên nền tảng Pháp lệnh hiện hành sẽ được đưa ra trong năm 2015, và dự kiến được thông qua năm 2016. Ngoài việc vị thế pháp lý của một văn bản luật sẽ cao hơn so với một pháp lệnh, quá trình soạn thảo một luật mới toàn diện có thể là cơ hội để có những sửa đổi cụ thể với mục đích thúc đẩy quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng và việc thực thi quyền này trong thực tế. Khi thảo luận vấn đề này với các chuyên gia của Chính phủ về vấn đề tôn giáo, đã có những nhận định rằng vấn đề đất đai sẽ được giải quyết tốt hơn, đồng thời người nước ngoài cũng sẽ có điều kiện dễ dàng hơn để thực hành tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Những người khác cũng bày tỏ sự sẵn sàng cân nhắc những thay đổi cụ thể để khắc phục những quy định hạn chế trong Pháp lệnh năm 2004.

b) Những hạn chế đối với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng

Theo tiêu chuẩn quốc tế, việc thực hành quyền con người về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng không phải là không thể có một số hạn chế được đặt ra. Đồng thời, Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) liệt kê một số tiêu ch cần đạt được để những hạn chế đặt ra đó được coi là chính đáng. Việc tuân thủ nghiêm ngặt tất cả các tiêu chí này là cốt yếu để đảm bảo rằng tự do tôn giáo hay tín ngưỡng trở thành sự thực.

Các điều khoản hạn chế được quy định trong các văn bản luật có liên quan của Việt Nam hiện nay rộng hơn nhiều so với các điều khoản hạn chế quy định trong ICCPR. Tuy nhiên quy định giới hạn quá rộng có thể làm nhòe ranh giới của tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, vì thế gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực thi quyền này trong thực tế. Điều còn thiếu trong các quy định pháp luật của Việt Nam về tôn giáo, trước hết là chưa nêu rõ rằng khía cạnh cá nhân trong niềm tin và nhận thức tôn giáo, đạo đức hay triết lý của một người – thường được gọi là “forum internum” (tâm linh, hay thế giới nội tâm) – phải được tôn trọng vô điều kiện và không bao giờ được áp dụng bất kỳ giới hạn chính đáng hay can thiệp nào với bất kỳ lý do nào, ngay cả trong trường hợp khủng hoảng nghiêm trọng hay tình trạng 4 khẩn cấp. Việc bảo vệ vô điều kiện đối với tâm linh cá nhân phản ánh quan niệm rằng cưỡng ép con người giả mạo một niềm tin không thực hoặc từ bỏ điều họ tin tưởng sâu sắc có thể phá hủy lòng tự tôn của họ. Việc cấm bất kỳ sự can thiệp mang tính cưỡng ép nào đối với nội tâm trong niềm tin tôn giáo, đạo đức hay triết lý của một người vì thế cũng có vị trí quan trọng trong luật quốc tế tương đương với việc cấm nô lệ hay cấm tra tấn. Đây là những quy định tuyệt đối không có bất kỳ ngoại lệ nào. Trong khi đó, Điều 24 Hiến pháp 2013 nhắc đến tự do tôn giáo hay tín ngưỡng nói chung mà không quy định cụ thể việc bảo vệ khía cạnh tâm linh cá nhân trong tự do tôn giáo hay tín ngưỡng.

Không như tâm linh bên trong con người, việc truyền bá tôn giáo hay tín ngưỡng trong phạm vi xã hội (“forum externum”, hay thế giới bên ngoài) không được bảo vệ vô điều kiện, theo luật quốc tế quy định. Vì vậy phải quy định cụ thể các điều kiện được phép áp dụng các hạn chế một cách rõ ràng và dự đoán được. Việc này cần được thực hiện trên cơ sở nhận thức rằng tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, ở cả khía cạnh cá nhân và cộng đồng, có vị thế quy định là một quyền con người phổ quát. Mối quan hệ giữa quyền tự do này và những hạn chế đối với quyền ấy, vì thế, cần được xem xét như một mối quan hệ giữa quy định và ngoại lệ. Theo đó, việc đưa ra các lập luận chứng minh không phải là nghĩa vụ của những người muốn thực hành quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng của họ; mà là nghĩa vụ của những người cho rằng việc hạn chế là cần thiết. Trong trường hợp có nghi vấn, quy định sẽ được áp dụng, còn ngoại lệ luôn luôn yêu cầu phải có thêm lập luận chứng minh, cả ở mức độ bằng chứng cụ thể và lập luận lý thuyết.

Khi trao đổi với các đại diện của Chính phủ, tôi thường nghe nhắc đến “pháp luật Việt Nam” nói chung. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu đối với các biện pháp hạn chế quy định trong điều 18 ICCPR, những hạn chế này phải cụ thể hơn và đáp ứng được các tiêu chí đặt ra. Ngoài việc phải được quy định về mặt pháp lý một cách rõ ràng, cụ thể và đoán trước được, những hạn chế phải là cần thiết để phục vụ một mục đích chính đáng – bảo vệ “an toàn của công chúng, trật tự công, sức khỏe, hay đạo đức hay các quyền và tự do căn bản của những người khác”. Thêm nữa, các hạn chế phải tuân thủ chặt chẽ tính cân xứng, nghĩa là các hạn chế phải luôn luôn giữ ở mức can thiệp tối thiểu. Những tiêu chuẩn này và một số tiêu chuẩn khác đã được quy định với mục đích bảo vệ các thành tố của tự do tôn giáo hay tín ngưỡng ngay cả trong những tình huống (có vẻ, hay thực sự) có xung đột với những quyền khác, hay với lợi ích chung quan trọng. .

Để so sánh, các văn bản pháp lý liên quan của Việt Nam đã cho các cơ quan chính quyền nhiều không gian để quy định, giới hạn, hạn chế hay cấm việc thực hành tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Điều 14 Hiến pháp 2013 liệt kê một số lý do để hạn chế các quyền con người và quyền công dân mà, tôi cho rằng, cũng áp dụng với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Khả năng hạn chế các quyền con người vì lợi ích của “quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” đã khác so với các mục đích được liệt kê trong điều 18 ICCPR. Mặt khác, Pháp lệnh về Tôn giáo và Tín ngưỡng cũng đưa ra các mục đích như “lòng yêu nước”, “thống nhất đất nước”, “đoàn kết nhân dân” và “truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”. Thêm nữa, theo điều 8, khoản 2 của Pháp lệnh, “Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.” .

Trong các cuộc thảo luận với các quan chức Chính phủ ở các cơ quan khác nhau, bao gồm đại diện cấp cao của cơ quan lập pháp, tôi thấy những hạn chế rất rộng này được nhắc đến nhiều lần. Viện dẫn “lợi ích xã hội” không rõ ràng cũng có thể, thậm chí, dẫn đến truy tố tội hình sự, theo Điều 258 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 của Điều này quy định: “Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.“ Tôi thấy một điều đáng lo ngại trong điều khoản này là việc không có quy định cụ thể hành vi như thế nào sẽ bị coi là “lợi dụng” tự do tôn giáo hoặc các quyền tự do dân chủ khác. Các thành viên của Tòa án Nhân dân Tối cao không đưa ra hướng dẫn cụ thể nào để giải thích thuật ngữ “lợi dụng”. Cách thức quy định rộng và không rõ ràng trong Điều 258 đã đem lại cho các cơ quan chức năng liên quan khả năng tự ý định đoạt để ngăn người dân trong tất cả các loại hoạt động – kể cả thái độ ngầm của họ – nếu những hoạt động này bằng cách nào đó bị coi là mâu thuẫn với lợi ích của Nhà nước. Từ nhiều trao đổi thảo luận tôi đã nghe, đây không phải là một vấn đề lý thuyết đơn thuần, và Điều 258 Bộ luật Hình sự đã được áp dụng thường xuyên, và được áp dụng để hạn chế quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng và các quyền con người khác. Khi đặt ra câu hỏi về tù nhân lương tâm, tôi được cho biết không có vụ việc nào về tù nhân lương tâm. Với quy định không rõ ràng và con số lớn các vụ việc bị buộc tội theo Điều 258 bộ Luật Hình sự, người ta tự hỏi làm thế nào cơ quan có thẩm quyền có thể loại trừ được khả năng này.

c) Yêu cầu hành chính với thực hành tôn giáo

Pháp lệnh về Tôn giáo và Tín ngưỡng bao gồm rất nhiều quy định mà các cộng đồng tôn giáo phải tuân thủ để có thể hoạt động. Các quy định này được hướng dẫn chi tiết hơn trong Nghị định 92. Ví dụ, các cộng đồng tôn giáo được yêu cầu phải đăng ký tư cách với Ban Tôn giáo Chính phủ; họ phải xin các giấy phép cụ thể để xây dựng hay kiến thiết nơi thờ tự; họ phải trình với chính quyền địa phương một bản kế hoạch các hoạt động hàng năm; họ phải thông báo với chính quyền về việc bổ nhiệm các chức sắc tôn giáo; họ phải được chính quyền địa phương liên quan cho phép mới có thể tiến hành các nghi lễ ở nơi công cộng, vv.. Các yêu cầu trong Pháp lệnh và Nghị định bao gồm những nghĩa vụ về thông tin và thông báo cũng như quy định phải được phê duyệt trước khi tiến hành một số hoạt động tôn giáo nhất định. Nghị định cũng quy định thời hạn mà chính quyền được yêu cầu phải trả lời các đơn được gửi đến. Nếu có một quyết định không thuận, cơ quan có thẩm quyền phải nêu rõ lý do.

Những phát hiện sơ bộ của tôi không nhằm mục đích đưa ra một đánh giá tổng thể những quy định hành chính rất cụ thể trong Pháp lệnh và Nghị định xem các quy định này có phản ánh phù hợp sự tôn trọng tự do tôn giáo tín ngưỡng không. Thay vào đó, tôi sẽ tập trung vào một vấn đề xuất hiện trong hầu hết tất cả các cuộc thảo luận của chúng tôi, đó là yêu cầu các cộng đồng tôn giáo phải có đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Theo Điều 16 của Pháp lệnh, các tổ chức cần phải đáp ứng được một số tiêu chí để được công nhận trước pháp luật là một tổ chức tôn giáo. Cụ thể là, các điều kiện này nhằm đảm bảo tôn trọng “thuần phong, mỹ tục và lợi ích của dân tộc”. Không đề cập đến các chi tiết về thủ tục và nội dung cụ thể, tôi muốn tập trung vào hai khía cạnh đặc biệt quan trọng.

Khía cạnh đầu tiên liên quan đến bản chất của việc đăng ký. Đây là một đề nghị, hay một yêu cầu chính thức? Khi thảo luận vấn đề này, tôi nhận được những câu trả lời khác nhau, và có vẻ như thiếu sự rõ ràng. Trong khi một số đại diện của Chính phủ tuyên bố không chút ngập ngừng rằng không có đăng ký với chính quyền thì các cộng đồng sẽ không được hoạt động, một số khác cho rằng một cộng đồng tôn giáo vẫn có thể tiến hành một số hoạt động tôn giáo căn bản như tụ họp để sinh hoạt tôn giáo tại nhà riêng. Ngay cả với cách diễn giải thứ hai mang tính tạo thuận lợi hơn, tôi kinh ngạc thấy phạm vi của tự do tôn giáo vẫn còn rất hạn chế và không rõ ràng.

Trong bối cảnh này, thuật ngữ “công nhận” được sử dụng trong Pháp lệnh và cũng được đề cập đến trong nhiều cuộc trao đổi, có thể cần được giải nghĩa ngắn gọn. Việc thực thi quyền con người đối với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, bởi cá nhân và/hoặc trong một cộng đồng với những người khác, không thể diễn ra phụ thuộc vào bất kỳ hành vi công nhận hay phê duyệt hành chính cụ thể nào. Là một quyền phổ quát, tự do tôn giáo hay tín ngưỡng vốn có trong tất cả con người và vì thế có vị thế quy chuẩn cao hơn bất kỳ một hành vi hay thủ tục hành chính nào. Lời nói đầu của Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu bắt đầu bằng “công nhận nhân phẩm vốn có và các quyền bình đẳng và không thể bị tước đoạt của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại”. Rõ ràng là “công nhận” ở đây có nghĩa cơ bản là bất kỳ tương tác có nghĩa nào giữa con người với nhau đều phải tôn trọng nhân phẩm và các quyền con người. “Công nhận” trong nghĩa căn bản là tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền, vì thế, vượt trên bất kỳ sự “công nhận” nào về mặt hành vi hành chính cụ thể.

Như vậy, quyền của một cá nhân hay một nhóm đối với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng của họ không bao giờ có thể “được tạo ra” bằng bất kỳ thủ tục hành chính nào. Đúng ra là ngược lại, việc đăng ký phải là phương tiện cho quyền con người này, mà bản thân quyền ấy phải được tôn trọng là có trước bất kỳ việc đăng ký nào. Trên cơ sở nhận thức chung ấy, việc đăng ký phải là một đề nghị của Nhà nước, không phải một yêu cầu bắt buộc về mặt pháp lý. Tình trạng của các cộng đồng tôn giáo không đăng ký, vì thế, gợi ý kết quả của một phép thử quan trọng đối với nhận thức về vị thế chuẩn của tự do tôn giáo hay tín ngưỡng nói chung.

Điểm thứ hai, tôi muốn đưa ra những quan ngại về việc có tồn tại một tư cách pháp nhân nào khác đối với một số cộng đồng không được đăng ký như tổ chức tôn giáo. Với các tiêu chí khá cao như quy định trong Điều 16 của Pháp lệnh, việc các cộng đồng tôn giáo hoặc tín ngưỡng có một phương án lựa chọn đáng tin cậy để được nhận một hình thức tư cách pháp nhân nào đó – nếu họ muốn – là rất quan trọng. Với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, Nhà nước có trách nhiệm cung cấp khuôn khổ pháp lý và thể chế phù hợp để các cộng đồng tôn giáo và tín ngưỡng có thể hoạt động tự do, không phải chịu những gánh nặng không phù hợp và không có sự phân biệt đối xử. Điều này bao gồm phương án lựa chọn để các cộng đồng tôn giáo và tín ngưỡng có thể nhận được các tư cách pháp nhân khác mà họ có thể cần để thực hiện các chức năng cộng đồng quan trọng khác như mua bất động sản, tuyển dụng nhân viên chuyên nghiệp, vận hành các tổ chức từ thiện, thiết lập các viện đào tạo chức sắc tôn giáo hay giáo dục thế hệ trẻ, vv.. Không có, và không thực sự tiếp cận được với vị trí tư cách pháp nhân phù hợp, tương lai phát triển của các cộng đồng tôn giáo và tín ngưỡng, đặc biệt là các nhóm nhỏ, có thể bị nguy hiểm nghiêm trọng. Tôi được biết rằng có khả năng cho các cộng đồng tôn giáo đăng ký như các hiệp hội, nhưng tôi không có điều kiện để tìm hiểu kỹ hơn phương án này trên thực tế đã được áp dụng đến mức độ nào.

Trao đổi với nhiều đại diện khác nhau của Chính phủ về vấn đề đăng ký, tôi tin rằng đây là một vấn đề cần quan tâm, đòi hỏi các biện pháp lập pháp và các biện pháp khác. Tôi khuyến nghị rằng những cải cách pháp lý mới cần (1) làm rõ rằng tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, với vị thế là một quyền con người, cao hơn bất kỳ một hành vi phê duyệt hành chính nào và có thể được thực hành bởi các cá nhân và các nhóm người trước khi đăng ký và độc lập với việc đăng ký; đem lại cho các cộng đồng tôn giáo các phương án lựa chọn đáng tin cậy và dễ tiếp cận hơn để họ có được tư cách pháp nhân phù hợp nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển tự do của một cơ cấu tổ chức phù hợp. Ban Tôn giáo Chính phủ cần đóng một vai trò cốt yếu trong việc hướng dẫn và đào tạo các cơ quan địa phương diễn giải các quy định theo các quyền con người phổ quát.

d) Vấn đề truy đòi khắc phục pháp lý

Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định mọi người có quyền khiếu nại với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc thực thi hiệu quả các quyền con người, bao gồm tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, phụ thuộc nhiều vào sự tồn tại của một cơ chế truy đòi khắc phục pháp lý phù hợp. Mọi người phải có thể khắc phục, mà không bị yêu cầu đáp ứng những giới hạn hay gánh nặng bất hợp lý nào, bằng những công cụ pháp lý để có thể không thừa nhận một quyết định được cơ quan chức năng đưa ra nếu họ thấy các quyền có họ đã bị vi phạm, căn cứ vào tất cả các nguyên tắc về đảm bảo một quá trình thích đáng và công bằng. Mục đích chính của biện pháp truy đòi khắc phục pháp lý không phải để xác định xem cá nhân nào trong hệ thống hành chính đã làm sai, mà để đảm bảo việc thực hiện một cách nhất quán các quyền con người cho tất cả mọi người.

Khi hỏi về các ví dụ liên quan đến các vụ việc trong đó người dân thành công trong việc không thừa nhận và khắc phục những cáo buộc vi phạm tự do tôn giáo và tín ngưỡng của họ như được quy định tại Điều 24 của Hiến pháp, tôi được biết chưa có trường hợp nào như vậy được biết đến ở Việt Nam. Kể cả thành viên của Tòa án Nhân dân Tối cao cũng không biết một vụ việc nào. Đây là một kết quả đáng ngạc nhiên – và càng ngạc nhiên hơn khi trong thực tế có nhiều mâu thuẫn về đất đai đã được thông tin đến tôi. Một số mâu thuẫn có vẻ có liên quan đến khía cạnh tự do tôn giáo, ví dụ như khi mảnh đất trước kia đã được dùng cho nghĩa địa tôn giáo hay các nhà thờ tự đã bị lấy đi để phục vụ phát triển kinh tế.

Khi trao đổi về vấn đề biện pháp truy đòi khắc phục pháp lý, khả năng thường được nhắc đến là gửi đơn kháng nghị đến cấp hành chính cao hơn. Tuy nhiên phương án này không thể được tính là tương đương với một cơ quan tư pháp độc lập có nhiệm vụ bảo đảm quyền con người của tất cả mọi người, bao gồm trường hợp xung đột giữa cá nhân hay nhóm người với cơ quan hành chính. Mặc dù tôi đã nghe nói có một số trường hợp kháng nghị lên cấp cao hơn, bao gồm cả Thủ tướng, đã giúp giảm nhẹ mâu thuẫn, nhưng trong nhiều trường hợp khác, người kháng nghị không thấy cơ quan hành chính có phản ứng gì. Với một số trường hợp khác, cấp hành chính cao hơn chỉ đơn thuần chuyển lại vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền ở địa phương để xem xét lại, nghĩa là vụ việc có thể rơi vào quên lãng. Từ góc độ pháp quyền, tình trạng này còn xa mới được coi là thỏa mãn tinh thần thượng tôn pháp luật.

III. Quyền tự chủ của các cộng đồng tôn giáo và tín ngưỡng

a) Thái độ tiêu cực đối với các cộng đồng tôn giáo chưa được công nhận

Các đại diện của Chính phủ đã nhấn mạnh nhiều lần là tôn giáo có thể và cần đóng góp vào sự phát triển của đất nước, không chỉ bằng cách khuyến khích các giá trị xã hội, đạo đức và công dân. Sự trông đợi này được phản ánh vào Pháp lệnh về Tôn giáo và Tín ngưỡng, trong đó tại Điều 2, câu thứ hai quy định: “Chức sắc nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật.”

Dựa trên giả định rằng hầu hết các giá trị tôn giáo và lợi ích của Nhà nước trùng nhau, nhiều tôn giáo đã trở thành thành viên của Mặt trận Tổ quốc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tổ chức tôn giáo lớn nhất trong Mặt trận Tổ quốc là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam. Các cộng đồng tôn giáo được công nhận chính thức khác cũng góp một phần lớn vào Mặt trận Tổ quốc.

Khi thảo luận vấn đề này với Văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tôi được biết Giáo hội gồm chín hệ phái Phật giáo theo truyền thống Đại thừa (phổ biến ở Việt Nam), Tiểu thừa và các nhánh khác. Hợp tác trong tinh thần đoàn kết, nhiều hệ phái có thể duy trì những đặc tính và bản sắc riêng, bao gồm những di sản ngôn ngữ khác nhau. Điều này cũng được khẳng định trong những cuộc trao đổi tại hai ngôi chùa Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh nơi thực hành Phật giáo Tiểu thừa. Tuy nhiên, trong khi công nhận sự đa dạng ngay trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tôi lưu ý thấy thái độ phủ nhận các thực hành Phật giáo bên ngoài Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Một vài chức sắc trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết họ chưa bao giờ nghe thấy các nhóm Phật tử độc lập ở Việt Nam. Một số vị khác ám chỉ đến “quan điểm riêng” của một số cá nhân bị dẫn dắt bởi các tham vọng có vấn đề về mặt đạo đức và không đáng được chú ý nghiêm túc. Việc gán những mối quan tâm “ích kỷ” vặt vãnh cho những người đang thực hành Phật giáo hay các tổ chức tôn giáo ngoài các kênh chính thống là một điều được lặp đi lặp lại trong các cuộc trao đổi. Điều này có vẻ trùng hợp với việc “lợi ích của số đông” thường được nhắc đến, với giả định là lợi ích của số đông sẽ được đặt lên trên quyền của những người thiểu số hay các cá nhân.

Tôi muốn nhấn mạnh là trong bối cảnh này, tự do tôn giáo tín ngưỡng không chỉ đơn thuần là vấn đề thiểu số. Là một quyền con người, nó liên quan đến tất cả con người, bất kể họ có theo một tôn giáo chiếm số đông hay thuộc về một cộng đồng thiểu số, hay không thuộc về một cộng đồng tôn giáo nào. Cần đặc biệt chú ý đến cách thức đối xử với những người thiểu số, vì cách thức đối xử với thiểu số thường cho thấy bầu không khí chung của một xã hội có khoan dung hay không. Khi các cộng đồng thiểu số có thể hoạt động tự do và độc lập, thành viên của một nhóm đa số nhìn chung cũng có nhiều không gian hơn để thực hành tôn giáo của chính họ theo cách họ thấy phù hợp. Bất kỳ sự tôn trọng nào với quan điểm cá nhân, bao gồm cả quan điểm bất đồng, đều tạo điều kiện cho những dòng tư duy tự do luân chuyển trong một xã hội nói chung, và vì thế cũng làm phong phú sự tương tác của những người thuộc các nhóm đa số. Tuy nhiên, tôi đã lưu ý thấy trong một số cuộc trao đổi, “lợi ích của đa số” đã được viện dẫn với mục đích rõ ràng là để phủ nhận yêu cầu của thiểu số là không phù hợp, hoặc để cho rằng những yêu cầu ấy là không chính đáng vì có vấn đề đạo đức. Việc này cũng xảy ra khi vấn đề các tổ chức tôn giáo độc lập – như Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, các nhóm độc lập theo đạo Hòa Hảo, Cao Đài hay Tin lành – được nêu ra.

Trong các cuộc gặp gỡ với các đại diện của cộng đồng Phật giáo độc lập, tôi được nghe những khiếu nại về tình trạng đàn áp vẫn diễn ra, bao gồm việc công an triệu tập, giữ tại nhà, bỏ tù và tịch thu tài sản, những việc sẽ cản trở các cá nhân thực hành tự do tôn giáo hay tín ngưỡng kể cả ở mức tối thiểu. Mặc dù tôi không thể phân tích một cách thỏa đáng và chi tiết tất cả những khiếu nại đó (việc này sẽ cần nhiều thông tin hơn từ tất cả các bên liên quan), thái độ chung phủ nhận các thực hành tôn giáo không chính thức, như tôi đã gặp trong nhiều cuộc trao đổi, là một dấu hiệu cho thấy rõ ràng rằng cộng đồng Phật tử độc lập hiện không thể thực hành tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Bên cạnh đó, một số nhà sư tự gọi mình là “Khmer Krom” cũng muốn có thêm quyền tự chủ không chỉ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà còn cả bên ngoài tổ chức Phật giáo có tính bao trùm này. Tình hình của các cộng đồng Hòa Hảo độc lập cũng có vẻ khó khăn như vậy.

Một tôn giáo ít được biết đến bên ngoài Việt Nam là đạo Cao Đài. Đạo này tập hợp nhiều truyền thống của Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo và Cơ đốc giáo với một số phương thức truyền dạy mới. Giống như trường hợp của Phật giáo, tín đồ Cao Đài chia ra thành nhóm những người là thành viên của Mặt trận Tổ quốc và nhóm những người nhất quyết thực hành tôn giáo độc lập. Mối quan hệ giữa hai nhóm có vẻ căng thẳng. Trong khi các nhóm Cao Đài chính thức cáo buộc nhóm không chính thống là có tư tưởng chia rẽ và gây ra “hoang mang” trong nhân dân, nhóm Cao Đài độc lập cho rằng truyền thống chân truyền của họ bị Chính phủ can thiệp nên, họ cho rằng, đã dẫn đến áp đặt những thay đổi trong tôn giáo Cao Đài. Mặc dù tôi không ở vị trí phù hợp để đánh giá các chi tiết thần học trong mâu thuẫn giữa hai bên, nhưng tôi trông đợi Chính phủ đảm bảo việc hoạt động tự do của các cộng đồng Cao Đài độc lập và tạo điều kiện cho sự phát triển của các cộng đồng này theo cách mà bản thân họ thấy phù hợp. Tình trạng hiện nay của các nhóm Cao Đài độc lập rõ ràng là không phù hợp với tự do tôn giáo tín ngưỡng, vì các cộng đồng này thiếu cơ sở vật chất phù hợp để cầu nguyện và truyền dạy, và cho biết thường phải chịu sức ép để gia nhập các nhóm chính thức..

b) Đào tạo và bổ nhiệm giáo chức.

Số các cơ sở đào tạo giáo chức của các tôn giáo khác nhau – Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và các tôn giáo khác – đã tăng đáng kể trong những thập kỷ gần đây. Tôi được Chính phủ cho biết hiện nay có khoảng 45.000 cơ sở đào tạo tôn giáo trong cả nước. Trong khi các cộng đồng tôn giáo quyết định những phần chính trong chương trình đào tạo – nghĩa là việc dạy các giáo lý, thực hành và nghi lễ, lịch sử của cộng đồng và các vấn đề khác – chương trình cũng bao gồm các môn học về lịch sử và luật pháp Việt Nam và chủ nghĩa Mác_Lênin, do Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp.

Các cộng đồng tôn giáo có thể bổ nhiệm và suy cử chức sắc tôn giáo theo quy định riêng của họ. Họ cho biết quyết định bổ nhiệm của họ không cần chính quyền phê duyệt, nhưng cần đăng ký chức sắc tôn giáo đã được bổ nhiệm. Về việc bãi chức danh tôn giáo hay sư tăng, việc này có vẻ hiếm xảy ra, các quyết định nhìn chung cũng do cộng đồng tôn giáo đưa ra, theo giáo luật của họ. Tuy nhiên, tôi cũng đã gặp một số cáo buộc về việc Chính phủ can thiệp vào một số trường hợp trong đó nhà sư bị bắt bỏ áo tu. Tôi không thể xác định các chi tiết cần thiết để đánh giá rõ ràng những trường hợp này. Tuy nhiên, việc chỉ có rất ít các phương án lựa chọn cho một đời sống cộng đồng tôn giáo tự chủ, chắc chắn dẫn đến một tình trạng cơ cấu trong đó việc bổ nhiệm hay bãi nhiệmtrên thực tế có thể chịu ảnh hưởng bởi những lợi ích của Chính phủ..

c) Các vấn đề tài sản và đất đai

Trong chuyến thăm, nhiều vấn đề tài sản đã được trao đổi với tôi, không chỉ từ thành viên của các cộng đồng tôn giáo không được công nhận mà bởi cả đại diện của các cộng đồng đang hợp tác với Chính phủ trong Mặt trận Tổ quốc. Nhiều yêu cầu về tài sản liên quan đến bất động sản và/hoặc đất đai. Để phục vụ phát triển kinh tế hoặc các dự án hiện đại hóa khác, một số cộng đồng tôn giáo đã mất – hoặc đang bị đe dọa mất – một phần lớn đất đai của họ. Tôi nhiều lần nghe được những yêu cầu trả lại cho các cộng đồng tôn giáo những tài sản họ đã bị lấy đi.

Thông thường việc tranh chấp tài sản cần có những thông tin chính xác về các tình tiết phức tạp, mà tôi không thể thu thập đủ các thông tin này. Vì thế tôi sẽ hạn chế mình trong phạm vi một số nhận xét chung. Có bất động sản và đất đai là một trong những điều kiện tiên quyết căn bản cho đời sống cộng đồng tôn giáo. Sở hữu rõ ràng và được đảm bảo vững chắc vì thế là một yếu tố quan trọng xác định quyền tự chủ của các cộng đồng tôn giáo – hay việc họ thiếu quyền tự chủ. Thêm nữa, một số cộng đồng có những gắn bó về văn hóa và tôn giáo mạnh mẽ với một mảnh đất cụ thể, ví dụ, nơi chôn cất tổ tiên của họ. Một trường hợp đặc biệt liên quan đến vấn đề này là cộng đồng Chăm đang thực hành đạo Hồi và Ấn độ giáo. Người Chăm coi mình là một nhóm dân cư bản địa và nỗ lực để được công nhận như vậy.

Đại diện của Chính phủ công nhận rằng ở Việt Nam có mâu thuẫn đất đai – cũng như ở nhiều nước khác. Đồng thời, họ nghi ngờ việc mâu thuẫn đất đai có thể ảnh hưởng đến tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Ít nhất trong một vài trường hợp, nhu cầu tôn giáo rõ ràng có vai trò quan trọng. Ví dụ, đại diện của các nhóm Tin Lành cho tôi biết về những trường hợp ở nông thôn trong đó nhiều giáo xứ Tin Lành bị gộp lại thành một để “dễ quản lý hơn”. Họ cũng cho biết, việc sáp nhập như vậy không phải luôn luôn được tiến hành với sự tôn trọng thỏa đáng đối với sự khác biệt trong những hệ phái Tin Lành khác nhau, và nhu cầu của giáo dân.

Những mâu thuẫn về vấn đề đất đai, đặc biệt khi có thêm yếu tố tôn giáo, luôn cần được xử lý một cách tinh tế với mục tiêu là đưa ra những giải pháp chấp nhận được cho tất cả các bên có quan tâm. Việc thiếu biện pháp khắc phục pháp lý như đã nêu ở trên – đặc biệt trong ngành tư pháp – cũng có ảnh hưởng mạnh đến tình trạng đất đai và các vấn đề tài sản liên quan đến các cộng đồng tôn giáo. Trong khi trao đổi với đại diện của nhiều cộng đồng tôn giáo – bao gồm cả những cộng đồng hợp tác với Chính phủ trong Mặt trận Tổ Quốc – tôi nhận thấy một nỗi thất vọng lớn về các thủ tục pháp lý không hiệu quả. Kết quả là, một số cộng đồng tôn giáo thấy họ bị phụ thuộc vào sự ban ơn của chính quyền địa phương.

IV. Thực hành tôn giáo trong những hoàn cảnh đặc biệt

a) Phạm nhân

Như đã đề cập, Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định dành cho mọi người chứ không dành riêng cho công dân. Vì thế, phạm nhân, ngay cả khi tạm thời mất đi các quyền công dân đầy đủ, cũng cần, trong bất kỳ trường hợp nào, được thụ hưởng tự do tôn giáo hay tín ngưỡng như một quyền con người. Khi thảo luận vấn đề này tôi nhận được những thông tin trái ngược. Các cơ quan chính phủ nhìn chung nhấn mạnh rằng phạm nhân có thể thực hành tôn giáo trong phạm vi trại giam nếu việc đó không ảnh hưởng tiêu cực đến các phạm nhân khác và những hoạt động chung của trại giam. Những người khác đã trải qua cuộc sống trong tù thì nói rằng các hoạt động tôn giáo ít khi được cho phép trong tù; ngay cả việc nhận và giữ kinh sách hay tài liệu tôn giáo cũng thường bị cấm. Vấn đề này rõ ràng cần được chú ý nhiều hơn.

Việc tổ chức giáo đoàn cho trại giam, nghĩa là chức sắc của các tôn giáo khác nhau giúp hỗ trợ nhu cầu tinh thần cho phạm nhân, theo yêu cầu của phạm nhân, không tồn tại ở Việt Nam. Tuy nhiên, đại diện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam giải thích rằng họ sẽ tăng cường việc phục vụ trong các trại giam, bao gồm việc thuyết giảng để khai trí về xã hội và đạo đức cho phạm nhân. Các giáo sỹ Thiên Chúa giáo cũng thỉnh thoảng làm lễ cho phạm nhân. Các mục sư Tin Lành tôi đã trao đổi về vấn đề này cho biết họ không thấy có bất kỳ sự hỗ trợ tinh thần nào đối với phạm nhân theo đạo Tin lành.

b) Quân nhân

Quân đội Việt Nam không có hệ thống giáo đoàn quân đội để đáp ứng nhu cầu tôn giáo hay tinh thần của quân nhân. Tuy nhiên, tương tự như trong trại giam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam có lẽ đang cố gắng tăng cường hoạt động này. Tôi được cho biết các vị sư cầu nguyện cho quân nhân đang phục vụ tổ quốc trong những trường hợp phức tạp. Họ cũng có thể dạy phương pháp thiền để giúp quân nhân khắc phục những khó khăn trong nhiệm vụ và điều kiện sinh hoạt.

