Hiến pháp mới: Cơ hội cuối cho một Quốc hội

Thụy MyToàn cảnh Quốc hội Việt Nam trong phiên khai mạc kỳ họp đầu năm ngày 20/5/2013.

Toàn cảnh Quốc hội Việt Nam trong phiên khai mạc kỳ họp đầu năm ngày 20/5/2013.

REUTERS/Kham

Trong bức tâm thư gởi Quốc hội đề ngày 07/11/2013 mang tựa đề « Hiến pháp mới – cơ hội cuối cho một triều đại », nhà báo tự do Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, chưa bao giờ lòng dân ly tán như hiện thời. Tham nhũng hoành hành, đạo đức tột cùng nhiễu nhương, dân sinh bị các nhóm lợi ích và thân hữu chính trị lũng đoạn siết nghẹt.

Với tư cách cử tri, nhà báo Phạm Chí Dũng kiến nghị dừng việc thông qua bản Hiến pháp sửa đổi, kéo dài thảo luận đến cuối năm 2014. Bên cạnh đó còn hình thành tổ chức giám sát độc lập về quá trình thu thập ý kiến người dân. Hiến pháp mới phải bảo đảm các quyền con người một cách thực chất, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cơ chế tam quyền phân lập.

Lá thư được viết cô đọng nhưng đầy xúc cảm trước hiện tình đất nước được đăng trên trang Bauxite đã được nhiều trang mạng khác đăng lại, tạo được những phản hồi ủng hộ rộng rãi.

RFI Việt ngữ đã phỏng vấn nhà báo Phạm Chí Dũng xung quanh vấn đề này.

RFI : Xin chào nhà báo Phạm Chí Dũng. Trước hết anh có thể cho biết vì sao anh viết tâm thư gởi Quốc hội ?

Nhà báo Phạm Chí Dũng – TP Hồ Chí Minh

14/11/2013  by Thụy My

Nhà báo Phạm Chí Dũng : Lý do rất đơn giản, là vì Dự thảo Hiến pháp mới đã gần như không có một nội dung nào thay đổi, so với tất cả những dự thảo từ đầu năm đến nay mặc dù được cho là đã đưa ra, lấy ý kiến rất nhiều – 26 triệu cử tri. Rất nhiều ý kiến đóng góp, và nghe nói tốn đến 300 tới 400 tỉ đồng – đó là người ta đồn đoán. Cuối cùng vẫn gần như không có một nội dung nào mới đưa vào Dự thảo Hiến pháp trình kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 lần này.

Thậm chí vào đầu kỳ họp thứ 6, tức vào cuối tháng Mười, có một vị đại biểu Quốc hội, là một người dày dạn kinh nghiệm qua ba nhiệm kỳ Quốc hội, khẳng định quả quyết với báo chí là sẽ không nói gì về Hiến pháp nữa. Một lời tán thán đầy ẩn ý và có một cái gì đó khó tả lắm !

Nhưng rõ ràng người ta thất vọng về bản Dự thảo Hiến pháp mới, và nhiều đại biểu khác cũng muốn thốt lên điều đó nhưng có lẽ họ chỉ thốt ở ngoài hành lang thôi, chứ không phải trong phòng họp Quốc hội. Vì chính những nội dung hệ trọng nhất như chế độ chính trị, tên nước, vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng cầm quyền, bản chất lực lượng vũ trang, chế độ sở hữu toàn dân v.v… đều không có gì thay đổi cả.

Tôi xin đi vào một số nội dung cụ thể. Ví dụ vấn đề kinh tế quốc doanh là chủ đạo là như thế nào ? Từ trước tới giờ vẫn nói là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề này đã từng có lúc được đưa vào thảo luận trong dự thảo, nhưng cho đến nay chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Phan Trung Lý đã khẳng định, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh là chuyện đương nhiên. Mặc dù đã có rất nhiều ý kiến đóng góp là không nên cho kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Bởi lẽ vài chục tập đoàn kinh tế nhà nước trong suốt sáu năm suy thoái vừa rồi đã gây ra số lỗ khổng lồ.

Riêng EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam) và Petrolimex (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam), hai tập đoàn này cộng lại đã lỗ lên tới hơn 40.000 tỉ đồng. Lỗ từ đâu ? Từ đầu tư trái ngành, vào bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng, và đặc biệt hai lãnh vực đầu cơ là chứng khoán và bất động sản là hai lãnh vực làm tiêu điều nhất cho quốc gia và cho các tập đoàn này. Cũng còn nhiều tập đoàn quốc doanh khác đã đầu tư trái ngành, cũng lỗ đầm đìa. Tất cả những số lỗ đó trút lên đầu người dân đóng thuế.

Ở Việt Nam hiện nay có đến ít nhất là 432 loại lệ phí mà người dân phải cõng trên lưng – đó là con số chính thức mà báo chí thông báo. Ngoài ra còn một số loại lệ phí khác. Petrolimex và EVN đã trút lỗ lên đầu người dân bằng cách tăng giá. Việc đó gọi là « chế độ an sinh » của những tập đoàn quốc doanh. Mà nếu độc quyền quốc doanh như vậy thì còn có ý nghĩa như thế nào đối với việc « kinh tế quốc doanh là chủ đạo » nữa ?

RFI : Đó là trên lãnh vực kinh tế, còn có nhiều vấn đề bất hợp lý khác nữa phải không thưa anh ?

Một vấn đề nữa là Hội đồng Hiến pháp – một cơ chế mới đã được đưa vào Dự thảo để lấy ý kiến nhân dân. Nhưng cho tới dự thảo mới nhất của Ủy ban soạn thảo Hiến pháp trình Quốc hội kỳ này lại không còn thấy bất kỳ khái niệm nào về Hội đồng Hiến pháp nữa. Điều đó cho thấy dường như Quốc hội không quan tâm tới Hội đồng Hiến pháp, một Hội đồng gắn liền sát sườn với quyền lợi của Quốc hội, và cũng là quyền lợi của nhân dân. Điều đó cũng cho thấy sự quan tâm, mối quan hệ với nhân dân của Nhà nước, của Chính quyền và của Quốc hội là sơ sài, và có một cái gì đó rất là vô cảm.

Sự vô cảm đó dẫn tới vấn đề sở hữu đất đai kỳ này cũng không được thay đổi gì cả. Vẫn khẳng định đất đai là « sở hữu toàn dân », mặc dù đã có rất nhiều ý kiến đánh giá là sở hữu đất đai toàn dân hoàn toàn không còn phù hợp với cơ chế vận động thị trường hiện nay. Đặc biệt là những hậu quả ghê gớm gây ra bởi vô số các nhóm lợi ích bất động sản kết hợp với các nhóm thân hữu chính trị gây ra trong suốt mười mấy năm vừa rồi, bởi chế độ sở hữu toàn dân.

Tính chất « toàn dân » đã làm cho chế độ trưng thu đất trở nên vô tội vạ với giá đền bù rẻ mạt, có thể thấp bằng 1/10 tới 1/20 giá thị trường, gây bất công xã hội ghê gớm và sinh ra hàng chục ngàn cuộc khiếu kiện lớn nhỏ hàng năm trong dân chúng, tạo ra một tầng lớp dân oan thảm thương.

Do vậy đã có rất nhiều ý kiến đề nghị sở hữu đất đai phải chuyển sang hình thức đa sở hữu. Có nghĩa là vừa sở hữu toàn dân, vừa sở hữu tập thể và có cả sở hữu tư nhân. Và không thể thu hồi đất vô tội vạ, không được thu hồi đất đối với các dự án kinh tế xã hội. Những dự án loại này đã gây ra bất công lớn nhất, và tình trạng dân oan kéo đi khiếu kiện nhiều nhất trong những năm vừa rồi.

Thông thường, ở những dự án được gọi là phát triển kinh tế xã hội như vậy, chủ đầu tư cấu kết với chính quyền địa phương đền bù giá rẻ mạt cho người dân, bồi thường rất thấp, thu hồi đất vô lối thậm chí cưỡng chế và có thể gây ra chết người. Sau đó chỉ sử dụng khoảng 1/3 diện tích để thực hiện dự án như họ đã mô tả trong luận chứng kinh tế kỹ thuật, còn lại 2/3 là phân lô bán nền kiếm lời.

Như vậy vô cùng bất hợp lý ! Trong khi đó ngay cả ở Trung Quốc, đất nước đã sinh ra hàng trăm ngàn cuộc khiếu kiện lớn nhỏ của người dân hàng năm, cũng đã phải có những cải cách nhất định. Từ đầu năm 2013 đến nay, chính Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng Trung Quốc đã ra một văn bản yêu cầu các chính quyền địa phương không được thu hồi đất bất hợp lý đối với người dân, và sẵn sàng kỷ luật một số quan chức nào ăn chênh lệch giá đền bù.

Hội nghị trung ương 3 của Đảng Cộng sản Trung Quốc dự kiến đưa ra một số cải cách chế độ sở hữu đất đai. Có nghĩa là đã có một bước cải cách nhất định, giảm bớt tình trạng khiếu kiện về đền bù của người dân, giảm bớt những than phiền, những lời trách oán phẫn uất của người dân.

Đó chính là vấn đề mà Quốc hội Việt Nam kỳ này chưa đáp ứng được, và cả Nhà nước Việt Nam chưa đáp ứng đề nghị chuyển từ sở hữu đất đai toàn dân sang sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân.

RFI : Còn về các quyền công dân thì như thế nào ?

Vào tháng Bảy vừa qua chính phủ đã đưa ra một xác quyết là quyền phúc quyết thuộc về nhân dân, liên quan tới việc trưng cầu dân ý, tới một số quyền của người dân. Tuy nhiên sau đó đã không nghe chính phủ nhắc lại điều này, và trong các văn bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp của Quốc hội cũng hoàn toàn không có nội dung đó.

Cũng không có việc dân được bầu trực tiếp Chủ tịch nước và Thủ tướng. Đó là một nội dung rất quan trọng, vì điều này liên quan tới phổ thông đầu phiếu – chế độ bầu cử ở những nước dân chủ. Nhưng không làm điều này, không hiểu Việt Nam suy nghĩ và quan niệm khái niệm dân chủ như thế nào !

Một hệ quả khác là những điều mà các nhóm trí thức cũng như người dân quan tâm và đã kiến nghị rất nhiều lần. Từ suốt cuối năm 2011 đến nay Quốc hội bắt đầu xem xét Luật Biểu tình. Nhưng cho đến giờ Dự thảo Hiến pháp vẫn không đề cập tới việc triển khai điều 69 của Hiến pháp năm 1992, là Luật lập hội, Luật Biểu tình, Luật Trưng cầu Dân ý. Đó là ba luật cực kỳ quan trọng liên quan tới quyền lợi người dân, phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia ký kết vào năm 1982.

Ngoài ra, bản chất lực lượng vũ trang vẫn được quy định là « trung với Đảng », cũng là một vấn đề gây tranh cãi. Nhìn vào thực tế, người ta thấy là lực lượng vũ trang có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc – quốc phòng là chính, chứ không phải đi hỗ trợ cho một số chủ đầu tư thi công và thu hồi đất của dân.

Nhưng trong vụ án Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng và vụ thu hồi đất ở Bắc Giang chẳng hạn, thấy xuất hiện nhan nhản lực lượng quân sự địa phương. Lúc đó người ta biết là chính quyền địa phương và chủ đầu tư đã cấu kết với nhau, sử dụng quân đội như một công cụ cùng với công an, cảnh sát để thu hồi đất của dân. Điều đó vô cùng bất hợp lý !

Màu cờ sắc áo, màu xanh yêu thương của quân đội không phải « Vì nhân dân quên mình » nữa, mà họ đang đối đầu với nhân dân. Chính vì vậy, không có lẽ gì Nhà nước bắt quân đội phải « trung với Đảng », mà « trung với Tổ quốc, hiếu với dân » mà thôi.

Cuối cùng, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp về mặt tổ chức Nhà nước đã không đề cập chút nào tới một cơ chế mà các nước dân chủ phát triển đang thịnh hành, mang đến sự thịnh vượng cho dân chúng. Đó là cơ chế Nhà nước pháp quyền, kèm theo là cơ chế tam quyền phân lập.

Tôi hiểu điều đó rất đơn giản là việc không có Nhà nước pháp quyền gắn liền với việc không thay đổi điều 4 Hiến pháp. Có nghĩa là duy trì cơ chế độc đảng.

Đó là những nội dung mà trong Dự thảo Hiến pháp lần này không có một chút gì thay đổi. Đó cũng là lý do mà tôi nghĩ là tôi chỉ là một trong nhiều triệu người bức xúc về vấn đề này. Tôi nghĩ là phải viết ra bức tâm thư để gởi cho Quốc hội. Không phải quá hy vọng vào sự thay đổi của Quốc hội, mà để cho người dân đọc, người dân hiểu thêm.

Cũng cần nói thêm, khi đưa ra Dự thảo sửa đổi Hiến pháp thì Đảng và Quốc hội luôn tuyên bố là tuyệt đại đa số người dân đã đồng tình với Dự thảo. Thậm chí người đứng đầu Đảng Nguyễn Phú Trọng còn tuyên bố là Cương lĩnh Đảng quan trọng hơn cả Hiến pháp ! Tuyên bố này đưa ra trước kỳ họp Quốc hội thứ 6 khóa 13.

Nhưng có một thực tế chứng minh hoàn toàn ngược lại. Theo kết quả cuộc khảo sát chỉ số công lý 2012 do Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, cùng với Hội Luật gia Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng, thì 42,4% dân chúng Việt Nam không biết gì về Hiến pháp, hoặc chưa bao giờ nghe nói đến Hiến pháp ! Số 57,6% còn lại là những người biết Hiến pháp là gì, hoặc đã từng nghe nói tới Hiến pháp, thì trong đó có tới 23% không hề biết Việt Nam đang tổ chức góp ý sửa đổi Hiến pháp. Thế thì làm sao có thể nói là tuyệt đại dân chúng đồng tình với bản Dự thảo Hiến pháp mới ?

Đó là một phản đề đối với những gì mà những người đứng đầu Đảng và Quốc hội đã tuyên bố, có nghĩa là họ ít quan tâm tới dân chúng. Tôi cho đó là một sự vô cảm, dắt dây tới những lời tuyên bố sáo rỗng của họ.

RFI : Theo anh, vì sao kỳ này Quốc hội và Nhà nước Việt Nam lại quyết định giữ nguyên bản Hiến pháp ?

Có một số lý do. Lý do mà Quốc hội đưa ra, theo Ủy ban soạn thảo Hiến pháp, là để bảo đảm tính ổn định lâu dài của Hiến pháp. Do đó không cần thiết quy định những nội dung cụ thể và đối tượng của việc trưng cầu ý dân trong Hiến pháp theo như một số góp ý, mà để luật quy định. Có thể nói đây là một cách bao biện rất chung chung, và theo cách nói mà các nhà được gọi là lập pháp của Việt Nam thường đưa ra trước đây, đúng là chỉ có thể nói theo quan điểm « cương lĩnh Đảng quan trọng hơn Hiến pháp ».

Nhưng nhiều dư luận phản bác lại chuyện này. Họ cho là bản Dự thảo Hiến pháp lần này có thể thực sự là lần cuối cùng. Và quyết định của Đảng ở Hội nghị trung ương 8 vừa rồi là sẽ thông qua Hiến pháp vào tháng 11 này tại kỳ họp Quốc hội cuối năm, có một cái gì đó rập khuôn từ Trung Quốc về tất cả những nội dung liên quan đến chính trị.

Có một điểm đáng chú ý là Hội nghị trung ương 8 diễn ra trước chuyến đi của Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Khắc Cường đến Hà Nội. Và kỳ họp thứ 6 khóa 13 của Việt Nam lại diễn ra ngay sau đó. Điều này cho thấy có một sự ảnh hưởng nhất định của Trung Quốc đối với Việt Nam – có thể xảy ra lắm chứ !

Vấn đề thứ hai nữa là Hội nghị trung ương 8 của Đảng tháng 10/2012 đã quyết định là không bỏ phiếu tín nhiệm trong Đảng tại hội nghị này, ngược lại với tuyên bố liên tục, ròng rã trong những tháng đầu năm cho tới giữa năm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là cần phải lấy phiếu tín nhiệm đối với các đảng viên cao cấp trong Đảng để xem trọng trách của họ tới đâu, họ đã làm được gì.

Như vậy thực sự vẫn có tư tưởng Đảng trị bao trùm trên tất cả các lãnh vực ở Việt Nam, trong đó Hiến pháp là một trong những điều có thể gọi là « nạn nhân ». « Nạn nhân » đó cũng là hệ quả của não trạng bảo thủ đến mức cực đoan, cho thấy kinh tế quốc doanh vẫn là chủ đạo, mặc dù tất cả mọi chuyện đang bê bết như thế này ! Nền kinh tế suy thoái, nợ và nợ xấu tràn ngập, đời sống người dân vô cùng khốn khó. Các tập đoàn lợi ích cũng như các nhóm thân hữu chính trị lũng đoạn, tung hoành.

Kể cả vấn đề thu hồi đất, một vấn đề liên quan sát sườn đến dân sinh và có thể tới an nguy của chính phủ, của Nhà nước Việt Nam, cũng không được sửa đổi một chút nào cả !

Họ đang lo sợ. Họ giữ nguyên Hiến pháp cũng bởi họ đang lo sợ. Họ sợ cái mà họ coi là « diễn biến hòa bình », từ những thế lực phương Tây. Kể cả có một khái niệm mới ở Việt Nam là « diễn biến không hòa bình », không hẳn là từ các « thế lực thù địch » ở nước ngoài, mà chính là từ những nhóm hoạt động dân chủ ở trong nước. Chẳng hạn nhóm Kiến nghị 72 mà vào tháng Giêng năm 2013 đã bắt đầu đưa ra Kiến nghị bảy điểm đề nghị sửa đổi Hiến pháp.

Dư luận cho là cách phản ứng của Nhà nước, của Quốc hội đối với các nhóm dân chủ này là : càng phản ứng thì họ càng giữ nguyên, không thay đổi gì hết ! Các nhóm dân chủ càng đề nghị sửa đổi Hiến pháp bao nhiêu thì Hiến pháp lại càng được giữ nguyên bấy nhiêu.

RFI : Thái độ này sẽ dẫn đến những hậu quả nào ?

Vấn đề đó chắc chắn sẽ sinh ra những hậu quả rất lớn. Kỳ này nếu Hiến pháp được thông qua với một số sửa đổi nào đó – tôi không kỳ vọng là sửa đổi nhiều – nhưng có một số sửa đổi nào đó liên quan đến kinh tế quốc doanh, thu hồi đất như tinh thần của cải cách Trung Quốc tại Hội nghị trung ương 3, thì may ra vẫn còn một chút hy vọng là xã hội không đến nỗi nguy ngập lắm.

Nhưng nếu tình hình như thế này mà Hiến pháp không thay đổi một chút nào cả, có nghĩa là Hiến pháp đã đi ngược lại dòng chảy của lịch sử, và gần như là phủ nhận sự vận động của những điều kiện khách quan, làm chậm lại tiến trình phát triển kinh tế xã hội tôi cho là ít nhất đến vài ba chục năm !

Việc không thay đổi bất kỳ nội dung quan trọng nào của Hiến pháp sẽ tất yếu dẫn tới một logic là tình trạng lobby chính sách, làm sai chính sách sẽ phổ biến. Các nhóm lợi ích, các nhóm thân hữu chính trị sẽ tiếp tục lợi dụng những chính sách sai lầm để trục lợi. Do đó càng gây ra phản ứng ngày càng mạnh mẽ, ngày càng quyết liệt, phẫn uất của người dân, và có thể sinh ra hàng loạt cuộc biểu tình như chúng ta đã thấy. Đặc biệt ở các vùng nông thôn miền Bắc như Bắc Giang, Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên và ngay cả ngoại thành Hà Nội là Dương Nội.

Đó là hậu quả về đối nội. Còn hậu quả về đối ngoại ? Chúng ta biết là Việt Nam đã ký kết Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1982, trong đó đề cập tới những quyền lợi cơ bản của người dân, và cũng liên quan tới điều 69 của Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do tôn giáo v.v…Nhưng với Hiến pháp như thế này và cũng không triển khai bất kỳ một luật nào cho biểu tình, trưng cầu dân ý, lập hội…thì có thể nói Việt Nam đã không tuân thủ Công ước.

Ngoài ra còn có một yếu tố mà dư luận cũng đang đặt ra. Đó là Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Nếu không có gì thay đổi, thì với sự « ưu ái » của một số nước chủ chốt trong TPP trong đó có Mỹ, có thể là đầu năm 2014 hoặc nửa đầu năm 2014, Việt Nam có thể được chấp thuận tham gia làm thành viên TPP. Nhưng điều kiện để tham gia TPP lại không đơn giản lắm.

Trong cuộc gặp tháng 7/2013 giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang với Tổng thống Mỹ Barack Obama, ông Sang đã cam kết về một số vấn đề nhân quyền mà Việt Nam sẽ nới rộng hơn theo yêu cầu của Mỹ. Đồng thời TPP cũng có một điều kiện liên quan tới vấn đề nhân quyền như luật lập hội, nghiệp đoàn lao động và tạo một sân chơi cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân. Các doanh nghiệp nhà nước sẽ không còn nhận được những ưu ái. Đó là một điều kiện của TPP, và cũng là một trong những nội dung của Hội nghị trung ương 3 Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn xóa bớt đặc quyền đặc lợi của những tập đoàn kinh tế quốc doanh.

Trong khi đó nếu tham gia TPP thì Việt Nam sẽ phải bảo đảm điều đó, có nghĩa là sẽ phải giảm bớt độc quyền, giảm bớt những ưu ái. Nhưng với việc Nhà nước, Quốc hội Việt Nam giữ nguyên Hiến pháp như hiện nay, có nghĩa là sắp tới sẽ không có gì thay đổi. Và nếu không có gì thay đổi về mặt cơ chế quản lý kinh tế, vấn đề độc quyền, kể cả vấn đề nghiệp đoàn lao động, thì làm sao có thể thỏa mãn được những điều kiện để tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương ?

Dư luận đang đặt câu hỏi : liệu có một lực lượng nào đó trong nội bộ Đảng không muốn nền kinh tế Việt Nam được tham gia TPP, thành thử không thay đổi gì cả trong Hiến pháp từ nghiệp đoàn, độc quyền, nhân quyền…Không thay đổi thì sẽ rất khó cho Việt Nam tham gia vào TPP. Mà không tham gia được thì không giúp giải quyết một số khó khăn trước mắt của nền kinh tế vốn đang gần như sa chân vào vực thẳm.

Đó là một số vấn đề liên quan đến Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, đó cũng là lý do khiến tôi viết bức tâm thư vừa rồi.

RFI : Việc bầu trực tiếp Chủ tịch nước, Thủ tướng có vẻ là không tưởng trong giai đoạn hiện nay, và chính quyền cũng có vẻ e dè trước những luật như Luật biểu tình chẳng hạn. Nhưng ít nhất là vấn đề nợ nần của các tập đoàn quốc doanh, cưỡng chế đất đai… đang gây quá nhiều bức xúc. Việt Nam liệu có bỏ qua cơ hội cuối cùng để hội nhập ? Như anh nói lúc nãy, ngay cả đại biểu cũng chán nản không muốn nói tới sửa đổi Hiến pháp nữa, thì một cử tri bình thường viết bức tâm thư như thế này liệu có tác động gì không ?

Tiêu đề bức tâm thư, tôi cho là đã nói rõ ý : « Hiến pháp mới, cơ hội cuối cho một triều đại ». Theo tôi, đây chính là cơ hội cuối cùng. Vì nếu không cải cách, thì với quá nhiều khó khăn, có thể nói là đang sa chân vào một cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc như hiện nay, chính thể Việt Nam sẽ không có lối ra. Nếu không cải cách Hiến pháp thì sẽ không còn bất kỳ một cơ hội nào nữa.

Kể cả cho dù những tổ chức tài chính thế giới như Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á hay Nhật Bản có giúp Việt Nam về kinh tế, và người Mỹ có chấp thuận cho Việt Nam tham gia vào Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương chăng nữa, thì tất cả những cái đó cũng chỉ mang tính chất phụ trợ mà thôi.

Việt Nam sẽ không thể giải quyết vấn đề kinh tế bằng sự thiếu thành tâm về chính trị. Dân cũng đang hỏi Quốc hội làm gì mà năm trăm đại biểu chỉ thực sự có vài ba tiếng nói có giá trị đáng để nghe. Vừa rồi có ai để nói ? Có những đại biểu như Trương Trọng Nghĩa ở TPCHM, Nguyễn Văn Thuyền ở Lâm Đồng và vài ba vị nữa là còn chịu nêu ra thực trạng ngổn ngang của xã hội, mà cũng chỉ nói được một phần thôi.

Còn đa số các đại biểu còn lại rơi vào một trạng thái gần như mơ màng, họ không nói gì cả. Trong những kỳ họp Quốc hội trước người ta cũng đã thống kê là có hàng trăm đại biểu trong vài ba kỳ họp không nói một tiếng nào, không phát biểu một câu nào. Thế thì Quốc hội làm gì, họ làm gì và họ đại diện cho ai ? Họ còn đại diện cho dân hay không ?

Vấn đề đó lại liên quan đến việc chế độ bầu cử trực tiếp đối với Thủ tướng và Chủ tịch nước. Đó là một nhu cầu của người dân. Nhưng dân đâu còn cái quyền bầu trực tiếp nữa. Với những đại biểu Quốc hội không còn mang tính chất đại diện cho dân nữa – người dân nói là họ đang ngủ gật, thì vẫn theo cơ chế cũ thôi. Tức là đại biểu Quốc hội bầu Chủ tịch nước, bầu Thủ tướng, và họ bầu theo thiên kiến riêng của họ – chứ không phải theo nhãn quan của người dân, theo tấm lòng, quyền lợi của người dân.

Chính vì điều đó mà tôi không quá hy vọng. Thực ra rất ít hy vọng vào việc viết những bức tâm thư để cho ai đó, lãnh đạo nào đó lắng nghe, và cũng không mấy hy vọng vào chuyện những đại biểu Quốc hội nào đó sẽ chia sẻ, cảm thông với mình. Mà viết ở đây là cho dân đọc, cho dân hiểu. Dân cần đọc, cần hiểu hơn, cần được chia sẻ hơn với nỗi khổ của họ, và từ đó dân trí sẽ được nâng lên. Họ cần phải biết đấu tranh với những gì oan khuất mà họ đã phải chịu.

RFI : Xin rất cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng.

Dân chủ: Giải pháp cho xung đột sắc tộc

Kính Hòa, phóng viên RFA.  2013-11-14

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/gdemocracy-solution-ethnic-conflict-kh-11142013134733.html

 11142013-sactoc-kh.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
000_Hkg9073001-305.jpg

Một phụ nữ bộ tộc H’mong địu con ở huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái hôm 30/9/2013. AFP photo

Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc. Sự khác biệt căn cước chủng tộc có thể gây nên những xung đột. Giải pháp cho những xung đột tiềm ẩn ấy phải là một nền dân chủ thực sự.

Rất hiếm có những quốc gia thuần chủng về mặt sắc tộc. Sự bất định và ngẫu nhiên của lịch sử nhân loại cứ chia ra những sắc dân rồi lúc nào đó lại trớ trêu gộp họ lại với nhau. Và như thế là các quốc gia mà cụ thể là nhà cầm quyền của các quốc gia, từ những nước lớn và hung mạnh như Hoa kỳ đến những nước bé xíu ít người biết đến như Đông Timor phải giải quyết những vấn đề sắc tộc, mãi mãi.

Các sắc tộc trong một quốc gia

Hiện tại, theo thống kê và công bố của nhà nước, Việt nam có tất cả 54 sắc tộc với 54 tiếng nói khác nhau. Trong đó có những dân tộc đã từng dựng nên những quốc gia lẫy lừng như người Chăm, Khmer,…Có những dân tộc ở trên mảnh đất này rất lâu đời như người Banar, và cũng có những dân tộc mới đến như người H’mong.

Lịch sử Việt nam cũng đã chứng kiến những khôn khéo của nhà cầm quyền khi giải quyết vấn đề sắc tộc, và cũng đã chứng kiến cả sự vụng về và thô bạo. Các triều vua của hai Vương triều Lý và Trần có quan hệ rất tốt với các thủ lĩnh địa phương người dân tộc thiểu số. Rất nhiều trong số họ là con rể của Hoàng gia, và họ cũng là những đội quân thiện chiến trong các cuộc chiến tranh chống xâm lăng. Dưới triều Minh Mạng thì ngược lại, một chính sách đồng hóa và hà khắc đã được thực hiện. Cụ thể đối với cộng đồng người Chăm, nhà thơ Inra Sara, một gương mặt rất ôn hòa đã thốt lên về giai đoạn này:

“Chính sách đàn áp cộng đồng Chăm của vua Minh Mạng là một sự kiện đen tối nhất trong quan hệ giữa hai dân tộc này. Đó là một sự xung đột dữ dội.”

Chính sách đồng hóa thô bạo của Minh Mạng có lẽ là đã để lại hệ lụy cho hàng trăm năm sau, khi những thành viên các sắc tộc Tây Nguyên và Chăm đã cùng nhau thành lập mặt trận Fulro, một hình thức ly khai.

Khi chủ nghĩa cộng sản bắt đầu được thí nghiệm tại nhiều nơi trên thế giới, ý tưởng về bình quân xã hội và không có người bóc lột người đã có vẻ như là một giải pháp lớn, không những giải quyết triệt để các vấn đề xã hội mà cả các vấn đề sắc tộc nữa, chẳng hạn như mô hình Liên bang Sô viết bao gồm đến 15 nước Cộng hòa với những căn cước sắc tộc khác nhau. Nhưng thực tế cho thấy là không phải như vậy. Khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, các mâu thuẫn sắc tộc bùng nổ khắp nơi, từ vùng núi Nagorno-Karabakh thuộc Liên Sô cũ, cho đến những cuộc thanh lọc sắc tộc ở Liên bang Nam tư đang tan rã.

Tình hình cũng không khá hơn ở Trung quốc. Khi nước này bước vào thị trường thế giới 30 năm nay, người ta bắt đầu biết rõ hơn những chuyện xảy ra giữa người Tạng với người Hán, giữa người Duy Ngô Nhĩ và người Hán.

Các nhà nước Cộng sản vẫn cố gắng tạo dựng nên các Quốc hội, các Mặt trận, nơi mà có những gương mặt sắc tộc được đưa ra. Nhưng những xung đột vẫn tiềm ẩn. Mới đây người Khmer Krom ở miền Nam đã gặp Bộ ngoại giao của nước Campuchia láng giềng tố cáo về việc nhà cầm quyền Việt Nam đối xử tệ với những người Khmer Krom. Đại diện Bộ ngoại giao Campuchia trả lời rằng họ tôn trọng, không can thiệp vào chuyện nội bộ của quốc gia láng giềng.

Tương tự như trường hợp các quốc gia cộng sản, nước Miến Điện sau khi bước ra khỏi chế độ độc tài quân phiệt đã đối diện với nạn phân biệt sắc tộc bùng nổ. Nước Indonesia ngay sau thời gian cai trị của nhà độc tài Soeharto cũng đã chứng kiến những xung đột sắc tộc khắp nơi nổ ra trên quần đảo.

Sự việc sẽ tệ hơn khi sắc tộc gắn liền với tôn giáo. Thế giới đã chứng kiến những người Armenia theo Chính thống giáo tiến hành chiến tranh với những người Azerbaizan theo Hồi giáo trong nhiều năm trời sau khi Liên sô sụp đổ. Những người Croatia theo Công giáo La Mã chống lại những người Serbia theo chính thống giáo khi Liên bang Nam tư tan rã. Và hiện nay những người Duy Ngô Nhĩ theo Hồi giáo và những người Tây Tạng theo Phật giáo không hề an lòng trước cảnh những gười Hán, theo chính sách của nhà nước trung ương Trung quốc tràn lên cư ngụ trên lãnh thổ mà cha ông họ để lại. Câu chuyện của những người Khmer Krom lại có liên quan đến những việc thực hành tôn giáo mà nhà nước Việt nam muốn can thiệp.

Võ lực hay lá phiếu?

000_Hkg7965874-200.jpg
Hai đứa trẻ dân tộc H’mong. AFP photo

Như chúng tôi đã đề cập ở phần đầu, những xung đột sắc tộc là có trong tất cả các quốc gia. Nhưng với một nền chính trị dân chủ, nơi mà các nhóm dân chúng giống nhau có người đại diện thực sự của mình, các xung đột sắc tộc được giải quyết bằng nghị trường và lá phiếu. Các xung đột giữa người nói tiếng Pháp và tiếng Anh ở Quebec, giữa người Hà Lan và người nói tiếng Pháp ở Bỉ được giải quyết êm thấm. Tương tự như vậy, Bắc Ái Nhĩ Lan cũng đi dần vào ổn định sau những xung đột bằng vũ khí.

Hơn mười năm trước, Việt Nam đã phải rất vất vả để giải quyết vấn đề nhà nước Dega tự trị tại Tây Nguyên bằng võ lực. Nay có vẻ giải pháp võ lực lại được dùng tới khi vừa qua hàng trăm người H’mong đạo Tin lành bị đàn áp đánh đập khi họ kéo nhau về Hà nội kêu oan. Mà nguyên nhân cho sự đàn áp, kỳ hoặc thay lại là chuyện họ không muốn để xác chết 7 ngày trong nhà nữa. Một người H’mong đã nói rằng:

Bà con có nguyện vọng mong Đảng, chính quyền không còn đánh đập bà con, không ép bà con đến con đường cùng. Đất nước này phải có tự do để bà con sống hòa hợp, Nhà nước trả tự do cho mọi người để họ được sống và làm những việc mình mong muốn.”

Bà con có nguyện vọng mong Đảng, chính quyền không còn đánh đập bà con, không ép bà con đến con đường cùng.
– Một người H’mong

Trong lịch sử hiện đại, những người H’mong đã từng có ý định lập nên những vương quốc của Vua Mèo tự trị.

Đảng cộng sản Việt nam trong quá khứ đã thành công khi sử dụng chủ nghĩa dân tộc Việt để đưa đảng tới nắm quyền. Liệu chủ nghĩa dân tộc Việt, dân tộc chiếm đa số, có đang được sử dụng để cai trị đất nước hay không? Giáo trình lịch sử đất nước chỉ đề cập đến những vương triều Phù Nam ở Nam bộ, hay Champa ở miền Trung như những gì xa lạ.

Người thanh niên H’mong quê mùa từ núi rừng trên kia chắc hẳn không biết gì nhiều về những khái niện sắc tộc hay xung đột một cách rắc rối, anh chỉ mong không bị đẩy đến đường cùng.

Hãy tưởng tượng những đoàn người H’mong ấy không kéo nhau về Hà nội kêu oan mà lại kéo nhau sang biên giới phía Bắc! Và chuyện gì xảy ra khi những người cầm quyền ở Phnompenh không có lời lẽ ôn hòa như người đại diện Bộ ngoại giao Campuchia hiện nay!

Video: Dân oan kéo về Sài Gòn biểu tình tố cáo quan tham

Ngân Hà (Danlambao) – Lúc 7 giờ 30 sáng nay, 13/11/2013, nhiều bà con dân oan tỉnh Bình Dương đã kéo đến số 210 Võ Thị Sáu (Sài Gòn) để biểu tình. Giữa những dòng xe qua lại đông đúc, bà con tập trung hô to các khẩu hiệu đã đảo tham nhũng, kèm theo nhiều khẩu hiệu tố cáo bọn quan tham…
 
 
Đoạn video về cuộc biểu tình của bà con dân oan được ghi lại trong điều kiện đầy khó khăn, chúng ta có thể nghe nhiều tiếng còi hú của xe CA đang được điều động đến nơi này. Nhiều ngày qua, địa chỉ 210 Võ Thị Sáu là điểm nóng của dân oan các tỉnh phía Nam đi khiếu kiện đất đai. 
 
Nhà cầm quyền CSVN thay vì giải quyết cho bà con thì lại đùn đẩy trách nhiệm,  khiến người dân bị dồn đến đường cùng, phẫn nội trào dâng. Trong số này, có nhiều dân oan từng được phong là ‘mẹ Việt Nam anh hùng’. Nhiều gia đình thương binh,  liệt sỹ cũng cùng chung số phận.

danlambaovn.blogspot.com

Hà Nội: Dân vây kín trụ sở ủy ban, phản đối CA cướp phá mồ mả – đánh người trọng thương

CTV Danlambao tổng hợp – Chiều nay, 13/11/2013, đông đảo bà con nhân dân thôn Mai Phúc đã kéo đến bao vây trụ sở Ủy ban nhân dân phường Phúc Đồng (Long Biên, Hà Nội) để biểu tình phản đối CA, chính quyền địa phương cướp phá mồ mả, đánh đập người dân.
Hình ảnh được phổ biến trên trang Facebook JB Nguyễn Hữu Vinh cho thấy rất đông người dân mang theo cờ tang, trống đã kéo vào ngồi kín bên trong trụ sở Ủy ban phường, bên ngoài công an sắc phục được huy động dày đặc. Trụ sở ủy ban phường Phúc Đồng tại số 247B Nguyễn Văn Linh, quận Long Biên, Hà Nội; gần cầu chui đi Hải Phòng.
Được biết, người dân kéo đến bao vây trụ sở Ủy ban nhằm mục đích yêu cầu nhà cầm quyền nơi đây giải thích việc cưỡng chế mồ mả và sử dụng côn đồ hành hung bà con.
Trước đó, hôm 12/11/2013, trang Facebook Kevin Dung đã cho phổ biến đoạn video quay tại khu vực nghĩa trang thôn Mai Phúc, cho thấy hình ảnh xô xát giữa người dân và lực lượng côn an thường phục.

Nội dung đoạn video cho thấy, trước sự bảo kê của côn an sắc phục và dân phòng, một nhóm côn an thường phục đã bất ngờ lao vào đàn áo thô bạo người dân đang có mặt tại nghĩa trang. Ngay lập tức, bà con đã phản công quyết liệt khiến cho nhóm côn an giả dạng côn đồ buộc phải lùi bước.

Tác giả video cho biết thêm: “Lúc 16 giờ chiều ngày 12/11/2013, có rất nhiều lực lượng 113, công an, dân phòng… của tất cả các phường trong quận Long Biên được huy động để đàn áp, cưỡng chế và di chuyển mồ mả của dân tại nghĩa trang thôn Mai Phúc.
 
Điều khiến người dân vô cùng phẫn nộ là trong lúc người dân không đồng ý, đã có một số lực lượng công an mặc thường phục cùng với dân phòng đã có những hành vi đánh đập và hành xử quá thô bạo với người dân. Hậu quả là nhiều người bị thương, trong đó có những cụ già và các trẻ nhỏ. 
 
Tại sao ở giữa lòng thủ đô Hà Nội lại có thể xảy ra chuyện cưỡng chế mồ mả, trong khi chưa được sự đồng ý của dân như thế?”
Facebook Thanh Tran cho biết thêm một số thông tin như sau:
“Chiều hôm qua ngày 12/11/2013 có một số người dân bị bọn người xấu đánh trong tại nghĩa trang thôn Mai Phúc – Long Biên -Hà Nội (xem ảnh)
Sự việc cụ thể như sau: trong thôn Mai Lâm có con trai nhà ông Dũng không may qua đời, gia đình đã hỏa tảng và chọn ngày đem về chôn cất tại nghĩa địa của địa phương, trong lúc người dân đang đào huyệt thì công an kéo về rất đông và đứng yên, còn bọn người xấu không rõ là công an mặc thường phục hay bọn xã hội đen đã đánh đuổi dân ra khỏi nghĩa địa.
Có nhiều người bị thương, trong ảnh vết thương của anh Lê Văn Thuần (người đang được chăm sóc ở mắt) và anh Hoàng Lưu Lương, cả hai đều là người của thôn Mai Phúc – Long Biên – Hà Nội.
Hiện nay người dân thôn Mai Phúc đang mang trống ra đánh tại cổng UBND Phường Phúc Đồng -Long Biên – Hà Nội để thể hiện thái độ phản kháng của mình”.
CTV Danlambao tổng hợp

danlambaovn.blogspot.com

Việt Nam có hai phó thủ tướng mới

Lê Quỳnh. BBCVietnamese.com. BBC, 13 tháng 11, 2013

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/11/131113_hai_pho_thu_tuong_viet_nam.shtml

Hai ông Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam

Quốc hội Việt Nam đồng ý phê chuẩn vị trí phó thủ tướng với hai ông Vũ Đức Đam và Phạm Bình Minh vào sáng 13/11.

Ông Phạm Bình Minh sẽ kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Ngoại giao, trong khi dự kiến ông Nguyễn Văn Nên sẽ được bầu để thay ông Vũ Đức Đam làm Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

Như vậy hiện Việt Nam có 5 phó thủ tướng. Ba người còn lại là các ông Nguyễn Xuân Phúc, Hoàng Trung Hải và Vũ Văn Ninh.

Mặc dù việc phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ là thủ tục, giới quan sát chú ý số phiếu bầu của các đại biểu như chỉ dấu về vị trí của hai chính khách trẻ trong Đảng.

Ông Phạm Bình Minh được 427 phiếu đồng ý và 42 phiếu không đồng ý, còn ông Vũ Đức Đam được 421 phiếu đồng ý và 48 phiếu không đồng ý.

Tổng số phiếu bầu tại Quốc hội sáng 13/11 là 469 phiếu hợp lệ và 2 phiếu không hợp lệ.

Nó cho thấy cả hai ông đều nhận được sự ủng hộ của đa số tại Quốc hội.

Nhưng việc Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhận được đa số phiếu ủng hộ, thậm chí cao hơn một chút so với ông Vũ Đức Đam, được đánh giá là một bất ngờ.

Phụ trách ngoại giao

Hôm 11/11, khi giải thích trước Quốc hội về đề nghị tăng số lượng phó thủ tướng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói khóa 12 lẽ ra gồm 5 phó thủ tướng, trong đó một người trực tiếp làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

“Nay xét thấy có đủ điều kiện, Thủ tướng trân trọng đề nghị Quốc hội phê duyệt một phó thủ tướng để phân công trực tiếp làm nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, giúp Thủ tướng theo dõi công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế,” Thủ tướng Dũng phát biểu.

Việc để ông Minh có trách nhiệm nhiều hơn về đối ngoại đặt ra câu hỏi liệu nó có ra chỉ dấu gì về sự dịch chuyển chính sách ngoại giao của Việt Nam từ nay đến 2016.

Một điều chắc chắn là trong cương vị mới, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh sẽ có quyền lực đối ngoại tập trung hơn, mặc dù ông sẽ chưa có ảnh hưởng trong chính sách đối ngoại của Đảng như ông Phạm Gia Khiêm trước đây.

Từ 2006 đến 2011, ông Phạm Gia Khiêm là Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao, và là thành viên trong Bộ Chính trị đầy quyền lực.

Từ Đại hội Đảng XI năm 2011, trong Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản không có người của Bộ Ngoại giao.

Hiện đang có đồn đoán liệu ông Phạm Bình Minh có được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư hay không.

Tại Hội nghị Trung ương 7 hồi tháng Năm đã diễn ra việc bầu bổ sung thành viên cho hai cơ quan của Đảng, nhưng Ban Chấp hành Trung ương của Đảng khi đó không thống nhất.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thừa nhận “bầu bổ sung được thành 16 ủy viên Bộ Chính trị, định bổ sung ba thì được hai, định bổ sung thêm hai ủy viên Ban Bí thư thì được một”.

Giả sử ông Phạm Bình Minh được bầu bổ sung vào một trong hai cơ quan của Đảng ngay trong năm 2014, chính sách đối ngoại của Việt Nam sẽ ổn định đến 2021, theo một nhà quan sát trong nước.

Người này, phát biểu với điều kiện giấu tên, nhận định từ nay đến năm 2016, khi diễn ra sự chuyển giao lãnh đạo, chính sách đối ngoại của Việt Nam sẽ hướng đến việc “tìm kiếm tích cực” giải pháp tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc trên nền pháp lý quốc tế,

Hệ lụy của chính sách này có thể là Việt Nam sẽ đặt ưu tiên thấp hơn cho việc xử lý tranh chấp biển thông qua quan hệ song phương với Trung Quốc.

Ông Phạm Bình Minh, sinh năm 1959, và Vũ Đức Đam, sinh năm 1963, được xem là còn sự nghiệp chính trị lâu dài trước mắt.

Với Phó Thủ tướng Minh, người được kỳ vọng sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn về đối ngoại, thử thách cho ông sẽ là làm sao xác định sự cân bằng trong quan hệ với Trung Quốc và phương Tây.

Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền LHQ

Vũ Hoàng, phóng viên RFA.  2013-11-12

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-wins-un-rights-council-seat-vh-11122013144122.html

 111213-unhcr-final-vh.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Par926989-305.jpg

Một phiên họp của Hội đồng Nhân quyền LHQ. AFP photo

Sáng ngày 12/11, Đại hội đồng LHQ bỏ phiếu bầu bổ sung một số thành viên cho hội đồng nhân quyền LHQ, Việt Nam đã trúng cử với số phiếu 184/192.  Tuy nhiên, những ý kiến trái chiều của dư luận trong nước và quốc tế trên đường Việt Nam trở thành thành viên mới nhất vẫn là những đề tài nóng.

Sáng ngày 12/11, Đại hội đồng LHQ vừa bầu ra 14 thành viên mới vào Hội đồng Nhân quyền, đây là cơ quan theo dõi và kiểm soát tình trạng lạm dụng nhân quyền bằng cách ra các nghị quyết trong những trường hợp cần thiết. Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất so với 13 nước còn lại, đạt 184/192 phiếu thuận.

Hội đồng nhân quyền LHQ được thành lập năm 2006 với vai trò là cơ quan quốc tế tối cao về quyền con người, chịu trách nhiệm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người trên khắp toàn cầu, hợp tác chặt chẽ và khuyến khích các quốc gia cải thiện nhân quyền.

Việt Nam cần phải đảm bảo rằng Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do ngôn luận. Vì vậy, giờ là lúc đòi hỏi Việt Nam cần phải tuyệt đối tôn trọng những nghĩa vụ về nhân quyền quốc tế.
– Bà Isabelle Arradon

Tiền thân của Hội đồng này là Ủy ban nhân quyền LHQ với mục tiêu là “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn rọng các quyền của con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo.”

Việt Nam đã tự ứng cử cả thành viên Hội đồng Nhân quyền cho nhiệm kỳ 3 năm 2014 – 2016. Ngay từ những ngày đầu tiên, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo Bộ Ngoại giao thực hiện chiến dịch vận động tranh cử trên diện rộng cả trong nước và nước ngoài, cũng như luôn chủ trương khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội.

Gần đây nhất, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ ngoại giao VN ngày 7/11, người phát ngôn Lương Thanh Nghị khẳng định “Việt Nam tin tưởng vào khả năng của mình đảm đương vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền và cam kết sẽ đóng góp tích cực vào công việc chung của Hội đồng để nâng cao tính hiệu quả, minh bạch, khách quan, cân bằng trên tinh thần đối thoại, hợp tác, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.”

Trên các phương tiện truyền thông “lề phải” Việt Nam vẫn luôn nhấn mạnh trong những năm qua, Việt Nam đạt được nhiều thành tự trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Quyền con người được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Việt Nam cũng đã hoàn thành một số mục tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ của LHQ trong đó có những mục tiêu quan trọng liên quan đến đảm bảo quyền con người như xóa đói giảm nghèo và bình đẳng giới.

Việt Nam cũng công nhận Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là giá trị phổ dụng, và ký cam kết tuân thủ Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cũng như Công ước Quốc tế về các Quiyền Kinh tế. Xã hội và Văn hóa.

Những đánh giá khác biệt

Tuy nhiên, quyền con người, theo các tổ chức đánh giá nhân quyền độc lập không chỉ giới hạn ở những gì Việt Nam đã và đang đạt được mà theo tiêu chuẩn chung thì Việt Nam còn cần phải làm nhiều điều hơn nữa. Chính vì thế, những tổ chức độc lập như Human Rights Watch (Theo dõi Nhân Quyền), Amnesty International (Ân Xá Quốc Tế), RSF (Tổ chức Phóng viên Không biên Giới)… lại đưa ra những đánh giá khác biệt.

Cụ thể là mới đây, ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á đưa ra nhận định của tổ chức này khi ngày càng có nhiều bloggers hơn tại Việt Nam bị bắt giữ:

Chính quyền Việt Nam đã làm cho tình trạng nhân quyền ở Việt Nam hiện nay suy thoái rất trầm trọng trong hai năm qua. Chúng ta thấy tòa án Việt nam càng ngày xử càng nhiều những bloggers, những người dân phản đối chính quyền chiếm đất đai, nhà cửa của họ, và những tín đồ tôn giáo. Nói chung là chính quyền đàn áp quyền tự do bày tỏ ý kiến và tự do hội họp của rất nhiều người thuộc mọi giới.

Tổ chức HRW chỉ ra con số những người phản đối ôn hòa bị chính quyền VN kết tội hình sự là lớn và không ngừng gia tăng. Theo thống kê, trong năm 2012, ít nhất 40 người được biết là đã bị kết tội và tuyên án tù trong các phiên tòa không đáp ứng đúng những quy trình và chuẩn mực quốc tế cũng như các tiêu chuẩn xét xử công bằng. HRW đưa ra con số báo động là chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm, Việt Nam đã bắt giữ nhiều hơn con số của cả năm 2012.

Mới đây nhất, hôm 7/11 vừa qua, Tổ chức Ân Xá Quốc Tế cho phổ biến một bản thông cáo báo chí với nội dung cơ bản là Việt Nam cần phải chấm dứt ngay việc đàn áp những tiếng nói đối kháng và ngay lập tức phải có những biện pháp bảo vệ các nhà đấu tranh khỏi sự sách nhiễu hay bỏ tù, chỉ bởi họ lên tiếng thực hiện quyền của mình. Bà Isabelle Arradon phó giám đốc của Ân Xá Quốc Tế phụ trách khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nêu quan điểm của họ đối với chúng tôi:

Lý do mà chúng tôi phổ biến bản thông cáo này là vì chúng tôi rất quan ngại về tình hình tại Việt Nam vài năm qua khi ngày càng có nhiều nhà đấu tranh dân chủ, chính trị bị bắt giữ chỉ với nguyên nhân là họ có những ý kiến đối kháng… quan trọng hơn đây là thời điểm mà Việt Nam đang kiếm tìm một ghế trong Hội đồng Nhân quyền LHQ và cam kết thực hiện đầy đủ những điều luật quốc tế về nhân quyền.

Việt Nam cần phải đảm bảo rằng Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do ngôn luận. Vì vậy, giờ là lúc đòi hỏi Việt Nam cần phải tuyệt đối tôn trọng những nghĩa vụ về nhân quyền quốc tế.

Bà Isabelle cho biết tổ chức Ân Xá Quốc Tế có phần nói về “những tiếng nói bị dập tắt” mô tả việc hàng trăm người bị bắt giữ, sách nhiễu, giam cầm… theo đó, trong vòng vài năm qua, vì lên tiếng với những suy nghĩ khác biệt mà có đến 75 người ở Việt Nam bị bỏ tù, đơn giản là họ chỉ thể hiện quyền bày tỏ của mình một cách ôn hòa.

Nhân quyền là một trong những vấn đề nhạy cảm ở Việt Nam luôn có những ý kiến trái chiều giữa chính phủ Việt Nam và các tổ chức tranh đấu dân chủ ở nước ngoài, cũng như ngay giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Hàng năm, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ vẫn thường công bố về tình hình nhân quyền thế giới, trong đó có Việt Nam và Việt Nam vẫn nằm trong những quốc gia bị đánh giá là thiếu tự do về ngôn luận, tự do báo chí và internet dù rằng VN không còn nằm trong danh sách các nước cần phải quan tâm đặc biệt (CPC) vào năm 2006.

Chính quyền Việt Nam đã làm cho tình trạng nhân quyền ở Việt Nam hiện nay suy thoái rất trầm trọng trong hai năm qua.
– Ông Phil Robertson

Lên tiếng phản ứng về những cáo buộc mà Hoa Kỳ nêu lên rằng Việt Nam bắt bớ các bloggers hay ngày càng thắt chặt các quyền tự do ngôn luận, hội họp… những quyền cơ bản của con người, Việt Nam cho rằng những công dân đó đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận… để tuyên truyền, kích động, lôi kéo người dân và Việt Nam luôn khẳng định việc bắt giữ các công dân đó không phải vì họ sử dụng blog hay các trang mạng mà là xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

Chủ đề nhân quyền được đánh giá là một cuộc chiến kéo dài, không có hồi kết giữa các phe ủng hộ và phản đối. Với việc Việt Nam vừa thành công trở thành thành viên mới nhất của Hội đồng nhân quyền LHQ, hi vọng lời cam kết của phát ngôn nhân Bộ ngoại giao Việt Nam rằng: Việt Nam sẽ đóng góp tích cực vào công việc chung của Hội đồng để nâng cao tính hiệu quả, minh bạch, khách quan bảo vệ các giá trị quyền con người không chỉ trên phạm vi toàn cầu mà còn ở ngay cả trong nước. Hẳn câu nói “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” trong Bình Ngô Đại Cáo vẫn giữ nguyên giá trị tự ngàn đời!

 

Lệnh Đảng hay lòng Dân?

Quốc hội Việt Nam sắp bỏ phiếu thông qua bản Hiến pháp 2013.

Cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lẫn Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đều quảng cáo cho văn kiện này. Tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) Ông Trọng tuyên bố rằng bản Dự thảo Hiến pháp mới đã được Trung ương xem xét kỹ và hoàn thiện để đưa ra Quốc hội thông qua, sau khi công dân toàn quốc đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị. Ngày 21/10, khi tuyên bố khai mạc kỳ họp Quốc hội, Ông Nguyễn Sinh Hùng cũng tỏ ý tin tưởng rằng bản Dự thảo Hiến pháp cũng như Luật đất đai (sửa đổi) sẽ được thông qua thuận lợi, «đánh dấu một bước hoàn thiện quan trang của thể chế chính trị của Nhà nước ta».

Ban biên tập bản Dự thảo Hiến pháp cũng đã thảo ra bản giải trình dày 150 trang quảng cáo cho công trình của mình, nêu rõ một số vấn đề được trao đổi, tranh luận, như về danh xưng của nước Việt Nam (vẫn giữ danh hiện nay), Điều 4 vẫn được giữ với cách thể hiện khác trước ra sao, kinh tế vẫn theo định hưóng xã hội chủ nghĩa với sở hữu nhà nước là chủ đạo, tài nguyên quốc gia trong đó có ruộng đất vẫn đều thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý…Bản giải trình huênh hoang rằng đã tiếp nhận được 26.090.828 ý kiến của cử tri, đã cân nhắc lựa chọn đưa vào dự thảo những ý kiến có giá trị nhất. Vẫn là kiểu quảng cáo kiểu đại ngôn!

Để làm yên lòng các ông bà nghị còn phân vân, theo báo Tuổi Trẻ ngày 24/10,trong cuộc gặp cử tri thủ đô, rồi sau đó trong cuộc họp ở tổ đại biểu Quốc hội sáng 23/10, ông Nguyễn Phú Trọng còn lên giọng quảng cáo rằng «Bản dự thảo đã tiếp cận đến chân lý, đã thể hiện khát vọng, hào khí của nhân dân».

Thế nhưng 14.785 công dân, phần đông là trí thức, sinh viên, đã ký kiến nghị không những bác bỏ dứt khoát những nội dung chủ yếu của bản dự thảo mà còn đưa ra một bản dự thảo khác để so sánh và đối chiếu, nhưng lãnh đạo đã cố tình làm ngơ, không mảy may đếm xỉa đến, cao ngạo phủ định toàn bộ, còn coi là tài liệu phản động, không được phổ biến công khai, chính thức.