Từ chối không phục vụ trong quân đội với lý do lương tâm không được biết đến ở Việt Nam, và không có phương án phục vụ dân sự cho các cá nhân phản đối cầm vũ khí vì lý do lương tâm. .

V. Báo cáo về các trường hợp vi phạm quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng

Tôi đã được nghe một số cáo buộc nghiêm trọng về các vi phạm cụ thể đối với quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng ở Việt Nam. Các vi phạm được báo cáo gồm có những vụ vây bắt nặng tay của công an; những trường hợp thường xuyên được mời lên đồn công an “làm việc”; các hoạt động tôn giáo bị giám sát chặt chẽ; các lễ hội và nghi thức làm lễ tôn giáo bị cắt ngang; các vụ giữ tại nhà, đôi khi trong thời gian dài; các vụ bỏ tù, đôi khi cũng trong cả một quãng thời gian dài; các vụ đánh đập và hành hung; bị mất việc làm; mất phúc lợi xã hội; gây áp lực đối với những người trong gia đình; hành động phá hoại; phá dỡ những nơi thờ tự, nghĩa trang và các nhà tang lễ; tịch thu tài sản; gây áp lực một cách có hệ thống để phải từ bỏ một số hoạt động tôn giáo nhất định và chuyển sang hoạt động theo các kênh chính thức được thiết lập cho việc thực hành tôn giáo; và gây áp lực để bắt từ bỏ tôn giáo hay tín ngưỡng. Tôi cũng đã gặp một tù nhân lương tâm tại trại giam nơi đang thụ án.

Các cáo buộc nói trên có mức độ khác nhau và được đưa ra bởi những người thuộc các cộng đồng Phật giáo độc lập, các cá nhân thuộc nhiều cộng đồng Tin lành (trong đó một số 12 cộng đồng đã được đăng ký chính thức), một số nhóm Công giáo ở địa phương, những người thuộc các tổ chức Cao Đài độc lập, một số người theo các rao giảng tôn giáo mới như Dương Văn Mình, và nhiều nhóm khác. Do bị gây áp lực và bị khởi tố, một số người đã phải bỏ trốn hoặc chạy ra nước ngoài do lý do tôn giáo. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng việc đăng ký chính thức theo quy định của Chính phủ không phải là điều kiện bảo đảm cho quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng được tôn trọng một cách đầy đủ. .

Tôi muốn giải thích rõ một thực tế rằng chuyến thăm quốc gia trong vai trò Báo cáo viên Đặc biệt không phải nhằm mục đích đánh giá sâu các trường hợp cụ thể. Để phân tích một cách toàn diện về các trường hợp cụ thể, cần phải có nhiều thông tin hơn nữa để có một bức tranh đầy đủ về các sự kiện thực tế có liên quan và được nhìn từ góc độ của tất cả các bên liên quan. Thay vào đó, mục đích chuyến thăm quốc gia của Báo cáo viên Đặc biệt là để đánh giá mức độ tin cậy trong các cáo buộc liên quan đến các vấn đề nhân quyền và lạm dụng nhân quyền. Không định kiến về tính chính xác của tất cả các sự kiện thực tế của tất cả các trường hợp cụ thể đã được báo cáo với tôi, tôi tin rằng, những vi phạm nghiêm trọng đối với quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng là một thực tế đang diễn ra ở Việt Nam – nhất là ở các vùng nông thôn, tuy không phải chỉ có ở nông thôn.

Đánh giá chung này không chỉ dựa trên các cuộc phỏng vấn và các tư liệu mà tôi nhận được từ những người bảo vệ nhân quyền và thành viên của nhiều cộng đồng tôn giáo khác nhau, mà còn liên quan mật thiết đến những quan sát một cách có hệ thống mà tôi đã mô tả ở phần đầu của tuyên bố báo chí này, bao gồm:

– thái độ nhìn chung là tiêu cực và tùy tiện đối với các quyền của các nhóm thiểu số và cá nhân thực hành tôn giáo ngoài các kênh chính thức đã được thiết lập;

– việc thường xuyên viện dẫn một cách thiếu cụ thể về “lợi ích của đa số” hoặc lợi ích của “trật tự xã hội”;

– Các điều khoản hạn chế quá rộng về nhân quyền nói chung và quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng nói riêng;

– Cách trình bày không rõ ràng trong Bộ luật Hình sự, cụ thể là Điều 258 liên quan đến việc “lạm dụng” tự do dân chủ;

– Hệ thống tư pháp chưa có cơ chế truy đòi khắc phục pháp lý đủ hiệu quả mà người dân có thể tiếp cận một cách dễ dàng, v.v… .

Những điều kiện đó đã tạo ra một cơ chế dễ gây tổn thương cho một số cá nhân và cộng đồng nhất định, phù hợp với báo cáo về các vi phạm nói trên.

Trong bối cảnh này, tôi muốn nhấn mạnh rằng thông qua nhiều cuộc trao đổi thảo luận của tôi với các thành viên của các cộng đồng tôn giáo, mà một vài tổ chức trong số đó đã chính thức đăng ký với chính quyền và thậm chí còn là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mọi người đã bộc lộ nhận thức chung về những hạn chế hiện tại trong quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Điều đáng ngạc nhiên hơn cả là các lãnh đạo cấp cao của tòa án chưa hề nghe đến bất kỳ trường hợp nào một cáo buộc vi phạm quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng đã được đưa ra tòa.

Một khía cạnh quan trọng cũng được nhắc đến trong nhiều cuộc thảo luận, đó là sự phân chia giữa nông thôn với thành thị. Điều kiện hoạt động của các cộng đồng tôn giáo có thể rất khác nhau, tùy theo thông lệ ở các địa phương khác nhau trong nước. Ngoài ra, các chính sách của Ban Tôn giáo Chính phủ trung ương dường như chưa được phổ biến một cách hiệu quả xuống các cấp chính quyền địa phương.  .

VI. Nhận xét kết luận

Điều khoản tham chiếu cho chuyến thăm quốc gia của Báo cáo viên Đặc biệt có các yêu cầu đảm bảo “việc tiếp xúc một cách bí mật và không bị giám sát với các nhân chứng và nguồn tin riêng” và “Chính phủ phải bảo đảm rằng trong số những người đã tiếp xúc chính thức hoặc tiếp xúc riêng với Báo cáo viên Đặc biệt […] trong các dịp có liên quan đến nhiệm vụ của Báo cáo viên đặc biệt sẽ không có một ai bị đe dọa, sách nhiễu, trừng phạt, hoặc phải chịu các thủ tục tố tụng tư pháp do đã gặp Báo cáo viên Đặc biệt”. Những điều kiện này đã không được tôn trọng, như tôi đã đề cập ở trên, với sự vi phạm nguyên tắc bảo mật. Do đó phần sau của chuyến thăm quốc gia đã bị gián đoạn.

Sự gián đoạn này càng đáng tiếc hơn vì tôi đã nhận thấy một số chuyển biến tích cực ở cấp trung ương. Hầu hết các đại diện của các cộng đồng tôn giáo đều đồng ý rằng, mặc dù có những vấn đề nghiêm trọng còn đang tồn tại nhưng điều kiện thực hành tôn giáo của họ đã được cải thiện trong những năm gần đây. Các cộng đồng tôn giáo bị cấm hoạt động sau năm 1975 hiện nay đã được phép hoạt động. Hơn nữa, một số đại diện của các cơ quan Chính phủ đã bày tỏ mong muốn xem xét những thay đổi trọng yếu trong quá trình thay thế Pháp lệnh Tôn giáo và Tín ngưỡng hiện nay bằng một luật mới để điều chỉnh những vấn đề này. Thực sự không nên bỏ lỡ một cơ hội như thế, vì đó có thể là một bước ngoặt để Việt Nam bảo vệ quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. .

Phép thử để đánh giá sự phát triển quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng ở Việt Nam là điều kiện hoạt động của các cộng đồng tôn giáo độc lập. Theo tình hình hiện nay, khả năng để họ hoạt động như các cộng đồng độc lập rất không an toàn và rất hạn chế; điều này rõ ràng là một vi phạm đối với Điều 18 của Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là một quốc gia thành viên. Văn bản luật sắp được xây dựng về tôn giáo và tín ngưỡng cần làm rõ rằng việc đăng ký với chính quyền là một đề nghị, chứ không phải là một yêu cầu pháp lý. Đồng thời, các cộng đồng cần có nhiều phương án lựa chọn khác đáng tin cậy và dễ tiếp cận để đạt được tư cách pháp nhân nhằm xây dựng hạ tầng thích hợp. Một ưu tiên hiển nhiên khác là xây dựng một cơ chế truy đòi khắc phục pháp lý hữu hiệu và dễ tiếp cận nhằm sửa chữa điều chỉnh những vi phạm đối với quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng của các cá nhân hay nhóm người.

Để kết luận, tôi xin nhắc lại lời cảm ơn đối với Chính phủ Việt Nam đã mời tôi thực hiện chuyến thăm quốc gia này. Tôi tin rằng Chính phủ sẽ thực hiện đúng những yêu cầu bảo đảm cho tất cả những ai đã làm việc cùng tôi trong chuyến thăm này và những ai đã gặp và tiếp xúc với tôi trong chuyến công tác này sẽ không bị đe dọa, sách nhiễu, trừng phạt hoặc phải chịu các thủ tục tố tụng tư pháp sau chuyến thăm quốc gia này. Tôi sẽ tiếp tục liên hệ với họ và theo dõi sự an toàn của họ. Bất kỳ sự cố nào có tính trả thù đều sẽ được báo cáo lên Hội đồng Nhân quyền và Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.

Tôi vui mừng nếu được đóng góp ý kiến chuyên môn của tôi với tư cách là Báo cáo viên Đặc biệt trong tiến trình Chính phủ Việt Nam cải thiện các điều kiện pháp lý và hạ tầng nhằm thúc đẩy quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng cho tất cả mọi người. Tôi cũng sẽ tiếp tục làm việc với Chính phủ Việt Nam trên tinh thần hợp tác xây dựng.

—————————————————————————————————————————————————————————–

1 Bản Hiến pháp sửa đổi đã được Quốc Hội thông qua ngày 28/11/2013.

2 Xem điều 38 Pháp lệnh Tôn giáo và Tín ngưỡng: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Pháp lệnh này thì thực hiện theo quy định của điều ước đó.” 

3 Điều 18, khoản 3 ICCPR.

4 Điều 14, khoản 2 Hiến pháp 2013. 

5 Điều 16 khoản 1 Pháp lệnh Tôn giáo và Tín ngưỡng quy định như sau:

1. Tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc;

b) Có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật;

c) Có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định;

d) Có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp;

đ) Có tên gọi không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận 

Những người cộng sản muốn cải tổ

2-001-305.jpg

Trang thứ nhất bản kiến nghị do 61 đảng viên đảng cộng sản Việt Nam gửi đến Ban chấp hành trung ương Đảng đề nghị hai điểm: từ bỏ chế độ toàn trị, và bạch hóa thông tin về hội nghị Thành Đô năm 1991 với Trung Quốc, hôm 28/7/2014.

Screen capture

Ngày 28/7/2014, 61 đảng viên đảng cộng sản Việt Nam gửi kiến nghị đến Ban chấp hành trung ương Đảng đề nghị hai điểm: từ bỏ chế độ toàn trị, và bạch hóa thông tin về hội nghị Thành Đô năm 1991 với Trung Quốc. Giáo sư Tương Lai một trong 61 đảng viên đạt bút ký, lên tiếng với RFA về bản kiến nghị này.

Muốn cứu đảng ra khỏi suy thoái

Kính Hòa: Thưa Giáo sư, từ trước đến giờ đã có những kiến nghị như thế này rồi, lần này Giáo sư đánh giá thế nào về khả năng lắng nghe của Ban chấp hành trung ương Đảng (BCHTƯ)?

GS Tương Lai: Về khả năng lắng nghe thì chúng tôi còn đang chờ đợi. Nhưng khi mà gửi bức thư này đến BCHTƯ và toàn thể đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, thì chúng tôi, một nhóm những người đảng viên của đảng, những người cho đến hiện nay vẫn đứng trong đội ngũ của đảng, chúng tôi muốn biểu tỏ thái độ của chúng tôi vì lý do gì cho đến giờ phút này, chúng tôi vẫn đứng trong đảng, trong lúc có một số người hô hào ra khỏi đảng.

Cái lý do mà chúng tôi đứng lại trong đảng vì chúng tôi muốn rằng với tư cách là một người đảng viên, chúng tôi muốn làm sao cứu đảng ra khỏi cơn suy thoái trầm trọng này. Mà suy thoái trầm trọng vì cái đường lối lý luận sai lầm. Suy thoái về đường lối lý luận sai lầm đó nó dẫn tới một suy thoái nghiêm trọng khác là sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Nhân danh ý thức hệ Xã hội chủ nghĩa, và nhân danh cùng do đảng cộng sản lãnh đạo, Trung Quốc thao túng đảng cộng sản Việt Nam và những người lãnh đạo Việt Nam, biến họ phụ thuộc vào Trung Quốc. Và chính sự phụ thuộc đó đã làm cho uy tín của đảng càng ngày càng giảm sút, mất niềm tin trầm trọng trong đảng viên và trong nhân dân. Cái việc đảng mất uy tín trầm trọng đó có trách nhiệm của tất cả các đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, trong đó có chúng tôi. Nhưng trước hết trách nhiệm thuộc về bộ phận lãnh đạo là Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương.

Chúng tôi muốn rằng với tư cách là một người đảng viên, chúng tôi muốn làm sao cứu đảng ra khỏi cơn suy thoái trầm trọng này.
-GS Tương Lai

Kỳ này nhân việc BCHTƯ sắp họp một hội nghị, mà chuyên đề theo chúng tôi biết là bàn về biển Đông, bàn về kiện Trung Quốc. Chúng tôi nghĩ đây là thời cơ chúng tôi đưa ra bức thư ngỏ này, đưa ra lời kêu gọi. Vì tôi cho rằng đây là cái thời điểm rất quyết định.

Trong dịp này chúng tôi muốn Đảng cộng sản Việt Nam, mà trước hết là BCHTƯ, cơ quan cao nhất của đảng, phải có sự chuyển biến mạnh mẽ để lấy lại niềm tin của dân. Mà muốn lấy lại niềm tin của dân khi mà uy tín đã xuống tận đáy rồi thì không có gì khác là giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ. Muốn giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ thì phải đi với dân, giải phóng dân, không đặt cái ách cai trị theo chế độ toàn trị phản dân chủ của một đảng cầm quyền nhân danh ý thức hệ cộng sản, ý thức hệ xã hội chủ nghĩa nhưng mà lại thực hiện một chế đọ chuyên chế nặng nề đè nặng lên đời sống của nhân dân.

2-002-250.jpg
Trang thứ hai bản kiến nghị do 61 đảng viên đảng cộng sản Việt Nam gửi đến Ban chấp hành trung ương Đảng đề nghị hai điểm: từ bỏ chế độ toàn trị, và bạch hóa thông tin về hội nghị Thành Đô năm 1991 với Trung Quốc, hôm 28/7/2014. Screen capture.

Kính Hòa: Giáo sư vừa nói đến vấn đề ý thức hệ. Nếu nhớ không lầm thì trước đây Giáo sư cũng chính là người đòi hỏi đổi tên đảng Cộng sản thành đảng Lao động. Vậy thì có phải lần này mà ý thức hệ bị thách thức cao nhất kể từ khi có những bảng kiến nghị phải không ạ?

GS Tương Lai: Tôi cũng không biết có phải là lần này là lần thách thức cao nhất. Vấn đề này tôi sẽ suy nghĩ thêm.

Năm 1951 khi đổi tên Đảng cộng sản Đông dương sang Đảng cộng sản Việt Nam, sang Đảng Lao động Việt Nam thì chủ tịch Hồ Chí Minh có nói rằng Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cho nên phải là đảng của dân tộc.

Không phải ngẫu nhiên mà mở đầu cho bảng Tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh dẫn ra các câu nói bất hủ trong bảng Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ và trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp.

Bây giờ trở lại với cái tên, nước là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đảng là đảng Lao động Việt Nam thì cái Đảng hiện nay mới có cơ may lấy lại được uy tín, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của dân. Tôi thấy là cũng có nhiều người đề cập đến vấn đề này. Thậm chí cái hồi thảo luận về Hiến pháp cũng có đề nghị thay đổi tên nước là Việt Nam dân chủ cộng hòa thay cho Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Kính Hòa: Cám ơn Giáo sư đã dành thì giờ cho RFA thực hiện cuộc phỏng vấn này.

(VNTB)-Phạm Chí Dũng trả lời ABC về báo giới độc lập ở Việt Nam

http://www.ijavn.org/2014/07/vntb-pham-chi-dung-tra-loi-abc-ve-bao.html

(VNTB)-Journalist Pham Chi Dung talked to Auskar Surbakti (ABC TV 24 Australian world news program The World 28 July 2014) about the suppression of freedom of the press in Vietnam. (please see link and full transcript below)

http://www.abc.net.au/news/abcnews24/programs/the-world/

Ngày 28/7/2014, Đài truyền hình ABC (Chương trình tin tức thế giới The World) của Australia đã phát cuộc phỏng vấn giữa xướng ngôn viên Auskar Surbakti của ABC với nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng ở Việt Nam về tình trạng báo giới độc lập tại quốc gia  này.

Dưới đây là video và nội dung tiếng Anh của bài phỏng vấn.

Phạm Chí Dũng Ph.D.

AUSKAR:

Mr Dung, thank you for joining us. First of all, you are the founder and Chairman of the Independent Association of Journalists in Vietnam – why did you set up this organisation?

PHAM CHI DUNG:

If in Vietnam we had freedom of the press, freedom of expression then there would be no need for us to form the Association of independent journalists. But in reality, in Vietnam, despite the fact that there’s more than 800 newspapers, there’s actually no freedom of expression. Everything is under the control of the State. There’s censorship, tight censorship, indirect censorship. There’s no freedom according to international protocols, so as a result we felt we need to form this association, which consists of the all the people who would like to speak independently, who would like to be critical of incorrect policies by the government.

AUSKAR:

You paint a very bleak picture for journalists in Vietnam. Are journalists in your country in any danger because of these restrictions you talk about?

PHAM CHI DUNG:

It’s not only those who oppose the government. Journalists who have independent views are subject to danger and intimidation, even State-owned media is also subject to this kind of intimidation from the government if they say things or write things that the censorship board doesn’t agree with.

We can see an example of a magazine called The Law and Society. In this State-owned paper there was an article about the police ministry involving some form of corruption, and this paper itself was subject to some kind of intimidation and threat from the government. So you can see that even journalists in state-owned media work in a dangerous environment. In relation to our association, we have to have a Plan B for when someone is locked up or detained, for example, I am the President of the Association. We have a plan if I’m detained, arrested or taken away, someone else will replace me. And then in the next stage if that person who replaces me is also detained then there is another succession plan. We also have a plan if all five of us on the executive board are locked up that there should be someone to continue our work, to speak out and to bring our plight to the nation and the world. May I also mention that preceding us in 2009 there was the Free Journalists club, it wasn’t even an association, it was just a club, founded by Dieu Cay Nguyen van Hai (pronounced Dew Cay), a well known blogger. Also Ms Ta Phong Tan also a well know blogger. They were just part of a club and already they are subject to very severe threats with Dieu Cay serving a 12 year sentence and Ta Phong Tan serving an 8 year sentence.

AUSKAR:

So as well as journalists in traditional media being arrested, we’re also seeing more recently online bloggers being arrested, can you explain the situation for people online and the dangers they face?

PHAM CHI DUNG:

Statistics from Amnesty International and Reporters Without Borders recently said there are currently about 35 bloggers locked up including some well known ones such as Mr Pham Viet Dao. Recently there was another well known one who was locked up, Anh Ba Sam. These bloggers expressed their opinions, the truth, but the reaction from the government was very brutal. These bloggers were charged with offences under the criminal code for saying the truth, for criticising the government for not doing a good job. There was very vague wording for the offences, including ‘plotting to subvert or to overturn the government’ and now after being criticised by the international community, the government changed the offences, and a lot of bloggers are now subject to criminal code 258, which means ‘taking advantage of democratic rights to harm the interests of the nation’.

AUSKAR:

What about the role of social media like facebook, youtube and twitter? Is the government censoring that as well, and are journalists who use social media subject to the same type of treatment?

PHAM CHI DUNG:

Currently there are about 2 million Facebook users in Vietnam. Currently there are about 34 million internet users, roughly a third of the population who have access to the internet. The rate of social media use is increasing remarkably. Since 2013 there has been a strong wave of public opposition, starting with a campaign from 72 intellectuals. They openly wrote a letter demanding a multi party system and democracy. They demanded change from the one party system. All this happened because of the use of the internet, all because people are getting used to using social media as a form of expression. If I can refer to the human rights dialogue organised with Australia at the end of July 2014, this is a amazing remarkable thing to happen in Vietnam. It will invite social media users, bloggers etc.

Without the information from social media, the world would not have been aware of the cases of worker rights advocates Ms Do Thi Minh Hanh, Doan Huy Chuong, Nguyen Hoang Quoc Hung, leading members of the nascent independent union movement in Vietnam being locked up, [Minh Hanh was released early recently, Doan Huy Chuong is serving 7 years’s jail, Nguyen Hoang Quoc Hung is serving 9 years’ jail].

I would like to say that without the internet, all these developments wouldn’t be happening, there wouldn’t be a strong voice for opposition, for human rights, and without the internet, Vietnam would have been as closed a society as North Korea.

AUSKAR:

Finally, what would you like the Vietnamese government to do now? Are there any positive signs that the government is doing anything to make things better for journalists in the country?

PHAM CHI DUNG:

What I would like the Vietnamese government to do is to respect the people’s basic freedom, including freedom of expression, freedom of the press, freedom of religion, freedom of association, freedom to express ideas, opinions. If I could recall the Universal Periodic Review on human rights organised by the UN in 2009 and 2014, Vietnam has always announced that it respects universal human rights, but just look at the reality. Right now as I talk to you a well known human rights advocate Dr Nguyen Dan Que is under very heavy police surveillance, the police surround his house. There’s also a number of religious leaders who the United Nations Special Envoy would like to visit, but their temples, their churches are being surrounded by the police, so they cannot talk with the UN envoy.

So my suggestion for the Australian government is – ok, Vietnam on one hand says it has respected human rights, but for Australia and the international community I strongly suggest you ask them how they’ve done that in practice, and contrast what they say and what they do and force them to make sure what they do fits in with what they say.

AUSKAR:

Mr Dung, thank you very much for your time.

Nhiều đảng viên kỳ cựu kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa xã hội

Thanh Phương, RFI, 29-7-14

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140729-nhieu-dang-vien-ky-cuu-keu-goi-dang-cong-san-viet-nam-tu-bo-chu-nghia-xa-hoi-chuye

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt. REUTERS

Trong một bức thư gởi Ban chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đề ngày 28/07/2014, nhiều đảng viên kỳ cựu, đứng đầu là thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, kêu gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam từ bỏ « đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội » để chuyển sang « đường lối dân tộc và dân chủ ».

Các tác giả của bức thư ghi nhận rằng, « từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc ».

Theo họ, chính đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa đã « tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh ».

Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mưu đồ đặt Việt Nam vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Các tác giả bức thư ghi nhận rằng sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay, Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Cho đến nay, thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ.

Trước thực trạng đó, những người ký tên vào bức thư, những đảng viên « trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng », kêu gọi Đảng từ bỏ « đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ », chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ « một cách kiên quyết nhưng ôn hòa ».

Họ cũng kêu gọi lãnh đạo Đảng và Nhà nước « thống nhất nhận định » về mưu đồ và hành động của Trung Quốc đối với Việt Nam, từ bỏ những nhận thức « mơ hồ, ảo tưởng », có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc.

Đặc biệt, những người ký tên vào bức thư yêu cầu Đảng phải công bố những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…

Họ cũng kêu gọi gọi các lãnh đạo Việt Nam phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế « nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa » của Việt Nam, đồng thời củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven Biển Đông, trong cuộc đấu tranh chống « mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình ».

Thư ngỏ gửi Ban chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok2014-07-29

Các nhà lãnh đạo đảng cộng sản VN ( từ phải ông Trương Tấn Các nhà lãnh đạo đảng cộng sản VN ( từ phải ông Trương Tấn Sang, ông Nguyễn Phú Trọng, ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Sinh Hùng)

Các nhà lãnh đạo đảng cộng sản VN ( từ phải ông Trương Tấn Sang, ông Nguyễn Phú Trọng, ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Sinh Hùng)

AFP

Bức thư ngỏ gửi cho Ban chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, do 61 đảng viên được nhiều người biết đến ký tên vào ngày 28 tháng 7 vừa qua.

Những điểm đáng chú ý của bức thư ngỏ là gì?

Cơ hội không thể bỏ lỡ!

Nội dung thư ngỏ thừa nhận sai lầm về đường lối của đảng cộng sản Việt Nam trong suốt thời gian mấy mươi năm qua dẫn đến tình trạng đất nước bị cho là khủng hoảng toàn diện và ngày càng tụt hậu.

Những đảng viên ký tên thừa nhận phần trách nhiệm của họ trước dân tộc về những sai lầm đó.Và nay trước tình thế mới khi mà Trung Quốc đã bộc lộ dã tâm muốn Việt Nam phụ thuộc nhằm phục vụ lợi ích của Bắc Kinh, những người từng gia nhập đảng cộng sản ngay những năm tháng đầu như cụ thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, hay những người gia nhập vào những thập niên 80, 90 đưa ra một số yêu cầu.

Đảng cộng sản Việt Nam phải ‘tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng CNXH, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa

Đó là đảng cộng sản Việt Nam phải ‘tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa’.

Theo những đảng viên ký tên thì ‘việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của Việt Nam’

Theo họ thì ‘Tổ quốc đang lâm nguy đồng thời đứng trước cơ hội lớn để thay đổi!’, ‘Bỏ lỡ cơ hội này là có tội với dân tộc!’

Thư ngỏ gửi BCH Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng CSVN
Thư ngỏ gửi BCH Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng CSVN:http://anhbasam.wordpress.com/2014/07/29/thu-ngo-gui-bch-trung-uong-va-toan-the-dang-vien-dang-csvn/

Tình thế cấp bách

Nữ nghệ sĩ Kim Chi, một trong 61 người ký tên, cho biết ý kiến về biện pháp phải kiện Trung Quốc đối với những hành vi xâm lấn chủ quyền lãnh hải của Việt Nam:

Tôi nghĩ hơn lúc nào hết, chính quyền Việt Nam phải làm ngay, làm gấp việc kiện Trung Quốc ra quốc tế vì không thì không còn kịp nữa.

Chúng tôi nghĩ nếu cứ giữ thể chế độc đảng này và cứ khư khư giữ lấy ’16 chữ vàng, 4 tốt’ với anh bạn ‘ rất là tệ hại’ này thì tôi thấy rất nguy cho đất nước!

Vấn đề lớn nhất của đất nước hiện nay là con đường phục hưng, phát triển Việt Nam để có thể tạo ra được một sức mạnh nội lực vừa diên vừa hồng- diên là trường cửu, lần ài, bền vững và hồng là lớn lao

Ông Nguyễn Khắc Mai

Một đảng viên kỳ cựu khác có tên trong danh sách những người ký vào thư ngỏ, ông Nguyễn Khắc Mai, giám đốc Trung tâm Minh Triết Việt, trình bày về tình thế cấp bách của đất nước Việt Nam hiện nay như sau:

Theo tôi nghĩ vấn đề lớn nhất của đất nước hiện nay là con đường phục hưng, phát triển Việt Nam để có thể tạo ra được một sức mạnh nội lực vừa diên vừa hồng- diên là trường cửu, lần ài, bền vững và hồng là lớn lao. Phải có sức mạnh nội lực của Việt Nam vừa bền vững, vừa lớn lao thì mới có thể tạo ra được hạnh phúc cho ngót 100 triệu con dân!

Từ vấn đề ấy, đối chiếu lại thì có chuyện gì? Có chuyện: con đường, đường lối, quan điểm, và thực tiễn để phát triển đất nước Việt Nam của Đảng Cộng sản ( thực ra không phải của Đảng mà là của Ban lãnh đạo, các ban lãnh đạo của đảng vì họ gạt toàn đảng ra rìa rồi, coi đám này là không đáng kể, thứ yếu), đó là việc cần phải làm. Đường lối mà lâu nay ban lãnh đạo, các ban lãnh đạo áp đặt cho đất nước là sai lầm, đi vào ngõ cụt.

Năm mươi năm không vực dậy được một dân tộc vốn có văn hiến, vốn có truyền thống, vốn có tố chất con người tốt đẹp, vốn có tài nguyên phong phú, và vốn có khả năng đoàn kết quốc tế để tiếp dẫn sức mạnh thời đại tạo ra sức mạnh của chính mình. Điều đó không làm được!

Vì sao họ không thức tỉnh là vì quyền lợi của họ hiện nay đang gắn liền với một chế độ toàn trị để có thể lợi dụng và kiếm chác, giàu có lên trong tình trạng lạc hậu của đất nước. Vì thế họ không muốn đổi mới và nếu ai tha thiết nói đến sửa đổi thì họ gán cho là thoái hóa chính trị

Ông Nguyễn Khắc Mai

Lý do chần chừ

Chừng một tháng sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan khủng Hải dương Thạch Du 981 vào hoạt động ngay trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi trả lời báo chí quốc tế lúc có mặt tại Philippines để thăm nước này và dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới có đề cập đến khả năng kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế về hành động như thế; tuy nhiên đến nay Hà Nội vẫn chưa có động thái gì khiến thư ngỏ của các đảng viên phải thúc giục xem đó là việc làm cần thiết và cấp bách.

Vì sao Hà Nội lại chần chừ?

Nữ nghệ sĩ Kim Chi có lý giải:

Theo ý tôi nghĩ vì họ sợ. Cái sợ đầu tiên hết là quyền lợi của họ. Bởi vì họ có những ‘liên danh, liên kết’ với nhau kiểu gì đó rồi, ‘há miệng mắc quai’ nên giờ cứ chịu ngúc ngoắc như thế thôi!

Đây là nỗi đau của toàn dân. Hiện nay ai người ta cũng biết, ngay cả người chạy xe ôm hay người bán rau người ta đứng ngoài đường cũng là lên ‘sắp mất nước đến nơi’; thế nhưng những người lãnh đạo cứ im lặng thì theo tôi chỉ có nỗi sợ hãi và đã có cái gì với nhau rồi trước đó nên bây giờ không thể nói ra được. Tất cả chúng tôi, những người tham gia ký tên đòi sự thay đổi, đều nghĩ phải có động thái mạnh mẽ từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài

Ông Nguyễn Khắc Mai cũng nêu ra những lý do mà Hà Nội đến nay vẫn chưa chủ động đưa Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế về những vi phạm luật pháp quốc tế của họ tại vùng biển Việt Nam:

Sở dĩ có sự chậm chạp vì người ta đang đánh tráo khái niệm để lừa nhân dân, và người ta tin rằng việc đánh tráo khái niệm đó là đúng. Sự sai lầm là cứ duy trì mãi chủ nghĩa Mác- Lê Nin mà thật ra không Mác mà cũng không Lê Nin, mà là một thứ hổ lốn

Thứ hai nữa vì sao họ không thức tỉnh là vì quyền lợi của họ hiện nay đang gắn liền với một chế độ toàn trị để có thể lợi dụng và kiếm chác, giàu có lên trong tình trạng lạc hậu của đất nước. Vì thế họ không muốn đổi mới và nếu ai tha thiết nói đến sửa đổi thì họ gán cho là thoái hóa chính trị…

Theo những người như nghệ sĩ Kim Chi và ông Nguyễn Khắc Mai thì người dân trong nước nay đều thấy vấn đề và nguyện vọng của họ là nhà cầm quyền cần phải dứt khoát với phía Trung Quốc để có thể bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Trong thư ngỏ vừa nêu, những người ký tên nói rằng tâm nguyện của họ là vì nước, vì dân khi vào đảng. Trong những năm gần đây, khi thấy đảng không còn vì nước, vì dân một số đảng viên công khai lên tiếng từ bỏ đảng cộng sản như trường hợp ông Lê Hiếu Đằng và một số đảng viên trẻ sau này như Phạm Chí Dũng, Nguyễn Đắc Diên…

VN giữa trật tự thế giới mới

Phan Công Chánh. Gửi cho BBC từ San Jose, Hoa Kỳ. 28 tháng 7, 2014

Trung Quốc và Nga thường đồng ý với nhau về các vấn đề ngoại giao

Câu hỏi tôi muốn đặt lại để suy nghĩ trong bài này là: Có phải một trật tự thế giới mới đang trong tiến trình hình thành với cuộc tranh hùng quyền lực toàn cầu kiểu mới giữa ba tay chơi quyền lực quốc tế siêu cường Mỹ, đại cường Nga, đại cường Trung Quốc là nội dung chính của nó?