Ngay trong ban biên tập bản dự thảo cũng có những tiếng nói không đồng tình với bản dự thảo. Theo Tuổi Trẻ số ra ngày 24/10/2013, Đại biểu Trần Du Lịch nói rõ với phóng viên báo này rằng «quả thật dự thảo đã thay đổi đến 140 điều trong Hiến pháp 1992, chỉ giữ nguyên có 7 điều, nhưng đó chỉ là hình thức, vì một số vấn đề quan trọng nhất cần thay đổi lại bị gác lại». Ông Lịch tỏ ra nghi ngờ con số hơn 20 triệu ý kiến của cử tri, cho đó là con số bịa đặt vụng về. Theo đài phát thanh Hà Nội ngày 25/10, Đại biểu Dương Trung Quốc tỏ ý còn bức xúc hơn, cho rằng: «Thay Hiến pháp là việc hệ trọng, vài chục năm mới có một lần, cần làm thật chu đáo, cứ nên lấy thêm ý kiến toàn dân đến cuối năm nay, không nên vội vã, nhiều vấn đề chính trị-kinh tế-ngoại giao cần trao đổi sâu sắc thêm. Lại một cơ hội hiếm có bị bỏ qua».

Vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo đảng và nhà nước, bản Dự thảo Hiến pháp lần này «đã tiếp cận đến chân lý» ở chỗ nào?. Phải chăng là ở chỗ vẫn khẳng định học thuyết Mác-Lênin là cơ sở lý luận của nhân dân ta, cả khi toàn thế giới đã lên án, vứt bỏ nó, lại được ghi ở ngay nhưng dòng mở đầu của Hiến pháp mới. Phải chăng nó đã tiếp cận đến chân lý khi vẫn khẳng định con đường quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong khi cái chủ nghĩa bí hiểm ấy đến cuối thế kỷ này vẫn chưa thể thành hiện thực, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định.

«Bản dự thảo thể hiện khát vọng và hào khí của nhân dân» ở những chỗ nào? Phải chăng ở chỗ vẫn không cho nhân dân quyền phúc quyết Hiến pháp, vì bản dự thảo ghi rõ «trưng cầu dân ý phải do Quốc hội quyết định», nghĩa là ban phát, theo đúng hướng suy nghĩ Hiến pháp là văn kiện quan trọng đứng sau cương lĩnh của đảng CS? Cho đến nay đảng CS vẫn khinh miệt nhân dân, cho rằng nhân dân không đủ trình độ để có quyền phúc quyết. Như vậy là thể hiện hào khí của nhân dân ư?

Đối với nông dân chiếm gần 70% số dân ta, đảng CS vẫn khẳng định ruộng đồng đất đai là thuộc quyền sở hữu của toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý và có quyền thu hồi, điều này chỉ khơi dậy thêm khát vọng và hào khí của nông dân đang công khai đứng dậy đòi lại quyền sở hữu tư nhân chính đáng bên cạnh sở hữu công và sở hữu tập thể. Nông dân Hà Đông, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Dương, Cần Thơ, Sóc Trăng… đã tỏ rõ khát vọng và hào khí ấy, các vị đại biểu của dân có nhìn thấy và nghe rõ hay không?

Thật tội nghiệp cho gần 500 ông, bà nghị đang bị kẹt cứng giữa kỷ luật nghiêm của đảng và quyền tự do cùng trách nhiệm là đại biểu của nhân dân, bị xâu xé trong nội tâm bởi cảm giác theo đảng là trái ý nhân dân, mà theo đúng nguyện vọng của nhân dân thì ắt phải chống đảng, chống lại bản dự thảo rõ ràng là lạc hậu, là giáo điều, là xa rời thực tế, xa rời chân lý và thời đại này.

Những ngày tới, trước khi bấm vào máy bỏ phiếu tán thành hay bác bỏ bản dự thảo đã bị cả một tập thể trí thức có chất lượng cao nhất bác bỏ với đầy đủ lý lẽ, mổi đại biểu hãy suy tính cho thật kỹ, đứng về phía những người lãnh đạo đuối lý, nói lấy được, tham quyền tham nhũng quay lưng lại với dân, hay là chọn con đường của lương tâm và trí tuệ, con đường sáng đẹp để làm lại từ đầu, bắt tay thảo ra một Hiến pháp thật sự mới, mang bản chất nhân văn, dân tộc và thời đại.

Đây là một thử thách nghiêm cách trong cuộc đời mỗi con người. Toàn dân, đông đảo cử tri, đặc biệt là cử tri từng bỏ phiếu bầu cho các vị, đang chăm chú quan sát từng vị trong cuộc bỏ phiếu này.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Bùi Tín

Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

VN được bầu vào Hội đồng Nhân quyền

Việc bầu thành viên Hội đồng Nhân quyền diễn ra tại Đại hội đồng LHQ trong thứ Ba 12/11

Việt Nam lần đầu tiên có ghế trong Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc sau cuộc bỏ phiếu hôm 12/11.

Việt Nam nhận được 184 trên 192 phiếu bầu.

Phát biểu sau khi có kết quả, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh nói Việt Nam sẽ “thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết của một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền và thành viên Liên Hiệp Quốc”.

Trung Quốc, Nga, Ả rập Saudi, Cuba cũng được bỏ phiếu bất chấp chỉ trích của các nhóm nhân quyền.

Đại hội đồng Liên hiệp quốc trong hôm thứ Ba đã bầu 14 thành viên mới vào cơ quan gồm 47 đại diện đặt tại Geneva, là cơ quan theo dõi về tình trạng nhân quyền bằng cách ra các nghị quyết, nếu cần.

Hội đồng Nhân quyền cũng có các giám sát viên đặc biệt chuyên theo dõi tình hình và các vấn đề lớn tại các nước, từ việc thi hành án tử hình tới việc tiến hành các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái.

Tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, có trụ sở chính tại New York, chỉ ra rằng năm ứng viên, gồm Trung Quốc, Nga, Ả rập Saudi, Việt Nam và Algeria, đã khước từ việc để các giám sát viên nhân quyền Liên Hiệp Quốc tới thăm và điều tra về các vụ bị cho là có tình trạng lạm dụng.

Đây là lần đầu tiên Hà Nội có chân trong Hội đồng Nhân quyền kể từ khi cơ quan này được thành lập năm 2006.

Đại diện theo khu vực

Các vị trí trong Hội đồng được phân bổ theo khu vực, và các nước trong những khu vực đó chọn lựa ứng viên vào vị trí đại diện cho vùng. Có khi việc bầu chọn có tính cạnh tranh cao, có khi không.

Toàn bộ 193 thành viên Đại hội đồng sẽ bỏ phiếu trong hôm thứ Ba.

Khối châu Á có các ứng viên không bị phản đối cho bốn ghế, là Trung Quốc, Maldives, Ả rập Saudi, và Việt Nam.

14 thành viên mới

  • Việt Nam
  • Algeria
  • Anh
  • Ả rập Saudi
  • Cuba
  • Maldives
  • Macedonia
  • Mexico
  • Morocco
  • Namibia
  • Nam Phi
  • Nga
  • Pháp
  • Trung Quốc

Ả rập Saudi có lúc được cho là sẽ gặp khó khăn trong quá trình bỏ phiếu tại Đại hội đồng sau khi đã được bỏ phiếu thuận, nhưng một ngày sau lại khước từ vị trí trong Hội đồng Bảo an cho nhiệm kỳ 2014-2015, một diễn biến chưa từng xảy ra trước đây.

Cho tới cuối tuần trước, Jordan vẫn là một ứng viên đại diện cho khối Á châu, nhưng sau bị rớt khỏi cuộc đua vào Hội đồng Nhân quyền, mở đường cho Ả rập Saudi vào vị thế không bị phản đối.

Jordan nay đang muốn hướng tới việc thế chỗ Ả rập Saudi tại Hội đồng Bảo an.

“Việc Jordan rời khỏi nhóm ứng viên Á châu là một cú đánh lớn, bởi việc thiếu cạnh tranh cũng có nghĩa là các nước như Ả rập Saudi có thể được bầu chọn vào hội đồng mà không bị sờ tới hồ sơ nhân quyền,” bà Peggy Hicks từ Human Rights Watch nói.

“Các nước như Trung Quốc và Việt Nam cần phải bị đặt câu hỏi về tình trạng vi phạm nhân quyền, bắt giữ các nhà hoạt động, và cần bị áp lực phải đưa ra cam kết có tiến trình cải thiện rõ ràng nếu khi muốn được bầu chọn vào hội đồng.”

“Không có cạnh tranh thì các mục tiêu cao quý của nghị quyết thành lập Hội đồng Nhân quyền, theo đó nói các thành viên sẽ duy trì ‘những tiêu chuẩn cao nhất’ về nhân quyền sẽ trở thành những lời hùng biện không khả thi,” bà nói.

Bên cạnh các ứng viên đại diện cho châu Á là các ứng viên đại diện các khu vực khác, gồm:

  • Nhóm châu Phi có năm ứng viên cho bốn ghế: Algeria, Morocco, Namibia, Nam Phi, và Nam Sudan.
  • Nhóm Đông Âu, gồm Nga và Macedonia, không vấp phải phản đối nào cho hai ghế.
  • Nhóm Tây Âu và các nhóm khác, gồm Pháp và Nga, không vấp phải phản đối nào cho hai ghế.

Hiện Hoa Kỳ đang là thành viên của hội đồng này, với nhiệm kỳ sẽ kết thúc vào năm 2015.

Chỉ số dân chủ: VN đứng thứ 144/167, quá thấp và qúa tồi tệ

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/11/11/chi-so-dan-chu/

Chủ nhật, 10 Tháng 11 2013 21:17

Hồ Sĩ Quý

1. Từ năm 2006, tổ chức Economist Intelligence Unit Index of Democracy thuộc tạp chí The Economist ở Anh đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát tình trạng dân chủ ở hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới và trên cơ sở đó, thiết kế các chỉ số dân chủ (DI, Democracy Index)để đo đạc,định lượng và đánh giá tình trạng dân chủ của từng quốc gia.

Chỉ số tổng hợp của dân chủ được đo bằngnăm tiêu chí:
1/ Quá trình bầu cử và thực hiện đa nguyên,
2/ Tự do của công dân,
3/ Hoạt động của chính phủ,
4/ Tham gia chính trị và
5/ Văn hóa chính trị.

Căn cứ vào 5 tiêu chí nêu trên, chỉ số dân chủ được tính bằng bình quân điểm số thu được từ kết quả trả lời 60 câu hỏi. Các câu hỏi được xếp vào 5 loại. Mỗi câu trả lời được cho từ 0 đến 1 điểm. Cộng thêm 0,5 điểm đối với câu hỏi có sự lựa chọn một trong ba phương án. Tổng số điểm được cộng cho từng loại, nhân hệ số mười, rồi chia cho tổng số câu hỏi của từng loại đó. Trung bình cộng của các chỉ số của từng loại câu hỏi đó được làm tròn để ra  kết quả chỉ số dân chủ cho từng quốc gia.

2. Các nước được đánh giá về trình độ dân chủ theo bốn loại: 1/ Nền dân chủ đầy đủ, 2/ Nền dân chủ đang hoàn thiện, 3/ Thể chế hỗn hợp, và 4/ Thể chế chuyên chế (Full democracies, Flawed democracies, Hybrid regimes, Authoritarian regimes)[1].

Được đánh giá là Nền Dân chủ đầy đủ, nếu quốc gia nào có điểm số từ 8 – 10. Được đánh giá là Nền Dân chủ đang hoàn thiện với các quốc gia có điểm số từ 6 – 7,9. Thể chế hỗn hợplà thang bậc được xếp cho những nước có điểm từ 4 – 5,9 nghĩa là vừa có dân chủ vừa thiếu dân chủ. Cuối cùng, những nước có điểm dưới 4 được coi là Thể chế chuyên chế. Theo các nhà thiết kế chỉ số này, ngay cả ở những nước có nền dân chủ vững mạnh và có truyền thống từ lâu, dân chủ vẫn có thể bị “ăn mòn” nếu không được nuôi dưỡng và bảo vệ.

3. Báo cáo số 1 về Democracy Index của Economist Intelligence Unit công bố lần đầu năm 2007 với sự khảo sát và đánh giá về dân chủ ở 162 nước và 2 vùng lãnh thổ. Năm đó, Việt Nam được xếp hạng 145 với tổng số điểm là 2,94.

Báo cáo số 4 công bố 12/2011 với chủ đề “Chỉ số dân chủ 2011: Dân chủ dưới các áp lực” (Democracy Index 2011: Democracy under stress) khảo sát và đánh giá về dân chủ ở 165 nước và 2 vùng lãnh thổ. Theo bảng chỉ số này, đứng đầu bảng năm 2011 là Na Uy có tổng điểm số cao nhất là 9,80 trên thang số 10. Ngược lại, Triều Tiên có số điểm thấp nhất 1,08, đứng cuối bảng xếp hạng. Việt Nam đứng ở vị trí 143 với tổng số điểm là 2,96.

Báo cáo số 5 công bố 3/2013 cũng khảo sát và đánh giá về dân chủ ở các nước này. Tiêu đề của Báo cáo số 5 là “Chỉ số dân chủ 2012: Dân chủ vẫn dậm chân tại chỗ” (Democracy Index 2012: Democracy at a standstill). Kết luận này phản ánh tình hình được nghiên cứu vào cuối năm 2012. Báo cáo nêu rõ rằng, năm 2012 dân chủ toàn cầu ở vào trạng thái vào bế tắc, nghĩa là không có những tiến bộ đáng kể và cũng không suy thoái hơn so với trước đó. Chỉ số trung bình của các khu vực tương đương với năm 2011. Năm 2012, Na Uy cũng đứng đầu bảng trong số 167 nước và vùng lãnh thổ với tổng điểm số cao nhất là 9,93 trên thang số 10 và Triều Tiên vẫn đứng cuối bảng với điểm số thấp nhất là 1,08. Năm 2012, Việt Nam và Congo Brazzaville cùng đứng ở vị trí 144 với tổng số điểm là 2,89.

Báo cáo số 5 còn lưu ý rằng, ngày nay tự do dân sự và bầu cử tự do, công bằng là điều kiện cần thiết cho dân chủ, nhưng đó không phải là tất cả. Một nền dân chủ đầy đủ còn đòi hỏi các quốc gia phải được điều hành bởi một chính phủ minh bạch và điều tối thiểu là phải hiệu quả; dân chúng được tham gia chính trị đầy đủ và có một nền văn hóa chính trị dân chủ. Dĩ nhiên, Báo cáo cũng thừa nhận điều đó không phải là dễ dàng, thậm chí ngay cả trong những quốc gia có nền dân chủ phát triển từ lâu.

4. Theo chúng tôi, dân chủ là đối tượng rất khó định lượng. Hơn thế nữa, bảng chỉ số này chỉ đánh giá ở 5 tiêu chí nên khó có thể phản ánh hết thực trạng dân chủ ở các nước. Hơn thế nữa, câu trả lời phủ định hoặc khẳng định cho các câu hỏi cũng chưa chắc đã phản ánh hết mức độ phức tạp về tình trạng dân chủ của xã hội mà người được hỏi trả lời. Nhìn vào vị trí các nước trong bảng xếp hạng, người ta có thể thấy rõ những khiếm khuyết đó. Tuy vậy, việc tham khảo các chỉ số định lượng để nhìn vấn đề cho sâu sắc hơn và đa diện hơn cũng là điều cần thiết đối với nhà nghiên cứu và đối với các chính phủ.

Sau đây là Bảng Chỉ số Dân chủ năm 2011 và 2012 của 167 quốc gia và vùng lãnh thổ xếp theo 4 trình độ dân chủ; Bảng Chỉ số dân chủ của Việt Nam trong các năm 2007, 2008, 2010, 2011, 2012; và Bảng Chỉ số dân chủ 2011 vầ năm 2012 xếp hạng cho 167 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Chỉ số Dân chủ năm 2011 và 2012 của 167 quốc gia và vùng lãnh thổ

xếp theo 4 trình độ dân chủ[2]

4 trình độ dân chủ

Tỷ lệ /167 nước/vùng lãnh thổ

Tỷ lệ/ Dân số thế giới

2011

2012

2011

2012

2011

2012

Nền Dân chủ đầy đủ

25

25

15,0

15,0

11,3

11,3

Nền Dân chủ đang hoàn thiện

53

54

31,7

32,3

37,1

37,2

Thể chế hỗn hợp

37

37

22,2

22,2

14,0

14,4

Thể chế chuyên chế

52

51

31,1

30,5

37,6

37,1

Việt Nam: Chỉ số dân chủ trong các năm 2007, 2008, 2010, 2011, 2012[3]

Việt Nam

Xếp hạng

Điểm số chung

Quá trình bầu cử và đa  nguyên

Chức năng chính phủ

Tham gia chính trị

Chính sáchvăn hóa

Tự do dân sự

2007

145

2,75

0,83

4,29

2,78

4,38

1,47

2008

149

2,53

0,83

4,29

1,67

4,38

1,47

2010

140

2,94

0,00

4,29

3,33

5,63

1,47

2011

143

2,96

0,00

4,29

2,78

6,25

1,47

2012

144

2,89

0,00

3,93

2,78

6,25

1,47

Chỉ số dân chủ 2011 xếp hạng cho 167 quốc gia và vùng lãnh th[4]

Chỉ số dân chủ 2011

Xếp hạng

Điểm số chung

Quá trình bầu cử và đa nguyên

Chức năng chính phủ

Tham gia chính trị

Chính sáchvăn hóa

Tự do dân sự

Nền Dân chủ đầy đủ

Norway

1

9,80

10,00

9,64

10,00

9,38

10,00

Iceland

2

9,65

10,00

9,64

8,89

10,00

9,71

Denmark

3

9,52

10,00

9,64

8,89

9,38

9,71

Sweden

4

9,50

9,58

9,64

8,89

9,38

10,00

New Zealand

5

9,26

10,00

9,29

8,89

8,13

10,00

Australia

6

9,22

10,00

8,93

7,78

9,38

10,00

Switzerland

7

9,09

9,58

9,29

7,78

9,38

9,41

Canada

8

9,08

9,58

9,29

7,78

8,75

10,00

Finland

9

9,06

10,00

9,64

7,22

8,75

9,71

Netherlands

10

8,99

9,58

8,93

8,89

8,13

9,41

Luxembourg

11

8,88

10,00

9,29

6,67

8,75

9,71

Ireland

12

8,56

9,58

7,86

7,22

8,13

10,00

Austria

13

8,49

9,58

7,86

7,78

8,13

9,12

Germany

14

8,34

9,58

8,21

6,67

8,13

9,12

Malta

15

8,28

9,17

8,21

5,56

8,75

9,71

Czech Republic

16

8,19

9,58

7,14

6,67

8,13

9,41

Uruguay

17

8,17

10,00

8,93

4,44

7,50

10,00

United Kingdom

18

8,16

9,58

7,86

6,11

8,13

9,12

United States

19

8,11

9,17

7,50

7,22

8,13

8,53

Costa Rica

20

8,10

9,58

8,21

6,11

6,88

9,71

Japan

21

8,08

9,17

8,21

6,11

7,50

9,41

South Korea

22

8,06

9,17

7,86

7,22

7,50

8,53

Belgium

23

8,05

9,58

8,21

5,56

7,50

9,41

Mauritius

24

8,04

9,17

8,21

5,00

8,13

9,71

Spain

25

8,02

9,58

7,50

6,11

7,50

9,41

Nền Dân chủ đang hoàn thiện

Cape Verde

26

7,92

9,17

7,86

7,22

6,25

9,12

Portugal

27

7,81

9,58

6,43

6,11

7,50

9,41

South Africa

28

7,79

8,75

8,21

7,22

6,25

8,53

France

29

7,77

9,58

7,14

6,11

7,50

8,53

Slovenia

30

7,76

9,58

7,50

6,67

6,25

8,82

Italy

31

7,74

9,58

6,43

6,67

7,50

8,53

Greece

32

7,65

9,58

5,71

6,67

6,88

9,41

Botswana

33

7,63

9,17

7,14

5,56

6,88

9,41

Estonia

34

7,61

9,58

7,14

5,00

7,50

8,82

Chile

35

7,54

9,58

8,57

3,89

6,25

9,41

Israel

36

7,53

8,75

7,50

8,33

7,50

5,59

Taiwan

37

7,46

9,58

7,14

5,56

5,63

9,41

Slovakia

38

7,35

9,58

7,50

5,56

5,00

9,12

India

39

7,30

9,58

7,50

5,00

5,00

9,41

Cyprus

40

7,29

9,17

6,43

6,11

5,63

9,12

Lithuania

41

7,24

9,58

5,71

5,56

6,25

9,12

Timor-Leste

42

7,22

8,67

6,79

5,56

6,88

8,24

Trinidad and Tobago

43

7,16

9,58

7,14

6,11

5,00

7,94

Jamaica

44

7,13

9,17

6,43

5,00

6,25

8,82

Poland

45

7,12

9,58

6,43

6,11

4,38

9,12

Brazil

=45

7,12

9,58

7,50

5,00

4,38

9,12

Panama

47

7,08

9,58

6,43

5,56

5,00

8,82

Latvia

48

7,05

9,58

5,36

5,56

5,63

9,12

Hungary

49

7,04

9,58

6,07

4,44

6,88

8,24

Mexico

50

6,93

8,75

7,14

6,11

5,00

7,65

Argentina

51

6,84

8,75

5,71

5,56

6,25

7,94

Bulgaria

52

6,78

9,17

5,71

6,11

4,38

8,53

Croatia

53

6,73

9,17

5,71

5,56

5,00

8,24

Suriname

54

6,65

9,17

6,43

4,44

5,00

8,24

Colombia

55

6,63

9,17

7,50

3,89

3,75

8,82

Peru

56

6,59

9,17

5,00

5,56

5,00

8,24

Sri Lanka

57

6,58

7,00

6,07

5,00

6,88

7,94

Thailand

58

6,55

7,83

6,07

5,56

6,25

7,06

Romania

59

6,54

9,58

6,07

4,44

4,38

8,24

Indonesia

60

6,53

6,92

7,50

5,56

5,63

7,06

El Salvador

61

6,47

9,17

6,07

3,89

5,00

8,24

Paraguay

62

6,40

8,33

6,07

5,00

4,38

8,24

Mali

63

6,36

8,25

6,43

4,44

5,63

7,06

Serbia

64

6,33

9,17

4,64

6,11

4,38

7,35

Lesotho

=64

6,33

7,42

5,71

6,11

5,63

6,76

Moldova

=64

6,33

8,75

5,00

5,56

4,38

7,94

Papua New Guinea

67

6,32

7,33

6,43

3,33

6,25

8,24

Namibia

68

6,24

5,67

5,00

6,67

5,63

8,24

Mongolia

69

6,23

8,33

5,71

3,89

5,00

8,24

Dominican Republic

70

6,20

8,75

5,00

2,78

6,25

8,24

Malaysia

71

6,19

6,50

6,79

5,56

6,25

5,88

Zambia

=71

6,19

7,92

5,00

4,44

6,25

7,35

Macedonia

73

6,16

7,75

4,64

6,11

4,38

7,94

Montenegro

74

6,15

8,75

5,00

5,56

4,38

7,06

Philippines

75

6,12

8,33

5,00

5,00

3,13

9,12

Benin

76

6,06

7,33

6,43

4,44

5,63

6,47

Guyana

77

6,05

7,92

5,36

5,56

4,38

7,06

Ghana

78

6,02

8,33

5,00

5,00

5,00

6,76

Thể chế hỗn hợp

Ukraine

79

5,94

8,33

4,64

5,00

4,38

7,35

Hong Kong

80

5,92

3,50

5,36

4,44

6,88

9,41

Singapore

81

5,89

4,33

7,50

2,78

7,50

7,35

Guatemala

82

5,88

7,92

6,43

3,33

4,38

7,35

Bangladesh

83

5,86

7,42

5,43

5,00

4,38

7,06

Bolivia

84

5,84

7,00

5,00

6,11

3,75

7,35

Malawi

=84

5,84

7,00

5,71

5,56

5,63

5,29

Honduras

=84

5,84

8,75

5,71

3,89

4,38

6,47

Albania

87

5,81

7,00

4,71

5,00

5,00

7,35

Turkey

88

5,73

7,92

7,14

3,89

5,00

4,71

Ecuador

89

5,72

7,83

4,64

5,00

3,75

7,35

Tanzania

90

5,64

7,42

4,29

5,56

5,63

5,29

Nicaragua

91

5,56

6,58

4,36

3,89

5,63

7,35

Tunisia

92

5,53

5,33

5,00

6,67

6,25

4,41

Senegal

93

5,51

7,00

4,29

4,44

5,63

6,18

Lebanon

94

5,32

6,67

2,14

7,22

5,00

5,59

Bosnia and Hercegovina

95

5,24

6,92

3,29

3,33

5,00

7,65

Uganda

96

5,13

5,67

2,86

5,00

6,25

5,88

Venezuela

97

5,08

5,67

3,93

5,56

4,38

5,88

Liberia

98

5,07

7,83

0,79

5,56

5,00

6,18

Palestine

99

4,97

6,00

2,86

7,78

4,38

3,82

Mozambique

100

4,90

4,83

4,64

5,56

5,63

3,82

Cambodia

101

4,87

6,08

6,07

2,78

5,00

4,41

Georgia

102

4,74

6,58

2,14

4,44

4,38

6,18

Kenya

103

4,71

3,92

4,29

4,44

5,63

5,29

Bhutan

104

4,57

6,25

5,36

3,33

4,38

3,53

Pakistan

105

4,55

5,17

5,71

2,22

4,38

5,29

Sierra Leone

106

4,51

7,00

1,86

2,78

5,63

5,29

Kyrgyz Republic

107

4,34

5,75

1,86

4,44

4,38

5,29

Nepal

108

4,24

1,83

4,29

3,89

5,63

5,59

Mauritania

109

4,17

3,42

4,29

5,00

3,13

5,00

Niger

110

4,16

7,50

1,14

2,78

4,38

5,00

Armenia

111

4,09

4,33

3,21

3,89

3,13

5,88

Iraq

112

4,03

4,33

0,43

7,22

3,75

4,41

Burundi

113

4,01

3,42

3,29

3,89

5,63

3,82

Haiti

114

4,00

5,17

1,86

2,78

3,75

6,47

Egypt

115

3,95

2,08

3,21

5,00

5,63

3,82

Thể chế chuyên chế

Madagascar

116

3,93

2,17

2,14

5,00

5,63

4,71

Russia

117

3,92

3,92

2,86

5,00

3,13

4,71

Jordan

118

3,89

3,17

4,29

4,44

3,75

3,82

Nigeria

119

3,83

5,67

3,21

3,33

3,13

3,82

Morocco

=119

3,83

3,50

4,64

2,22

4,38

4,41

Ethiopia

121

3,79

0,00

3,93

5,00

5,63

4,41

Kuwait

122

3,74

3,17

4,29

3,33

4,38

3,53

Fiji Burkina

123

3,67

0,42

2,86

3,89

5,00

6,18

Faso

124

3,59

4,00

3,57

2,22

3,75

4,41

Libya

125

3,55

0,00

2,86

3,33

6,25

5,29

Cuba

126

3,52

1,75

4,64

3,89

4,38

2,94

Comoros

=126

3,52

3,92

2,21

3,89

3,75

3,82

Gabon

128

3,48

2,17

2,21

3,89

5,00

4,12

Togo

129

3,45

4,00

0,79

3,33

5,00

4,12

Algeria

130

3,44

2,17

2,21

2,78

5,63

4,41

Cameroon

131

3,41

1,17

4,29

2,78

5,00

3,82

Gambia

132

3,38

2,17

4,29

2,22

5,00

3,24

Angola

133

3,32

1,33

3,21

4,44

4,38

3,24

Oman

134

3,26

0,00

3,93

3,89

4,38

4,12

Swaziland

=134

3,26

0,92

2,86

2,78

5,63

4,12

Rwanda

136

3,25

0,83

4,64

1,67

5,00

4,12

Kazakhstan

137

3,24

1,33

2,14

3,33

4,38

5,00

Qatar

138

3,18

0,00

3,93

2,22

5,63

4,12

Belarus

139

3,16

1,75

2,86

3,89

4,38

2,94

Azerbaijan

140

3,15

2,17

1,79

3,33

3,75

4,71

China

141

3,14

0,00

5,00

3,89

5,63

1,18

Côte d’Ivoire

142

3,08

0,00

1,79

4,44

5,63

3,53

Vietnam

143

2,96

0,00

4,29

2,78

6,25

1,47

Bahrain

144

2,92

1,75

2,50

3,33

4,38

2,65

Congo (Brazzaville)

145

2,89

1,25

2,86

3,33

3,75

3,24

Guinea

146

2,79

3,50

0,43

3,33

3,75

2,94

Zimbabwe

147

2,68

0,00

1,29

3,89

5,00

3,24

Djibouti United Arab Emirates

=147 149

2,68 2,58

0,83 0,00

1,79 3,57

2,22 1,11

5,63 5,00

2,94 3,24

Yemen

150

2,57

2,17

0,36

4,44

5,00

0,88

Tajikistan

151

2,51

1,83

0,79

2,22

6,25

1,47

Afghanistan

152

2,48

2,50

0,79

2,78

2,50

3,82

Sudan

153

2,38

0,00

1,79

3,33

5,00

1,76

Eritrea

154

2,34

0,00

2,86

1,11

6,25

1,47

D.R. Congo

155

2,15

2,58

1,07

2,22

3,13

1,76

Laos

156

2,10

0,00

3,21

1,11

5,00

1,18

Guinea-Bissau

157

1,99

2,08

0,00

2,78

1,88

3,24

Syria Iran

=157 159

1,99 1,98

0,00 0,00

1,79 2,86

2,22 2,78

5,63 2,50

0,29 1,76

Central African

160

1,82

1,75

1,07

1,11

2,50

2,65

Republic Saudi Arabia

161

1,77

0,00

2,86

1,11

3,13

1,76

Equatorial Guinea

=161

1,77

0,00

0,79

2,22

4,38

1,47

Myanmar

=161

1,77

0,00

1,79

0,56

5,63

0,88

Uzbekistan

164

1,74

0,08

0,79

2,22

5,00

0,59

Turkmenistan

165

1,72

0,00

0,79

2,22

5,00

0,59

Chad

166

1,62

0,00

0,00

1,11

3,75

3,24

North Korea

167

1,08

0,00

2,50

1,67

1,25

0,00

Chỉ số dân chủ 2012 xếp hạng cho 167 quốc gia và vùng lãnh thổ[5]

Chỉ số dân chủ 2012

Xếp hạng

Điểm số chung

Quá trình bầu cử và đa nguyên

Chức năng chính phủ

Tham gia chính trị

Chính sáchvăn hóa

Tự do dân sự

Nền Dân chủ đầy đủ

Norway

1

9,93

10,00

9,64

10,00

10,00

10,00

Sweden

2

9,73

9,58

9,64

9,44

10,00

10,00

Iceland

3

9,65

10,00

9,64

8,89

10,00

9,71

Denmark

4

9,52

10,00

9,64

8,89

9,38

9,71

New Zealand

5

9,26

10,00

9,29

8,89

8,13

10,00

Australia

6

9,22

10,00

8,93

7,78

9,38

10,00

Switzerland

7

9,09

9,58

9,29

7,78

9,38

9,41

Canada

8

9,08

9,58

9,29

7,78

8,75

10,00

Finland

9

9,06

10,00

9,64

7,22

8,75

9,71

Netherlands

10

8,99

9,58

8,93

8,89

8,13

9,41

Luxembourg

11

8,88

10,00

9,29

6,67

8,75

9,71

Austria

12

8,62

9,58

8,21

7,78

8,13

9,41

Ireland

13

8,56

9,58

7,86

7,22

8,13

10,00

Germany

14

8,34

9,58

8,21

6,67

8,13

9,12

Malta

15

8,28

9,17

8,21

5,56

8,75

9,71

United Kingdom

16

8,21

9,58

7,50

6,11

8,75

9,12

Czech Republic

17

8,19

9,58

7,14

6,67

8,13

9,41

Uruguay

=18

8,17

10,00

8,93

4,44

7,50

10,00

Mauritius

=18

8,17

9,17

8,21

5,00

8,75

9,71

South Korea

20

8,13

9,17

8,21

7,22

7,50

8,53

United States of America

21

8,11

9,17

7,50

7,22

8,13

8,53

Costa Rica

22

8,10

9,58

8,21

6,11

6,88

9,71

Japan

23

8,08

9,17

8,21

6,11

7,50

9,41

Belgium

24

8,05

9,58

8,21

5,56

7,50

9,41

Spain

25

8,02

9,58

7,50

6,11

7,50

9,41

Nền Dân chủ đang hoàn thiện

Cape Verde

=26

7,92

9,17

7,86

7,22

6,25

9,12

Portugal

=26

7,92

9,58

6,43

6,67

7,50

9,41

France

=28

7,88

9,58

7,14

6,67

7,50

8,53

Slovenia

=28

7,88

9,58

7,50

7,22

6,25

8,82

Botswana

30

7,85

9,17

7,14

6,67

6,88

9,41

South Africa

31

7,79

8,75

8,21

7,22

6,25

8,53

Italy

32

7,74

9,58

6,43

6,67

7,50

8,53

Greece

33

7,65

9,58

5,71

6,67

6,88

9,41

Estonia

34

7,61

9,58

7,14

5,00

7,50

8,82

Taiwan

35

7,57

9,58

7,14

6,11

5,63

9,41

Chile

36

7,54

9,58

8,57

3,89

6,25

9,41

Israel

37

7,53

8,75

7,50

8,33

7,50

5,59

India

38

7,52

9,58

7,50

6,11

5,00

9,41

Jamaica

39

7,39

9,17

6,79

5,00

6,88

9,12

Slovakia

40

7,35

9,58

7,50

5,56

5,00

9,12

Cyprus

41

7,29

9,17

6,43

6,11

5,63

9,12

Lithuania

42

7,24

9,58

5,71

5,56

6,25

9,12

Timor-Leste

43

7,16

8,67

6,79

5,56

6,88

7,94

Poland

=44

7,12

9,58

6,43

6,11

4,38

9,12

Brazil

=44

7,12

9,58

7,50

5,00

4,38

9,12

Panama

46

7,08

9,58

6,43

5,56

5,00

8,82

Latvia

47

7,05

9,58

5,36

5,56

5,63

9,12

Trinidad and Tobago

48

6,99

9,58

7,14

5,00

5,00

8,24

Hungary

49

6,96

9,17

6,07

4,44

6,88

8,24

Croatia

50

6,93

9,17

6,07

5,56

5,63

8,24

Mexico

51

6,90

8,33

7,14

6,67

5,00

7,35

Argentina

52

6,84

8,75

5,71

5,56

6,25

7,94

Indonesia

53

6,76

6,92

7,50

6,11

5,63

7,65

Bulgaria

54

6,72

9,17

5,71

6,11

4,38

8,24

Lesotho

55

6,66

8,25

5,71

6,67

5,63

7,06

Suriname

56

6,65

9,17

6,43

4,44

5,00

8,24

Colombia

57

6,63

9,17

7,50

3,89

3,75

8,82

Thailand

58

6,55

7,83

6,07

5,56

6,25

7,06

Romania

59

6,54

9,58

6,07

4,44

4,38

8,24

Dominican Republic

60

6,49

8,75

5,36

4,44

6,25

7,65

Suriname

56

6,65

9,17

6,43

4,44

5,00

8,24

Colombia

57

6,63

9,17

7,50

3,89

3,75

8,82

Thailand

58

6,55

7,83

6,07

5,56

6,25

7,06

Romania

59

6,54

9,58

6,07

4,44

4,38

8,24

Dominican Republic

60

6,49

8,75

5,36

4,44

6,25

7,65

El Salvador

=61

6,47

9,17

6,07

3,89

5,00

8,24

Peru

=61

6,47

9,17

5,00

5,56

4,38

8,24

Hong Kong

63

6,42

4,75

6,07

5,00

6,88

9,41

Malaysia

64

6,41

6,50

7,86

5,56

6,25

5,88

Mongolia

65

6,35

8,33

5,71

4,44

5,00

8,24

Serbia

66

6,33

9,17

4,64

6,11

4,38

7,35

Moldova

=67

6,32

8,75

5,00

5,56

4,38

7,94

Papua New Guinea

=67

6,32

7,33

6,43

3,33

6,25

8,24

Philippines

69

6,30

8,33

5,36

5,56

3,13

9,12

Zambia

=70

6,26

7,92

5,36

4,44

6,25

7,35

Paraguay

=70

6,26

8,33

5,36

5,00

4,38

8,24

Namibia

72

6,24

5,67

5,00

6,67

5,63

8,24

Macedonia

73

6,16

7,75

4,64

6,11

4,38

7,94

Senegal

74

6,09

7,92

5,71

4,44

5,63

6,76

Malawi

75

6,08

7,00

5,71

5,56

6,25

5,88

Montenegro

=76

6,05

7,92

5,36

5,56

4,38

7,06

Guyana

=76

6,05

7,92

5,36

5,56

4,38

7,06

Ghana

78

6,02

8,33

5,00

5,00

5,00

6,76

Benin

79

6,00

7,33

6,43

4,44

5,63

6,18

Thể chế hỗn hợp

Ukraine

80

5,91

7,92

4,64

5,56

4,38

7,06

Guatemala

=81

5,88

7,92

6,43

3,33

4,38

7,35

Singapore

=81

5,88

4,33

7,50

3,33

6,88

7,35

Tanzania

=81

5,88

7,42

4,64

6,11

5,63

5,59

Bangladesh

84

5,86

7,42

5,43

5,00

4,38

7,06

Bolivia

=85

5,84

7,00

5,00

6,11

3,75

7,35

Honduras

=85

5,84

8,75

5,71

3,89

4,38

6,47

Ecuador

87

5,78

7,83

4,64

5,00

4,38

7,06

Turkey

88

5,76

7,92

6,79

5,00

5,00

4,12

Sri Lanka

89

5,75

6,17

5,36

4,44

6,88

5,88

Tunisia

=90

5,67

5,75

5,00

6,67

6,25

4,71

Albania

=90

5,67

7,00

4,00

5,00

5,00

7,35

Nicaragua

92

5,56

6,58

4,36

3,89

5,63

7,35

Georgia

93

5,53

8,25

3,21

5,00

5,00

6,18

Uganda

94

5,16

5,67

3,57

4,44

6,25

5,88

Libya

=95

5,15

4,33

5,71

3,89

6,25

5,59

Venezuela

=95

5,15

5,67

4,29

5,56

4,38

5,88

Mali

97

5,12

7,42

3,57

5,00

3,13

6,47

Bosnia and Hercegovina

98

5,11

6,92

2,93

3,33

5,00

7,35

Lebanon

99

5,05

5,67

1,79

7,22

5,00

5,59

Cambodia

100

4,96

5,67

6,07

3,33

5,63

4,12

Liberia

101

4,95

7,83

0,79

5,56

5,00

5,59

Mozambique

102

4,88

4,83

4,29

5,56

5,63

4,12

Palestine

103

4,80

5,17

2,86

7,78

4,38

3,82

Kenya

=104

4,71

3,92

4,29

4,44

5,63

5,29

Sierra Leone

=104

4,71

7,00

2,21

2,78

6,25

5,29

Kyrgyz Republic

106

4,69

6,58

2,21

5,00

4,38

5,29

Bhutan

107

4,65

6,67

5,36

3,33

4,38

3,53

Pakistan

108

4,57

5,58

5,36

2,22

4,38

5,29

Egypt

109

4,56

3,42

4,64

5,00

5,63

4,12

Mauritania

110

4,17

3,42

4,29

5,00

3,13

5,00

Nepal

=111

4,16

2,67

4,29

3,89

4,38

5,59

Niger

=111

4,16

7,50

1,14

2,78

4,38

5,00

Iraq

113

4,10

4,33

0,79

7,22

3,75

4,41

Armenia

114

4,09

4,33

3,21

3,89

3,13

5,88

Morocco

115

4,07

3,50

4,64

2,78

5,00

4,41

Haiti

116

3,96

5,17

2,21

2,22

3,75

6,47

Thể chế chuyên chế

Madagascar

117

3,93

2,17

2,14

5,00

5,63

4,71

Algeria

118

3,83

3,00

2,21

3,89

5,63

4,41

Kuwait

119

3,78

3,17

3,93

3,89

4,38

3,53

Nigeria

120

3,77

5,67

3,21

3,33

3,13

3,53

Jordan

121

3,76

3,17

3,93

4,44

3,75

3,53

Russia

122

3,74

3,92

2,86

5,00

2,50

4,41

Ethiopia

123

3,72

0,00

3,57

5,00

5,63

4,41

Fiji

124

3,67

0,42

2,86

3,89

5,00

6,18

Burundi

125

3,60

3,00

2,57

3,89

5,00

3,53

Gabon

126

3,56

2,58

2,21

3,89

5,00

4,12

Burkina Faso

=127

3,52

4,00

3,21

2,22

3,75

4,41

Cuba

=127

3,52

1,75

4,64

3,89

4,38

2,94

Comoros

=127

3,52

3,92

2,21

3,89

3,75

3,82

Togo

130

3,45

4,00

0,79

3,33

5,00

4,12

Cameroon

131

3,44

0,75

4,29

3,33

5,00

3,82

Rwanda

132

3,36

0,83

4,64

2,22

5,00

4,12

Angola

133

3,35

0,92

3,21

5,00

4,38

3,24

Gambia

134

3,31

2,17

3,93

2,22

5,00

3,24

Oman

135

3,26

0,00

3,93

3,89

4,38

4,12

Côte d’Ivoire

136

3,25

0,00

1,79

5,00

5,63

3,82

Swaziland

137

3,20

0,92

2,86

2,78

5,63

3,82

Qatar

138

3,18

0,00

3,93

2,22

5,63

4,12

Azerbaijan

139

3,15

2,17

1,79

3,33

3,75

4,71

 Yemen

140

3,12

3,00

1,43

5,00

5,00

1,18

Belarus

141

3,04

1,75

2,86

3,89

4,38

2,35

China

142

3,00

0,00

4,64

3,89

5,00

1,47

Kazakhstan

143

2,95

0,50

2,14

3,33

4,38

4,41

Vietnam

=144

2,89

0,00

3,93

2,78

6,25

1,47

Congo (Brazzaville)

=144

2,89

1,25

2,86

3,33

3,75

3,24

Guinea

146

2,79

3,50

0,43

3,33

3,75

2,94

Djibouti

147

2,74

0,83

1,79

2,22

5,63

3,24

Zimbabwe

148

2,67

0,50

1,29

3,33

5,00

3,24

United Arab Emirates

149

2,58

0,00

3,57

1,11

5,00

3,24

Bahrain

150

2,53

1,25

2,50

2,78

4,38

1,76

Tajikistan

151

2,51

1,83

0,79

2,22

6,25

1,47

Afghanistan

152

2,48

2,50

0,79

2,78

2,50

3,82

Eritrea

153

2,40

0,00

2,86

1,11

6,88

1,18

Sudan

154

2,38

0,00

1,79

3,33

5,00

1,76

Myanmar

155

2,35

1,50

1,79

1,67

5,63

1,18

Laos

156

2,32

0,00

3,21

2,22

5,00

1,18

Central African Republic

157

1,99

1,75

1,07

1,67

2,50

2,94

Iran

158

1,98

0,00

2,86

2,78

2,50

1,76

Democratic Republic of Congo

159

1,92

1,75

0,71

2,22

3,13

1,76

Equatorial Guinea

160

1,83

0,00

0,79

2,22

4,38

1,76

Uzbekistan

=161

1,72

0,08

0,79

2,78

4,38

0,59

Turkmenistan

=161

1,72

0,00

0,79

2,22

5,00

0,59

Saudi Arabia

163

1,71

0,00

2,86

1,11

3,13

1,47

Syria

164

1,63

0,00

0,36

2,78

5,00

0,00

Chad

165

1,62

0,00

0,00

1,11

3,75

3,24

Guinea-Bissau

166

1,43

0,42

0,00

2,22

1,88

2,65

North Korea

167

1,08

0,00

2,50

1,67

1,25

0,00

…………………………….
Bài đã đăng trong Thông tin khoa học xã hội; Do tác giả gửi VHNA

[2]Soạn theo:Democracy Index 2011. Democracy under stress Democracy Index 2012: Democracy at a standstill.

[3]Soạn theo:Democracy Index 2007, 2008, 2010, 2011, 2012.

[4]Democracy Index 2011: Democracy under stress. tr. 3-8.

[5]Democracy Index 2012: Democracy at a standstill.tr. 3-8.

Xã hội dân sự Việt Nam đang đem lại những thay đổi về chính trị

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/10/15/xa-hoi-dan-su-viet-nam-dang-dem-lai-nhung-thay-doi-ve-chinh-tri/

Sự thành lập của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự ở Việt Nam ngày 23/9/2013 cho thấy xã hội dân sự Việt Nam bắt đầu ‘huy động lực lượng’ – bước thứ ba trong quá trình phát triển của nó. Diễn đàn này là sản phẩm của một Tuyên Ngôn gọi là “TUYÊN BỐ Về thực thi quyền Dân sự và Chính trị”, được ký bởi một nhóm 130 công dân Việt Nam.

VIETNAM-MILITARY-HISTORY-GIAP

East Asia Forum / Dân luận

Tác giả: Nguyễn Hồng Hải

Chuyển ngữ: Nguyễn Công Huân

Văn hóa chính trị Việt Nam đang chuyển biến dần từ toàn trị sang đa nguyên đa đảng (pluralism). Tại sao vậy? Bởi vì xã hội dân sự độc lập và ngày càng phát triển đang thách thức công khai sự cai trị của Đảng CSVN.

Ví dụ sinh động nhất là bản kiến nghị được ký bởi Nhóm 72, một phong trào của những nhân sĩ, trí thức, đảng viên và quan chức cao cấp đã về hưu được nhiều người biết đến trên cả nước. Vào đầu năm 2013, Nhóm 72 đã gửi bản nháp Hiến Pháp do họ tự thảo với tư tưởng phương Tây tới Quốc hội Việt Nam, yêu cầu một hệ thống bầu cử đa đảng và không loại trừ, và đòi hỏi Việt Nam chuyển đổi từ độc đảng sang dân chủ. Sau hoạt động của Nhóm 72, các kiến nghị và các phong trào khác đã nổ ra khiến nhà cầm quyền phải tăng cường kiểm soát và đàn áp.

Các phong trào gần đây bao gồm, ví dụ, Tuyên Bố của Các Công Dân Tự DoTuyên Bố 258, bởi một nhóm các blogger; và gần đây nhất là một lá thư ngỏ được viết và truyền bá trên mạng Internet bởi một cựu đảng viên Đảng CSVN kêu gọi thành lập một đảng chính trị mới để cạnh tranh với Đảng CSVN.

Và giờ đây đã có một sự lựa chọn rõ ràng về phương tiện truyền thông, giữa các lý thuyết gia và tuyên truyền viên của Đảng CSVN, những người sử dụng hệ thống truyền thông do nhà nước quản lý, và các thành viên của xã hội dân sự, những người viết trên các hệ thống mạng xã hội.

Và các thành viên của xã hội dân sự đã có những thành công. Vào tháng Năm 2013, một nhóm gồm 20 tổ chức đã thuyết phục được Quốc hội Việt Nam – nơi vẫn hoạt động dưới chỉ đạo của Đảng CSVN – để tạm hoãn thông qua một bản dự thảo luật đất đai bằng cách đệ trình những khuyến nghị độc lập dựa trên tham vấn cộng đồng.

Nhiều thành viên bất đồng chính kiến của xã hội dân sự là đảng viên Đảng CSVN và đã từng là các quan chức trong chính quyền. Những người này cất tiếng nói vì họ quá tức giận với sự suy sụp của Việt Nam. Đã gần 70 năm trôi qua kể từ khi Đảng CSVN nắm quyền ở miền Bắc, và 38 năm kể từ khi họ kiểm soát được toàn bộ đất nước, chưa bao giờ quyền lực và tính chính danh của họ bị thách thức như hiện nay.

Lý do đơn giản là vì Đảng đã thất bại trong con mắt của người dân.

Thứ nhất, mặc dù Hiến Pháp Việt Nam quy định về việc trưng cầu dân ý, nhưng điều này chưa bao giờ được thực hiện tại đây. Thay vào đó, Đảng đã nắm quyền kiểm soát Hiến Pháp. Nhóm 72 và các tổ chức xã hội dân sự khác gần đây đã thực hiện một chiến dịch lâu dài, tốn kém và được nhiều người biết đến để thu thập ý kiến của công chúng về bản dự thảo hiến pháp. Và Đảng CSVN đã lờ họ đi.

Thứ nhì, tham nhũng đang tràn lan, nhưng nó không được giải quyết một cách hiệu quả vì nhiều lý do, trong đó bao gồm cả một nền tư pháp lệ thuộc vào Đảng CSVN. Chính phủ được xây dựng trên nền tảng quan hệ móc nối trong – ngoài.

Thứ ba, nhà cầm quyền tùy tiện cưỡng chế người dân di dời khỏi mảnh đất của mình cho những dự án xây dựng, mặc dù nông dân chiếm tới 80% dân số và là người ủng hộ nhiệt tình cho Đảng CSVN. Vấn đề này là kết quả của những điều luật không đúng chuẩn mực và mơ hồ. Đất đai được sở hữu bởi cá nhân, nhưng được điều hành bởi chính quyền.

Thêm vào đó, quyền con người và các quyền tự do bị xâm phạm, bao gồm cả quyền được biểu tình phản đối hành vi gây hấn của Trung Quốc trên biển Đông.

Thứ năm, kinh tế đang ở ngưỡng nguy hiểm, có xu hướng trượt sâu vào trì trệ.

Tất cả những vấn đề trên đều là vấn đề của thể chế, như các nhà hoạt động xã hội dân sự đã chỉ ra. Hiệu suất của lực lượng lao động bị cản trở vì sự sáng tạo và tự do bị cấm đoán. Chỉ khi nhà nước độc đảng chuyển thành một xã hội dân chủ đa nguyên thì quốc gia mới có thể thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và chính trị.

Nghiên cứu so sánh về thay đổi thể chế – từ cộng sản sang dân chủ – ở các nước Trung và Đông Âu cho thấy xã hội dân sự có thể là lực lượng thúc đẩy thay đổi. Xã hội dân sự ở Trung Âu đã trải qua 4 bước phát triển: phòng thủ, nổi lên, huy động lực lượng và thể chế hóa. Trong hai bước đầu tiên (phòng thủ và nổi lên) các cá nhân, các nhóm độc lập và các phong trào đòi quyền tự chủ và theo đuổi những mục tiêu bị giới hạn trong một không gian công được nới rộng khi mà nhà nước độc đảng buộc phải có những nhượng bộ nhất định. Trong bước thứ ba (huy động lực lượng), các nhóm và cá nhân tìm cách hạ thấp tính chính danh của nhà nước độc đảng và cung cấp cho công chúng những dạng thức chính quyền thay thế. Trong giai đoạn thứ tư (thể chế hóa), chúng ta chứng kiến quan hệ hợp tác giữa nhà nước và xã hội dân sự, khi mà luật pháp được thiết lập để đảm bảo bầu cử tự do. Những phát triển gần đây ở Việt Nam cho thấy các nhà hoạt động xã hội cũng đang đi theo 4 bước tương tự.

Sự thành lập của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự ở Việt Nam ngày 23/9/2013 cho thấy xã hội dân sự Việt Nam bắt đầu ‘huy động lực lượng’ – bước thứ ba trong quá trình phát triển của nó. Diễn đàn này là sản phẩm của một Tuyên Ngôn gọi là “TUYÊN BỐ Về thực thi quyền Dân sự và Chính trị”, được ký bởi một nhóm 130 công dân Việt Nam. Diễn đàn được đặt ra như một nơi ‘trao đổi và tập hợp các ý kiến nhằm góp phần chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa’. Việc Đảng CSVN trả lời sao trước sáng kiến này sẽ là dấu hiệu cho thấy thái độ của nó trước văn hóa chính trị thay đổi ở Việt Nam.

Việc thành lập Diễn đàn Xã hội Dân sự có thể là bước đầu tiên để tiến tới sự thay đổi thể chế. Nó cũng có thể chỉ là một lời sáo rỗng mà không đem lại thay đổi đáng kể nào. Nhưng nếu không phải nó, thì một tổ chức khác sẽ là chất xúc tác. Xã hội dân sự Việt Nam đang thay đổi chính trị ở quốc gia này.

Nguyễn Hồng Hải là nghiên cứu sinh tại Trường Khoa học Chính trị và Nghiên cứu Quốc Tế, Đại học Queensland.

Vietnamese civil society bringing political change

Vietnamese civil society bringing political change

October 11th, 2013

Author: Hai Hong Nguyen, UQ

Vietnam’s political culture is gradually transforming from totalitarianism to pluralism. Why? Because an emerging and independent civil society is openly challenging communist party rule.

The most high-profile example is a petition signed by Group 72, a movement of nationally well-known personalities, intellectuals, party members and retired high-ranking officials of the communist government. In early 2013, Group 72 submitted its own draft Western-style constitution to the Vietnamese legislature, requested a multi-party and inclusive election, and called for Vietnam to transform from a one-party state into a democracy. After Group 72’s motion, other petitions and movements prompted the authorities to increase control and repression.

Other recent movements included, for example, the Declaration of Free Citizens; Declaration 258, by a group of bloggers; and more recently an open letter written and circulated on the internet by a veteran communist party member calling for the founding of a new political party to compete with the Communist Party of Vietnam (CPV).

There is now a clear choice of media in Vietnam, between the CPV’s theorists and opinion writers, whose articles are published in the state-controlled media, and members of civil society, who write on social media networks.

And civil society members are having some success. In May 2013, a group of 20 organisations managed to convince the Vietnamese parliament — which operates under the direction of the CPV — to postpone the passage of a draft revised land law by presenting independent recommendations based on community consultations.

Many dissenting members of civil society are CPV members and once held senior offices in the government. These people are speaking out because they are frustrated with Vietnam’s decline. It is nearly 70 years since the CPV took power in the north of Vietnam and approximately 38 years since it took over the rest of the country, never in that time has its rule and legitimacy been challenged as now.

The reason, simply put, is that the party is failing its people.

First, even though the Vietnamese Constitution prescribes a referendum, a referendum has never been held. Instead, the party controls the Constitution. Group 72 and other civil society organisations recently waged a lengthy, high-profile and costly campaign to collect public comments on the draft revised constitution. The CPV ignored them.

Second, corruption is rampant, but it is not addressed effectively for various reasons, including a subservient judiciary. The government is built on patron–client relationships.

Third, the authorities arbitrarily evict people from their land for construction projects even though farmers account for nearly 80 per cent of the population and are loyal believers in the CPV. This problem results from vague and inappropriate legal provisions. Land is owned by the people, but managed by the state.

In addition, human rights and freedoms are violated, including the right of demonstrators to protest China’s aggressive moves in the South China Sea.

Fifth, the economy is at risk of sliding into deep stagnation.

All of these problems are institutional, as civil society activists point out. The productivity of the labour force is repressed because human creativity and freedom cannot flourish. Only when the party-state transforms to a pluralist democracy will the country escape its social and economic crises.