Sự sụp đổ của đế quốc Nga Xô đã dẫn đến sự thay thế của “một trật tự thế giới lưỡng cực” (với cuộc tranh hùng bá chủ thế giới tay đôi Mỹ – Nga) bằng “một trật tự thế giới nhất cực” (với sự lãnh đạo hoàn cầu của siêu cường Mỹ). Nhưng sự “trỗi dậy” nhanh chóng của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo có viễn kiến của Đặng Tiểu Bình và những lãnh tụ kế nghiệp cũng như sự phục hồi quyền lực nội tại của Nga dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Vladimir Putin đã góp phần tạo dựng điều kiện cho sự hình thành một trật tự thế giới mới.

Nhưng một câu hỏi liên hệ khác cũng đã được đặt ra: Cơ cấu nội tại của trật tự thế giới mới sẽ là một trật tự thế giới nhất cực hay một trật tự thế giới lưỡng cực hay một trật tự thế giới tam cực hay một trật tự thế giới đa cực?

Mặc dù câu hỏi chính trị quan trọng này vẫn còn là một vấn đề tranh cãi nặng tính chất học đường, tôi cho rằng “một trật tự thế giới mới” đang hình thành có nhiều khả năng sẽ là một trật tự thế giới tam cực. Nhưng nó lại được đặt trên căn bản một cơ cấu đa khối quốc gia với nhiều loại hình quan hệ khác nhau cùng nhiều hệ thống trục xoay quyền lực đa dạng đang nối kết tất cả các khu vực chiến lược trên thế giới lại với nhau.

Thuật ngữ “một thế giới tam cực” được dùng để chỉ sự tái định vị trí quyền lực chân vạc của Nga – Mỹ – Trung Quốc trong những cuộc đọ sức tranh hùng tay ba tương lai nhằm mục đích bá chủ thiên hạ cũng như việc theo đuổi những mục đích quốc gia thực tế (đó là duy trì phát triển mở rộng quyền lực quốc gia và lợi ích dân tộc trong quan hệ khối – khu vực – toàn cầu) mà không được che đậy dưới những chiêu bài ý thức hệ lý tưởng cao siêu như xưa.

Nếu nhìn từ quan điểm văn hoá chính trị thì Hoa Kỳ thuộc loại văn minh hiện đại và đang chuyển mình sang loại hình văn minh mới hậu hiện đại. Nhưng ngược lại, văn hoá chính trị của Nga cũng như văn hoá chính trị Trung Quốc vẫn còn thuộc vào loại hình văn minh tiền hiện đại. Thí dụ, Nga và Trung Quốc vẫn còn coi trọng giá trị sở hữu đất đai và biển đảo và không ngần ngại sử dụng những “thủ đoạn” tiền hiện đại như đã xảy ra tại Crimea và Biển Đông.

Đây là loại tâm lý và chính sách thuộc chủ nghĩa thuộc địa kiểu cũ hay chủ nghĩa đế quốc kiểu cũ chứ không phải chủ nghĩa đế quốc kiểu mới như Mỹ vì dân tộc Mỹ đã trải qua hơn 200 trăm phát triển văn minh kỹ thuật hiện đại.

Liệu mô hình “một thế giới tam cực” với nội dung cuộc tranh hùng tay ba Nga – Mỹ – Trung có giống như loại kịch bản “Tam Quốc Chí” hay “The Good, the Bad and the Ugly” (cuốn phim nổi tiếng cao bồi Mỹ 1966)? Ai là “The Good” (Loại Thiện)? Ai là “The Bad” (Loại Ác)? Ai là “The Ugly” (Loại Xấu Xí)? Ai sẽ là kẻ chiến thắng sau cùng?

Siêu Cường Mỹ

Mỹ cố gắng duy trì vị trí lãnh đạo ở châu Á

Mỹ muốn tiếp tục duy trì ngôi vị “siêu cường” của mình theo kiểu “vương đạo” với chính sách xây dựng quan hệ song phương đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc vì vẫn xem Nga là “đối thủ chính” của mình (vì an ninh khu vực Đông Âu và Trung Đông). Con số khổng lồ trên 562 tỷ đôla buôn bán thương mại hai chiều Mỹ – Trung năm 2013 nói lên sự quan trọng kinh tế giữa hai nước khi ta so sánh với con số 203 tỷ đôla mậu dịch hai chiều Mỹ – Nhật cùng năm.

Nhưng đối với vấn đề an ninh toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì Mỹ đã quyết định “cầm chân Tàu” với chiến lược “Xoay Trục sang châu Á-Thái Bình Dương” vì Trung Quốc lại được xem là “đối thủ chính” trong quan hệ chiến lược đối trọng Mỹ – Trung. Mỹ đã tiến qua giai đoạn triển khai chính sách “Xoay Trục sang châu Á-Thái Bình Dương” cũng như khuyến khích vai trò quân sự mới của Nhật trong chính sách cân bằng quyền lực tại khu vực chiến lược này trước “sự trỗi dậy” đáng ngờ của Trung Quốc. Cuộc tranh hùng Mỹ – Trung đang chuyển thành cuộc tranh hùng khu vực Nhật – Trung.

Đây là vài nghi vấn chiến lược: Việt Nam sẽ chọn đứng chiến tuyến nào trong cuộc tranh hùng tay ba Mỹ – Nhật – Trung? Ai mới thực là “kỳ phùng địch thủ hoàn cầu” của Mỹ trong tương lai: Nga hay Trung Quốc? Mục đích chiến lược mới của Mỹ là gì khi tiếp tục chính sách nuôi dưỡng con sư tử Tàu?

Đại cường Nga – Giấc mơ hồi sinh

Nga lại muốn vươn lên giành lại cái ghế siêu cường một thời oanh liệt đã qua cũng như phục hồi lại cái đế quốc Xô Viết đã mất của mình để có thể có được một ngôi vị siêu cường thật sự trong quan hệ tranh hùng tay ba kiểu mới.

Vì thế, Tổng thống Putin phải chặn đứng ngay chính sách xâm nhập “lót ổ” của Âu Mỹ tại Ukraine bằng cách tiến chiếm bán đảo Crimea của Ukraine (giống kịch bản Trung Quốc chiếm Biển Đông) cũng như kéo Trung Quốc về phe Nga bằng cách đẩy mạnh các loại hình quan hệ song phương lên cao điểm mới (rềnh rang nhất mặc dù bị Trung Quốc chơi trò chơi buôn bán “áp giá” là việc ký kết hiệp thương khí đốt khổng lồ gần đây).

Nhưng đối với sự lo sợ của Nga, Trung Quốc lại là “một địch thủ khó lường” vì Trung Quốc đang từng bước xâm nhập mạnh vào nền kinh tế lạc hậu nhưng giàu tài nguyên thiên nhiên của các nước Trung Á (thuộc đế quốc Xô Viết cũ) cũng như dân Tàu đang du nhập mạnh vào khu vực rộng lớn đầy tiềm năng Tây Bá Lợi Á (Siberia).

Nga lo sợ Bắc Kinh đang dòm ngó “miếng mồi ngon” không những vì diện tích Siberia khổng lồ, phong phú về tài nguyên nhưng dân chúng lại nghèo khổ.

Giấc mơ Hoa Tộc

Trung Quốc đang làm tất cả những gì cần phải làm trong khuôn khổ mô hình phát triển “Tứ Hiện Đại” để có thể nhanh chóng thực hiện cho kỳ được cái “giấc mơ siêu cường” bao đời ấp ủ của mình. Trung Quốc đã và đang thành công với chính sách “hiện đại kinh tế” của mình và triển vọng sẽ vượt qua cả siêu cường Mỹ để trở thành quốc gia có “nền kinh tế lớn nhất thế giới”.

Chính sách hiện đại quân sự đang làm cho các nước láng giềng lo ngại không những vì Trung Quốc đang “dành đất chiếm biển” và thiết lập “vùng trời bất khả xâm phạm” tại biển Đông Á mà còn đổ tiền vào quốc sách phát triển kỹ nghệ quốc phòng. Theo công bố của Lầu Năm Góc, năm 2013 Trung Quốc đã chi hơn 145 tỷ đôla. Nhưng theo học viện Stockholm International Peace Institute (SIPRI), con số đã lên đến 188 tỷ đôla. Con số thật có thể còn cao hơn nhiều.

Bắc Kinh tỏ ra rất khôn khéo trong những kế hoạch khai thác quan hệ đối kháng Nga – Mỹ để thủ lợi cũng như xây dựng những hệ thống giao thông đường bộ (như tái thiết lập the Con Đường Tơ Lụa) lẫn cái mà nhà báo Mỹ Robert D. Kaplan gọi là “Đế Chế Đại Dương Nẩy Mầm Trung Quốc” nhằm nối liền Trung Quốc với khu vực Trung Đông và châu Phi. Vì thế, Biển Đông và Đông Nam Á được những lãnh tụ Bắc Kinh xem như tối quan trọng đối với chiến lược xây dựng “Đế Chế Đại Dương” vì chúng sẽ nối liền biển Đông Á với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương thành một trục giao thông hàng hải (cũng như một loại lãnh thổ đại dương khổng lồ của Trung Quốc).

Vì thế, ngoài mục đích khai thác tài nguyên biển (như dầu lửa), việc chiếm trọn Biển Đông có thể được xem như là bước chiến lược đầu tiên mà Trung Quốc tiến hành để xây dựng một loại “Trân Châu Cảng” cho Hạm Đội Nam Hải. Từ đó, Trung Quốc sẽ dần tiến chiếm toàn bộ Đông Nam Á nhằm thành lập “khu vực ảnh hưởng đầu tiên của Trung Quốc” để kiểm soát trục vận chuyển đường biển Đông Tây và để phóng chiếu sức mạnh quyền lực khu vực cũng như trên thế giới.

Lựa chọn của Việt Nam?

Việt Nam sẽ là một trong các hội viên hùng mạnh nhất của Asean?

Nếu lịch sử chính trị thế giới đang chuyển động với cuộc tranh hùng kiểu mới tay ba toàn cầu Mỹ – Nga – Trung và cuộc tranh hùng tay đôi khu vực Nhật – Trung, thì sự lựa chọn chiến tuyến lịch sử mới của Việt Nam phải như thế nào?

Việt Nam cần phải làm gì để không trở thành một nạn nhân bi thảm đáng thương như đã từng xảy ra trong quá khứ mà là một tay chơi quyền lực thế giới nặng ký trên chính trường quốc tế?

Những sự lựa chọn mới của Việt Nam có thể được diễn tả bằng 8 chữ vàng sau đây nếu Việt Nam thấy chuyển hướng toàn diện là một sự cần thiết để tìm một sinh lộ mới cho dân tộc đi tới: Tây Tiến – Đông Kết – Bắc Hẹn – Nam Hòa.

“Tây Tiến” nghĩa là Việt Nam phải tiến thẳng vào nền kinh tế Mỹ – Nhật -châu Âu để phát triển và làm giàu. Nước Mỹ phải là đất dụng võ của Việt Nam và phải là một thành trì kiên cố cho sứ mạng dựng nước và giữ nước lâu dài của Việt Nam.

Những sự lựa chọn mới của Việt Nam có thể được diễn tả bằng 8 chữ vàng sau đây nếu Việt Nam thấy chuyển hướng toàn diện là một sự cần thiết để tìm một sinh lộ mới cho dân tộc đi tới: Tây Tiến – Đông Kết – Bắc Hẹn – Nam Hòa.

“Đông Kết” nghĩa là Việt Nam phải nhanh chóng tiến tới việc thiết lập một hệ thống đồng minh nhất tâm tứ trụ mà trong đó quan hệ đồng minh Việt – Mỹ và Việt – Nhật sẽ là trục xoay quyền lực đầu tiên trong quan hệ đối trọng với Trung Quốc. Để thoả mãn một số yêu sách của Mỹ và mặc cả những bao thầu lớn với Mỹ trong tương lai, Việt Nam nên cho Mỹ thuê quân cảng Cam Ranh và lập một lộ trình xây dựng những thể chế dân chủ. Đây là con đường sống.

“Bắc Hẹn” nghĩa là Việt Nam sẽ tạm đoạn tuyệt với Trung Quốc giống như Mao và Đặng đã làm khi bắt tay với Mỹ và phớt tỉnh với Nga để dốc toàn lực vào quốc sách xây dựng kinh tế trong vòng 60 năm tới (2015-2075) rồi mới “tái xuất giang hồ” làm ăn tại hai nước bạn “đồng chí” năm xưa này cũng như các nước khác trên thế giới sau khi Việt Nam đã trở thành một “trung cường”.

“Nam Hòa” nghĩa là Việt Nam sẽ hoà với tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới (trừ Trung Quốc trong giai đoạn hiện tại) nhưng lấy đại hòa với các nước Đông Nam Á làm trọng. Vì sau 60 năm phát triển Việt Nam sẽ là một trong những nước hội viên hùng mạnh nhất để bảo vệ và lãnh đạo ASEAN thành một khối liên minh thống nhất trong quan hệ đối trọng với các nước đại cường và siêu cường trên thế giới.

Nhưng để làm được những việc này, Việt Nam đang cần những nhà lãnh đạo có viễn kiến.

Bất cứ thời đại nào trong bất cứ một xã hội nào, dân chủ hay phi dân chủ, một nhân vật hay một lãnh tụ bình thường, nhưng yêu nước thương dân, đều có những mưu lược phi thường để xuất hiện làm một nhà lãnh đạo quốc gia có viễn kiến, tự nhận sứ mạng xoay chuyển càn khôn cứu dân độ thế.

Ai sẽ xuất hiện để trở thành một nhà lãnh đạo Việt Nam chân chính như thế? Ai sẽ là nhân vật bình thường vươn lên từ “vũng lầy quyền lực” Đảng Cộng sản hiện nay, giống như một vầng thái dương hừng lửa, để làm nên đại nghiệp huy hoàng cho quốc gia dân tộc?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, đang giảng dạy ở San Jose State University, Hoa Kỳ.

‘Đền ơn, đáp nghĩa’ chính sách và thực tế

Gia Minh, biên tập viên RFA,  Bangkok. 14-07-27

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/grati-to-matyr-n-inval-07272014053459.html

Công an, cùng với số đông dân phòng, cán bộ thô bạo lôi ngược bà mẹ Việt Nam Anh hùng Phạm Thị Lành (97 tuổi) bắt lên xe

Công an, cùng với số đông dân phòng, cán bộ thô bạo lôi ngược bà mẹ Việt Nam Anh hùng Phạm Thị Lành (97 tuổi) lên xe bắt đi ngày 12/06/2014.

Báo Lao Động

Chính sách ‘đền ơn, đáp nghĩa’ luôn được chính phủ Hà Nội nhắc đi nhắc lại, đặc biệt vào dịp Ngày Thương binh- Liệt sĩ 27 tháng 7 hằng năm.

Tuy nhiên thực tế đối xử với những người từng toàn tâm, toàn ý đi theo ‘chính quyền cách mạng’ ra sao?

Tuyên truyền hay!

Nhiều người từng hăng hái lên đường tham gia kháng chiến chống Pháp, hay sau này khi đi vào miền nam để chiến đấu đều vì lý tưởng bảo vệ toàn vẹn giang sơn nước nhà, và mong mỏi đất nước không bị nô lệ ngoại bang, người dân sẽ có được một cuộc sống ấm no, không bị bóc lột bởi tầng lớp ‘ăn trên, ngồi trốc’.

Bà Lê thị Ngọc Đa, một nữ thương binh trở thành dân oan khiếu kiện lâu năm vì đất đai bị tước đoạt một cách bất công, rồi trở thành tù nhân với tội danh gây rối trật tự khi cùng bà con dân oan khác lập thành hội nhóm đi biểu tình đòi quyền lợi, nhắc lại gốc gác gia đình theo cách mạng của bà:

Hồi trước tôi tham gia công tác theo truyền thống của ông cha- 3 đời cộng sản. Vì chỗ đó tôi đi theo cộng sản chiến đấu. Cộng sản nói rằng chiến đấu thì sau này không có kẻ giàu, người nghèo, được tự do, hạnh phúc; không có giai cấp bóc lột, dân ai cũng được cơm no, áo ấm, ai cũng được học hành, không ai áp bức ai. Vì thế tôi đi theo con đường đó. Vì tôi nghĩ con đường đó trên đời này ai cũng muốn, ai cũng ham.

Hôm nay nói vậy tôi cũng đau khổ vì tôi là người từng hy sinh cho họ, và tuyệt đối trung thành với họ; nhưng giờ tôi được gì, cuối cùng được gì. Chẳng những một mình tôi mà còn bao nhiêu anh em khác cũng khổ như tôi, có người khổ hơn tôi!

bà Lê thị Ngọc Đa

Tôi nhớ ông Hồ Chí Minh có nói ‘đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; phải thật sự cần kiệm, liên chính, chí công, vô tư; phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Nói như vậy thì ai mà không mê!

Theo bà Lê thị Ngọc Đa thì hiện nay trường hợp của bà không phải là cá biệt mà còn nhiều thương binh từng hy sinh máu xương cho ‘cách mạng’ cũng phải chịu cảnh tương tự như bà, thậm chí còn tệ hại hơn bà nữa:

Hôm nay nói vậy tôi cũng đau khổ vì tôi là người từng hy sinh cho họ, và tuyệt đối trung thành với họ; nhưng giờ tôi được gì, cuối cùng được gì. Chẳng những một mình tôi mà còn bao nhiêu anh em khác cũng khổ như tôi, có người khổ hơn tôi!

Thực tế phũ phàng!

Vào nửa đầu tháng 6 vừa qua, tại thành phố Đà Nẵng, một Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng tên Phạm thị Lành, thương binh ¾, 93 tuổi, có chồng và 2 con là liệt sỹ, bị các cơ quan chức năng địa phương phường An Hải Tây, quận Sơn Trà đến cưỡng chế ra khỏi căn nhà bằng biện pháp bạo lực. Bà bị đưa đến bệnh viện và giữ ở đó cho đến nay.

Bức xúc của gia đình là yêu cầu làm rõ lý do bắt và giữ mẹ tôi tại TT. Y tế Quận Sơn Trà để làm rõ vấn đề này. Làm rõ ai vi phạm qui định của pháp luật và phải xử lý công minh trước pháp luật, dù đó là người có chức có quyền cũng phải xử lý.

ông Trần Công Minh

Người con trai của bà là ông Trần Công Minh cho biết:

Từ sáng ngày 12 tháng 6 họ bắt đưa vào bệnh viện- Trung tâm y tế Quận Sơn Trà. Chiều hôm đó tôi đến làm việc với giám đốc và phó giám đốc bệnh viện, tôi được phó giám đốc bện viện cho biết ông nhận được giấy triệu tập mời họp của bà phó chủ tịch UBND quận Sơn Trà, Huỳnh Thị Mỹ Hoa, về việc cưỡng chế mẹ tôi.

Vào đó thấy mẹ không có vấn đề gì, tôi có yêu cầu Trung tâm Y tế lập biên bản để tôi đưa mẹ tôi về nhà để chăm sóc. Thế nhưng ban lãnh đạo của Trung tâm Y tế nói phải chờ xin ý kiến của chủ tịch UBND quận Sơn Trà. Từ đó đến nay chưa cho mẹ về. Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Nẵng cũng họp và cho rằng việc làm của mẹ tôi là sai nên đưa vào Trung tâm Y tế để chăm sóc cho mẹ tôi. Nhưng gia đình không có yêu cầu điều đó.

Bức xúc của gia đình là yêu cầu làm rõ lý do bắt và giữ mẹ tôi tại Trung tâm Y tế Quận Sơn Trà để làm rõ vấn đề này. Làm rõ ai vi phạm qui định của pháp luật và phải xử lý công minh trước pháp luật, dù đó là người có chức có quyền cũng phải xử lý.

‘Với tôi thì mọi sự đã rõ, bà Lành, 93 tuổi, bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, bị bắt giam với sự a tòng của các bác sĩ và công an của cái hệ thống kiểu Tàu tìm cách khóa miệng người dân, đặc biệt là những người yếu thế nhất.’

ông Andre Menras Hồ Cương Quyết

Sau khi bị cưỡng chế khỏi nhà và bị giữ ở bệnh viện quận Sơn Trà 18 này, mà không có lệnh theo đúng qui định pháp luật, vào cuối tháng 6 bà Phạm Thị Lành có đơn gửi cho ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lại danh hiệu ‘Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng’. Đơn được điểm chỉ bằng ngón trỏ phải của bà Phạm Thị Lành. Lý do được nêu ra vì ‘quá xấu hổ’ cho hành động phạm tội của hai cấp phường và quận Sơn Trà.

Bà này còn có đơn kêu cứu vì con trai của bà bị theo dõi một cách bất thường.

Một người Pháp nhập tịch Việt Nam, ông Andre Menras- Hồ Cương Quyết, khi hay tin sự việc xảy ra đối với Mẹ Việt Nam Anh hùng Phạm thị Lành, ông này đang có mặt tại Đà Nẵng nên đã đích thân mang hoa đến tại bệnh viện để được gặp bà. Thế nhưng những người tại bệnh viện không cho ông này được gặp bà Phạm Thị Lành. Trong bài viết đưa lên mạng sau đó, ông Andre Menras Hồ Cương Quyết ghi rõ ‘với tôi thì mọi sự đã rõ, bà Lành, 93 tuổi, bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, bị bắt giam với sự a tòng của các bác sĩ và công an của cái hệ thống kiểu Tàu tìm cách khóa miệng người dân, đặc biệt là những người yếu thế nhất.’

Nguồn gốc chính trị của nó là quan điểm, tư tưởng Mác- Lê nin, là quan điểm đấu tranh giai cấp; tức là giai cấp này tìm cách xóa bỏ giai cấp kia…, hoặc ưu tiên cho giai cấp này, đặc quyền, đặc lợi hơn cho giai cấp khác.

ông Đặng Văn Việt

Vì đâu nên nỗi?

Một lão thành cách mạng từng được mệnh danh là ‘con hùm xám đường 4’ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông Đặng Văn Việt nêu lên lý do vì sao nhiều người có công với cách mạng bị đối xử tàn tệ suốt bấy lâu nay:

Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa là những châm ngôn mà chế độ đề ra, nào là biết ơn người có công, nhớ đến tổ tiên ông bà. Phương châm, châm ngôn đó nghe rất đẹp, nhưng thực hiện thì có nơi người ta thực hiện được, có nơi người ta không thực hiện. Điều này tùy tâm của từng tổ chức, từng người lãnh đạo. Có khi người ta nói một đường mà làm một nẻo.

Việc thực hiện mà không đúng như vậy là do nguồn gốc chính trị của nó. Nguồn gốc chính trị của nó là quan điểm, tư tưởng Mác- Lê nin, là quan điểm đấu tranh giai cấp; tức là giai cấp này tìm cách xóa bỏ giai cấp kia…, hoặc ưu tiên cho giai cấp này, đặc quyền, đặc lợi hơn cho giai cấp khác. Như thế tự nhiên tạo nên những bất công, bất hợp lý và tạo nên những đầu óc cơ hội, lợi dụng những ưu tiên của chế độ đó, làm những việc bậy bạ, chẳng hạn như tham nhũng phát triển không có tài nào ngăn cản nổi. Cơ bản là vấn đề chính trị, từ chính trị mà ra hết. Quan điểm chính trị sai lầm đưa đến những thoái hóa về xã hội”.

Đại biểu quốc hội- sử gia Dương Trung Quốc hồi tháng 7 năm 2012 có bài viết trên tờ Lao Động Cuối tuần về trường hợp bà Cát Hanh Long- Nguyễn thị Năm. Bà này từng đóng góp nhiều cho cách mạng giai đoạn đầu và trong Tuần lễ Vàng; nhưng rồi bà bị chính cách mạng xử bắn vì là bị qui vào thành phần địa chủ.

(VNTB)-“Tự do tôn giáo”: Nhà nước Việt Nam vi phạm cả chính sách lẫn luật pháp

 http://www.ijavn.org/2014/07/vntb-tu-do-ton-giao-nha-nuoc-viet-nam.html

“Tôn trọng quyền tự do tôn giáo”?

(VNTB) Nhà cầm quyền luôn luôn nói ở Việt Nam có tự do tôn giáo. Họ nói với Liên hiệp quốc và các phái bộ ngoại giao của các nước rằng Nhà nước Việt Nam có chính sách và luật pháp nhất quán về tự do tôn giáo.

Lực lượng CA đàn áp đánh đập, bắt tất cả thành viên Giáo Hội Tin Lành Mennonite như tội phạm, Bình Dương đêm 9-6-2014. Ảnh RFA

Một quan chức ngoại giao Hoa Kỳ đã nói với tôi khi tiếp xúc tại Washington DC: Chính phủ Việt Nam nói những sự việc căng thẳng được cho là vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam thường là do tranh chấp đất đai hoặc cấp dưới đã tùy tiện làm sai pháp luật, không thực hiện đúng chính sách. Chuyện đất đai là chuyện phức tạp ở Việt Nam không thể giải quyết một sớm một chiều, còn chuyện cán bộ thì cũng có người này người kia.

Đó là quả quyết của nhà cầm quyền. Gần đây, các phái bộ ngoại giao đã tiếp cận được nhiều hơn với những nhân chứng về vi phạm tự do tôn giáo, nên họ đã không còn ghi nhận cách trả lời như trên là xác đáng.

Đọc luật pháp Việt Nam, người ta không tìm thấy quyền tự do tôn giáo của người dân được bảo vệ, mà chỉ thấy pháp luật là công cụ để nhà cầm quyền sử dụng để hạn chế tối đa quyền tự do tôn giáo của người dân đến mức đàn áp tôn giáo ở một số nơi.

“Tự do tôn giáo” bị luật pháp vi phạm như thế nào?

Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội (QH) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua sáng 28.11.2013. Tại điều 24:

1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật“.

Hiến pháp (HP) công nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng pháp luật về tôn giáo [Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 92] lại vi phạm quyền tự do hiến định này, và buộc mọi công dân, các tổ chức tôn giáo phải thực hiện theo các quy định pháp luật. Lưu ý, các văn bản pháp luật này cũng do chính Quốc hội và Chính phủ Việt Nam ban hành, nên có ràng buộc thi hành.

Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo, QH ban hành ngày 18.06.2004 (Pháp lệnh), có hiệu lực ngày 15.11.2014; Nghị định 92, quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, ban hành ngày 08.11. 2012 (nghị định) là những công cụ hạn chế tự do tôn giáo. Pháp lệnh này, sau khi nhắc lại điều quyền tự do tôn giáo như HP thì hoàn toàn bàn về cách quản lý hoạt động tôn giáo của nhà cầm quyền, mà các chức sắc tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và các tín đồ đều phải tuân thủ. Pháp lệnh không bàn đến cách giúp công dân thực hiện quyền tự do tôn giáo của mình.

Pháp lệnh và Nghị định được ban hành nhằm quản lý tôn giáo, hạn chế quyền tự do tôn giáo và mở cửa cho việc đàn áp tôn giáo theo pháp luật.

Không thiếu bằng chứng

Điều 11 của Pháp lệnh quy định:

“1. Chức sắc, nhà tu hành được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo.

2. Trường hợp thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo ngoài quy định tại khoản 1 Điều này phải có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) nơi thực hiện“.

Với điều luật này, các chức sắc tôn giáo có thể xem là vi phạm pháp luật khi hành lễ tại tư gia của mình, hay nơi cơ sở tôn giáo của đồng đạo, nhưng không do mình phụ trách. Trong các doanh trại quân đội, khu công nghiệp, nhà tù có hàng triệu tín đồ các tôn giáo không thể đến cơ sở thờ tự, vì trách nhiệm quốc gia, vì đời sống kinh tế và vì bị giam giữ. Nhưng với điều luật này, nhà cầm quyền đã đương nhiên cấm các chức sắc tôn giáo đến đây cửa hành lễ nghi tôn giáo cho các tín đồ này. Như vậy không chỉ các chức sắc tôn giáo bị bắt luật khi thi hành trách nhiệm tâm linh với đồng bào, mà cả các quân nhân sẵn sàng đổ xương máu để bảo vệ quốc giá vẫn bị xâm phạm quyền tự do tôn giáo.

Một chức sắc khi ốm đau, không thể cửa hành nghi lễ tôn giáo cho tín đồ, muốn mời một chức sắc khác đến giúp làm thay, nhằm bảo đảm quyền tự do tôn giáo của công dân thì buộc phải xin phép và phải đợi sự chấp thuận của nhà cầm quyền, nếu nhà cầm quyền không đồng ý thì phải chịu.

Ngày 19.04 vừa qua là Thứ bảy Tuần Thánh. Đêm đó là lễ Phục Sinh, một lễ quan trọng nhất của người Công giáo. Cha Phêrô Đinh Quốc Thái Bình, phụ trách giáo điểm Plơi Athai, thị trấn Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai bị bệnh, khó có thể cử hành trọn vẹn một thánh lễ dài, trong đó có cử hành bí tích rửa tội cho hơn 100 anh chị em đã học đạo hơn hai năm, nên cha Bình đã mời tôi đến giúp. Trước giờ lễ, chính quyền, ban tôn giáo, công an và dân quân tự vệ đến không cho phép tôi được cử hành. Tôi chỉ có thể đứng bên cạnh để phụ cha Bình mà thôi.

Đây là quy định nhằm giới hạn hoạt động tôn giáo của nhà tu hành.

Mọi hoạt động tôn giáo đều phải đăng ký và phải được nhà cầm quyền chấp thuận

Điều 12 Pháp lệnh quy định:

1. Người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo hàng năm diễn ra tại cơ sở đó với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã); trường hợp tổ chức hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đã đăng ký thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnchấp thuận.

2. Thẩm quyền chấp thuận việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng do Chính phủ quy định“.

Phải liệt kê chi tiết: Hành lễ lúc mấy giờ? Ai chủ lễ? Ai tổ chức lễ? Có bao nhiêu người tham dự? Có người của địa phương khác đến tham dự lễ không?

Làm sao linh mục có thể biết trước thánh lễ đại chúng có bao nhiêu người tham dự để đăng ký? Làm sao linh mục có thể biết ai là người tỉnh khác, huyện khác hay phường xã khác đến tham dự thánh lễ, nếu người ấy không đến xin phép dự lễ? Nhà thờ là là nhà của Chúa và cũng là của Dân Chúa, giáo dân ở Mỹ, ở Tây Ban Nha hay ở Cà Mau, Bắc Cạn … đều có thể lên Tây Nguyên dự lễ, khi nơi đó có lễ, mà không cần xin phép cha xứ.

Nói chung, tất cả các hoạt động thuần túy nội bộ tôn giáo như hội nghị của nội bộ tôn giáo, phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển, thành lập tu viện, trường đào tạo giáo sĩ … đều phải đăng ký và phải được chấp thuận như quy định tại các điều 18, 20, 22, 23, 24 … thì mới được tổ chức, còn nếu không đồng ý thì bị ngưng trệ.

Nếu tiếp tục đọc các điều khoản còn lại, người đọc sẽ thấy chỉ toàn là công cụ quản lý chứ không có chút gì để giúp công dân thực hiện quyền tự do tôn giáo.

Chỉ có ở Việt Nam

Các tôn giáo hoàn toàn không có tư cách pháp nhân độc lập, nên việc mua, bán, nhận hiến tặng đất đai đều không được phép, do đó không thể chủ động mở rộng cơ sở hoạt động tô giáo hoặc xây dựng mới cơ sở tôn giáo.

Khi một linh mục được giáo phận giao xây dựng nhà thờ mới, theo hướng dẫn của nhà chức trách, vị linh mục ấy phải làm các việc sau đây:

1. Chọn đất, thỏa thuận với người đang có quyền sử dụng để mua lại quyền sử dụng (nôm na là trả tiền mua đất).

2. Người đang đứng tên có quyền sử dụng đất phải làm đơn gởi Ủy ban nhân dân huyện xin trao trả lại đất với lý do không còn nhu cầu sử dụng, đồng thời đề nghị nhà cầm quyền cấp mảnh đất đó để xây nhà thờ.

3. Linh mục phụ trách phải làm đơn xin cấp đất (cấp lại mảnh đất đã trả tiền mua)

4. Nhà cầm quyền xem xét, nếu hợp lý thì cấp theo đơn và theo đề nghị của công dân; còn nế không phù hợp thì không cấp. Trường hợp sau xem như vị linh mục và Giáo hội Công giao mất trắng tiền mua đất đã trả.

Những quy định được xem là phù hợp là phải có số giáo dân phù hợp với quỹ đất đề nghị cấp (đất đã mua), không nằm trong vùng quy hoạch. Lý do thứ nhất nhằm ngăn cấm việc truyền giáo. Linh mục không được truyền đạo ngoài cơ sở tôn giáo thì làm sao có số tín đồ đông ở vùng đất mới để xây nhà thờ? Còn nếu muốn có số tín đồ đông đủ để xin xây nhà thờ thì trước đó nhiều năm, các linh mục phải vi phạm pháp luật để đi truyền giáo. Lý do thứ hai thường là lý cớ để không chấp thuận cấp đất, và có thể sau đó là một âm mưu cướp đất mà Giáo hội đã mua.

Vì sao lấy lý do “trùng tên tôn giáo”?

Sau 1975, nhà cầm quyền Hà Nội đã lập ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam, để sau đó cấm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đã có hoạt động từ trước đó. Khi các tổ chức quốc tế can thiệp, và chính tôn giáo này khiếu nại, thì nhà cầm quyền cho rằng các tôn giáo đó đã có, nên không thể công nhận các tôn giáo trùng tên nhau.

Họ giải tán toàn bộ đạo Cao Đài, rồi lập ra tổ chức đạo Cao Đài mới và cấm những ai theo Đạo Cao Đài chân truyền, giữ truyền thống cơ bút. Họ tịch thu toàn bộ tài sản và bắt tù các tu sĩ cư sĩ Phật giáo Hòa Hảo, rồi lập ra một Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo khác … Tất cả đều nhằm không công nhận các tôn giáo đã có lâu đời.

Thực tế chính sách và pháp luật nhất quán của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tôn giáo là như thế.

Lm. Antôn Lê Ngọc Thanh, CSsR

(Phó chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Việt Nam)

‘Thà đừng rút sớm giàn khoan’

Giàn khoan 981 trước khi di chuyển được nhiều tàu Trung Quốc canh gác

Đã hơn một tuần kể từ khi Trung Quốc di chuyển giàn khoan 981, dù có một vài nghi ngại nhưng nhìn chung dư luận Việt Nam đã tương đối lắng dịu, đặc biệt với sự xuất hiện của siêu bão Ramasun và vụ tai nạn máy bay MH17.

Nhìn cách thức đưa tin đoán xu hướng chính trị.

Tại Đài truyền hình Việt Nam, sau khi đưa động thái di chuyển của giàn khoan vào bản tin thời sự 19 giờ ngày 16 tháng 7, ngay hôm sau tin tức về vụ việc gần như biến mất trên chương trình được phát vào giờ cơm tối của mọi gia đình Việt Nam này.

Đài truyền hình Việt Nam là cơ quan báo chí lớn nhất nước (đứng đầu là một Ủy viên trung ương Đảng) và chương trình quan trọng nhất của nhà đài là Bản tin thời sự 19 giờ.

Mọi nội dung của chương trình này đều được giám sát kỹ lưỡng. Có thể nói khi mà thời của báo giấy và đài phát thanh đã qua, cơ quan ngôn luận của Đảng chính là Đài truyền hình.

”Bênh Nga chằm chặp”

Chỉ cần xem bản tin thời sự là biết “trạng thái” của Đảng Cộng sản. Khi đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc khuyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nên từ chức vào tháng 11 năm 2012, việc này chỉ được đưa lên vào bản tin 12 giờ trưa (lúc mọi người đang đi làm) và cắt gần như toàn bộ vào chương trình lúc 7 giờ tối cùng ngày.

Năm nay, đến tận cuối tháng Tư, truyền hình và báo chí Việt Nam vẫn còn bênh chằm chặp Nga trong cuộc khủng hoảng Ukraine khiến cho những ai xem thời sự đều bất bình với lực lượng đã lật đổ chính phủ của Tổng thống Ukraine lúc đó là Yanukovych.

Nhưng sau khi giàn khoan Hải Dương 981 được hạ đặt trái phép từ ngày 1/5, nhà đài bỗng đưa tin một cách vô cùng khách quan về cuộc xung đột ở Crimea.

Lý do là vì Nga đã không hề lên tiếng bảo vệ Việt Nam do phải bắt tay với Trung Quốc trong trận chiến với Mỹ và phương Tây.

Quay trở lại với việc đưa tin về giàn khoan 981, đài truyền hình Việt Nam đã ròng rã suốt hai tháng trời đưa tin hàng ngày về các hoạt động đấu tranh của hải quân ta, nay bỗng dưng câm bặt.

Tối ngày 17/7, tức là chỉ một ngày sau khi Trung Quốc di chuyển giàn khoan, trên bản tin 19 giờ chỉ còn lướt qua một tin duy nhất “liên quan” vào cuối chương trình, đó là việc Mỹ hoan nghênh việc giàn khoan đã được di dời.

Tối 19/7, trên kênh thời sự chính thống đã xuất hiện những dấu hiệu đặc biệt. Đầu tiên là việc đưa tin tỉnh Quảng Bình “tổ chức công bố quy hoạch xây dựng” khu tưởng niệm Vụ thảm sát tại thôn Quyết Thắng – “sự kiện bi thương do đế quốc Mỹ gây ra”.

Việc Trung Quốc đưa giàn khoan 981 thu hút truyền thông quốc tế.

Việc tưởng nhớ những người đã hy sinh trong chiến tranh chẳng bao giờ là xấu, nhưng đưa tin với thời lượng tương đối lâu và dùng những ngôn từ nặng nề trong thời điểm “nhạy cảm” như vậy quả là điều không bình thường.

Chỉ vài ngày trước khi Trung Quốc chưa rút giàn khoan, ai cũng cho rằng Việt Nam đang muốn xích lại gần Hoa Kỳ để tìm sự ủng hộ về quân sự.

Còn về chuyện tưởng nhớ những người con của đất nước trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, không biết đến bao giờ những người đã ngã xuống trong chiến tranh Biên giới 1979 mới được nhắc đến một cách trang trọng như những đồng đội hy sinh trong cuộc chiến chống “đế quốc” xâm lược.

Lại đâu vào đấy?

Những ai háo hức về một cuộc “thoát Trung” hơn hai tháng nay chắc sắp phải thất vọng

Rất nhiều người đã hy vọng vào cơ hội thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc khi cuộc khủng hoảng trên biển Đông diễn ra trong hơn hai tháng qua.

Nhà cầm quyền dù thân với người láng giềng phương Bắc đến đâu cũng không thể không phản đối hành động xâm phạm quá lộ liễu. Nếu không phản ứng, chính nhà cầm quyền tự làm suy yếu tính chính danh và uy tín của họ.

Nhưng nay sóng gió đã tạm qua, việc liên minh với Mỹ – một hành động bất đắc dĩ vô cùng nguy hiểm có lẽ là không cần thiết nữa.

Hoa Kỳ sẽ giúp “không công” một nước Cộng sản? Không bao giờ! Sự giúp đỡ sẽ phải kèm theo một loạt điều kiện, trong đó chắc chắn phải mở rộng quyền tự do dân chủ mà điều đó có thể dẫn tới một cuộc “Cách mạng nhung”.

Giữ được chủ quyền mà mất chức thì cũng có ý nghĩa gì với những nhà lãnh đạo độc tài. Chính vì vậy, nếu không có biến cố gì xảy ra, việc hòa hoãn với láng giềng anh em Cộng sản vẫn là thượng sách.

Xem ra, việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan lại là một cơ hội tốt để một số nhà lãnh đạo ghi điểm bằng những phát ngôn tương đối “mạnh miệng”.

Nhân dân thì tạm quên đi những tồn tại trong xã hội để bày tỏ lòng yêu nước, người đàn anh phương Bắc thậm chí phải cử người sang “xoa dịu” đàn em.

Lợi đủ đường! Nếu cứ thế này, thỉnh thoảng Trung Quốc cứ kéo giàn khoan ra vài ngày lại không chừng lại là điều hay.

Còn với người dân, những ai háo hức về một cuộc “thoát Trung” hơn hai tháng nay chắc sắp phải thất vọng. Với họ, dù có va chạm với láng giềng một chút mà nền kinh tế, chính trị thay đổi toàn diện để có cuộc sống ấm no còn hơn là “hòa bình, ổn định” lâu dài nhưng mãi mãi trì trệ.

Vậy nên, giàn khoan Trung Quốc, lần sau có hạ đặt thì hãy ở lại lâu hơn một chút rồi hẵng về!

Bài viết thể hiện quan điểm và lối hành văn của tác giả.

Phạm Chí Dũng: Vì sao ông Phạm Quang Nghị diện kiến chính giới Mỹ?

Thụy My, RFI, 25-7-14

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140725-pham-chi-dung-vi-sao-ong-pham-quang-nghi-%C2%AB-dien-kien-%C2%BB-chinh-gioi-my

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng.

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng. DR

Chuyến đi Mỹ của Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh theo lời mời của Hoa Kỳ, nhất là sau sự kiện Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Hoàng Sa, được nhiều người chờ đợi nhưng mãi vẫn không thấy động tĩnh gì. Trong khi mới đây lại bất ngờ có tin ông Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội viếng thăm nước Mỹ.

Có dư luận cho rằng bên cạnh xu hướng mở rộng về phía phương Tây, chuyến đi của nhân vật này còn nhằm nâng cao uy tín trong cuộc chạy đua giành ngôi thứ tại Đại hội Đảng lần thứ 12 sắp tới.

Chúng tôi đã đặt câu hỏi về vấn đề trên với nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon.

RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Anh có nhận định như thế nào về chuyến đi Mỹ khá bất ngờ của ông Phạm Quang Nghị ?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Đúng ra là ông Phạm Bình Minh đã được đi Mỹ vào tháng 5/2014, sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc và sau lời mời cấp tốc của ông John Kerry, Ngoại trưởng Hoa Kỳ. Nhưng điều ngạc nhiên là hơn hai tháng qua, ông Phạm Bình Minh đã chẳng đi đâu cả, thay vào đó là một ủy viên Bộ Chính trị, cấp cao hơn hẳn so với ông. Chỉ có điều là người cùng họ với ông Phạm Bình Minh lại không hề đảm trách công việc ngoại giao, mà lại là người của khối Đảng.

Người ta dễ suy luận, có thể đây là quan hệ chỉ giữa các đảng chính trị với nhau thôi, mà không phải thực hiện công việc ngoại giao thường thấy như ông Phạm Bình Minh. Có lẽ là càng không phải giải quyết một vấn đề gì thuộc về mối quan hệ xung khắc ở Biển Đông, mà Hoa Kỳ là một thành tố tham gia cùng với Việt Nam.

RFI : Nếu như vậy, chuyến đi này theo anh có mục đích gì ?

Người ta đang cân nhắc về một số mục đích của ông Phạm Quang Nghị. Vì đây là một sự xuất hiện đột ngột và khá kỳ lạ – theo dư luận là như vậy. Sự xuất hiện của ông Phạm Quang Nghị trong bối cảnh này đã dấy lên hàng loạt câu hỏi, cũng như cách đây đúng một năm, vào tháng 7/2013 sự xuất hiện tương đối bất ngờ của ông Trương Tấn Sang ở Nhà Trắng. Nhưng dù sao đó cũng là một cuộc gặp chính thức với Tổng thống Barack Obama.

Còn lần này thì có lẽ ông Phạm Quang Nghị đến chỉ với một tư cách ẩn giấu nào đó, vì chuyến đi của ông thực hiện từ ngày 21/7, nhưng đến hơn hai ngày sau báo chí Việt Nam mới đưa tin, và cũng chỉ đưa tin một cách dè dặt. Trong khi đó, báo chí nước ngoài gần như không thông tin về chuyến công du của ông Phạm Quang Nghị. Điều đó gợi cho người ta những câu hỏi là ông Phạm Quang Nghị với vai trò gì và với những mục tiêu như thế nào ?

Theo tôi, có lẽ chuyến đi của ông nằm trong bối cảnh ông Phạm Bình Minh chưa được đi Mỹ, và mới cách đây một tháng đã diễn ra chuyến đi đến Hà Nội của Dương Khiết Trì – ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc.

Điều này cho thấy có lẽ những người bên Đảng đã thấy rằng, đến lúc này họ phải nâng cao tinh thần và vai trò của họ : vai trò Đảng lãnh đạo toàn diện, chứ không phải là Chính phủ. Chính phủ chỉ đóng vai trò quản lý, và nhân dân cùng lắm chỉ là vai trò « làm chủ » mà thôi. Còn trên hết, cao hơn tất cả vẫn là Đảng.

Lý do thứ hai theo dư luận, hiện nay mối quan hệ Việt Nam và Mỹ dường như đang xích lại gần nhau. Đặc biệt là sau những vụ xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam tại Biển Đông, làm cho ngay cả những người bảo thủ ở Hà Nội cũng phải nhận ra rằng họ không thể trông chờ quá nhiều vào Trung Quốc, vào « Thiên triều ». Họ cần có một cánh tay hỗ trợ nào đó từ phía phương Tây, và Mỹ chính là một quốc gia năng nổ, tích cực nhất về việc này.

Chúng ta đã biết là vào trung tuần tháng Bảy, Thượng nghị viện Mỹ đã biểu quyết nhất trí đến 100% bản nghị quyết số 412, yêu cầu Trung Quốc trở về nguyên trạng trước thời điểm tháng 5/2014. Trước đó, phát biểu tại trường đại học quân sự West Point, Tổng thống Barack Obama cũng đã nói thẳng khả năng Mỹ có thể điều binh lực tới khu vực Biển Đông, nếu tại đây xảy ra xung đột.

Điều đó cho thấy chỉ có Mỹ mới có thể là một đối tác chiến lược hoặc một đối tác quân sự hỗ trợ cho Việt Nam trong hoàn cảnh này. Nó tác động đến tâm lý những người bảo thủ ở Hà Nội. Chính vì vậy, họ đã quyết định đi Mỹ.

Nhưng không phải ông Nguyễn Phú Trọng đi Mỹ, mà là ông Phạm Quang Nghị. Tôi cũng muốn nhắc lại, trong năm 2013 ông Nguyễn Phú Trọng chưa hề đặt chân đến Mỹ mà chỉ có ông Trương Tấn Sang gặp Tổng thống Barack Obama. Và ông Nguyễn Tấn Dũng được coi là có một chuyến đi đàm phán về TPP tại New York với Bộ trưởng Thương mại Mỹ. Trong khi đó ông Nguyễn Phú Trọng chỉ đến Thái Lan để thăm hỏi, làm việc với nữ Thủ tướng Yingluck – hiện nay đã bị truất quyền, và đến một trường đại học Thái Lan để nhận tấm bằng danh dự về chính trị học mà thôi.

Chính vì thế, bên Đảng có lẽ thấy cần phải nâng cao vai trò của họ, và đã quyết định để ông Phạm Quang Nghị đi – ông cũng là một người được coi là ứng cử viên sáng giá cho cương vị Tổng bí thư. Ông Phạm Quang Nghị đi Mỹ, cũng là ra mắt chính giới Mỹ – ít nhất là có một chút diện kiến.

RFI : Chúng ta vừa đặt giả thiết chuyến đi này có liên hệ tới vấn đề Biển Đông hay nhằm nâng tầm các nhân vật trong đảng, nhưng nếu theo dõi thì người ta thấy các chính khách Mỹ mà ông Phạm Quang Nghị tiếp xúc không phải là cao cấp lắm…

Đúng là như vậy. Có một điều đáng tiếc cho ông Phạm Quang Nghị là ông đã không được gặp chính Ngoại trưởng Mỹ trong chuyến đi lần này, ít nhất là cho tới giờ phút này. Thay vào đó, chỉ có Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman tới gặp ông Nghị để chào và chuyển lời thăm hỏi của ông John Kerry.

Tại Washington, ông Phạm Quang Nghị đã có những cuộc làm việc với Cố vấn cao cấp của Ngoại trưởng John Kerry là ông Thomas Shannon, và một Phó cố vấn an ninh quốc gia phụ trách đối ngoại là ông Tony Blinken. Có lẽ nhân vật cao cấp nhất mà ông Phạm Quang Nghị có được cuộc tiếp xúc là Chủ tịch thường trực Thượng viện Mỹ Patrick Leahy và Thượng nghị sĩ John McCain.

Như vậy, không có người đồng cấp nào ở Mỹ gặp ông Phạm Quang Nghị, như những nhân vật mà ông đã gặp ở Bắc Kinh cách đây mười tháng.

Tôi muốn nhắc lại, tháng Chín năm ngoái tại Trung Nam Hải, ông Phạm Quang Nghị đã được tiếp thân mật bởi Trương Cao Lệ, ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Phó thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Và ông Phạm Quang Nghị còn hội đàm với ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư Thành ủy Bắc Kinh Quách Kim Long. Khi đó, cả Trương Cao Lệ lẫn Quách Kim Long đều ca tụng là « Đảng và Chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với Việt Nam », « đánh giá cao sự phát triển mới trong quan hệ hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước trong thời gian qua ».

Chỉ có điều, ông Phạm Quang Nghị là một người rất kín tiếng. Tất cả những vụ việc mà khi ông Chủ tịch Thượng viện Mỹ Patrick Leahy cũng như Thượng nghị sĩ John McCain nêu ra như chủ đề chính về Biển Đông, thì nghe nói là ông Phạm Quang Nghị đã không trả lời, hoặc né tránh. Và ở đây thì cũng vậy thôi.

Chúng ta biết là ở Việt Nam, những vụ tàu Trung Quốc cố tình đâm va, gây hấn với ngư dân Việt, ông Phạm Quang Nghị đã gần như không hề lên tiếng. Người ta có cảm giác ông không chỉ là một nhân vật kín tiếng, mà còn là nhân vật « nín » tiếng. Điều đó hoàn toàn không có lợi cho ông, ít nhất trong mối tương quan so sánh với ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam.

Vì dù sao ông Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 11/2011 còn ra trước Quốc hội, để gióng lên được một tiếng nói – dù là tiếng nói nhỏ nhoi và sau đó không làm gì cả. Đó là việc cần phải có một bản nghị quyết về Biển Đông về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, cũng như cần có Luật Biểu tình. Và vào tháng 5/2014 tại Manila, Philippines, ông cũng đã đề cập một cách bóng gió tới điều được gọi là « tình hữu nghị viển vông » đối với Trung Quốc. Mặc dù sau đó chưa thấy hành động gì tiếp theo, nhưng dù sao vẫn còn hơn các ủy viên Bộ Chính trị khác.

RFI : Tóm lại chuyến đi của ông Phạm Quang Nghị lần này có thể đưa ra một thông điệp như thế nào, theo anh ?

Có một dấu hiệu đáng chú ý như thế này. Ông Phạm Quang Nghị dù chỉ là một ủy viên Bộ Chính trị thường, và chỉ là Bí thư Thành ủy Hà Nội, nhưng những vấn đề ông đề cập trong chuyến đi này với Thượng viện Mỹ, với Thượng nghị sĩ John McCain, lại mang tầm cỡ mà tôi có cảm giác như của một nguyên thủ quốc gia. Đề cập tới những vấn đề của quốc gia, chứ không phải của thành phố Hà Nội.

Chẳng hạn như mở rộng thị trường cho hàng hóa do Việt Nam sản xuất, hay là hạ rào cản thương mại, khuyến khích đầu tư vào Việt Nam, và đề nghị Mỹ thừa nhận kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Chúng ta để ý là đề nghị thừa nhận là nền kinh tế thị trường trước đây chỉ có ông Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề cập với giàn Bộ trưởng Thương mại Mỹ và những người đồng cấp.

Ngoài ra ông Phạm Quang Nghị trong buổi làm việc với Viện Dân chủ Quốc gia và Viện Cộng hòa Quốc tế của Hoa Kỳ, cũng được mô tả là đã « nêu bật ý nghĩa của quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước, theo tinh thần Tuyên bố chung Việt Nam – Mỹ, trong đó hai nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau và khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ quan Đảng của hai nước ».

Báo chí Việt Nam tả khá trọng thị thế này : « Trên tinh thần đó, ông (Phạm Quang Nghị) hoan nghênh những bước đi ban đầu nhằm tìm hiểu, nghiên cứu khả năng trao đổi giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng tham chính ở Mỹ trong thời gian tới ».

Như vậy là khẩu khí và những vấn đề mà ông Phạm Quang Nghị đề cập là khẩu khí giống như của một nguyên thủ, và có thể còn cao hơn nữa : là một Tổng bí thư Đảng. Điều đó cũng phù hợp với dư luận hiện nay, cho rằng ông đang là một ứng cử viên sáng giá cùng với ông Nguyễn Tấn Dũng cho chức vụ Tổng bí thư tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 vào năm 2016 sắp tới.

Nếu việc này diễn ra, có lẽ mối quan hệ với giới chính khách Mỹ sẽ tạo thuận lợi cho ông Phạm Quang Nghị. Và có thể thấy chuyến đi này cho dù ông Nghị không tiếp xúc trực tiếp được Bộ trưởng Ngoại giao, và càng không được diện kiến Tổng thống hay Phó tổng thống Hoa Kỳ, nhưng ông cũng đã có buổi ra mắt đối với chính giới Mỹ. Ít nhất cũng để họ biết ông là ai, và một ứng viên cho cương vị Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là người như thế nào.

RFI : Như vậy dù không được chính thức thông báo trước, nhưng có thể coi đây là một nhân vật cao cấp đầu tiên trong đảng Cộng sản Việt Nam tiếp xúc với Hoa Kỳ, trong khi các cuộc gặp gỡ trước đây thường chỉ từ phía Chính phủ ?

Hoàn toàn đúng. Khi phân công một nhân vật trong Bộ Chính trị, tất nhiên người ta có thể tính tới cương vị Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng – cũng là những ủy viên Bộ Chính trị, tất nhiên là cao cấp hơn Bí thư Thành ủy Hà Nội. Nhưng tại sao lại là ông Phạm Quang Nghị đi, mà không phải là ông Trương Tấn Sang hay ông Nguyễn Tấn Dũng ?

Điều đó gợi ra một ý : ông Phạm Quang Nghị có thể được coi là một « thái tử đảng » trong thời gian sắp tới. Và ông Nguyễn Phú Trọng đã chọn ông Phạm Quang Nghị thay vì ông Phạm Bình Minh để đi Mỹ, nhằm giới thiệu, ra mắt chính giới Mỹ.

Thứ nữa trên bình diện chung, có thể khiến chúng ta hình dung là bối cảnh đang dần chuyển biến. Thậm chí sắp tới có thể có những bước chuyển biến tương đối đột biến về mặt chính trị. Như thế càng cho thấy là Việt Nam đang dần dần âm thầm thực hiện một chính sách « xoay trục » sang phương Tây. Đặc biệt là sau sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, lộ rõ ý đồ thôn tính của Trung Quốc đối với Việt Nam.

Vì ngay cả những người bảo thủ Việt Nam cũng đang phải tính tới việc dựa vào Mỹ. Mặc dù họ không dám tuyên bố chính thức ra, nhưng hành động của họ cho thấy điều đó. Và có một điểm thú vị thế này : chúng tôi có cảm giác như là bối cảnh Việt Nam đang gần giống những gì mà Miến Điện đã trải qua vào cuối năm 2010 bước sang năm 2011.

RFI : Anh có cho là Việt Nam cũng sẽ chuyển đổi như Miến Điện đã làm, dù chỉ một phần ?

Chúng ta biết là cuối năm 2010, ông Thein Sein đã trở thành Tổng thống dân sự đầu tiên của Miến Điện. Đến năm 2011, ông đã phóng thích nữ lãnh tụ đối lập của đảng Liên đoàn Quốc gia Vì dân chủ, bà Aung San Suu Kyi. Và sau đó Miến Điện trải qua hàng loạt biến đổi, thậm chí được coi là những biến đổi ngoạn mục, dân chủ hóa, mở rộng.

Gần đây nhất Miến Điện vừa chính thức hủy bỏ một dự án lên tới 20 tỉ đô la của Trung Quốc – một dự án đường sắt chạy tới tận Côn Minh, bởi áp lực dư luận từ người dân trong nước quá lớn.

Có một chút hy vọng là xu hướng chính trị Việt Nam đang chuyển đổi dần như xu hướng của Miến Điện trong những năm qua. Mặc dù độ trễ chuyển đổi của Việt Nam so với Miến Điện là khoảng ba năm, nhưng bắt đầu từ bây giờ vẫn còn kịp !

Nếu chính quyền Than Shwe ở Miến Điện trước đây thấy rằng dứt khoát phải chuyển đổi – và Than Shwe đã ủy nhiệm cho Thein Sein làm việc đó, nếu không thì đất nước sẽ tan hoang, nội chiến, nền kinh tế sẽ sụp đổ – thì những người cộng sản, tôi muốn nhấn mạnh là những người cộng sản bảo thủ ở Việt Nam, có lẽ cũng đang nhận ra điều đó.

Thậm chí nhận ra một cách sâu sắc. Rằng tất cả những vấn nạn, những hệ quả của xã hội Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam và sẽ dắt dây tới nền chính trị Việt Nam, rất có thể sẽ sụp đổ trong những năm tới nếu không thay đổi. Chính vì vậy, có lẽ là họ đang nghiên cứu kịch bản Miến Điện. Làm thế nào để có một sự chuyển đổi yên bình, không đổ máu, mà họ vẫn giữ được quyền lực. Tất cả vẫn còn hầu như y nguyên, chỉ chia bớt cho dân chúng một số quyền dân chủ nào đó.

Và nếu điều đó được thực hiện – tôi giả thiết là được thực hiện với vai trò của ông Phạm Quang Nghị chẳng hạn – thì dù sao cũng có thể coi đó là một tín hiệu tích cực. Như thế, chuyến đi Mỹ lần này của ông là tiền đề cho những dấu hiệu tích cực sau này.

Mặc dù chưa thể nói là những người cộng sản bảo thủ ở Việt Nam họ đã thực sự hồi tâm hay thành tâm, trước tất cả những việc cần phải làm cho dân chủ hóa đất nước sắp tới. Nhưng dù sao theo tôi, trong giai đoạn vài năm tới với những dấu hiệu đã chuyển biến từ bây giờ, sẽ là cơ hội cho dân chủ, nhân quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam.

RFI : Có lẽ khi đem giàn khoan đến Hoàng Sa, hệ quả mà Bắc Kinh không ngờ là việc Việt Nam « xoay trục » ?

Tất cả cần cô đọng ở một câu thôi : « Cám ơn giàn khoan Hải Dương 981 ! »

RFI : Xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng đã vui lòng nhận trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ hôm nay.

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng – Saigon 25/07/2014  by Thụy My

 

Tại Sao Tham Gia “Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ”?

Tuyết Mai

Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng và Cựu Dân Biểu Cao Quang Ánh vừa mới thành lập tổ chức “Liên Minh Cho Một VN Tự Do và Dân Chủ”, được giới thiệu vào lúc 7 giờ chiều ngày 15/7/2014 tại Nhà hàng Harvest Moon ở Falls Church, VA.

TS Nguyễn đình Thắng giới thiệu sơ qua về “ Liên Minh Cho Một Việt NamTự Do và Dân Chủ”. Chúng ta là những con dân Việt Nam lưu lạc khắp nơi trên thế giới, có một vũ khí, một sức mạnh tiềm tàng mà từ 39 năm qua, chúng ta người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới chưa sử dụng đúng mức sức mạnh tiềm tàng này. Đó là quyền công dân của các quốc gia dân chủ như Hoa Kỳ, Úc Châu, Canada, Đức, Anh, Pháp…Cương vị của của người Mỹ gốc Việt là làm chủ một phần của Hoa Kỳ, làm chủ một phần chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Đó là lý do “Liên Minh Cho Một VN Tự Do Và Dân Chủ” ra đời, để phát động một phong trào, nơi nào có người Việt tự do, nơi đó có những cuộc vận động với các vị dân cử ở các quốc gia dân chủ trên thế giới. Phong trào này sẽ phát triển mạnh, không riêng gì ở Hoa Kỳ mà sẽ lan rộng nhiều nơi trên thế giới.

Liên Minh sẽ không đạt được kết quả tốt đẹp, nếu không có sự tham gia của các tổ chức ở các quốc gia khác nhau. TS Thắng rất mong có nhiều người tham gia vào Liên Minh này bằng cách lập ra những liên minh ở địa phương, rồi kết hợp với nhau, để thực hiện giấc mơ của chúng ta là khôi phục lại đất nước, khôi phục lại tinh thần Bách Việt ngày xưa.

blank

“ Liên Minh Cho Một VN Tự Do và Dân Chủ” đã tổ chức ngày Tổng Vận Động ở QH HK và biểu tình trong công viên gần Quốc Hội vào ngày 16/7/2014.

Có khoảng bốn trăm đồng hương từ Canada, Nhật và 22 tiểu bang của HK về tham dự. Buổi sáng có buổi họp khoáng đại, với sự tham dự và phát biểu của nhiều vị dân cử như Dân biểu Gerald Connolly, DB Frank Wolf, DB Christopher Smith, DB Zoe Lofgren..…, đại diện các phái đoàn VN từ xa về và quý vị đại diện tôn giáo được mời phát biểu. Cùng lúc đó hằng trăm đồng hương chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm năm, mười người đến vận động trực tiếp, trình bày nguyện vọng của mình với các vị dân biểu, Thượng nghị sĩ của tiểu bang mình.

Phái đoàn Virginia do Cô Minh Thu hướng dẫn, đã đến gặp TNS Tim Kaine và TNS Mark Warner. Cả hai thượng nghị sĩ đã lắng nghe nguyện vọng của người Mỹ gốc Việt vùng Virginia, về nhân quyền ở VN, về Dự luật Nhân Quyền cho Việt Nam đã đựơc thông qua Hạ viện hai lần mà không được đem ra biểu quyết ở Thượng Viện, về giàn khoan 981 của Trung Cộng trong lãnh hải VN… Cả hai Thượng nghị sĩ đã hứa sẽ quan tâm đến những vấn đề này và đề nghị chúng ta nên đi bầu để có tiếng nói trong Quốc Hội HK.

Sáng ngày 15/7, Ông Nguyễn văn Tạo, đại diện cho Phật Giáo Hòa Hảo Ban Trị Sự Trung Ương Hải Ngoại, đến từ Arizona cùng phái đoàn khoảng ba mươi người đến gặp hai Thượng nghị sĩ của Arizona là John McCaine và Jeff Flake. Ông Tạo cho biết, cuộc hội thảo diễn ra rất tốt đẹp. Phái đoàn Arizona đã yêu cầu và hai Thượng Nghị sĩ của Arizona hứa sẽ tiếp tay về Dự luật Nhân Quyền cho Việt Nam được đưa ra Thượng viện biểu quyết, và hai ông cũng hứa sẽ can thiệp để giàn khoan 981 của TC rút khỏi lãnh hải VN (Giàn khoan 981 của TC đã rút khỏi lãnh hải VN). Về nhân quyền hai ông cũng hứa sẽ cố gắng đòi hỏi VC phải tuân theo luật lệ trong Hiến Chương của Liên Hiệp Quốc, nếu không VN sẽ không được tham gia Trans Pacific Partnership (TPP).

Cùng lúc đó, nhiều nhóm nhỏ khác đi gặp các vị dân cử của tiểu bang họ.

Chị Trịnh Hân, trưởng phái đoàn Toronto, Canada gồm 42 người và một phái đoàn từ Montreal, Canada cũng với trên bốn mười người , đã không quản ngại đường xa về đây tranh đấu cho Việt Nam. Chị Hân có ý kiến chúng ta nên ủng hộ, tham gia “Liên Minh cho một VN Tự do và Dân chủ”, để thực thi quyền làm chủ một phần đất nước HK, bằng cách đi thẳng vào Quốc Hội, tiếp xúc trực tiếp các vị dân biểu, thượng nghị sĩ HK, trình bày nguyện vọng của chúng ta.

Chị Trịnh Hân tin tưởng, Tiến sĩ Thắng và Cựu DBCao Quang Ánh đã nghiên cứu và có những chương trình hợp lý, chính đáng, để trình lên Quốc Hội và Chính phủ Hoa Kỳ. Theo chị, ngoài những cuộc hội thảo, biểu tình, những buổi văn nghệ rầm rộ…chúng ta cũng cần biết cách vận động, đi tới những cơ quan có quyền lực, những nơi có thể can thiệp giúp đỡ chúng ta một cách hữu hiệu.

blank

Ông Phạm hữu Liêm đã lái xe một mình 15 giờ từ Arkansas đến Washington, D.C. để tham dự cuộc Tổmg vận động cho Việt Nam. Ông Phạm hữu Quang từ Oklahoma và nhiều đại diện các phái đoàn từ nhiều tiểu bang ở xa về tham dự cuộc Tổng Vận Động đều có ý kiến giống nhau. Theo họ, có một số tổ chức, có những việc làm rất hay rất tốt, nhưng chưa đạt được kết quả. Sau khi gặp TS Thắng, với những sách lược mà TS Thắng đưa ra thì nhiều vị đại diện thấy đây là một phương thức đấu tranh có thể đạt được thành công . Qua hai ba năm cùng sinh hoạt với TS Thắng, nhiều người thấy kết quả tốt đẹp, thí dụ như Ông Cù Huy Hà Vũ, Đỗ thị Minh Hạnh và Nguyễn Tiến Trung đã được trả tự do.