Comparative studies of regime change from communism to democracy in Central and Eastern European countries show that civil society can be a driving force for change. Civil society in Central Europe underwent four stages of development: defensive, emergent, mobilisational and institutional. In the first two stages (defensive and emergent), individuals, independent groups and movements asserted their autonomy and pursued limited goals in a public space that widened as the reforming party-state gave certain concessions. In the third stage (mobilisation), groups and individuals sought to undermine the legitimacy of the party-state and offer alternative forms of governance. The fourth stage (institutional) sees a cooperative relationship between the state and society, in which laws are enacted to ensure free elections. Recent developments in Vietnam suggest that civil society activists are following the same pattern.

The establishment of a ‘Civil Society Forum’ in Vietnam on 23 September shows that Vietnamese civil society is beginning to ‘mobilise’ — it is in the third stage of development. This forum is the product of a manifesto called the Declaration on the Implementation of Civil and Political Rights’, which was prepared by a group of 130 Vietnamese citizens. The forum is set to be ‘a venue where organizations, groups, individuals can express their views … exchange and garner opinions that contribute to transforming the political regime in our country from totalitarianism to democracy in a non-violent manner’. The CPV’s response to this initiative will be a sign of its attitude to Vietnam’s changing political culture.

The establishment of the forum might be the first step toward regime transformation. It might also create an empty mouthpiece that brings no significant change. But if this organisation is not the catalyst, something else will be. Vietnam’s civil society is changing the country’s politics.

Hai Hong Nguyen is a PhD candidate at the School of Political Science and International Studies, University of Queensland.

http://www.eastasiaforum.org/2013/10/11/vietnamese-civil-society-bringing-political-change/

Dân làm thay việc quan tòa

image.jpg

Bên ngoài TAND Hà Nội trước một phiên xử. Ảnh minh họa. AFP photo

Khoảng 10 năm về trước, cơ quan công an, Viện Kiểm sát Nhân dân rồi giới “cầm cân nẩy mực” Bắc Giang – nói theo lời tác giả Khánh Sơn của bài “Án tù oan trái và ‘tòa vô cảm’ ” – đã “thở phào nhẹ nhõm” bởi hồ sơ vụ án cuối cùng đã khép lại sau khi các cơ quan công quyền cho là có “đầy đủ bằng chứng không thể chối cãi” để kết án tù chung thân về tội “sát nhân” đối với người nông dân chất phác Nguyễn Thanh Chấn quê xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; và người tù oan khuất này thậm chí có thể “dựa cột” – tức bị hành quyết – nếu cha của ông không là liệt sĩ.

Nhưng, sau 10 năm đằng đẵng ngồi tù, nạn nhân Nguyễn Thanh Chấn được “tạm thời giải oan” khi hôm mùng 6 tháng 11 này, Hội đồng Thẩm phán của Tòa án Nhân dân Tối cao quyết định hủy bản án phúc thẩm tù chung thân dành cho ông Chấn như vừa nói sau khi hung thủ Lý Nguyễn Chung ra nhận tội.

Dân tự giải oan

Blogger Võ Văn Tạo thắc mắc rằng “nếu Chung không nhận tội, ông Chấn vẫn ở tù. Vậy thì nghĩa vụ làm sáng tỏ vụ án, trừng phạt tội ác, bảo vệ công lý của cơ quan điều tra, VKS và tòa án để ở đâu ?”.

Qua bài “Chênh vênh pháp lý từ vụ ‘người tù chung thân'”, blogger Thanh Nhã nêu lên câu hỏi rằng các cơ quan tố tụng liên hệ đã làm gì trong suốt 10 năm đọa đày số phận của một con người trong khi, trớ trêu thay, “người chứng minh nỗi nghiệt oan này không phải đến từ cơ quan chức trách như tòa án, viện kiểm sát hay công an mà chính là tự gia đình của ông Chấn. Nỗi oan ức thấu trời xanh, một lần nữa do chính tay người dân giải oan bằng cái thứ nghiệp vụ rất nông dân: gửi đơn, khiếu nại, tự điều tra…”.

Việc “người dân giải oan” đó khiến blogger Đào Tuấn liên tưởng tới “tiếng trống Đăng Văn”. Qua bài “Khi những người phụ nữ nổi trống kêu oan trước Tam Tòa”, tác giả Đào Tuấn nhắc lại chuyện một phụ nữ thôn dã miệt Vĩnh Long là bà Nguyễn Thị Tôn, hồi năm 1840, đã trải qua cả tháng trời vượt biển bằng ghe bầu đến Kinh Thành Huế phủ đầu trước Tam Tòa trong Đại nội Hoàng Thành, gióng lên 3 hồi trống Đăng Văn kêu oan cho chồng. Nhà văn Đào Tuấn kể tiếp, sau tiếng trống Đăng Văn ấy, Vua Minh Mạng đích thân duyệt lãm vụ án và ra tuyên cáo tha tội tử hình cho chồng phụ nữ kêu oan Nguyễn Thị Tôn, đó là thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa. Rồi tác giả nêu lên câu hỏi rằng “Phải chăng những hồi ‘kích cổ Đăng Văn’ vẫn đang hãi hùng vang lên đến tận bây giờ khi những người vợ nhẫn nại, với hy vọng và tuyệt vọng, suốt 10 năm qua ròng rã kêu oan cho chồng?!”. Nhà văn Đào Tuấn lưu ý:

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào bị cáo chứng minh được mình bị ép cung, bị nhục hình khi chỉ mỗi mình bị cáo đối mặt với điều tra viên ?
– Tác giả Thanh Nhã

“Thúc trống Đăng Văn” suốt 10 năm trong sự mù lòa của nữ thần công lý, người vợ của bị án chung thân Nguyễn Thanh Chấn đã phải “tự xử” bằng cách mua máy ghi âm. Ghi lén lại toàn bộ lời tố cáo hung thủ từ chính người nhà của y. Và sau đó, đã đem những bằng chứng đó nộp cho chính những người đã luận tội oan chồng mình. Và thật chua chát, công lý bấy giờ mới chợt tỉnh giấc. Thậm chí còn chưa kịp nhận ra rằng việc để người dân phải tự giải oan, còn có thể nói gì hơn, đang là một biểu hiện cho sự bất lực của công lý. Công lý đã ở đâu khi “tiếng trống kêu oan” vẫn không ngừng được những Nguyễn Thị Tôn đương đại với thân tàn ma dại gõ suốt 10 năm qua?

Từ vô tội thành có tội

Hóa ra, theo nhà văn Đào Tuấn, công lý trong vụ án Bắc Giang bị giam cầm sau 4 bức tường đá. Hóa ra công lý được thực thi bằng cách không cho người tù oan khuất ấy ngủ, bằng cách để “đại bàng thăm hỏi” khiến nạn nhân bị bầm dập, bằng cách “dạy thực nghiệm hiện trường” để gán ghép hành động phạm tội cho người vô tội. Như vậy thì làm sao người dân có thể tin vào một thứ “công lý chỉ tạo ra oan khiên”, thứ “công lý như những lưỡi kiếm cắt phựt sợi dây niềm tin cuối cùng”. Với kiểu “công lý hà hiếp” đó, nhà văn Đào Tuấn lưu ý tiếp, không chừng sẽ đến một lúc người dân sẽ tự xử để tìm công lý bằng chính cái cách người ta đã “thực thi công lý” đối với mình.

000_Hkg7852839-250.jpg
An ninh canh gác bên ngoài khu vực TAND TPHCM trong một phiên xử. Ảnh minh họa. AFP photo

Qua vụ người tù oan chung thân Nguyễn Thanh Chấn, Tác giả Thanh Nhã báo động:

rất nhiều vụ án mà mỗi lần ra tòa, bị cáo liên tục kêu oan trong khi tại cơ quan điều tra thì nhận tội. Ai cũng nói mình bị ép cung, bị điều tra viên dùng nhục hình, mớm cung với đủ thứ thủ thuật. Nhiều vụ án khác nhau, nhiều số phận pháp lý khác nhau, nhưng mỗi lần nghe bị cáo phân bua, tòa đều bác. Đáp án chung cho các trường hợp này là: không có cơ sở để xác định bị cáo bị ép cung, bị nhục hình. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào bị cáo chứng minh được mình bị ép cung, bị nhục hình khi chỉ mỗi mình bị cáo đối mặt với điều tra viên ?

Qua bài “Với cách làm án kiểu này, ai cũng có thể là ‘ông Chấn dự bị’ “, blogger Lê Đức Dục lưu ý rằng nếu không có tấm bằng Tổ quốc ghi công cha là liệt sĩ thì ông Nguyễn Thanh Chấn có thể đã “dựa cột” (như đã từng có hàng ngàn người “dựa cột” đầy oan khuất như vậy), và thế là “xong một kiếp người”. Tác giả giả sử “xong kiếp người” của nạn nhân mang tên Nguyễn Thanh Chấn ấy, thì “kiếp đời” của thân nhân, từ vợ, con, cháu, chút chit của ông vẫn “chưa xong” vì họ vẫn phải mãi mang vác trĩu nặng cái “nỗi nhục ê chề là con cháu của một kẻ giết người”, mà lại đi giết “một người đàn bà chân yếu tay mềm đang cắp nách con thơ” chỉ vì điều mà giới đàn áp người dân cô thế cùng phe thiếu đạo đức nghề nghiệp gọi là “nhục dục và cướp của”. Tác giả Lê Đức Dục nêu lên câu hỏi rằng làm sao trả lại 10 năm cuộc đời tù tội của nạn nhân ? Bao nhiêu tiền đền bù cho ông mới đủ? Blogger Lê Đức Dục nhấn mạnh:

Thật ra 10 năm tù đó chỉ là sự thiệt thòi rất nhỏ so với cuộc đời của những đứa con ông đã tan nát từ ngày người cha nhận bản án, làm sao đong đếm nỗi đau đến từ hàng xóm, từ bạn bè, từ xã hội? Con không dám đến trường vì bị miệt thị là con của kẻ giết người, dang dở học hành, đóng kín tương lai, vợ hóa tâm thần, mẹ già suy sụp…Vì thế, khi án oan nay dù được cởi, nhưng đường tới tương lai của những đứa con ông thật khó để làm lại khi 10 năm qua, khoảng thời gian tạo dựng nền móng tương lai của một người trẻ bị chôn vùi trong oan khuất và tủi nhục, điều đó kinh khủng hơn cả 3.680 ngày ngồi tù oan của ông Chấn!

Tác giả lưu ý rằng từ thân phận nông dân vô tội này, sau khi qua các “cửa ải” công an, VKS, tòa án, thì bổng biến thành kẻ sát nhân tàn bạo. Theo cung cách điều tra, xét xử như vậy, thì bất cứ ai ở xã hội VN hiện nay, một ngày nào đó, cũng có thể “trở thành ông Chấn”! Hay nói cách khác, với cách “làm án” như vậy, mỗi người dân trong nước đều là “ông Chấn dự bị !”

Ai cũng có thể là nạn nhân

Blogger Cánh Cò cũng có nhận định tương tự, rằng “mười năm oan sai là cái cớ để người dân khắp nơi soi lại chính mình trong xã hội mà họ đã cảm thấy nhiễu nhương nhưng chưa thật sự xác định rằng một ngày nào đó chính họ sẽ là nạn nhân…”. Và người tù oan khuất Nguyễn Thanh Chấn “nghiễm nhiên trở thành trường hợp điển hình về hành vi bất nhân của công an điều tra và sự toa rập của hệ thống tòa án” VN hiện giờ.

Blogger Cánh Cò nhắc lại rằng nạn nhân bị bắt, bị kết án giết người cướp của và cơ quan điều tra đã mang ông ra tòa mà không có vật chứng hay nhân chứng nào trong khi Hội đồng xét xử chỉ dựa vào cáo buộc của Viện kiểm sát để rồi phán quyết “bản án tử hình nhưng sau khi xét rằng cha của bị can là liệt sĩ nên đã ân xá thành chung thân”. Và trong 10 năm lao lý oan khuất ấy, blogger Cánh Cò nhấn mạnh, người tù oan khiên này đã trải qua “những đêm dài khủng khiếp”, bị tra tấn dã man bởi những kẻ máu lạnh mang thẻ đảng và ra sức “đạt chỉ tiêu”, dù kinh nghiệm nghiệp vụ thừa sức cho những kẻ ấy biết rằng “ông Chấn không phải là phạm nhân”. Như vậy là ông Chấn bị buộc phải “hợp tác”, thậm chí bị bắt “thực hiện hành vi giết người theo kịch bản của công an”, như ông kể lại với báo Dân Trí mà blogger Cánh Cò trích dẫn, rằng “ông đã phải thức suốt mấy đêm liền để tập diễn lại hành động giết người của mình. Dùng một người tù khác giả làm nạn nhân để tập bê, tập đâm bằng thìa, tập bao giờ cho thuần thục thì thôi. Sau đó, ông Chấn được di lý tới một ngôi nhà dân ở ngoài trại để quay phim thực nghiệm hiện trường trong một buổi sáng”.

Thật ra 10 năm tù đó chỉ là sự thiệt thòi rất nhỏ so với cuộc đời của những đứa con ông đã tan nát từ ngày người cha nhận bản án, làm sao đong đếm nỗi đau đến từ hàng xóm, từ bạn bè, từ xã hội?
– Blogger Lê Đức Dục

Như vậy là, theo Cánh Cò, sau khi bị bức cung, bị giam chung với đầu gấu, bị đánh đập, tra tấn, ông Chấn cuối cùng phải tham gia vở kịch do cán bộ điều tra đạo diễn; rồi ra tòa bị án tử hình được giảm xuống còn chung thân nhờ người cha liệt sĩ; rồi sau 10 năm bị tù đầy, ông vừa được tạm tha.

Một điều cũng gây băn khoăn đáng kể trong công luận là nạn nhân nhanh chóng “cảm ơn đảng và chính phủ đã cho tôi sống lại lần nữa” ngay khi bước chân ra khỏi cổng trại giam. Tức là, blogger Cánh Cò lưu ý, người tù oan khuất này lại đi cảm ơn chính “những kẻ đã tạo chứng cớ giả, ép cung, tra tấn, hành hạ và tạo ra kịch bản bắt ông học cho thuộc về việc ông giết người, điều mà ông hoàn toàn không làm”.

Nhưng điều này không khó hiểu vì, blogger Cánh Cò nhận thấy, nạn nhân “chỉ là một sản phẩm tuyệt hảo của chế độ” sau khi bị cấy “lá bùa ơn đảng, ơn chính phủ” vào người; và điều này cũng thể hiện “sự sợ hãi tột đỉnh của nạn nhân đối với chế độ”, thể hiện niềm tin của nạn nhân sau cảnh tù oan nghiệt tột cùng, rằng chỉ có đảng và nhà nước mới “hóa giải” được tình cảnh áp đặt đó cho nạn nhân.

Blogger Cánh Cò không khỏi lưu ý rằng niềm tin ấy “giống như thuở sơ khai con người tin vào mọi loại thần linh, kể cả quái vật hung ác, để tồn tại. Blogger Cánh Cò giải thích:

Nếu không là quái vật thì làm sao một nhân viên điều tra lại có thể ung dung tạo dựng một kịch bản giết người và bắt người khác đóng để sau đó kết tội sát nhân ? Nếu không phải là quái vật thì tại sao từ Chánh án, Hội đồng xét xử, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa sơ thẩm và phúc thẩm khi dư sức biết bằng chứng là ngụy tạo vẫn kết án tử hình đối với một con người đang sống bình thường và chưa một lần phạm pháp ? Nếu không phải là quái vật thì tại sao trong 10 năm trời người vợ bất hạnh cùng khổ ấy chạy kêu cứu khắp nơi mà không một cơ quan nào đoái hoài tới dù chỉ là một lời kính chuyển?

Nếu không là quái vật thì tại sao bản án đã được thi hành gần mười năm, bị can đang nằm trong tù mà phóng viên báo chí vẫn viết bài khơi lại diễn tiến câu chuyện như đang xảy ra và kết luận rằng đã giết người lại còn kêu oan! Nếu không là quái vật thì tại sao tới hôm nay những tay giết người hay liên can đến vụ án ấy vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật và vẫn lên tiếng như những nhà đạo đức? Bộ trưởng Tư pháp không cảm thấy có liên đới. Bộ trưởng công an lại càng không. Viện trưởng viện kiểm sát tối cao vô can, Thẩm phán tòa án Nhân dân tối cao cũng vẫn còn rất xa với đường ranh trách nhiệm.

Và blogger Cánh Cò nhấn mạnh, “những quái vật ấy nếu không được ông Nguyễn Thanh Chấn quỳ lạy như lạy thần linh với câu bùa chú ‘Ơn đảng, ơn chính phủ’ thì mới là chuyện lạ.

Dân chủ cho Việt Nam trong khung cảnh văn hoá ngày hôm nay

Đại Học Nhân Quyền Việt Nam
The University of Human Rights of Viet Nam

http://vietluan.org/index.php?mod=article&cat=GSNDT&article=68
Nguyễn Đăng Trúc

Trong bối cảnh xã hội của Việt Nam hôm nay chúng ta chứng kiến một số hiện tượng nghịch thường:
–  Các định chế xây dựng nên bộ máy cai trị Việt Nam hiện nay luôn gắn liền tên  nước Việt Nam với thành ngữ dân chủ.
–  Người dân trong và ngoài nước về phần mình lại đấu tranh đòi dân chủ, mặc nhiên không chấp nhận định chế gọi là dân chủ đang cầm quyền (và sự kiện nầy không phải là kinh nghiệm riêng lẽ của xã hội Việt Nam hôm nay, mà là thực trạng xã hội của các nước trước đây ở trong khối cộng-sản, đặc biệt các nước Đông-Âu).
–  Nhân danh quyền bảo vệ truyền thống văn hóa cá biệt của mỗi vùng địa lý chính trị, một số người khởi xướng chủ trương không nên cổ động và phát huy nếp sinh hoạt dân chủ tại các nước thuộc văn hóa truyền thống Á-đông.
Trong khuôn khổ giới hạn của bài nầy, chúng tôi không đi sâu vào các phân tích lý thuyết, hoặc truy nguyên tận căn cơ sở tư tưởng nền tảng triết học chống đỡ nội dung của dân chủ, nhưng chỉ nêu lên một cách ngắn gọn các nhận xét khách quan dựa vào thực tế lịch sử.
(Để tiện việc đối chiếu và đánh giá thực tế lịch sử, xin xem các bản trích dẫn tài liệu đính kèm trong phần Phụ- đính)

1-  Chế độ cộng sản: một định chế tự xưng dân chủ

1.1- Lý thuyết cộng sản và dân chủ

Trong lý thuyết cũng như trong thực tế, CS chủ trương đồng thời một lối quan điểm dân chủ nào đó đi đôi với một thể chế độc tài đảng trị. Hai điểm nghịch lý ấy qui kết trong khẩu hiệu: chuyên chính vô sản.
Sự kết hợp ấy mặc nhiên được biện minh dựa vào thực tế lịch sử và giá trị hầu như tiên thiên của tương quan lao động, sản xuất và tiêu thụ tài vật :

– Vào thời kỳ phát sinh lý thuyết CS, giới lao động, vô sản chiếm đa số dân chúng. Dựa vào quan niệm đa số nầy, chữ dân chủ được Marx, Lênin sử dụng để vận động quyền lực cho giới vô sản.
–  Giá trị con nguời và toàn bộ nhân phẩm hoàn toàn dựa vào tiêu chuẩn lao động – sản xuất và tiêu thụ tài vật. Chỉ có giới lao động vô sản là thành phần không những thực thi giá trị toàn vẹn nhân tính như thế mà còn mang sứ mệnh cứu độ toàn nhân loại trong đó có thành phần thiểu số sa đọa ( nghĩa là ở bên ngoài giai cấp vô sản). Công cuộc cứu độ ấy còn gọi là cuộc đấu tranh giai cấp, một tiến trình được xem cần thiết và khách quan của lịch sử nhân loại. Đi vào vận hành của cuộc đấu tranh nầy, đứng vào phe người bị áp bức (vô sản, lao động), là ta “làm ra” chân lý, ta hành động “một cách khoa học” [1]
Theo quan điểm CS, từ điểm khởi đầu và trong suốt vận hành phát triển của lịch sử, chuyên chính vô sản hay chế độ độc tài đảng trị cũng như chủ trương cách mạng bạo lực không có gì ngược với nội dung vừa lượng vừa phẩm của dân chủ cả.

1.2- Nhận định

1.21. Ý thức hệ ảo tưởng
Tiếp theo Hegel, Marx muốn dựa vào một số tiền đề rất giới hạn để chủ trương một hệ thống tư tưởng giải thích toàn bộ tư tưởng lịch sử con người cũng như vận hành vũ trụ. Sau Hegel, lịch sử  nhân loại chứng thực rằng ý thức hệ của Hegel hay của Marx kỳ thực chỉ là cao vọng tuyệt đối hóa suy tư hữu hạn của con người trước một hiện tượng xã hõi nhất thời thôi.,
Trong ý thức hệ mác-xít, những luận chứng đồng hóa giới lao động với giai cấp vô sản, xung đụng giữa các giai cấp như định luật tất yếu của vận hành lịch sử, đặc biệt là đồng hóa những người nghèo, lao động với một nhóm bạo động muốn nắm chính quyền gọi là đảng CS…, không những không dựa trên một lý chứng gì nội tại vững chắc xét về mặt lý thuyết, mà cũng không ăn nhập gì với sinh hoạt thực tế của xã hội trong hai thế kỷ qua. Chúng ta chỉ nhìn vào lịch sử thực sự đã xảy ra, ngay chỉ trên bình diện lao động – sản xuất – tiêu thụ của những nước đã áp dụng ý thức hệ CS để đối chiếu. Ở đây chỉ nêu lên một “sự kiện lịch sử tiêu biểu đó là Công-đoàn Đoàn-kết” ở Ba-lan trong thập niên 80, để thấy không thể nào đồng hóa được vận hành lịch sử với đấu tranh giai cấp, giới lao động và đảng CS, chuyên chính vô sản và sinh hoạt dân chủ (theo lối hiểu của người dân Ba-lan và nhân loại ngày nay). Một chủ trương lấy lịch sử và thực tế khách quan làm nền tảng để qui chiếu và hành động như lý thuyết và chế độ CS không thể nào biện minh được trước những sự kiện lịch sử trái ngược nầy.

1.22- Một quan niệm dân chủ quá bất cập

Đề cao giá trị lao động, với ước mơ xây dựng một xã hội bình đẳng, tự chúng là những giá trị, những ý hướng tích cực và tốt đẹp. Nhưng giản lược toàn thể phẩm giá con người vào khuôn khổ lao động – sản xuất – tiêu thụ, cũng như dựa vào tiêu chuẩn thuần vật chất đó để định chuẩn cách xử sự của con người và cộng đồng xã hội, thì chủ trương đó quá bất cập. Con người không chỉ sống bởi bánh mà thôi !…
Thật thế, không cần phải suy tư quá cao siêu để có thể ý thức được rằng quan điểm dân chủ gò bó trong khuôn khổ thuần kinh tế (làm chủ lấy các phương tiện sản xuất, bố trí lao động cũng như phân phối các sản phẩm tiêu thụ)  là một chủ trương què quặt.
Và nếu tiêu chuẩn lao động –  kinh tế  không đủ để thiết định hết toàn bộ nội dung phẩm chất của dân chủ, thì số lượng người lao động đông đảo cũng không phải là tiêu chuẩn thiết yếu và nền tảng cho dân chủ.
Các thể chế dân chủ (ngoài CS) vẫn dựa vào số lượng, nghĩa là dựa vào đa số thành phần cấu tạo nên một cộng đồng để có những quyết định điều hành cộng đồng ấy. Nhưng quan niệm về số lượng của hai bên dựa trên những nền tảng văn hoá hoàn toàn khác biệt.
Thật vậy, ý thức hệ CS có hai nội dung khác nhau về người:  Người như Nhân-loại, một ý tưởng rất trừu tượng hiểu như Một-toàn-thể, mà tất cả các giá trị từ đó phát sinh và qui về đó; và người cũng là con người cụ thể, không có giá trị tự nó, không có thể nào “độc lập, tự do” đi lạc ra ngoài vận hành của ý niệm Nhân loại.
Bấy giờ chúng ta hiểu được tại sao các cuộc bầu cử trong bất kỳ một chế độ CS nào đều chỉ có nghĩa là tuyên dương một quyết định của Đảng, được hiểu là hiện thân ý chí của ý tưởng Nhân loại xét như một Con- người -Tập- thể. Và các cuộc biểu diễn văn hoá, nghệ thuật, hay bất cứ sinh hoạt nào khác cũng nằm trong khuôn khổ lý luận nầy: những cuộc diễu hành đồng bộ rợp trời, ca nhạc đồng điệu…
Số lượng trong ý thức hệ CS không phải là dấu chỉ của sự chọn lựa, ưng thuận trong tự do, độc lập của mỗi người kết dệt thành cộng đồng như quan niệm dân chủ truyền thống chủ trương. Nhưng là một ý niệm trừu tượng có sẵn hàm ngụ trong con người Tập-thể và Toàn-thể mà đảng CS độc quyền sử dụng.
Qua lối lý luận kỳ lạ nầy, ý thức hệ CS không thấy có gì nghịch thường và quai lý khi gắn liền chuyên chính của đảng CS và dân chủ (được hiểu như tập thể hay toàn thể trong ý niệm về Người = Nhân lọai).
Dân chủ trong các chế độ chính trị (ngoài chế độ CS) mặc nhiên coi con người tự do, tự chủ  là trọng tâm. Và chính sự tự do, tự chủ của mỗi cá nhân là điều kiện nền tảng thiết yếu để một cộng đồng xã hội được phát sinh và phát triển đúng theo phẩm giá đặc loại của bản tính con người toàn diện, mà tất cả các chiều kích: thân xác, tâm lý, xã hội, tinh thần và cuộc sống siêu nhiên, phải được tôn trọng. Chế độ dân chủ theo nghĩa truyền thống nầy được xem là phương cách thực hiện sự thuận ý của các cá nhân làm nên cộng đồng. Chế độ ấy, mặc dù còn thiếu sót nhiều mặt, luôn bị những quyền lực bất nhân lạm dụng, đôi lúc còn làm cho ý nghĩa dân chủ nguyên sơ mất ý nghĩa, nhưng nói như Winston Churchill chế độ dân chủ là chế độ ít bất nhân nhất mà nhân loại hôm nay có thể áp dụng. Câu nói đó nhắc nhở rằng tự nó dân chủ không phải là một bản chất vĩnh viễn, một trong những ý tưởng tuyệt đối, ảo tưởng mà các ý thức hệ bày vẽ ra; nhưng là một kỹ thuật điều hành xã hội thích hợp nhất hiện nay, trong khung cảnh văn hóa nhân loại ở các thế kỷ hiện đại, để thực thi sự thuận ý của những con người bằng xương bằng thịt làm nên cộng đồng. Giá trị nền tảng, thiết yếu, vĩnh viễn là phẩm giá con người cụ thể, mỗi người bất kỳ ai, mỗi con người tự chủ và  tự do; nhân phẩm đó cao hơn bất cứ một sự đánh giá, định chuẩn nào của mỗi một triết thuyết, của một nền văn hóa bất cứ vào thời đại nào.
Do ý thức mặc nhiên đi kèm với quan niệm dân chủ như thế (khác với dân chủ mác-xít), môt số phong cách dân chủ đương nhiên phải được triển khai: khiêm tốn; nhìn nhận những giới hạn của mình và tôn trọng ý kiến của người kể cả những người khác chính kiến và trong thành phần thiểu số; tinh thần tương dung vượt lên trên những lập trường độc đoán, tự tôn, quá khích, bài ngoại;  cổ võ và tạo thuận lợi cho những đổi thay  nhân sự, cách tổ chức bộ máy công quyền; phát triển giáo dục và truyền thông để huy động sự tham gia thiết thực của mỗi người vào việc quyết định và sinh hoạt cộng đồng; cụ thể hơn cả xét về mặt chính trị là cổ võ và chấp nhận đương nhiên tính đa nguyên chính trị.

2- Dân chủ, một thể chế ngoại lai ?

Sau bao nhiêu năm nhục nhằn dưới sự khống chế của các cường quốc Tây phương, dấu tích khổ đau đương nhiên còn ghi khắc đây đó trong tâm tình, ngôn ngữ của chúng ta. Chữ “ngoại lai” tương quan với các biến cố lịch sử nầy như một cái gì “căn đế xấu xa”. Đây đó người ta chê trách, lối tư duy, cách sống, chế độ chính trị nầy khác là ngoại lai, có nghĩa là hoàn toàn phản lại dân tộc mình, hoặc hàm ngụ nhiều nội dung tiêu cực khác.
Kỳ thực, tự bản chất của văn hóa, và ngay cả trong truyền thống văn hóa Việt Nam, chúng ta bình tĩnh để chân nhận rằng tinh hoa nếp sống văn hóa không phải là xung đột  nhưng là trao đổi, thâu hóa giữa cuộc sống văn hoá chúng ta và các nền văn hóa khác. Chúng ta không có mặc cảm ngại ngùng gì khi nói văn hoá Việt Nam thâu hóa và phát triển ba luồng tư tưởng Khổng, Lão, Phật, và sau nầy tư tưởng Kitô giáo và văn minh Tây phương. Nếu ngoại lai được hiểu là xa lạ với nhân tính chân thật, hay đi ngược lại với nhân tính theo truyền thống xác quyết con người là linh ư vạn vật, thì “ngoại lai” ở đây phải dựa trên tiêu chuẩn nhân phẩm, nhân tính của mọi con người, ở mọi nơi, trong mọi nước, chứ không dựa trên tiêu chuẩn là dân tộc Việt Nam hay không phải là dân tộc Việt Nam.
(Trong câu chuyện Họ Hồng Bàng dựng nước, mà hôm nay mọi người Việt đều biết đến và mến chuộng, chúng ta đọc được sứ điệp văn hóa ở đây qua biểu tượng của các thành ngữ Hồng và Bàng. Hồng là cao cả, to lớn, và Bàng là bao phủ khắp hết. Hồng Bàng ấy làm sao cao cả, làm sao bao khắp nếu không ôm hết toàn nhân loại vào trong bào thai chung của một mẹ! Chủ trương dân tộc tự tôn, tự mãn, đóng kín quá khích không có nghĩa là phản ảnh tình tự yêu quê hương, yêu mến đồng bào hay tiếp nối được tinh hoa truyền thống văn hóa Việt Nam. Sau kinh nghiệm CS, sau kinh nghiệm quốc gia quá khích (quốc xã), cần phải can đảm chân  nhận những chủ trương tiêu cực đó như một trang sử đau thương của nhân loại cần vượt qua).
Gần đây, trong đầu thập niên 90 khi có những thay đổi dân chủ ở các nước Đông-Âu, một số nước tại Á châu còn nặng thể chế độc quyền e ngại. Một số vị lãnh đạo tự biện minh cho lối điều hành quốc sự của mình đã nêu lên rằng: thể chế dân chủ Tây-phương chỉ có thể áp dụng trong vùng văn hóa Tây-phương, và không thể áp dụng cho các xứ khác.

Chúng ta nêu lên hai điểm:  dựa trên kinh nghiệm lịch sử và dựa trên phương thức áp dụng:

Về kinh nghiệm lịch sử, ngay giữa lòng Âu-châu là nơi phát xuất các cuộc cách mạng dân chủ, trong một thời gian rất lâu, giáo quyền Công giáo cũng không thể quan niệm được rằng, thể chế dân chủ có thể ứng dụng hữu hiệu để điều hành xã hội một cách tốt đẹp [2]. Thế nhưng trong thế kỷ 20 vừa qua, Giáo-hội ấy đã là một trong những tác nhân cổ võ cho dân chủ; và thực tế các nước ảnh hưởng văn hóa Kitô giáo đã ứng dụng đứng đắn thể chế dân chủ nầy.
Mặc dù có rất nhiều dị biệt văn hóa và phương cách biểu lộ, Tây-phương và Đông Nam-Á (ĐNÁ)  cũng có nhiều tương đồng về quan điểm xây dựng tổ chức cộng đồng trước khi có cuộc cách mạng dân chủ. Tây-phương cũng có những đế quốc, chế độ phong kiến, các định chế quốc gia, các thể chế quân chủ… Họ đã không nại đến một truyền thống  biện minh cho sự chính đáng của thể chế quân chủ trước đó để chận đứng bước tiến của lịch sử. Thử hỏi, vùng ĐNÁ nhân danh truyền thống nào để tiếp nhận các kỹ thuật khoa học và ngay cả các ý thức hệ như CS, và loại trừ tinh thần và thể chế dân chủ hiện nay?

Việc áp dụng chế độ dân chủ đã từng được thực hiện một cách uyển chuyển ngay tại từng nước, từng vùng, từng thời kỳ lịch sử khác nhau với những mô thức khác nhau. Nhưng đằng sau những chính thể dân chủ dị biệt, luôn luôn có những yếu tố căn bản làm mẫu số chung, đó là tinh thần dân chủ, nghĩa là sự tôn trọng nhân phẩm, tự do, dân chủ, bình đẳng của mỗi thành phần làm nên cộng đồng và các định chế bảo đảm cho tinh thần dân chủ tồn tại và phát triển.  Một số các vị  lãnh đạo tại vùng Đông Nam-Á đã hiểu chế độ dân chủ trong khuôn khổ nào đây để bài bác chế độ dân chủ đang được thế giới áp dụng và cổ võ hiện nay? Việc bài xích nầy sẽ mặc nhiên chối bỏ giá trị của tinh thần dân chủ, việc tôn trọng nhân phẩm và quyền tự do, bình đảng của mỗi người dân, cũng như một số định chế đương nhiên phải đi kèm, như việc phổ thông bầu phiếu, tính cách đa nguyên trong chính trị, phát triển văn hóa giáo dục, điều kiện để người dân tự quyết định thay đổi giới lãnh đạo… [3], hay chỉ muốn nói đến một thể chế dân chủ nhất định nào đó của một nước Tây-phương?
“Đồng qui nhi thù đồ”, tính tương cận, tập tương viễn”, những khác biệt về ứng dụng và diễn tả các nội dung văn hóa, không có nghĩa là tự căn có những chân lý khác nhau trong phần tinh hoa của các nền văn hóa nhân loại. Tinh thần dân chủ không phát sinh từ một sáng kiến của một thời đại, nhưng bắt nguồn và xây dựng trên việc nhìn nhận nhân phẩm và tự do của mọi người. Truyền thống văn hóa ĐNÁ, truyền thống một dân tộc nào tại đây, trong đó có Việt Nam, không thể nhân danh một tập tục, cơ chế của quá khứ để phi bác tinh thần dân chủ, nghĩa là việc tôn trọng phẩm giá của mỗi con người.
Còn nếu phi bác chế độ dân chủ dựa vào một mô thức cá biệt của một nước, một giai đoạn lịch sử nào đó, thì lối phát biểu nầy như không cần biết đến việc ứng dụng một cách nghệ thuật, uyển chuyển các định chế dân chủ mà các nước trên thế giới (mỗi nước có những quá khứ lịch sử, những tập quán, những nếp văn minh riêng) đã thực hiện.

3- Dân chủ và Văn hóa

Tuy nhiên, lời phát biểu bất cập nầy của các nhà lãnh đạo ĐNÁ nhắc nhở chúng ta rằng, nói đến dân chủ, đòi hỏi và thực thi dân chủ không phải chỉ là vấn đề kỹ thuật điều hành thuộc lãnh vực chính trị. Cổ võ và xây dựng dân chủ không phải là nhập cảng hay đúc ráp một máy bơm mới hay chế tạo một chiếc xe hơi. Dân chủ trước hết phải được xây dựng trên văn hóa.

– Không cắm sâu vào bề sâu văn hóa để nhận chân được giá trị nhân phẩm của mỗi người, thì thể chế dân chủ chỉ là một trò bịp. Phương thức đồng thuận, ủy quyền dựa vào đa số trong chế độ dân chủ là con dao hai lưỡi: hơn bao giờ hết các quyền lực phe nhóm có thể tận dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, các kỹ xảo vận động tâm lý quần chúng… để nắm lấy vận mệnh của cộng đồng bất chấp ước vọng của người dân.

– Một nền dân chủ thật sự đòi hỏi giáo dục về văn hóa để mỗi một người dân có thể sử dụng hữu hiệu quyền tự do của mình.  Làm sao người dân tham gia được vào việc điều hành cộng đồng khi hiểu biết về mọi mặt còn quá sơ đẳng? Câu châm ngôn từ xưa nay vẫn còn nói “dân nào thì vua đó”; do đó, dân chủ không thể tách rời khỏi dân trí. Vào đầu thế kỷ 20, các nhà cách mạng của chúng ta đã am tường điểm nầy khi đề xuất các phong trào phát triển dân trí để sớm thực hiện dân chủ.

– Và cuối cùng văn hóa gắn liền cho dân chủ, khi bước nhập môn của bất cứ nền văn hóa nào cũng nhắc nhở : “hãy tự biết mình và sửa mình”. Dân chủ không phải chỉ là đòi hỏi kẻ khác phải thực thi các bổn phận đáp ứng với quyền lợi của mình. Dân chủ còn là ý thức bổn phận của mình, của nhà mình, của đảng mình, của nước mình đối với kẻ khác.
Bên cạnh nổ lực chính trị, đấu tranh để có ngay một cơ chế dân chủ cho Việt Nam, cần thiết và tích cực hơn nữa là thực hiện dân chủ trong khuôn khổ nhà mình. Vì mọi người chúng ta đều biết : không ai cho điều mình không có.

Nguyễn Đăng Trúc
__________________________
 
Phụ-đính
 
A-  Một lối định nghĩa “dân chủ” có tính cách phổ thông

– Dân chủ: nguyên tự của tiếng gốc Hy lạp: démocratie tử hai chũ  demos = dân; kratos = quyền hành.

– Thể chế dân chủ : chính quyền của dân do dân; chủ quyền của nhân dân.

Nội dung tóm gọn của các bộ tự điển

Theo nghĩa hẹp, dân chủ là việc hành xử (trực tiếp hoặc gián tiếp) quyền hành xã hội do nhân dân.

Lề lối tổ chức chính trị nầy mặc nhiên đi đôi với một cộng đồng xã hội (quốc gia, hoặc liên quốc gia, hay quốc tế) trong đó mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và có những quyền hạn y như nhau. Những quyền lợi cá biệt dành cho một số công dân phải được các thành phần xã hội chuẩn nhận (minh nhiên hoặc mặc nhiên), vì trách vụ hoặc bổn phận đặc biệt; nhưng mọi công dân không phân biệt đều có thể được ủy thác những quyền hạn nầy: mọi người dân đều có thể tham gia vào các chức năng điều hành cộng đồng; không một điều luật, một thói quen hay một lối xử sự nào ngăn cản tận căn khả năng tham gia vào các trách vụ xã hội của mọi người dân, hoặc thiết định một lớp người cai trị và một lớp người bị trị riêng biệt.

Thể chế dân chủ tất yếu phải thực hiện và phát triển một số định chế tương hợp:
Mọi nền dân chủ phải chống lại các hình thức nô lệ. Người công dân cần được hỗ trợ để tài bồi cuộc sống tinh thần và đạo đức, có đủ khả năng để thực thi một cách hữu hiệu và trách nhiệm các phần vụ được cộng đồng trao phó.

Do đó, một nước dân chủ có bổn phận phải thực hiện các định chế cần thiết :
1-  Các cơ sở đào tạo và giáo dục.
2-  Các cơ sở xã hội và liên đới, nhằm xóa giảm các ngăn cách xã hội ngược lại với đòi hỏi về  bình đẳng của mọi công dân.
3-  Hình thức chính quyền dân chủ, nghĩa là lề lối tổ chức cộng hòa và phổ thông bầu phiếu.
4-  Cổ súy tinh thần dân chủ, phát triển văn hóa dân chủ. Đây là điều kiện quan trọng hơn cả cơ cấu tổ chức nhất thời nào đó. Vì không thấm nhuần tinh thần dân chủ và phát triển văn hóa dân chủ, thì người ta có thể nhân danh đa số hoặc nhân danh  một ít chiêu bài ý hệ nhất thời,  lạm dụng các phương tiện truyền thông các lề lối tổ chức dân chủ, để lừa bịp dư luận, dấy lên môt loại bạo quyền ghê rợn hơn các thể chế “Thần quyền, quân chủ, độc tài…” trước đây.

B- Dân chủ và nhân quyền trong xã hội hiện nay

Quyền tham gia

Mọi công dân có quyền tham gia vào đời sống cộng đồng: đó là xác tín được mọi người chia sẻ. Tuy vậy, quyền đó không còn nghĩa gì khi tiến trình dân chủ mất hết sức năng động của nó do nạn phe phái và các hiện tượng tham nhũng không những chúng ngăn cản việc tham gia chính đáng vào việc hành xử chính quyền, mà còn chận đứng việc sử dụng một cách công bằng các tiện ích và phục vụ công cộng ngay cả các cuộc bầu cử cũng có thể bị tráo trở để tạo phần thắng riêng cho một số đảng phái hoặc một số người. Đây là làm tổn thương cho dân chủ, đưa đến những hậu quả gia trọng. Người công dân không những có quyền mà còn có bổn phận tham gia; khi họ bị ngăn cản không thực hiện được quyền và bổn phận nầy, thì họ mất đi hy vọng có thể can thiệp một cách hữu hiệu và đi vào tình trạng thờ ơ thụ động. Việc phát triển một hệ thống dân chủ lành mạnh bấy giờ trở nên bất cập thực sự.
Gần đây, nhiều biện pháp khác nhau được áp dụng để thực hiện những cuộc bầu cử chính đáng trong các nước đã gian khổ, cố gắng vất bỏ chế độ độc tài chuyên chế bước qua một chế độ dân chủ. Hẳn nhiên, những nổ lực đó hữu ích và hữu hiệu trong những hoàn cảnh khẩn trương; nhưng còn phải đem lại cho tâm thức người công dân toàn bộ niềm tin tưởng thành thật có sức đẩy lui một cách dứt khoát các lối thủ thuật gian trá trong phương thức áp dụng tiến trình dân chủ.
Trong khuôn khổ cộng đồng quốc tế, các nước và các dân tộc có quyền tham gia những quyết định thường thay đổi sâu xa nếp sống của họ. Tính cách chuyên môn có tính cách kỹ thuật của một số vấn đề kinh tế tạo cho người ta có khuynh hướng chỉ bàn thảo lãnh vực nầy trong các nhóm giới hạn; nguy cơ ở đây là tập trung quyền chính trị và tài chánh vào tay của một số chính phủ hoặc nhóm quyền lợi hạn chế. Việc tìm kiếm công ích trên bình diện quóc gia và quốc tế đòi hỏi phải thực thi rõ rệt quyền của mọi người được tham gia vào các quyền quyết định liên quan đến họ, ngay cả trong lãnh vực kinh tế.
(Trích Sứ-điệp của Đức Giáo-hoàng Gioan Phaolô II, nhân ngày Hoà-bình Thế-giới
ngày mồng một tháng giêng năm 1999 “Bí quyết Hòa-bình …” –  Bản dịch Định Hướng)

C. Dân chủ theo cái nhìn của Học-thuyết Xã-hội Công-giáo

I- Sứ điệp Phúc âm và đời sống xã hội

Với tư cách là chuyên viên về nhân tính, Giáo-hội công giáo qua Học-thuyết Xã -hội của mình cống hiến toàn bộ những nguyên tắc suy tư và tiêu chuẩn phán đoán [4] cũng như những chỉ dẫn hành động [5] để nhằm đưa đến những thay đổi sâu xa trước các hoàn cảnh khốn cùng và bất công, phục vụ lợi ích chân thật của mọi người.

Những nguyên tắc cơ bản

73. Điều răn tối thượng của tình yêu dẫn đến việc nhìn nhận một cách đầy đủ phẩm giá của mỗi con người, được tác tạo giống hình ảnh Thiên Chúa. Những quyền lợi và bổn phận tự nhiên phát sinh từ phẩm giá đó. Trong ánh sáng của chân lý, con người là hình ảnh Thiên Chúa, sự tự do là giá trị tối thượng thiết yếu của nhân vị được khai mở trong tất cả chiều kích sâu xa của nó. Các nhân vị là hữu thể tích cực và trách nhiệm của cuộc sống xã hội [6].
Nguyên tắc về liên đới (principe de solidarité) và nguyên tắc về ủy nhiệm (principe de subsidiarité) liên hệ mật thiết với nền tảng nầy, tức là nhân phẩm.
Nguyên tắc đầu thúc đẩy con người cộng tác với kẻ khác để phục vụ công ích  xã hội, ở mọi cấp độ và địa hạt [7]. Từ đó ta thấy học thuyết của Giáo-hội chống lại tất cả các hình thức cá nhân chủ nghĩa trong các lý thuyết xã hội và chính trị.
Nguyên tắc thứ hai cho thấy quốc gia cũng như xã hội không bao giờ có thể thay thế được sáng kiến và trách nhiệm của cá nhân hoặc các đoàn thể trung gian trong các phạm vi sinh hoạt mà họ có thể hành động, cũng như không thể phá bỏ môi trường và điều kiện cần thiết để họ thực thi quyền tự do của mình [8] . Từ đó ta thấy, học thuyết xã hội của Giáo-hội chống tại tất cả các hình thức chủ nghĩa tập thể hóa.

Những tiêu chuẩn phán đoán

74. Những nguyên lý nầy đặt nền tảng cho các tiêu chuẩn để phán đoán khi đối diện với các hoàn cảnh, các cơ cấu và hệ thống xã hội.
Vì vậy Giáo-hội không ngần ngại lên tiếng tố giác những hoàn cảnh của đời sống xúc phạm đến nhân phẩm và tự do con người.
Những tiêu chuẩn nầy cũng giúp ta đánh giá các cơ cấu. Cơ cấu là toàn bộ các định chế và ứng dụng mà người ta chấp nhận hoặc tạo ra trên bình diện quốc gia và quốc tế để hướng dẫn hoặc tổ chức đời sống kinh tế, xã hội và chính trị. Tự bản chất cơ cấu cần thiết cho đời sống xã hội, nhưng thường chúng có khuynh hướng đóng khung cứng ngắt và trở thành những bộ máy mù quáng hầu như độc lập với ý chí con người, làm tê liệt hoặc làm suy đồi công cuộc phát triển xã hội, tạo ra bất công. Tuy nhiên con người luôn có khả năng và trách nhiệm để thay đổi các chế độ đó, chứ không phải nhìn các cơ chế đó như là một hình thức biểu lộ của một thứ tất định chủ nghĩa về lịch sử.
Các định chế và luật lệ, một khi thích ứng với luật tự nhiên và hướng đến công ích, lại là những bảo đảm cho tự do của nhân vị và làm cho sự tự do đó được triển nở. Người ta không thể cứ lên án các bình diện chế tài của luật pháp, cũng như sự ổn định của chính phủ xứng hợp với chức phận của mình. Do đó, ta có thể nói đến cơ chế ghi khắc dấu tích của tội lỗi, nhưng không thể lên án các cơ chế một cách chung.
Các tiêu chuẩn phán đoán cũng liên quan đến các hệ thống kinh tế, xã hội và chính trị. Học thuyết xã hội của Giáo-hội không đề xuất một hệ thống cá biệt nào, nhưng dưới ánh sáng của các nguyên tắc nền tảng, trước hết nó giúp ta thấy được trong mức độ nào các hệ thống hiện hành thích hợp hay không thích hợp đói với những đòi hỏi của nhân phẩm.
Nhân vị có ưu thế trên các cơ chế

75. Hẳn nhiên, Giáo-hội ý thức được  sự phức tạp của các vấn đề mà xã hội phải đương đầu và những khó khăn để tìm ra những giải pháp thích hợp. Tuy nhiên Giáo-hội nghĩ rằng trước hết cần kêu gọi đến những khả năng siêu nhiên và đạo lý của con người cũng như sự canh tân trường kỳ cuộc sống nội tâm nếu muốn có được những thay đổi về kinh tế và xã hội thực sự phục vụ con người.
Việc ưu tiên đề cao các cơ cấu và tổ chức kỹ thuật, coi thường nhân vị và các đòi hỏi của nhân phẩm là lối phát biểu của một nền nhân học duy vật  đi trái với việc xây dựng một trật tự xã hội công bằng [9].
Tuy nhiên, việc ưu tiên nhìn nhận sự tự do và hoán cải nội tâm không loại bỏ sự cần thiết phải xúc tiến công cuộc thay đổi các cơ chế bất công. Vì thế những ai chịu đựng sự áp bức do quyền lực của tiền tài hoặc chính trị có quyền hành động để có được những cơ cấu và định chế biết tôn trọng những quyền lợi của mình, bằng những phương thức mà đạo đức cho phép, việc đó hoàn toàn chính đáng.
Nhưng phải hiểu rằng các cơ chế được thành lập nhằm phục vu lợi ích con người, tự chúng một mình không có đủ khả năng để đem lại mục tiêu mong muốn, cũng như không thể bảo đảm việc thực thi đúng mức. Trong một vài nước, nạn tham nhũng nơi kẻ cầm quyền, nạn quan liêu cậy quyền phá tán đời sống lành mạnh của xã hội là một bằng cớ. Đạo đức xã hội bây giờ là điều kiện cho sức khoẻ của xã hội. Do vậy, cần có sự hối cải, canh tân tâm hồn con người đồng thời với việc cải tiến các cơ chế, bởi vì tội lỗi là căn nguyên tạo ra các hoàn cảnh bất công, là hành vi của ý chí phát xuất từ tự do của con ngươi; đây là ý nghĩa nguyên thủy và thật sự của tội lỗi. Chỉ vì tội lỗi tràn vào cơ chế, bấy giờ nó mang một ý nghĩa phụ thuộc và gián tiếp, nên ta có thể gọi hiện tượng đó  là “tội lỗi xã hội” [10].
Ngoài ra trong tiến trình giải phóng, ta không thể bỏ quên hoàn cảnh lịch sử của đất nước dân tộc và bản sắc văn hóa của nó. Nên ta không thể thụ động chấp nhận và lại càng không thể nỗ lực hỗ trợ các nhóm người chiếm đoạt bộ máy nhà nước bằng vũ lực hoặc đánh lừa dư luận, áp đặt trên các nước một ý hệ xa lạ đi ngược lại các giá trị văn hóa chân thật của dân tộc mình [11]. Về điểm nầy, cần nhắc nhở  trách nhiệm nặng nề của giới trí thức trên bình diện đạo lý và chính trị.

Những chỉ dẫn hành động

76. Những nguyên lý căn bản và những tiêu chuẩn phán đoán soi dẫn các chỉ dẫn hành động: bởi vì công ích của xã hội loài người nhằm phục vụ con người cụ thể, các phương thế hành động phải xứng hợp với nhân phẩm con người và xúc tiến việc giáo dục về tự do. Đó là một tiêu chuẩn phán đoán và hành động chắc chắn. Không thể có được giải phóng nếu ngay từ đầu các quyền tự do không đuợc tôn trọng.
Cần tố cáo ảo tưởng đem lại bao tàn phá mở đường cho nhiều hình thức vong nô, ảo tưởng dựa vào bạo lực một cách qui mô được trình bày  như là con đường tất yếu phải đi để hướng đến công cuộc giải phóng. Ta cũng phải tố cáo quyết liệt không kém đối với bạo lực do những kẻ lắm tiền nhiều của đang đè bẹp kẻ nghèo khổ, việc sử dụng bộ máy cảnh sát công an một cách hồ đồ, cũng như tất cả các hình thức bạo lực phát xuất từ hệ thống quyền hành độc tôn của nhà nước. Trong các lãnh vực nầy, cần rút tỉa những bài học của các kinh nghiệm tang thương mà con người đã phải gánh chịu và còn chứng kiến trong lịch sử của thế kỷ nầy. Ta cũng không thể chấp nhận thái độ thụ động đồng loã với tội lỗi của các chính quyền trong một số các cơ chế dân chủ, vì tại các xứ nầy một số lớn đang sống trong những diều kiện khó mà nói được là thích hợp với những đòi hỏi về nhân quyền, cá nhân cũng như xã hội đã từng được ghi trong hiến pháp của họ.

Một cuộc đấu tranh cho công lý

77. Khi hỗ trợ việc thành lập và đẩy mạnh sinh hoạt các hội đoàn, cũng như các công đoàn để đấu tranh bảo vệ các quyền hạn và lợi ích chính đáng của giới lao động và xây dựng công lý xã hội, không phải như thế là Giáo-hội chấp nhận lý thuyết chủ trương lấy đấu tranh giai cấp làm đòn bẩy tạo ra cơ cấu cho cuộc sống xã hội. Hành động mà Giáo-hội chủ xướng không phải là cuộc đấu tranh của giai cấp nầy chống lại giai cấp khác nhằm mục tiêu tiêu diệt kẻ đối phương; hành động đó không phát xuất từ thái độ buông xuôi trước cái mà người ta hiểu là luật tất yếu của lịch sử. Nhưng nó là một cuộc đấu tranh cao cả và có suy xét nhằm kiến tạo sự công bằng và liên đới xã hội [12]. Người Kitô hữu luôn yêu chuộng đường lối đối thoại và bàn luận với nhau.
Chúa Kitô đã ban cho chúng ta điều răn yêu mến kẻ thù của chúng ta [13]. Sự giải phóng trong tinh thần của Phúc-âm không thể cùng đi với sự hận thù kẻ khác, dù cá nhân hay tập thể, ngay cả sự thù hận kẻ tình địch của mình.

Huyền thoại cách mạng

78. Những hoàn cảnh bất công trầm trọng cần đến những thay đổi sâu xa và can cường, xóa bỏ những đặc ân không thể nào biện minh được. Nhưng ai không tín nhiệm vào con đường cải cách để chủ xướng một huyền thoại cách mạng không những người đó nuôi ảo vọng về một sự thay đổi ngoạn mục chỉ cần dẹp bỏ một tình trạng bất công nầy là có ngay một xã hội đầy nhân tính hơn, mà còn tiếp tay tạo ra những chế độ độc tài [14]. Đấu tranh chống những hình thức bất công chỉ có nghĩa khi nó hướng đến việc thiết lập một trật tự xã hội chính trị mới thích hợp với các đòi hỏi của công lý. Ngay từ đầu công lý đã phải có mặt trong các giai đoạn thành lập. Nói cách khác, có một nền đạo lý trong việc sử dụng các phương tiện [15].
Giải pháp tối hậu

79. Những nguyên tắc đó phải đặc biệt áp dụng trong trường hợp tối hậu cần đến đấu tranh võ trang, mà giáo huấn Giáo-hội định chuẩn như là phương thức cuối cùng nhằm chấm dứt ” một sự độc tài tàn bạo hiển nhiên và kéo dài, vi phạm một cách trầm trọng các quyền căn bản của con người và làm tổn hại nặng nề công ích của một xứ sở” [16]. Dù sao việc áp dụng cụ thể phương thế nầy  chỉ có thể đặt ra sau khi đã phân tích thật kỹ lưỡng tình hình. Thật ra, với sự phát triển liên tục các kỹ thuật được sử dụng và vì các mối nguy hiểm quá trầm trọng khi phải nại đến vũ lực, ngày nay việc mà người ta quen gọi là “chống đối bất bạo động” mở ra một đường lối thích ứng với các nguyên tắc luân lý và không kém phần kiến hiệu.
Không bao giờ ta có thể chấp nhận, từ phía kẻ cầm quyền cũng như người chống đối, việc sử dụng các phương tiện gây tội ác, như giết hại dân chúng, tra tấn, các phương pháp khủng bố và âm mưu giết hại người khác  trong các cuộc biểu tình của quần chúng. Những chiến dịch bỉ ổi nhằm bôi nhọ, hủy hoại thân xác hay tổn hại đến tinh thần của bất cứ ai đều không thể nào chấp nhận được.