Cùng với sự vận động trực tiếp của nhiều người, Thượng viện HK đã ra Nghị quyết 412 yêu cầu Trung Cộng rút giàn khoan ra khỏi lãnh hải VN. Dân biểu Randy Forbes (VA) cũng hứa trong ngày tổng vận động (15/7) sẽ đề nghị đưa ra một nghị quyết tương tự như ở Thoụng Viện. Đó là kết quả của sự vận động trực tiếp với Quốc Hội HK. Chúng ta phải làm việc đúng cách, đúng lúc và đúng chỗ thì mới đạt được thành công. Đó là đường hướng TS Thắng đã đưa ra.

Ông Quang nói ông mong chúng ta học được sách lược của người Do Thái. Họ được sự ủng hộ mạnh của Hành Pháp và Lập Pháp HK. Theo ông thì TS Thắng đã đi đúng đường, không những chúng ta tạo được ảnh hưởng ở Quốc Hội mà cả Hành Pháp. Những năm tháng trước các anh em đã về đây cùng vận động tự do, dân chủ cho Việt Nam ở Quốc Hội và Hành Pháp. Lần này các vị đại diện ở xa về vì giàn khoan của Trung Cộng trong lãnh hải VN. Điều này đã nói 1ên ý đồ Trung Cộng muốn thôn tính Việt Nam. Nếu chúng ta muốn còn nhìn thấy đất nước Việt Nam tồn tại ở Đông Nam Á thì đây là cơ hội phải hành động. Nếu chúng ta không làm gì trong lúc này, thì chẳng bao giờ chúng ta có thể làm được điều gì. Cơ duyên đã đến mà chúng ta không nắm bắt, thì chúng ta sẽ hối hận nhiều và bản đồ VN sẽ không còn trên thế giới Tự do nữa.

Ông Quang và nhiều người rất cảm kích trước sự tham gia đông đảo của hằng trăm anh chị em đã không quản ngại đường xá xa xôi, từ Canada về đây. Ông Quang tin tưởng, với hào khí đấu tranh đó, một ngày không xa, chúng ta sẽ thấy cờ vàng ba sọc đỏ trở về trên quê hương Việt Nam.

Ông Sinh Cẩm Minh, Chủ tịch CĐ Tennesse hướng dẫn phái đoàn 13 người, gồm có ba thế hệ, người già nhất 84 tuổi (nguời Mỹ), người trẻ nhất 11 tuổi. Ông nói việc đấu tranh đòi hỏi tất cả mọi thành phần dân tộc, già trẻ, gái trai…đều có trách nhiệm. Tất cả phải nhập cuộc, mọi người trong phái đoàn rất vui vẻ nhập cuộc.

Ông Trần Văn Truyền bị xác minh tài sản

Ông Trần Văn Truyền bị nghi là đang sở hữu căn biệt thự đắt tiền tại Bến Tre

Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa điều đoàn cán bộ đến phối hợp với tỉnh Bến Tre để kiểm tra và xác minh tài sản của nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền, theo báo trong nước.

Động thái trên diễn ra sau khi cơ quan này công bố quyết định kiểm tra dấu hiệu vi phạm của đảng viên đối với ông Truyền, báo Lao Động đưa tin ngày 24/7.

Thời gian làm việc của đoàn sẽ kéo dài 90 ngày, báo này cho biết thêm.

BBC đã liên lạc với UBND tỉnh Bến Tre và được xác nhận một đoàn cán bộ từ Ủy ban Kiểm tra Trung ương đang làm việc tại địa bàn tỉnh, nhưng không nói rõ chi tiết.

Ông Truyền, cựu Ủy viên Trung ương Đảng CSVN, bị nghi là đang sở hữu căn biệt thự đắt tiền tại xã Sơn Đông, Thành phố Bến Tre.

Hồi cuối tháng Hai, Báo Người Cao Tuổi của Hội người cao tuổi Việt Nam đã gây chấn động dư luận khi cho đăng bài và ảnh về điều mà báo này gọi là “của nổi” của ông Truyền.

Bên cạnh đó, ông này còn bị cho là đã bổ nhiệm hàng chục cán bộ không đủ chất lượng vào cơ quan thanh tra trước khi nghỉ hưu.

Ngày 26/2, trong cuộc phỏng vấn với báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, ông Truyền cho biết “tôi sẵn sàng cung cấp các thông tin và minh định về tài sản của mình với cơ quan chức năng Trung ương, nếu các cơ quan này có nhu cầu xác minh, làm rõ”.

Hồi giữa tháng Sáu, Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh đã thông báo trong một phiên chất vấn tại Quốc hội về việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương được Ban bí thư Trung ương chỉ đạo điều tra về tài sản của ông Truyền.

Về quyết định bổ nhiệm cán bộ của ông này, ông Tranh cho biết “thời gian bổ nhiệm chưa đầy đủ, số lượng cấp phó nhiều hơn quy định, năng lực một số cán bộ chưa đạt yêu cầu”.

‘Có thể xử lý hình sự’

Trả lời BBC ngày 24/7, Luật sư Hoàng Văn Hướng, Trưởng văn phòng Luật sư Hoàng Hưng (Đoàn luật sư TP Hà Nội), cho biết ông Truyền có thể bị xử lý hình sự nếu bị phát hiện vi phạm ở mức độ nặng.

“Công tác kiểm tra nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì phải làm theo điều lệ Đảng và giao cho tổ chức quản lý sinh hoạt Đảng của ông Truyền”, ông Hướng nói.

“Còn việc bổ nhiệm là trách nhiệm của cơ quan chính quyền. Cần xem xét việc bổ nhiệm cán bộ có làm theo quy trình, các tiêu chế, điều kiện bổ nhiệm cán bộ hay không”.

“Ở đây có hai khía cạnh là xem xét vi phạm điều lệ Đảng và vi phạm trong việc bổ nhiệm cán bộ khi còn đương chức”

“Nếu có vi phạm thì phải xử lý kỷ luật theo điều lệ Đảng, xử lý kỷ luật ở cấp chính quyền , hành chính và kể cả hình sự”.

Có thể xử lý hình sự ông Trần Văn Truyền

Trả lời BBC ngày 24/7, Luật sư Hoàng Văn Hướng, Trưởng văn phòng Luật sư Hoàng Hưng (Đoàn luật sư TP Hà Nội), cho biết ông Truyền có thể bị xử lý hình sự nếu bị phát hiện vi phạm ở mức độ nặng.

“Công tác kiểm tra nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì phải làm theo điều lệ Đảng và giao cho tổ chức quản lý sinh hoạt Đảng của ông Truyền”, ông Hướng nói.

“Còn việc bổ nhiệm là trách nhiệm của cơ quan chính quyền. Cần xem xét việc bổ nhiệm cán bộ có làm theo quy trình, các tiêu chế, điều kiện bổ nhiệm cán bộ hay không”.

“Ở đây có hai khía cạnh là xem xét vi phạm điều lệ đảng và vi phạm trong việc bổ nhiệm cán bộ khi còn đương chức”

“Nếu có vi phạm thì xử lý kỷ luật theo điều lệ đảng, xử lý kỷ luật ở cấp chính quyền , hành chính và kể cả hình sự”.

Vi phạm nhân quyền bằng cách luật hóa sự tăng quyền “dùng nhục hình” cho công an?

Bạo lực từ giới công quyền gây bức xúc trong xã hội

Công an phường xã có quyền “tiến hành kiểm tra, xác minh ban đầu” là nội dung quan trọng nhất và cũng khiến gây tranh cãi nhiều nhất trong giới đại biểu Quốc hội và chuyên gia pháp luật chưa đến nỗi hoàn toàn vô cảm.

Nội dung đầy tính “sáng tạo” trên nằm trong khoản 2 Điều 25 của Dự thảo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, theo đó ngoài quy định công an xã, phường, thị trấn, đồn công an, trạm công an có các quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập hồ sơ, phân loại và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm xác định có dấu hiệu tội phạm…, công an xã, phường còn được tăng quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu.

Tản quyền hóa và nạn “tự tử”

Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng đột biến trong những năm gần đây trên khắp các vùng đất nước chắc chắn là một trong những nguồn cơn chính yếu để Bộ Công an và sở công an các tỉnh thành tìm cách “tản quyền”.

Thế nhưng trong một nền hành chính mà nạn “trên bảo dưới không nghe” ngày càng tồi tệ, tình trạng tản quyền hóa đã lan tràn từ lâu, với quyền năng sinh sát nằm trong tay một đội ngũ công an phường xã rất thiếu được đào tạo bài bản nhưng lại thừa thãi tinh thần “kiêu binh”. Hệ lụy quá bất tương xứng như thế đã dẫn tới hậu quả một số công an viên và dân phòng ấu trĩ về kinh nghiệm đến mức không thuần thục ngay cả thủ đoạn… đánh người.

Cái chết của một người đàn ông có tên là Ngô Thanh Kiều trong đồn công an ở Phú Yên vào năm 2012 do bị đánh vào chỗ hiểm là một điển hình của rất nhiều điển hình về điều mà cộng đồng quốc tế lên án cảnh sát Việt Nam sử dụng nhục hình.

Nạn nhục hình càng đáng được ghi khắc vào những năm gần đây. Cùng với hiện tượng nổi lên ngày càng nhiều tiêu cực của ngành công an Việt Nam, những cái chết được mô tả là “tự mình giết mình” cũng nối tiếp nhau sinh thành. Hàng loạt vụ việc được công an địa phương báo cáo là “tự treo cổ” đã xảy ra: Nguyễn Công Nhựt ở trụ sở công an thuộc Bình Dương, anh H. cũng ở trụ sở công an thuộc Bình Dương Bình Dương, Bùi Thị Hương ở trụ sở công an thuộc Bình Phước, Đỗ Văn Bình ở trụ sở công an thuộc Đà Nẵng, Đặng Trung Trịnh ở trụ sở công an thuộc Hải Dương…

Đặc biệt từ năm đầu 2013, khi Tổ chức Ân xá quốc tế lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam tính từ thời điểm năm 1975 và báo chí “lề trái” quật khởi tính phản biện, cho đến nay có ít nhất 15 cái chết do “tự tử” trong đồn công an bị giới truyền thông phát hiện.

Chính bởi thực trạng quá tối tăm như thế, khi Dự thảo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự được đưa ra thảo luận, các đại biểu quốc hội đã phải đặc tả về một nguyên nhân sâu xa khiến người dân sợ hãi về dự thảo này: tại các trụ sở của công an xã, huyện liên tiếp xảy ra những vụ chết người mà nguyên nhân đều “rất khó hiểu, khó tin và khó chấp nhận”.

Cảnh sát và dân phòng bị cáo buộc bạo lực với dân

Cả nước là “cơ quan cảnh sát điều tra”

Nhiều chuyên gia pháp luật cũng cho rằng nếu đưa lực lượng công an xã vào điều tra ban đầu là rất nguy hiểm. Lý do là ngoài việc tìm ra tội phạm, việc bảo mật thông tin ban đầu là vô cùng quan trọng.

Việc này công an xã khó đáp ứng được và sẽ có nhiều tiêu cực phát sinh như tuồn thông tin ra ngoài, bao che tội phạm… gây khó cho cơ quan cảnh sát điều tra điều tra sau này. Một sự thật là khi quyền lực của “quan xã” càng cao bao nhiêu thì việc quản lý càng gặp khó khăn bấy nhiêu.

Vào lần này, điểm bổ sung và đặc biệt khác với Pháp lệnh công an xã năm 2008 chính là việc công an phường xã có quyền “tiến hành kiểm tra, xác minh ban đầu” trong Dự thảo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

“Nếu công an phường, xã được tham gia điều tra, chắc chắn sẽ có thêm nhiều người bị đánh bầm dập lúc xét hỏi” – phần đông dư luận người dân lập tức phản ứng gay gắt khi dự thảo trên còn e ấp phía sau tấm rèm buông nơi tĩnh phòng quốc hội.

Ngay Kiểm sát viên cao cấp Võ Văn Thêm, Phó Viện trưởng Viện Phúc thẩm 3 của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao cũng phải thừa nhận: “Hiện chưa có nước nào trên thế giới lại đưa công an xã, phường… vào lực lượng điều tra. Mục tiêu của dự luật là tinh gọn đầu mối, song chia nhỏ như thế này đang làm phức tạp, tạo ra nhiều lỗ hổng hơn”.

Còn câu hỏi mà người dân phóng ra là cơ chế để quản lý lực lượng tác nghiệp công an phường xã sẽ được thực hiện như thế nào khi chưa có sự chuẩn bị về nhân lực, phương pháp và các biện pháp giám sát cũng như các chế tài cần thiết?

Cơ chế để quản lý lực lượng tác nghiệp công an phường xã sẽ được thực hiện như thế nào khi chưa có sự chuẩn bị về nhân lực, phương pháp và các biện pháp giám sát cũng như các chế tài cần thiết?

Tuy thế và như thường lệ, cơ quan pháp luật Quốc hội vẫn không thể thỏa mãn được những vấn đề vừa ẩn chứa tính quan liêu vừa ngoài tầm kiểm soát của họ. Dù có thể “thông cảm” với tình trạng vừa quá tải vừa muốn né tránh trách nhiệm của các cơ quan công an cấp trung ương và cả cấp tỉnh thành, nhưng mặt bằng văn hóa và nghiệp vụ quá kém cỏi của lớp công an phường xã là không thể biện minh được cho cơ chế đùn đẩy chức trách trong nội bộ.

Một khi đã được tăng quyền và kế thừa truyền thống quá tản quyền về hoạt động giám sát, đương nhiên sẽ xảy ra tình trạng quân hồi vô phèng ở không ít địa phương và đối với không ít công an viên. Thay vì truy bắt tội phạm, sẽ không thiếu trụ sở công an phường xã biến thành cơ quan cảnh sát điều tra giả hiệu.

Một số công an viên có thể lạm dụng và cả lợi dụng quyền điều tra ban đầu của mình để “bắt cóc” công dân nhằm mục đích trả thù riêng tư hoặc làm tiền. Tệ nạn “mãi lộ công đường” trong ngành công an cũng do đó sẽ chỉ có tiến chứ không thể lùi…

Xem thường Công ước chống tra tấn?

14/3/2014 – đúng vào ngày tưởng niệm cái chết của đảo Gạc Ma sau cuộc đánh úp của hải quân Trung Quốc, tại một hội nghị tổng kết việc thi hành Bộ luật hình sự năm 1999, đại diện Bộ Công an đã tống đạt một đề nghị hết sức chuyên biệt về chuyên chính vô sản: để đáp ứng toàn diện, đầy đủ hơn yêu cầu trong tình hình hiện nay, bộ luật Hình sự sửa đổi sắp tới cần nghiên cứu hình sự hóa nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội đang xảy ra trong thời gian qua như: tổ chức lập hội trái phép, kêu gọi xóa bỏ hoặc thay đổi Hiến pháp…

Lời tống đạt trên chắc chắn càng làm khó cho danh thể vốn khá úa tàn của Nhà nước Việt Nam trước Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Tổng quan, Bộ Công an đã tích tụ đến 4 kiến nghị trái ngược và xúc phạm lòng dân chỉ trong vòng một năm qua. 3 kiến nghị trước thuộc về “quyền nổ súng” dành cho cảnh sát cơ động để “trấn áp bạo loạn”, “báo chí phải tiết lộ nguồn tin” dành cho báo giới và “hình sự hóa xử lý hội đoàn” dành cho xã hội dân sự.

Nếu yêu cầu thứ tư về “tản quyền” cho công tác điều tra ban đầu của công an phường xã được Quốc hội lặng gật nhẹ bẫng như đã từng nhất trí tuyệt đối cao về Hiến pháp sửa đổi 2013, tương lai nhục hình nhiều khả năng sẽ đột biến gia vị ở rất nhiều vùng miền, trong đất nước mà một nhà thơ đã mô tả “Thơ tôi khóc lệ rơi hình chữ S”.

Nhiều cái chết “mình tự giết mình” sẽ còn xảy ra vào những tháng ngày tới, trong khi Bộ Công an và Bộ Ngoại giao vẫn thản nhiên “tiếp tục triển khai hội nghị về Công ước chống tra tấn của Liên hiệp quốc” như một sự làm vì.

Bài phản ánh quan điểm riêng và văn phong của tác giả, thành viên Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.

Ông Phạm Quang Nghị thăm Mỹ

Ông Phạm Quang Nghị đã gặp một số nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ như Thượng nghị sỹ John McCain

Tin cho hay ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đang có chuyến thăm tới Hoa Kỳ bắt đầu từ 21/7.

Ông Nghị bắt đầu chuyến thăm từ thủ đô Washington DC, nơi ông có các cuộc làm việc với Cố vấn cao cấp của Ngoại trưởng John Kerry, Thomas Shannon; Phó Cố vấn an ninh quốc gia phụ trách đối ngoại Tony Blinken; Chủ tịch thường trực Thượng viện Patrick Leahy và Thượng nghị sỹ John McCain.

Ông không gặp được bản thân ngoại trưởng Mỹ, thay vào đó Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman đã tới chào và chuyển tới ông lời thăm hỏi của ông Kerry.

Thông tấn xã Việt Nam cho hay trong các cuộc tiếp xúc, Bí thư Hà Nội đã “thông tin về tình hình Việt Nam, chính sách đối ngoại… của Việt Nam; khẳng định Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng và không ngừng thúc đẩy quan hệ hợp tác với Mỹ trong khuôn khổ Đối tác toàn diện”.

Ông cũng hoan nghênh các nỗ lực “tìm hiểu, nghiên cứu khả năng trao đổi giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng tham chính ở Mỹ trong thời gian tới”.

Hai bên còn đề cập tới tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

Về mặt chính thức, trong cương vị Ủy viên Bộ Chính trị và Bí thư Thành ủy, ông Phạm Quang Nghị là đại diện cao cấp của Đảng Cộng sản và không tham gia các thương lượng trực tiếp về chính sách.

Do vậy, chuyến đi Hoa Kỳ của ông được giới chuyên gia nhận định dường như là một cuộc “ra mắt” chính giới Mỹ của nhân vật có thể sẽ còn lên cao sau Đại hội Đảng XII sang năm.

Sau Washington DC, ngày 23/7 ông Nghị đã đi New York và sau đó ông sẽ thăm Chicago.

Tăng quan hệ với Washington

Chuyến đi của ông Phạm Quang Nghị cũng được xem như chỉ dấu của tiến trình xích lại gần Hoa Kỳ của Hà Nội.

Mới 10 tháng trước, ông Nghị còn đi thăm Bắc Kinh, nơi ông ca ngợi quan hệ truyền thống của Việt Nam với Trung Quốc.

Tuy nhiên kể từ đó, các hoạt động mạnh mẽ và đơn phương của Trung Quốc tại Biển Đông, tiêu biểu là sự kiện giàn khoan 981, đã đẩy Việt Nam lại gần quốc gia cựu thù cách một vòng trái đất.

Ông Carlyle Thayer, chuyên gia về Việt Nam tại Canberra, Úc châu, nói với BBC rằng chuyến đi của ông Nghị sẽ cho thấy Washington sẵn sàng tới đâu trong việc hỗ trợ Hà Nội, đặc biệt trong lĩnh vực chủ quyền lãnh thổ.

Nó cũng hé mở rằng trong nội bộ ban lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có xu hướng muốn tách khỏi ảnh hưởng Trung Quốc và xích lại với Mỹ, tuy chưa rõ xu thế này mạnh mẽ đến đâu.

Một số chuyên gia, như Edmund Malesky, từ Đại học Duke ở bang North Carolina, Mỹ, cho rằng mong muốn hợp tác với Mỹ đang khá mạnh.

Ông Malesky tuần trước được báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng dẫn lời nói: “Nhóm những nhà hoạch định chính sách muốn thúc đẩy quan hệ với phương Tây hiện đang ở thế mạnh”.

Tuy nhiên, Giáo sư Thayer cảnh báo rằng việc Trung Quốc di rời giàn khoan 981 có thể đã làm những người chủ trương thân phương Tây bị động và kế hoạch kiện Bắc Kinh ra tòa trọng tài quốc tế mà phe này ủng hộ có thể bị dừng.

Ngay cả nỗ lực mang vấn đề quan hệ với Trung Quốc ra hội nghị thượng đỉnh Asean tháng tới tại Miến Điện nay cũng có thể bị ảnh hưởng, theo ông Thayer, vì việc rời giàn khoan đã giảm ý nghĩa của công tác này.

Đặc phái viên tôn giáo LHQ tới Việt Nam

Ông Bielefeldt sẽ viết báo cáo về tự do tôn giáo ở Việt Nam

Đặc phái viên tôn giáo của Liên Hiệp Quốc, Heiner Bielefeldt, có chuyến thăm 11 ngày tới Việt Nam để tìm hiểu về tự do tôn giáo.

Liên Hiệp Quốc nói mục tiêu của chuyến đi là để tìm hiểu việc “thúc đẩy và bảo vệ quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng”.

Bản thân ông Bielefeldt được dẫn lời nói trước khi lên đường tới Việt Nam cho chuyến thăm 11 ngày bắt đầu từ 21/7:

“Đây sẽ là cơ hội để tôi trao đổi với Chính phủ, hiểu rõ hơn cách họ bảo vệ và thúc đẩy tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng và chia sẻ kiến thức của tôi về những vấn đề liên quan tới quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng.”

Với tư cách là Đặc phái viên, sứ mạng của ông do Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc trao cho cũng bao gồm việc xác định những cản trở hiện hữu hoặc đang tới với việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và đưa ra những khuyến cáo cụ thể để vượt qua.

Liên Hiệp Quốc cho biết ông Bielefeldt sẽ gặp gỡ nhiều quan chức ở cấp trung ương và địa phương cũng như tiếp xúc các đại diện tôn giáo, cộng đồng tín ngưỡng và các tổ chức dân sự.

Báo cáo tôn giáo

Báo cáo về chuyến đi của ông bao gồm các kết luận và khuyến cáo từ chuyến đi sẽ được trình lên Hội đồng Nhân quyền trong năm tới.

Nhưng ông Bielefeldt sẽ chia sẻ những phát hiện ban đầu với báo giới vào trưa ngày 31/7 tại trụ sở của UNDP ở Hà Nội.

Một trang mạng tôn giáo nói Nghị định 92 ra năm 2012 nhằm quản lý các hoạt động và tổ chức tôn giáo là một trong số những lo ngại chính của ông Bielefeldt.

Tổ chức Đoàn kết Công giáo Toàn cầu hôm thứ Hai nói Nghị định có ngôn ngữ mơ hồ và tạo thêm những thủ tục hành chính quan liêu.

Họ cũng nói nghiên cứu của họ cho thấy có bằng chứng về chuyện sách nhiễu, trấn áp, theo dõi sỗ sàng, bỏ tù, tra tấn và giết người trái pháp luật ở Việt Nam kể từ khi có Nghị định 92.

Vụ Giàn Khoan Hải Dương 981, Trung Quốc xâm lăng gậm nhấm và sẽ không ngừng ở đây

Phỏng vấn David Brown: ‘Trung Quốc sẽ không ngừng ở đây’
Tuesday, July 22, 2014 7:23:58 PM

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=192121&zoneid=1#.U9DUL7FCdog


LTS: Việc Trung Quốc mang giàn khoan Hải Dương 981 đến hoạt động trái phép tại thềm lục địa Việt Nam cách đây hai tháng là một xâm phạm chủ quyền nghiêm trọng nhất trong liên hệ bang giao giữa hai nước. Tình hình có lúc đã căng thẳng tưởng chừng như sắp có chiến tranh, lúc lại dịu đi như không có chuyện gì xẩy ra. Hành động khiêu khích này của Trung Quốc phải được đánh giá như ra sao, và ảnh hưởng lâu dài của sự việc này trên tinh hữu nghị giữa hai nước, cũng như ổn định trong khu vực như thế nào? Nhà phân tích tình hình Đông Á David Brown (*) chia sẻ nhận định của ông qua cuộc phỏng vấn dưới đây, do phóng viên Hà Giang thực hiện.

Nhà ngoại giao kỳ cựu kiêm bình luận gia tình hình Biển Đông David Brown. (Hình: David Brown cung cấp)

Hà Giang (NV): Chắc hẳn là ông theo dõi cuộc khủng hoảng giàn khoan tại Việt Nam từ đầu tháng Năm đến nay. Ông có nhận định gì về sự việc này, đặc biệt là về điều mọi người hy vọng rằng biết đâu khủng hoảng này đã mang đến một hướng đi mới tốt hơn cho Việt Nam?

Ông David Brown: Trước hết tôi muốn nói về hành động khiêu khích của Trung Quốc. Theo tôi hành động nguy hiểm này đã tạo ra một tình huống rất xấu xí, mà chắc chắn Trung Quốc đã tính toán rất kỹ. Nếu không họ đã không gửi thêm 100 tàu khác để hộ tống, đưa Hải Dương 981 vào vị trí. Đối với Việt Nam, tôi nghĩ nó đã tạo ra một tình thế hết sức khó xử. Trong bài viết gửi cho Asia Sentinel, ngay sau khi giàn khoan được triển khai vào đầu tháng Năm, tôi đã viết rằng Trung Quốc chỉ cầu mong Việt Nam dùng vũ khí để tiêu diệt giàn khoan này, nhưng may mắn thay, giới lãnh đạo Việt Nam đã nhận ra đó là biện pháp chỉ nên thi hành khi mọi thứ khác đều thất bại.

Cho đến thời điểm này, sự tranh chấp đã thay đổi toàn bộ tình hình Biển Đông. Từ trước đến giờ, Trung Quốc có xu hướng đi từng bước rất nhỏ và chờ một thời gian cho mọi việc trở lại bình thường rồi lại tiến thêm bước nữa, bước nữa. Nhưng trong năm vừa qua, với những tranh chấp thoạt đầu là với Phi Luật Tân, và bây giờ với Việt Nam, họ đã nâng tranh chấp này lên một cấp hoàn toàn mới. Và phải nói thẳng ra, chỉ nhưng ai mù lòa, thì giờ này mới còn không thấy rằng Trung Quốc đã quyết tâm chiếm giữ vùng biển mênh mông này, bất kể ai khác nghĩ gì.

Khủng hoảng vừa qua khiến những nhà phân tích thế giới nào mà từ trước đến giờ vẫn còn châm chước cho hành động của họ (Trung Quốc), buộc phải thấy rằng thế giới đang đối diện với một hiểm họa Trung Quốc lù lù ngay trước mặt, chứ không có sự hiểu lầm nào cả. Và đây cũng là tình huống không thể thương lượng được. Hình như ông Trương Tấn Sang đã nói “không thể thương lượng với người đã kéo vào sân sau của nhà mình rồi nói sẵn sàng chuẩn bị chia căn nhà đó với mình.” Với Việt Nam, khủng hoảng này tạo ra một tình huống éo le, vì nó cho thấy rõ ràng là chính sách cố “thích ứng” với Trung Quốc không giải quyết được vấn đề.

NV: Ông nhận định gì về việc lãnh đạo Việt Nam có những lời tuyên bố rất khác nhau, và đưa ra thế giới những thông điệp có vẻ là mâu thuẫn, hay ít nhất là không đồng nhất về sự kiện giàn khoan này?

Ông David Brown: Những lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo Việt Nam khiến tôi nghĩ đến hai chữ “lộn xộn” (confused). Tôi nhớ vào thời điểm giàn khoan được đưa vào Việt Nam, hội nghị Trung Ương khóa 7 của đảng CSVN vừa nhóm họp. Và trong nhiều tuần lễ, trời như sập xuống, nhưng bản tóm tắt của hội nghị không đề cập đến vấn đề nóng đang xẩy ra. Điều đó không có nghĩa là không ai trong trung ương đảng nhìn thấy vấn đề, mà là vì đảng đang bị một cơn khủng hoảng về chính sách. Cho đến khi họ ngồi xuống thảo luận và đồng ý với nhau thì không ai có thông điệp gì rõ ràng cho người dân.

Lời tuyên bố quan trọng đầu tiên là của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc họp ASEAN, mà theo tôi, tuy là một viên đá dò đường để xem phản ứng của các đối tác trong ASEAN, nhưng cũng đạt được một mục đích nhỏ, đó là để ASEAN nhận ra tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, tuy trên nguyên tắc là tranh chấp riêng của hai nước, nhưng trên thực tế, gây ảnh hưởng lên tất cả các nước trong vùng.

Tuyên bố kế tiếp, cũng là tuyên bố quan trọng hơn, cũng đến từ Nguyễn Tấn Dũng khi ông đến Phi Luật Tân. Ở đây, trả lời phỏng vấn Bloomberg, ông Dũng thả trái bom lớn khi ông nói Việt Nam đang nghĩ đến việc mang Trung Quốc ra tòa. Dĩ nhiên trước khi vụ giàn khoan xẩy ra, việc mang Trung Quốc ra tòa là giải pháp Việt Nam chưa bao nghĩ đến. Tại thời điểm đó, sở dĩ những ông Trọng ông Sang chưa tuyên bố gì, là vì phải chờ thêm vài tuần nữa, các thành viên trong trung ương đảng mới có sự đồng thuận.

Dĩ nhiên tôi chỉ có thể diễn giải tình hình qua những gì tôi quan sát, nhưng tôi cho rằng những lời tuyên bố của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ Tịch Trương Tấn Sang trong thời gian gần đây cho thấy bộ sậu trong trung ương đảng đã cùng thỏa thuận về một chính sách mới. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu điều này (và một số tín hiệu khác), có nghĩa là Hà Nội đã thấy mình không còn giải pháp nào khác hơn là đưa Trung Quốc ra tòa. Tôi nghĩ sớm muộn gì họ cũng sẽ hoặc đứng đơn kiện một mình, hoặc kiện chung với Phi Luật Tân.

Câu hỏi cần được đặt ra là nếu Hà Nội giờ đây đã sẵn sàng để kiện Trung Quốc, thì họ còn sẵn sàng làm gì sau đó nữa. Chúng ta vẫn chưa thể biết. Điều tôi chú ý là chuyến đi thăm Hoa Thịnh Đốn của Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh, mà tôi mong sớm xẩy ra. Tôi hy vọng là Hoa Thịnh Đốn sẵn sàng lắng nghe những gì ông Phạm Bình Minh muốn trình bày, để có những phản ứng thích hợp. Rõ ràng Trung Quốc không ngừng ở đây mà sẽ tiếp tục có những hành vi khiêu khích, ở vào thời điểm và địa điểm Trung Quốc chọn. Và họ sẽ không chỉ xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, mà còn những nước khác.

Tôi nghĩ rằng mọi việc sẽ tạm yên tĩnh sau khi Trung Quốc mang giàn khoan của họ đi, rồi đến mùa Xuân sang năm, lại có một đụng độ lớn khác, có thể lần tới họ sẽ kéo dàn khoan đến Phi Luật Tân. Từ trước đến giờ Trung Quốc vẫn thế, từng bước một. Điều này cũng có nghĩa là mọi người có tám tháng để tính toán xem họ cần phải đối phó ra sao trong lần khiêu khích tới. Đây là một cuộc chiến hết sức phức tạp.

NV: Chắc hẳn phải có một giải pháp nào đó mà một nước hay một số các nước có thể kết hợp để đối phó với Trung Quốc chứ. Theo ông thì giải pháp đó là gì?

Ông David Brown: Chúng ta chưa thảo luận về ASEAN. Từ nhiều năm nay khối ASEAN là một nhóm đã bị Trung Quốc trung hòa, vì Trung Quốc là đối tác thương mại và nguồn viện trợ quá quan trọng với Cam Bốt, Lào, và ở một mức độ nào đó, cả với Thái Lan và Malaysia. Vì thế khó mà có thể hình dung ASEAN sẽ đóng vai trò năng động. Tuy nhiên, giữa các nước thành viên của ASEAN có một mẫu số chung thấp nhất. Các nước trực tiếp có tranh chấp biển đảo với, và thực sự bị đe dọa bởi Trung Quốc cần phải kết hợp lại, phân tích và xem xét kỹ xem những tranh chấp của họ là gì, và lãnh hải của họ trên Biển Đông nằm ở đâu, rồi thương lượng để đi đến một số thỏa thuận giữa Việt Nam, Phi Luật Tân, Malaysia và Brunei. Vấn đề nằm ở chỗ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc nằm ở một dạng khác, dạng không thể thương lượng. Bốn thành viên này của ASEAN có thể thành lập một khối đồng nhất giữa, một nhóm nhỏ (subgroup) chẳng hạn, và thông báo cho các nước khác trong vùng biết về tất cả những tranh chấp liên quan đến họ. Đây là điều có thể thực hiện được, và nếu thực hiện điện có thể có nhiều tiến triển trong vòng sáu cho đến tám tháng tới. Nỗ lực nâng cao ý thức về những tranh chấp này cũng có thể khiến những nước như Malaysia, Singapore và Indonesia dần dà vào cuộc.

Còn đối với Hoa Kỳ, dù có chính sách xoay trục hay không xoay trục, tại thời điểm nay, Tòa Bạch Ốc phải đối đầu với quá nhiều việc để chú ý nhiều đến vùng Đông Nam Á. Khó có thể biết Tòa Bạch Ốc có đủ tâm trí để dồn cho việc vạch ra một ranh giới cho Trung Quốc vào lúc này hay không. Tuy nhiên tình thế cũng còn tùy vào việc Phó Thủ Tướng Phạm Bình Minh mang gì khi đến Hoa Thịnh Đốn, tức là Việt Nam sẵn sàng như thế nào để có một quan hệ thân thiết hơn với Mỹ. Mỹ đã nói với Hà Nội nhiều lần về điều này, và tôi nghĩ rằng ngay cả khi ông Trương Tấn Sang đến Mỹ tháng Bảy năm ngoái, Hoa Thịnh Đốn cũng đề cập rằng cách đối xử của Hà Nội với những người bất đồng chính kiến không thuận tiện cho việc nâng tầm quan hệ giữa hai bên thành một quan hệ chiến lược. Tôi tin rằng Hà Nội hiểu rất rõ mình cần phải làm gì. Chúng ta hãy chờ xem.

NV: Có phải ông vừa nói là Việt Nam đang ở thời điểm mà họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì để trở thành một đối tác chiến lược với Hoa Kỳ?

Ông David Brown: Không. Tôi nghĩ rằng Hà Nội đang ở thời điểm mà họ nhận ra được rằng chiến lược mà họ theo đuổi từ trước đến giờ chỉ đưa đến một kết cục là Việt Nam sẽ bị Trung Quốc gặm nhấm dần dần, và họ luôn phải sống trong vòng kiểm tỏa của nước này. Đây là điều không thể chấp nhận được, và nếu đọc lịch sử Việt Nam thì chúng ta hiểu đó cũng từng là điều không thể chấp nhận được trong vòng hai hoặc ba ngàn năm qua. Dĩ nhiên cần phải có những cuộc thảo luận để tìm ra giải pháp thích hợp. Tôi không có câu trả lời. Tôi không biết những gì đã được thảo luận ở hội nghị Trung Ương, nhưng tôi đoan chắc là đã có một cuộc thảo luận đến nơi đến chốn, và đã có một sự đồng thuận. Tôi nghĩ rằng trong thời gian sắp tới, khi ông Phạm Bình Minh đến Hoa Thịnh Đốn, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn, vì chắc chắn ông Minh sẽ mang đến Hoa Kỳ một thông điệp nào đó.

———————————————————–
*
Ông David Brown là một nhà ngoại giao kỳ cựu với hơn 35 năm kinh nghiệm, từng làm việc ở Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn trước năm 1975. Sau đó, ông phục vụ cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tại những quốc gia Á Châu khác. Ông rời nhiệm sở năm 1997 và nay được đánh giá là một chuyên gia về Đông Á, và năng lượng quốc tế. Ông David Brown từng trở lại Việt Nam triển khai các dự án giáo dục, bảo tồn môi trường trong nửa cuối của thập niên trước, và hiện vẫn đi lại thường xuyên giữa Việt Nam và Mỹ. Ngoài ra, ông còn là tác giả của nhiều bài viết phân tích về tình hình biển Đông và về vấn đề thời sự ở Việt Nam các tờ báo Asia Times, Asia Sentinel, Yale Global, East Asia Forum, China Economic Quarterly và blog Ba Sàm.

Phần Lan chặn lô vũ khí đi Ukraine từ Việt Nam

Hải quan Phần Lan nói lô vũ khí gửi tới Ukraine đã bị chặn hồi cuối tháng Sáu

Hải quan Phần Lan nói họ đã chặn một lô vũ khí đang trên đường tới Ukraine, theo hãng tin Reuters.

Lô hàng gồm “các vật liệu quân sự” đã bị chặn tại sân bay Helsinki hồi cuối tháng Sáu, hải quan Phần Lan nói hôm thứ Sáu 18/7.

Nhật báo Helsingin Sanomat, có đông thuê bao nhất tại Phần Lan và khối các nước Bắc Âu, nói rằng lô hàng vận chuyển qua đường hàng không này gồm số lượng lớn các thiết bị dùng để điều khiển tên lửa, tuy tin này không được hải quan Phần Lan xác nhận.

Hãng tin DPA của Đức trích lời ông Sami Rakshit, người đứng đầu lực lượng kiểm tra của hải quan Phần Lan nói: “Thông tin sơ bộ cho thấy đó là hàng quân sự.”

Thông tin sơ bộ cho thấy đó là hàng quân sự. Không phải là vũ khí, đạn dược mà hầu như chắc chắn là thuộc về những loại vũ khí nhất định nào đó.

Sami Rakshit, Trưởng Lực lượng Kiểm tra, Hải quan Phần Lan

“Không phải là vũ khí, đạn dược mà hầu như chắc chắn là thuộc về những loại vũ khí nhất định nào đó.”

“Đó là các vật liệu quân sự đang trên đường tới Ukraine,” ông Rakshit nói với Reuters. “Chúng không có các giấy phép cần thiết kèm theo.”

Lô hàng xuất xứ từ vùng Viễn Đông, nhưng “không phải Nga, Trung Quốc hay Bắc Hàn”, ông Rakshit xác nhận với DPA.

Ông Rakshit cho biết cơ quan hải quan Phần Lan đang điều tra xem ai là người sẽ nhận lô hàng tại Ukraine, mà theo Helsingin Sanomat là ở vùng viễn đông của Ukraine.

Miền đông Ukraine là khu vực đang trong cuộc khủng hoảng, với những người ly khai thân Nga đối đầu ác liệt với các lực lượng chính phủ.

Hôm thứ Năm 17/7, chiếc phi cơ dân sự MH17 của hãng hàng không Malaysia khi bay ngang qua vùng trời này đã bị bắn hạ, nhiều khả năng là do tên lửa, khiến toàn bộ 298 người trên khoang tử nạn.

Chính phủ Ukraine và phe phiến quân thân Nga ở nước này đổ lỗi cho nhau về thảm kịch, trong lúc chính phủ đưa ra điều mà họ cho là chứng cứ cho thấy phe phiến quân đã nhận trách nhiệm.

Phi cơ MH17 được cho là bị bắn hạ bởi hệ thống tên lửa tầm trung đất đối không Buk do Nga sản xuất

‘Lô hàng lớn’

Quân đội Phần Lan đang hỗ trợ hải quan điều tra chính xác về chức năng sử dụng của các phụ tùng thiết bị thuộc hệ thống tên lửa, Reuters nói.

Theo Helsingin Sanomat, lô hàng này xuất phát từ Việt Nam, và cơ quan hải quan Phần Lan đang điều tra xem liệu có phải các phụ tùng đã được bảo dưỡng tại Việt Nam hay không, cũng như lý do khiến Phần Lan được chọn làm điểm trung chuyển trong vận đơn.

Tuy nhiên, BBC chưa có điều kiện kiểm chứng với phía Việt Nam về tin này.

Cơ quan hải quan cũng sẽ chú ý tới hãng hàng không đã vận chuyển lô hàng nhằm xác định vai trò của hãng trong toàn bộ vụ việc. Tuy nhiên, tới thời điểm này hãng hàng không chưa bị nghi vấn về việc vi phạm quy định xuất khẩu.

Hải quan Phần Lan nói lô hàng là một trong những lô vũ khí lớn nhất mà họ từng chặn được. Trong nhiều năm qua, họ đã chặn được khoảng mười vụ nghi là thiết bị quân sự, trong đó có một số vụ nhằm gửi tới các nước đang đối diện lệnh cấm vận vũ khí.

Năm ngoái, hải quan nước này tham gia vào một vụ điều tra xuyên biên giới liên quan tới nỗ lực đưa lậu các phụ tùng xe tăng vào Syria đang có chiến sự, bất chấp lệnh cấm vận vũ khí quốc tế, thông qua ngả Phần Lan.

Các bài liên quan

Cái chết của nền kinh tế Việt Nam

Dự Đoán Kinh Tế Việt Nam

https://dudoankinhte.wordpress.com/2012/12/16/cai-chet-cua-nen-ktvn/

LTS: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đó là 1 nền kinh tế yểu mệnh, ngay từ định nghĩa cho đến thực tế. Và thực tế của hàng triệu người dân đang sống trên mảnh đất hình chữ S đối mặt là khó khăn, ngày càng khó khăn. Bài viết sau sẽ chỉ rõ ra sự giả dối của con số tăng trưởng GDP và đâu là nguyên nhân dẫn tới cái chết của nền kinh tế yểu mệnh này.

GDP TĂNG >< ĐÓI NGHÈO TĂNG

“Người Việt giàu lên chỉ là ‘giả tạo’” 

Tuy nhiên, một báo cáo của Chính phủ Việt Nam, đưa ra trong Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà Tài trợ (Hội nghị CG) vừa rồi, cho rằng thu nhập bình quân đầu người (GNI) của Việt Nam cao chỉ là giả tạo. Theo đó, trong 5 năm qua, việc tăng giá tiền đồng trong bối cảnh mất cân bằng vĩ mô và lạm phát cao là nguyên nhân đẩy thu nhập cao lên. (Cafef , 15/12/2012)

Trong bài có nhiều mâu thuẫn, ví dụ như đổ thừa là “do lạm phát” nên thu nhập người VN không tăng.

Nhưng con số công bố đã quy ra USD (bình quân đầu người 1260 USD/ năm trong năm 2011), và hiện nay giá USD chính thức và chợ đen không khác nhau bao nhiêu.

Do đó, thu nhập người VN tính bằng USDnhư công bố, là CÓ TĂNG, VÀ TĂNG RẤT MẠNH.

Như vậy, sai số ở chỗ nào, khi cùng lúc số người nghèo tại VN lại quá đông:

“…Việt Nam hiện đứng thứ 11 thế giới về số lượng người nghèo (14,3 triệu người, chiếm 16,9% dân số) và cũng nằm trong số nước có lượng người nghèo cao nhất khu vực. Lâu nay Việt Nam được xem là một trong những nước thành công nhất về giảm nghèo, tuy nhiên đó là đo theo chuẩn nghèo cũ, thấp hơn chuẩn quốc tế.

Nếu tính theo chuẩn nghèo mới của Việt Nam (1,61 USD cho khu vực thành thị và 1,29 USD cho khu vực nông thôn) thì tỷ lệ nghèo trên toàn quốc là 20,7%. Còn nếu so với chuẩn của quốc tế 2 đôla Mỹ một ngày (tính theo PPP) thì có hơn 40% người Việt Nam nằm dưới mức nghèo…”

Xin thưa: đó là do GIAN DỐI VỀ GDP, từ đó GIAN DỐI VỀ THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI.

VN có 92 triệu người, nếu thu nhập bình quân đầu người, theo công bố, là 1260 USD/năm, thì VN có GDP 116 tỉ USD.

NHƯNG thực tế GDP VN chỉ khoảng 60-80 tỉ USD mà thôi, do đó mới xảy ra tình trạng tới 40% người VN dưới mức nghèo, tính theo PPP.

Còn không tính theo PPP, dùng nominal income, thì số nghèo lên tới hơn 60%.

ĐẢNG VIÊN LÀM KINH TẾ

GDP trong 5 năm qua LIÊN TỤC SỤT GIẢM, kể từ 2007 đến nay.

VN “giàu nhất” là trong khoảng 2002-2006. Sau đó sụt lại.

Điều này không khó nhìn thấy. Thời cực thịnh trong nền KT Việt Cộng là những năm cuối cùng thời ông Thủ tướng Khái, còn gọi là “Khải khờ” trong chiến khu.

Do hồi đó còn chưa cho phép quan chức “làm KT”. Họ có tham nhũng, ăn hối lộ, nhưng do chưa chính thức được làm ăn riêng, nên họ còn giấu giếm, đầu tư qua nhiều trung gian, lại không thể ra mặt chèn ép ai quá lộ liễu, nên KT VN còn khá.

Trước 2007, KT VN đa số là do người ngoài đảng làm, với đảng viên cùng lắm chỉ đứng sau giật dây là chính.

Sau đại hội X năm 2006, đảng viên được phép “làm KT”, họ liền tung ra rất nhiều tiền trước đó tham nhũng, ăn hối lộ được, khi đó đem ra đầu tư, mở cty sân sau, đầu cơ vào TTCK, BĐS, v.v…

Số tiền “đột nhiên” được tung vào nền KT quá lớn, gây LẠM PHÁT vì đột nhiên sức CẦU > CUNG. Giá hàng hóa tăng vọt do nhu cầu quá lớn, cả về gạch, đá, xi măng, sắt thép, v.v… để xây BĐS.

Nhiều quan chức bung tiền ra mua đất, mua nhà, làm giá BĐS tăng vọt.

Quan chức tăng thu nhập rất lớn, nhiều đảng viên trở thành các ông chủ lớn, nhà tài phiệt, ví dụ như giòng họ bà Đặng Thị Hoàng Yến, bà Dương Thị Bạch Diệp, các quan chức trong VINASHIN, v.v…

Họ có tài sản lên tới nhiều trăm triệu USD, với nhiều cơ sở kinh doanh. Dùng thân thế đảng viên, họ ép nhiều người không cùng giai cấp đảng viên phải chịu lép vế, từ đó họ ép lề lối kinh doanh, nhiều doanh gia, trước đó từng đóng góp lớn vào nền KT.

Nếu Việt Cộng vẫn không cho đảng viên kinh doanh, thì giới không-đảng-viên đã có thể tiếp tục đà làm tăng trưởng KT liên tục từ 2007 đến nay. Nền KT đã không bị sụp đổ quá mạnh kể từ 2007.

XƯƠNG SỐNG CỦA NỀN KINH TẾ

Tôi có quen biết nhiều doanh gia, doanh nhân VN. Họ bị “ép chết” bởi các cty sân sau của quan chức. Ví dụ khi bỏ thầu, cho dù họ bỏ thầu giá rẻ cách mấy, chất lượng tốt cách mấy, vẫn bị thua các cty sân sau của quan chức.

Các cty sân sau bỏ thầu rất mắc, chất lượng kém, sau đó lại luôn đòi thêm tiền, làm thâm hụt ngân sách CP vô cùng to lớn.

Các doanh gia, doanh nhân không thuộc ĐCS bị ép, 1 số giải nghệ, 1 số thu hẹp làm ăn, đến chừng giữa năm ngoái thì dẹp hết vì thua lỗ.

Tại mọi quốc gia, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ là nơi TẠO ra việc làm nhiều nhất, và số đông các doanh nghiệp này tạo ra khung sườn, xương sống, của nền KT.

KT Mỹ mạnh phần lớn KHÔNG dựa vào các cty như IBM, Apple, nhưng vào các cty nhỏ làm thầu cho các cty lớn này, vào hàng trăm ngàn doanh nghiệp chuyên chở hàng, đóng gói, sửa máy, v.v…

Nhiều bạn sẽ ngạc nhiên nếu được cho biết, khi IBM cần lập hệ thống computer trong 1 văn phòng mới, họ KHÔNG dùng người của họ, mà ra ngoài thuê cho rẻ. Số nhân công IBM thuê hợp đồng ngay trong ngành vi tính còn đông hơn số nhân công chính thức của họ. 

Các cty vừa và nhỏ này làm cho nền KT Mỹ đa dạng vô cùng, người ta làm “linh tinh” cho các cty này rất thoải mái, thu nhập trung bình thôi, nhưng dễ tìm việc, làm giảm thất nghiệp.

Tại VN, đang khi đó, Việt Cộng nâng đỡ các cty, tập đoàn quốc doanh, tạo điều kiện cho các nơi này giết chết các cty vừa và nhỏ do tư nhân làm chủ.

Các cty sân sau của quan chức cũng tham gia vào việc triệt tiêu các cty không do đảng viên làm chủ.

SỤP ĐỔ KINH TẾ TƯ NHÂN

Nghị quyết 11 giáng 1 đòn chí mạng vào các doanh nghiệp tư nhân, qua việc cấm họ sử dụng vàng, đô la, hạn chế nhập khẩu hàng hóa, v.v…

Chính việc giết chết nền KT tư doanh đã giết chết nền KT VN, chứ không hẳn là các cty, tập đoàn quốc doanh đã hại chết nền KT VN.

Các cty, tập đoàn quốc doanh chỉ ĐÓNG GÓP vào việc thảm sát nền KT VN, chứ không phải là yếu tố quyết định.

KT tư doanh chết, kéo theo hàng chục triệu việc làm.

Nay thì tiêu tan rồi, không thể nào tái lập.

Cty nhỏ bên vợ tôi làm hàng xe Honda đã dẹp, máy móc phân tán bán đi hết, 1 số bị hư hại, rỉ sét, nay muốn mở lại thì không thể nào do thiếu tiền đầu tư – đã tẩu tán ra nước ngoài – và do thiếu nhân công, thiếu máy móc. Hàng mấy chục nhân công bị thất nghiệp vĩnh viễn.

Nhân lên toàn quốc cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp khác, thì thấy ngay rằng số thất nghiệp tại VN nay lên THÊM nhiều triệu người, và tỉ lệ thất nghiệp không thể dưới 25%. Số thiểu nghiệp khoảng 50%.

Trong toàn quốc, hiện không có tới 25% người đang làm đúng việc thích hợp. (Dân Trí, 14/12/2012)

Cuộc tàn sát giai cấp doanh nhân, trung lưu VN kể từ 2007 đến nay mới chính là lý do cốt lõi cho việc sụp đổ KT VN, trong đó NQ11 góp phần quan trọng nhất. Các yếu tố khác chỉ góp phần vào mà thôi.

———————–

Dân Trí, Cử nhân sống cơ cực hơn thời sinh viên, 14/12/2012, http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/cu-nhan-song-co-cuc-hon-thoi-sinh-vien-673894.htm

Cafef, Người Việt giàu lên chỉ là giả tạo, 15/12/2012, http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/nguoi-viet-giau-len-chi-la-gia-tao-20121215112548325ca33.chn

Dân Biểu Hoa Kỳ Đòi Tự Do Cho MS Dương Kim Khải

Mạch Sống, ngày 10 tháng 7, 2014. http://machsong.org

http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2905

Ngày 8 tháng 7 vừa qua DB Ted Poe (Cộng Hoà, Texas) đã ra trước diễn đàn của Hạ Viện để yêu cầu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ áp lực Việt Nam trả tự do cho Ms. Dương Kim Khải, và đưa Việt Nam vào lại danh sách các quốc gia phải quan tâm đặc biệt (CPC) vì đàn áp các tôn giáo một cách trầm trọng.

Statement-of-Congressman-Ted-Poe-07-10-14-small

Thể theo yêu cầu của phái đoàn vận động rất hùng hậu đến từ Houston trong Ngày Vận Động Cho Việt Nam vào cuối tháng 3 vừa qua, DB Ted Poe nhận “đỡ đầu” MS Dương Kim Khải.

Đỡ đầu tù nhân lương tâm là đề án của Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos, mang tên “Bảo Vệ Tự Do”. Vị dân biểu đỡ đầu sẽ làm mọi việc có thể để tạo áp lực lên chính quyền sở tại nhằm đòi tự do cho tù nhân lương tâm được đỡ đầu.

Ngay khi đề án bắt đầu vào cuối năm 2012, tổ chức BPSOS ra sức vận động các dân biểu Hoa Kỳ nhận “đỡ đầu” các tù nhân lương tâm Việt Nam. Tính đến nay đã có 10 tù nhân lương tâm Việt Nam được đỡ đầu.

DB Poe là một trong 10 vị dân biểu Cộng Hoà đã ký tên chung văn thư gửi Tổng Thống Obama để kêu gọi không cho Việt Nam tham gia TPP nếu như không cải thiện nhân quyền một cách đáng kể. Văn thư này sẽ được gởi đến Tổng Thống Obama trong mươi ngày nữa.

Mới đây DB Alan Lowenthal (Dân Chủ, California) và DB Bill Posey (Cộng Hoà, Florida) cũng đã lên tiếng đòi tự do cho Ms Nguyễn Công Chính. DB Lowenthal nhận “đỡ đầu” Ms Chính.

“Từ giờ đến cuối năm, chúng tôi sẽ đẩy mạnh vấn đề tự do tôn giáo, để mở thêm mũi nhọn áp lực chính quyền Việt Nam phải cải thiện nhân quyền nếu muốn tham gia TPP và đạt một số quyền lợi khác từ Hoa Kỳ”, Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS, giải thích.

Theo Ông, đầu năm nay BPSOS đã đẩy mạnh vấn đề quyền lao động thành mũi nhọn nhân quyền nhằm đẩy lùi TPP, khởi đầu bằng buổi điều trần của Bà Trần Thị Ngọc Minh, mẹ của tù nhân lương tâm Đỗ Thị Minh Hạnh, trước Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos. Minh Hạnh đã đi tù vì tranh đấu cho quyền của người lao động.

Ngay tại buổi điều trần này, BPSOS đã chuẩn bị kế hoạch cho cuộc vận động cho tự do tôn giáo.

“Ngay sau buổi điều trần ấy, chúng tôi đã cho chiếu đoạn vidwo lời kêu gọi của Ông Võ Văn Bửu, Phật Giáo Hoà Hảo, yêu cầu trả tự do cho vợ là Bà Mai Thị Dung”, Ts. Thắng giải thích.

Bà Mai Thị Dung đang thi hành án tù 11 năm và sức khoẻ hiện rất yếu.

Xem video lời kêu gọi của Ông Bửu: https://www.youtube.com/watch?v=NzaFi5Giu60

Không lâu sau, ngày 26 tháng 3, Uỷ Hội Nhân Quyền Tom Lantos tổ chức buổi điều trần chuyên về tự do tôn giáo, với sự tham gia qua phương tiện trực tuyến của LM Phan Văn Lợi và nữ Chánh Trị Sự Nguyễn Bạch Phụng của Cao Đài từ Việt Nam, cùng với Ông Rong Nay đại diện cho các tín hữu Tin Lành thuộc sắc dân thiểu số Tây Nguyên, và cô Yunie Hong đại diện cho các người Hmong theo đạo Tin Lành.

Tại buổi điều trần về tình trạng nhân quyền ở Đông Nam Á và Việt Nam được triệu tập bởi Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện ngày 9 tháng 7, Ts. Thắng làm nổi bật tình trạng đàn áp tự do tôn giáo ngày càng lan rộng và trầm trọng ở Việt Nam.

DB Poe là một trong 22 vị dân biểu tham gia buổi điều trần này.

Trong các tháng gần đây, BPSOS đã cùng với tổ chức VETO! ở Đức và một tổ chức quốc tế ở Anh Quốc đã hợp tác thực hiện trên 20 bản báo cáo về các vụ đàn áp tôn giáo từ Bắc vào Nam. Các bản báo cáo này đã được chuyển đến một số cơ quan Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ.

“Chúng tôi đang biên soạn nhiều bản báo cáo nữa”, Ts. Thắng cho biết.

Tự do tôn giáo sẽ là trọng điểm của cuộc tổng vận động Quốc Hội vào ngày 16 tháng 7 tới đây với sự tham gia của nhiều vị chức sắc hay đại diện của các tôn giáo.

Trong ngày này các phái đoàn đến từ nhiều tiểu bang sẽ vận động thêm dân biểu ký tên vào văn thư gởi Tổng Thống Obama nhằm đòi hỏi Việt Nam phải cải thiện nhân quyền, đặc biệt là quyền tự do tôn giáo, trước khi được tham gia TPP.

***

Để tham gia cuộc tổng vận động ngày 16 tháng 7, xin ghi danh tại: http://events.r20.constantcontact.com/register/event?oeidk=a07e9d1lmx99cba75de&llr=rrd6eedab,

hoặc gởi email cho cô Nhi Bùi: ntb9388@yahoo.com, hoặc gọi điện thoại cho cô Kim Cúc: 703-538-2190.

Thế lưỡng nan hậu giàn khoan TQ

TS. Đinh Hoàng Thắng. BBC Việt ngữ từ Hà Nội

Chưa rõ VN tính toán ra sao nếu TQ đưa HD981 hoặc các giàn khoan khác trở lại vùng biển.

Ngay vào thời điểm tin tức về giàn khoan Trung Quốc trên truyền thông đang vỡ òa, có người đã lo lắng, sau khi giàn khoan HD-981 rút khỏi biển Việt Nam, liệu mọi chuyện, một lần nữa, rồi lại sẽ rơi vào im lặng như trước đây.

Việc nhà nước (Việt Nam) hạn chế hay khuyến khích báo chí quốc doanh “xả stress”, sau một đợt “ngủ đông” kéo dài về cuộc ‘xâm lăng toàn diện’ Việt Nam của Trung Quốc, đặt ra những tình huống lưỡng nan cho cuộc đấu tranh ngoại giao và pháp lý tới đây.

Nếu cuộc chạy “sô” lập trường dâng cao sẽ dẫn đến nỗi lo “chùm nho Bắc Kinh nổi giận”, nếu cái nồi hơi “phê Trung, đả Giàn” (phê Trung Quốc, đả Giàn khoan) hạ nhiệt thì ngược lại, biết lấy gì “chống lưng” cho cuộc vận động dư luận đòi đảo cũng như đòi biển bị cướp và bị chiếm?

‘Pháo xịt ngòi’

Theo Tân Hoa xã, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi chiều 16/7 cho biết, việc chuyển giàn khoan là sự sắp xếp từ trước của các doanh nghiệp trên biển, chẳng liên quan gì tới bất cứ một nhân tố bên ngoài nào.

Nếu cuộc chạy “sô” lập trường dâng cao sẽ dẫn đến nỗi lo “chùm nho Bắc Kinh nổi giận”, nếu cái nồi hơi “phê Trung, đả Giàn” hạ nhiệt thì ngược lại, biết lấy gì “chống lưng” cho cuộc vận động dư luận đòi đảo cũng như đòi biển bị cướp và bị chiếm?

TS. Đinh Hoàng Thắng

Ý ông này “cãi cối cãi chầy”: Chúng tôi (tức Trung Quốc) rút trước một tháng so với dự kiến không phải vì tính toán sai lầm và do áp lực quốc tế đâu nhé! Trung Quốc rút giàn khoan càng không phải vì Tổng thống Obama đã có cuộc điện đàm (nóng) với Chủ tịch Tập Cận Bình một ngày trước khi chúng tôi ra tuyên bố đâu nhé!?

Đúng, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tiết lộ một phần của bí mật…

Phần của bí mật đó là ông Obama đã nói gì với ông Tập sau hơn hai tháng Trung Quốc “múa gậy vườn hoang” khiêu khích, thách thức, hiếp đáp đối với một nước nhỏ (đang bị họ quở trách là “đứa con hoang đàng”)?

Liệu Trung Quốc đã thật sự hoàn thành sứ mệnh “nắn gân dư luận”?

Liệu Trung Quốc đã lãnh đủ những thứ Trung Quốc đáng ra phải nhận?

Sự trỗi dậy muộn màng của Trung Quốc trong một trật tự tương đối an bài bởi những thiết chế quốc tế về an toàn và tự do hàng hải mách bảo cho những thế lực nuôi cuồng vọng sắp xếp lại bàn cờ khu vực cũng như trên toàn cầu rằng, thời của họ chưa đến hoặc thời của họ đã qua.

Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng tiếp Ủy viên Quốc vụ Viện TQ Dương Khiết Trì hôm 18/6.

Phép thử của những kẻ chủ xướng “Trung Hoa Mộng” khi nào thật sự mới kết thúc?

Chẳng có gì bảo đảm, Trung Quốc sẽ không “tái xuất giang hồ”, đẩy “biên giới di động” trở lại vị trí cũ, hoặc sang một vị trí mới. Vì đường lưỡi bò “tham ăn háu đói” đâu chỉ ra đời từ thời Tưởng Giới Thạch.

Nó là sản phẩm từ ngàn năm của điều được cho là “căn tính sói”, sản phẩm của não trạng coi 14 nước láng giềng là man di của một “Trung Hoa quân chủ chuyên chế” (từ của GS Trần Ngọc Vương).

Các lựa chọn

Một nửa sự mờ ám chưa hẳn đã là sự mờ ám toàn phần. Người Việt, cả ‘thủ lĩnh’ lẫn ‘thảo dân’ sẽ còn mất nhiều công sức để phát hiện, để đối phó! Cơn sốt truyền thông hai tháng qua mới chỉ đủ để công luận qua “cơn ngái ngủ”.

Nhân cơ hội vừa qua, xác lập lại một tư thế mới trong bang giao với các nước láng giềng và thế giới, dù lớn hay bé, như giữa các quốc gia với nhau; thậm chí, nếu muốn, như giữa các thực thể địa – chính trị

TS. Đinh Hoàng Thắng

Có một sẽ có hai. Trong một tình huống rõ như ban ngày, Việt Nam là bậc thang đầu tiên để ‘Thiên triều’ đi xuống biển Đông Nam Á, từ đó trổ ra Thái Bình Dương để ăn thua “đủ” với các cường quốc muốn giữ nguyên trạng.

Nhưng rồi “sự trỗi dậy” ấy, cho dù bằng hòa bình như đang quảng bá hay bằng chiến tranh như từng chuẩn bị, dường như cho thấy con sư tử già thức giấc quá muộn.

Dẫu sao mặc lòng, giờ đây ngồi tính lại hơn thiệt (cost and benefit), Trung Quốc đang nhận ra những sự thật không mấy ngọt ngào.

Về phần thế giới, phải thấy các nhà bình luận có lý khi qua những vụ như vừa rồi đã khái quát nên một Trung Quốc “chưa giàu đã già”, “chưa hùng đã hung”.

Còn Việt Nam có thể đứng trước những lựa chọn nào?

Thứ nhất, nhân cơ hội vừa qua, xác lập lại một tư thế mới trong bang giao với các nước láng giềng và thế giới, dù lớn hay bé, như giữa các quốc gia với nhau; thậm chí, nếu muốn, như giữa các thực thể địa – chính trị. Đây là cơ hội để Việt Nam có được một con đường thẳng và tương đối nhanh để đi tới hưng khởi.

Thứ hai, trở lại “đường ray cũ” như một tập quán “bóng đè”, như một định mệnh của lịch sử. Việt Nam sẽ trở thành “trái độn” cho những xung đột có thể có giữa các thế lực lớn. Đây là con đường trở lại ‘kiếp chư hầu’, ‘thuộc quốc’ vốn đã quá bẽ bàng trong lịch sử.

Đều là thành viên của Việt tộc, chúng ta phải hiểu tại sao Trần Hưng Đạo được dân phong Thánh, gọi là Đức Thánh Trần.

Trung Quốc tuyên bố không rút mà chỉ chuyển đổi vị trí của giàn khoan HD-981 vì lý do thời tiết.

Khi xã tắc lâm nguy thì sự đồng thuận cao giữa triều đình với thần dân, đặc biệt là giữa những nhân vật trọng yếu của triều đình với nhau (mặc dầu trong đám ấy cũng có kẻ toan tính chuyện hàng giặc) là vô cùng quan trọng. Trần Hưng Đạo, vì nước bỏ qua thù nhà, góp phần giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đã lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.

Không “há miệng chờ sung”

Pháo Tàu tuy đã “xịt ngòi” nhưng thuốc pháo còn nguyên.

Và những vòi rồng, những súng phun nước, thậm chí các dàn pháo đủ loại (Trung Quốc đã “lột truồng” để phóng đại thêm tính côn đồ) vẫn luôn trong tư thế sẵn sàng.

Lựa chọn của ‘nạn nhân’ trong trường hợp này khá hạn hẹp.

Cũng còn may mà thế lưỡng nan không chỉ xuất hiện trong bang giao Việt-Trung.

Thế lưỡng nan còn phản ánh cả ở tương quan giữa TQ với các nước khu vực và với các đại cường: “Lụt thì lút cả làng”. An ninh của VN trở thành một bộ phận của an ninh khu vực, thậm chí toàn cầu

TS. Đinh Hoàng Thắng

Thế lưỡng nan còn phản ánh cả ở tương quan giữa Trung Quốc với các nước khu vực và với các đại cường: “Lụt thì lút cả làng”.

An ninh của Việt Nam trở thành một bộ phận của an ninh khu vực, thậm chí toàn cầu. Tuy nhiên, cũng không thể “há miệng chờ sung”.

Ngay giữa ngã ba đường, Việt Nam đã buộc phải chủ động tiến hành nhiều cuộc chinh chiến ngoài ý muốn để góp phần ngăn chặn thảm họa cho toàn khu vực.