Vai trò giáo dân

80. Những vị chăn dắt Giáo-hội không nên trực tiếp can thiệp vào việc xây dựng chính trị và tổ chức đời sống xã hội. Phận vụ đó thuộc về ơn gọi của giáo dân. Họ cần hành động theo sáng kiến riêng của mình cùng với đồng bào của họ [17]. Họ phải hoàn thành phận vụ nầy, ý thức rằng cứu cánh của Giáo-hội là phổ biến Nước Chúa Kitô đẻ tất cả mọi người được thật sự xếp đặt theo tinh thần của Chúa Kitô [18].
Như thế công cuộc cứu độ gắn chặt với phận vụ cải tiến và nâng cao các điều kiện sinh hoạt của con người trần thế.
Sự phân biệt giữa trật tự siêu nhiên của ơn cứu độ và trật tự trần thế của sinh hoạt con người phải được nhìn từ bên trong ý định duy nhất của Thiên Chúa, là qui kết mọi sự vào Chúa Kitô. Vì vậy, trong mọi địa hạt đạo đời, người giáo dân, vừa là tín hữu vừa là công dân phải luôn được hướng dẫn bởi ý thức Kitô giáo [19].
Hành động xã hội hàm ngụ có nhiều giải pháp cụ thể nhưng luôn nhắm đến công ích và thích hợp với sứ điệp của Phúc âm và giáo huấn của Giáo-hội. Phải hành động thế nào để sự khác biệt về quan điểm không làm hại đến ý nghĩa của sự hợp tác, và tạo ra tình trạng tê liệt không thể sinh hoạt hoặc hoang mang bất động trong cộng đồng người Kitô hữu.
Sư hướng dẫn của Giáo-hội qua học thuyết xã hội phải gây hứng khởi để sở đắc các kiến thức kỹ thuật và khoa học cần thiết. Nó cũng phải giúp ta trau giồi tư cách đạo đức và đào sâu đời sống siêu nhiên. Khi cống hiến các nguyên tắc và lời khuyên bảo đạo đức, học thuyết nầy không vì thế mà quên đi việc giáo dục cần thiết để có được sự cẩn trọng trong chính trị rất cần cho việc cai trị và quản lý các thực tại của đời sống con người.

II-Những đòi hỏi của Phúc-âm về việc thay đổi sâu xa

Cần thiết phải có sự thay đổi về văn hóa
81. Ngày nay hơn bao giờ hết, Kitô hữu đang chứng kiến sự thách đố phải cố sự tâm thực hiện nền văn minh tình thương, tóm kết tất cả gia sản văn hóa đạo đức của Phúc-âm. Phận vụ đó đòi hỏi cần phải suy tư lại mối tương quan giữa điều răn tối thượng về  tình yêu với trật tự xã hội cũng như tất cả các nét phức tạp của nó.
Cùng đích trực tiếp của sâu xa đó là việc kiến tạo thực thi các chương trình hành động táo bạo nhằm giải phóng từng triệu con người đang bị khống chế bởi hoàn cảnh áp bức về kinh tế, xã hội và chính trị không thể chịu đựng nổi.
Hành động đó phải bắt đầu bằng một nổ lực giáo dục thật qui mô, lớn lao: Giáo dục để thích ứng với nền văn minh lao động, giáo dục hướng đến liên đới, làm sao mọi người cập nhật nội dung của văn hóa.
(Trích trong Tự-do Kitô-giáo và Giải-phóng – Huấn thị của Thánh-bộ Đức-tin
Định Hướng Tùng-thư xuất bản, 1993, tr. 100-108
______________

Chú thích

[1] Xem Tự do Kitô giáo và Giải-phóng – Huấn thị của Thánh-bộ Đức tin, bản dịch Định Hướng, 1993, tr. 24.
[2] Xem Nhân-quyền và Giáo-hội, Tài liệu của Hội-đồng Giáo-hoàng “Công-lý và Hòa-bình” – Bản dịch Việt ngữ, Định Hướng, xb. 1999.
[3] Xem  Phụ-đính A.
[4] Phaolô VI – Tông Thư Octogesima Adveniens  số 4; Gioan-Phaolô II- Diển văn khai mạc Puebla III, 7.

[5] Gioan XXIII – Thông điệp Mater et Magistra số 235
[6] HC. Gaudium et Spes, số 25.
[7] Gioan XXIII – Thông điệp Mater et Magistra số 132-133.
[8] Piô XI – Thông điệp Quadragesimo Anno số 79-80ù; Gioan XXIII – Thông-điệp Mater et Magistra số 138 ; Tđ Pacem in Terris số 74.
[9] Phaolô VI – Tông Huấn Evangelii Nuntiandi số 18;  Huấn Thị Libertatis Nuntius XI, 9.
[10] Gioan-Phaolô II – Tông Huấn Reconciliatio et Poenitentia số 16.
[11] Phaolô VI – Tông Thư Octagesima Adveniens số 25.
[12] Gioan Phaolô II – Thông-điệp Laborem Exercens số 20 ; Huấn thị Libertatis Nuntius VII, 8.
[13] Mt. 5, 44; c 6, 27-28, 35.
[14] Huấn thi Libertatis Nuntius XI, 10.
[15] Tài liệu Puebla các số 533-534 ; Gioan-Phaolô II – Bài giảng tại Drogheda 30-9-79.
[16] Phaolô VI – Thông-điệp Populorum Progressio số 31; Piô XI Thông-điệp Nos es muy conocida, 208-209.
[17] HC. Gaudium et Spes số 76-3; SL. Apostolicam Actuositatem số 7.
[18] Tlđd, số 20.
[19] Tlđd, số 5.

Việt Nam: Ba kịch bản Hội đồng nhân quyền

Phạm Chí Dũng gửi RFA từ Việt Nam.  2013-11-10

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/3-scenarios-hright-11102013111745.html

Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc

Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc. Courtesy un.org

Ngày 12/11/2013, Nhà nước Việt Nam sẽ tràn trề cơ hội được “lên thớt” – như cách nói trào phúng xen giễu cợt của giới sinh viên trong nước trước khi bước vào cuộc khảo nghiệm vấn đáp trên giảng đường.

“Cái thớt” đó chính là Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc. Trong lịch sử tồn tại của mình, giới cầm quyền ở Việt Nam chưa bao giờ được đặt chân lên bục danh dự của tổ chức danh giá này. Và đây có thể là lần cuối cùng, thuộc về chu kỳ cuối cùng của lịch sử tồn tại, hầu mong nhận được tấm bằng danh dự.

Hồi hộp và âu lo về kết quả thi vấn đáp là tâm trạng không tránh khỏi, đặc biệt ứng với những quốc gia không đủ tự tin vào tâm thế “nói đi đôi với làm”.

Kẻ áp bức không thể làm quan tòa!

Từ những năm 2009 – 2010, cùng thời gian với điểm khởi xướng chiến dịch vận động tham gia vào bữa tiệc đứng Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), tầng lớp “muốn làm bạn với tất cả các nước” cũng bắt đầu quan tâm đến khái niệm “nhân quyền quốc tế” một cách thực chất hơn là thái độ bài bác trong nhiều năm trước đó. Tháng 5/2009 cũng là thời điểm Nhà nước Việt Nam khởi động cho vẻ khiêm nhường đầu tiên bằng vào cuộc “tự phê bình” định kỳ về nhân quyền.

Song hành với phạm trù quyền lực, tham vọng danh xưng là khó có điểm dừng.

Trong nhiều năm trước, Nhà nước Việt Nam đã không có nhiều cơ hội để mơ màng về một vị thế đáng kể trong Hội đồng bảo an hay bất cứ hình thức hội đồng nào đó của Liên hiệp quốc – những cơ may có thể làm tăng giá trị ngoại giao và kéo theo một số vận hội về kinh tế song phương và đa phương quốc tế.

Chỉ sau khi quan hệ cựu thù Việt – Mỹ được chính thức bình thường hóa vào năm 1995, mọi chuyện mới hơi hé mở. Nhưng cũng phải với độ trễ 5 năm, tức đến năm 2000 khi Hiệp định song phương Việt – Mỹ được ký kết, những người đã tham gia ký kết Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị trước đó đến 18 năm mới nhận ra cơ hội có thể “sánh ngang với các cường quốc năm châu” nếu bộ mặt công tác bảo vệ nhân quyền ít ra phải tỏ ra hồng hào hơn.

Nhưng vẫn còn một độ trễ khác chờ đón, bởi người Mỹ không cho không ai cái gì. Phải mất đến 6 năm sau khi thương mại hai chiều Mỹ – Việt được nhân lên 6 lần, cánh cửa phòng Bầu dục mới lần đầu tiên mở ra cho một nguyên thủ quốc gia Việt Nam – ông Nguyễn Minh Triết. Chính cuộc hòa đàm này đã khiến cho hy vọng về một cái ghế trong Hội đồng nhân quyền bắt đầu manh mún trong não trạng một nước nhỏ.

Chính sách “lobby hành lang” cho một chỗ ngồi trong Hội đồng nhân quyền cũng vì thế đã được khởi xướng, thông qua những cuộc ngoại giao con thoi “vừa kiên định vừa mềm mỏng”, cùng chủ trương đối ngoại “vừa đấu tranh vừa tranh thủ”. Hành vi này càng trở nên có ý nghĩa hơn khi từ năm 2006, Nhà nước Việt Nam được người Mỹ nhấc khỏi danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về nhân quyền và tôn giáo (CPC), đồng thời nền kinh tế đất nước này lại có cơ hội “nâng lên một tầm cao mới” khi được chấp thuận trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới.

Đáng lý ra, Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc đã trở thành một món trang sức dễ thương cho giới lãnh đạo đầy tham vọng của Việt Nam, nếu không xảy ra quá nhiều rắc rối liên quan đến bắt bớ, xử án và giam cầm chính trị ở đất nước này trong ít nhất 6 năm qua. Bởi ngay sau khi được thỏa mãn những ước muốn về ngoại giao và kinh tế, giới cầm quyền Việt Nam lập tức bị Mỹ, Tây Âu và nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế chỉ trích quyết liệt về thái độ bất nhất khi tiến hành “nhập kho” hàng loạt nhân vật lãnh đạo của các tổ chức bất đồng chính kiến. Một số tôn giáo như Công giáo, Tin lành, Phật giáo hòa hảo, Phật giáo Việt Nam thống nhất cũng không thoát khỏi tình cảnh bị chèn ép trở lại.

Đó là lý do vì sao vào cuối năm 2012, cuộc đối thoại nhân quyền thường niên Việt – Mỹ bị Hoa Kỳ đột ngột ngưng lại. Không ít thất vọng đã được Washington bày tỏ trước “thành tích nhân quyền ngày càng tồi tệ ở Việt Nam”.

Chỉ sau chuyến công du bất ngờ của người đứng đầu đảng Nguyễn Phú Trọng đến Vatican và Nghị viện châu Âu vào đầu năm 2013, không khí mới bớt căng thẳng. Tháng 4/2013, cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ được nối lại, nhưng chỉ ở cấp phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ.

“Tôi nghĩ rằng điều cực kỳ quan trọng phải nói ra, là chúng tôi xem họ như đối tác, trên lĩnh vực chính trị cũng như kinh tế. Kể cả việc nếu họ muốn, chúng tôi có thể hậu thuẫn họ làm thành viên Hội đồng nhân quyền năm tới. Nhưng trước hết họ phải làm tròn các tiêu chuẩn, có nghĩa là họ phải tôn trọng nhân quyền, mà hiện nay thì họ đàn áp quá dữ dội” – Bernt Posselt, một dân biểu thuộc Đảng Bình dân Châu Âu (EPP), trần tình đầy cảm xúc với báo giới vào tháng 4/2013.

Người Mỹ và châu Âu cũng không quên chiếu lại bộ phim có đến nửa trăm nhân vật bị nhà nước Việt Nam tống giam vào năm 2012 vì hành động dại dột dám công khai bày tỏ chính kiến.

Ông Lê Hoài Trung, Đại sứ, Trưởng phái đoàn Đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc trình thư ủy nhiệm lên Tổng thư ký Ban Ki-Moon
Ông Lê Hoài Trung, Đại sứ, Trưởng phái đoàn Đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc trình thư ủy nhiệm lên Tổng thư ký Ban Ki-Moon (vietnam +.vn)

Có lẽ đó cũng là một trong những xúc động khó kìm nén được tỏ bày từ những nghị sĩ như Bernt Posselt, khi được giới truyền thông hỏi về thái độ có hay không sự ủng hộ đối với Nhà nước Việt Nam: “Hiển nhiên là không hậu thuẫn ! Chắc chắn là không hậu thuẫn! Điều này có nghĩa là quốc gia vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất trên thế giới về tự do ý kiến, tự do ngôn luận và tự do tôn giáo sẽ trở thành một trong những quan tòa xét xử những tự do này. Không thể có được chuyện đó. Kẻ áp bức không thể làm quan tòa!”.

“Chiếu cố”

Nhưng kẻ áp bức vẫn có quyền “vận động” quan tòa, như điều thường thấy trong hệ thống tư pháp ở Việt Nam.

Vào những ngày trước khi diễn ra cuộc bỏ phiếu tại Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, báo chí lề đảng đã một lần nữa gióng lên giai điệu “Việt Nam muốn đóng góp tích cực hơn vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên thế giới”, và “Việt Nam cam kết sẽ đóng góp tích cực vào công việc chung của Hội đồng”.

Nhưng khác với nhịp điệu khá dồn dập trong chiến dịch ứng cử vào TPP, vào lần này tiếng nói báo đảng trở nên đơn độc hơn nhiều. Cho đến nay, vẫn chủ yếu là các tờ Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Đại Đoàn Kết, Sài Gòn Giải Phóng đóng vai trò tiền hô và một ít tờ báo khác hậu ủng. Tuy nhiên, con số này là quá ít ỏi so với gần 1.000 báo in và điện tử có mặt tại Việt Nam, và cũng hoàn toàn chưa xứng đáng với những cố gắng không mệt mỏi của Ban Tuyên giáo trung ương trong chỉ đạo và định hướng tuyên truyền cho một ráng hồng từ cái ghế sắp được ngồi.

Tình thế trên cho thấy nếu xem công luận là một trong những đại diện tiêu biểu nhất để có thể đánh giá khách quan về tương quan chính trị tại Việt Nam, đã chỉ có chưa đầy vài phần trăm ấn phẩm báo chí tỏ ra “trung thành tuyệt đối”, trong khi tuyệt đại đa số báo giới công khai phơi bày thái độ bàng quan chính trị hoặc âm thầm hơn là “bất tuân dân sự”.

Thái độ trên còn có thể hàm ý về tư cách “phi lề đảng” của báo giới nói chung.

Và mối tương quan hoàn toàn bất cân xứng trên cũng là một tham khảo đắt giá cho khả năng và thực chất việc Nhà nước Việt Nam ứng xử với cái ghế của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc.

Trong trường hợp may mắn nhất – được “đặc cách” xét tuyển, tức không kém đồng cảm với yêu cầu “linh động” mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tha thiết đề nghị tại New York vào tháng 9/2013 về cơ chế cho Việt Nam tham gia vào TPP – nhà nước Việt Nam sẽ nghiễm nhiên có được một chỗ ngồi trong căn phòng nhân quyền quốc tế mà không đến mức phải cải thiện quá nhiều hành vi đối xử tại quốc nội.

Có vẻ ngẫu nhiên, Việt Nam có đôi chút hy vọng được xếp vào một trong 4 chiếc ghế khuyết của khối Á Châu-Thái Bình Dương.

Chỉ bởi lý do không có quá nhiều ứng cử viên. Hoặc giống như một cuộc bầu bán bỏ túi.

Với 4 ghế của khối châu Á – Thái Bình Dương cần được bầu lại, danh sách ứng cử viên chính thức của khối này gồm có Trung Quốc, Jordani, Maldives, Ả Rập Xê Út và Việt Nam.

Theo một đánh giá của giới quan sát, nếu cho là Jordani và quần đảo Maldives là xứng đáng hơn và sẽ trúng cử, cuối cùng Liên Hiệp Quốc sẽ phải chọn thêm 2 trong 3 nước “bất xứng”. Hoặc “trường hợp xấu nhất” là cả 3 ứng cử viên bất xứng Trung Quốc, Ả Rập Xê Út và Việt Nam đều trúng cử.

“Thế lực thù địch” trong giới quan sát quốc tế còn chêm vào một lối so sánh chết người: “trường hợp xấu nhất” trên là sự chọn lựa giữa bệnh dịch hạch hoặc bệnh dịch tả.

Nhưng nếu “căn bệnh” trên biến thành hiện thực, gần như đoan chắc một vị trí trong TPP cũng nằm trong tầm với của nền kinh tế còn lâu mới được coi là “thị trường” theo nghĩa hoàn chỉnh, nền kinh tế được đại diện bởi các tập đoàn phủ chụp bởi tính từ “xã hội chủ nghĩa” nhưng thân thể lại phì nộn đến mức không thể chấp nhận được đối với dân chúng Việt.

Hiện thực đó có thể xảy đến ngay vào năm tới.

Ứng với giả thiết tốt đẹp này, hoạt động dân chủ và những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam sẽ được hé mở thêm một góc sân, thậm chí một vài phong trào dân sự còn có thể hình thành mà không phải chịu rủi ro theo cách “xã hội dân sự là một thủ đoạn của diễn biến hòa bình” như giới tuyên giáo vẫn quay quắt trước đây.

Nhưng có lẽ tất cả những gì được xem là “cởi mở” sẽ chỉ đóng khung ở góc sân nhỏ bé đó. Bài học từ năm 2006 sau khi Nhà nước Việt Nam được đưa ra khỏi danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về nhân quyền và tôn giáo vẫn còn nóng hổi. Vì ngay sau năm 2006, hàng loạt nhân vật cách tân đã bị bắt giữ và xét xử. Các tôn giáo cũng chịu chung cảnh ngộ.

“Lưu ban”

Không có quá nhiều ứng cử viên không có nghĩa là Nhà nước Việt Nam không thể không bị loại. Trước đây, các khối khu vực thường đưa ra số lượng ứng cử viên vừa vặn với số ghế khuyết nên quốc gia nào được khối của mình đề cử thì cũng chắc chắn sẽ thắng cử. Nhưng gần đây, các thành viên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã cứng rắn hơn. Nếu thấy một ứng cử viên quá bất xứng, họ nhất định không bầu cho ứng cử viên đó và yêu cầu khối khu vực liên hệ phải đưa ra một ứng cử viên mới.

Ngoài ra theo thể thức bỏ phiếu riêng và kín đối với từng ứng cử viên, muốn trúng cử, mỗi ứng cử viên phải đạt được số phiếu tuyệt đối trên tổng số 192 thành viên của Liên hiệp quốc, nghĩa là phải có ít nhất 97 phiếu thuận.

Dường như để tiền trạm cho tinh thần thuận thảo ấy, ngày 27/8/2013, phái đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc đã công bố 14 lời hứa về nhân quyền của Chính phủ Việt Nam trước chủ tịch Đại hội đồng Liên hiệp quốc, trong đó có lời hứa quan trọng nhất: “Thông qua các chính sách và các biện pháp để đảm bảo tốt hơn tất cả các quyền căn bản về kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và chính trị theo thông lệ quốc tế đã công nhận”.

Nhưng cũng theo cái nhìn đầy mẫn cảm và còn hơn cả trải nghiệm của giới quan sát phương Tây, ứng với trường hợp Việt Nam, lời hứa là một câu chuyện khá khác biệt với hành động thực tế.

Một lời hứa khác được kín đáo bắn tin vào tháng 4/2013, sau cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ, khi một quan chức ngoại giao cao cấp của Việt Nam nói với một nghị sĩ châu Âu “Hãy cho chúng tôi thời gian”. Nhưng dù thời gian từ đó đến nay đã đủ lâu, đặc biệt là độ trễ sau cuộc gặp Trương Tấn Sang – Obama tại Washington đã đủ dài, phía Mỹ vẫn chưa phát ra một tín hiệu hài lòng đối với sự chậm trễ phụ thuộc vào nhiều nguyên do trong – ngoài, kể cả không ít đồn đoán về thế chia ba của giới “tam quyền phân lập” tại Việt Nam.

Chuyến làm việc mới nhất của Quyền phó trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ Scott Busby ở Hà Nội và Sài Gòn đã dường như chỉ gây thêm ức chế cho những người chủ trương tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do cho xã hội dân sự và chẳng cần phải bắt bớ mới làm cho xã hội tốt đẹp hơn.

Nói cách khác, mọi việc vẫn gần như giẫm chân tại chỗ.

Đó cũng là lý do để cuộc bỏ phiếu kín tại Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc vào ngày 12/11/2013 cũng có thể sẽ diễn biến theo hướng rất không thuận lợi cho ứng cử viên Việt Nam. Nếu sự đồng lòng của các nước phương Tây và gần gũi với phương Tây được thể hiện cao độ và đủ chín, cánh cửa của Hội đồng nhân quyền chắc chắn sẽ được đóng chặt, cho dù trước đó những người rất tự tin về thành tích nhân quyền đã tưởng như thò lọt một chân vào trong.

Trong trường hợp này, không loại trừ một trong những tật xấu của người Việt sẽ phản ứng tức thời: siết lại hoạt động dân chủ và gia tăng bắt bớ.

Một nhà hoạt động dân chủ trong nước thở dài: “Không ăn được thì đạp đổ! Họ vẫn có thể làm thế cho bõ ghét”.

“Thi lại”

Kịch bản cuối cùng, mang tính dung hòa nhất và cũng có thể làm tất cả các bên hoặc tạm hài lòng, hoặc chưa đến mức tuyệt vọng, là cuộc bỏ phiếu kín ngày 12/11 sẽ chỉ mang tính “sơ khảo”.

Với những lý do có thể tuyên bố cũng như không thể nói ra, một phương án có thể xảy đến là các quốc gia trong Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc sẽ ban bố một thời gian “ân hạn” cho nhà nước Việt Nam về chủ đề nhân quyền, cũng như 5 quốc gia trong khối TPP mới đây đã đề xuất thời gian ân hạn 5 năm cho Việt Nam để cải cách kinh tế quốc doanh, thay vì phải “trả bài” ngay lập tức.

Trong trường hợp phải “thi lại” này, mọi chuyện lại phải có độ lùi không mong muốn. Cái ghế nhân quyền trong căn phòng hội đồng vẫn còn để trống và ai muốn ngồi vào cái ghế đó lại cần có thêm thời gian để chuẩn bị tốt hơn cho vòng “chung khảo”.

Theo cách nhìn của giới quan sát, sự chuẩn bị tốt hơn cũng có nghĩa là thái độ phải được xem là “thành tâm chính trị”.

Cũng theo giới phân tích, năm 2011, những chính khách Miến Điện đã thành thực hơn giới lãnh đạo Việt Nam giờ đây rất nhiều. Và đó là lý do vì sao thể chế Miến Điện đang giữ được quyền lực, tài sản và còn nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Ở vào thế quá khó về kinh tế, xã hội và cả về chính trị từ thời điểm 1975 đến nay, giới cầm quyền tại Việt Nam có lẽ không có lối ra nào khác nếu không muốn bị “lưu ban” hoặc “thi lại”.

Lại “chiếu cố”

Tín hiệu mới nhất về phương án “chiếu cố” vừa xuất hiện: ngày 7/11/2013, phái đoàn thường trực của Việt Nam tại Liên hiệp quốc ra thông cáo báo chí cho biết Việt Nam đã trở thành thành viên mới nhất của Công ước Liên Hiệp Quốc chống Tra tấn và những hình phạt hoặc sự đối xử tàn ác, hạ nhục nhân cách.

Việc nhà nước Việt Nam ký kết công ước trên cũng là một trong những điều kiện nằm lòng về nhân quyền mà người Mỹ đặt ra từ ròng rã nhiều năm qua.

Kịch bản “chiếu cố” cũng vì thế đang dần chiếm ưu thế.

Phạm Chí Dũng, Việt Nam 09-11-2013

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

Vì sao đạo Dương Văn Mình của người H’Mông bị đàn áp?

Tú Anh, 10 Tháng Mười Một 2013

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20131110-vi-sao-dao-duong-van-minh-cua-nguoi-h%E2%80%99mong-bi-dan-ap

Người H'mông ở nhiều tỉnh phía Bắc về Hà Nội để kêu cứu chính quyền trung ương, Hà Nội, 19/10/2013. Ảnh : Facebooker Trần Thị Cảm Thanh.

Người H’mông ở nhiều tỉnh phía Bắc về Hà Nội để kêu cứu chính quyền trung ương, Hà Nội, 19/10/2013. Ảnh : Facebooker Trần Thị Cảm Thanh.

Đầu tháng 10 vừa qua , hàng trăm người H’Mông từ bốn tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang kéo về Hà Nội tố cáo chính quyền địa phương “cấm họ theo đời sống văn minh“. Một số người biểu tình trong đó có những thiếu nữ đã bị tra tấn. Người dân Hà Nội bênh vực đồng bào miền núi cũng bị ngăn cản. Tại sao có chuyện trớ trêu như vậy và vì sao công an Hà Nội lại thẳng tay đàn áp người Hmong, cưỡng bách họ trở về nhà ? Để tìm hiểu nguồn cội vấn đề, RFI đặt câu hỏi với ông Vũ Quốc Dụng, nguyên Tổng thư ký Hiệp Hội Quốc Tế Nhân Quyền ở Frankfurt, Đức.

Vũ Quốc Dụng – Frankfurt – Đức – 10/11/2013 10/11/2013

1)Tại sao người H’mông tiếp tục trở lại Hà Nội để biểu tình, mặc dù bị đánh đập và bắt đưa trở về quê quán?

Chúng ta biết người H’Mông thường tránh đụng chạm với chính quyền. Trong thập niên 80 và 90, khi chính quyền đàn áp dã man đạo Tin Lành thì người H’Mông cũng chỉ đến cầu cứu nhà thờ Tin Lành Hà Nội. Lần này các người dân tộc H’Mông bị đàn áp quá lâu và quá mức nên ra Hà Nội để cầu cứu trung ương. Lý do là các chính quyền địa phương tại 4 tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Cạn đã phá bỏ nhà tang của họ (có nơi gọi là “nhà táng“, “nhà đòn“). Khoảng 25 năm nay người H’Mông ở đó đã thay đổi tục lệ chôn cất.

Trước đây họ treo xác chết trong nhà rồi bày tiệc ra ăn uống với người chết trong 7 ngày. Sau đó mới đem xác đi chôn không có hòm ván. Bây giờ họ xây nhà tang chung để đưa quan tài vào đó cho thân nhân đến thăm viếng trong vòng 24 tiếng rồi đem chôn. Họ cho rằng làm như vậy là sạch sẽ và vệ sinh hơn, giống như người miền xuôi đang làm. Thế nhưng chính quyền địa phương lại đem quân đến phá nhà tang của họ, đánh đập, bắt bỏ tù họ và bắt họ trở lại phong tục cũ.

Họ về Hà Nội để đòi phải cho họ lập nhà tang, trả tự do cho những người bị bắt và phục hồi danh dự cho người đã dạy họ theo nếp sống mới là ông Dương Văn Mình. Nhưng sau mấy ngày họ kết luận là trên dưới cùng một giuộc cả, nghĩa là cấp trung ương, cấp tỉnh, huyện và xã đều chủ trương đàn áp giống nhau. Họ quyết tâm ở lại Hà Nội để đòi cho được một tờ giấy bảo đảm việc chấm dứt đàn áp.

Vụ này khá nghiêm trọng. Khoảng 100 người dân tộc H’Mông kéo về Hà Nội vào giữa tháng 10/2013 để biểu tình thì công an đến giải tán. Họ bị bắt và một số bị đánh mang thương tích nặng. Cô Hoàng Thị Vàng bị đánh đến nỗi 10 ngày sau vẫn không đi nổi một mình. Một số bị đưa đi mất tích. Có một số người Hà Nội đến phường Thụy Khuê để đòi lại tài sản của những người H’Mông đã bị công an đánh dã man, thí dụ ông Trương Văn Dũng bị đánh gẫy 3 xương sườn. Sau khi bị bắt đưa về nơi trú quán vào đêm ngày 23/10 vừa rồi thì có tin là người H’Mông đã trở lại Hà Nội.

2) Nỗi bức xúc của họ có liên quan gì đến đạo Dương Văn Mình không? đạo Dương Văn Mình như thế nào?

Theo những thông tin mà tôi tổng hợp được từ các nguồn của chính quyền và của người theo đạo Dương Văn Mình thì đây là một nhánh đạo tin vào Thiên Chúa và Thiên Sứ của người H’Mông ở các tỉnh cực Bắc Việt Nam. Về thực hành, đạo Dương Văn Mình chủ trương thay đổi một số điều mà đạo này cho là hủ tục như ma chay, ép hôn, lễ lạc tốn kém. Chính quyền Việt Nam không công nhận đạo Dương Văn Mình, xem là “tà đạo“ vì không phải Tin Lành mà cũng chẳng là Công giáo. Chính quyền không cho người dân H’Mông chôn cất theo kiểu đạo Dương Văn Mình dạy họ và bắt họ trở về phong tục cũ là phải treo thây ma 7 ngày 7 đêm, phải bón cơm cho xác chết, phải mổ bò mổ trâu ăn uống với xác chết trong 7 ngày rồi vác xác chết đi chôn không quan tài, rồi 13 ngày sau lại phải mổ trâu để cúng tà ma. Ban đầu chính quyền tịch thu đồ đạc để trong nhà tang, đưa quân đến các buổi lễ tang ở đó để giải tán, đánh đập và bắt giữ người tham dự. Sau này chính quyền đem quân đến san thành bình địa các nhà tang được xây dựng trong vùng rừng núi hoặc giữa ruộng nương, đánh đập và bắt giữ những người H’Mông đứng xung quanh để bảo vệ nhà tang. Tôi được xem nhiều video clip cho thấy người dân tỏ ra rất ôn hòa, kiên nhẫn và chỉ chống cự bằng cách xô đẩy khi bị công an và dân quân dùng vũ lực kéo họ đi. Hiện còn ít nhất 3 người trong đạo này đang bị chính quyền Việt Nam giam giữ là các ông Dương Văn Mình , Thào Quán Mua và Hoàng Văn Sang.

3) Việc đàn áp các người Hmông này có phải là đàn áp tôn giáo không? Với qui mô thế nào?

Thoạt nhìn người ta có thể nghĩ việc can thiệp vào chôn cất là một vấn đề về văn hóa phong tục. Tôi được đọc chỉ thị về việc “vận động đồng bào dân tộc H‘Mông thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang, việc cưới giai đoạn 2013 – 2015“ của tỉnh Yên Bái. Chỉ thị này chỉ trích các tập tục không phù hợp với nếp sống văn minh như không đưa người chết vào quan tài, tổ chức đám tang rườm rà, lộn xộn, tốn kém và kể thành tích là đã khiến người H‘Mông rút ngắn thời gian tổ chức đám tang (từ 6 – 7 ngày xuống còn 3 – 4 ngày), đưa thi hài vào hòm trong vòng 12 tiếng, chôn cất trong vòng 24 tiếng và giảm việc giết mổ nhiều trâu bò. Tôi nghĩ đạo Dương Văn Mình đáng phải được khen vì đã đi đúng và đi nhanh hơn chính sách mong muốn của nhà nước. Thực tế không được như vậy.

Cho nên việc bắt người H’Mông phải trở về các hủ tục trong cái gọi là “cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” hoặc “Quy ước nếp sống văn hóa của người Mông” chỉ là cái cớ và là phương tiện để “ngăn chặn, xóa bỏ“ tôn giáo Dương Văn Mình.

Bằng chứng rõ rệt nhất là chính quyền các cấp bắt người H’Mông phải ký giấy bỏ đạo Dương Văn Mình. Đây là sự xâm phạm đến quyền tự do có tôn giáo là một trong những nhân quyền tuyệt đối mà Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính Trị không cho phép chính quyền được giới hạn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chính quyền Việt Nam đã cho thành lập “Ban chỉ đạo 160“ để điều động bộ đội, công an và các đoàn thể trong MTTQ bắt ép người dân phải bỏ đạo tập thể. Theo một báo cáo của Tỉnh ủy đảng Cộng sản ở tỉnh Cao Bằng vào ngày 8/10/2012, chỉ trong vòng 4 tháng thực hiện chỉ thị của tỉnh ủy thì đã có 17 trong số 32 xóm ở Cao Bằng chịu “ký cam kết không theo Dương Văn Mình“. Ai không ký thì “chính quyền có biện pháp gọi hỏi, răn đe và xử lý nghiêm“. Đó là lý do khiến nhóm Cao Bằng là nhóm đông người nhất trong đoàn biểu tình H’Mông ở Hà Nội.

4) Việt Nam đã nộp đơn ứng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ. Việc đàn áp này có ảnh hưởng gì đến việc ứng cử không?

Muốn làm thành viên của Hội đồng nhân quyền LHQ thì Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ nhân quyền cao nhất. Do đó chính quyền Việt Nam phải thay đổi toàn bộ chính sách đối với các tôn giáo của người H’Mông. Cụ thể Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do có tôn giáo và quyền tự do thực hành tôn giáo của họ bằng cách chấm dứt mọi hình thức bắt giam, truy tố, sách nhiễu, phá nhà táng, và quan trọng hơn hết là chấm dứt chính sách bắt bỏ đạo đối với các tôn giáo họ như Vàng Chứ, Dương Văn Mình, … Rất tiếc tôi hiện chưa thấy Việt Nam có thiện chí này.

Việc đàn áp tôn giáo Dương Văn Mình nằm trong một loạt các vi phạm nhân quyền trầm trọng từ hồi đầu năm ngoái tức là từ khi Việt Nam loan báo ý định muốn ứng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ. Chỉ trong khoảng 18 tháng trong lãnh vực tự do tôn giáo đã có 70 tín đồ của các đạo như Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn, Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Phật giáo Khmer Krom và Phật giáo Hòa Hảo bị xử tổng cộng một án tù chung thân, 532 năm tù và 200 năm quản chế. Đó là những bằng chứng không thể chối cãi về thành tích nhân quyền rất tồi tệ của Việt Nam.

Trong phiên họp của Đại hội đồng LHQ vào ngày 12/11/2013 tới đây ở New York các thành viên của LHQ nên cân nhắc xem họ có nên bỏ phiếu cho một ứng cử viên có nhiều hành động thách thức quốc tế trong thời gian chuẩn bị nộp đơn như vậy không.

Xin cảm ơn ông Vũ Quốc Dụng

Công an tra tấn ông Nguyễn Thanh Chấn được Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Công an khen thưởng

 http://danlambaovn.blogspot.com/2013/11/cong-tra-tan-ong-nguyen-thanh-chan-uoc.html#more

Cầu Nhật Tân – Ông Nguyễn Thanh Chấn, người bị kết án chung thân oan uổng và đã thụ án được 10 năm vừa tố cáo một số cán bộ Công an Bắc Giang tra tấn, ép cung bắt nhận tội giết người. Một trong những sỹ quan Công an này tuy vẫn tiếp tục bị kiện vì tra tấn và bức cung trong một vụ tử hình oan khác lại vừa được Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an tặng bằng khen vì đã lập thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó, người này đã leo lên vị trí lãnh đạo một cơ quan thuộc Công an tỉnh Bắc Giang. Một người nữa thì được đề bạt và nâng quân hàm sau vụ anh Chấn và hiện là Phó trưởng công an huyện Lục Nam.

Thượng tá Đào Văn Biên: điều tra viên, người trực tiếp tra tấn, ép cung ông Nguyễn Thanh Chấn. Sau vụ này, ông Biên được thăng quân hàm và đề bạt lên chức Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Bắc Giang. Thượng tá Đào Văn Biên hiện còn bị gia đình bị cáo Hàn Đức Long (huyện Tân Yên) tố cáo việc Thượng tá Biên tra tấn, đánh đập, ngụy tạo chứng cứ, hồ sơ vụ án khiến anh Hàn Đức Long bị Tòa án Nhân dân tỉnh Bắc Giang kết án tử hình oan năm 2011. Anh Long đang chờ thi hành án tử hình trong trại giam Kế.
Mặc dù nổi tiếng tại tỉnh Bắc Giang với cái mác “chuyên gia tra tấn” nhưng Thượng tá Biên vẫn được Bộ trưởng Bộ Công an (tại tờ trình số 1358/TTr-BCA-X11) và được Trưởng ban Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương (tại tờ trình số 917/TTr-BTĐKT) đề nghị khen thưởng và sau đó được Thủ tướng cấp Bằng khen (tại Quyết định số 919/QĐ-TTg) vì đã lập thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Theo thông tin bên trong, ông Biên dự kiến được cơ cấu lên làm lãnh đạo Công an tỉnh.
Còn điều tra viên Ngô Đình Dung, người cũng trực tiếp tham gia tra tấn, bức cung ông Nguyễn Thanh Chấn, kết thúc chuyên án oan, cũng được thăng quân hàm và đề bạt lên giữ chức vụ Phó trưởng Công an huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Cái Quyết định khen thưởng chết tiệt kia đã lý giải tại sao anh X im thin thít trong vụ này. Còn chú Tư thì lên ngay báo đưa ra mấy tuyên bố cực kỳ hùng hồn.

http://caunhattan.wordpress.com/2013/11/07/cong-an-tra-tan-ong-nguyen-thanh-chan-duoc-thu-tuong-va-bo-truong-bo-cong-an-khen-thuong/

Quyền Lực và Trách Nhiệm

http://www.vietthuc.org/2013/11/09/quyen-luc-va-trach-nhiem/

people power
Bản chất của chính trị là quan hệ quyền lực. Quyền lực, nói một cách tóm tắt, là khả năng ảnh hưởng đến cách suy nghĩ cũng như hành vi của người khác. Trong hệ thống đẳng cấp của chính trị, chức vụ càng lớn, quyền lực càng nhiều; quyền lực càng nhiều, ảnh hưởng trên suy nghĩ và hành vi của người khác càng sâu và rộng. Ở vị trí cao nhất trong một quốc gia, ảnh hưởng ấy có thể tác động đến mọi công dân trong nước ấy. Ở Tây phương, hầu như ai cũng biết: Khi thay đổi lãnh tụ, chúng ta thay đổi chính phủ; và khi thay đổi chính phủ, chúng ta thay đổi cả quốc gia.Về phương diện chính trị, có nhiều loại quyền lực, nhưng đơn giản và phổ biến nhất, có hai loại chính: quyền lực chính đáng và quyền lực không chính đáng. Quyền lực chỉ được xem là chính đáng khi nó được dân chúng ủy thác: Lúc ấy, quyền lực (power) biến thành thẩm quyền (authority).
people power

Có thể nói thẩm quyền là thứ quyền lực được sự đồng thuận giữa người cai trị và những người bị trị. Hình thức phổ biến nhất của sự đồng thuận ấy là qua các cuộc bầu cử tự do, bình đẳng, công khai và minh bạch.

Tuy nhiên, dù được tiến hành dưới hình thức nào thì mọi quyền lực và mọi thẩm quyền đều phải đáp ứng được một số điều kiện dân chủ, trong đó, quan trọng nhất là giới hạn và trách nhiệm. Cái gọi là giới hạn ấy có hai khía cạnh chính: một là giới hạn về thời gian (có tính chất nhiệm kỳ, không phải vĩnh viễn, cha truyền con nối) và giới hạn của chính quyền lực (phải chấp nhận phân quyền và chịu sự kiểm soát của các cơ quan độc lập). Những điều này đã có nhiều người viết. Ở đây, tôi chỉ xin tập trung vào yếu tố trách nhiệm.

Nếu bản chất của quyền lực, dưới các chế độ dân chủ, là sự đồng thuận thì hai cơ sở chính để duy trì sự đồng thuận ấy là: sự tín nhiệm và trách nhiệm. Nói đến tín nhiệm là nói đến một thứ quan hệ nhiều chiều, nhưng trong đó, chiều quan trọng nhất là chiều từ dưới lên: những người bị trị tín nhiệm những người cai trị. Trách nhiệm, ngược lại, chủ yếu là theo chiều từ trên xuống: những người có quyền lực phải chịu trách nhiệm về chính quyền lực của mình, và với những người đã ủy thác quyền lực ấy cho mình.

Quyền lực không phải là một cái gì có tính chất tự thân: quyền lực vì quyền lực. Mọi quyền lực chính đáng đều có tính mục đích: quyền lực để làm một cái gì. Dưới chế độ độc tài, cái gì đó là bản thân người và/hoặc gia đình người có quyền lực; dưới chế độ dân chủ, cái gì đó là những mục tiêu chung mà mọi người tin tưởng và giao phó, thuộc về cộng đồng, hay rộng hơn, quốc gia. Những mục tiêu chung ấy chính là trách nhiệm.

Có thể nói, quyền lực chỉ chính đáng trong chừng mực nó gắn liền với trách nhiệm và chu toàn trách nhiệm. Một nhà lãnh đạo lý tưởng phải nhắm đến trách nhiệm nhiều hơn là quyền lực. Ở Việt Nam, ngược lại, với quyền lực, người ta muốn tuyệt đối (độc quyền lãnh đạo), nhưng với trách nhiệm, người ta lại muốn chia sẻ (trách nhiệm tập thể). Hậu quả là không ai chịu trách nhiệm về điều gì cả, ngay cả với những sai lầm của chính mình và/hoặc thuộc quyền hạn của mình.

Tất cả những điều ấy, người ta đều thấy từ lâu. Vụ thất thoát tài sản đến cả mấy tỉ đô la của tập đoàn kinh tế Vinashin: Không ai chịu trách nhiệm cả. Các vụ vỡ nợ liên tục của các tập đoàn kinh tế quốc doanh khác sau đó: Không ai chịu trách nhiệm cả. Kinh tế càng lúc càng suy thoái: Không ai chịu trách nhiệm cả. Nạn tham nhũng càng ngày càng phát triển từ một số con sâu đến cả một “bầy sâu”: Không ai chịu trách nhiệm cả. Đạo đức ở khắp mọi nơi càng ngày càng suy đồi: Không ai chịu trách nhiệm cả. Giáo dục càng ngày càng xuống dốc: Không ai chịu trách nhiệm cả.

Mới đây, gây xôn xao dư luận trong nước nhiều nhất là những chuyện liên quan đến ngành y tế: Nhiều bác sĩ, vì bất cẩn và thiếu đạo đức, làm chết hàng loạt bệnh nhân, trong đó có các sản phụ và trẻ em, thậm chí, một bác sĩ thẩm mỹ ở Hà Nội làm chết bệnh nhân rồi vứt xác xuống sông Hồng để phi tang. Trách nhiệm thuộc về ai? Không có ai nhận cả. Mọi người cứ đổ lỗi cho nhau. Dân chúng bức xúc đến độ, lần đầu tiên trên báo chí chính thống (PetroTimes) trong nước, có người kêu gọi Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến từ chức.

Có lẽ, cuối cùng, bà Nguyễn Thị Kim Tiến vẫn tiếp tục làm Bộ trưởng. Như tất cả những nhà lãnh đạo khác của Việt Nam từ trước đến nay. Vô trách nhiệm đến mấy, cái ghế của họ vẫn bất khả xâm phạm, dù cái giá mà họ và đảng họ phải trả rất đắt: Càng ngày càng mất sự tín nhiệm của dân chúng.

Không có trách nhiệm, mọi quyền lực đều là ăn cắp. Không có sự tín nhiệm, mọi quyền lực đều là ăn cướp. Không có cả hai, người ta vừa ăn cắp, vừa ăn cướp.

TS. Nguyễn Hưng Quốc

Cải cách Trung Quốc có tác động VN?

Đảng Cộng sản Trung QuốcBan lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục đứng trước câu hỏi về cải tổ

Một cuộc họp đặc biệt, Hội nghị trung ương 3 khóa 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc, đang được tổ chức từ ngày 9 đến 12/11/2013, nhằm đưa ra “những cải cách sâu sắc, toàn diện”.

“Những sai trái trong hệ thống và cơ chế phải bị loại bỏ” – như một nội dung trong thông báo sau phiên họp do Tổng bí thư Tập Cận Bình chủ trì, cho thấy Trung Quốc đang muốn thực hiện mục tiêu chưa có tiền lệ tính từ thời Cách mạng Văn hóa đến nay.

Những lĩnh vực sẽ phải cải cách mạnh mẽ, gồm thủ tục hành chính, các ngành công nghiệp độc quyền, đất đai, hệ thống thuế và tài chính, quản lý tài sản nhà nước, chính sách mở cửa và cải cách. Theo đó, chính phủ sẽ sử dụng các công cụ thuế và tài chính để giám sát thị trường ở tầm vĩ mô.

Điểm trùng hợp là hội nghị trung ương 3 của Trung Quốc diễn ra cùng thời gian với kỳ họp quốc hội cuối năm 2013 tại Việt Nam.

Nội tình Đảng cộng sản và Quốc hội Việt Nam có lẽ cũng đang diễn ra “những cải cách chưa từng có”, kể từ thời điểm ban hành hiến pháp 1992 đến nay. Trong suốt nửa đầu năm 2013, lần đầu tiên chính thể được xem là “toàn trị” ở quốc gia này buộc phải chấp nhận một kiến nghị chưa từng có của gần 15.000 công dân về bãi bỏ chế độ độc đảng cùng một số nội dung liên quan đến tính độc quyền trong các lĩnh vực then chốt.

Tuy nhiên cho tới nay, điều được hy vọng về một cuộc cải cách chưa từng có ở Việt Nam lại đang được Ban thường vụ quốc hội hứa hẹn sẽ chưa từng có một thay đổi đáng kể nào, từ điều 4 Hiến pháp về chế độ “đảng lãnh đạo toàn diện” đến các tranh cãi về tên nước, lực lượng vũ trang, tổ chức nhà nước, sở hữu đất đai, kinh tế quốc doanh và độc quyền doanh nghiệp nhà nước…

‘Đặc quyền đặc lợi’

“Sự đổi thay này không xảy ra vào các nhiệm kỳ chấp chính của những đời tổng bí thứ trước đây như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, mà lại xảy ra có phần đột ngột trong khẩu khí “diệt cả ruồi lẫn hổ” của tổng bí thư mới là Tập Cận Bình”

Một phác thảo của Hội nghị trung ương 3 tại Trung Quốc đáng được chú ý: Trong lĩnh vực công nghiệp độc quyền, nhà nước sẽ dỡ bỏ kiểm soát đối với việc nhập khẩu dầu khí. Ngành công nghiệp viễn thông sẽ được tái tổ chức nhằm khuyến khích cạnh tranh.

Đầu tư vào ngành đường sắt sẽ được đa dạng hóa, ngành điện và hệ thống giá điện sẽ được cải cách.

Sau mấy thập niên đóng kín, một số ngành kinh tế “mũi nhọn” như đường sắt, viễn thông, dầu khí và cả ngân hàng đang có cơ may được trút bớt gánh nặng độc quyền sang các thành phần kinh tế khác.

Nhưng đáng chú ý hơn, sự đổi thay này không xảy ra vào các nhiệm kỳ chấp chính của những đời tổng bí thứ trước đây như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, mà lại xảy ra có phần đột ngột trong khẩu khí “diệt cả ruồi lẫn hổ” của tổng bí thư mới là Tập Cận Bình.

Mới vào giữa năm nay, nguyên bộ trưởng đường sắt Lưu Chí Quân của Trung Quốc đã bị kết án tử hình vì tội nhận hối lộ và lạm quyền.

Từ tháng 6/2013, Trung Quốc đã hai lần phải giảm quyền trong phê duyệt dự án. Khoảng 310 loại phí do chính quyền địa phương lập nên đã bị xóa bỏ…

Trong khi đó, ở Việt Nam vẫn chưa có bất cứ tín hiệu nào về công cuộc xóa bỏ nạn độc quyền và đặc lợi.

Sau những phát hiện đột biến vào năm 2011, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam cùng với Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã bị báo chí và dư luận người dân xem là một trong những thủ phạm đẩy nền kinh tế vào tình trạng tiêu điều do đầu tư trái ngành cùng số lỗ trên 40.000 tỷ đồng, kéo theo các chiến dịch tăng giá xăng dầu không ngừng nghỉ nhằm trút lỗ lên đầu 90 triệu dân chúng, gần 4 triệu đảng viên, 2 triệu công chức và toàn bộ lực lượng vũ trang.

Cũng cho tới nay, tấm lưng còng người dân Việt Nam vẫn phải “cõng” đến 432 loại phí – một trong những biểu tả đậm đà nhất nhằm hoàn chỉnh “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

“Nguồn gốc tội ác”

Hình minh họaTác giả cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa có cải tổ gì đáng kể về đường lối cầm quyền thời gian qua

Một cải cách dự kiến khác cũng rất đáng lưu tâm của Trung Quốc là điều chỉnh cơ chế sở hữu đất đai. Từ nhiều năm qua, tình trạng thu nhập của chính quyền địa phương phụ thuộc tiền bán đất chính là một trong những nguyên nhân gây ra quá nhiều tranh chấp giữa chính quyền và người dân.

Khiếu kiện và biểu tình đất đai cũng là một vấn nạn ở Trung Quốc trong nhiều năm qua. Mỗi năm, quốc gia đông dân nhất thế giới này lại xảy ra đến hàng trăm ngàn cuộc khiếu kiện, so với hàng chục ngàn ở Việt Nam.

Lần này, ban soạn thảo kế hoạch cho Hội nghị trung ương 3 Trung Quốc đã đề xuất cho phép đất sở hữu tập thể và đất sở hữu nhà nước được gia nhập thị trường đất phi nông nghiệp.

Theo đó, nông dân có quyền sở hữu tập thể trong việc bán đất và được đền bù thỏa đáng dựa trên tiêu chuẩn thị trường. Chính quyền địa phương sẽ không còn được mua đất của dân với giá quá thấp rồi bán lại cho các công ty xây dựng hoặc doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh với giá cao hơn nhiều. Cải cách trong lĩnh vực này được đề xuất tiến hành trong 3 giai đoạn: 2013-2014, 2015-2017 và 2018-2020.

Nếu chế độ sở hữu đất đai được mở rộng sang hình thức tập thể ở Trung Quốc, đó sẽ là cơ hội cho chính thể của quốc gia này được gia cố hơn trong con mắt dân chúng.

Nhưng ở Việt Nam, sau vụ người nông dân Đoàn Văn Vươn năm 2012, dường như những người cầm quyền vẫn chưa rút ra được một bài học sắc giá nào về lòng dân và câu chuyện nước nâng thuyền nhưng cũng sẽ lật thuyền. Trên toàn quốc vẫn diễn ra không ngớt các cuộc thu hồi đất bất công và dẫn tới những cuộc cưỡng chế thô bạo, đôi khi làm chết dân. Người ta có thể chứng kiến nhan nhản tình trạng này trong mấy năm qua ở Bắc Giang, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh, cả Dương Nội thuộc ngoại thành Hà Nội, hoặc Thủ Thiêm ở TP.HCM…

Nguồn cơn được nhiều người dân xem là “nguồn gốc tội ác” mà đã gây ra nạn cường hào ác bá cướp bóc đất đai chính là chế độ sở hữu đất đai toàn dân, mà cho đến nay vẫn không được thay đổi, bất chấp quá nhiều kiến nghị của các nhóm trí thức, nhân dân trong nước và ở hải ngoại.

Cải cách hay là chết?

“Theo giới quan sát, Bộ chính trị Bắc Kinh đang phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ, và tương lai đó sẽ không kéo dài quá lâu, từ 7-10 năm tới.”

Dù vậy, não trạng của những người trong đảng vẫn hầu như chưa thoát khỏi “bóng đè” của “sở hữu đất đai toàn dân.”

Bất chấp việc quyền định đoạt và mua bán phải thuộc về người dân, cho tới nay Ủy ban thường vụ quốc hội vẫn thay mặt cho “tuyệt đại đa số cử tri” để thể hiện chỉ đạo của tổng bí thư về “Cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp”, tức nhiều khả năng sẽ không có bất kỳ thay đổi nào về chế độ sở hữu đất đai trong hiến pháp mới.

Thậm chí, vấn nạn mà dân oan kêu gào khắp nơi về việc thu hồi đất đối với “các dự án kinh tế – xã hội” vẫn đang được duy trì một cách đầy nghi ngờ. Gần đây, những tờ báo trong nước đã phải hé lộ về những vụ “lobby” chính sách nào đó của các nhóm lợi ích bất động sản kết hợp với các nhóm thân hữu chính trị.

Chính đảng cầm quyền ở Trung Quốc sẽ không thể tồn tại nếu không tự thay đổi. Sự thay đổi ấy sẽ phải thể hiện bằng một cuộc cải cách, nếu không đủ xứng đáng làm nên một cuộc cách mạng toàn diện thì tối thiểu cũng phải giúp cho chế độ độc đảng có lý do để kéo dài thêm một thời gian nữa.

Theo giới quan sát, Bộ chính trị Bắc Kinh đang phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ, và tương lai đó sẽ không kéo dài quá lâu, từ 7-10 năm tới.

Được xem là người bạn “môi hở răng lạnh” và gắn bó với những người đang muốn khuếch trương chủ thuyết “Nhân nghĩa lễ trí tín” của Khổng Tử, đảng cầm quyền ở Việt Nam sẽ phải tự tìm ra một lối thoát cho mình để không phải rước lấy nỗi căm phẫn hồi tố vẫn đang trên đà trào dâng dữ dội của đại đa số dân chúng.

“Cải cách hay là chết!” – một số quan chức Việt Nam đã thốt lên bức cảm thầm kín ấy bên ngoài hành lang, ngay sau khi kết thúc những cuộc họp chi bộ và thảo luận nghị trường đầy tính khoa trương và giáo điều.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một nhà báo tự do đang sống ở TP. Hồ Chí Minh.

Các bài liên quan

Đại biểu Quốc hội lo lắng về Hiến pháp

Đại biểu Trương Trọng NghĩaĐại biểu Trương Trọng Nghĩa nhắc nhở về nguy cơ đưa đất nước tụt hậu

Đại biểu Quốc hội tiếp tục lên tiếng quan ngại về thực chất lần sửa đổi Hiến pháp 1992 trong khi chỉ còn non ba tuần nữa, phiên họp thứ 6 của Quốc hội khóa XIII của Việt Nam, vốn lên kế hoạch thông qua bản thảo sửa đổi Hiến pháp, bế mạc.

Tuần này, một đại biểu quốc hội từ TP Hồ Chí Minh nhắc nhở Quốc hội Việt Nam về trách nhiệm đối với “hậu thế” nếu kìm hãm bước tiến của dân tộc.

Cùng lúc, một quan chức từ văn phòng Quốc hội nêu quan điểm cho rằng đổi mới qua lần sửa đổi Hiến pháp này là mệnh lệnh của thời đại.

Hôm 5/11, đại biểu Trương Trọng Nghĩa phát biểu trước Quốc hội Việt Nam nói:

“Không ít ý kiến cử tri cho rằng Hiến pháp sửa đổi là giải pháp cho mọi giải pháp. Trên tinh thần đó, vừa qua các tầng lớp nhân dân đã phát huy tinh thần trách nhiệm, ý thức dân chủ, tầm trí tuệ và văn hóa để đóng góp xây dựng Hiến pháp sửa đổi.”

“Nguyên nhân có nhiều, nhưng trong đó có nguyên nhân là công cuộc đổi mới thể chế và luật pháp đã chậm bước so với nhu cầu của đất nước”

Đại biểu QH Trương Trọng Nghĩa

“Nếu việc sửa đổi Hiến pháp lần này không đạt được yêu cầu đó thì chúng ta sẽ không tiếp thu được những tinh hoa trí tuệ nhân dân đã đóng góp mà còn bỏ lỡ cơ hội đưa công cuộc đổi mới lên một tầm cao mới, tạo động lực cho đất nước vượt qua nguy cơ tụt hậu, tiếp kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.”