Và an ninh và phát triển cho Việt Nam, hòa bình và công lý cho Biển Đông, đó là con đường mở ra ở phía trước, nhưng không phải là một sứ mệnh bất khả thi!

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và văn phong của tác giả, một nhà nghiên cứu về tình hình quốc tế và khu vực, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, hiện đang sinh sống tại Hà Nội.

Trực tiếp: Bàn về báo chí độc lập ở VN

BBC Tiếng Việt mở tọa đàm trực tuyến về làm báo độc lập ở Việt Nam, phát trực tiếp qua  Google+YouTube từ 19:30 tới 20:00 ngày 17/7/2014.

Tọa đàm diễn ra theo sau tuyên bố Bấm thành lập Hội Nhà báo Độc lập “nhằm thực hiện quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí” của hàng chục hội viên ở Việt Nam.

Chủ tịch hội Phạm Chí Dũng cùng thành viên ban lãnh đạo Anton Lê Ngọc Thanh tham gia tọa đàm với các nhà báo khác của Việt Nam trong đó có anh Trần Đông Đức, người phụ trách báo Người Việt Đông Bắc ở Hoa Kỳ.

Cả hai ông Dũng và Thanh đều được Phóng viên Không Biên giới chọn là ‘ Anh hùng Thông tin‘ hồi tháng Tư năm nay.

Vị khách khác, ông Huỳnh Ngọc Chênh, cũng được chọn là Công dân mạng của Phóng viên Không Biên giới hồi năm ngoái.

Chủ đề chính của tọa đàm là liệu có thể có báo chí độc lập ở Việt Nam ngày nay không?

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam

Biển Đông : Chuyên gia Mỹ kêu gọi cứng rắn với Trung Quốc

Trọng Nghĩa, RFI, 13-7-14

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20140713-bien-dong-chuyen-gia-my-keu-goi-cung-ran-voi-trung-quoc

Mike Rogers, Chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện Mỹ phát biểu tại cuộc Hội thảo về Biển Đông tại Trung tâm CSIS (Washington) ngày 10/07/2014.
Mike Rogers, Chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện Mỹ phát biểu tại cuộc Hội thảo về Biển Đông tại Trung tâm CSIS (Washington) ngày 10/07/2014. CSIS

Trong bài tổng kết công bố ngày 12/07/2014, ký giả nhật báo Singapore The Straits Times tại Washington đã tường thuật chi tiết về cuộc Hội thảo quốc tế về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế CSIS tổ chức tại thủ đô Hoa Kỳ ngày 11/07/2014. Theo tờ báo Singapore, để đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông, rất nhiều chuyên gia Mỹ tham gia cuộc hội thảo đều đã kêu gọi Washington phô trương uy thế trong vùng, không nên quá nhũn nhặn.

Những lời kêu gọi chính quyền Mỹ có những phản ứng cứng rắn hơn để chống lại các hành vi xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông, theo báo The Straits Times, phản ánh thái độ bực bội ngày càng tăng sau khi một cuộc họp cấp cao ở Bắc Kinh cho thấy bất đồng quan điểm Mỹ-Trung nghiêm trọng về vấn đề tranh chấp lãnh thổ.

Hầu hết các diễn giả cuộc hội thảo đều có những lời lẽ cứng rắn đối với Bắc Kinh, đề nghị Hoa Kỳ tiến hành một chiến dịch phô trương uy lực một cách có tính toán, và dự trù các biện pháp nhằm bắt Trung Quốc phải trả giá cho mỗi hành động khiêu khích.

Các động thái mà Mỹ cần có, theo các chuyên gia, bao gồm việc tăng cường các chuyến bay trinh sát công khai trên các khu vực tranh chấp, để cho lực lượng Trung Quốc thấy rõ, cung cấp trang thiết bị cho các đồng minh, cử chiến hạm Mỹ ghé nhiều cảng hơn trong khu vực, và tăng gia số lượng các cuộc tập trận đang được thực hiện trong vùng.

Theo báo The Straits Times, diễn giả đầu tiên của cuộc hội thảo – Dân biểu Mỹ Mike Rogers – là người đã khai pháo chống Trung Quốc. Theo ông, các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông đã lộ rõ nguyên hình là những hành vị « xâm lược tham lam ». Ông cảnh báo là thái độ bất động trước các hành vi đó sẽ mang lại « một cái chết do hàng ngàn vết cắt ».

Đối với chính khách này, chính quyền Mỹ không được quyền chần chừ mà phải « trực tiếp hơn… bạo dạn hơn…, và cần phải thúc giục bạn bè và đồng minh của Mỹ trong khu vực trực tiếp hơn và cứng rắn hơn » trong đối sách chống Trung Quốc.

Là Chủ tịch Ủy ban phụ trách việc giám sát hoạt động tình báo của Mỹ, ông Rogers đã tỏ ý tiếc là Washington cho đến nay, đã tỏ ra quá nhũn nhặn đối với Bắc Kinh : « Đứng trên góc độ ngoại giao, chúng ta đã bỏ qua nhiều thứ cho Trung Quốc, điều mà chúng ta không bao giờ lượng thứ cho bất kỳ quốc gia nào khác. ».

Tiến sĩ Patrick Cronin, Giám đốc cao cấp thuộc Chương trình An ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm về một nền An ninh Mới của Mỹ (Centre for a New American Security), cũng bảo vệ một quan điểm cứng rắn tương tự, cho rằng Mỹ hiện đã nghiêm túc hơn trong việc áp dụng các chiến lược « áp đặt chi phí » – tức là các động thái nhằm răn đe Trung Quốc, chống lại chiến lược gọi là « ép buộc thích ứng » của Bắc Kinh.

Theo ông Cronin, cho đến nay, các hành vi thúc ép của Trung Quốc đều tránh mang tính chất quân sự lộ liễu, đồng thời Bắc Kinh cảnh cáo các láng giềng là nếu muốn có quan hệ thương mại tốt đẹp với Trung Quốc, thì phải nhường cho Trung Quốc quyền kiểm soát rộng rãi hơn trong lãnh vực an ninh và tài nguyên…

Theo nhật báo The Straits Times, tại cuộc hội thảo ở Washington, Trung Quốc cũng bị cực lực chỉ trích về thái độ không chấp nhận đưa bất kỳ vấn đề tranh chấp nào ra trước một tòa án quốc tế.

Cho dù vậy, nhật báo Singapore cho rằng nhân cuộc hội thảo, dù kêu gọi chính quyền Mỹ có hành động cứng rắn hơn, các chuyên gia cũng rất hoài nghi về khả năng Washington làm hơn là việc chỉ tuyên bố cứng rắn.

Vợ Ông NGUYỄN HỮU VINH: Hãy Trả Tự Do Ngay Cho Chồng Tôi!

http://xuandienhannom.blogspot.de/2014/07/vo-ong-nguyen-huu-vinh-chong-toi-bi-oan.html

 
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 
———————————-
TP.Hà Nội, ngày  05 tháng 06 năm 2014

ĐƠN KHIẾU NẠI
V/v khởi tố bắt oan sai đối với chồng tôi là Nguyễn Hữu Vinh, đề  nghị trả tự dngay                       

Kính gửi:

–         Ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch nước, Trưởng ban cải cách tư pháp;
–         Ông Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an;
–         Ông Nguyễn Bá Thanh – Trưởng ban nội chính Trung ương;
–         Ông Nguyễn Hòa Bình, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao;
–         Ông Nguyễn Văn Hiện, Chủ nhiệm ủy ban tư pháp Quốc Hội.

Tôi là Lê Thị Minh Hà, sinh 1958. Trú tại: 5/2/4D phố Đặng Văn Ngữ, phường Trung Tự, quận Đống Đa, TP.Hà Nội; là vợ của anh Nguyễn Hữu Vinh đang bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố, bắt tạm giam theo điều 258 Bộ luật hình sự: “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.
Kính thưa các Quý vị đại diện của các Cơ quan có thẩm quyền

Tôi nguyên là: học sinh khóa D8 – Đại học an ninh nhân dân,  cán bộ Viện nghiên cứu khoa học Công an; là người vợ tuy tôi không tham gia vào các công việc của chồng tôi đã và đang làm nhưng tôi hiểu tấm lòng của chồng tôi là một người yêu nước, hết lòng vì Tổ quốc, vì nhân dân. Chồng tôi, nguyên là học sinh khóa D6 – Đại học an ninh, đã từng công tác tại Bộ Công an; Ban Việt kiều Trung ương -Bộ Ngoại giao; xuất thân trong một gia đình có truyền thống cách mạng, có nhiều công lao với Nhà nước và nhân dân (bố đẻ là ông Nguyễn Hữu Khiếu, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Lao động, Giám đốc Công an khu IV, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Cộng hòa Liên bang Nga).

Theo tôi, trang thông tin Anh Ba Sam của chồng tôi chỉ là trang thông tin cá nhân, ghi nhận thông tin từ các trang thông tin báo chí chính thống và thông tin công khai bên ngoài với tính chất như điểm tin với mong muốn cung cấp cho Bạn đọc có được nhiều luồng thông tin khác nhau về một vấn đề để có nhìn nhận khách quan, trên cơ sở đó đưa ra ý kiến đóng góp thiết thực hữu ích cho đất nước và cho nhân dân.

Các nội dung chính trang thông tin này tập trung đăng tải là:

Cảnh báo về tình hình biển Đông, biên giới để Nhà nước, nhân dân nêu cao cảnh giác đối phó với tình hình Trung Quốc xâm lấn, thôn tính đất nước.

Các vụ việc tiêu cực, tham nhũng thực tế xảy ra  trên nhiều lĩnh vực để Nhà nước và nhân dân được biết  góp phần làm trong sạch Bộ máy Nhà nước, trả lại niềm tin cho nhân dân.

Cung cấp những bài viết liên quan đến việc thực thi đúng Hiến pháp về nhân quyền, tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng; chống bè phái, cục bộ địa phương đơn vị; chống lợi ích nhóm; chống bè phái độc quyền; chống đàn áp nhân dân, cần lắng nghe ý kiến nhân dân; quan tâm hơn nữa đời sống nhân dân (nhất là các vùng nông thôn, miền núi, dân tộc).

Nêu và kiến nghị về đường lối đối ngoại của đất nước phải rõ ràng, rành mạch, không được lấp lửng, không dĩ hòa vi quý, không định kiến. Trang thông tin như muốn nói rõ : cần  hợp tác toàn diện với nước Mỹ, các nước trong cộng đồng Châu Âu, các nước ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước Đông Âu (cũ, mới) và Ấn Độ;… Có như vậy mới không lệ thuộc kinh tế của Trung Quốc , bảo vệ được chủ quyền của đất nước.

Do đó, việc chồng tôi làm là hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp, trong khuôn khổ pháp luật cho phép (pháp luật không cấm) về quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền tự do ngôn luận; quyền được đưa ra và thể hiện chính kiến của mình. Đồng thời quán triệt lời dạy của Bác Hồ: “Dân chủ là để cho dân được mở miệng ra nói”.

Như vậy: buộc tội và bắt giam chồng tôi, một người thực hiện đúng pháp luật, đúng lời dạy của Bác của Cơ quan ANĐT có đúng người, đúng tội và đúng luật không?

Yêu cầu Cơ quan ANĐT khi áp Điều 258 Bộ luật hình sự để bắt chồng tôi phải đưa ra các chứng cứ chứng minh: chồng tôi lợi dụng cái gì? Lợi ích bị xâm phạm cụ thể là  gì? Định lượng ra sao? Nhà nước, tổ chức, công dân nào tố cáo chồng tôi với tư cách chủ thể bị hại? Cơ quan tổ chức nào giám định thiệt hại để lượng hình? Ngoài ra, những việc chồng tôi đăng tải các bài định hướng dư luật theo chiều hướng tích cực có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân, cho công cuộc bảo vệ đất nước, đối ngoại, chống bè phái, lợi ích nhóm, chống tham nhũng,… thì tại sao lại bỏ qua? Thành tích và thiếu sót (nếu có) phải được xác định rõ ràng, minh bạch.

Từ những nội dung nêu trên, tôi tin rằng chồng tôi hết lòng hết dạ vì Tổ quốc và dân tộc,  không vì động cơ cá nhân, không làm thiệt hại quyền lợi ích hợp pháp của bất cứ  ai kể cả tổ chức hay cá nhân.

Tôi đề nghị trả tự do ngay cho chồng tôi và đình chỉ vụ án !

Kính mong các vị đại diện cao nhất của Nhà nước và của các Cơ quan hành pháp có liên quan nhanh chóng giải quyết yêu cầu chính đáng nêu trên của tôi.

Đề nghị trả lời kết quả xử lý thỏa đáng cho tôi bằng văn bản trong vòng 15 ngày theo luật định từ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Kính đơn.

Người làm đơn
Ký tên
LÊ THỊ MINH HÀ
___________

Nơi nhận:

–  Như trên;
–  Ông Tô Lâm (Thứ trưởng Bộ Công an);

–  Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh I và II;
–  A83, A87,A92 Bộ Công an;
–  Luật sư Hà Huy Sơn;
–  Lưu     

 Chị Lê Thị Minh Hà gửi cho Quê Choa          

Nguồn: Quê Choa.

Thượng Viện Mỹ thông qua nghị quyết kêu gọi TQ rút giàn khoan Hải Dương

Trà Mi-VOA. 11.07.2014

http://www.voatiengviet.com/content/thuong-vien-my-thong-qua-nghi-quyet-keu-goi-tq-rut-gian-khoan-hai-duong/1955576.html

Nghị quyết 412 do thượng nghị sĩ Robert Menendez đề xướng tái khẳng định sự ủng hộ của chính phủ Mỹ đối với quyền tự do hàng hải và việc sử dụng hải phận-không phận ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương theo đúng luật pháp quốc tế

Nghị quyết 412 do thượng nghị sĩ Robert Menendez đề xướng tái khẳng định sự ủng hộ của
chính phủ Mỹ đối với quyền tự do hàng hải và việc sử dụng hải phận-không phận ở khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương theo đúng luật pháp quốc tế

Thượng Viện Hoa Kỳ tối 10/7 thông qua nghị quyết yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 và lực lượng ra khỏi vị trí tranh cãi hiện nay ở Biển Đông.

Nghị quyết 412 do thượng nghị sĩ Robert Menendez đề xướng tái khẳng định sự ủng hộ của chính phủ Mỹ đối với quyền tự do hàng hải và việc sử dụng hải phận-không phận ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương theo đúng luật pháp quốc tế, đồng thời kêu gọi giải pháp ngoại giao ôn hòa cho các tranh chấp chủ quyền chồng chéo tại Biển Đông.

Nghị quyết cũng chỉ trích các hành động uy hiếp, dùng võ lực đe dọa nhằm thay đổi nguyên trạng hoặc gây bất ổn ở khu vực.

Nghị quyết đích danh kêu gọi Trung Quốc tránh các hoạt động hàng hải trái với Công ước về các Quy định quốc tế Ngăn ngừa Xung đột Trên biển và trả lại nguyên trạng Biển Đông như trước ngày 1/5, tức trước thời điểm giàn khoan 981 xuất hiện ở khu vực Hà Nội nói thuộc vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng điều hành Ủy ban Cứu người Vượt biển BPSOS, nhà hoạt động người Mỹ gốc Việt khởi xướng cuộc tổng vận động ngày 16/7/14 cho nhân quyền-chủ quyền Việt Nam, nói việc thông qua Nghị quyết này có vai trò thiết yếu:

“Nghị quyết này rất quan trọng. Quốc hội Hoa Kỳ là nơi làm chính sách. Được thông qua ở Thượng viện là sự thể hiện chính sách của Hoa Kỳ đối với giàn khoan Hải Dương 981. Thông qua nghị quyết này sớm nhấn mạnh được rằng quốc tế đang áp lực Trung Quốc và phản đối việc Bắc Kinh đưa giàn khoan trái luật vào vùng biển của Việt Nam. Lên tiếng một cách chính thức như vậy từ Hoa Kỳ là điều hết sức quan trọng.”

Bấm vào nghe bài tường trình và phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng

Một ngày trước khi Nghị quyết 412 được thông qua ở Thượng viện, tại Hạ viện Mỹ diễn ra buổi điều trần về vấn đề nhân quyền Việt Nam và Đông Nam Á mà qua đó thành tích nhân quyền Việt Nam đã một lần nữa bị chỉ trích mạnh mẽ.


Trung Cộng nghĩ rằng họ có thể đánh bại Hoa Hỳ trong trận chiến, nhưng họ bỏ sót một yếu tố quyết định

 http://danlambaovn.blogspot.com/2014/07/trung-cong-nghi-rang-ho-co-anh-bai-hoa.html#more

David Axe, Chiến Tranh thật là chán ngấy. 7/07/2014 Nguyễn Hùng (Danlambao) chuyển ngữ
Trước tiên là tin xấu. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng) bây giờ tin rằng họ có thể ngăn chặn thành công Hoa Kỳ can thiệp trong trường hợp một cuộc xâm lược Đài Loan của Trung Quốc, hoặc một số cuộc tấn công quân sự khác của Bắc Kinh.
Bây giờ là tin tốt. Trung Cộng sai – và vì một lý do chính. Họ dường như không quan tâm đến sức mạnh quyết định của tàu ngầm hạt nhân của Mỹ.
Hơn nữa, vì lý do kinh tế và nhân chủng học Bắc Kinh có một cửa sổ lịch sử hẹp, trong đó là việc sử dụng quân sự để thay đổi cơ cấu quyền lực của thế giới. Nếu Trung Cộng không có một động thái quân sự lớn trong vài thập niên tới, họ có thể sẽ không bao giờ thực hiện được ý đồ.
Tàu ngầm của Hải quân Mỹ – lực lương chính yếu bảo vệ trong im lặng của trật tự thế giới hiện tại – phải đứng ra tuyến đầu chống lại Trung Quốc thêm 20 năm nữa. Sau đó, Mỹ sẽ có thể tuyên bố một sự chiến thắng thầm lặng trong cuộc chiến tranh lạnh ngày càng lạnh với Trung Quốc.
Xin chia buồn cùng Trung Cộng. Mỹ vẫn đang ở thế thượng phong.

Làm thế nào Trung Cộng thắng 

Tin xấu đến từ ông Lee Fuell, từ Trung tâm Tình báo Không gian Quốc gia Không quân Hoa Kỳ, trong buổi điều trần của ông Fuell trước Ủy ban Kinh tế và An ninh ở Washington DC, về quan hệ Mỹ-Trung vào ngày 30/01/2014.
Trong nhiều năm, các nhà lập kế hoạch quân sự của Trung Cộng cho rằng bất kỳ cuộc tấn công của Quân đội Trung Cộng vào Đài Loan hoặc một hòn đảo tranh chấp sẽ phải bắt đầu với một đánh theo phương cách trận đánh Trân Châu Cảng – tấn công bằng tên lửa trước tiên của Trung Quốc chống lại lực lượng Mỹ tại Nhật Bản và Guam. Quân đội Trung cộng đã rất sợ sự can thiệp áp đảo của Mỹ mà họ thực sự tin rằng họ không thể giành chiến thắng trừ khi người Mỹ được loại khỏi chiến trường trước khi chiến dịch chính bắt đầu.
Một cuộc tấn công phủ đầu không cần phải nói là một đề nghị rất nguy hiểm. Nếu thực hiện được, quân đội Trung Cộng may ra chỉ có thể bảo đảm có đủ không gian và thời gian để đánh bại đội quân bảo vệ, chiếm đóng lãnh thổ, và đặt họ vào vị thế thuận lợi trong việc giải quyết sau chiến tranh.
Nhưng nếu Trung Cộng thất bại trong việc vô hiệu hóa lực lượng Mỹ với một cuộc tấn công bất ngờ, Bắc Kinh có thể tìm thấy chính họ sẽ chiến đấu một cuộc chiến tranh toàn diện trên ít nhất hai mặt trận: chống lại các quốc gia bị xâm lược cộng với sự huy động toàn bộ sức mạnh to lớn của lực lượng Thái Bình Dương Hoa Kỳ, và có thể cả việc hậu thuẫn mạnh mẽ của những nước còn lại của thế giới.
Đó là chuyện của những thập niên năm trước. Nhưng sau hai thập niên liên tục hiện đại hóa quân sự, quân đội Trung Cộng đã cơ bản thay đổi chiến lược của mình chỉ trong năm qua. Theo ông Fuell, những bài viết gần đây của các sĩ quan Trung Cộng nêu ra “một sự tự tin ngày càng tăng trong QĐTC rằng họ có thể chống lại dễ dàng hơn sự tham gia của Hoa Kỳ vào cuộc chiến.” 
Cuộc tấn công phủ đầu thì khỏi bàn – và cùng với nó là nguy cơ một pha phản công toàn diện của Mỹ. Thay vào đó, Bắc Kinh tin rằng họ có thể tấn công Đài Loan hoặc nước láng giềng khác (ý nói đến Việt Nam) cùng ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ không cần đổ máu. Họ sẽ làm như vậy bằng cách triển khai lực lượng quân sự mạnh áp đảo – tên lửa đạn đạo, tàu sân bay, chiến đấu cơ, và như thế – để Washington không dám tham gia.
Cú đánh – nhằm răn đe Mỹ có thể thay đổi thế giới. “Hành động rút lại cam kết của Hoa Kỳ bảo vệ Đài Loan, Nhật Bản, Philippines sẽ tương đương với việc nhượng Đông Á để Trung Cộng thống trị”, Roger Cliff, một nhà nghiên cứu tại Hội đồng Đại Tây Dương, cũng cho biết tại buổi điều trần trước Ủy ban Kinh tế và An ninh vào ngày 30/01/2014
Tệ hơn nữa, trật tự kinh tế tự do của thế giới – và thực sự, toàn bộ khái niệm về dân chủ – có thể bị tác hại không thể khắc phục được. “Hoa Kỳ có cả đạo đức và lợi ích quan trọng trong một thế giới mà các quốc gia dân chủ có thể tồn tại và phát triển”, ông Cliff khẳng định.
May mắn thay cho thế giới tự do, cho đến nay nước Mỹ có một lực lượng tàu ngầm mạnh nhất thế giới – một tư thế sẵn sàng để nhanh chóng đánh chìm bất kỳ hạm đội Trung Cộng. Trong tuyên bố của Trung cộng sẵn sàng cầm chân quân đội Mỹ, quân đội Trung Cộng dường như đã bỏ qua lợi thế rất lớn dưới đáy biển của Washington.
Im lặng phục vụ 
Không ngạc nhiên khi Bắc Kinh không quan tâm đến lực lượng tàu ngầm của Mỹ. Hầu hết người Mỹ xem không ra gì về hạm đội tàu ngầm của nước mình – và đó không phải hoàn toàn do lỗi của chính họ. Lực lượng tàu ngẩm của Hải quân Mỹ làm hết sức mình né tránh giới truyền thông để giữ bí mật tối đa về khả năng chiến đấu và tàng hình của chúng. “Các tàu ngầm di chuyển vô hình trên các vùng biển đại dương của thế giới” Hải quân Mỹ tuyên bố trên Website của mình.
Không nhìn thấy và không nghe được. Đó là lý do mà lực lượng tàu ngầm mang danh hiệu là “Im lặng phục vụ.”
Hải quân có 74 tàu ngầm, 60 trong số đó là tàu ngầm tấn công tên lửa hay tàu ngầm tối ưu hóa cho việc tìm kiếm và đánh chìm tàu khác hoặc phá hủy mục tiêu trên đất liền. Số còn lại là các tàu ngầm tên lửa đạn đạo mang tên lửa hạt nhân và sẽ không thường xuyên tham gia vào các chiến dịch quân sự chưa phải là của một thế chiến nguyên tử thứ III.
Có ba mươi ba chiến hạm tấn công và tên lửa thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, với căn cứ chính tại tiểu bang Washington, California, Hawaii và Guam. Các tàu ngầm nguyên tử thuộc Hạm đội Thái Bình Dương được triển khai công tác kéo dài 6 tháng hoặc dài hơn trong mỗi chu kỳ một năm hay một năm rưỡi, thường xuyên dừng chân tại Nhật Bản và Hàn Quốc và đôi khi thậm chí mạo hiểm dưới lớp băng Bắc Cực.
Theo Đô đốc Cecil Haney, cựu chỉ huy của Hạm đội tàu ngầm Thái Bình Dương, vào bất kỳ một ngày nào đầu có 17 tàu ngầm đang làm nhiệm vụ và 8 được “chuyển tiếp-triển khai,” có nghĩa là họ đang hiện diện và hoạt động trong vùng có tiềm năng chiến tranh. Đối với Hạm đội Thái Bình Dương, có nghĩa là chúng chắc chắn đang có mặt trong vùng biển gần Trung Quốc.
Mỹ có một số loại tàu ngầm. Rất nhiều tàu ngầm tấn công lớp Los Angeles – là thành viên tích cực trong thời kỷ Chiến tranh Lạnh – đang được thay thế dần bằng loại tàu ngầm lớp mới được cải thiện khả năng tàng hình và hệ thống cảm biến. Các tàu ngầm bí mật Seawolfs, số lượng chỉ có ba – tất cả đang công tác tại vùng biển Thái Bình Dương – là loại tàu ngầm lớn, chạy nhanh, và trang bị nhiều vũ khí hơn các loại tàu ngầm khác. Các tàu ngầm tên lửa lớp Ohio là tàu ngầm tên lửa đạn đạo trước đây, nay được trang bị 154 tên lửa hành trình.
Nói chung, Tàu ngầm Mỹ thì lớn hơn, nhanh hơn, yên tĩnh hơn, và mạnh mẽ hơn so với tàu ngầm của tất cả các nước khác trên thế giới. Và Mỹ có nhiều tàu ngầm hơn. Anh đang xây dựng chỉ 7 tàu tấn công Astute mới. Nga đặt mục tiêu duy trì khoảng 12 tàu ngầm tấn công hiện đại. Trung Cộng đang gặp khó khăn để triển khai một vài tàu hạt nhân thô sơ của họ.
Có thể ẩn nấp âm thầm dưới những làn sóng và tấn công bất ngờ với ngư lôi và tên lửa, tàu ngầm có hiệu lực thi hành chiến thuật và chiến lược rất không cân xứng với số lượng khá nhỏ của họ. Trong cuộc chiến tranh Falklands năm 1982, tàu ngầm Conqueror của Anh đã phóng ngư lôi đành chìm tàu tuần dương Argentina General Belgrano, giết chết 323 người. Việc đánh chìm này làm cho số tàu còn lại của Hạm đội Argentina buộc phải đậu tại căn cứ trong suốt thời gian của cuộc xung đột.
Tám chiếc tàu ngầm của Mỹ luôn thay phiên hiện diện chắn giữ trong hoặc gần vùng biển Trung Quốc có thể được xem tương đương như là phá hỏng kế hoạch quân sự của Trung Quốc, đặc biệt với kỹ năng chống tàu ngầm rất hạn chế của quân đội Trung Cộng. “Mặc dù Trung Cộng có thể kiểm soát bề mặt của vùng biển xung quanh Đài Loan, khả năng tìm kiếm và đánh chìm tàu ngầm Mỹ sẽ là rất hạn chế trong tương lai gần”, ông Cliff nói. “Những tàu ngầm của Mỹ có khả năng sẽ có thể đánh chặn và chìm tàu đổ bộ Trung Công khi chúng chạy về hướng Đài Loan.” 
Vì vậy, gần như là không có gì cần quan tâm khi một nhân vật trong quân đội Trung cộng được hiên đại hóa nghĩ rằng họ có các phương tiện để chống lại Mỹ trên biển, trên đất liền, và trong không trung. Nếu họ không thể di chuyển an toàn một hạm đội tàu chiến như một phần của tham vọng xâm lược lãnh thổ của họ, họ không thể đạt được mục tiêu chiến lược của họ – đánh chiếm Đài Loan và một số đảo hoặc tuyên bố chủ quyền biển đảo của một quốc gia láng giềng (ý nói Việt Nam)- thông qua phương cách chiến tranh công khai.
Washington nên ghi nhận thực tế này cho chiến lược của mình. Hoa Kỳ đã đạt được phần lớn về trật tự thế giới trong việc đấu tranh của họ trong thế kỷ qua, Mỹ chỉ cần giữ gìn và bảo vệ trật tự này. Nói cách khác, Mỹ ở thế thượng phong về mặt chiến lược đối với Trung Cộng, đo đó Trung Cộng phải tấn công thay đổi thế giới để có được những gì họ muốn.
Về mặt thực tế quân sự, có nghĩa là Lầu Năm Góc ít nhiều có thể bỏ qua hầu hết các khả năng quân sự của Trung Cộng, bao gồm cả những cái gọi là sức mạnh của quân đội Trung Cộng xem ra có thể đe dọa lợi thế của Mỹ trong vấn đề vũ khí hạt nhân, chiến tranh trên không trung, hoạt động cơ giới trên mặt đất, và hoạt động hải quân trên biển.
“Chúng tôi sẽ không xâm lược Trung Cộng, vì vậy không cần đến lực lượng bộ binh,” ông Wayne Hughes, một giáo sư tại Trường Hải quân Cấp cao Mỹ, nêu ra. “Chúng ta sẽ không tiến hành một cuộc tấn công hạt nhân đầu tiên. Chúng ta không nên áp dụng một kế hoạch chiến tranh không-hải chiến với đất liền, bởi vì đó là một cách chắc chắn sẽ gây ra chiến tranh thế giới IV.”
Thay vào đó, Mỹ phải ngăn chặn sư di chuyển tự do của Trung Quốc gần vùng biển của họ. “Chúng tôi chỉ cần có đủ phương tiện để đe dọa một cuộc chiến tranh trên biển”, ông Hughes. Theo ông, một hạm đội tối ưu hóa cho việc chống lại Trung Quốc sẽ có một số lượng lớn các tàu chiến nhỏ cho việc thực hiện phong tỏa thương mại. Nhưng các cuộc chiến đấu chính sẽ do lực lượng tàu ngầm đảm trách, “đe dọa phá hủy tất cả các tàu chiến Trung cộng và tàu thương mại trong vùng biển Trung Quốc.”
Ước tính rằng trong thời kỳ chiến tranh, mỗi tàu ngầm Mỹ sẽ có thể phóng”một vài trái ngư lôi” trước khi cần phải ” rút để tự bảo vệ.” Nhưng giả sử 8 tàu ngầm mỗi chiếc phóng được ba ngư lôi, và chỉ một nửa những ngư lôi bắn trúng mục tiêu, tàu chiến của Mỹ có thể phá hủy tất cả các tàu đổ bộ lớn của Trung Quốc – và việc này sẽ kéo theo sự triệt hại khả năng của Bắc Kinh xâm lược Đài Loan hoặc chiếm đóng một hòn đảo đang tranh chấp.
Chờ đợi sự suy thoái của Trung Cộng 
Nếu tàu ngầm Mỹ có thể giữ thế thượng phong thêm 20 năm nữa, Trung Quốc có thể thành “người lớn” so với hiện tại, có tư thế mạnh mà không bao giờ có ý đồ tấn công xâm chiếm bất cứ nước nào. Đó là vì xu hướng kinh tế và nhân chủng ở Trung Quốc sẽ nhanh chóng hướng tới một dân số già đi, mức tăng trưởng kinh tế ổn định, và có ít nguồn lực có sẵn cho hiện đại hóa quân sự.
Để công bằng, hầu hết các nước phát triển cũng đang trải qua quá trình lão hóa này, làm chậm lại ý đồ dùng bạo lực và tăng quan niệm sống chung hòa bình an lạc. Nhưng xu hướng này của Trung Quốc được thúc đẩy nhanh hơn do việc giảm đặc biệt nhanh tỷ lệ sinh đẻ bắt nguồn từ chính sách một con của đảng Cộng sản Tàu.
Một yếu tố khác là tốc độ gia tăng bất thường mà nền kinh tế Trung cộng đã mở rộng tiềm năng thực sự của nước này, nhờ vào sự đầu tư tập trung có thể được thực hiện bởi một chính phủ độc tài… và cũng nhờ việc bỏ qua hoàn toàn của chính phủ đối với môi trường tự nhiên và cho quyền lợi hàng ngày của người dân Trung Cộng.
“Mô hình kinh tế đưa Trung Cộng qua ba thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng có vẻ xuất hiện sự không bền vững”, ông Andrew Erickson, một nhà phân tích Naval War College, nói với Ủy ban Kinh tế và An ninh Mỹ-Trung.
Những gì ông Erickson mô tả gọi là “bị dồn nén tiềm năng quốc gia” của Trung Quốc có thể sẽ bắt đầu hết hiệu lực vào đầu năm 2030, theo đó thời điểm “Trung Quốc sẽ có tỷ lệ của người trên 65 tuổi trên cả nước vượt cao nhất thế giới”, ông dự đoán. “Một xã hội lão hóa với kỳ vọng tăng, gánh nặng với tỷ lệ bệnh mãn tính trầm trọng thêm và đó lối sống ít vận động, có thể sẽ chuyển hướng chi tiêu của cả hai hướng phát triển quân sự và tăng trưởng kinh tế để duy trì chúng.” 
Các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của Mỹ đã khôn ngoan thực hiện các khoản đầu tư cần thiết để duy trì sức mạnh dưới mặt nước của Hoa Kỳ trong thời gian dài. Sau một đợt giảm đáng lo ngại trong việc sản xuất tàu ngầm, bắt đầu từ năm 2012, Lầu Năm Góc yêu cầu – và Quốc hội tài trợ – việc mua sắm hai chiếc tàu ngầm lớp Virginia mỗi năm trị giá khoảng 2,5 Tỷ USD mỗi chiếc, một số lượng đủ để duy trì hạm đội tàu ngầm hạt nhân lớn nhất thế giới vô thời hạn.
Lầu Năm Góc cũng đang cải thiện thiết kế tàu ngầm lớp Virginia, thêm khà nặng phóng máy bay không người lái, thêm khả năng chứa nhiều tên lửa hơn, và khả năng có thêm tên lửa chống tàu loại mới.
Với chổ đứng của Trung cộng trên thế giới, xu hướng quốc gia cơ bản và lợi thế mủi nhọn của Mỹ chỉ trong khía cạnh của sức mạnh quân sự thực sự đặc biệt gây tổn hại cho các kế hoạch bành trướng của Trung Cộng. Có vẻ sự lạc quan của các sĩ quan quân đội Trung Cộng là hoang tưởng khi cho rằng họ có thể khởi động một cuộc tấn công vào nước láng giềng của Trung Quốc mà không cần tiêu diệt trước lực lượng quân đội Mỹ.
Không chỉ là một cuộc tấn công phủ đầu sẽ làm khác đi thế trận, vì chỉ các lực lượng Mỹ là lực lương duy nhất thực sự thực hiện được hành động kềm chế Trung Cộng, mà còn là lực lượng mà Trung Cộng không thể tiếp cận được.
Bởi vì chúng ở sau dưới lòng biển.
Ngày 11/07/2014
Bài viết tiếng Anh:
China thinks it can defeat America in battle 
But it overlooks one decisive factor 
By David Axe, War is Boring | July 7, 2014
Chuyển ngữ:

Làm cách nào tòa có thể kết án Basam?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

http://www.boxitvn.net/bai/27905

Tòa án Nhân Dân Hà Nội. AFP photo
Tòa án Nhân Dân Hà Nội. AFP photo

Ngày 5 tháng 5 năm 2014 nhà báo Nguyễn Hữu Vinh được biết rộng rãi dưới cái tên Anh Ba Sàm bị công an bắt và khởi tố tội danh vi phạm điều 258 Bộ luật hình sự. Ngay sau đó một làn sóng bất bình nổi lên khắp nơi vì nếu ai từng đọc trang Basam đều có một nhận xét chung là trang web này tập trung chọn lựa và giới thiệu những bài viết tích cực về các mặt mà nhà nước chưa làm được.

Những giới thiệu ấy nói lên một điều Basam muốn đem kiến thức, chuyên môn và lòng tin vào tự do ngôn luận một cách sắc bén của anh và những người cộng sự đã vượt qua rất nhiều khó khăn trong khi điều hành trang điểm tin nổi tiếng này. Nguyễn Hữu Vinh là nhà báo năng động và nhiều quan hệ với các giới chức cao cấp nên anh có thuận lợi trong việc tìm hiểu và đưa những thông tin đã được kiểm chứng ấy ra trước công luận thông qua trang Basam, khiến trang web này trở thành một danh bạ cập nhật hàng ngày những tin tức, bài viết nóng nhất trong ngày.

Những tin tức, bài viết ấy nếu làm người đọc thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của họ thì ngược lại các cơ quan kiểm soát truyền thông, điển hình là Ban tuyên giáo Trung ương chắc chắn không thể dễ chịu và chấp nhận một sự cạnh tranh bình đẳng giữa một bên là thông tin định hướng còn một bên là thông tin trung thực, tự do.

Có lẽ biết trước những mầm mống khó kiểm soát này mà ngày 21 tháng 12 năm 1999 Quốc hội đã thông qua điều 258 Bộ luật hình sự để từ đó đến nay người có những quan điểm khác biệt, những lên tiếng góp ý hay phản biện, phê bình dù nhẹ nhàng hay gay gắt nhưng phạm đến những khu vực nhạy cảm về chính trị, tham nhũng đặc biệt những vấn đề có yếu tố Trung Quốc đều bị để ý, gán ghép và trước sau gì cũng rơi vào tội danh này.

Hầu hết những người bị bắt như Phạm Viết Đào, Trương Duy Nhất, hay Phạm Chí Dũng, đều là những nhà báo do đó việc đàn áp có định hướng này cho thấy Việt Nam rất dị ứng với những ngòi viết kiên cường không sợ hãi cường quyền dám nói lên sự thật.

Vốn xuất thân từ ngôi trường An ninh Nhân dân và từng công tác tại Bộ Công an, nhà báo Nguyễn Hữu Vinh từng có những bài viết phân tích sắc sảo nhất là những thông tin hiếm hoi lộ ra từ nội bộ của cấp cao nhất. Nguyễn Hữu Vinh biết thế nào là khuôn khổ luật pháp và anh cũng biết rõ khi nào thì ngừng lại trước lằn ranh mà nhà nước không thể vượt qua để bắt giữ mình về một vi phạm nào đó. Tuy nhiên dưới chế độ toàn trị, tuy là người am hiểu luật và cách thực thi luật, Ba Sàm vẫn không thể vượt qua được cái bẫy 258, vốn đã và đang bịt miệng cả nước bằng bốn chữ Bộ luật hình sự.

Câu chuyện của Basam đã vượt đại dương đến với những người hoạt động nhân quyền cũng như các chính trị gia của nhiều nước. Trong một động thái mới nhất, Đại sứ Mỹ tại Hà Nội đã chính thức mời bà Lê Thị Minh Hà, vợ của nhà báo Nguyễn Hữu Vinh đến gặp để họ có thể tìm hiểu thêm về vụ án này. Bà Hà là cán bộ Viện nghiên cứu khoa học công an, cũng từng được đào tạo chung một ngôi trường an ninh với chồng. Chia sẻ với chúng tôi bà nói:

Ở bên Đại sứ quán Mỹ họ đã mời tôi lên và nói chuyện hai tiếng đồng hồ với bà tên là Jennifer. Bà ấy nói với tôi một câu mà tôi rất cảm động, đó là rất nhiều người ở Hoa Kỳ người ta quan tâm tới việc này vì cho rằng chính sách nhà nước này đối anh Vinh như thế nào thì người ta coi đấy là thái độ của phía Việt Nam có chân thành hay không.

Tội danh mơ  hồ

Anh Nguyễn Hữu Vinh (Anhbasam)

Bản án dành cho anh Basam dù nặng hay nhẹ cũng nói lên được sự lo ngại của nhà nước trước quyền được thông tin của người dân hơn là cầm cân nảy mực gìn giữ trật tự xã hội và quyền lợi của người bị hại như điều 258 quy định.

Điều 258 ghi rõ “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Hai phiên tòa xử Phạm Viết Đào và Trương Duy Nhất không hề có ai đại diện cho người bị hại, tức người bị xâm phạm lợi ích ra đối chất. Bất kể phản đối của luật sư và bị cáo, hội đồng xét xử vẫn im lặng tiếp tục cáo buộc tội danh mơ hồ và không thể chứng minh trước tòa. Thậm chí trong phiên phúc thẩm xử Trương Duy Nhất tòa án đã âm thầm mở ra và đóng lại như một phiên tòa thời trung cổ tại Châu Âu, chuyên xét xử người bị buộc tội tà giáo.

Bà Lê Thị Minh Hà, vợ nhà báo Nguyễn Hữu Vinh cho chúng tôi biết về những cáo buộc vô lý mà gia đình rất quan tâm, đi kèm với đơn khiếu nại gửi cho các cơ quan cao nhất nước bà đã chứng minh trang blog của chồng bà hoàn toàn công khai và minh bạch nó được lập ra để chuyển tải thông tin cần thiết cho người dân và không hề có hại cho bất cứ ai.

Việc thông báo bắt khẩn cấp chồng tôi là vi phạm luật tố tụng hình sự. Tôi đã làm đơn tố cáo lên Viện Kiểm sát và Bộ công an bởi vì anh Vinh không phải là người chống đối chính phủ, chống đối nhà nước. Tôi đã đi tìm từ hôm ấy đến giờ vẫn không thấy có điều luật nào quy định người đăng tải thì bị như thế cả vì thế tôi cho là trái pháp luật.

Tôi đã đi tìm từ hôm ấy đến giờ vẫn không thấy có điều luật nào quy định người đăng tải thì bị như thế cả vì thế tôi cho là trái pháp luật.

– Bà Lê Thị Minh Hà

Tôi đã gửi đơn khiếu nại bằng ấy cơ quan và tôi cho người ta thời hạn 15 ngày phải trả lời bằng văn bản. Bởi vì điều 258 phải có những vi phạm cụ thể và phải cho tôi những nhân chứng vật chứng cụ thể có tính định lượng về mức độ trên mạng. Hơn nữa điều này nó không nằm trong nhóm tội phạm nguy hiểm và việc bắt giam chồng tôi một cách khẩn cấp như thế tôi thấy là sai, ngay cả đối với luật tố tụng hình sự tôi cũng thấy sai.

Khác với Phạm Viết Đào và Trương Duy Nhất bị báo chí lề phải đả kích mà không ai có phản ứng, người cộng sự với trang Basam là bà Đinh Ngọc Thu đã gửi đơn khiếu kiện tờ báo Pháp Luật Việt Nam vào ngày 16 tháng Sáu vừa qua vì đã chụp mũ cho nhà báo Nguyễn Hữu Vinh và bản thân bà là thành viên đảng Việt Tân, một tổ chức bị nhà nước ghép vào hàng khủng bố. Đơn kiện của bà gửi tới Tòa Án Nhân Dân Hà Nội cho tới nay vẫn chưa có văn bản nào trả lời là có thụ lý hay không.

Dù Tòa án Hà Nội có xem xét hay bỏ phế như hàng trăm ngàn đơn thư khác thì người dân Việt khắp nơi cũng biết thêm một lần nữa sự chụp mũ của báo chí và cơ quan an ninh Việt Nam cho cái giá mà những người “vi phạm điều 258” phải trả cho quyền được thông tin của họ.

M.L.

Nguồn:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/how-court-prove-basam-guilty-ml-07102014110948.html

Làn gió mới lướt qua Xã hội dân sự VN

Những ráng xuân bị lặng dập trong chốn lao tù cũng là những mùa xuân nở hoa ngoài đời. Sau vài ba năm nằm trong phòng giam kín mít và bị cô lập tuyệt đối với thế giới bên ngoài, người cựu tù nhân lương tâm bước ra cửa trại giam và không thể tin vào mắt mình khi chứng kiến những vòng tay chan chứa rộng mở.

Khác vô cùng những năm trước, giờ đây không một cựu tù nhân lương tâm nào bị cô độc ở Việt Nam. Mối tình đang nở hoa trong lòng họ chính là xã hội dân sự.

Hoài niệm

Hãy hoài niệm.

Từ cuối năm 2012 trở về trước, chưa từng có khung cảnh ấm áp ân tình của số đông những người cùng cảnh và cả những người chưa có cơ hội rơi vào cảnh ngộ tù đày vì bất đồng chính kiến.

Cho đến tháng Chạp năm 2012, luật sư Công giáo Lê Quốc Quân còn bị bắt giam và sau đó bị xử án với tội danh trốn thuế, dù tất cả đều biết rõ anh chính là một cái gai nhọn chống Trung Quốc. Cũng vào thời điểm đó, cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ bị phía Hoa Kỳ đình hoãn vô thời hạn do “thành tích nhân quyền thụt lùi sâu sắc” của Hà Nội. Bầu không khí khi đó ngột ngạt, u ám và đầy đe dọa.

Còn giờ đây, mùa xuân của xã hội dân sự dường như đang bắt đầu tỏa nắng. Gần hai chục tổ chức dân sự độc lập từ Bắc vào Nam. Vào tháng 5/2014, lần đầu tiên 16 hội đoàn dân sự độc lập ngồi sát bên nhau trong một tinh thần thống nhất rất cao về chủ đề cần kíp phải xây dựng tổ chức công đoàn độc lập.

Có thể so sánh giai đoạn này ở Việt Nam với thời kỳ bắt đầu xuất hiện Công đoàn đoàn kết ở Ba Lan vào những năm 70…

Rõ là xã hội dân sự ở Việt Nam đang hình thành những tiền đề của nó. Một cách nào đó, có thể so sánh giai đoạn này ở Việt Nam với thời kỳ bắt đầu xuất hiện Công đoàn đoàn kết ở Ba Lan vào những năm 70, hay phong trào “Hiến chương 77” ở Tiệp Khắc cuối thập kỷ 70, và cuối cùng là con sóng dập dồn ở Liên bang Xô viết với phong trào dân chủ của Viện sĩ Sakharov – người từng hai lần giành giải thưởng Lenin – vào những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ 20.

Còn ở Việt Nam, nếu có thể nói về một phong trào dân sự quy tụ tương rộng rãi sự tham gia của các thành phần trong và ngoài nước thì đó chính là Phong trào “Kiến nghị 72” của giới nhân sĩ, trí thức vào đầu năm 2013. Vượt hẳn những biểu hiện cá lẻ của những năm trước, phong trào này đã tập hợp được gần 15.000 chữ ký trên mạng về những vấn đề động trời trong bối cảnh còn nguyên thể chế độc đảng ở Việt Nam, như yêu cầu hủy bỏ điều 4 hiến pháp, quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc chứ không phải với đảng…

Mọi chuyện đều có logic diễn biến từ quần thể xã hội sang tâm lý cá nhân. Thật đáng ngạc nhiên, nhưng lại không quá khó hiểu khi một cựu cán bộ tuyên giáo như ông Vi Đức Hồi lại rắn rỏi đến thế ngay sau khi ra tù vào đầu năm 2014. Tâm trạng lạc quan phơi phới ở con người này ngay lập tức làm cho người tiếp xúc hiểu rằng điều luật 88 về “tuyên truyền chống nhà nước” cùng những năm tháng đếm lịch đã chỉ khiến trong ông hun đúc hơn đức tin tìm đến sự thật. Ít nhất, sự thật đó là hình ảnh Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam đã sẵn lòng đón chờ ông bên ngoài, cánh cửa rỉ sét của trại giam, thay cho khuôn mặt nhàu nát của thể chế cầm quyền.

Không phải cổ tích

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam thành lập hôm 4/7

Thực ra, câu chuyện đơm hoa kết trái của xã hội dân sự không phải là cổ tích.

Vào tháng 8/2013, lần đầu tiên đã diễn ra một sự kiện làm cho giới đấu tranh dân chủ nhân quyền trong nước và hải ngoại phải bật lên vì kinh ngạc: nữ sinh Phương Uyên được trả tự do ngay tại tòa Long An vào buổi chiều phiên xử phúc thẩm, trong khi vào buổi sáng chính quyền và công an sở tại vẫn còn say sưa trấn áp những người biểu tình đòi trả tự do cho cô. Thật quá ít người có thể tin rằng mức án sơ thẩm đến 6 năm dành cho Phương Uyên lại có thể ra đi nhẹ bẫng đến thế.

Chỉ đến đầu năm 2014, một thông tin mới rò rỉ qua kênh ngoại giao đã lý giải cho câu chuyện lẽ ra đáng gọi là cổ tích trên: Phương Uyên nằm trong danh sách 5 tù nhân chính trị mà phía Hoa Kỳ đề nghị chính quyền Việt Nam thả. Vào thời điểm yêu cầu này được Washington nêu ra, Hà Nội lại quá sốt sắng săn tìm một cái ghế trong Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc cùng một chỗ ngồi trong Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Mọi chuyện trên đời đều có cái giá riêng của nó. Để có được ít giây phút hàn huyên với nhau như giờ đây, xã hội dân sự đã phải câm lặng quá nhiều năm. Nhưng đến lượt giới cầm quyền Việt Nam, họ lại phải trả một cái giá tối thiểu khi ít nhất phải tự hạ thấp thể diện trong con mắt cộng đồng quốc tế. Chính sách thả tù nhân lương tâm cũng vì thế đã bắt đầu có hiệu lực một cách vô cùng kín đáo.

Liên tiếp trong hai tháng Hai và Ba năm 2014, 5 tù nhân lương tâm là Đinh Đăng Định, Nguyễn Hữu Cầu, Vi Đức Hồi, Cù Huy Hà Vũ và Nguyễn Tiến Trung đã tạo nên một sự kiện thả người chưa từng có tiền lệ trong lịch sử chế độ cầm quyền ở Việt Nam từ năm 1975. Trước đó một chút, Văn đoàn độc lập Việt Nam và Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam đã gần như đồng loạt ra đời. Một hội đoàn khác là Hội nhà báo độc lập Việt Nam cũng bắt đầu được bàn tới.

Chính vào lúc này, giới dân chủ nhân quyền và cả những người quan tâm đến vận mạng chính trị nước nhà lại có thể cảm nhận về một giai đoạn mới có thể đang hình thành. 

Hẳn là chuyến viếng thăm Hà Nội vào tháng 2/2014 của nữ thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Wendy Sherman đã không hoài phí. Tiếp theo lời hứa hẹn “sẽ giúp đỡ” của Ngoại trưởng John Kerry cũng tại Hà Nội vào tháng 12/2013, bà Sherman thậm chí còn biểu cảm lãng mạn với nhận xét “Xã hội dân sự là một trong những điểm thú vị nhất trong quan hệ giữa hai quốc gia”.

Mọi chuyện quả là khá thú vị, thú vị cho đến khi một trong những nhà hoạt động công đoàn độc lập đầu tiên ở Việt Nam là Đỗ Thị Minh Hạnh đã được đặc cách phóng thích trước thời hạn thụ án tù giam đến gần ba năm. Và cũng không có bất kỳ một điều kiện nào được chính quyền kèm theo. Hay nói cách khác, mọi điều kiện đều bị Minh Hạnh bác bỏ.

Chính vào lúc này, giới dân chủ nhân quyền và cả những người quan tâm đến vận mạng chính trị nước nhà lại có thể cảm nhận về một giai đoạn mới có thể đang hình thành. Có thể một lần nữa sau thời điểm tháng 7/2013 với cuộc tái giao thoa Việt – Mỹ tại Nhà Trắng, xã hội dân sự có cơ hội để nở hoa.

Một làn gió mới của mùa xuân đang mơn man trên mái đầu non trẻ của xã hội dân sự. Vào đúng ngày kỷ niệm Bản tuyên ngôn độc lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1776, Hội nhà báo độc lập ra đời.

Chẳng cần nhìn đâu xa xôi và cũng chẳng nên chờ đợi thêm một kích thích tố mới mẻ hơn, đã đến lúc có thể bàn về câu chuyện Công đoàn độc lập và Hội luật gia độc lập tại Việt Nam; và làm thế nào để xã hội dân sự Việt Nam thượng tôn một tinh thần độc lập dân tộc, lồng trong thời buổi phải dấy lên chút ý chí chống ngoại xâm còn sót lại, cho hiện tồn và cho cả những năm tháng mai sau.

Bài phản ánh quan điểm và văn phong riêng của tác giả, Chủ tịch Hội Nhà báoĐộc lập Việt Nam, hiện ở TP HCM.

ấmacebook

Học giả Ba Lan xác nhận chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa-Trường Sa

http://www.voatiengviet.com/content/hoc-gia-ba-lan-xac-nhan-chu-quyen-cua-vietnam-doi-voi-hoang-sa-truong-sa/1953891.html

Các học giả Ba Lan tham dự cuộc hội thảo tại một đại học ở Warsaw xác nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và lên án những hành động gây hấn mới đây của Trung Quốc trong các vùng biển của Việt Nam.

Theo Vietnamnet, hơn 50 người tham gia buổi hội thảo tại Đại học Almamer ở thủ đô Ba Lan đã lắng nghe báo cáo cập nhật việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

Tin ghi 13 học giả Ba Lan đã phát biểu, bày tỏ ý kiến của họ về vấn đề này từ nhiều góc cạnh, và xác nhận rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về lãnh thổ Việt Nam.

Các học giả này lên án những hành động sai trái của Trung Quốc, là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và đe dọa an toàn hàng hải trên Biển Đông.

Cũng liên quan tới đề tài Biển Đông, hôm qua một giới chức cấp cao của Mỹ nói rằng những tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh trên hầu hết diện tích Biển Đông là “có vấn đề”, và tố cáo Trung Quốc đã làm cho căng thẳng gia tăng trong khu vực.

Giới chức Mỹ này tháp tùng Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry tới Bắc Kinh để dự cuộc Đối thoại về Chiến lược và Kinh tế với Trung Quốc, một cuộc họp thường niên giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Pháp tấn xã hôm qua dẫn lời giới chức Mỹ nói rằng tình trạng leo thang căng thẳng trong khu vực có liên hệ tới Hoa Kỳ trong tư cách một cường quốc Thái bình dương, một nước có những hoạt động thương mại quan trọng và sử dụng các tuyến hàng hải trong khu vực, và cũng liên quan tới Hoa Kỳ trong tư cách là một nước từ lâu đã bảo đảm ổn định tại khu vực Á Châu-Thái bình dương.

Giới chức Mỹ này không cho biết danh tính nói rằng các cuộc thảo luận với phía Trung Quốc sẽ “rất trực tiếp, bộc trực và có tính cách xây dựng.”

Hoa Kỳ vẫn nhấn mạnh là nước này không về phe nào trong các tuyên bố chủ quyền, nhưng tố cáo Bắc Kinh về những hành động gây bất ổn, và kêu gọi Trung Quốc hãy tôn trọng quyền tự do hàng hải trên các tuyến đường biển quan trọng của thế giới.

Dân biểu Mỹ lại chỉ trích nhân quyền VN

Buổi điều trần diễn ra hôm thứ Tư 9/7

Việt Nam lại bị chỉ trích tại buổi điều trần về nhân quyền ở Đông Nam Á hôm 9/7 tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ.

Các nguồn tin cho hay ba vị dân biểu là Ed Royce, Chủ tịch ủy ban và chủ toạ của buổi điều trần, Elliot Engel và Christopher Smith đều đã có các phát biểu nhắm vào tình trạng nhân quyền ở Việt Nam mà họ cho là “tồi tệ”.

Ông Royce được dẫn lời nói rằng có nhiều bằng chứng cho thấy “tình hình đang trở nên tồi tệ hơn” ở Việt Nam, nơi chính quyền tiếp tục đàn áp những người chỉ trích chế độ.

Vị dân biểu này cho rằng chính phủ Việt Nam trấn áp gần như mọi ý kiến bất đồng, và hành động này ông đã trực tiếp chứng kiến trong những chuyến đi Việt Nam của mình.

Ông Ed Royce, dân biểu đảng Cộng Hòa, tiểu bang California, nói Việt Nam và Hoa Kỳ đã có 18 cuộc gặp trong khuôn khổ Đối thoại Nhân quyền song phương nhưng “không có tiến bộ”.

Ông kêu gọi Việt Nam chấm dứt ngay việc vi phạm nhân quyền và trả tự do lập tức cho các tù chính trị.

Dự luật nhân quyền Việt Nam

Dân biểu Ed Royce là người đứng đầu Ủy ban Đối ngoại Hạ viện

Hồi tháng Ba, dân biểu Royce cũng là người đã đệ trình dự luật Chế tài Nhân quyền Việt Nam ra Quốc hội Hoa Kỳ.

Dự luật 4254 bao gồm các chế tài đối với quan chức chính phủ Việt Nam, bị cho là có trách nhiệm trong các vụ vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Theo đó, các cá nhân trong danh sách vi phạm sẽ không được cấp thị thực nhập cảnh vào Hoa Kỳ và không được phép làm ăn với các công ty Mỹ.

Việt Nam luôn bác bỏ các cáo buộc về nhân quyền và gọi các dự luật tương tự, vốn chưa bao giờ qua được lưỡng viện, là “sai trái”.

Trên trang mạng của tổ chức Cứu trợ Thuyền nhân BPSOS, mà đại diện là ông Nguyễn Đình Thắng đã tham dự buổi điều trần hôm 9/7 với tư cách nhân chứng, ông cho biết đã có động thái vận động từ phía chính phủ Việt Nam.

Trang Mạch sống cho hay: “Ở phần kết thúc buổi điều trần, dân biểu Christopher Smith nêu vấn đề chính quyền Việt Nam đã bỏ ra 180 nghìn Mỹ kim để thuê hãng chuyên vận động hành lang Podesta Group vận động chống lại đạo luật nhân quyền cho Việt Nam”.

Ông Thắng nói cộng đồng người Việt chống cộng ở Mỹ sẽ có hành động “vận động chính phủ Hoa Kỳ nhập cuộc bảo vệ an ninh và hòa bình ở Biển Đông cũng như đòi hỏi Việt Nam cải thiện nhân quyền”.

Người đứng đầu BPSOS kêu gọi Quốc hội Hoa Kỳ nắm bắt cơ hội khi căng thẳng xung quanh giàn khoan 981 đang thu hẹp các chọn lựa của Việt Nam.

“Việt Nam không còn nhiều chọn lựa lúc này… Họ chỉ còn có thể ngả theo Tây Phương mà dẫn đầu là Hoa Kỳ. Họ đang cầu cạnh Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương, tức TPP, hơn lúc nào hết.”

Theo ông Hoa Kỳ cần gây áp lực mạnh hơn để Việt Nam tôn trọng nhân quyền, trước mắt phải đưa Việt Nam vào loại danh sách các quốc gia gây quan ngại về tự do tôn giáo (CPC).

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam: Một đáp ứng thời cuộc

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam
Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam Files photos
Để có một xã hội dân sự đúng nghĩa và hiệu quả, Tự do Ngôn luận là một quyền không thể thiếu. Một khi chính kiến và ý kiến của mọi thành phần xã hội có được môi trường biểu hiện một cách tự do, thì tinh thần dân chủ mới có điều kiện thực thi. Sự kiện Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam được thành lập với một chủ trương rõ ràng, rộng mở đã khẳng định quyền được NÓI và quyết tâm tiến hành Quyền Lập Hội trong bối cảnh chính trị đầy khó khăn hiện nay.

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một tập hợp xã hội dân sự mới nhất. Tuy nhiên Hội này không mang tính non trẻ vì, nhìn vào thành phần sáng lập và điều hành, chúng ta thấy được sự tham gia của những người đã và đang có nhiều đóng góp lớn cho công cuộc dân chủ hóa đất nước.

Với tập hợp ban đầu bao gồm nhiều cây bút có xuất xứ khác nhau, kể cả những định hướng đấu tranh khác nhau, sự thành hình Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một biểu hiện lớn của tinh thần dân chủ; trong đó mọi sự khác biệt được tôn trọng để cùng góp sức xây dựng một thành quả chung.

Với tập hợp ban đầu bao gồm nhiều cây bút có xuất xứ khác nhau, kể cả những định hướng đấu tranh khác nhau, sự thành hình Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một biểu hiện lớn của tinh thần dân chủ; trong đó mọi sự khác biệt được tôn trọng để cùng góp sức xây dựng một thành quả chung

Trong bối cảnh đang phải cố gắng nhân nhượng ở một số lãnh vực để vận động cho Việt Nam được chính thức tham dự Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership -TPP), đồng thời để có thêm sự lên tiếng một cách thuận lợi của các nước đối với vấn đề biến động Biển Đông, nhà nước Việt Nam chưa có những đàn áp thô bạo đối với những người đứng ra thành lập một số tổ chức xã hội dân sự trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, biểu hiện này chưa đủ để khẳng định rằng Việt Nam đang thực sự có những đổi mới chính trị to lớn.  Có thể nói, Việt Nam vẫn đang ở tình trạng mập mờ trong các chính sách đối nội lẫn đối ngoại. Tuy nhiên, dù chủ trương và phản ứng thế nào, nhà nước đương quyền vẫn không thể quay xã hội ngược lại tình trạng như đã có ở 5 năm trước đây. Những người đấu tranh cho một nước Việt Nam Mới đang vùng vẫy dấn tới bằng mọi cách, bằng tất cả điều kiện có được. Và xã hội Việt Nam đang từng bước chuyển biến nhanh chóng. Với xu hướng này, Việt Nam đang ở bước đầu của một tiến trình chuyển thể có nhiều hy vọng. Và đảng cầm quyền đang ở thế bắt buộc phải có lựa chọn dứt khoát; cùng lúc, thái độ trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của đảng cũng như đảng viên.

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một trắc nghiệm nhiều mặt và nhiều thành phần. Nếu nhà nước Việt Nam đàn áp mạnh những nhà báo độc lập, họ sẽ phải trả một cái giá không nhỏ cho hành động phủ nhận quyền tự do ngôn luận

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một trắc nghiệm nhiều mặt và nhiều thành phần. Nếu nhà nước Việt Nam đàn áp mạnh những nhà báo độc lập, họ sẽ phải trả một cái giá không nhỏ cho hành động phủ nhận quyền tự do ngôn luận — điều mà nhà cầm quyền đang cố gắng né tránh, ít nhất là ở lúc này. Không những thế, sự đàn áp đoàn thể tân lập này sẽ cho thế giới thấy được tính chất độc tài của nhà nước đương quyền, khi họ nhất quyết không chấp nhận một tổ chức xã hội dân sự hoàn toàn ôn hòa.

Khác với những tổ chức xã hội dân sự vừa được thành lập trong nửa năm qua, Ts. Phạm chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, cho biết là Hội sẽ đón nhận những “cây viết hải ngoại” – tức là sẽ có thành viên đang sống ở các nước tự do. (xem RFA). Đây là một chủ trương rất đáng khích lệ. Hy vọng rằng Hội sẽ có một sự phối hợp khéo léo và tế nhị để tiếng nói của những người đấu tranh ở trong và ngoài nước có thể hòa nhập với nhau một cách hài hòa, hữu hiệu, để nỗ lực đấu tranh bằng ngòi bút của thời đại này sẽ có được những tiến triển cụ thể, và Hội không phải lâm vào cảnh khó xử vì sự khác biệt ở lập trường.

Trong ba nước Đông Dương, Việt Nam là một quốc gia có tầm vóc và ảnh hưởng quan trọng nhất đối với thế giới. Tuy nhiên, so với nước láng giềng là Cambodia, Việt Nam đã đi sau hơn 20 năm về lãnh vực thực thi nhân quyền

Trong ba nước Đông Dương, Việt Nam là một quốc gia có tầm vóc và ảnh hưởng quan trọng nhất đối với thế giới. Tuy nhiên, so với nước láng giềng là Cambodia, Việt Nam đã đi sau hơn 20 năm về lãnh vực thực thi nhân quyền. Ở Cambodia, dù xã hội chưa có dân chủ đúng nghĩa và trọn vẹn song ít nhất ở xứ đó, người dân có quyền được nói, và được lập hội (kể cả thành lập chính đảng) một cách công khai, hợp pháp. Hiến pháp và luật pháp Cambodia không cấm đoán, bỏ tù những người hoạt động xã hội dân sự hay đối lập chính trị như ở Việt Nam – một nước có quá trình truy tố và bỏ tù bất cứ công dân nào dám đứng lên nói những điều trái với ý đảng cầm quyền. Điều này hoàn toàn đi ngược lại tinh thần tự do ngôn luận, trong đó có quyền tự do báo chí — một sự khác biệt đáng để tủi thẹn và suy gẫm. Do vậy, sự tập hợp các cây bút nổi tiếng và thành hình Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một nỗ lực chắc chắn sẽ gặp nhiều thử thách cam go. Biết được điều này và vẫn quyết tâm đi tới, để tồn tại và sinh hoạt một cách hiệu quả, thì tập thể này quả là đầy dũng cảm, đáng được trân trọng và kính phục.

Đất nước ta đang có quá nhiều vấn đề nhức nhối, từ xã hội, con người cho đến chủ quyền. Những khó khăn chồng chất này đòi hỏi quyết tâm và sức lực của cả một dân tộc để có thể hóa giải một cách hiệu quả. Trong nhận thức đó, giúp người dân hiểu được thực chất của hiện tình đất nước và làm sao đứng lên tự bảo vệ chủ quyền đất nước, và nhân quyền của mình… là một nhu cầu khẩn thiết. Để thúc đẩy được tiến trình đó, quyền tự do ngôn luận và tự do lập hội phải được thực thi một cách nhanh chóng và mạnh mẻ.

Muốn chấm dứt nạn độc tài, tham ô và bất công, dù là ở dưới chế độ nào, quyền tự do ngôn luận và tự do lập hội là hai yêu cầu nền tảng không thể thiếu. Sự ra đời của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam cho chúng ta nhiều hy vọng song hiệu quả của nó đòi hỏi sự tham gia, ủng hộ của đông đảo người Việt ở khắp nơi.

Nguyễn Công Bằng (ĐVDVN)

Nguồn: http://www.dangvidan.net