Theo đại biểu thuộc đoàn TP Hồ Chí Minh, chính quyền Việt Nam đang ‘chậm bước’ so với nhu cầu của đất nước về đổi mới.

Ông nói với Quốc hội: “Không ít ý kiến cho rằng nếu không có những giải pháp toàn diện và đột phá thì tình hình đất nước không thể chuyển biến tích cực một cách căn bản.”

“Nguyên nhân có nhiều, nhưng trong đó có nguyên nhân là công cuộc đổi mới thể chế và luật pháp đã chậm bước so với nhu cầu của đất nước.”

‘Không có tương lai’

Cũng trong tuần, một Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội bày tỏ đồng tình với quan điểm của một Bộ trưởng trong nội các của chính phủ cho rằng chính quyền cần phải đổi mới, nếu không sẽ gặp khó khăn.

Tiến sỹ Nguyễn Sỹ DũngTS Nguyễn Sỹ Dũng đồng ý rằng nếu không đổi mới, VN sẽ không có tương lai

“Cá nhân tôi cảm nhận là Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã nói rất thẳng thắn và rất đúng đắn,” Tiến sỹ Nguyễn Sỹ Dũng nói với tờ Tiền Phong Online hôm 04/11, nhất trí với quan điểm của Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư.

Ông nhấn mạnh Việt Nam sẽ không có tương lai, nếu không đổi mới:

“Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Sống theo cách cũ, vì vậy sẽ không có tương lai.”

“Điều đáng lưu ý là không chỉ thế giới đã rất khác, mà những người dân cũng đã rất khác. Tôi có cảm giác là hàng chục triệu người dân đã hội nhập với thế giới hiện đại nhanh chóng và hiệu quả hơn so với nhiều thiết chế đang vận hành nền quản trị quốc gia của chúng ta.”

Tuy nhiên, trước đó, một quan chức Quốc hội khác cho rằng bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội lần này là động lực để phát triển đất nước.

PGS. TS Lê Minh Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội khẳng định với tờ Đại biểu Nhân dân, cơ quan ngôn luận Quốc hội hồi hạ tuần tháng trước:

“Theo tôi việc thông qua Hiến pháp lần này sẽ là một trong những động lực để thúc đẩy đất nước phát triển, tạo nên sự đồng thuận mới, đoàn kết nhất trí trong nhân dân để thực hiện các nhiệm vụ phát triển đất nước.”

‘Tuân theo ý Đảng’

Ông Lê Minh ThôngPGS. TS Lê Minh Thông nhấn mạnh lần sửa đổi Hiến pháp bám sát định hướng của Đảng Cộng sản

Ông Thông nhấn mạnh dự thảo hiến pháp “đã tiếp thu khá đầy đủ ý kiến của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với định hướng chính trị và định hướng phát triển của đất nước. Đồng thời, đã bám sát các kết luận của Trung ương, định hướng sửa đổi Hiến pháp mà Nghị quyết Trung ương 2 đã nêu ra, bám sát các kết luận của Trung ương 5, 8, các kết luận của Bộ Chính trị…”

Một luật sư bất đồng chính kiến ở Việt Nam mới đây nhận xét với BBC về thực chất đợt chính quyền sửa đổi Hiến pháp kỳ này, cho rằng nhà nước cố tỏ ra dân chủ, nhưng thực chất không có gì thay đổi cơ bản trong bản Hiến pháp sửa đổi mới căn cứ trên dự thảo của chính quyền.

“Bản Hiến pháp sắp được Quốc hội Việt Nam thông qua sửa đổi tới đây gần như là một bản Hiến pháp cũ, nó chỉ chỉnh sửa một số chỗ để củng cố cho nội bộ của Đảng Cộng sản thôi, chứ không đem lại một lợi ích nào thực tế cho người dân VN cả…,” luật sư  Nguyễn Văn Đài nói.

Theo ông Đài, điều đáng quan tâm nhất là xem xét xem chất lượng của một bản Hiến pháp có thực sự đáp ứng được các quyền tự do, dân chủ của người dân hay không, có đáp ứng được quyền của người dân kiểm soát chính quyền về quyền lực chính trị, cũng như về kinh tế hay không.

“Dù họ có cố tình tạo ra một cách làm có vẻ dân chủ hơn, thế nhưng nội dung không đáp ứng được, thì không có ý nghĩa gì,” luật sư Đài nói với BBC.

Kháng thư phản đối Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ

Trà Mi-VOA. 06.11.2013

http://www.voatiengviet.com/content/khang-thu-phan-doi-vietnam-ung-cu-vao-hoi-dong-nhan-quyen-lhq/1784847.html

Dân biểu của nhiều nước cùng với các nhà hoạt động và các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế đồng ký tên vào thư phản đối Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc.

Kháng thư vừa gửi đến Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên hiệp quốc, Samantha Power, và Đại diện cao cấp của Liên Hiệp Châu Âu về Chính sách An ninh và Ðối ngoại, Catherine Ashton, kêu gọi Mỹ và EU công khai phản đối việc Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, Algeria, Jordan, Nga, Ả Rập Xê Út trở thành thành viên trong Hội đồng tại cuộc bỏ phiếu vào ngày 12/11 sắp tới.

Thư thúc giục đại diện của Mỹ và Liên hiệp Châu Âu có hành động ngăn chặn các nước ứng cử vừa kể vì thành tích nhân quyền của không xứng đáng với thanh danh của Hội đồng nói riêng và của Liên hiệp quốc nói chung.

Thư viết rằng theo nghị quyết của Đại Hội đồng, ứng cử viên vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc phải là các quốc gia duy trì các tiêu chuẩn cao nhất trong việc thăng tiến và bảo vệ nhân quyền. Trong khi đó, vẫn theo kháng thư, các nước vừa kể bao gồm Việt Nam lại không đáp ứng các tiêu chuẩn căn bản nhất này, có thành tích rất tệ trong việc bảo vệ nhân quyền nội địa và phát huy nhân quyền tại Liên hiệp quốc.

Những người ký tên trong thư đề nghị thay vì để cho các chính phủ phi dân chủ này có tầm ảnh hưởng đối với các quyết định quan trọng về nhân quyền, cần có các Nghị quyết ở Liên hiệp quốc truy trách nhiệm và lên án các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng có hệ thống của các quốc gia đó.

Kháng thư kêu gọi Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên hiệp quốc và Đại diện cao cấp của Liên Hiệp Châu Âu về Chính sách An ninh và Ðối ngoại hãy lên tiếng vì hàng triệu nạn nhân trên thế giới đang cần một cơ quan nhân quyền quốc tế hiệu quả và khả tín.

Trong số những người ký tên trong thư có các đại biểu quốc hội Châu Âu, các dân biểu của Anh, Canada, Úc, Mỹ, tổ chức Theo dõi nhân quyền Liên hiệp quốc, cùng các tổ chức tranh đấu nhân quyền và dân chủ của các nước trong đó có đảng Việt Tân trụ sở tại Mỹ.


Trà Mi

Tầm quan trọng của Hội nghị TƯ 3 của Trung Cộng

Celia Hatton.  BBC News, Bắc Kinh. 8 tháng 11, 2013

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2013/11/131108_third_plenum_china.shtml

Các quyết nghị do Hội nghị Trung ương 3 Trung Quốc đưa ra sẽ có tác động to lớn tới toàn cầu

Hội nghị Trung ương 3 là lần thứ ba ông Tập Cận Bình sẽ gặp gỡ với những người cộng sự cao cấp nhất của mình trong cương vị Chủ tịch Đảng Trung Quốc.

Đây là kỳ họp diễn ra sau cánh cửa đóng kín, với sự tham dự của các gương mặt cao cấp của đảng cầm quyền.

Chủ tịch Tập Cận Bình được trông đợi sẽ tiết lộ một khung hoạt động kinh tế mới cho đất nước sau kỳ họp thượng đỉnh.

Tại các khu chợ, những người được hỏi về kỳ họp quan trọng này đều gật đầu thừa nhận là họ đã có nghe nói về nó, thế nhưng họ hướng hy vọng của mình trong việc cải tổ vào những gì thiết thực, liên quan tới đời sống thường nhật.

“Tôi muốn các vấn đề như giá nhà đất phải được thảo luận,” một bà hưu trí vừa mặc cả cân dưa chuột, vừa nói. “Tôi hy vọng là vấn đề sẽ được giải quyết cho các gia đình có nhu cầu.”

‘Kém hiệu quả’

Trước đây, các Hội nghị Trung ương 3 đã làm được nhiều hơn thế; các nhà lãnh đạo trước đây đã lấy kỳ họp thứ ba này làm cơ hội thông báo những thay đổi kịch tính cho nền kinh tế Trung Quốc.

Cựu lãnh đạo cộng sản Đặng Tiểu Bình là người đầu tiên dùng một kỳ họp đảng quan trọng hồi năm 1978 làm thời điểm công bố Trung Quốc sẽ mở cửa giao thương với thế giới.

Mười lăm năm sau, Chu Dung Cơ, phó thủ tướng, sau trở thành thủ tướng, đã hậu thuẫn cho một vòng tái cơ cấu nữa, với việc kết hợp doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp nhà nước vốn nhận được nhiều trợ giúp. Sự hòa trộn này đã khiến Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.

“Giới lãnh đạo các ngân hàng quốc doanh quan tâm tới việc thăng tiến chính trị hơn là lợi nhuận của ngân hàng.”

Giáo sư Chu Quốc Trung, Học viện Quản trị Quang Hoa, Đại học Bắc Kinh

Với một số người, những vấn đề đang tồn tại trong các ngân hàng quốc doanh Trung Quốc đang gây tắc nghẽn nghiêm trọng cho sự tăng trưởng kinh tế.

“Các ngân hàng quốc doanh quan tâm nhiều hơn tới việc cho các doanh nghiệp quốc doanh vay, bởi về mặt chính trị thì làm vậy an toàn hơn. Giới lãnh đạo các ngân hàng nhà nước thì quan tâm tới việc thăng tiến chính trị hơn là lợi nhuận của ngân hàng,” giáo sư Chu Quốc Trung từ Học viện Quản trị Quang Hoa thuộc Đại học Bắc Kinh giải thích.

“Cho nên nó dẫn tới tình trạng rất kém hiệu quả trong việc phân bổ các nguồn vốn. Các doanh nghiệp quốc doanh yếu kém thì lại được nhận nhiều vốn hơn, trong lúc chúng ta có những công ty tư nhân hoạt động rất sáng tạo. Họ cần tiền, nhưng lại không được tài trợ. Tôi nghĩ rằng đây là vấn đề rất cấp bách tại Trung Quốc.”

Những người khác tin rằng sự độc quyền của chính phủ trong các lĩnh vực như dầu khí hay truyền thông mới là những vấn đề thực sự.

“Các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các công ty trong các ngành công nghiệp, nhìn chung đều đang nợ nần. Đây là điều không thỏa đáng, bởi các công ty đó chiếm dụng rất nhiều tài nguyên quốc gia, như đât đai, hay các khoản vay,” Sinh Hương, Giám đốc Viện kinh tế Unirule, một tổ chức nghiên cứu tư nhân tại Bắc Kinh, nói.

“Họ chẳng làm ra lợi nhuận gì trong chừng hai thập niên qua, nhưng các quan chức thì lại nhận được những khoản lương bổng vô tận. Nhân dân Trung Quốc trao các nguồn lực cho nhóm người này, thế nhưng họ chẳng hề báo đáp nhân dân chút nào.”

‘Không có đạn bạc’

Ông Tập Cận Bình sẽ phải cân bằng giữa các loại lợi ích khác nhau nếu muốn hướng tham vọng cải cách vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước.

Bất kỳ kế hoạch mới nào cũng sẽ đều là sản phẩm của hàng tháng họp kín giữa các quan chức đại diện cho các nhóm lợi ích khác nhau.

Tại Trung Quốc, cũng không có gì là bí mật quanh chuyện tuyên bố cải tổ thì dễ, nhưng đó chỉ là khởi đầu cho một tiến trình dài hạn.

Vấn đề là việc cải tổ sẽ rất khó thực hiện, nhất là nếu việc đó đe dọa tới những lợi ích địa phương.

Ông Tập Cận Bình vẫn đang bị áp lực từ nhiều bộ phận khác nhau trong xã hội Trung Quốc trong việc công bố những thay đổi có tính quyết liệt.

Nhưng nếu không làm vậy, thì kỳ họp quan trọng này cũng đáng thất vọng không kém.

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Rất Khó Tin Tập Cận Bình; Việt Nam Đã Nằm Trong Qũy Đạo Trung Quốc

Tác giả : Phạm Trần

Lời Tác giả: Bài Phỏng vấn dưới đây được chúng tôi thực hiện với Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên gia về Chính trị và Bang giao Quốc tế viện Đại học George Mason nhằm giải tỏa những thắc mắc tại sao trong thời gian vừa qua Trung Quốc đã tung ra chính sách ngọai giao “Con đường tơ lụa trên biển” và hô hào hợp tác phát triển “cùng thắng” với các nước lân bang có tranh chấp biển đảo với Bắc Kinh.

Cũng trong cuộc phỏng vấn sẽ được chiếu trên Đài Truyền hình SBTN tối Thứ Sáu (8/11/2013) trong Chương trình “Những Vấn Đề Việt Nam”, Giáo sư Hùng còn giải thích tại sao Trung Quốc phải “cải tổ sâu rộng” trong thời gian tới và có phải Việt Nam đã “nằm gọn” trong qũy đạo của Trung Quốc, sau chuyến thăm Hà Nội của Thủ tướng Lý Khắc Cường ?

Sau đây là Tòan văn cuộc Phỏng vấn:

H: Thưa Giáo sư, như ông đã biết trong tháng 10 vừa qua, hai Lãnh tụ hàng đầu của Trung Quốc là Tổng Bí thư và Chủ tịch Nhà nước Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường đã thăm một số nước trong vùng Đông Nam Á và đồng thời đề nghị khối ASEAN hợp tác để “phát triển trên biển” và cùng nhau xây dựng “Con đường tơ lụa trên biển” trong thế kỷ 21.

Ông có biết tại sao Trung Quốc lại tỏ ra tha thiết muốn hợp tác chặt chẽ với các nước Đông Nam Á vào thời gian này và đâu là lý do khiến họ đặt trọng tâm vào việc yêu cầu khối ASEAN “hợp tác và phát triển trên Biển Đông” ?

Đ: Đây là chiến dịch “tấn công thiện”cảm đợt 2 (second charm offensive) của Trung Quốc theo chính sách “mềm nắn, rắn buông.” Chiến dịch tấn công thiện cảm đợt 1 được khởi động trong những năm đầu thế kỷ nhắm vào các nước Đông Nam Á, trùng hợp với giai đoạn George W. Bush lên cầm quyền với chính sách ngoại giao đơn phương, áp đặt. Nó được thể hiện qua chính sách viện trợ rộng rãi, các ưu đãi thương mại, và việc ký kết “Hiệp ước thân thiện và thân hữu” với ASEAN song song với việc thay cụm từ “trỗi dậy hòa bình” (peaceful rise) bằng cụm từ “phát triển hòa bình” (peaceful rise) để giải tỏa mối lo ngại về hậu quả của sự lớn mạnh nhanh chóng của Trung Quốc.

Tình hình này thay đổi từ khi Trung Quốc công khai công bố “Đường lưỡi bò” trên Biển Đông (2009) và dùng vũ lực để áp đặt đòi hỏi quá đáng của mình. Chính sách này tạo ra phản ứng bất lợi từ phía Mỹ và các nước Á châu khác khiến họ nghiêng về Mỹ và tìm cách củng cố quan hệ quốc phòng với Mỹ. Thêm vào đó, việc can thiệp trăng trợn và gây chia rẽ trong nội bộ ASEAN khiến tập thể này không đưa ra được thông cáo chung kết thúc hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Nam Vang năm 2012 khiến các quốc gia đó cảnh giác và đoàn kết hơn trươc áp lực của Trung Quốc. Tình trạng bất lợi này là nguyên nhân dẫn đến chiến dịch “tấn công thiện cảm” đợt 2, vớí khẩu hiệu “con đường tơ lụa” và “hợp tác để phát triển trên biển.”

Nên nhớ chính sách này chỉ được áp dụng một cách tùy tiện. Trong khi Trung Quốc ve vãn một số các nước Đông Nam Á thì họ lại gia tăng áp lực đối với một số nước mà Trung Quốc cho là cứng đầu và không thể lôi ra khỏi quỹ đạo của Mỹ, như Nhật và Phi Luật Tân. Đây là chính sách “cây gậy và củ cà rốt” vừa ve vãn vừa răn đe các nước Đông Nam Á.

H: Theo các Tài liệu mà tôi đọc được thì các nước trong Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là các thành viên “có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông với Trung Quốc” gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Ma Lai Á, Brunei và Nam Dương tỏ ra “rất dè dặt” với đề nghị mới của Trung Quốc.

Theo Giáo sư thì nguyên nhân “dè dặt” của ASEAN bắt nguồn từ đâu ? Vì chưa biết bụng dạ Trung Quốc ra sao hay ASEAN cần có thời gian để suy nghĩ ?

Đ: Lãnh đạo các nước ASEAN không ngây thơ và dễ tin. Họ dè dặt vì muốn chờ xem hành động cụ thể của Trung Quốc như thế nào. Sư dè dặt này bắt nguồn từ kinh nghiệm của họ với những hành vi lấn lướt của Trung Quốc trong thời gian qua, với đòi hỏi về lãnh thổ và lãnh hải quá đáng của Trung Quốc, cũng như quan tâm của họ về ý đồ thực sự của nước này qua chương trình canh tân quân sự, gia tăng nhanh chóng khả năng tấn công của Trung Quốc.

Tuy nhiên, sự dè dặt của các nước ấy cũng khác nhau về mức độ. Trong những nước mà ông kể thì Indonesia không có tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc và họ còn muốn đóng vai trò trung tâm trong vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) chứ không phải chỉ trong vùng Á châu-Thái Bình Dương. Tương đối họ không ngại Trung Quốc trừ khi Trung Quốc làm hại đến sự đoàn kết ASEAN và vai trò trung tâm của ASEAN (ASEAN centrality) mà Indonesia là một thành phần chủ lực. Đối với bốn nước còn lại, tranh chấp biển đảo với Trung Quốc của Brunei và Mã Lai Á không gay gắt bằng tranh chấp biển đảo với Trung Quốc của Việt Nam và Phi Luật Tân cho nên sự dè dặt của hai nước sau này cũng lớn hơn.

H: Trong Bài diễn văn đọc trước Quốc hội Nam Dương ngày 3/10 vừa rồi, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói rằng: “Trung Quốc và các nước ASEAN như môi với răng, cùng gánh vác trách nhiệm giữ gìn hoà bình và ổn định của khu vực… Chúng ta cần phải từ bỏ tư duy Chiến tranh Lạnh, tích cực đề xướng quan niệm mới về an ninh tổng hợp, an ninh chung, an ninh hợp tác, cùng nhau giữ gìn hoà bình và ổn định của khu vực”.

Ông thấy đề nghị này của họ Tập có “nghiêm chỉnh không” ? Ông có thấy là giới lãnh đạo mới của Trung Quốc không còn có ý đồ “bá quyền” như thời “Diều hâu-Bá đạo” Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình không?

Đ: Bài diễn văn của ông Tập rất khéo với nhiều hứa hẹn đường mật. Mục đích chính của nó là khuyến cáo cần tránh chiến tranh lạnh, vì chiến tranh lạnh sẽ đưa đến thế đối đầu, liên minh quân sự, tranh vùng ảnh hưởng khiến Trung Quốc có thể lâm vào thế bị Mỹ vây chặn với chính sách be bờ mới (containment).

Còn ý đồ bá quyền là ý đồ tự nhiên của nước lớn mạnh nhất trong vùng, không lãnh tụ Trung Quốc nào tránh được hấp lực của nó.

DIỀU HÂU HAY HÒA BÌNH ?

H: Thưa Giáo sư Hùng, cũng trong Bài Diễn văn ấy, ông Tập Cận Bình cũng nói: ”Về một số bất đồng và tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi biển giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, hai bên cần phải trước sau như một kiên trì giải quyết bằng biện pháp hoà bình, xử lý thoả đáng thông qua đối thoại bình đẳng và hiệp thương hữu nghị, giữ gìn đại cục của quan hệ song phương và ổn định của khu vực.”

Ông có lạc quan khi thấy ông Tập Cận Bình đã khẳng định dùng ”biện pháp hoà bình”, thay vì võ lực để giải quyết tranh chấp và như vậy phải chăng họ Tập đã kìm chế được phe Diều hâu hiếu chiến ở Trung Quốc vẫn hô hào sử dụng võ lực để đánh chiếm cho thật nhanh các quần đảo còn lại trên Biển Đông, phần lớn thuộc chủ quyền của Việt Nam?

Đ: Đề nghị kể trên của ông Tập không có gì hoàn toàn mới, nó chỉ nhắc lại lập trường và cam kết cũ. Chừng nào mà Trung Quốc chưa chính thức bãi bỏ “Đường lưỡi bò” và tương quan lực lượng giữa Trung Quốc với các quốc gia tranh chấp không đồng đều thì khó có thể có sự “xử lý thỏa đáng” thông qua “đối thoại bình đẳng được.”

Nói rằng Tập Cận Bình đã củng cố được quyền lực của mình thì đúng, còn bảo rằng ông kiểm soát được “phe Diều hâu hiếu chiến” thì không đúng hẳn. Tôi không nghĩ rằng việc “hô hào xử dụng võ lực để đánh chiếm thật nhanh” các đảo còn lại trên Biển Đông phản ánh lập trường của một phe có thế lực trong Bộ Chính Trị của Trung Quốc, nhất là của phe quân đội, như nhiều nhà bình luận suy đoán. Trong tổ chức chính trị của các đảng cộng sản nói chung và của đảng cộng sản Trung Quốc nói riêng thì “chính trị là thống soái,” quân đội luôn luôn phải ở dưới quyền kiểm soát của lãnh đạo chính trị. Nếu đó là áp lực của quân đội thì tại sao Trung Quốc lại đấu dịu ở Đông Nam Á trong khi làm găng với Nhật ở Bắc Á?

H: Thưa Giáo sư, ông là Chuyên viên về Chính trị và Ngọai giao Quốc tế tại Đại học George Mason, ông đánh giá về “con người Hòa Bình” của Tổng Bí thư đảng CS Trung Quốc Tập Cận Bình như thế nào sau khi nghe họ Tập nói câu này trước Quốc hội Nam Dương ngày 3/10 vừa qua: “Trung Quốc sẽ kiên định bất di bất dịch đi con đường phát triển hoà bình, kiên định bất di bất dịch thi hành chính sách ngoại giao hoà bình độc lập và tự chủ, kiên định bất di bất dịch thi hành chiến lược mở cửa cùng có lợi cùng thắng. Sự phát triển của Trung Quốc là sự lớn mạnh của lực lượng hoà bình thế giới, là sự tăng cường cho năng lượng dương hữu nghị, mang lại cơ hội phát triển chứ không phải là đe dọa cho châu Á và thế giới.” ?

Đ: Ở Hoa Kỳ, nếu Tổng Thống Franklin Roosevelt có thể bỏ chủ thuyết Monroe coi Mỹ là thống soái ở Mỹ châu La tinh để thay thế nó bẳng chính sách “láng giềng thân thiện” (good neighborliness) thì người ta cũng có thể hy vọng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thật tâm muốn thay đổi chính sách ngoại giao của Trung Quốc như lời ông nói.

Tuy nhiên, ta cũng nên nhớ rằng các hành động lấn lướt, khiêu khích gần đây của Trung Quốc, như cát giây cáp của tàu Việt Nam và khuynh đảo sự đoàn kết của ASEAN trong hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm 2012 ở Nam Vang, đều đã xảy ra trong nhiệm kỳ của ông Tập.

Nói đến lời hứa, tôi xin nhắc đến tuyên bố chắc nịch của Ayatollah Ali Khameini. Nhà lãnh đạo tôn giáo tối cao của Iran từng xác quyết rằng Iran sẽ không bao giờ chế tạo bom nguyên tử vì hành động này không những “vô ích, nguy hiểm” mà còn là một “cái tội,” không phù hợp với kinh Quran (kinh thánh của Hồi giáo). Cho đến giờ phút này, tôi tin lời của ông Khameini hơn lời hứa của ông Tập.

TRUNG QUỐC CẢI TỔ VÀ VIỆT NAM

H: Thưa Giáo sư, Hội nghị Trung ương 3 Khoá 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ diễn ra từ ngày 09 đến 12 tháng 11 này, theo đó một kế họach được gọi là “cải tổ tòan diện và sâu rộng” nhất từ Cuộc cải cách 33 năm trước dưới thời Đặng Tiểu Bình sẽ được đem ra thảo luận.

Ông đánh giá như thề nào về quyết định cải tổ lần này và tại sao Trung Quốc lại cần phải có một cuộc “cải tổ sâu rộng” như vậy ?

Đ: Trước hội nghị trung ương 3 năm nay của đảng Cộng Sản Trung Quốc, có nhiều tin đồn về “cải tổ toàn diện và sâu rộng” xuất phát từ ngay những người thân cận với ông Tập Cận Bình; họ cho rằng những cải tổ trung ương 3 khóa 18 lần này nếu không quan trọng hơn thì cũng không kém những cải tổ do Đặng Tiểu Bình đề xuất tại trung ương 3 khóa 11.

Lý do cần có những cải tổ quan trọng vì mức độ phát triển kinh tế của Trung Quốc bị khựng lại trước tình hình kinh tế toàn cầu không có gì là khả quan. Cải tổ của Đặng Tiểu Bình đã đi hết chu kỳ của nó. Mô thức phát triển cũ dựa vào xuất khẩu dùng nhân công rẻ để sản xuất hàng rập khuôn hàng nước ngoài không hữu hiệu nữa khi giá nhân công Trung Quốc gia tăng và khả năng tiêu thụ hàng Trung Quốc ở bên ngoài giảm. Nhiều kinh tế gia cho rằng mô thức phát triển mới của Trung Quốc phải dựa vào tiêu thụ nội địa và vào khả năng sáng tạo và phát minh, nhưng khó có thể khuyến khích sáng tạo trong một môi trường chính trị kiểm soát, thông tin bưng bít. Nhu cầu cải tổ chính trị một cách sâu rộng thì có, làm thế nào để cải tổ mà vẫn giữ được ổn định chính trị là một thử thách lớn cho trung ương 3.

Ngay trong trung tâm quyền lực của Trung Quốc cũng có những đề nghị cải tổ mạnh bạo. Thông Đốc Ngân Hàng Trung Ương Chu Tiểu Xuyên hô hào cải tổ lãnh vực tài chính. Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển thuộc Quốc Vụ Viện (Hội đồng Nội các) đề nghị giảm đặc quyền kinh tế của các xí nghiệp quốc doanh, cho nông dân quyền mua bán ruộng đất, và cho chính quyền địa phương rộng quyền hơn trong việc thu thuế và xử dụng thuế. Những cải tổ này không những chỉ đụng chạm đến tín điều căn bản của Xã hội Chủ nghĩa mà còn đụng chạm đến đặc quyền đặc lợi của nhiều người trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Đó là những quyết định nhức nhối mà trung ương 8 của đảng Cộng sản Trung quốc phải cứu xét và chọn lựa.

H: Sau cùng, xin Giáo sư bình luận về Thỏa hiệp mới về “hợp tác trên biển” giữa Việt nam và Trung Quốc vừa công bố trong Tuyên bố chung tại Hà Nội ngày 15/10/2013, tiếp theo sau chuyến thăm 2 ngày của Thủ tướng Lý Khắc Cường. Tôi muốn hỏi ông rằng, có phải thỏa hiệp Hà Nội đã đáp lại mong muốn của Bắc Kinh như những gì hai ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường đã nói trong các chuyến du hành Đông Nam Á của họ trong 2 tuần lễ đầu tháng 10 vừa qua ?

Đ: Lần trước ông (Chủ tịch Nhà nước) Trương Tấn Sang đi Trung Quốc (19/06/2013) để ký kết “Chương trình hành động giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc về việc triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc.” Lần này ông Cường thăm Việt Nam, ký tuyên bố chung làm “sâu sắc thêm hợp tác chiến lược toàn diện” giữa hai nước. Về ngôn từ thì vẫn “16 chữ vàng, 4 tốt, hợp tác cùng phát triển, để ý đến đại cục, xử lý thỏa đáng các vấn đề tồn tại, dễ trước khó sau…” Về bản chất thì những cam kết này chỉ nhằm xây dựng quan hệ chằng chịt giữa hai nước và hai đảng về mọi phương diện, mọi cấp bậc, qua cả những dự án xây cất đường xá và phương tiện giao thông nối liền hai nước và chương trình nối kết thế hệ thanh niên hai nưóc, khiến Việt Nam khó thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc không những bây giờ mà còn trong tương lai

Riêng vấn đề “hợp tác cùng phát triển trên biển,” tuyên bố chung chỉ đưa ra những nguyên tắc đàm phán. Cụ thể là cam kết “kiểm soát tốt những bất đồng trên biển, không có hành động phức tạp, mở rộng tranh chấp” và tìm kiếm các “biện pháp có hậu quả để kiểm soát tranh chấp.” Đó chỉ là những lời hứa. Mà lời hứa thì không mất tiền mua. -/-

Phạm Trần
(06/11/2013)

Thanh Hóa: Biểu tình vì công an “bảo kê”

Người dân biểu tình ở trụ sở Công an tỉnh Thanh HóaNgười dân bức xúc vì công an bắt xe hải sản của dân vô cớ, theo báo trong nước.

Nhiều người dân kéo tới trụ sở Công an Tỉnh Thanh Hóa hôm thứ Năm phản đối và khiếu nại việc cảnh sát tỉnh này bắt giữ xe vận chuyển thủy sản của người dân một cách vô cớ, theo báo Việt Nam.

Hôm 07/11, hàng chục người dân từ xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa trong tình trạng được mô tả là bức xúc đã kéo tới trụ ở của công an tỉnh phản ứng và yêu cầu lãnh đạo công an tỉnh giải thích việc hai xe container chở cá khô bị bắt giữ với nghi vấn do công an, móc ngoặc bảo kê xã hội đen gây ra.

Những người phản đối nói một nhóm công an thuộc Phòng Cảnh sát Kinh tế thuộc Sở Công an tỉnh Thanh Hóa đã chặn hai xe hàng containter có máy làm lạnh vận chuyển hàng của dân mà không có lý do và không lập biên bản.

“Điều khiến họ bức xúc nhất là khi chặn bắt xe, những cảnh sát trên đã không nêu lý do cụ thể, không lập biên bản.

“Đồng thời thu giữ toàn bộ giấy tờ, chìa khóa, điện thoại của tài xế, đặc biệt đã tắt máy, không cho dàn lạnh trên xe hoạt động khiến hàng hóa trên xe có nguy cơ hư hỏng,” tờ Thanh Niên hôm thứ Năm phản ánh lý do người dân bức xúc.

“Phó giám đốc Công an tỉnh Thanh Hóa đã yêu cầu Phòng Cảnh sát kinh tế phải giao trả ngay hai chiếc container chở hàng của người dân… cho biết sẽ tiến hành điều tra, xử lý những vi phạm của cấp dưới trong việc vô cớ chặn bắt xe hàng”

VnExpress.net

Tờ này dẫn lời nhân chứng cho biết khi chặn bắt xe, các cảnh sát đã không cho biết lý do, không lập biên bản và không đưa ra lệnh khám mà chỉ giữ xe lại để chờ chủ hàng ra làm việc “giống như hành vi trấn lột” chứ không phải là cách xử lý vi phạm và đặt vấn câu hỏi “rõ ràng có sự khuất tất trong việc này.”

Vẫn theo phản ánh của báo trong nước, người dân xã Hải Thanh sản xuất và chế biến thủy sản phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu, với khoảng 30 lò chế biến, hấp sấy cá khô cùng sản lượng hàng tháng từ 50 – 200 tấn cá cơm khô mỗi lò.

Tuy nhiên, hơn một năm trở lại đây, người dân bị một đối tượng xã hội đen nghi ngờ có liên hệ với công an o ép, khống chế, bắt buộc họ phải thuê xe, bãi đóng hàng và nộp tiền mãi lộ lên tới hàng triệu đồng mỗi chuyến vận chuyển.

‘Xử lý cấp dưới’

Khi người dân tìm cách thuê dịch vụ ở chỗ khác đã thường xuyên gặp phải các vụ ‘cảnh sát giao thông’, ‘cảnh sát kinh tế’ chặn kiểm soát, gây khó dễ với mật độ ‘bất thường,’ vẫn theo phản ánh của truyền thông trong nước.

Hôm thứ Năm, tờ Vnexpress.net phản ánh: “Song cũng từ đó, việc vận chuyển hàng hóa của bà con gặp không ít khó khăn khi liên tục bị một số cảnh sát địa phương chặn bắt dọc đường mà không nêu rõ lý do.

Biểu tình ở Thanh HóaNgười dân trèo cả lên tường cổng trụ sở Công an Tỉnh trong vụ phản đối

“Chúng tôi nghi ngờ, chính Dũng “mò” (đối tượng xã hội đen) đã ngầm báo cho cảnh sát để chặn bắt các xe chở hàng nhằm ép ngư dân phải cho Dũng tiếp tục bảo kê”, một ngư dân nói với tờ báo điện tử.”

Người dân đã tụ tập trước cổng của Công an Tỉnh trong nhiều tiếng đồng hồ, nhiều người khác còn trèo lên cổng của trụ sở cảnh sát để theo dõi việc xử lý.

Sau nhiều tiếng đồng hồ bị khiếu nại, lãnh đạo Công an tỉnh Thanh Hóa đã buộc phải thả hai xe vận tải máy lạnh bị bắt giữ, hứa xử lý vi phạm của cấp dưới để giải tỏa người dân.

“Đại tá Nguyễn Văn Bính, Phó giám đốc Công an tỉnh Thanh Hóa đã yêu cầu Phòng Cảnh sát kinh tế phải giao trả ngay hai chiếc container chở hàng của người dân, đồng thời động viên bà con về nhà yên tâm làm ăn,

“Đại tá Bính cho biết sẽ tiến hành điều tra, xử lý những vi phạm của cấp dưới trong việc vô cớ chặn bắt xe hàng của người dân,” tờ VnExpress phản ảnh.

Đây không phải là lần đầu tiên người dân Việt Nam phản ứng về nạn xã hội đen bị nghi là có câu kết với cảnh sát và chính quyền địa phương gây ảnh hưởng tới đời sống và làm ăn của người dân.

Nhiều vụ bảo kê được cho là có bàn tay bao che của cảnh sát như nạn ‘Bấm cơm tù‘ ở các bến xe cho tới nạn ‘Bấm chặt chém‘ khách du lịch, hoặc ‘Bấm xin đểu‘ nằm trong số nhiều vụ được truyền thông lên tiếng gần đây.

Xã hội dân sự và công việc từ thiện

Kính Hòa, phóng viên RFA,  2013-11-07

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/civil-society-in-the-salvation-kh-11072013095231.html

kinhhoa11072013.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

lu-lut-1-305.jpg

Người dân tự nguyện cứu trợ lũ lụt ở Hà Tĩnh sau cơn bão số 10 hồi cuối tháng 9 năm 2013.  RFA

Vai trò của các tổ chức dân sự là vô cùng lớn lao trong việc tương trợ xã hôi, đặc biệt là các tổ chức tôn giáo. Tuy nhiên hoạt động đó tại Việt Nam thực sự không dễ dàng.

Ngăn cản cứu trợ

Mỗi năm đến hẹn, những cơn bão từ biển Đông lại tràn lên đất liền, tàn phá cả một dãy duyên hải miền Trung. Công tác báo bão trong thời buổi tin học này đã nhanh hơn rất nhiều so với chục năm trước, khi mà những cơn bão có thể ập vô bất ngờ. Việc đó làm tránh được nhiều tổn thất về nhân mạng và của cải. Tuy vậy, những thiệt hại về mùa màng nhà cửa cũng thường rất nặng nề không tránh khỏi. Cứu giúp những người nghèo sau bão tố thiên tai là một công việc quan trọng cần sự huy động sức lực của toàn xã hội.

Chính trong bối cảnh đó mà những hoạt động dân sự đóng vai trò quan trọng. Các hoạt động dân sự xuất phát từ ý tưởng cá nhân, huy động sự đóng góp của cá nhân, với chỉ một nguyên tắc là tình thương nhằm cứu giúp những đồng bào kém may mắn. Một điều quan trọng nữa là các hoạt động này không làm tiêu tốn một đồng nào của ngân sách nhà nước, mà ở một quốc gia đang phát triển như Việt nam, ngân sách đó cần thiết cho những hoạt động lớn lao hơn.

Tuy vậy, những hoạt động dân sự như thế không hề dễ dàng ở Việt Nam.

Họ bắt ép phải đem về phường và cùng với Nhà nước đứng phân phối theo danh sách như thế nào đó.
-HT Thích Không Tánh

Trong mùa mưa lũ năm nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất đã bị nhà cầm quyền ngăn cản khi mang hàng cứu trợ đến với đồng bào miền Trung, Và Giáo hội cho biết rằng đây không phải là lần đầu tiên bị ngăn trở như vậy. Hòa thượng Thích Không Tánh, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Từ Thiện – Xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất nói với đài Á châu tự do:

Hằng chục năm rồi, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đi đến đâu cứu trợ (có những lần ra ngoài bắc Nghệ An, Thanh Hóa… bị bão lụt nặng), có những lần họ lấy luôn mì hay gạo đem về phường. Cuối cùng có quí vị ở hải ngoại lên tiếng hay sao đó khiến gây ảnh hưởng thế nào đó, họ lại đem quà, mì trả lại cho mình phát. Nhưng đi đâu họ cũng gây nhiều khó khăn, giám sát rất chặt chẽ.

Họ bắt ép phải đem về phường và cùng với Nhà nước đứng phân phối theo danh sách như thế nào đó. Bên chúng tôi không đồng ý. Khi bà con tụ lại tại địa điểm mình tổ chức phát quà, công an ép bà con phải về phường hết, không được ở tại điểm đó.”

Các thành viên của đoàn cứu trợ đã kiên nhẫn thực hiện ước nguyện từ thiện của mình. Cuối cùng thì phẩm vật cũng đến được những người dân đang thiếu thốn. Nhưng hình ảnh hàng chục công an bao vây các nhà sư mang hàng cứu đói đến vùng có thiên tai quả là một nghịch lý.

Tham nhũng hàng cứu trợ

lu-lut-2-250.jpg
Lũ lụt ở Hà Tĩnh sau cơn bão số 10 hồi cuối tháng 9 năm 2013. RFA PHOTO.

Trong khi đó, theo báo mạng Quảng Bình Ngày Nay, cũng trong đợt bão vừa qua, cán bộ nhà nước ở thôn Tân Hải, xã Ngư Thủy Bắc, Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình đã giữ lại tất cả những phẩm vật của những nhà hảo tâm, rồi đem bán lại cho những người dân đang cần được cứu trợ.

Hành động tham nhũng không những phẩm vật cứu trợ mà còn đối với các dự án dân sinh, đã được nhiều người nói đến. Anh Nguyễn Huỳnh Thuật, người đã phát động thành công một phong trào dân sự cứu rừng Nam Cát tiên nói với chúng tôi về sự cần thiết của phong trào dân sự để bù đắp cho những khiếm khuyết của bộ máy nhà nước, cồng kềnh mà thiếu hiệu quả, lại nhiều rủi ro tham ô nhũng lạm, nhất là trong một xứ sở quyền cai trị của một đảng là tuyệt đối:

“Rất cần những người có tâm huyết vì nước vì dân đứng ra hoạt động để bổ sung cho những khiếm khuyết của nhà nước hay những điều mà các lãnh đạo không thể quan tâm được. Ví dụ như có những người tự nguyện lên vùng sâu vùng xa giúp trẻ em đi học, hay là mang những em đã bỏ học trở lại trường. Vừa rồi trong mùa mưa lũ miền Trung có những cá nhân đi làm việc đó bằng tiền túi của mình. Nhà nước thì cũng có những chương trình nhà tình thương, chia tiền giúp người dân vùng lũ nhưng lại bị tham nhũng.”

Nhà nước thì cũng có những chương trình nhà tình thương, chia tiền giúp người dân vùng lũ nhưng lại bị tham nhũng.
-Anh Nguyễn Huỳnh Thuật

Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành hẳn một nghị định từ năm 2008 về việc cứu trợ, trong đó có nghiêm cấm các hành vi ăn chận tiền và hàng cứu trợ. Năm năm đã trôi qua và những hành vi đó vẫn không thể tránh được. Nhưng khi những cá nhân đi làm từ thiện thì không thể có chuyện tham nhũng tiền túi của chính họ được. Đó là một điều rất rõ ràng.

Một cơ cấu ngoại vi của đảng cộng sản được đề cập rất nhiều trong nghị định về cứu trợ của chính phủ Việt Nam, đó là Mặt trận Tổ quốc. Đây là tổ chức trên danh nghĩa tập hợp tất cả các hiệp hội, đoàn thể, tổ chức xã hội… nhưng nó vẫn là một cơ cấu hành chính, mà theo ông Lê Hiếu Đằng một thành viên lâu năm của Mặt trận này, nó không phải là tổ chức dân sự.

Hòa thượng Thích Không Tánh có nói rằng khi lực lượng chức năng đến ngăn cản nhóm của ông thực hiện việc cứu trợ, họ có nói rằng Giáo hội này không có giấy phép. Hòa thượng nói tiếp:

“Chúng tôi nói truyền thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là dân lập, nó đã có từ lâu đời rồi. Chúng tôi không có thỏa hiệp, không có kết hợp với tổ chức chính trị hay chế độ nào bởi vì như thế mang tính cách tuyên truyền chính trị.”

Bản chất của các tổ chức dân sự lại chính là dân lập và độc lập. Chính sự độc lập và tính dân sự ấy làm cho công việc từ thiện tránh được nạn nhũng lạm như vừa xảy ra tại Quảng Bình.

Trong một lần tìm hiểu về phong trào sách hóa nông thôn do ông Nguyễn Quang Thạch chủ xướng, chúng tôi biết rằng ông Thạch rất coi trọng các tổ chức tôn giáo trong hoạt động dân sự. Trong thực tế, các nhà chùa, nhà thờ đã đóng góp rất nhiều cho công việc cứu trợ nói riêng, và các hoạt động tương trợ xã hội nói chung.

Trong câu chuyện thành công của nhóm dân sự Cứu Nam Cát Tiên do anh Nguyễn Huỳnh Thuật khởi xướng, có nhiều những người đồng lý tưởng họp lại với nhau. Những sáng kiến cá nhân sẽ được khuếch lên nhiều lần khi những cá nhân đó có tổ chức. Và có vẻ như sự tổ chức đó lại là nỗi e ngại của nhà cầm quyền.

Ông Hoàng Duy Hùng thất cử ở Houston

Trần Đông Đức, BBC từ Hoa Kỳ, 7 tháng 11, 2013

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/11/131107_hoangduyhung_election_houston.shtml

Ông Hoàng Duy Hùng (trái)Ông Hoàng Duy Hùng (thứ hai, phải sang) trong lần thăm nhà riêng Chủ tịch Triết

Cuộc bầu cử 2013 vừa qua không có sự thay đổi lớn đáng kể nào trong hệ thống chính trị ở Hoa Kỳ nhưng đối với cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ đây là cú thay đổi ngoạn mục đến bất ngờ.

Nghị viên quyền lực Hoàng Duy Hùng của thành phố Houston đã thua cuộc với một nhân vật trẻ tuổi hơn ở cộng đồng, ông Richard Nguyễn, với vốn liếng chính trị khiêm tốn mà cho đến bây giờ, ngoài Houston vẫn chưa ai biết đến.

Richard Nguyễn đã quật ngã Hoàng Duy Hùng một cách dứt khoát, không cần đi vào vòng hai như các nghị viên khác ở Houston. Luật sư Hoàng Duy Hùng đã chấp nhận thua cuộc trước số phiếu áp đảo của đối thủ mà trước đây vài tháng ông ta tỏ không quan tâm sự thách thức. Nghị viên thất cử Hoàng Duy Hùng đã thừa nhận ông ta bỏ bê đối thủ vì tin chắc rằng chiến thắng trong tầm tay.

Chiến thắng của Richard Nguyễn đã làm cho cộng đồng chống cộng nổi tiếng ở Houston như nhổ được một cái gai trong mắt bấy lâu. Sự nghiệp chính trị của Hoàng Duy Hùng đi lên từ con đường chống cộng tạo nhiều tranh cãi trong các phe nhóm hội đoàn đến đây coi như chấm dứt.

Nguyên nhân chính là khi nhập vào dòng chính Hoa Kỳ, đường đường trở thành một nghị viên của một thành phố lớn hàng thứ tư nước Mỹ, ông ta đã thoả hiệp với phía cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, trong chuyến viếng thăm Việt Nam gần đây, Hoàng Duy Hùng có những phát biểu làm hài lòng phía quan chức Việt Nam, cào bằng những vấn đề dân chủ và nhân quyền thậm chí khuynh về Việt Nam liên quan đến một số đề tài về tự do tôn giáo. Nhiều nhân vật trong cộng đồng Việt Nam coi đây là sự phản bội trầm trọng đi ngược lại giá trị cốt lõi của đất nước Hoa Kỳ nơi mà ông đang đại diện.

Sau chuyến đi này, giới truyền thông hải ngoại cũng không đụng chạm và thách thức quan điểm tới nhân vật Hoàng Duy Hùng nữa mà xem như nhân vật ở tầm “ngoại giới” vì địa vị chính trị Hoa Kỳ của ông ta.

‘Một con đường khác’

“Richard Nguyễn có trong tay chính nghĩa của một cộng đồng tị nạn cộng sản đứng sau”

Trần Trí Hoàng, Việt Kiều

Tuy nhiên cộng đồng Việt Nam tại Houston và những người chống Hoàng Duy Hùng đã tìm một con đường khác.

Theo anh Trần Trí Hoàng, một thành viên trong Ban Tham Mưu vận động bầu cử cho Richard Nguyễn, kế hoạch vận động gặp nhiều khó khăn về thời gian và tài chánh cho đến ngày cuối cùng của thời hạn nộp đơn. Yếu tố khách quan và tình cờ để thách thức “người khổng lồ” Hoàng Duy Hùng làm đối thủ không đề phòng.

Ban vận động dùng các phương thức kinh điển và phổ thông như tự lập danh sách bầu cử, phân phát thông tin đến từng hộ gia cư, chùa chiền, và nhà thờ. Đương kim nghị viên Hoàng Duy Hùng sẵn có guồng máy liên lạc làm việc trôi chảy và khả năng tài chánh do quỹ vận động và các cơ sở thương mại Hoa Kỳ. Đặc biệt, uỷ ban vận động của nghị viên Hoàng Duy Hùng còn mướn một người Mỹ làm trưởng ban vận động.

Đây thực sự là một cuộc tranh cử không cân xứng. Richard Nguyễn hoàn toàn là một nhân vật không được biết đến trong cộng đồng Việt Nam cho nên không có sự huy động nào ngoài Houston. Yếu tố khách quan do chuyện tranh cử giữa hai người gốc Việt sẽ không tạo nên tin thần ủng hộ đồng bào Việt Nam như khi ứng cử viên tranh cử với người bản xứ.

Nhưng với sự tự tin của người ủng hộ phe chiến thắng, anh Trần Trí Hoàng tin rằng: “Richard Nguyễn có trong tay chính nghĩa của một cộng đồng tị nạn cộng sản đứng sau. Cộng đồng Việt Nam hải ngoại nói chung không thể bị Hoàng Duy Hùng xúc phạm”.

Với một thái độ dứt khoát và cảm xúc có phần cá nhân chồng chất bấy lâu về nhân vật Hoàng Duy Hùng, Trần Trí Hoàng còn cho rằng “yếu tố khinh địch đối phương mà bị thua không phải là toàn bộ câu chuyện. Trên tất cả đó là vấn đề lập trường và nhân cách của hai ứng cử viên.

Lập trường tạo nhân cách. Không ai có thể chấp nhận được chuyện một nghị viên Hoa Kỳ tiếp xúc với phái đoàn ngoại giao Việt, tới tận tư gia của họ ở Việt Nam và nói lên những điều trái ngược với niềm tin và nguyện vọng của một cộng đồng hải ngoại như thế!”

‘Nghị Viên Bí Mật’

Bầu cử ở HoustonÔng Richard Nguyễn (ngoài cùng, trái) là một đối thủ ‘kém tên tuổi’ trước khi giành chiến thắng bất ngờ

Trả lời với thông tín viên BBC, ông Hoàng Duy Hùng coi đây là ngày tồi tệ nhất trong cuộc đời. Không chỉ chúc mừng tâm nghị viên theo lối xã giao Hoa Kỳ mà Hoàng Duy Hùng còn thừa nhận phe “Bế Quan Toả Cảng” đã thắng. Phiếm chỉ về một trạng thái cự tuyệt ngoại giao với “Tây Phương” dưới thời nhà Nguyễn mà ông gán cho cộng đồng Việt Nam ủng hộ Richard Nguyễn, trong một bức thư, Hoàng Duy Hùng không giấu được cảm xúc chua chát mà ông gọi là “quê và nhục” là đã thua cuộc trước một đối thủ “vô danh”.

Hiện nay, người Việt khắp nơi đang háo hức về thông tin về một tân nghị viên “bí mật” Richard Nguyễn. Chỉ biết được qua một số thông tin từ thân hữu: Nguyễn là một người trẻ, có năng lực và một lập trường vững chắc. Thân phụ của anh là một cựu quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Richard Nguyễn cũng từng là một nhà giáo tại Hoa Kỳ nên anh ta sẽ rất quan tâm đến vấn đề giáo dục và an sinh của người dân trong vùng.

Do sự thiết kế về cấu trúc chính trị Hoa Kỳ, nghị viên thành phố Houston là một trong những đơn vị dân cử quyền lực nhất là người Mỹ gốc Việt đạt được. Người Mỹ gốc Việt tuy đã đạt tới chức dân biểu Hoa Kỳ như Cao Quang Ánh (nay đã mãn nhiệm) và Tạ Đức Trí, đương kim thị trưởng Westminster ở California nhưng Houston vẫn là một đơn vị thành phố có giá trị thực quyền liên quan đến ngoại giao và thương mại cho toàn liên bang Hoa Kỳ.

Làm nghị viên thành phố, luật sư Hoàng Duy Hùng trước đây từng tham gia vào các đề án của thành phố và tạo sức xúc tác kinh tế thương mại với nhà cầm quyền Việt Nam và cả Trung Quốc.

Sự thất cử của một người gốc Việt vào tay một người gốc Việt khác đang trở nên một đề tài thú vị. Người Việt khắp nơi trên đất Hoa Kỳ dường như đang đợi tân nghị viên Richard Nguyễn xuất hiện.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và văn phong của tác giả, người đang là chủ biên tờ Người Việt Đông Bắc tại Hoa Kỳ.

‘Nội lực nhân quyền chưa đủ mạnh’

Nhân quyền ở Việt NamViệt Nam tiếp tục bắt giữ nhiều bloggers và các nhà hoạt động dân chủ ôn hòa

Áp lực đấu tranh đòi tự do, nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam còn chưa đủ mạnh so với các áp lực quốc tế đối với nhà cầm quyền Việt Nam, theo quan điểm của một nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền từ Hà Nội.

Trao đổi với BBC hôm 07/11/2013, bác sỹ Phạm Hồng Sơn cho rằng do các áp lực này chưa đủ mạnh, chính quyền đang có khuynh hướng tỏ ra coi thường, phớt lờ và không đối thoại với nhiều tiếng nói vì dân chủ, nhân quyền trong nước.

Bác sỹ Sơn nói: “Áp lực ở trong nước vẫn chưa đạt đến mức cần thiết, ví dụ so với áp lực phía quốc tế, gần như họ (chính quyền) không coi trọng áp lực trong nước bằng phía quốc tế;

Trong khi sẵn sàng ngồi lại đối thoại, bàn bạc, tranh cãi với các đối tác quốc tế về vấn đề nhân quyền, chính quyền Việt Nam theo ông Sơn, lại chưa từng có một động thái nào cho thấy ‘họ cần nói chuyện một cách sòng phẳng’, hay ‘cần có một tín hiệu đáp ứng một cách ngang bằng’ với những tiếng nói phản đối ở trong nước.

Nhà bất đồng chính kiến liệt kê một số đối tác quốc tế mà Việt Nam đang đối thoại:

“Hiện nay, họ gần như phớt lờ những tiếng nói ở trong nước, trong khi họ đã chấp nhận ngồi vào bàn làm việc đối với rất nhiều đối tác quốc tế, ví dụ như phía Hoa Kỳ, phía Liên hiệp châu Âu, phía Úc và nhiều nước khác.”

Bác sỹ Sơn nói thêm “Chính quyền không chỉ ‘phớt lờ’ mà còn bất chấp và bắt giữ, trấn áp, dùng truyền thông để bôi xấu, mạ lị, phản bác với những lập luận rất vô lý.”

Tuy nhiên, theo ông Sơn về lâu dài, người dân Việt Nam sẽ ‘không thể trông cậy mãi’ vào áp lực quốc tế được trong quá trình đòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền.

‘Tiến bộ trông thấy’

“Những dấu hiệu này phải bao gồm việc thả những người đã đang bị bắt giữ, bỏ tù vì thực thi một cách hòa bình các quyền tự do biểu đạt của họ, thông qua và thực thi công ước chống tra tấn, gỡ bỏ bất kỳ và tất cả các hạn chế về Internet, cải thiện tự do tôn giáo và cho phép xã hội dân chủ vận hành tự do”

Ông Scott Bosby

Phát biểu của nhà bất đồng chính kiến được đưa ra nhân sự kiện một quan chức Bộ ngoai giao Hoa Kỳ, quyền Phó Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách quyền lao động, dân chủ, nhân quyền vừa hoàn tất chuyến thăm Việt Nam, nơi mà ông đã nêu một số nội dung yêu cầu chính quyền Việt Nam cải thiện hồ sơ nhân quyền.

Phát biểu với truyền thông Mỹ hôm 06/11, ông Scotty Busby nói Việt Nam phải đạt được “tiến bộ trông thấy” về nhân quyền trong những tháng tới.

Nhà ngoại giao cao cấp nói Hoa Kỳ cần Việt Nam ‘chỉ ra những dấu hiệu tiến bộ nhân quyền’ trong ngắn hạn.

Ông nói với đài VOA hôm thứ Tư:

“Những dấu hiệu này phải bao gồm việc thả những người đã đang bị bắt giữ, bỏ tù vì thực thi một cách hòa bình các quyền tự do biểu đạt của họ, thông qua và thực thi công ước chống tra tấn, gỡ bỏ bất kỳ và tất cả các hạn chế về Internet, cải thiện tự do tôn giáo và cho phép xã hội dân chủ vận hành tự do.”

Ông Busby được trích thuật nói đã “khuyến khích mạnh mẽ” Việt Nam làm việc với các nhà điều tra quốc tế về nhâ quyền do Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc ở Geneva chỉ định.

Việt Nam đang tìm kiếm một ghế thứ 47 trong Hội đồng này ở Đại hội đồng bảo an mà cuộc bỏ phiếu sẽ diễn ra hôm 12/11.

‘Toan tính đối phó’

“Việt Nam sẽ có những toan tính của họ để làm sao quyền lực, hình ảnh, vị thế chính trị của họ được thuận lợi hơn trong bối cảnh quan hệ quốc tế, cũng như trong quan hệ đối nội của chính quyền”

Bác sỹ Phạm Hồng Sơn

Bác sỹ Phạm Hồng Sơn nói với BBC chuyến thăm của ông Busby không tập trung gây áp lực vào thời hạn này mà mở rộng hơn tới những vấn đề nguyên tắc trong hợp tác giữa hai nước, mà trong đó đòi hỏi cải thiện hồ sơ và thành tích nhân quyền là một nội dung.

Tuần này, một số tổ chức, trong đó có đảng Việt Tân có trụ sở ở Mỹ, đã gửi thư phản đối Hà Nội ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền.

Bình luận về việc ‘Việt Tân’ được cho là muốn ngăn cản Việt Nam gia nhập Hội đồng này, ông Sơn nói:

“Theo quan điểm của tôi, ngay Hội đồng nhân quyền của LHQ hiện nay cũng cần có những cải tổ nhiều hơn, còn Việt Nam vào hay không vào Hội đồng nhân quyền ấy là vấn đề không quan trọng lắm cho tình trạng nhân quyền ở Việt Nam, vì trong lịch sử chúng ta đã biết Hội đồng ấy cũng đã có nhiều thành viên vi phạm nhân quyền.”

Bình luận những yêu cầu mà Phó trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đưa ra với Việt Nam, bác sỹ Sơn lưu ý rằng chính quyền có thể sẽ có những toan tính mang tính đối phó mà không có thay đổi gì một cách thực sự và cơ bản.

“Đương nhiên chính quyền Việt Nam sẽ có những toan tính của họ để làm sao quyền lực, hình ảnh, vị thế chính trị của họ được thuận lợi hơn trong bối cảnh quan hệ quốc tế, cũng như trong quan hệ đối nội của chính quyền,” ông nói với BBC.

Được biết trong chuyến thăm bốn ngày từ ngày 29/10 – 02/11/2013, ông Scott Busby đã gặp giới chức chính quyền Việt Nam và đại diện một số “nhóm xã hội công dân”.

Quốc phòng Việt – Mỹ chậm mà chắc?

Tàu hải quân Mỹ cập cảng ở Đà Nẵng tháng Tư 2012

Một loạt diễn biến đáng chú ‎ ý vừa diễn ra trong tháng 10, cho thấy tiến triển trong quan hệ quốc phòng giữa hai nước cựu thù, Việt Nam và Mỹ.

Đối thoại chính trị – an ninh – quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ lần thứ 6 đã diễn ra ngày 1/10 tại Washington, DC.

Ngày 20/10, một đoàn liên ngành của Việt Nam được đưa ra thăm tàu sân bay USS George Washington, khi tàu này đi qua vùng biển quốc tế gần Việt Nam.

Và trong hai ngày cuối tháng 10, Việt Nam và Hoa Kỳ có đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng lần 4 tại Washington DC từ 28 đến 29/10.

Đối thoại

Cuộc họp hôm 1/10 có sự tham dự của đại diện nhiều lĩnh vực.

Phái đoàn Việt Nam, do Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc dẫn đầu, gồm các đại diện của Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.

Phía Mỹ có đại diện của Bộ Ngoại giao, Quốc phòng, Cơ quan Phát triển Quốc tế và Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, và do quyền trợ lý ngoại trưởng phụ trách vấn đề chính trị quân sự Tom Kelly dẫn đầu.

Tuyên bố chung cho biết hai bên “hài lòng với tiến bộ đạt được trong mấy năm vừa qua”.

Cuộc họp bàn về một loạt chủ đề hợp tác, như chống khủng bố, chống buôn lậu ma tuý, buôn người, các tội phạm an ninh mạng và thực thi pháp luật.

Hai phía đồng ý sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác về tăng cường khả năng ứng phó thiên tai, tìm kiếm và cứu nạn.

Các vấn đề di sản chiến tranh, như tù nhân chiến tranh (POW) và vấn đề người mất tích trong chiến tranh, chất độc dioxin da cam và các bom mìn chưa nổ, cũng được cam kết sẽ tiếp tục bàn thảo.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh tiếp Bộ trưởng Leon Panetta năm 2012Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh tiếp Bộ trưởng Leon Panetta năm 2012

Tương tự, tại đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng trong hai ngày 28-29/10, phía Mỹ tuyên bố Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ với các đồng minh cũng như đối tác mới ở Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam.

Cuộc họp lần thứ tư này có sự tham gia của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, đối thoại với Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Vikram Singh.

Theo truyền thông Việt Nam, phía Mỹ cam kết tiếp tục tăng cường hỗ trợ Việt Nam giải quyết các vấn đề tẩy độc dioxin, xử lý bom mìn cùng vật liệt nổ còn sót lại sau chiến tranh.

Đáng chú ý là việc Mỹ nói sẽ cung cấp thông tin cho phía Việt Nam tìm kiếm hài cốt quân nhân Việt Nam đã hy sinh trong chiến tranh.

Theo chuyên gia kỳ cựu về quốc phòng-chính trị Việt Nam, Carl Thayer, hai cuộc đối thoại nằm trong khuôn khổ Biên bản ghi nhớ chính thức năm 2011 và Tuyên bố chung Việt – Mỹ vừa ra hôm 25/7/2013.

Biên bản ghi nhớ năm 2011 đề ra năm lĩnh vực hợp tác: thiết lập đối thoại cấp cao đều đặn giữa hai bộ Quốc phòng, an ninh hàng hải, tìm kiếm và cứu hộ, nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm về hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc và trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thảm họa thiên tai.

Giáo sư Carl Thayer, trong một bài bình luận hôm 6/11, nói biên bản ghi nhớ này là biện pháp minh bạch nhằm giảm phần nào nỗi sợ từ Trung Quốc rằng Việt Nam và Mỹ thông đồng chống Trung Quốc.

Tiến triển từ từ

Kể từ năm 2011, hợp tác quốc phòng Việt – Mỹ đã tiến triển theo hướng “thận trọng và chậm rãi”, theo ông Carl Thayer.

Nó phản ánh mong muốn của Việt Nam muốn giữ cân bằng trong quan hệ với cả Mỹ và Trung Quốc.

Giáo sư Carl Thayer nói Việt Nam chỉ cho hải quân Mỹ cập cảng một lần mỗi năm và vẫn cấm tàu chiến Mỹ được vào Vịnh Cam Ranh.

Tháng Sáu 2012, khi thăm Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đề nghị cho phép lập Văn phòng Hợp tác Quốc phòng tại Sứ quán Mỹ – nhưng Hà Nội vẫn chưa thông qua.

Lãnh đạo hai nước hồi tháng Bảy xác lập quan hệ Đối tác toàn diện

Mỹ cũng chưa gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam vì lý do nhân quyền.

Một đột phá trong quan hệ là chuyến thăm Mỹ hồi tháng Bảy của Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang, gặp Tổng thống Obama ở Tòa Bạch Ốc.

Qua chuyến thăm, hai bên xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Mỹ, trong đó có đề cập hợp tác nhân đạo – giải quyết hậu quả chiến tranh, quốc phòng-an ninh.

Đến tháng Tám, bên lề một hội nghị ở Brunei, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã nhận lời sẽ thăm Việt Nam vào năm 2014.

Theo giáo sư Carl Thayer, từ năm 2003, Mỹ và Việt Nam đồng ý lần lượt để bộ trưởng quốc phòng đi thăm lẫn nhau ba năm một lần.

Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam đã thăm Washington năm 2003 và 2009, trong khi người tương nhiệm của Mỹ thăm Hà Nội năm 2006 và 2012.

Giáo sư Carl Thayer dự đoán chuyến thăm năm sau của ông Chuck Hagel có thể cho thấy khoảng cách ba năm được chấm dứt, mở đầu cho những lần gặp nhau thường xuyên hơn giữa hai bộ trưởng quốc phòng.

Thời cơ đã đến cho một chế độ đa đảng ở VN?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok.  2013-11-07

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/rig-tim-for-opp-party-11072013052823.html

 11072013-rig-tim-for-opp-party.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
Thanh niên, sinh viên xuống đường phản đối TQ lấn chiếm lãnh hải Việt Nam

Thanh niên, sinh viên xuống đường phản đối TQ lấn chiếm lãnh hải Việt Nam. AFP

Nghe bài này

Những người quan tâm tình hình chính trị tại Việt Nam tiếp tục bàn về chủ trương đa nguyên- đa đảng tại Việt Nam. Theo những người ủng hộ việc thành lập một đảng chính trị hoạt động công khai với đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay thì thời cơ đã chín muồi cho việc đó cũng như lòng dân mong muốn.

Thời cơ

Người gây xôn xao dư luận với chủ trương thành lập một chính đảng tại Việt Nam để hoạt động đối lập với đảng cầm quyền hiện thời là ông Lê Hiếu Đằng. Theo ông này thì thời cơ cho một đảng chính trị hoạt động công khai như thế đã chín muồi.

Tuy nhiên đối với blogger Nguyễn Thiện Nhân, người đưa ra góp ý xây dựng cương lĩnh cho đảng dân chủ- xã hội mà ông Lê Hiếu Đằng chủ xướng lại cho rằng thời cơ ấy vẫn còn lệ thuộc nhiều vào nhà nước hiện nay:

Thời cơ chín muồi nhưng thông tin không đến từng người dân được. Thông thường qua mạng Internet, nhưng mạng bị chặn, bị tường lửa… nên số người tiếp cận được thông tin này còn quá ít; từ đó không dẫn đến một phong trào đủ mạnh, một số lượng đủ mạnh. Chỉ có khi nào truyền thông được mở ra để người Việt Nam có thể tiếp cận được thông tin để họ cùng có ý kiến, cùng có quan điểm, có quyết định gia nhập hay không. Lúc đó mới thể hiện được tinh thần làm chủ của người dân, ý dân thế nào, người dân có chấp nhận đa đảng hay không.

Chủ tịch nước  Việt Nam Trương Tấn Sang. AFP
Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang. AFP

Thời cơ chín muồi nhưng thông tin không đến từng người dân được. Thông thường qua mạng Internet, nhưng mạng bị chặn, bị tường lửa… nên số người tiếp cận được thông tin này còn quá ít; từ đó không dẫn đến một phong trào đủ mạnh, một số lượng đủ mạnh

blogger Nguyễn Thiện Nhân

Chứ không đủ lượng người thì làm thế nào để giải quyết tình huống thời cơ đã đến? Bây giờ nếu nhà nước cứ chặn thông tin như thế này, số người không đủ thì những người mong muốn, có tâm huyết họ phải dùng cách khác. Ví dụ họ phải dùng tính mạng, chứ đấu tranh hoài không được thì sao! Tất nhiên cuối cùng Việt Nam cũng có lối ra thôi. Nếu như đảng Cộng sản mở ra sớm thì sẽ đỡ đi những tính mạng đó; còn vẫn tình huống này thì người ta phải ngã xuống thôi.

Còn giáo sư Hán Nôm Trần Khuê, phó tổng thư ký Đảng Dân chủ Thế Kỷ 21 do ông Hoàng Minh Chính tuyên bố phục hoạt hồi tháng 6 năm 2006, nói về điều này như sau:

Tôi chỉ nhắc câu nói của cố thủ tướng Anh Churchill mà tôi cho là thú vị: ‘Bi quan thì thấy khó khăn trong từng cơ hội, còn lạc quan thì thấy cơ hội trong từng khó khăn’. Vậy thì cùng một hiện tượng, trạng thái, sự kiện thôi nhưng tùy theo người ta bi quan hay lạc quan mà nhìn khác. Còn đối với tôi như chuyện họ trả tự do cho Phương Uyên và mai kia trả tự do cho nhiều người nữa. Điều đó phù hợp xu thế của xã hội và sớm muộn gì cũng phải xảy ra. Tôi thấy vừa rồi họ đi những nước cờ hay, và tôi đang xem sắp tới họ đi nước cờ đại xá thế nào. Nói đại xá và trả tự do cho những tù chính trị, lương tâm như Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân… Đó là xu thế tốt. Còn nếu vẫn giữ những người đó và thả bọn tham nhũng… lại là xu thế khác.

Tôi đang xem sắp tới họ đi nước cờ đại xá thế nào. Nói đại xá và trả tự do cho những tù chính trị, lương tâm như Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân… Đó là xu thế tốt. Còn nếu vẫn giữ những người đó và thả bọn tham nhũng… lại là xu thế khác.

GS Trần Khuê

Cho nên nhìn vào ván cờ đại xá sắp tới người ta sẽ phán đoán tình hình sẽ tốt lên hay xấu đi. Cũng như nước cờ sửa hiến pháp sắp tới, nếu nước cớ cao người ta sẽ sửa một cách nghiêm chỉnh, còn nếu sửa một cách hình thức là nước cờ thấp. Đi thấp đi cao hiện nay nằm trong tay những người cầm quyền. Nếu người ta đi những nước cờ cao, nước cờ tốt thì tình hình tốt lên; còn đi những nước cờ thấp thì tình hình trì trệ. Thế thôi!

An ninh làm hàng rào ngăn chặn người dân đến dự phiên xử LS. Lê Quốc Quân hôm 02/10/2013 tại Hà Nội. AFP
An ninh làm hàng rào ngăn chặn người dân đến dự phiên xử LS. Lê Quốc Quân hôm 02/10/2013 tại Hà Nội. AFP

Ý dân

Một trong những đánh giá của những người cho rằng thời cơ đã chín muồi cho một đảng chính trị đối lập tại Việt Nam ra đời còn là lòng dân đã quá chán ngán hành xử của Đảng Cộng sản Việt Nam lâu nay.

Blogger Nguyễn Thiện Nhân có đánh giá như sau:

Người dân cũng hiểu ra, họ nhìn thấy những kết quả, những hiện tượng trong xã hội và hiểu được rằng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản không còn khả thi nữa. Đó là điều tôi nghĩ cũng đông đảo người dân hiểu được; tuy nhiên lý luận họ không đủ khả năng lý luận, chỉ cảm nhận về mặt hình thức như vậy thôi.

Trong khi đó giáo sư Trần Khuê có phân tích cụ thể hơn về nhìn nhận của người dân trong xã hội về các vấn đề chính trị- xã hội của đất nước như sau:

ở Việt Nam đặc biệt hơn ( như tôi đã nói nhiều lần), gần chết mới nổi giận, mà nổi giận thì rắc rối lắm. Nếu ở trên điều chỉnh tốt, đúng là sẽ diễn biến một cách hòa bình, chuyển biến tốt; còn nếu không sẽ bùng nổ xã hội, gây ra nhiều thiệt hại chung

giáo sư Trần Khuê

Có ít nhất ba loại. Thứ nhất loại luôn lên tiếng, người ta tưởng nguy hiểm nhưng không có gì nguy hiểm vì có gì người ta nói ra cả rồi. Loại không nói năng gì cả, thấy khó chịu cứ nén ép lại. Loại này đông lắm. Tôi cho nén ép rất nguy hiểm. Nguy hiểm ở chỗ nén ép phải xả xú báp, phải xì hơi. Còn tầng lớp ở giữa đại khái, gió chiều ngào theo chiều ấy, bên nào mạnh thì theo bên đó.

Theo tôi tình hình đó ở nước nào cũng có, ở Việt Nam cũng có; nhưng ở Việt Nam đặc biệt hơn ( như tôi đã nói nhiều lần), gần chết mới nổi giận, mà nổi giận thì rắc rối lắm. Nếu ở trên điều chỉnh tốt, đúng là sẽ diễn biến một cách hòa bình, chuyển biến tốt; còn nếu không sẽ bùng nổ xã hội, gây ra nhiều thiệt hại chung.

Một lý do khiến cho nhận định của nhiều người dân trong xã hội hiện nay về tình hình chính trị đất nước không được đúng đắn, theo blogger Nguyễn Thiện Nhân là từ cách thức giáo dục, tuyên truyền của nhà nước cũng như sự bưng bít thông tin. Ông nói:

Người dân đối với vấn đề chính trị thật ra như một tờ giấy trắng thôi. Nếu họ có tiếp cận thông tin, có tư duy về vấn đề này mới hiểu được. Chứ còn nếu như cứ tiếp nhận theo tinh thần mà từ các cấp phổ thông cho đến đại học cử giảng dạy những điều như chủ nghĩa Marx hay gì đấy, làm sao người dân có tiếp cận thông tin khác cũng như có cái gì khác để mà lựa chọn!

Nhiều người thường nhắc đến câu ‘Thiên thời, địa lợi, nhân hòa’ đề cập đến ba yếu tố tốt đẹp cho việc làm nào đó. Đối với việc thành lập ra một đảng chính trị đối lập tại Việt Nam các ý kiến về cả ba yếu tố như thế vẫn còn khác nhau.

Giáo Hội Phật giáo VN Thống Nhất bị sách nhiễu, cản trở khi đi cứu trợ

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok.  2013-11-06

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/difi-tha-uni-budh-chur-11062013061537.html

 11062013-difi-tha-uni-budh-chur.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Mới xuống xe đoàn bị bao vây, phong tỏa trong một khu vực rộng lớn bởi công an giao thông, công an mặc sắc phục và thường phục cộng với sự hỗ trợ của lực lượng dân phòng

Mới xuống xe đoàn bị bao vây, phong tỏa trong một khu vực rộng lớn bởi công an giao thông, công an mặc sắc phục và thường phục cộng với sự hỗ trợ của lực lượng dân phòng. Courtesy danchimviet

Nghe bài này

Sau đợt thiên tai bão lũ tại khu vực miền Trung vừa qua, nhiều tổ chức và cá nhân tham gia góp phần cứu trợ cho những nạn nhân tại đó. Tuy nhiên, khi phái đoàn của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đến làm công tác từ thiện lại bị công an địa phương gây khó khăn.

Gia Minh hỏi chuyện Hòa thượng Thích Không Tánh, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Từ Thiện- Xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất về những thông tin liên quan.

Trước hết hòa thượng Thích Không Tánh cho biết.

Hòa Thượng Thích Không Tánh: Họ bắt ép phải đem về phường và cùng với Nhà nước đứng phân phối theo danh sách như thế nào đó. Bên chúng tôi không đồng ý. Khi bà con tụ lại tại địa điểm mình tổ chức phát quà, công an ép bà con phải về phường hết, không được ở tại điểm đó. Họ cũng ép phải đem hàng vào phường. Họ ép mình vào trong một hội trường của Nhà nước chung với Nhà nước để phân phối; nhưng chúng tôi nói quà này là của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không phải của Nhà nước; hơn nữa Giáo hội Phật Giáo VN Thống Nhất độc lập nên không có sự kết hợp, hòa hợp hay hợp tác gì hết; hãy để chúng tôi được làm việc từ thiện một cách độc lập. Họ o ép nhưng chúng tôi giữ tinh thần đó nên đề nghị họ trả mì, gạo rồi đem ra một góc phường,chứ trong phải hội trường của Nhà nước và chúng tôi kêu gọi bà con, đồng bào là quà này của Giáo Hội Nhất chia xẻ với bà con. Cuối cùng bà con cũng ra và chúng tôi phát được số quà cứu trợ bão lụt đó đến cho bà con.

Họ bắt ép phải đem về phường và cùng với Nhà nước đứng phân phối theo danh sách như thế nào đó. Bên chúng tôi không đồng ý. Khi bà con tụ lại tại địa điểm mình tổ chức phát quà, công an ép bà con phải về phường hết, không được ở tại điểm đó.

Hòa Thượng Thích Không Tánh

Tình hình có khó khăn, cản ngại là đi đâu chúng tôi cũng bị công an đi theo giám sát

Gia Minh: Đây không phải lần đầu tiên Giáo Hội Phật giáo VN Thống Nhất đi làm từ thiện, vậy những lần trước có gặp khó khăn như lần này không?

Hòa Thượng Thích Không Tánh: Hằng chục năm rồi, khi Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất đi đến đâu cứu trợ ( có những lần ra ngoài bắc Nghệ An, Thanh Hóa … bị bão lụt nặng), có những lần họ lấy luôn mì hay gạo đem về phường. Cuối cùng có quí vị ở hải ngoại lên tiếng hay sao đó khiến gây ảnh hưởng thế nào đó, họ lại đem quà, mì trả lại cho mình phát. Nhưng đi đâu họ cũng gây nhiều khó khăn, giám sát rất chặt chẽ. Nhiều lần vẫn bị ngăn cản, họ nói Giáo hội Thống Nhất bất hợp pháp…, yêu cầu Giáo hội phải hợp tác, phải đoàn kết cùng với Nhà nước.

Chúng tôi nói truyền thống của Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất là dân lập, nó đã có từ lâu đời rồi. Chúng tôi không có thỏa hiệp, không có kết hợp với tổ chức chính trị hay chế độ nào bởi vì như thế mang tính cách tuyên truyền chính trị. Riêng về phần Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tức giáo hội do Nhà nước lập ra, thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc nên họ được Nhà nước hỗ trợ. Đối với chúng tôi hình như họ muốn triệt tiêu cho mất đi, nhưng quí Thầy, quí Hòa thượng trong Hội đồng cũng cố gắng để duy trì để giữ nền tảng của một tổ chức tôn giáo dân lập đã được truyền thừa bao nhiêu đời ở Việt Nam.

Có những lần họ lấy luôn mì hay gạo đem về phường. Cuối cùng có quí vị ở hải ngoại lên tiếng hay sao đó khiến gây ảnh hưởng thế nào đó, họ lại đem quà, mì trả lại cho mình phát. Nhưng đi đâu họ cũng gây nhiều khó khăn, giám sát rất chặt chẽ

Hòa Thượng Thích Không Tánh

Gia Minh: Hòa thượng cho biết gặp trở ngại như thế nhưng công tác từ thiện của Giáo hội vẫn phải được tiếp tục, phải không?

Hòa Thượng Thích Không Tánh: Vẫn giữ tinh thần độc lập, vẫn giữ tinh thần truyền thống đó thôi. Nếu có được sự ủng hộ của quí ân nhân, Phật tử, cũng như quí Thầy thuộc Giáo hội Phật giáo Thống Nhất hải ngoại, quí Thầy cũng cố gắng để đem các phần quà đến phát tận tay bà con, đồng bào bị thiên tai, bão lụt. Còn giao cho chính quyền hay giao cho Mặt Trận để Nhà nước làm, chúng tôi không đồng ý chuyện đó.

Gia Minh: Ngoài trường hợp đột xuất thiên tai, bão lụt như thế, còn có những trường hợp cuộc sống khó khăn thường xuyên thì công tác từ thiện giúp cho những người đó được triển khai thế nào?

Hòa Thượng Thích Không Tánh: Cũng nhiều năm, thỉnh thoảng có vài ân nhân họ có lòng từ thiện, hảo tâm giúp đỡ về; thường thường chúng tôi hay cứu trợ cho các cháu bệnh nhi ung bướu. Các cháu bệnh nhi ung bướu bị ung thư nặng và đau khổ vì bị bệnh hành, đôi khi gửi quà chia sẽ đến cho các cháu. Đối với những anh em thương phế binh của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Họ bị thương tật mất chân, mất tay, mù mắt, Giáo hội cố gắng chia xẻ, có tí nào chia xẻ tí nấy. Họ là thành phần không được chế độ chú ý đến nên phải sống âm thầm lặng lẽ, bán vé số, đôi khi xin ăn rất khổ. Nhưng khi Giáo hội chia xẻ cho những anh em đó thì bị Nhà nước cho rằng đó là bọn ngụy, bọn xấu. Chúng tôi có nói rằng họ đâu có gì đâu mà gọi là xấu hay ngụy; nếu quí vị không cho các Thầy làm việc từ thiện, nhân đạo; quí vị mới là ngụy, mới không có nhân đạo.

Những trường hợp như cô nhi-tử sĩ, mồ côi hay khuyết tật…, Nhà nước đều có tổ chức làm và họ lạc quyên, có quốc tế yểm trợ; nên việc đó mình (không tham gia); mình chỉ chiếu cố đến những tình cảnh nào bị bỏ rơi hoặc không ai chiếu cố thôi

Hòa Thượng Thích Không Tánh

Cho nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc cứu trợ cho những anh em thương phế binh VN Cộng Hòa. Còn những trường hợp như cô nhi-tử sĩ, mồ côi hay khuyết tật …, Nhà nước đều có tổ chức làm và họ lạc quyên, có quốc tế yểm trợ; nên việc đó mình (không tham gia); mình chỉ chiếu cố đến những tình cảnh nào bị bỏ rơi hoặc không ai chiếu cố thôi. Còn trường hợp bão lụt, khi nào có bão lụt Giáo hội cố gắng làm để giúp bà con vì trong hoàn cảnh ‘lá lành đùm lá rách’. Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có thể nói là ‘lá rách đùm lá nát’, nhưng chúng tôi cũng ráng.

Công an chính quyền chặn tôi nhiều lắm; đôi khi người ta xuyên tạc tôi nữa nói rằng lấy tiền cứu trợ để ăn chơi… khiến cho Phật tử cũng hoang mang. Thật tội nghiệp, nhưng chúng tôi cũng cố gắng để làm vậy thôi.

Gia Minh: Cám ơn Hòa Thượng.

Hòa Thượng Thích Không Tánh: Cho tôi gửi lời cám ơn đối với toàn thể ân nhân ở hải ngoại mà có lòng hảo tâm nghĩ tưởng đến những tình cảnh đau thương để giúp đỡ. Nhân đây xin chân thành cảm nhận công đức.

A Di Đà Phật.

Tin, bài liên quan

‘Khẩn trương minh oan cho ông Chấn’

Ông Chấn đoàn tụ với gia đình trong ngày đầu ra tù.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang yêu cầu ‘khẩn trương minh oan, đền bù’ cho ông Nguyễn Thanh Chấn, ở tù 10 năm trước khi sắp được xử lại.

Văn phòng Chủ tịch nước Việt Nam gửi văn bản, nói ông Sang yêu cầu Bộ trưởng Công an, Viện trưởng Viện KSND Tối cao, Chánh án TAND Tối cao “khẩn trương minh oan, đền bù, khôi phục quyền lợi hợp pháp cho người bị oan”.

Chủ tịch nước Việt Nam cũng thúc giục “xử lý nghiêm minh người phạm tội và những sai phạm của tập thể, cá nhân thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng đã điều tra, truy tố, xét xử oan đối với ông Chấn và báo cáo Chủ tịch nước kết quả giải quyết”, theo báo Thanh Niên.

Trước đó, Viện Kiểm sát Nhân dân (KSND) Tối cao Việt Nam nói cần “rút kinh nghiệm” qua vụ người tù Nguyễn Thanh Chấn.

Ông Chấn, sinh năm 1961, bị bắt năm 2003 và sau đó bị tòa án tỉnh Bắc Giang tuyên tội giết người, án chung thân.

Nhưng ngày 25/10 năm nay, một người tên Lý Nguyễn Chung ra đầu thú, khai nhận hành vi giết nạn nhân Nguyễn Thị Hoan.

Ông Chấn được tạm đình chỉ thi hành án và tạm thả ngày 4/11, và sẽ được đưa ra xử lại vào ngày 6/11.

Phát biểu với báo trong nước, ông Nguyễn Thế Hùng, người phát ngôn Viện KSND Tối cao, nói “xét về góc độ chủ quan, không ai muốn làm oan cho anh Chấn. Đây là sai sót về mặt khách quan.”

“Chúng ta phải lấy đó là một điều để rút kinh nghiệm, làm sao lỗi này không xảy ra nữa,” ông Hùng nhấn mạnh.

‘Sơ đẳng’

Trong khi đó, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường được dẫn lời nói đã xảy ra lỗi ‘sơ đẳng’ trong quá trình điều tra và xử án.

“Phải nói rằng không có nền tư pháp nào chính xác 100% nhưng để lọt những cái sơ đẳng này, tôi cho là do việc tranh tụng ở tòa chưa được thấu đáo,” ông Cường nói với báo chí.

Theo Viện KSND Tối cao, ngày 15/8/2003 đã xảy ra vụ giết bà Nguyễn Thị Hoan, tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, Bắc Giang.

Hai tuần sau, ông Nguyễn Thanh Chấn bị công an triệu tập và chính thức bị khởi tố, tạm giam ngày 29/9.

Trong phiên tòa ngày 26/3/2004, ông bị tòa tỉnh Bắc Giang tuyên phạm tội giết người.

Lẽ ra bị án tử hình, nhưng ông Chấn nhận án chung thân vì có bố là liệt sĩ.

Bà Nguyễn Thị Yến, Vụ trưởng Vụ 3 của Viện KSND Tối cao, giải thích vào năm 2006, ông Chấn gửi “một số đơn kêu oan”.

“Tuy nhiên những đơn này không gửi đến Viện KSND Tối cao hay TAND Tối cao.”

Ông Nguyễn Thanh Chấn đoàn tụ gia đình ngày 4/11

“Mãi sau này, đơn của ông Chấn mới được chuyển đến Viện. Cùng thời điểm, ngày 5/7/2013, bà Nguyễn Thị Chiến (vợ ông Chấn) có đơn kêu oan gửi đến Cơ quan điều tra Viện KNSD Tối cao. Viện ngay sau đó đã tổ chức xác minh.”

Lá đơn của vợ ông Chấn nói thủ phạm là Lý Nguyễn Chung, trú cùng thôn với ông Chấn.

Nghi phạm này được nói là đã chạy vào sống ở tỉnh Đắk Lắk sau khi gây án.

Các điều tra viên “kiên trì vận động, thuyết phục người thân trong gia đình vận động Chung đầu thú”, theo báo Người Lao Động.

Theo cáo trạng, Lý Nguyễn Chung đã giết người để cướp tài sản khi chỉ mới 14 năm 8 tháng tuổi – yếu tố sẽ giúp bị can hưởng hình phạt thấp.

Dường như đây là nguyên do khiến Chung ra đầu thú ngày 25/10.

Bố của Chung, ông Lý Văn Chúc, cũng bị bắt về hành vi đe dọa giết người.

Viện KSND Tối cao Việt Nam đã khởi tố vụ án hình sự “Giết người” và “Cướp tài sản” và khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam đối với Lý Nguyễn Chung, sinh năm 1988.

Phiên tái thẩm sẽ diễn ra ngày 6/11.

10 năm tù oan, sơ hở luật pháp hay con người?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA.  2013-11-05

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ten-yrs-unjust-punishment-ml-11052013142252.html

 11052013-anoan-ml.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

nguyenthanhchan-danviet.vn-305.jpg

Ông Nguyễn Thanh Chấn, giữa, ngay sau khi được trả tự do hôm 04/11/2013.

Photo courtesy of danviet.vn

Sáng 4-11, ông Nguyễn Thanh Chấn , 52 tuổi, trú tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bị kết tội cố sát với bản án chung thân đã được Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao công bố Quyết định tạm đình chỉ thi hành án.

Ông Nguyễn Thanh Chấn đã được trả tự do và chờ Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao xét xử lại theo trình tự tái thẩm sau 10 năm ngồi tù. Mặc Lâm phỏng vấn LS Trần Đình Triển để tìm hiểu thêm khía cạnh pháp lý của vụ án này. Nhận xét mức độ oan sai của vụ án, LS Triển cho biết:

Ở Việt Nam đây không phải là vụ duy nhất vì trước đây đã có những vụ tương tự. Tuy nhiên việc giam giữ người ta đến 10 năm nhưng nay cho rằng đây là sự oan sai thì theo tôi đánh giá một cách khách quan đó là sự đổi mới về công tác tư pháp đã dám nhìn thẳng vào sự thật, vì oan sai thì phải trả lại cho sự thật.

Tuy nhiên qua vụ việc này dư luận đang đặt ra hai vấn đề. Vấn đề thứ nhất ai làm sai và xử lý như thế nào. Trong Bộ luật hình sự đã có quy định “tội ra các quyết định trái pháp luật” để xử lý những người thiếu trách nhiệm. Hoặc là cố ý mà không nhìn nhận đến nơi đến chốn mang sự oan khuất cho người khác. Tôi cho rằng qua sự việc này thì phải cân nhắc đến việc đó, nếu ai làm sai thì phải xử lý nghiêm minh.

Việc thứ hai là 10 năm thì hậu quả đối với một gia đình, một con người là vô cùng to lớn. Một đời người rất ngắn ngủi mà 10 năm họ bị giam giữ thì về phương diện nhà nước và các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xem xét để bồi thường như thế nào cho thỏa đáng với sự mất mát của họ để cho gia đình người ta an lòng.

Mặc Lâm: Thưa luật sư qua kinh nghiệm của ông chắc ông cũng thấy trong nhiều trường hợp cơ quan điều tra xét hỏi không cho phép bị can quyền có luật sư khi bị hỏi cung. Theo ông vấn đề này xảy ra do những quy định của luật pháp hay do nhân viên điều tra tự tiện quyết định như thế.

Một đời người rất ngắn ngủi mà 10 năm họ bị giam giữ thì về phương diện nhà nước và các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xem xét để bồi thường như thế nào cho thỏa đáng…
– LS Trần Đình Triển

LS Trần Đình Triển: Thật sự trong Bộ luật tố tụng hình sự cho phép luật sư được tham gia từ giai đoạn điều tra và luật sư có quyền cùng với điều tra viên tham gia xét hỏi đối với bị can bị cáo đang bị tạm giam. Luật sư được quyền nêu câu hỏi nhưng phải được sự đồng ý của điều tra viên, đấy là quy định của pháp luật.

Nhưng hiện nay với nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia thì quyền của cơ quan Viện kiểm sát xem xét có cho luật sư  được tham gia từ giai đoạn điều tra hay không, chứ không phải bất cứ nhóm tội phạm nào luật sư cũng có quyền tham gia điều tra.

Hiện nay Liên đoàn Luật sư Việt Nam và một số cơ quan thẩm quyền đang đặt ra vấn đề xem xét lại một số vấn đề để chỉnh sửa thực trạng khách quan hiện nay. Ví dụ như khi người ta bị bắt tạm giam thì luật sư làm thủ tục không thể gặp được bị can bị cáo để họ ký giấy mời, lúc đó thân chủ của bị can đang bị tạm giữ làm giấy mời, khi đưa vào thì nhận được câu trả lời là bị can bị cáo không mời luật sư và có ký vào đơn mời. Vấn đề đặt ra là có phải họ tự nguyện hay không? Họ có bị bức ép hay không?

Kiến nghị của Liên đoàn Luật sư đặt ra là khi họ đang bị tạm giam, tạm giữ thì người thân của họ mời thì bên cơ quan điều tra phải cấp giấy chứng nhận bào chữa hoặc là cơ quan điều tra phải cử điều tra viên cùng với luật sư vào gặp bị can bị cáo để hỏi họ có mời luật sư hay không. Hay là nghi vấn do điều tra viên ý nọ ý kia nên họ không mời. Và cũng có khả năng là điều tra viên ép họ không được mời luật sư. Cả hai tình trạng này cần phải loại bỏ trong suy nghĩ và trong việc tiến hành tố tụng cần phải sửa đổi.

c63Ong-Chan-3-250.jpg
Ông Chấn bật khóc sau khi nhận quyết định được trả tự do. Photo courtesy of danviet.vn

Mặc Lâm: Trong nhiều vụ án oan sai nguyên do từ việc cung cấp chứng cứ để kết tội rất sơ sài và trong rất nhiều trường hợp chứng cứ không thể hiện được do bị cáo làm ra. Thói quen này bao gồm cả cơ quan điều tra làm sai lệch hồ sơ nữa, LS có ý kiến gì về hiện trạng này?

Về luật pháp thì hết sức nghiêm túc và quy định rất đầy đủ nhưng lâu nay tìm ra người làm sai quyết định khởi tố đối với người làm sai luật tố tụng thì chưa có.
– LS Trần Đình Triển

LS Trần Đình Triển: Có những vụ án cơ quan tiến hành tố tụng người ta làm rất nghiêm túc. Cũng có những vụ có sơ xuất ví dụ như thiếu hồ sơ hay bỏ ngoài hồ sơ, hay tài liệu quan trọng hoặc thậm chí có những bút lục thực không có trong hồ sơ vụ án. Những trường hợp đó thì tùy theo tính chất, mức độ luật sư người ta có quyền kiến nghị kể cả bị can bị cáo khi biết được điều đó cũng có quyền kiến nghị để bổ xung vào hồ sơ. Còn nếu khi bị thất lạc mà tài liệu bị mất kể cả hồ sơ bổ xung cũng không khôi phục được và làm trái với vụ án thì trong bộ luật hình sự cũng có tội làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Về luật pháp thì hết sức nghiêm túc và quy định rất đầy đủ nhưng lâu nay tìm ra người làm sai quyết định khởi tố đối với người làm sai luật tố tụng thì chưa có.

Mặc Lâm: Trong trường hợp của ông Nguyễn Thanh Chấn mặc dù chứng cớ không có nhưng tòa sơ thẩm và phúc thẩm vẫn phán quyết theo hướng suy đoán là có tội của Viện kiểm sát và cơ quan điều tra. Phải chăng tòa án đã vi phạm nguyên tắc “suy đoán vô tội” của luật pháp Việt Nam?

LS Trần Đình Triển: Về lý luận trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam có một nguyên tắc, cho phép “suy đoán không có tội” chứ không phải “suy đoán có tội”. Nguyên tắc thì đã đề ra và mọi chứng cứ phải đánh giá một cách trung thực và khách quan tại phiên tòa ví dụ như lời khai của bị can bị cáo, người làm chứng…phải phù hợp với yếu tố khách quan khác có trong hồ sơ vụ án thì khi đó mới được coi là chứng cứ. Nếu việc đánh giá chứng cứ tùy thuộc vào mỗi điều tra viên báo cáo lên kết luận điều tra, rồi một kiểm sát viên lại làm thành cáo trạng để đưa qua Hội đồng xét xử. Tại cấp sơ thẩm thì phụ thuộc vào phiên tòa còn cấp phúc thẩm thì rất ít khi muốn thay đổi bản án của sơ thẩm. Nhiều khi như vậy dẫn đến sự đánh giá không khách quan và dẫn đến oan sai.

Mặc Lâm: Xin cám ơn LS Trần Đình Triển.

‘Ép cung’ trong vụ Nguyễn Thanh Chấn?

Một luật sư từ Hà Nội nói vụ ông Nguyễn Thanh Chấn bị tù oan là “một vụ án điển hình xuất phát từ ép cung”.

Trả lời BBC Tiếng Việt hôm 5/1, một ngày trước phiên tái thẩm xét lại vụ giết người 8/2003 và bản án chung thân cho bị cáo Nguyễn Thanh Chấn, luật sư Trần Vũ Hải nói việc ép cung “không phải là không phổ biến” và “phải nói là có việc tra tấn” trong quá trình điều tra.

Ông Hải nói: “Việc Việt Nam cuối năm nay quyết định tham gia Công ước Chống Tra tấn là việc rất đáng hoan nghênh.”

“Hy vọng việc tham gia này sẽ làm giảm bớt việc ép cung, tra tấn những người bị tình nghi dẫn tới việc họ tự khai những điều không đúng về mình cũng như về người khác, làm hỏng sự thật, từ đó dẫn tới truy tố xét xử oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.”

Trong vụ ông Nguyễn Thanh Chấn, luật sư Hải nói nếu phiên tòa tái thẩm xác định bản án trước đây là sai, Tòa Phúc thẩm Tòa án Tối cao sẽ là cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất cho người bị tù oan.

Tuy nhiên, ông nói việc truy tố trách nhiệm hình sự đối với những người đã điều tra, xét xử oan sai tuy luật có quy định nhưng là “điều khó xảy ra ở Việt Nam”.

Hoa Kỳ quan tâm đến Xã hội Dân Sự ở Việt Nam

Trà Mi-VOA. 04.11.2013
Ở Việt Nam, các ý kiến của nhóm trí thức ngoài đảng, độc lập thường không được nhóm trí thức trong đảng quan tâm và ngược lại.

Ở Việt Nam, các ý kiến của nhóm trí thức ngoài đảng, độc lập thường không được nhóm trí thức trong đảng quan tâm và ngược lại.

 
Tin liên hệ

Trà Mi-VOA. 04.11.2013

Phó Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động gặp gỡ giới hoạt động xã hội tại Việt Nam để tìm hiểu về hiện tình Xã hội Dân sự và Diễn đàn Xã hội Dân sự trong nước.  

Trong cuộc phỏng vấn dành riêng cho VOA Việt ngữ sau cuộc trao đổi với ông Scott Busby cuối tuần qua, nhà báo tự do Phạm Chí Dũng, ngòi bút được nhiều người biết đến qua các bài phân tích về tình hình xã hội và Xã hội Dân sự tại Việt Nam, cho biết cuộc gặp là một tín hiệu chứng tỏ sự quan tâm của chính phủ Mỹ về nhu cầu phát triển của Xã hội Dân sự và vai trò đóng góp cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.  

Ông Phạm Chí Dũng: Tôi đã trình bày cho ông Scott Busby một số nét cơ bản về hiện tình xã hội dân sự ở Việt Nam. Hoạt động dân sự ở Việt Nam không nhắm đến việc tranh giành quyền lực đối với chính thể đương nhiệm, mà chỉ nhằm làm cho chính quyền nhận ra được những sai lầm trong chính sách và quá trình thực hiện chính sách, từ đó tiến hành hủy bỏ hoặc điều chỉnh những chính sách, nhân sự thực hiện.

Ôn hòa, bất bạo động, tránh đổ máu là những đặc trưng trong phương pháp hoạt động của xã hội dân sự và các phong trào dân sự. Chính phương châm này đang và sẽ loại trừ tâm trạng lo lắng đầu tiên của những người muốn tham gia phong trào dân sự là liệu họ có bị sách nhiễu hoặc thậm chí bị bắt bởi những hoạt động thuần túy xã hội của mình.

Xã hội Việt Nam đang hình thành những điều kiện ban đầu cho việc hình thành những phong trào dân sự. Kinh tế lụn bại, tham nhũng chưa từng thấy, xã hội nhiễu nhương đạo lý, chính trị bất nhất đạo đức, tình cảm của người dân chuyển từ bức xúc đến phẫn nộ rồi phẫn uất.

Có rất nhiều minh họa đậm nét về tình trạng đó, từ thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi vô lối, nạn tàn phá môi trường và môi sinh, cho đến quốc nạn tham nhũng. Cùng lúc, các nhóm lợi ích độc quyền về xăng dầu, điện lực, các nhóm lợi ích thị trường như bất động sản, chứng khoán, và các nhóm lợi ích chính sách như Vinashin và Vinalines đã lũng đoạn ghê gớm nền kinh tế và môi trường dân sinh.

Hoa Kỳ quan tâm đến Xã hội Dân Sự ở Việt Nam

VOA: Xin anh cho biết những điểm chính anh đã trao đổi với Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Xã hội Dân sự Việt Nam hiện nay?

Ôn hòa, bất bạo động, tránh đổ máu là những đặc trưng trong phương pháp hoạt động của xã hội dân sự và các phong trào dân sự. Chính phương châm này đang và sẽ loại trừ tâm trạng lo lắng đầu tiên của những người muốn tham gia phong trào dân sự…
Nhà báo Phạm Chí Dũng.

​ Trong bối cảnh khủng hoảng toàn diện và sâu sắc như thế, những người muốn có một sự thay đổi lớn lao về thể chế chính trị không phải là ít.

Xã hội dân sự là một trong những phương cách tốt nhất để tạo nên sự thay đổi cấp thiết ấy. Đó cũng chính là nhu cầu xã hội đang gấp rút nảy sinh trong lòng xã hội Việt Nam đương đại, đòi hỏi phải có những tác động phi chính phủ, tức hoạt động nằm ngoài khuôn khổ của đảng và chính quyền, giúp cho người dân nhận thức được bản chất của những mâu thuẫn, khó khăn, xung đột và tìm cách giải quyết phần nào những mối nguy đó.

VOA: Theo anh, thành phần chính đóng góp trong Xã hội Dân sự Việt Nam hiện tại gồm những ai và xu thế phát triển trong tương lai sẽ như thế nào?

Nhà báo Phạm Chí Dũng.Nhà báo Phạm Chí Dũng.

Ông Phạm Chí Dũng: Có quan điểm cho rằng lực lượng những người bất đồng, lực lượng dân chủ sẽ đóng vai trò chính. Thế nhưng, theo tôi, lực lượng dân chủ và những người bất đồng chính kiến tại Việt Nam hiện nay còn rất mỏng. Sự chuyển đổi cơ bản có lẽ sẽ bắt đầu từ những người được coi là ở giới ‘trung dung’ bức xúc trước hiện tình dân tộc. Lực lượng đó có thể nằm trong nội bộ đảng. Điều này tôi rút ra từ kinh nghiệm chuyển đổi ở Liên Xô cũ và nhiều nước Đông Âu vào thập niên 90, nhóm trí thức phản biện độc lập có vai trò khởi phát, dẫn dắt, nhưng lực lượng trí thức trong hệ thống nhà nước mới là nhân tố quyết định để tác động đối với đảng và chính quyền, tạo ra một thay đổi đủ lớn về chính sách, con người và cả thể chế.

VOA: Như anh vừa trình bày, lực lượng chính của Xã hội Dân sự Việt Nam hiện nay là lực lượng dân chủ và bất đồng chính kiến. Với thành phần nồng cốt như vậy liệu Xã hội Dân sự Việt Nam có điều kiện phát triển chăng giữa bối cảnh nhà nước Việt Nam cương quyết không dung chấp quan điểm bất đồng?

Ông Phạm Chí Dũng: Tôi cho là đang có điều kiện để phát triển, nhưng điều kiện phát triển ở đây phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố đối ngoại chứ không phải là yếu tố nội lực từ các nhóm dân chủ. Bởi lẽ hiện nay ở Việt Nam có khoảng 10 nhóm dân sự đang hoạt động, nhưng họ không liên hệ mật thiết với nhau, tách rời, tản mác.

VOA: Ngoài ra, anh còn nhìn thấy những ưu-khuyết điểm nào khác của Xã hội Dân sự Việt Nam?

Tôi không nghĩ là Xã hội Dân sự Việt Nam cần sự hỗ trợ tài chính vì như vậy rất dễ bị quy kết là nhận tiền nước ngoài âm mưu lật đổ chính quyền. Theo tôi, sự hỗ trợ từ nước ngoài hay từ Mỹ với Xã hội Dân sự Việt Nam là sự giúp đỡ về mặt tinh thần.

Ông Phạm Chí Dũng: Điểm duy nhất là tình trạng xa cách giữa hai nhóm trí thức trong và ngoài nhà nước, đây là yếu điểm nguy hiểm nhất trên con đường cải hóa các mục tiêu xã hội và chính trị, gây loãng tác động điều chỉnh chính sách và càng làm cho đời sống dân tình trở nên khốn khó, bức bách hơn. Các ý kiến của nhóm trí thức ngoài đảng, độc lập thường không được nhóm trí thức trong đảng quan tâm và ngược lại.

VOA: Làm thế nào có thể khắc phục những khuyết điểm đó?

Ông Phạm Chí Dũng: Phải liên kết, kết nối với nhau, không nên phân biệt ‘lề trái’ hay ‘lề phải’, mà phải theo một lề chung là lề của dân tộc, chia sẻ các vấn đề xã hội.  

VOA: Những mục tiêu chính của Xã hội Dân sự Việt Nam cụ thể là gì?

Ông Phạm Chí Dũng: Ông Scott Busby cũng hỏi tôi ý này. Theo tôi, có hai nhóm mục tiêu chính là nhóm chính trị – xã hội và nhóm kinh tế – xã hội.

Những mục tiêu chính trị – xã hội là việc lên tiếng bảo vệ chủ quyền biển đảo, hạn chế sự phụ thuộc của nền kinh tế và chính trị Việt Nam vào Trung Quốc; phản biện chống tham nhũng và các nhóm lợi ích, nhóm thân hữu; thúc đẩy Quốc hội sớm ban hành Luật biểu tình, Luật lập hội, Luật trưng cầu dân ý; thúc đẩy tiếng nói của trí thức độc lập tại Quốc hội; thúc đẩy tính hợp hiến và hợp pháp hóa của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo; phản biện đối với các điều luật chính trị hóa hành vi phản phản biện như điều 79, 87, 88, 258 trong Bộ luật hình sự; phản biện đối với điều kiện giam giữ phạm nhân trong các trại giam; hỗ trợ tinh thần và vật chất cho các gia đình có người bị giam giữ, liên quan đến yếu tố chính trị…

Còn mục tiêu kinh tế – xã hội là bảo vệ quyền lợi của nông dân trước hành vi trưng thu đất đai bất hợp pháp và vô lối; phản biện đối với chủ đề sở hữu trong Luật đất đai và cơ chế thu hồi đất đối với các dự án kinh tế – xã hội; bảo vệ quyền lợi của công nhân và thị dân về điều kiện làm việc và an sinh xã hội; đấu tranh chống tác động tiêu cực của một số doanh nghiệp đối với môi trường tự nhiên…

Xã hội dân sự cũng cần phản biện đối với một số vấn đề kinh tế gay gắt như nợ công quốc gia; nợ và nợ xấu; tính độc quyền của kinh tế quốc doanh và một số tập đoàn; ngân hàng; các thị trường đầu cơ như vàng, bất động sản; những ngành có liên quan mật thiết đến người tiêu dùng như điện, xăng dầu, nước…

Nhưng về phần mình, xã hội dân sự cũng phải thể hiện tính văn hóa qua việc phản biện với những tiếng nói thiếu tinh thần xây dựng và thiếu đoàn kết trong giới hoạt động dân chủ ở Việt Nam và hải ngoại.

VOA: Nếu như có được sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ, giới trí thức Việt Nam cần sự hỗ trợ đó từ khía cạnh nào?

Ông Phạm Chí Dũng: Xã hội Dân sự Mỹ phát triển và trở thành mô hình tiêu biểu cho Xã hội Dân sự trên thế giới. Tôi không nghĩ là Xã hội Dân sự Việt Nam cần sự hỗ trợ tài chính vì như vậy rất dễ bị quy kết là nhận tiền nước ngoài âm mưu lật đổ chính quyền. Theo tôi, sự hỗ trợ từ nước ngoài hay từ Mỹ với Xã hội Dân sự Việt Nam là sự giúp đỡ về mặt tinh thần, đứng ra bảo trợ những hoạt động thuần túy của Xã hội Dân sự như văn hóa dân sự. Trao đổi, giao lưu văn hóa cũng là một trong những mặt của Xã hội Dân sự, hay như thành lập các tổ chức nghiệp đoàn lao động liên quan đến quy chế vận hành Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Ngoài ra, giới nhân sĩ trí thức Việt Nam cũng cần  có sự hỗ trợ của trí thức hải ngoại và các chính phủ, các tổ chức nhân quyền quốc tế về việc thành lập Diễn đàn Dân sự không chỉ trên mạng, nhằm trao đổi ý kiến chuyên môn.

VOA: Những nguyện vọng đó anh có dịp nêu lên trong cuộc gặp với Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ vừa rồi?

Ông Phạm Chí Dũng: Tôi đã đề cập tất cả những nguyện vọng đó. Ông Busby tỏ ra tán đồng với tôi về những đề nghị của tôi, kể cả đề xuất của tôi khi nói về kịch bản như Miến Điện.

VOA: Theo anh, cuộc gặp này có mang đến tín hiệu hứa hẹn gì không cho giới hoạt động Xã hội Dân sự ở Việt Nam?

Ông Phạm Chí Dũng: Qua cuộc gặp ông Busby, từ thái độ quan tâm chân thành của ông cho thấy ít nhất Bộ Ngoại giao và Quốc hội Mỹ cũng đang bắt đầu quan tâm tới vấn đề Xã hội Dân sự ở Việt Nam một cách thực tế, hữu hiệu hơn nhằm làm sao thúc đẩy vai trò của Xã hội Dân sự Việt Nam trong vài năm tới đây.

VOA: Xin chân thành cảm ơn anh đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

Tham nhũng màu hồng và bàn tay rửa sạch

Một người nước ngoài xin kín tên kể lại rằng cứ đều đặn mỗi năm một lần, ông được mời dự những cuộc hội thảo sang trọng về chống tham nhũng hoặc bàn về giải pháp chống nạn hối lộ ở Việt Nam. Rồi cứ sau mỗi lần kết thúc hội thảo, ông lại lặng lẽ vào xe hơi, lấy khan mù xoa chà xát lòng bàn tay. Còn khi về nhà, ông vội rửa sạch bàn tay ấy bằng ít nhất hai lớp xà bông.

Đó là bàn tay được dùng để bắt tay những quan chức Việt Nam đến dự cuộc hội thảo, giống như ông.

Nhưng khác hẳn ông, không ai dám chắc bàn tay những quan chức người Việt ấy đã chưa từng vấy bẩn bởi đồng tiền hối lộ.

Khó có thể diễn tả về cảm giác của người nước ngoài đó. Nheo mắt và cả nhăn mũi, cứ như ông đang phải đứng quá gần với một cái xác chuột bị xe cán be bét máu nằm lộ thiên ngoài đường phố – cảnh tượng đã trở thành “món ăn” thường ngày ở ít nhất hai thành phố lớn Hà Nội và Sài Gòn.

Ăn như rồng cuốn…

Cuối tháng 10/2013. Mùa thu Hà Nội. Năm nay, một lần nữa cuộc hội thảo về chống tham nhũng được tổ chức. Nhưng lần này, cái tên của hội thảo được cách điệu khá nhiều so với những năm trước: “Tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, hướng tới thúc đẩy liêm chính trong kinh doanh tại Việt Nam”. Những cơ quan Việt Nam chịu trách nhiệm chính đạo diễn cuộc hội thảo này là Thanh tra chính phủ và Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Gần như quy luật, luôn có mặt ít nhất một “nhà tài trợ” nào đó của quốc tế. Lần này, đó là Đại sứ quán Anh quốc.

Cuộc hội thảo này lại diễn ra trùng với bầu không khí “thảo luận nghiêm túc” của Quốc hội Việt Nam về những “cơ hội và thách thức” mà nền kinh tế quốc gia và xã hội nước nhà đang phải đối mặt. Nhưng khác với không khí thỏa hiệp trong những kỳ họp quốc hội trước đây, vào lần này một số đại biểu quốc hội đã can đảm hơn khi ẩn dụ về một bức tranh theo trường phái dã thú: báo cáo kinh tế – xã hội của Chính phủ màu hồng, cách nhìn của quốc hội là màu xám, trong khi nhân dân chỉ nhận ra màu tối.

Thế còn bức tranh tham nhũng màu gì?

Như một thông lệ, thực trạng tham nhũng đã trở nên quá tồi tệ luôn không được phản ánh đủ sâu bởi các cơ quan chức năng Việt Nam – một quốc gia nằm gần sát đáy thế giới về tính minh bạch, mà lại do các doanh nghiệp – nạn nhân của nạn nhũng nhiễu, và từ giới chuyên gia quốc tế – những người được xem là sạch sẽ hơn rất nhiều lần giới quan chức tham nhũng bản địa.

“Tham nhũng ở Việt Nam đang nằm trong vòng luẩn quẩn” – như một ngụ ý của ông Soren Davidsen, chuyên gia Ngân hàng thế giới (WB), tại cuộc hội thảo.

Vòng luẩn quẩn đó, theo ông Davidsen, là hành vi công chức nhà nước gây khó dễ khiến doanh nghiệp và người dân phát sinh động cơ đưa hối lộ, sau đó khó khăn được giải quyết khiến công chức có động cơ để tiếp tục chu trình gây khó dễ.

Ông Davidsen cho biết 63% doanh nghiệp phải trả các khoản phí không chính thức nhằm tạo ra cơ chế ngầm để được giải quyết công việc nhanh chóng; 63% doanh nghiệp nói công chức cố tình kéo dài thời gian xử lý để gây khó dễ; 79% công chức đổ lỗi cho lương thấp là động cơ để tham nhũng…

Đặc biệt, 75% doanh nghiệp hối lộ dù không bị gợi ý.

Còn số liệu từ ông Trần Đức Lượng, Phó tổng thanh tra chính phủ Việt Nam, lại thấp hơn một chút: 70% số trường hợp đưa hối lộ là do doanh nghiệp chủ động thực hiện; chỉ có 30% số trường hợp doanh nghiệp đưa hối lộ là do công chức gợi ý, nhũng nhiễu.

Đến lúc này, một tờ báo Việt Nam đã phải mỉa mai: nếu các nghiên cứu trước đây và kể cả dư luận xã hội chủ yếu cho rằng doanh nghiệp là nạn nhân của tham nhũng, thì nay đã rõ hơn khi doanh nghiệp sẵn sàng thỏa hiệp với các tệ nạn, dùng tiền bạc hối lộ để tìm lợi thế trong kinh doanh, giành hợp đồng, hoặc đơn giản “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” để phòng ngừa phiền hà, nhũng nhiễu có thể sẽ xảy ra nơi cửa công.

Thậm chí, những người nước ngoài còn thấm nhuần cả câu tục ngữ Việt Nam “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa”.

5 tội đồ đặc biệt tham nhũng

Một lần nữa trong không biết bao nhiêu lần từ quá nhiều năm qua, cuộc hội thảo trên đã “phát hiện” ra nạn tham nhũng vặt đang trở nên lan tràn ở Việt Nam khi có tới 80% số cán bộ nhân viên trong các doanh nghiệp cho rằng hiện tượng này là “rất phổ biến”.

Đã từ rất lâu, tham nhũng vặt được hiểu đơn giản là việc doanh nghiệp phải chi các khoản tiền hối lộ nhỏ để đối phó với sự nhũng nhiễu, vòi vĩnh của cán bộ công chức hoặc các đơn vị cung cấp dịch vụ công.

Cũng là số liệu được nêu ra từ ông Davidsen: nếu như năm 2005, 56% doanh nghiệp cho biết có hiện tượng kéo dài thời gian giải quyết công việc, thì năm 2012 tăng lên tới 67%; đối với chuyện giải thích không rõ để cố tình bắt lỗi doanh nghiệp, năm 2005 khoảng 45% thì năm 2012 tăng lên 66%; đối với chuyện bám vào các quy định không chặt chẽ để bắt bí doanh nghiệp thì năm 2005 khoảng 39%, năm 2012 tăng lên 54%; còn đưa thông tin hù dọa gây sức ép tăng từ 16% lên 23% vào năm 2012…

Một cuộc khảo sát ý kiến doanh nghiệp vào năm 2012 đã cho thấy đa số các ý kiến trả lời cho rằng, cán bộ công chức cố tình kéo dài thời gian giải quyết công việc, không giải thích rõ quy trình để bắt lỗi doanh nghiệp, cố tình đặt ra các quy trình sai quy định để gây nhũng nhiễu.

Có tới 81% doanh nghiệp cho rằng, tham nhũng vặt gây lãng phí thời gian, tăng chi phí và gây tâm lý bức xúc cho họ.

“Chứng tỏ doanh nghiệp vừa là nạn nhân vừa là tác nhân của tham nhũng”- Phó tổng thanh tra Trần Đức Lượng trần tình như một lời an ủi. Tình cảm vấn an này cũng rất phù hợp với tên gọi của cuộc hội thảo. Quan chức Việt Nam dường như đồng lòng đá quả bóng về phía các doanh nghiệp cùng xứ, trong khi giới chức điều hành bộ ngành tỏ ra “vô can”.

Thanh tra chính phủ cũng là một trong những cơ quan bị công luận và người dân chỉ trích nhiều nhất, bởi trong nhiều năm qua cơ quan này đã rất ít khi “phát hiện tham nhũng”.

Ngược lại, dẫn số liệu từ khảo sát tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức do Thanh tra Chính phủ và WB công bố vào năm ngoái, ông Davidsen kết luận: từ năm 2005 đến năm 2012, tình trạng tham nhũng của công chức không được cải thiện mà ngày càng tệ hại hơn.

Bà Trần Thị Lan Hương, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới, còn nêu ra một kết luận chi tiết hơn: “Các ngành, lĩnh vực tham nhũng nhất theo góc nhìn của doanh nghiệp gồm: cảnh sát giao thông; quản lý đất đai; xây dựng; hải quan; y tế và thuế…”.

Kết luận trên được dựa theo khảo sát 2012, tuy được xem là một “phát hiện”, nhưng thật ra hoàn toàn không mới nếu đối chiếu với vô số điềm chỉ và nguyền rủa tham nhũng từ người dân và báo chí trong những năm qua.

Trong số nguyền rủa đó, tất nhiên có cả giới đầu tư nước ngoài – những người không dám lên tiếng, song không ít ý kiến cho rằng tham nhũng vặt chiếm đến ít nhất 40% lý do giới này không còn tha thiết gì với môi trường đầu tư ở Việt Nam.

Bàn tay nào?

Vẫn như thông lệ, các cuộc hội thảo về phòng chống tham nhũng không nêu ra một địa chỉ cụ thể nào. Trong khi đó, dư luận xã hội Việt Nam đang dậy lên 10 vụ đại án, trong đó có vụ khủng khiếp như Tập đoàn tàu thủy Vinalines.

Trước đó, Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin cũng đã trở thành tai họa cho dân nghèo Việt Nam với số nợ lên đến ít nhất 80.000 tỷ đồng, đủ xây dựng 214.000 phòng học hoặc 53.000 trạm xá xã…

Còn trước đó nữa, không ai có thể lãng quên những vụ tham nhũng chấn động liên quan trực tiếp đến viện trợ ODA như PMU 18, Đại lộ Đông – Tây. Những vụ việc này đều có số “lại quả” ít nhất 10% giá trị hợp đồng.

Gần đây, người ta mới công bố một phát hiện về tỷ lệ nâng khống đến mức trí não bình thường của con người khó mà tưởng tượng: từ việc mua lại thiết bị lặn với giá 100 triệu đồng, Tổng giám đốc Công ty Cho thuê tài chính II (thuộc Ngân hàng Agribank) Vũ Quốc Hảo đã cùng các tòng phạm “thổi” giá lên thành 130 tỉ đồng, tức gấp đến 1.300 lần, để chia chác nhau…

Cuối cùng và vẫn là câu hỏi vĩnh viễn: làm thế nào để hạn chế tham nhũng?

Một quan chức của VCCI – ông Nguyễn Quang Vinh – nêu ra ý kiến: Chỉ khi bàn tay doanh nghiệp – bàn tay Chính phủ cùng hòa nhịp thì phòng chống tham nhũng mới hy vọng chuyển biến.

Bàn tay nào?

Đến giờ này, quá nhiều câu chữ khôn lanh cùng thói vặt vãnh đã biến bức tranh tham nhũng thành màu hồng chuyên, mô tả cho cái bắt tay giữa các doanh nghiệp với cơ quan công quyền để cùng đẩy bộ máy điều hành Việt Nam xuống tiệm cận với đáy minh bạch của thế giới.

Hay phải ngộ về cái bắt tay của vị khách nước ngoài với các quan chức người Việt mà sau khi về nhà ông đã phải chà xát ít nhất hai lần bằng xà bông?

Phạm Chí Dũng, Việt Nam 03-11-2013

*RFA: Nội dung bài viết này không phản ảnh quan điểm của RFA

Tin, bài liên quan

Khủng bố hay tuyệt vọng?

Vụ tấn công ở Quảng trường Thiên An MônTrung Quốc đã tăng cường an ninh tại Bắc Kinh và tăng cường giám sát Tân Cương sau vụ việc

Truyền thông nhà nước Trung Quốc phê phán truyền thông phương Tây áp dụng “tiêu chuẩn kép” trong vụ đâm ô tô trên Quảng trường Thiên An Môn hôm 28/10.

Truyền thông Trung Quốc trả đũa kênh truyền hình CNN của Mỹ đã đăng tải ý kiến của các học giả Mỹ liên kết vụ việc này với các chính sách của chính quyền Trung Quốc đối với người Duy Ngô Nhĩ thiểu số theo đạo Hồi.

Cảnh sát Bắc Kinh cho rằng đây là một vụ “tấn công khủng bố” do những “kẻ cực đoan tôn giáo” đến từ khu tự trị Tân Cương thực hiện.

Tuy nhiên, các nhóm Duy Ngô Nhĩ lưu vong thì cho rằng sự cai trị mạnh tay của Bắc Kinh đã châm ngòi cho căng thẳng sắc tộc và cần phải có một cuộc điều tra minh bạch về vụ việc ở Thiên An Môn.

‘Biện hộ khủng bố’

Hôm thứ Năm ngày 31/10, ông Sean R Roberts, một chuyên gia về Tân Cương ở Đại học George Washington, viết trên trang web của CNN rằng liệu vụ đâm xe này “là một hành động khủng bố được chuẩn bị kỹ hay là một tiếng kêu gào vội vã trong tuyệt vọng của một người bị đặt ra tận cùng ngoài lề của cỗ máy phát triển khổng lồ của Trung Quốc”.

Tờ Hoàn cầu Thời báo (Global Times) cho rằng lần này CNN “đã đi quá xa”.

“Mới cách nay vài ngày, một đứa trẻ lên kênh truyền hình ABC của Mỹ nói ‘giết hết người Trung Quốc’. Một vài ngày sau, trang chủ của CNN lại biện hộ các phần tử khủng bố hung hãn muốn đem giết chóc đến Quảng trường Thiên An Môn. Chúng tôi muốn nói với truyền thông Mỹ: Hãy tự trọng một chút,” tờ báo này viết.

“Chúng tôi muốn nói với truyền thông Mỹ: Hãy tự trọng một chút.”

Hoàn cầu Thời báo

Trong khi đó, một bài viết được đăng trên trang blog của CNN hôm thứ Sáu ngày 1/11 của tác giả Robert Daly, giám đốc Viện Kissinger về Trung Quốc và Mỹ tại Trung tâm Woodrow Wilson, cũng đưa ra những lời chỉ trích Bắc Kinh tương tự.

Hoàn cầu Thời báo chê trách lời bình luận của ông Daly rằng chính “xu hướng bí mật” trong việc kiểm duyệt những thông tin về vụ nổ ở Thiên An Môn đã làm cho các nước khác khó mà bày tỏ sự cảm thông với Trung Quốc.

Trong khi đó, nhật báo Anh ngữ China Daily cũng phê phán bản tin của hãng tin Pháp AFP rằng người Duy Ngô Nhĩ ở Trung Quốc và hải ngoại đặt nghi vấn về thông tin do phía Trung Quốc đưa ra về “vụ tấn công khủng bố” như là “một cái cớ mơ hồ để gia tăng đàn áp” người dân Duy Ngô Nhĩ.

Trong một cuộc phỏng vấn với AFP, ông Alim Seytoff, một phát ngôn nhân đóng ở Mỹ của Tổ chức Đại hội Duy Ngô Nhĩ Thế giới hoạt động ở hải ngoại, đặt vấn đề tại sao một kẻ tấn công khủng bố lại giết chính mẹ và vợ của mình và làm sao mà các tài liệu tôn giáo có thể còn nguyên vẹn trong một chiếc xe trùm ngọn lửa đỏ.

“Một số kẻ ở phương Tây rõ ràng là đang đi tiêu chuẩn kép. Các cuộc tấn công vào thường dân vô tội ở Mỹ hay các nước phương Tây thì là tấn công khủng bố trong khi các cuộc tấn công tương tự vào dân thường ở Trung Quốc lại là chuyện khác. Hoặc là họ có một sự sợ hãi về người dân Trung Quốc và châu Á hoặc là họ nhìn hành động khủng bố qua lăng kính của ý thức hệ Chiến tranh Lạnh,” China Daily viết.

Các bài liên quan

Paris tưởng niệm 50 năm cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu qua đời

presi\dent-ngo

Tổng thống Ngô Đình Diệm trong chuyền công du Hoa Kỳ năm 1957. Courtesy photo vicomtech.net

Ngày 2 tháng 11 vừa qua, Người Việt tại nhiều quốc gia trên thế giới  đã làm lễ tưởng niệm 50 năm cố Tổng Thống Ngô-Đình Diệm và cố vấn Ngô-Đình Nhu qua đời. Tại Paris cũng có hai buổi tưởng niệm. Đặc biệt, tại Giáo xứ Việt Nam ở Paris, có sự hiện diện của ông Ngổ Đình Quỳnh, thứ nam của ông Ngô-Đình Nhu. Từ Giáo xứ Paris, thông tín viên Tường An gửi về bài tường trình.

Ngày 2 tháng 11 năm 2013, đánh dấu 50 năm chấm dứt nền đệ nhất Cộng Hoà bằng cái chết bi thảm của cố Tổng thống Ngô-Đình Diệm và bào đệ của ông là cố vấn Ngô-Đình Nhu. Cho đến hôm nay, ai đứng sau cái chết của 2 vị lãnh đạo quyền hành nhất của nền đệ nhất Cộng Hoà vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng.

Các tài liệu lịch sử ghi lại, bên cạnh quốc sách chống Cộng mạnh mẽ, chính sách về tôn giáo của Tổng Thống Ngô-Đình Diệm cũng gây nhiều tranh cải. Nhưng, dù yêu hay ghét, người ta cũng không thể phủ nhận lập trường yêu nước của chí sĩ Ngô-Đình Diệm. Hình ảnh ông tiếp các phái đoàn ngoại quốc trong quốc phục Việt Nam vẫn là một dấu ấn về một lãnh tụ với một lập trường quốc gia kiên định.

Vì thế, mỗi năm, ở các quốc gia có người Việt định cư đều tổ chức lễ tưởng niệm Ngài. Đặc biệt, năm nay, kỷ niệm 50 năm đã có khoảng 26 nơi ở Âu Châu, Hoa Kỳ, Úc Châu và Việt Nam  đã đồng tổ chức lễ Tưởng Niệm.Tại Paris cũng đã có 2 nơi tổ chức lễ Tưởng Niệm.

ngo-dinh-nhu
Cố vấn Ngô Đình Nhu, linh hồn của nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam

Ngày 2 tháng 11 vừa qua, tại quận 17 Paris, có hơn 200 người Việt và ngoại quốc đã đến tham dự lễ tưởng niệm do giáo xứ Việt Nam tổ chức. Thánh lễ bắt đầu lúc 11 giờ với chính giữa nhà thờ là hai bức hình được phóng to của cố Tổng Thống Ngô-Đình Diệm và bào đệ Ngô-Đình Nhu. Sau phần thánh lễ do Linh Mục Mai Đức Vinh chủ lễ là phần văn nghệ và triển lãm các hình ảnh của gia đình Tổng Thống Ngô-Đình Diệm. Sau đó,  ông Olindo, chồng của bà Ngô-Đình Lệ Quyên đến từ Ý, trình bày về lịch sử của gia đình Ngô-Đình qua những dương ảnh. Buổi lễ còn có sự tham dự của nhiều tôn giáo khác nhau, ông Huỳnh Tâm, một đạo hữu đạo Cao Đài chia sẻ cảm tưởng của ông :

« Lần đầu tiên Giáo xứ Paris tổ chức mà có mời tất cả cộng đồng người Việt tại Paris cũng như đại diện của các tôn giáo. Tôi tới đây với tư cách là một tín hữu Cao Đài đến kỷ niệm 50 năm ngày cố Tổng Thống Ngô-Đình Diệm qua đời. Đây là dịp mà chúng ta tưởng nhớ đến một người làm nên lịch sử của một giai đoạn đó. Tôi thường đi tham dự nhiều lần mỗi năm, phần đông thì người Tây tổ chức, nhưng đây là lần đầu tiên tôi tham dự của Giáo xứ Việt Nam tổ chức, thì tôi thấy đây là một công việc tưởng niệm rất xứng đáng »

Đặc biệt,  buổi tưởng niệm còn có sự hiện diện của ông Ngô-Đình Quỳnh, thứ nam của cố vấn Ngô-Đình Nhu và phu nhân Trần Lệ Xuân. Được hỏi cảm tưởng của ông về việc nhiều nơi trên thế giới năm nay đồng tưởng niệm Tổng Thống Ngô-Đình Diệm và cố vấn Ngô-Đình Nhu, ông tỏ vẻ vui mừng :

« Tôi rất vui mừng thấy nhiều người Việt Nam cũng làm lễ bên Mỹ, bên Belgique (Bỉ), bên Việt Nam hôm qua để tưởng niệm Tổng Thống và bào đệ Ngô-Đình Nhu. Họ hiểu sự hy sinh của Cha của tôi và Bác của tôi. Tôi rất là cảm động ( Je suis ému)  Bởi vì cho gia đình của tôi là một sự mất mát lớn. Một điều đã khó cho người ta không hiểu để người ta làm lễ tưởng niệm và nhìn nhận giá trị của sự hy sinh đó như là một trách nhiệm đối với công lý và cũng là một bổn phận phải ghi nhớ »

Sự hy sinh đó là gì ? Nó có ý nghĩ gì đối với quá khứ, với những người đã sống và chết cho nền dân chủ của đất nước và cho cả những thế hệ trong tương lai, người thứ nam của ông Ngô-Đình Nhu chia sẻ :

« Nếu cô hỏi tôi về sự hy sinh đó nó có ý nghĩa gì cho tương lai ? Thì tình thế bây giờ đã thay đổi khác rồi. Điều quan trọng là sự đoàn kết và tình liên đới và cái ý thức rằng người Việt Nam có một vị thế nào đó để rồi từ đó một sức mạnh sẽ nẩy sinh. Bởi nhân dân Việt Nam có một vị thế nào đó mà trong nhất thời chưa được lộ rõ »

commemoration-pres-diem

Tổng Thống Ngô Đình Diệm sinh ngày 3.1.1901 ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông là người con thứ ba trong một gia đình lễ giáo, nhiều đời làm quan trong triều Nguyễn. Giòng họ theo đạo Công giáo từ đầu thế kỷ thứ 17. Ông có hai người anh là Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Thục, các em trai là Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện và hai em gái. Ngô-Đình Diệm là vị Tổng thống đầu tiên của nền Cộng Hoà. Ông không có gia đình, suốt đời phục vụ cho đất nước như câu nói của ông :

Tôi tiến, hãy theo tôi;
tôi lùi, hãy bắn tôi;
tôi chết, hãy trả thù cho tôi.
Tôi không phải là thần thánh,
tôi chỉ là một người bình thường,
tôi chỉ biết thức khuya, dậy sớm làm việc,
một lòng hiến dâng đời tôi cho đất nước và dân tộc.

Hồi tưởng về người Bác của mình, ông Ngô Đình Quỳnh kể :

«  Tôi nhớ trong dinh Độc Lập, lâu lâu tôi đang ăn cơm thì Tổng Thống tới, rồi thì nói chuyện với ông Cố vấn. Khi họ nói chuyện với nhau thì Tổng Thống hỏi cái gì đó,  rồi thì ông Cố vấn 2-5 phút sau trả lời. Tôi nhớ rằng cho mấy đứa con ăn cơm chung với gia đình như vậy là khá rồi, chứ (thường thì) ăn cơm trong phòng.  Lâu lâu tụi tôi cũng có tới, nhưng ông Tổng Thống bao giờ cũng rất là bận rộn. Tôi tới tôi chơi thì ông Tổng Thống cứ để cho tôi chơi chung quanh. »

Cố vấn Ngô Đình Nhu có 4 người con : Ngô-Đình Trác, Ngô-Đình Quỳnh, Ngô-Đình Lệ Thuỷ và Ngô-Đình Lệ Quyên. Kể từ sau khi hai anh em Ngô-Đình Diệm và Ngô-Đình Nhu bị sát hại, dòng họ Ngô-Đình cũng trải qua nhiều biến cố. Hai người con gái của Ngô-Đình Nhu và Trần Lệ Xuân là Ngô-Đình Lệ Thủy và Ngô-Đình Lệ Quyên lần lượt qua đời vào năm 1967 và 2012 vì tai nạn giao thông. Bà Trần Lệ Xuân đã sống những năm tháng cuối đời trong lặng lẽ ở Ý và qua đời  năm 2011 tại một bệnh viện ở Rome ở tuổi 87. Hiện con trưởng Ngô-Đình Trác đang sống với gia đình ở Ý và người con trai thứ Ngô-Đình Quỳnh, hiện đang sống và làm việc tại Bỉ

Theo Luật sư Lâm Lễ Trinh trong một cuộc phỏng vấn, ông Ngô-Đình Diệm là Tổng Thống, nhưng khai sinh chế độ Việt Nam Cộng Hoà công lớn là của ông Ngô-Đình Nhu. Ông Ngô-Đình Quỳnh nhớ về Cha như là một người kín đáo và tận tuỵ cho đất nước. Ông nói :

«  Cha tôi là…..ít người nói chuyện về ông Cố vấn, vì ổng cũng không muốn xuất hiện, nhưng ông có một ý thức chính trị để đối phó với sự phức tạp của tình hình đa nguyên thời đó. Ông còn có sự trung tín với người anh và đi đến cùng với người anh của mình. Hai năm sau khi Cha tôi chết, họ làm cái test cho tôi ở trường, họ bảo vẽ Cha thì tôi sẽ vẽ cái gì, tôi vẽ : một mặt trời.Và Má thì vẽ ra sao ? Tôi vẽ một cái rừng và một nguồn suối. Tôi nhớ gia đình của tôi phải hy sinh nên tôi biết là họ không có nhiều thì giờ cho tôi. Nhưng tôi biết họ thương tôi nhiều.  » 

ngo-dinh-quynh
Con trai thứ của Cố Vấn Ngọ Đình Nhu, ông Ngô Đình Quỳnh, trả lời đài Á Châu Tự Do

Nhân lễ tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu, ông Ngô Đình Quỳnh đã cho ra mắt quyển sách bằng tiếng Pháp «  La République du Việt Nam et les Ngô-Đình » ( Nền Việt Nam Công Hoà và Gia đình Ngô-Đình)  viết từ hồi ký của mẹ ông là bà Ngô-Đình Nhu Trần Lệ Xuân. Ông cho biết lý do ra đời của quyển sách này :

«  Cuốn sách được xuất bản hôm nay có một phần hồi ức của Mẹ tôi được ghi chép từ năm 1963. Đồng thời chúng tôi có ý muốn soi sáng một phần của lịch sử hãy còn mù mờ. Một số sai lầm về hình ảnh hai anh em họ Ngô mà cả bên Tây Phương lẫn đảng Cộng sảng Việt Nam đã lưu truyền. Từ quyển sách này chúng tôi muốn đem lại cái nhìn đúng đắn hơn, đồng thời có phần đóng góp của Mẹ tôi với nhãn quan có phần huyền bí của Bà. Thế thôi! »

Một sự kiện đặc biệt là lễ tưởng niệm 50 năm cố Tổng thống Ngô-Đình Diệm và bào đệ Ngô-Đình Nhu cũng được tổ chức tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, thuộc phường Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương, nơi an nghĩ của Huynh Đệ Ngô-Đình với khoảng 50 người tham dự, đặc biệt có rất nhiều người trẻ. Ông Ngô-Đình Quỳnh rất cảm động trước sự kiện này :

« Tôi nghe rằng họ có làm lễ ở Việt Nam hôm qua, tôi rất vui mừng. Tôi biết rằng mỗi năm họ có làm đó, tôi biết là cũng rất khó khăn vì người Cộng sản họ không chịu cho mình làm một cách sâu xa. Tôi cho là hết sức tốt. tôi vui mừng vì không phải chỉ người « Việt Nam diasporal » ( cộng đồng người Việt ở nước ngoài ) mà thôi mà những người Việt Nam trong nước cũng nhớ. Thì đó là sự vui mừng ! »

Nửa thế kỷ dâu bể đã qua, sự kiện nhiều người trẻ, không biết gì về cố Tổng Thống Ngô-Đình Diệm -và một chế độ đã lùi vào quá khứ -đến thắp nhang trước mộ phần ông. Có phải chăng đã đến lúc những người trẻ vượt ra khỏi sách vở nhà trường, tự đi tìm một sự thật lịch sử cho chính mình ?

Công an Vĩnh Long không cho tín đồ Cao Đài mặc áo dài làm lễ tại nhà

RFA. 2013-11-03

 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/authentic-cao-dai-followers-harrassed-11032013095213.html
cao-dai

“Ngũ vị giáo chủ” của Đại đạo Tam kỳ Phổ độ. Courtesy photo caodai.net

Một nhóm tín hữu Cao Đài chân truyền gồm 30 người hôm nay- chủ nhật ngày 3 tháng 11, tập trung làm lễ giỗ cho vị chức sắc lễ sanh Thái Kinh Sanh tại nhà của một đồng đạo ở phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Tuy nhiên, cơ quan chức năng gồm phó chủ tịch phường cùng công an đến yêu cầu phải có trình báo và không được mặc trang phục của tín đồ Cao Đài khi làm lễ giỗ tại nhà.

Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng cho biết về điều này và phản ứng của những tín đồ Cao Đài:

Phó chủ tịch phường 4, thành phố Vĩnh Long là ông Thức nói rằng theo Nghị Định 92 khi đồng đạo tụ tập đông người phải xin phép. Chúng tôi trình bày rằng Hiến pháp cho tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình; thế nhưng Nghị định không căn cứ Hiến pháp để ra vấn đề đối với tôn giáo.Trong khi Hiến pháp nói một đường, nghị định lại nói một nẻo và bó buộc, khống chế chúng tôi. Vì vậy chúng tôi không đồng ý. Quyền tự do tín ngưỡng là quyền của người dân và quyền này bất khả xâm phạm.

Ông phó chủ tịch UBND Phường 4, còn nói đám giỗ nếu mặc đồ thường thì được, còn mặc áo dài là vi phạm vấn đề sinh hoạt tôn giáo. Chúng tôi nói chúng tôi không vị phạm gì vì đám giỗ người đạo thì phải mặc áo dài chứ sao lại mặc thường phục.

Nói qua, nói lại phó chủ tịch phường và an hem ( công an) lập biên bản bắt chúng tôi ký vào nhưng chúng tôi không ký. Rồi công an tiếp tục kiểm tra thẻ chứng minh nhân dân của từng người. Đồng đạo phản đối nói nếu chúng tôi làm gì vi phạm thì kiểm tra được, hay chúng tôi ngủ qua đêm phải đăng ký, còn đây chúng tôi có vi phạm gì đâu. Chúng tôi dự lễ của hiền huynh lễ sanh trên 10 năm nay rồi. Cối cùng không có kiểm tra gì hết. Chúng tôi mời chính quyền, công an ra khỏi nhà để dùng cơm trưa. Họ ra đầu đường đóng chốt ở đó; khi đồng đạo ăn cơm xong ra về, công an giao thông chặn xe từng người kiểm tra giấy tờ nếu có gì vi phạm là phạt, và ghi tên từng người đi ra về.”

Đây không phải là lần đầu tiên mà những tín đồ Cao Đài chân truyền không theo phái do Nhà Nước lập nên bị gây khó khăn, bắt bớ khi hành đạo như trong ngày 3 tháng 11 này.

Những người thường xuyên bị gây khó khăn, bị đánh đập thậm chí bị cướp Thánh Thất, tỏ ra rất bức xúc vì họ cho rằng bị dồn vào thế cùng không được thực thi những chỉ dạy chân truyền của Đấng sáng lập đạo từ năm 1926.

Bản tuyên bố mới nhất về Hiến pháp Việt Nam

dissent-priest

LM Phê-Rô Phan Văn Lợi. Courtesy photo 8406victoria.blogspot

Bình mới, rượu cũ: 5 độc quyền và ưu quyền

Gia Minh: Qua những diễn tiến từ đầu năm đến nay, linh mục thấy việc lắng nghe góp ý của những tầng lớp quan tâm đến vấn đề sửa đổi hiến pháp dường như không có dấu chỉ tích cực gì, vậy sao Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền vẫn tiếp tục có ý kiến?

Linh mục Phê rô Phan Văn Lợi: Bởi vì chúng tôi nhận thấy rằng khi so sánh bản dự thảo cuối cùng mà quốc hội đưa ra hôm 22 tháng 10 với bản dự thảo đầu tiên, theo chúng tôi nhận thấy không có gì thay đổi về cơ bản. Nên chúng tôi thấy cần lên tiếng một lần nữa cùng với những tiếng nói khác ; không phải để Nhà nước nghe cho bằng để dân chúng thấy được rằng nhà cầm quyền, quốc hội đã bác bỏ tất cả mọi ý kiến; đồng thời cũng để cảnh báo với người dân nhà cầm quyền của Đảng cộng sản đã quyết tâm ra một hiến pháp phi dân chủ, chống lại nhân quyền và hoàn toàn không hợp lòng dân.

Gia Minh: Trong tuyên bố của Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền có 5 điều phản đối và 3 điều kêu gọi, xin linh mục giải thích vì sao lại nêu ra những điều phản đối và kêu gọi như thế?

Linh mục Phê rô Phan Văn Lợi: Chúng tôi thấy rằng trong dự thảo mới nhất mà có lẽ họ sẽ chấp nhận, trong đó có 120 điều, nhưng chúng tôi nghĩ rằng chỉ có 5 nội dung chính. Năm nội dung đó để chỉ có lợi cho đảng mà thôi. Năm điều đó chúng tôi gọi là ưu quyền và độc quyền.

Hai ưu quyền: một là về chủ thuyết Mác- Lê nin để khống chế tư tưởng của người ta; thứ hai là ưu quyền về kinh tế để có lợi cho Nhà nước, có lợi cho Đảng mà thiệt hại cho nền kinh tế của tư nhân và của người dân nói chung.

Chúng tôi nêu ra 3 độc quyền của đảng Cộng sản: thứ nhất là độc quyền về chính trị tức độc quyền cai trị đất nước để không cho bất cứ một đảng phái nào có thể cùng ra tranh cử, hoặc thay thế để điều khiển quốc gia. Rồi độc quyền về tài nguyên: đảng Cộng sản, Nhà nước muốn nắm độc quyền về mọi tài nguyên, đất đai để có thể sử dụng như ý, đồng thời có phương tiện để bảo vệ quyền lực, để trang trải cho các lực lượng đàn áp, khống chế người dân phải sống trong tình trạng sợ sệt Nhà nước. Thứ ba độc quyền về công lực, tức trong hiến pháp này, Nhà nước lần đầu tiên- trong Hiến pháp 1992 không có, yêu cầu quân đội và công an trung thành tuyệt đối với Đảng. Mặc dù trước chữ đảng, có chữ Tổ quốc và Nhân dân; nhưng chủ yếu họ muốn quân đội và công an phải là một lực lượng sẵn sàng nghe theo ý của Đảng; mà ý đảng này dĩ nhiên không phải vì ích nước lợi dân gì cả mà chỉ để bảo vệ đảng mà thôi. Điều này chúng ta đã thấy qua rất nhiều diễn biến đàn áp người dân, đàn áp những lực lượng biểu tình,hoặc dân oan khiếu kiện từ mấy năm nay rồi.

Chúng tôi nêu lên 5 độc quyền và ưu quyền đó để thấy rõ bản chất Hiến pháp Việt Nam không có dành cho quyền con người. Mặc dù trong Hiến pháp đó có chương 2 dành nói về quyền con người, nhưng quyền con người đó bị đè bẹp dưới độc quyền và ưu quyền của đảng cộng sản. Quyền con người được họ nêu ra chỉ là quyền xin-cho mà thôi.

Cuối cùng chúng tôi đưa ra ba lời kêu gọi: thứ nhất đảng cộng sản hãy sáng suốt, hãy phục thiện nếu không họ sẽ bị bánh xe lịch sử nghiền nát như chính họ đã từng dùng kiểu nói đó, và cũng như họ đã thấy ở Đông Âu với các đảng cộng sản khác vì đi ngược lại với xu thế của thời đại, đi ngược lại lòng dân, đi ngược lại đường hướng của lịch sử.

Do đó chúng tôi kêu gọi Quốc hội nhân cơ hội này ý thức trách nhiệm đối với toàn dân trước lịch sử để làm ra một bản hiến pháp thực sự như ý của người dân muốn, như ý kiến rất tiến bộ của các tầng lớp nhân dân, của các tổ chức trong đời cũng như trong đạo.

Cuối cùng chúng tôi mong đợi để có thể tác động lên Hiến pháp này cách hữu hiệu nhất chỉ có cách toàn dân phải biểu tình, xuống đường biểu tình hằng trăm ngàn người, hằng triệu người như người ta đã làm tại bên Đông Âu, bên Trung Đông mới đây. Lúc đó nhà cầm quyền mới chùn bước để mà nghe tiếng của người dân.

Bản cáo trạng đanh thép

Gia Minh: Sau khi đưa ra thêm một Tuyên bố về Hiến pháp Việt Nam như thế từ cuối tháng 10 đến nay chưa được một tuần, Nhóm của Linh mục có nhận được những ý kiến chia sẻ, phản hồi thế nào?

Linh mục Phê rô Phan Văn Lợi: Trước hết chúng tôi thấy bản lên tiếng này được truyền đi, truyền lại trên mạng rất nhiều; thứ hai chúng tôi thấy những trang mạng lới như Dân Làm Báo có đăng và phản hồi trên trang này đối với tuyên bố nói chung là phản hồi tích cực. Có người gọi đây là bản cáo trạng đanh thép đối với nhà cầm quyền của đảng cộng sản. Chúng tôi cũng mong muốn bản lên tiếng của chúng tôi đóng góp thêm vào những tiếng nói trước đây để nhà cầm quyền cộng sản biết rằng đây thực sự là ý kiến của người dân. Và người dân cũng biết rằng đã có những thành phần lên tiếng nói và bây giờ người dân cố gắng để hợp giọng và đồng thời có những hành động tích cực của quần chúng để làm cho Hiến pháp đúng nghĩa được hình thành tại Việt Nam.

Gia Minh: Chân thành cám ơn linh mục về cuộc nói chuyện vừa rồi.

Giáo dân ở VN viếng ông Ngô Đình Diệm

Lễ viếng Tổng thống Ngô Đình Diệm tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ngày 1/11

Ngày 1/11, hàng chục người đã công khai đến viếng mộ cố Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm nhân 50 năm ngày mất của ông tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Lái Thiêu, Bình Dương.

Thông tin từ trang chuacuuthe.com cho biết buổi lễ có sự góp mặt của các giáo dân ở miền Nam và do cha Antôn Lê Ngọc Thanh chủ trì.

Blogger Nguyễn Hoàng Vi, người đi dự buổi lễ, nói với BBC trước đó đã nhận được thông báo về thời gian và địa điểm tổ chức lễ viếng từ linh mục Thanh.

Lực lượng an ninh đã có mặt để theo dõi và giám sát, nhưng không gây khó dễ gì cho khoảng 50-60 người đến dự, blogger này cho biết thêm.

Hình ảnh được đăng tải trên tài khoản Youtube của Dòng chúa Cứu thế Việt Nam cho thấy nhiều giáo dân và các cha xứ đứng chắp tay và mang theo hoa, vây quanh phần mộ của ông Ngô Đình Diệm và em trai ông, Ngô Đình Nhu.

Trong bài phát biểu được ghi hình, linh mục Thanh cũng lên tiếng phản đối cách nhìn về Tổng thống Diệm trong chương trình lịch sử của Việt Nam ngày nay.

“Hiện nay, trong chương trình môn sử thuộc bậc đại học cũng như trung học, khi nhắc đến ông Diệm, họ vẫn lên án ông là một người độc ác và phản quốc,” ông nói.

“Tuy nhiên, cả các học sinh cũng lười biếng nghiên cứu, tìm hiểu, cuối cùng làm cho xã hội nối tiếp nhau cả một sự gian dối”.

“Khi nhà cầm quyền không dám đối diện và trung thực với sự thật lịch sử thì sẽ làm cho đất nước Việt Nam ngày càng trở nên gian dối và băng hoại nhân cách con người, vì nhân cách con người không thể xây dựng khi không có nền móng.”

‘Chấp nhận cái chết’

Linh mục Thanh cũng nói Tổng thống Diệm đã chống lại lời khuyên đánh phủ đầu các tướng lĩnh muốn đảo chính và chấp nhận cái chết của mình.

“Biến cố chúng ta kỷ niệm ngày hôm nay là ngày ông Ngô Đình Diệm, và cố vấn Ngô Đình Nhu bị sát hại vì chủ trương tuyệt đối không cho một quân ngoại bang nào được quyền chi phối đất nước Việt Nam,” ông nói.

“Bối cảnh khi đó là người Mỹ muốn đưa quân vào, nhưng ông Diệm nói rõ là chúng tôi rất cần những người cố vấn, nhưng để lo liệu cho đất nước chúng tôi thì phải là người Việt.”

“Vài ngày trước khi Tổng thống bị sát hại, ông Vỹ, một người thân cận với Tổng thống, đã xin lệnh đánh phủ đầu những nhóm [muốn đảo chính]”.

“Tổng thống trả lời tại sao lại lấy quân Việt Nam đi đánh quân Việt Nam?”

“Chết thì đã sao, không thể vì mình mà để huynh đệ tương tàn, quân đội náo loạn, quốc gia ngày càng suy kiệt.”

Đi tìm sự thật

“Là một người sinh sau năm 75, tôi học lịch sử về Tổng thống thì không có một ấn tượng gì tốt về ông hết. Có những sự thật về Tổng thống không như những người trẻ được học từ sách sử của mái trường xã hội chủ nghĩa.”

Blogger Nguyễn Hoàng Vi

Blogger Nguyễn Hoàng Vi nói lý do cô dự lễ viếng vì muốn “đi tìm sự thật” về Tổng thống Ngô Đình Diệm.

“Là một người sinh sau năm 75, tôi học lịch sử về Tổng thống thì không có một ấn tượng gì tốt về ông hết,” cô Vi nói.

“Có những sự thật về Tổng thống không như những người trẻ được học từ sách sử của mái trường xã hội chủ nghĩa.”

Blogger cho biết nhóm của cô bắt gặp tại lễ viếng một cụ già 90 tuổi, người năm nào cũng đi từ Biên Hòa xuống viếng mộ Tổng thống Ngô Đình Diệm nhân ngày giỗ của ông.

“Ông nói là ông biết ơn Tổng thống”, blogger này thuật lại. “Chắc chắn rằng k‎‎ý ức của ông cụ đó về Tổng thống Diệm phải rất tốt đẹp, ông mới không ngại đường xa và tuổi tác để đến viếng như thế.”

“Tôi nghĩ rằng lớp trẻ nên đi tìm hiểu sự thật ngoài những gì mình được học, được đọc, qua những nhân chứng còn sống tới bây giờ như cụ già mà tôi gặp trong buổi lễ ngày hôm qua.”

Các bài liên quan

50 năm sau cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm

Kính Hòa, phóng viên RFA.  2013-10-31

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/50-years-after-pre-n-d-diem-death-kh-10312013144136.html

kinhhoa10312013.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ngo_Dinh_Diem_-_Thumbnail_-_ARC_542189-305.jpg

TT Ngô Đình Diệm tại Washington DC tháng 8 năm 1957. Courtesy U.S. Air Force

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, một nhóm tướng lãnh quân đội Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam thực hiện cuộc đảo chánh làm sụp đổ chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kính Hòa hỏi chuyện một số nhân chứng của thời điểm ấy 50 năm sau.

Người lập ra nền đệ nhất cộng hòa

Nửa thế kỷ đã trôi qua từ ngày bùng nổ cuộc đảo chánh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa lật đổ vị Tổng thống của nền đệ nhất cộng hòa tại miền nam Việt Nam. Cuộc đảo chánh kết thúc đẫm máu với cái chết của ba anh em gia đình Tổng thống.

Hồi tưởng lại thời điểm 50 năm trước, nhà báo Trần Phong Vũ, vào thời điểm tháng 11 năm 1963 đang dạy học và làm việc tại đài phát thanh Sài Gòn, hiện đã về hưu và sống ở miền Nam California:

“Thế hệ chúng tôi là những người di cư từ miền Bắc vào miền nam vào lúc đã trưởng thành lúc đất nước bị chia đôi, nếu anh theo dõi các cao trào của đám sinh viên di cư từ miền bắc vào rồi được giúp đỡ rất là nhiều để học hành trở lại, rồi về phía quần chúng đượcc ổn định trong một đời sống rất khó khăn khi bỏ hết tài sản ở miền Bắc, với con số cả triệu người. Tôi nghĩ là trong tâm thức của họ là những ý nghĩ rất tốt đối với vị Tổng thống đã lập ra nền đệ nhất cộng hòa ở miền Nam.”

Tổng thống Ngô Đình Diệm gắn bó rất nhiều với cộng đồng Công giáo di cư từ miền Bắc. Một người Công giáo khác là Linh mục Phạm Trung Thành, Giám tỉnh Dòng Chúa cứu thế TP HCM, vào thời điểm của cuộc đảo chánh hãy còn là một thiếu niên hồi tưởng về sự kiện ngày 1tháng 11 năm 1963,

Ngo_Dinh_Diem_at_Washington_-_ARC_542189-250.jpg
TT Ngô Đình Diệm bắt tay với Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, tại sân bay Dulles, Washington DC năm 1957. Courtesy U.S. Air Force.

“Đó là ấn tượng tuổi thơ của tôi, lúc ấy tôi còn nhỏ mới học hết tiểu học. Gia đình rất là kính trọng và quý mến cố Tổng thống Ngô Đình Diệm. Cha tôi là một công chức nhỏ trong chánh quyền. Các ấn tượng của tôi là suốt một thời gia dài chúng tôi rất hòa bình, sung túc và hạnh phúc. Khi nghe tin chế độ đệ nhất Cộng hòa bị sụp đổ, và Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết chết, gia đình chúng tôi rất là đau lòng. Tôi còn nhớ là mẹ tôi cùng với vài chị em quen biết ngồi đọc kinh cho Tổng thống và khóc rất là nhiều. Lúc đó chúng tôi còn thơ trẻ nhưng có một ấn tượng là có một cái gì đó mất mát rất là lớn. Lúc lớn lên tôi cũng cảm nhận được sự mất mát đó. Tôi vẫn nhớ lại thủa sống bình an yên lành, những gì mà cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và những cộng sự xây dựng cho miền nam này.”

Sự tiếc thương đó của những người công giáo kéo dài cho đến 50 năm sau. Những buổi lễ tưởng niệm ngày mất của cố Tổng thống được các cộng đồng công giáo hải ngoại tổ chức hàng năm.

Phải tha thứ, phải cảm thông

Song cũng có những tiếng nói khác. Một viên chức cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, hiện sống ở Hoa Kỳ, không muốn nêu tên, thì lại nói rằng dù cái gì diễn ra đi nữa thì việc sử dụng Dụ số mười đối với cộng đồng Phật giáo như một sự kỳ thị vào nửa đầu năm 1963 là không thể chấp nhận, trong một quốc gia mà cộng đồng Phật giáo là đa số.

Ai làm gì thì thú thật tôi có đọc, có xem, có nghiên cứu nhưng tâm hồn của tôi thì tôi muốn nói rằng tôi phải tha thứ, phải cảm thông.
-LM Phạm Trung Thành

Ông nói tiếp rằng những tranh cãi nhau về sự kiện này giữa những người Việt không cộng sản với nhau vẫn còn. Nhà báo Trần Phong Vũ nói về việc tranh cãi này:

“Chuyện tranh cãi ấy là có thật. Cái phản ứng đó cũng dễ hiểu thôi. Những người Việt Nam chúng ta không có dữ kiện trong tay một cách đầy đủ, rồi có thiên kiến, rồi cũng có khi do những quan điểm đấu tranh khác nhau mà dẫn tới việc tranh giành mọi thứ về phía mình rồi dẫn tới chuyện tranh cãi.”

Trong khi đó Linh Mục Phạm Trung Thành từ TP HCM nêu ý kiến của ông rằng nên tha thứ:

“Tôi không muốn quan tâm đến ai, hay những nguyên nhân nào đã làm hại Tổng thống. Dưới cái nhìn của một tu sĩ thì tôi cho rằng Tổng thống đã qua một con đường khổ giá cho sự yêu mến giáo hội, đất nước, dân tộc. Còn ai làm gì thì thú thật tôi có đọc, có xem, có nghiên cứu nhưng tâm hồn của tôi thì tôi muốn nói rằng tôi phải tha thứ, phải cảm thông. Tôi không thể có một nhận định nào nặng nề, tiêu cực về phía đó.”

Liệu lớp bụi thời gian 50 năm có làm tan đi được tranh cãi, khoảng cách nửa thế kỷ có làm cho sự cảm thông của Linh Mục Phạm Trung Thành lan tỏa!

http://youtu.be/kqWdYtvk0dw

Nguyễn Lân Thắng muốn thay đổi xã hội VN bằng hoạt động ‘ngay trong nước’

 Trà Mi-VOA. 31.10.2013

Blogger Nguyễn Lân Thắng trao tuyên bố 258‬ cho văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về nhân quyền

Blogger Nguyễn Lân Thắng trao tuyên bố 258‬ cho văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về nhân quyền

Một nhà hoạt động xã hội bị câu lưu khi về tới sân bay Nội Bài, Hà Nội, sau chuyến đi vận động quốc tế lưu ý đến tình hình nhân quyền Việt Nam.

Cuộc quốc tế vận kéo dài 3 tháng của anh Nguyễn Lân Thắng đã mang Tuyên bố 258 của Mạng lưới Blogger Việt Nam tới các quốc gia ở Châu Á và Châu Âu, trao tận tay các tổ chức bảo vệ nhân quyền có uy tín trên thế giới trong đó có Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc để phản đối điều luật về tội ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’ vốn bị giới hoạt động quốc tế cho là bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận của công dân.

Về tới Việt Nam anh Thắng bị câu lưu từ 8 giờ tối ngày 30/10 cho tới 2 giờ chiều hôm sau để làm việc với cơ quan an ninh về các hoạt động của anh trong chuyến đi vận động.

Trả lời VOA Việt ngữ sau khi được phóng thích, anh Thắng cho biết:

“Họ muốn tìm hiểu tất cả những vấn đề có liên quan đến chuyến đi, xem có đảng phái, tổ chức chính trị nào đứng sau hoạt động này không và ai là người tổ chức tất cả những chuyện này. Họ xoáy sâu vào những vấn đề đó. Chúng tôi đã có buổi làm việc căng thẳng nhưng cũng tương đối cởi mở giữa hai bên. Đương nhiên tôi sẽ còn tiếp tục bị theo dõi. Tôi cũng không ngại việc này vì các hoạt động của tôi từ trước đến nay đều là công khai.”

Anh Thắng nói dù biết chắc sẽ gặp rắc rối khi về nước sau chuyến đi và dù có nhiều cơ hội ở lại nước ngoài, nhưng anh vẫn quyết định trở về với mong muốn tạo ra những sự thay đổi bằng những hành động ngay trên đất nước mình, giúp đánh động nhận thức của người dân về quyền và ý thức đóng góp cho xã hội.

Bấm vào để nghe nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng trả lời phỏng vấn VOA sau khi được phóng thích
 http://www.youtube.com/watch?v=S6_u6dhgo9Y&feature=share&list=PL0Xd6_vQV82LGqYrOqa6-XgJVKN8VpJcN

Trà Mi-VOA

Công an thả blogger Nguyễn Lân Thắng

bbc,  31 tháng 10, 2013

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/10/131031_nguyenlanthang_detained.shtml

Ông Nguyễn Lân Thắng (thứ hai bên trái) và các blogger khác trao Tuyên bố 258 cho đại diện Human Rights WatchÔng Nguyễn Lân Thắng (thứ hai bên trái) và các blogger khác trao Tuyên bố 258 cho Human Rights Watch

Người hoạt động vì dân chủ đồng thời là nhân vật tích cực trên internet, ông Nguyễn Lân Thắng, đã được về nhà sau một thời gian bị câu lưu ở sân bay Nội Bài.

Khoảng 3 giờ chiều thứ Năm 31/10 ông đã có mặt ở nhà. Trước đó các nguồn tin cho hay ông đã bị chặn lại khi làm thủ tục nhập cảnh vào khoảng 8 giờ tối thứ Tư 30/10.

Ông Thắng trở về Hà Nội từ Thái Lan. Trước đó ông đã có một thời gian ở nước ngoài để thúc đẩy cho Tuyên bố 258 kêu gọi Chính phủ Việt Nam xóa bỏ Điều 258 Bộ Luật Hình sự, vốn gần đây được dùng để bắt giữ một số blogger bất đồng chính kiến.

Hồi đầu tháng ông Nguyễn Lân Thắng cũng tham gia một hội nghị của tổ chức nhân quyền Frontline Defenders ở Ireland.

Bạn bè ông cho BBC biết khi xuống tới Nội Bài, ông Thắng chỉ kịp nhắn cho người tới đón ông: “Tôi bị bắt”.

Tuy nhiên trước đó ông đã thu một đoạn video trên YouTube nói ông có thể bị cơ quan an ninh giữ nhưng sẽ sớm trở về.

Những người ủng hộ ông đã tập trung tại sảnh đến của sân bay Nội Bài nhiều tiếng đồng hồ để đợi ông.

Vợ ông Thắng, bà Lê Bích Vượng, cũng ra sân bay tìm chồng nhưng phải ra về lúc 1:30 sáng thứ Năm 31/10 vì ông Thắng ‘biệt vô âm tín’.

Bà Vượng viết trên Facebook trưa 31/10 rằng “phòng Xuất nhập cảnh sân bay Nội Bài đã xác nhận anh Nguyễn Lân Thắng đã nhập cảnh, không bị bắt giữ nhưng đang làm việc với cơ quan an ninh về vấn đề an ninh quốc gia”.

“Phòng Xuất nhập cảnh sân bay Nội Bài đã xác nhận anh Nguyễn Lân Thắng đã nhập cảnh, không bị bắt giữ nhưng đang làm việc với cơ quan an ninh về vấn đề an ninh quốc gia.”

Lê Bích Vượng, vợ ông Nguyễn Lân Thắng

Trong khi đó nói về việc ông Thắng bị giữ lại sân bay, đại diện tổ chức nhân quyền Human Rights Watch Phil Robertson nhận xét: “Các sân bay ở Việt Nam nay đã trở thành nơi nhà chức trách bắt giữ các nhân vật hoạt động, cho thấy sự không khoan nhượng của chính quyền đối với các quyền con người cơ bản, trong đó có quyền tự do biểu đạt và hội họp”.

Ông Robertson nói với BBC từ Bangkok: “Việt Nam hàng ngày đều vi phạm cam kết tôn trọng quyền dân sự và chính trị mà chính mình đưa ra khi thông qua các công ước quốc tế”.

“Việt Nam cần thả ông Nguyễn Lân Thắng ngay lập tức, không được buộc tội ông, chấm dứt việc sách nhiễu các nhà hoạt động cũng như blogger và bão bỏ Điều 258.”

Hoạt động trên mạng

Ông Nguyễn Lân Thắng, sinh năm 1975, là một nhà hoạt động rất tích cực trên mạng internet, nhất là mạng xã hội Facebook.

Ông cũng thường xuyên chụp hình và đăng tải trên internet các thông tin về các vụ mà chính quyền ở Việt Nam gọi là ‘tụ tập đông người’, khiếu kiện của dân oan…

Các hình ảnh, video của ông trong những vụ như cưỡng chế đất ở Văn Giang đã gây tiếng vang trong dư luận, nhất là khi báo chí chính thống không có tường thuật gì.

Ông Thắng còn từng tham gia nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội.

Hồi giữa tháng Bảy, ông cùng một số blogger khác khởi xướng Tuyên bố 258 yêu cầu Chính phủ Hà Nội thực thi cam kết nhân quyền của mình.

Nhóm tự gọi tên là Mạng lưới blogger Việt Nam trong tuyên bố hôm 18/7 viết với tư cách ứng cử viên, “Việt Nam phải chứng minh các cam kết của mình nhằm hợp tác với Hội đồng Nhân quyền và duy trì những chuẩn mực cao nhất trong việc xúc tiến và bảo vệ nhân quyền”.

Họ nói rằng các nghĩa vụ về nhân quyền của Việt Nam phải được thực hiện ngay trong nội bộ đất nước và “nhân dân Việt Nam phải có quyền tự do tư tưởng và biểu đạt”.

Sau đó, vào tháng Tám ông cùng một số blogger khác đã mang tuyên bố này trao cho nhiều tổ chức quốc tế ở nước ngoài, như Cao ủy Nhân quyền Liên hiệp Quốc và tổ chức Human Rights Watch.

Từ đó ông chưa trở về Việt Nam.

Ông Nguyễn Lân Thắng là hậu duệ của gia đình Nguyễn Lân nổi tiếng ở trong nước.

Các bài liên quan

Vụ án Đinh Nhật Uy làm nổi bật thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam

Blogger Ðinh Nhật Uy sau khi được trả tự do.

Blogger Ðinh Nhật Uy sau khi được trả tự do.

Ông Đinh Nhật Uy, 30 tuổi, đã bị đưa ra tòa xét xử hôm thứ ba vì đã đăng tải thông tin trên trang Facebook để ủng hộ người em trai của ông đang thọ án tù 4 năm về tội phát tán truyền đơn chống chính phủ.

Ông Hà Huy Sơn, luật sư của ông Uy, nói rằng sau một phiên xử ngắn tòa án đã ra phán quyết cho rằng thân chủ của ông phạm tội dùng trang mạng xã hội này để chỉ trích chính phủ.

Ðây là một trong những vụ án đầu tiên ở Việt Nam mà trang Facebook có vị trí trung tâm đối với những gì mà ông ấy (Ðinh Nhật Uy) bị truy tố.”
Phil Robertson, Human Rights Watch.

“Theo văn bản khởi tố được đăng lại trên trang blog chính trị Dân Luận, những thông tin trên trang Facebook của Đinh Nhật Uy có những nội dung ngụy tạo, vu khống và xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức và công dân.”

Ông Phil Robertson, phó Giám đốc bộ phận Á châu của tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, nói rằng lệnh khởi tố ông Đinh Nhật Uy có tính chất khác thường vì nó đặt trọng tâm vào việc ông sử dụng trang mạng xã hội Face book.

“Ngay cả trong trường hợp có những vụ án khác ở Việt Nam dính líu tới những người đã đăng tải thông tin trên Facebook, tôi vẫn cho rằng đây là một trong những vụ án đầu tiên ở Việt Nam mà trang Facebook có vị trí trung tâm đối với những gì mà ông ấy bị truy tố.”

Vụ án này làm nổi bật một thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam, là nước có 32 triệu người sử dụng internet trong khối dân khoảng 90 triệu người.

Hơn 70% công dân mạng ở Việt Nam sử dụng Facebook và mặc dù có đôi lúc bị ngăn chặn bởi một số các công ty cung cấp dịch vụ internet, trang mạng xã hội này đã trở thành một diễn đàn rất sinh động cho những người viết blog chính trị ở Việt Nam.

Hiện nay có một thế hệ mới của những nhà hoạt động internet. Họ là những người rất trẻ, rất can đảm. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình.
Nhà hoạt động Vũ Sỹ Hoàng.

Ông Vũ Sỹ Hoàng, một nhà hoạt động ở Sài Gòn, là một trong số hàng ngàn người tham dự lễ thắp nến cầu nguyện tại một nhà thờ ở Sài Gòn hôm chủ nhật để bày tỏ sự ủng hộ đối với Đinh Nhật Uy và gia đình. Ông Hoàng cho biết cảm nghĩ như sau.

“Tôi nghĩ rằng hiện nay có một thế hệ mới của những nhà hoạt động, những nhà hoạt động internet. Họ là những người rất trẻ, rất can đảm. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình.”

Tuy hầu hết các nhân vật tranh đấu chính trị sử dụng truyền thông xã hội, các nhà quan sát nói rằng thế hệ trẻ hơn, lớn lên trong một hoàn cảnh kinh tế khá hơn, có cách tiếp cận riêng trong việc thảo luận về đề tài cải cách chính trị.

Ở Việt Nam trước đây, thảo luận về cải cách là lãnh vực riêng của các nhà trí thức. Nhưng giờ đây, theo giáo sư Jonathan London của Đại học Thành phố Hồng Kông, internet đang mở rộng cuộc thảo luận tới một khối người đông đảo hơn.

“Chúng ta đang thấy sự du nhập hoặc đa dạng hóa của những mô thức bày tỏ quan điểm chính trị. Và dĩ nhiên sức hấp dẫn của truyền thông xã hội ở Việt Nam là nó mang lại cho người dân Việt Nam một điều gì đó rất đặc biệt. Đó là tự do diễn đạt, là ngôn luận chính trị không qua trung gian. Đó là một việc thật sự mới mẻ ở Việt Nam và dĩ nhiên nó làm cho người ta cảm thấy phấn khởi.”

Điều mà chúng ta đang chứng kiến là cuộc tranh đấu để thấy được những gì làm nên quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam…
Jonathan London, Ðại học thành phố Hong Kong.

Trong lúc các blogger chính trị tìm cách truyền bá thông tin và gây ảnh hưởng lên hàng triệu người sử dụng internet, chính quyền ở đây đang chật vật để tìm hiểu và quản lý diễn đàn mới của cuộc thảo luận chính trị. Giáo sư London cho rằng vụ xử Đinh Nhật Uy nêu bật mối căng thẳng đó.

“Một mặt, những người Việt Nam thuộc mọi thành phần đang đang ứng phó với một cuộc bàn thảo không ngừng thay đổi về xã hội và chính trị. Tôi nghĩ rằng đó là một quá trình mà tự bản thân nó là quá trình rất thú vị và phức tạp. Và mặt khác, đây là một vấn đề chính trị. Điều mà chúng ta đang chứng kiến là cuộc tranh đấu để thấy được những gì làm nên quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam.”

Ông Phil Robertson của tổ chức Human Rights Watch cho biết ông tin là cáo trạng nhắm vào ông Đinh Nhật Uy có mục đích hăm dọa để những nhân vật tranh đấu và gia đình của họ không đi theo con đường của ông.

Nhiều người trong gia đình của các nhân vật bất đồng chính kiến đã sử dụng mạng internet để tranh thủ sự ủng hộ cho cuộc vận động của họ.

Chúng tôi làm việc này cho tương lai. Tôi có một đứa con trai và tôi nghĩ về nó rất nhiều. Cho nên tôi nghĩ rằng điều mà tôi đang làm là làm cho nó…
Nguyễn Trí Dũng, con trai blogger Ðiếu Cày.

Ông Nguyễn Trí Dũng, con trai của blogger Điếu Cày đang bị bỏ tù, cũng dùng trang Facebook của mình để vận động cho cha ông được thả. Ông nói rằng ông có thể bị bắt vì Điều 258 nhưng ông sẵn sàng chấp nhận hậu quả.

“Tôi không biết Kha và Uy nghĩ gì, nhưng tôi nghĩ rằng chúng tôi làm việc này cho tương lai. Tôi có một đứa con trai và tôi nghĩ về nó rất nhiều. Cho nên tôi nghĩ rằng điều mà tôi đang làm là làm cho nó và mẹ tôi hiểu được điều đó.”

Theo Human Rights Watch, 61 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến ở Việt Nam đã bị tòa án Việt Nam kết tội trong năm nay, tăng đáng kể so với con số khoảng 40 người của cả năm 2012. Ông Robertson cho biết ông lo ngại là vụ xử Đinh Nhật Uy chứng tỏ xu hướng này sẽ tiếp tục.

Nhân vật lịch sử Phan Châu Trinh và những bài học cho hôm nay

 http://danlambaovn.blogspot.com/2013/10/nhan-vat-lich-su-phan-chau-trinh-va.html#more

Hà Sĩ Phu (Danlambao) – Mấy lời viết thêm (26-10-2013) gửi Quốc hội đang họp tại Hà Nội: 
Đọc lại những lời Phan Châu Trinh trước đây một thế kỷ mà tưởng như lời một Blogger hay một Trí thức phản biện của ngày hôm nay. Cứ như thể cụ Phan đang nói với kỳ họp Quốc hội lần 6 khóa 13 này, nói về Hiến pháp sắp được thông qua, phản đối chủ trương độc đảng và “sở hữu toàn dân”, phản đối việc cho đạo Khổng nô dịch dân Việt, yêu cầu phải thực thi tam quyền phân lập và đa đảng đa nguyên…
 
Đúng như nhận định của nhà văn hóa Nguyên Ngọc: “Những vấn đề cơ bản nhất làm nền tảng cho độc lập tự chủ và phát triển dân tộc mà Phan Châu Trinh đã thống thiết nêu lên từ đầu thế kỷ XX… thì đến nay vẫn còn nguyên đấy”, “Đó là một nhiệm vụ, một món nợ mà lịch sử còn để lại cho chúng ta hôm nay”. 
 
Đảng, Nhà nước và Quốc hội hôm nay chẳng những không giải quyết được những yêu cầu của dân tộc như cụ Phan đề xuất mà còn làm ngược lại và chống lại gần như trăm phần trăm!
 
Vậy: Nếu đã coi Phan Châu Trinh là nhà Ái quốc, nhà Văn hóa, nhà Cách mạng đầu tiên của Việt Nam (như đã viết trên báo Nhân dân_báo giấy)… thì những người, những chủ trương phản lại các yêu cầu căn bản ấy ắt phải coi là Phản quốc, Phản văn hóa, Phản cách mạng…! Lô-gích tự nhiên buộc ta phải kết luận như thế, làm sao khác được? 
 
Một trăm năm trước cụ Phan đã nhìn ra con đường sáng, lẽ nào con cháu hôm nay vẫn quẩn quanh ở vạch xuất phát tìm đường, lại tìm đường… về nơi tối tăm?
A. Con đường dẫn ta về với Phan Châu Trinh 
Trong những nhân vật lịch sử của dân tộc ta hồi đầu thế kỷ 20, gắn liền với cuộc đấu tranh chống Pháp, có ba nhân vật đặc biệt mà tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn cả là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh.
Nói về tinh thần đánh Pháp và đi đến thành công thì nổi bật nhất là Hồ Chí Minh, rồi đến Phan Bội Châu, rồi mới đến Phan Châu Trinh, vì hai vị trên chủ trương dùng bạo lực đánh Pháp ngay, còn Phan Châu Trinh lại bắt đầu bằng sự tiếp xúc ôn hoà với Pháp. Ấn tượng Phan Châu Trinh để lại trong đầu chúng tôi chỉ là hình ảnh một nhà nho nghĩa khí không sợ Côn Lôn (nhà tù của Pháp), một bức thư “thất điều” kể tội vua Khải Định, một cái án tử hình sau giảm thành lưu đày chung thân, vài hoạt động nhân quyền ở Pháp, một số văn thơ yêu nước, và đặc biệt là đám tang lịch sử khơi dậy một cao trào đấu tranh toàn quốc, thế thôi, chẳng mấy ai chú ý đến vấn đề tư tưởng. Phan Châu Trinh mặc dù vẫn được kính trọng song đối với chúng tôi quả thực chưa có gì thu hút lắm.
Nhưng từ khi biết vươn ra khỏi “tháp ngà” chuyên môn của mình để suy nghĩ và viết ra những ưu tư về tình hình đất nước, chúng tôi mới thực sự để tâm tìm đọc cụ Phan.
Điểm khởi thuỷ dẫn chúng tôi đến với Phan Châu Trinh là từ hai chữ “dân trí”. Nhất định trước hết phải khai thông dân trí, mà “tổ sư” đề cao dân trí là Phan Châu Trinh. “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, Cụ đưa dân trí lên hàng đầu trong chiến lược hành động!
Điểm thứ hai là phương pháp đấu tranh ôn hoà bất bạo động, hơn thế còn lợi dụng những yếu tố tiến bộ của chính nước Pháp là kẻ đang cai trị mình để dần dần thoát khỏi thân phận bị cai trị. Điểm này cũng đang lặp lại với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay (chiến thuật “diễn biến hòa bình” với kẻ đang cưỡi trên cổ mình!). Đây chính là thủ pháp “hiệp khí đạo”, nhìn bề ngoài nó giống như sự mềm yếu xin xỏ vậy, điểm khác nhau là ở chỗ lợi dụng sự “cầu hoà” ấy để tranh thủ nâng cao dân trí, tự lập tự cường, nâng trình độ văn minh của dân mình lên. Nâng cao được dân trí là củng cố được hậu phương, gây lại được sức mạnh cho mình. Có nội lực cao cường rồi thì lật ngược thế cờ lúc nào chẳng được? Dân trí chưa cao thì dân chưa đủ năng lực làm chủ, có đem máu xương đổi lấy chính quyền ngay thì dân cũng không làm chủ được chính quyền ấy, và rút cuộc dân lại chuốc lấy một kẻ áp bức khác thôi.
Phan Châu Trinh hơn hẳn những người cùng thời ở suy nghĩ ấy. Chúng tôi khâm phục và coi cụ Phan như người Việt Nam đầu tiên tiếp cận phương pháp chuyển đổi xã hội bằng con đường văn minh nhất, mà ngày nay gọi là phương pháp “diễn biến hoà bình”.
Nhưng như thế chưa đủ. Điều quan trọng có tính xuyên suốt là phải có một tư tưởng, vì sự nghiệp lớn nào chẳng cần một triết lý để quán xuyến và làm nền cho dân trí.
Những chân lý phổ quát đã phổ biến trên thế giới là một chuyện, có Việt hoá được chân lý ấy để tạo ra sức mạnh lôi cuốn dân tộc, đủ sức chống lại những thiên hướng sai lầm hay không, thì không phải dễ. Đem những hạt giống tư tưởng ưu việt ở nơi khác gieo vào mảnh đất Việt Nam chắc gì đã mọc, hay mọc rồi cũng còi cọc lụi tàn? Đâu có thể sang Tây Trúc hay “Mỹ Trúc” gì đó để thỉnh kinh?
Thử điểm lại chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Mác tuy là ngoại lai nhưng trước đây vào được Việt Nam vì nó bắt rễ rất nhanh vào lòng khát khao đổi đời của người bị trị cùng khổ, nay tình hình đã đảo ngược, nếu những người bị trị cùng khổ lại tiếp tục áp dụng nó thì lịch sử sẽ lặp lại một chu kỳ nữa chăng?
“Tư tưởng Hồ Chí Minh” xuất hiện mấy năm gần đây có ưu điểm là giống “local” nhưng khốn nỗi lại là cái không có thật, mới chế biến ra thôi, thực chất vẫn là hạt giống Quốc tế 3, là hạt giống hiện nay đã bị loài người gạt ra ngay tại mảnh đất quê hương của nó.
Không phải cứ chấp nhận có “Tư tưởng Hồ Chí Minh” mới là yêu quý cụ Hồ, có khi còn ngược lại. Làm người thì trong đầu ai cũng có tư tưởng (hiểu theo nghĩa đó thì cụ Hồ cũng có tư tưởng như 80 triệu người dân thôi), nhưng nói “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là dùng đến một thuật ngữ, xác nhận cụ Hồ là một nhà tư tưởng. Chính cụ Hồ không nhận mình là nhà tư tưởng là rất đúng. Những điều cụ Hồ suy nghĩ thực ra không có gì vượt khỏi tư tưởng Mác-Lênin, mà chỉ nằm gọn trong tư tưởng ấy. Chưa có độc lập thì phải giành độc lập, rồi đi theo tư tưởng Mác-Lênin thì vẫn là tư tưởng Mác-Lênin thôi, không phải vì thế mà coi là sự “kết hợp” để thành một tư tưởng mới. Vận dụng thêm một số suy nghĩ có tính nông dân hay tính Khổng giáo thì chỉ là sự cộng hưởng để tô đậm thêm tính chất phong kiến cũng vốn có sẵn trong tư tưởng Mác-Lênin, như đã phân tích ở phần trên.
Thành công của cụ Hồ Chí Minh một phần lớn thuộc về phương pháp, đặc biệt là phương pháp vận động quần chúng. Cũng giống như cụ Phan, cụ Hồ cũng phải phê phán những nhược điểm của tính cách dân tộc và ngay từ đầu đã thấy tầm quan trọng của dân trí, và là người đầu tiên coi sự “dốt”“giặc”.
Chỉ có tư tưởng của Quốc tế 2, tức tư tưởng dân chủ xã hội là kết hợp được mấy yêu cầu cơ bản, làm đòn bẩy để xây dựng và phát triển:
– Đó là một nhánh của chủ nghĩa Mác nên không xa lạ với điều kiện Việt Nam.
– Tuy xuất phát từ chủ nghĩa Mác nhưng đã loại trừ được hai độc tố là chuyên chính vô sảnkinh tế chỉ huy, nên rất tiến bộ.
– Đã được nhiều nước kiểm nghiệm là rất thành công. Những nước theo tư tưởng ấy (các nước Bắc Âu, một số nước Trung Âu) hiện nay đạt nhiều chỉ số văn minh, nhân đạo vào loại cao nhất thế giới, đối lập hẳn với tấm gương tan vỡ của các nước theo Quốc tế 3.
– Nhờ có quan hệ huyết thống với chủ nghĩa Mác nên hy vọng Đảng Cộng sản có thể chấp nhận, ít gây sốc nhất (mặc dù trước đây Đảng Cộng sản Việt Nam rất phê phán xu hướng gọi là “xét lại” này). Kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền là hai thứ trước đây bị Đảng Cộng sản coi là của tư sản nên ghét như kẻ thù, nhưng nay Đảng đã bảo hai thứ ấy là của chung nhân loại rồi (nên ta cứ dùng thoải mái, không có gì phải ngượng), thì nay có áp dụng tư tưởng dân chủ xã hội cũng là một cách “trở về với Mác” thôi mà(!), cũng là của mình cả, trước mình bỏ đi nay mình dùng lại chứ có phải của tư bản đâu mà tự ái? Đảng không phải tự ái, mà mỗi đảng viên cũng không phải lấy thế làm day dứt. Vẫn có thể dựng tượng Mác kia mà! Đối với chính trị thì điều này rất quan trọng (tuy có làm cho một số người nông nổi cực đoan thấy khó chịu).
– Một ưu điểm nữa là mặc dù trước đây các vị Quốc tế 3 rất ghét tư tưởng “đệ nhị” nhưng chính các nước liên quan đến “đệ nhị” này lại luôn chân thành và hào phóng giúp đỡ Việt Nam, nay nếu ta cũng đi theo đường đó thì sự giúp đỡ của họ chắc còn lớn hơn nhiều. Khi ấy Trung Quốc và Hoa Kỳ khó lòng mà “bắt bí” được ta.
Về lý thuyết, những luận điểm của tư tưởng dân chủ xã hội tuy không có sự đột phá gì ghê gớm, nhưng rất thuận lẽ tự nhiên, điều chỉnh được một số nhược điểm của xã hội tư bản, điều chỉnh cả những sai lầm của lý thuyết cộng sản, tạo được những nhà nước phúc lợi (Etat-providence, welfare state), kinh tế và dân quyền cùng phát triển và không ngăn cản gì việc tiếp tục đổi mới về sau, nên có ý nghĩa thực tế vô cùng to lớn.
Tư tưởng dân chủ xã hội là một tư tưởng tiến bộ, nếu được tiếp nhận vào nước ta thì đó là cách hoá giải tốt nhất, đỡ mất sức nhất, trong hoàn cảnh một xã hội đang bị ngự trị bởi “người anh em sinh đôi” rất cực đoan là tư tưởng cộng sản.
Nghĩ được đến đấy, chúng tôi đã mừng. Nhưng rồi tiếp tục tìm hiểu về Phan Châu Trinh chúng tôi đã gặp những kết quả bất ngờ. Cụ Phan không chỉ là một nhà ái quốc, một người làm dậy sóng phong trào, người có một phương pháp cách mạng uyển chuyển, mà trước hết cụ là một nhà tư tưởng. Sàng lọc và kết hợp chính xác hai hai luồng tư tưởng Đông Tây, cụ đã trở thành một nhà dân chủ-nhân quyền, rồi từ dân chủ Phan Châu Trinh lại trở thành một nhà dân chủ xã hội, tán thành một kiểu xã hội “xã hội chủ nghĩa” nhưng phi Mác-xít.
Đó cũng là những đúc kết sơ bộ về tư tưởng Phan Châu Trinh trong ba tiểu luận nghiên cứu của tác giả Mai Thái Lĩnh đăng trên trang Web talawas, ngày 24.2.2007 [1], 26.2.2007 [2]24.3.2007 [3].
B. Sàng lọc và kết hợp văn hoá Đông Tây, Phan Châu Trinh trở thành nhà dân chủ-nhân quyền 
Là một nhà nho cụ Phan hiểu biết sâu sắc về Nho giáo, Khổng giáo, nhưng đây cũng là lĩnh vực mà cụ Phan thể hiện tinh thần sàng lọc và phê phán mạnh mẽ nhất. Cụ phân loại, tách bạch đâu ra đấy. Cụ phân biệt đạo đức với luân lý. Những phẩm chất thuộc về cá nhân riêng biệt thì thuộc ĐẠO ĐỨC, như “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Cần, Kiệm”, như “Sĩ khả sát, bất khả nhục”, như “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Đạo đức là những phẩm chất của mỗi con người riêng biệt, nó dạy làm người, muốn làm một con người thì phải như vậy nên đạo đức này rất ổn định, dù là Đông hay Tây, là kim hay cổ cũng tương tự nhau. Đạo đức như vậy đương nhiên là tốt.
Những phép ứng xử trong các mối quan hệ gia đình và xã hội thì thuộc về LUÂN LÝ, như trong các quan hệ “Quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu”, quan hệ giữa dân với nước… Luân lý lại chia thành luân lý gia đình gọi là “tư đức” hay đức nhỏ, luân lý quốc gia và luân lý xã hội thì gọi là “công đức” hay đức lớn. Luân lý dạy con người trong những mối quan hệ, cho biết bổn phận, trách nhiệm giữa người trên kẻ dưới, giữa riêng và chung. Luân lý có thể khác nhau theo quốc gia và theo chế độ chính trị. Các chế độ thường uốn nắn luân lý sao cho có lợi cho vai trò chính trị của mình.
Sự tách bạch này rất quan trọng để có thể tiến hành sàng lọc.
Nếu cụ Phan còn sống thì chắc chắn cụ không thể chấp nhận khái niệm “Đạo đức xã hội chủ nghĩa”, vì cụ đã khẳng định:
“Đạo đức đã như thế thì không có mới có cũ, có đông có tây nào nữa, nghĩa là nhất thiết đời nào, người nào cũng phải giữ đạo đức ấy mới là người trọn vẹn. Dầu nhà bác học xướng ra học thuyết nào khác nữa, dầu các chính thể khác nhau hoặc dân chủ, hoặc quân chủ, hoặc cộng sản nữa, cũng không tài nào vượt qua khỏi chân lý của đạo đức, nghĩa là đạo đức thì không bao giờ thay đổi được.” (Nguyễn Q. Thắng, tr. 478-479) [4]
”Người ta có thể thay đổi luân lý mà không thay đổi được đạo đức…, thay đổi được thì là đạo đức giả.” (Nguyễn Q. Thắng, tr. 479)
Cũng vì muốn uốn đạo đức để phục vụ nhu cầu chính trị nên Nho giáo ở Trung Quốc đã bị biến dạng, thoái hoá từ sau đời nhà Tần, và chính cái Nho giáo thoái hoá ấy đã du nhập vào Việt Nam nên Nho giáo ở Việt Nam mang nhiều tính chất tiêu cực về chính trị. Các triều đại phong kiến hết sức đề cao giường mối “quân sư phụ” chẳng qua là để được thảnh thơi cưỡi cổ thiên hạ. Cụ nói: “Khi còn ở trong gia đình thì thở cái không khí chuyên chế của gia đình, khi đến trường học thì thở cái không khí chuyên chế trong trường học (tính người mình hay thích giao con cho một ông thầy dữ đòn) thì làm sao khi bước chân ra ngoài xã hội khỏi quen tính nô lệ, chịu lòn cúi người. Cái tính nô lệ của người mình ngày nay chính là mang từ lúc trong gia đình chuyên chế mà ra vậy.” (Nguyễn Q. Thắng, tr. 485-486).
Nhưng trong sự đề cao nam giới thì người cha và người chồng cũng là kẻ được kéo vào để ăn theo, cho có đồng đội thôi, chủ mưu là người đàn ông trên cùng là vua: “Chẳng những vua quan chuyên chế mà thôi, họ còn lại lập mưu kéo cả kẻ làm cha, kẻ làm chồng vào cái cạm bẫy độc ác ấy nữa để cho tiện việc chuyên chế của bọn họ.” (Nguyễn Q. Thắng, tr. 484).
Vua quan cần lợi dụng cái “luân lý xã hội” (tức cái công đức), để tăng uy quyền, nhưng khi luân lý xã hội đã thoái hoá thì nó chi phối cả “luân lý gia đình” (tức cái tư đức) nên cá nhân và gia đình cũng hư hỏng theo. Phát hiện của cụ Phan xem ra cũng rất đúng cho xã hội Việt Nam ngày nay. Phải yêu dân đến mức nào, phải quý đạo đức đến mức nào một nhà nho mới khám phá ra được những điều sâu xa chua chát ấy.
Sự sàng lọc của Phan Châu Trinh đối với Nho giáo là tôn trọng những đạo đức cá nhân nhưng phê phán kịch liệt sự trung thành mang tính nô lệ của chữ “trung” Nho giáo (gái trinh không thờ hai chồng, tôi trung không thờ hai vua). Cụ không bảo những điều Khổng Mạnh nói ra là không tốt, nhưng cụ vạch ra tính chất một chiều của giáo lý ấy. Cụ lật ngược tình huống để chất vấn: “Đức Khổng đã nói rằng: Vua phải thương dân, dân phải thương vua, song nếu vua không thương dân thì dân phải làm sao? Tiếc thay! Ngài không dạy đến. Ông Mạnh cũng nói rằng: Dân ‘quý’ mà vua ‘khinh’, nhưng ngày nay dân hỏi vua, vua bảo rằng vua ‘quý’ mà dân ‘khinh’ thì dân phải làm sao? Ông cũng không hề nói đến”. Cụ đã phát hiện đúng chỗ yếu nhất của thuyết Nhân trị.
Luân lý ấy cốt dạy điều “tôn quân” mà nhẹ điều “ái quốc”, tôn trọng bề trên quá thì không có dân chủ, dân không làm chủ thì tự mình không thể yêu nước theo ý chí của mình. Nhiều trường hợp anh dũng đánh giặc nhưng chắc gì đã là yêu nước mà chỉ là buộc phải theo vua. Yêu nước theo kiểu khác đi là bị cấm ngay. Cụ viết rằng: “Không phải là cái độc quyền chuyên chế từ xưa đã thâm căn cố đế trong người nước ta rồi đấy ư? Tiếng thương (yêu) nước đã có luật Gia Long cấm. Những kẻ học trò và dân gian không được nói đến việc nước, lo đến việc nước”. (Nguyễn Q. Thắng, tr. 489)
Thực ra thì bệnh “thâm căn cố đế” của mọi thể chế chuyên quyền là bắt dân chỉ được yêu nước theo cách của họ (nhưng nói toẹt ra như luật Gia Long thì thật quá kém về thuật mỵ dân). Rất đáng hoan nghênh lời phát biểu mới đây của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt: “Có hàng trăm cách yêu nước khác nhau!”. Kể từ ngày có Đảng lãnh đạo đến nay, lần đầu tiên tôi được nghe thấy một đảng viên dám nói cái chân lý sơ đẳng ấy.
Thuyết Nhân trị hay Đức trị cứ nói đạo đức một chiều, không dám lật ngược tình huống để phản biện, nên khi gặp điều trái ngược thì không có giải pháp, bế tắc thì khùng lên, từ chỗ đạo đức dẫn đến chỗ phải chém giết nhau để giải quyết, và luân thường đảo lộn.
Vì thế Nhân trị sẽ dẫn đến bất nhân. Hiểu được nghịch lý này Phan Châu Trinh đã tìm đến nền dân chủ pháp trị. Chỉ trong sân chơi dân chủ mới có thể giải quyết mâu thuẫn bằng phương pháp hoà bình mà bây giờ ta gọi là “diễn biến hoà bình”.
Những người cộng sản Trung Quốc và Việt Nam, cũng sàng lọc đạo Khổng, nhưng sàng lọc ngược với Phan Châu Trinh, đề cao chữ Trung là chữ mà cụ Phan kịch liệt phê phán. Rất nhiều đảng viên cộng sản nói rằng vì có tư duy nho học nên tiếp cận chủ nghĩa Mác được dễ dàng, chẳng qua là do giống nhau ở tinh thần đức trị, giáo huấn từ trên xuống, coi nhẹ sự phản biện, “feed back” từ dưới lên. Chữ Trung ấy bao giờ cũng kèm theo ý niệm về tôn ti trật tự, người trên kẻ dưới rõ ràng, công dân loại một loại hai, và đây là đặc điểm giống nhau giữa cộng sản và phong kiến.
Khẩu hiệu “Trung với nước, hiếu với dân” là dẫn xuất từ giường mối “quân sư phụ”, nhưng trong điều kiện Đảng lãnh đạo “trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối” thì thực chất trung với nước cũng là trung với Đảng thôi, nhưng những người kế thừa Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn trực tiếp hơn cho chắc ăn nên đổi thẳng ra là “Trung với Đảng, hiếu với dân”. (Dù trung hay hiếu, dù Đảng hay dân thì cuối cùng vẫn thu về một mối là trung với Đảng thôi, kiểm nghiệm qua thực tế càng thấy đúng như vậy.)
Cũng sàng lọc, nhưng Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành là hai nhánh sàng lọc ngược nhau, một đằng đề cao quốc gia và bảo vệ quyền làm chủ của dân, một đằng sa vào thuyết tranh đấu giai cấp nên đề cao quyền lãnh đạo của Đảng. Ai gần với phong kiến hơn ai? Điều ngược đời là tính dân chủ, tính cách mạng, tính hiện đại lại ở phía người nhiều tuổi hơn. Hoá ra già không phải ở tuổi mà ở tư tưởng. Biết nghĩ cho chín để bắt đúng cái mạch của tương lai thì thành trẻ trung.
Nhà duy tân Phan Châu Trinh nổi tiếng ở sự du nhập tư tưởng dân chủ phương Tây, nhưng sao cụ lại dành nhiều công sức khảo cứu và bàn thảo về đặc điểm phương Đông cổ truyền của ta như vậy? Hãy nghe cụ giải thích: “Vẫn biết phép chắp cây của người Tây tài tình thật, nhưng nay đem một cây rất tươi tốt như cây luân lý ở các nước bên Âu Tây kia mà chắp với một cây đã cằn cộc như cây luân lý ở nước Việt Nam ta thì tưởng cũng không tài nào sinh hoa tươi, quả tốt được. Muốn cho sự kết quả về sau được tốt đẹp, tưởng trước khi chắp cây cũng nên bồi bổ cho hai bên sức lực bằng nhau đã. Tôi diễn thuyết hôm nay là cốt ý mong anh em nên cứu chữa lấy cây luân lý cũ của ta, rồi sẽ đem chắp nối với cây luân lý của Âu châu vậy”. (Nguyễn Q. Thắng, tr. 505-506)
Cái mầm khoẻ mạnh tươi tốt của châu Âu mà cụ chọn để ghép vào cái gốc Việt Nam ta chính là tư tưởng dân chủ và pháp quyền, hai điều tinh tuý mà ngót một thế kỷ sau, xã hội Việt Nam mới nhìn ra (mà nhãn quan của giới chính thống hôm nay xem ra vẫn chưa theo kịp cụ đâu).
Trước khi kết hợp văn hoá Đông và Tây, Phan Châu Trinh còn nhận xét: “Vua Âu châu ở xứ thượng võ, cho nên làm cái gì cũng hung hăng mà ngay thực, cho đến sự độc ác cũng vậy”. “Vua Á Đông thì họ không làm như thế. Họ lựa ở trong các lời nói của ông Khổng, ông Mạnh, hoặc ở trong các sách cổ những câu nói có nhiều nghĩa để họ dựa vào đó; họ lập ra pháp luật để bó buộc cai trị dân; cái ngôi vua thì gọi là con Trời, nhưng họ cũng cứ xưng họ là người, chẳng những họ không đứng ra ngoài cái hàng bà con của dân mà họ lại đứng vào cái hàng thân thiết của dân, như là ta nói ‘quân, sư, phụ’, lại thường nói ‘vua, cha, chồng’. Dù ở chốn hương thôn dốt nát không biết ông vua thế nào, nhưng mà họ thấy đứng vào hàng cha, thầy, chồng, thì họ cũng cho đứng vào đám thân thiết. Dân ngu thì (đối với vua -HSP) họ cứ kính, cứ yêu, chớ họ có biết đâu đến hồi giận của ông vua thì ông giết cả ba họ người ta.” (Nguyễn Q. Thắng, tr. 458)
Vậy sự độc đoán chuyên quyền ở châu Á vẫn có truyền thống thâm độc hơn, giỏi nguỵ trang nên khó trị hơn. Trong 4 nước cộng sản điển hình còn sót lại thì 3 nước là của châu Á đâu có phải ngẫu nhiên?
C. Từ dân chủ, Phan Châu Trinh trở thành nhà dân chủ xã hội, hướng về một chủ nghĩa xã hội phi Mác-xít 
Điểm nổi bật trước tiên trong quan điểm chính trị của Phan Châu Trinh là tinh thần dân chủ, “đa số các nhà làm sử đã công nhận: Phan Châu Trinh là nhà dân chủ đầu tiên ở Việt Nam. [5]
Dân chủ là quyền làm chủ của dân trong một nước, một quốc gia. Nhưng thế nào là một quốc gia, khi nào thì hình thành quốc gia? Theo Phan Châu Trinh, thoạt đầu trong chế độ quân chủ chưa có quan hệ giữa dân và nước, mà chỉ có vua và các thần dân của vua, vua thu hết mọi thứ vào trong tay của mình, xử sự mọi việc như trong nhà của mình, mình chết thì con mình lên thay.
Quan hệ ấy là “gia đình luân lý” và khi ấy chưa có quốc gia. Từ khi có tư tưởng Khai sáng, bác bỏ tính chất “đại gia đình”, bác bỏ quyền lực của vua là do trời định sẵn, vạch rõ quan hệ của vua với mọi người trong xã hội là bình đẳng, quyền lực của vua là do mọi người trong xã hội giao cho… khi ấy khái niệm nước (quốc gia) mới hình thành, gia đình luân lý mới chuyển thành quốc gia luân lý. Và sau này từ quốc gia luân lý sẽ hình thành xã hội luân lý, từ chủ nghĩa quốc gia sẽ phát triển thành chủ nghĩa xã hội. Theo Phan Châu Trinh, khái niệm Chủ nghĩa xã hội (socialism) có căn nguyên như thế. Sự tiến triển ấy theo Phan Châu Trinh là “lẽ tiến hoá tự nhiên”.
Đối chiếu tiến trình “tiến hoá tự nhiên” ấy vào nước ta cụ Phan thấy trình độ Việt Nam thời ấy còn quá lạc hậu: “Bàn đến quốc gia luân lý thì tôi xin thưa rằng, nước ta tuyệt nhiên không có” (NQT, tr. 487). “…quốc gia luân lý của ta từ xưa đến nay chỉ ở trong vòng chật hẹp hai chữ vua và tôi. Không nói đến ‘dân và nước’ vì dân không được bàn đến việc nước!” (NQT, tr. 487). Chưa có một nhà nước dân chủ thì chưa thể nói đến quốc gia theo đúng nghĩa được (quan niệm dân chủ của Phan Châu Trinh thật là triệt để, quyết liệt).
Theo Phan Châu Trinh, chủ nghĩa quốc gia (nationalism) phải tiến sang chủ nghĩa xã hội (socialism) để giải quyết hai mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa người với người trong mỗi quốc gia và mâu thuẫn giữa các quốc gia trên thế giới. Bên trong thì “giàu nghèo cách biệt thái quá, người ngồi không kẻ cắm đầu làm, thành ra kẻ lao động, người tư sản xung đột nhau mà trong nước không yên” (NQT, tr. 506). Trên thế giới thì “Mê tín quốc gia chủ nghĩa về đời trung cổ thái quá, yêu nước mình, ghét nước người, cho nên phải mang hoạ chiến tranh mãi mãi” (Nguyễn Q. Thắng, tr. 506).
Chủ nghĩa xã hội giải quyết quan hệ “người này với người kia, người có giúp người không, người mạnh giúp cho người yếu” (tức là làm giảm bớt sự cách biệt về tiền bạc và về quyền lực), ngoài ra còn giúp giải quyết quan hệ “loài người với loài người” tức quan hệ bình đẳng giữa các quốc gia.
Nghiên cứu quan điểm Phan Châu Trinh về xã hội chủ nghĩa so sánh với quan điểm Mác-xít, ông Mai Thái Lĩnh đã rất đúng khi kết luận: “Với quan niệm như trên, rõ ràng là cái nhìn của Phan Châu Trinh hoàn toàn khác với quan điểm Mác-xít. Theo nhà chí sĩ họ Phan, xã hội loài người tiến lên theo con đường ‘gia đình – quốc gia – xã hội’, trong khi đối với Marx thì “lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp” (Mai Thái Lĩnh, bđd). Thực tế cho thấy không bao giờ có chuyện Vô sản toàn thế giới (vượt qua ranh giới các quốc gia) mà liên hiệp lại được.
Điều đáng khâm phục ở Phan Châu Trinh là khi phê phán nền quân chủ, phê phán nạn bất công, phê phán thói độc tài, phê phán những sai lầm, yếu kém của bạn bè, cụ là người thẳng thắn đến mức rất nặng lời, rất quyết liệt (như phê phán Phan Bội Châu, Nguyễn Tất Thành…), nhưng khi tìm đường giải thoát cho dân tộc cụ lại luôn nghĩ đến con đường trung dung, ôn hoà, hợp pháp.
Phải chọn con đường ôn hoà là bởi thương dân. Khi phê phán con đường bạo lực cách mạng của Phan Bội Châu, của Nguyễn Tất Thành, cụ giải thích: Lực mình yếu mà muốn dùng bạo lực tất phải nhờ vả người khác, thế thì “thảng như cái phương pháp của ông Phan (Phan Bội Châu) mà thành công, thì quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cỡi mà thôi”. (Thư Phan Châu Trinh gửi Nguyễn Ái Quấc).
Vì thế mà phải tự lực, lúc đầu phải chọn con đường hoạt động hợp pháp, hợp pháp tối đa, thậm chí phải “khẩu thuyết vô bằng” để chính quyền không kiếm được cớ mà trị tội. (Chứ không phải chưa chi đã ngang nhiên tuyên bố thế này thế khác để giương oai!). “Chỉ vì tính cách và trình độ của ông (tức Phan Bội Châu) cùng với tánh cách và trình độ của quốc dân trong nước tương ứng với nhau, nên người trong nước mê theo mà không biết, vui theo mà quên chết. Do đó cuộc dân biến không khác nào ông Phan Bội Châu trực tiếp giết dân”. Cụ lên án thái độ cứ ở bên ngoài xúi giục người trong nước hy sinh để mình “đãi thời đột nội”. Cụ lên án sự bạo động của “chủ nghĩa báo thù” hay chỉ biết “đâm đầu vào lửa chết vô ích”.
Thời kỳ Phan Châu Trinh ở Pháp (1911-1925) là thời kỳ thế giới đầy biến động về các quan điểm cách mạng, trong đó có cách mạng vô sản Nga tháng Mười 1917, sự phân ly giữa Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản Pháp ở Đại hội Tours tháng 12-1920.
Trong khi Nguyễn Tất Thành chọn con đường cộng sản của Quốc tế 3 thì Phan Châu Trinh rất gần gũi với Léon Blum, Jean Jaurès, Jules Roux, Marius Moutet… là những đảng viên Đảng Xã hội không chịu gia nhập Đảng Cộng sản mà vẫn tiếp tục con đường Jean Jaurès vạch ra.
“Phan Châu Trinh không gần gũi với ‘cánh tả’ của Đảng Xã hội, tức là phái xã hội chủ nghĩa từ cuối năm 1920 đã rời bỏ Đảng Xã hội (SFIO) để thành lập Đảng Cộng sản, gia nhập Quốc tế III. Trước và sau Đại hội Tours (12/1920), đã có nhiều Việt kiều khuynh tả lôi kéo ông tham dự các cuộc họp của cánh tả Đảng Xã hội và sau này là Đảng Cộng sản. Nhưng có thể vì bản tính ôn hoà, hoặc vì quan niệm về ‘dân chủ, cộng hoà’ của ông đã bắt rễ khá sâu trong nhận thức, ông xa rời Đảng Cộng sản Pháp một cách tự nhiên; và những người cộng sản cũng “dị ứng” với ông một cách tự nhiên…” (Mai Thái Lĩnh, bđd.)
Trong một lá thư đề ngày 26.3.1922 Phan Châu Trinh viết: “Say mê chủ nghĩa xã hội, tôi đã luôn đấu tranh chống lại chế độ độc tài chuyên chế hiện nay đang có mặt ở Đông Dương, do các nhà chức trách Pháp cũng như do các quan lại bản xứ thực hiện” (Mai Thái Lĩnh, bđd.). Cũng đau lòng vì cảnh đất nước trong vòng nô lệ, cũng một môi trường trưởng thành là Paris nước Pháp, lại cũng yêu lý tưởng xã hội đến say mê, vậy mà khác với Nguyễn Tất Thành, Phan Châu Trinh không sa vào chủ nghĩa chuyên chính. Trước sau trong tâm hồn nhà nho cách mạng vẫn thắp sáng một ngọn đèn dân chủ.
Chính ngọn đèn ấy đã dẫn cụ đến tư tưởng đa đảng đa nguyên từ những ngày đầu thế kỷ. Hồi ấy ở Paris cũng có một du học sinh tên là Đông gửi thư cho Phan Châu Trinh bày tỏ lo ngại “đa đảng đa nguyên thì loạn” (như quan điểm của ĐCSVN hôm nay), cụ đã trả lời: “Còn anh lo trong nước sinh ra nhiều đảng phái mà hại, ấy là anh hiểu lầm; trong nước nhiều đảng thì cãi cọ nhau nhiều, cãi cọ nhiều thì thì sự lợi hại mới biết, dân mới có thể lựa đảng nào phải mà theo; anh xem các nước văn minh, nước nào mà không có bè đảng, chỉ có nước dã man, thì chỉ có một lệnh vua mà thôi” (Mai Thái Lĩnh, bđd.). Cụ chủ trương xã hội pháp trị (dân trị) và vạch rõ những tệ hại, tuỳ tiện, may rủi của chủ nghĩa nhân trị (đức trị, quân trị) mà hôm nay không ít người vẫn còn say mê. Phan Châu Trinh chủ trương tam quyền phân lập. “Đảng tiền phong” ngày nay đã đi chậm sau ông già nhà nho ấy ngót một thế kỷ, mà bây giờ cũng đã chịu nghe đâu?.
Phan Châu Trinh là một người dân chủ xã hội. Nhưng “mặc dù gần gũi với những người thuộc Đảng Xã hội, tư tưởng của Phan Châu Trinh vẫn không hoàn toàn giống họ. Trong khi những người xã hội chủ nghĩa ở Pháp vẫn còn bị ràng buộc ít nhiều với chủ nghĩa Marx thì quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Phan Châu Trinh lại không có dính dáng chút gì với chủ nghĩa Marx. Không có đấu tranh giai cấp, không có sự lên án đối với chế độ tư hữu, và do đó cũng không có chủ trương quốc hữu hoá.” (Mai Thái Lĩnh, bđđ.)
“Vấn đề là tại sao Phan Châu Trinh không đả kích chế độ tư hữu, không lên án kịch liệt giai cấp tư sản như những người mác-xít hay những người cộng sản? Ngoài bản tính ôn hoà mà ông đã có ngay từ thời bắt đầu hoạt động chính trị, chúng ta cần chú ý đến chủ trương của ông về kinh tế. Ngay từ khi phát động Phong trào Duy Tân, Phan Châu Trinh đã đề ra khẩu hiệu ‘khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh’, kêu gọi mọi người lập ‘hội nông’, ‘hội buôn’, ‘hội nuôi tằm’, v.v. nói chung là khuyến khích dân làm giàu. Như vậy, nếu ông không lên án chế độ tư hữu, không đặt quốc hữu hoá thành mục tiêu hàng đầu thì cũng là điều dễ hiểu. Có thể do Phan Châu Trinh không coi chế độ tư hữu là nguồn gốc của mọi bất công xã hội. Hoặc ông cho rằng nước Việt Nam còn quá nghèo, đất nước muốn phát triển còn cần nhiều đến những nhà tư sản yêu nước. Do đó, ông không đả kích người giàu, mà chỉ đề ra yêu cầu ‘người giàu giúp đỡ người nghèo’. Nói một cách chính xác, quan niệm của ông nghiêng về ‘công bằng’ (justice) hơn là ‘bình đẳng’ (égalité)”. (Mai Thái Lĩnh, bđd.)
Phan Châu Trinh thuộc những nhà dân chủ xã hội tiên phong, một chủ nghĩa dân chủ xã hội mang dấu ấn Việt Nam, sinh ra từ điều kiện Việt Nam. Cái chủ nghĩa xã hội nhân đạo mà ta đang định hướng về Bắc Âu để kiếm tìm thì nay chẳng những không phải tìm đâu xa, mà còn sẵn có một phương sách thích hợp hơn với dân với nước ta nữa.
D. Từ Phan Châu Trinh, nghĩ về một vài bài học cho hôm nay 
a. Vai trò tiên phong của tư tưởng Phan Châu Trinh 
Trong cuốn sách nghiên cứu về Phan Châu Trinh, TS Thu Trang Công Thị Nghĩa viết: “đa số các nhà làm sử đã công nhận: Phan Châu Trinh là một nhà dân chủ đầu tiên ở Việt Nam” (Thu Trang, sđd).
Tinh thần dân chủ Phan Châu Trinh được bộc lộ một cách toàn diện: Điều hành xã hội bằng luật pháp chứ không bằng ý thức hệ, phải “tam quyền phân lập” và đa đảng đa nguyên (bên cạnh một đảng cánh tả rất cần có một đảng cánh hữu), chú trọng tự do tư tưởng, tự do ứng cử bầu cử, tự do lập hội. Phan Châu Trinh luôn coi sự phản biện trong mọi lĩnh vực là tối cần thiết, ngay khi diễn thuyết cũng phải theo nguyên tắc “nghịch luận” (tạo những ý kiến trái ngược để cùng bàn luận). Phan Châu Trinh luôn coi trọng sự khác biệt, đồng thời coi trọng sự hợp tác tương hỗ. Về hoạt động thực tiễn Phan Châu Trinh là chiến sĩ dân chủ-nhân quyền đầu tiên, chiến sĩ “diễn biến hoà bình” đầu tiên của Việt Nam.
Tiến bộ đặc biệt của Phan Châu Trinh là sớm biết phê phán bản chất lạc hậu của Nhân trị (hay Đức trị), nó cản trở pháp luật, cản trở nền dân chủ pháp trị: “Nhân trị nghĩa là cai trị một cách rộng rãi hay là nghiêm khắc chỉ tuỳ theo lòng vui, buồn, thương, ghét của một ông vua mà thôi, pháp luật tuy có cũng như không.” Đừng quên rằng sau bao năm cầm quyền mà thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn chưa có ý thức rõ ràng về xây dựng nền luật pháp (e pháp luật sẽ “trói tay” Đảng làm Đảng khó lãnh đạo), và ngay đến thế kỷ 21 này ĐCSVN vẫn chưa dám thực hiện “tam quyền phân lập”, và không ít cán bộ cũng như trí thức vẫn còn lưu luyến Nhân trị thì mới biết cụ Phan đã đi trước dân tộc một đoạn dài lắm.
Tiếp tục đi xa hơn, Phan Châu Trinh đã trở thành nhà xã hội dân chủ đầu tiên, người đầu tiên chủ trương “định hướng” xã hội chủ nghĩa, nhưng là xã hội chủ nghĩa phi Mác-xít, mà thực chất rất gần gũi với nền chính trị của nhiều quốc gia tiên tiến nhất của thế kỷ 21 này.
Vậy nếu tôn vinh Phan Châu Trinh là nhà tư tưởng lớn của dân tộc này thì có xứng đáng không?
Học giả Hoàng Xuân Hãn nói: “Những tư tưởng của Phan Châu Trinh về cơ bản vẫn còn giá trị lớn đối với xã hội ta ngày nay”. Bởi vì, như ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc: “Những vấn đề cơ bản nhất làm nền tảng cho độc lập tự chủ và phát triển dân tộc mà Phan Châu Trinh đã thống thiết nêu lên từ đầu thế kỷ XX, trong đó trung tâm là vấn đề dân trí… thì đến nay vẫn còn nguyên đấy”, “Đó là một nhiệm vụ, một món nợ mà lịch sử còn để lại cho chúng ta hôm nay: nhiệm vụ xây dựng một xã hội dân chủ trên cơ sở một dân trí được nâng cao”. [6]
Nhà sử học Daniel Héméry, một người nghiên cứu khá sâu về Việt Nam, (và khá sâu về Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã viết: Khuôn mặt vĩ đại của Phan Châu Trinh theo tôi là khuôn mặt đáng chú ý nhất trong lịch sử văn hoá và chính trị Việt Nam ở thế kỷ XX, bởi chính ông đã xác định một cách rành mạch, sáng rõ nhất những nan đề (les problématiques) đặt ra lâu dài mà các thế hệ người Việt Nam sẽ phải – và mãi mãi còn phải – đảm nhận”. [7]
b. Phan Châu Trinh biết chắt lọc và kết hợp một cách sáng tạo những tri thức của thế giới. Với cái vốn Hán học, Phan Châu Trinh ngoài việc tiếp thu những tư tưởng của Lương Khải Siêu, Khanh Hữu Vi, Tôn Dật Tiên… còn đọc các bản dịch chữ Hán các cuốn De l’esprit des lois của Montesquieu, Contrat social của J. J. Rousseau. Đọc như thế chưa phải là nhiều, nhưng cụ rút ngay ra được nhiều điều tinh tuý là bởi cách đọc thông minh. Huỳnh Thúc Kháng viết về Phan Châu Trinh: “Tiên sinh (…) đọc sách có con mắt riêng, làm văn tạo xuất cách mới, không làm những lối tìm câu lặt chữ, vẽ bóng pha mầu (…). Bất kỳ đề mục gì vào đến tay tiên sinh thì sao cũng mở ra một lối mới để tỏ ý bi ca khảng khái của mình”. [8]
Với lối đọc sách như thế, kết hợp với thực tiễn tổ chức và tham gia tranh đấu và tù đày trong nước, kết hợp với sự quan sát học hỏi trong môi trường chính trị ở Pháp, dưới sức thôi thúc của tinh thần ái quốc tự thân, (không bị bất cứ trào lưu nào làm cho mất tính chủ động) và ở vào độ chín sung mãn nhất của đời người (từ 35 đến 55 tuổi) Phan Châu Trinh đã kịp kết tinh và thăng hoa.
Từ tấm gương ấy, mỗi chúng ta đều có thể rút lấy một phần kinh nghiệm. Thời nay bao nhiêu người được đọc nhiều sách, nhưng ngập trong rừng sách mà làm nô lệ cho sách, bao nhiêu người từng dấn thân sâu vào cuộc tranh đấu nhưng vì thế mà mất hết tính chủ động, có thể nhìn vào tấm gương Phan Châu Trinh mà tự gỡ cho mình.
c. Phan Châu Trinh là người biết kết hợp nhận thức-tư tưởng với hoạt động thực tiễn. Trước hết Cụ là người của hành động, chủ trương “thực học”. Mục đích của cụ là “Chống lại chế độ độc tài chuyên chế hiện nay đang có mặt ở Đông Dương, do các nhà chức trách Pháp cũng như do quan lại bản xứ thực hiện”. Cụ không bao giờ là người lý thuyết suông (có thể nói: Lý thuyết cụ vốn không ham!). Nhưng cụ biết vai trò rất căn bản của tư tưởng nên phải “sục” vào kho tàng tư tưởng để xác định nền móng và tìm phương hướng, cuối cùng (như “vô tình”) thành nhà tư tưởng với một nội dung rất sắc sảo và phong phú. Vì cần giải phóng dân tộc mà một nhà nho tự biến mình thành một nhà “Tây học” (mà không hề lai căng), vỡ lòng học lấy những điều mới lạ, không chút tự ái bảo thủ.
Ngày nay, một số người Tây học hoạt động dân chủ lại chỉ đề cao hành động (thực ra mới chỉ là hành động bề nổi, chưa đáng gọi là hoạt động chính trị) mà coi khinh nền tảng tư tưởng.
Một bạn trẻ tâm sự với tôi đầy tự tin: “Đã biết chân lý là dân chủ đa nguyên thì ta cứ xốc thẳng tới đó mà tiến, chẳng phải rắc rối quanh co gì hết! Còn cả thế giới bên ngoài, sợ gì!”
Ta đã từng chê cười chủ trương trước đây “dựa vào sức mạnh vô địch của phe ta, để tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, nhưng hiện nay xốc nổi như thế thì khác nào “dựa hẳn vào sức mạnh Hoa Kỳ để tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên dân chủ đa đảng đa nguyên”? (Có người còn dự đoán năm 2007, năm 2008… dân chủ sẽ toàn thắng!) Vẫn giống nhau cái tâm lý thực dụng, ăn xổi, võ biền thì rất khó rút kinh nghiệm. Ai phê bình là tự ái ngay.
Có người lại hỏi: “Thế bên Tiệp, cũng xã hội chủ nghĩa, sao người ta làm Cách mạng Nhung, xoạch một cái là xong? Chờ xây dựng dân trí thì đến mùng thất!”. Xin thưa, cái nền dân trí của Tiệp đã cao hơn mình hẳn một tầm, nhưng dân trí là cái vô hình, nó ngấm sâu vào tâm lý, vào nhiều mặt sinh hoạt khác nên ta không để ý. Dân trí lại phụ thuộc nhiều vào giới trí thức tinh hoa. Dân trí chỉ xuất lộ trước những biến cố, nên ngồi nói chuyện với một người dân Tiệp có thể thấy họ cũng chẳng hơn gì mình, nhưng đừng vì thế mà nghĩ rằng dân trí hai nước như nhau. Châu Âu đã từng trả bao nhiêu xương máu (từ thế kỷ 18-19) để có ý thức dân chủ ngày nay, để bây giờ có cái Nghị quyết 1481. Nước mình đổ xương máu cũng nhiều, nhưng chỉ để trả cái nợ độc lập cho dân tộc còn chưa xong, cuộc tranh đấu cho dân chủ mới chỉ bắt đầu.
d. Vững tin vào con đường dân chủ-xã hội (Social Democracy)
Mấy năm gần đây, tuy chưa khai thác được “kho báu” tư tưởng Phan Châu Trinh, nhiều trí thức Việt Nam trong và ngoài nước tự mình cũng đã lưu tâm đến con đường dân chủ xã hội (cũng gọi là xã hội dân chủ) và tìm thấy ở đó sinh lộ cho tình hình Việt Nam.
Bài “5 nhà trí thức phát biểu về “Con đường xã hội – dân chủ” ở nước ta” của Lê Bảo Sơn-Phan Trọng Hùng (talawas 2.9.2005) [9] đã giới thiệu tóm tắt ý kiến của Phan Đình Diệu, Lữ Phương, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Xuân Nghĩa, Hà Sĩ Phu về con đường XHDC ở nước ta.
Sau đó là tác phẩm Huyền thoại về một nhà nước tự tiêu vong và bài Dân chủ – Xã hội là gì? của Mai Thái Lĩnh, bài “Xưa nhích chân đi, giờ nhích lại” của Hà Sĩ Phu… và rất nhiều bài viết khác của các tác giả trong và ngoài nước (tôi xin lỗi, vì không có văn bản chính thức trong tay nên không kể được ra đây) từ những cách tiếp cận khác nhau đều gặp nhau ở niềm hy vọng vào con đường dân chủ xã hội (cũng gọi là xã hội dân chủ), bạn bè khắp nơi giới thiệu những thành tựu đỉnh cao của Thuỵ Điển, Na Uy.
Đến khi phát hiện con đường dân chủ xã hội trong kho tàng tư tưởng Phan Châu Trinh thì chúng tôi mừng lắm, khâm phục viễn kiến của Phan Châu Trinh vô cùng, như đã giới thiệu trong các phần trên.
Một thắng lợi bất ngờ là lại đến. Tác giả Trung Quốc Tạ Thao giới thiệu công trình nghiên cứu của một đảng viên cộng sản Trung Quốc, ông Tân Tử Lăng.
Tác giả khẳng định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội dân chủ, tức Quốc tế Hai, là tất yếu, thất bại của “chủ nghĩa xã hội bạo lực” của Lênin là tất yếu. Vì chính cuối đời Marx và Engels đã thấy sai lầm và sửa đổi theo tinh thần xã hội dân chủ (?), chỉ có Lênin lúc ấy còn chống lại.
Xin trích vài dòng trong bài viết của Tạ Thao:
– “Quyển 3 Tư bản luận đã lật đổ kết luận của quyển 1 Tư bản luận”, ”chủ nghĩa cộng sản Marx đề xướng lúc trẻ nhưng vứt bỏ lúc cuối đời” (?); 
 
– “Breznev nói với em trai: Chủ nghĩa cộng sản cái gì, đều chỉ là những lời nói trống rỗng nhằm dỗ dành dân chúng”; 
 
– “Cái viết trên ngọn cờ chủ nghĩa Mác đương đại là chủ nghĩa xã hội dân chủ, kiên trì chủ nghĩa Mác là kiên trì chủ nghĩa xã hội dân chủ”, “Khi chủ nghĩa xã hội bạo lực đi đến sơn cùng thuỷ tận, thì chủ nghĩa xã hội ở Tây Âu và Bắc Âu lại giành được thành công cực lớn”; 
 
– “Thuỵ Điển là tấm gương của chủ nghĩa xã hội dân chủ, kinh nghiệm của Thuỵ Điển có giá trị phổ cập thế giới, là cống hiến vĩ đại cho văn minh nhân loại”; 
 
– “Chỉ có chủ nghĩa xã hội dân chủ mới có thể cứu Trung Quốc”; 
 
– ”Năm 2004, Hồ Cẩm Đào nói chuyện tại Quốc hội Pháp, đã trịnh trọng nói rõ với thế giới: “Phát triển chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu phấn đấu trước sau không thay đổi của chúng tôi”, “hàng loạt chính sách mới đó thuộc về chủ nghĩa xã hội dân chủ, nhưng để tránh nỗi nghi ngờ “chủ nghĩa xét lại” chúng ta đã gọi nó là con đường xã hội chủ nghĩa có sắc thái Trung Quốc”[10]
Đây là lời những đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người “một lòng canh cánh cứu Đảng”, dũng cảm gấp trăm lần những đảng viên cộng sản Việt Nam, và đi trước Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần, nhưng thưa rằng so với Phan Châu Trinh thì họ chỉ là những người nói sau ngót một thế kỷ!
e. Phan Châu Trinh, lý tình trọn vẹn
Phan Châu Trinh sống giữa một giai đoạn đầy biến động của một dân tộc đang tìm đường cứu nước, nên tính mâu thuẫn giữa các xu hướng là điều nổi bật.
Nhưng phê phán nhau kịch liệt (về phương pháp) mà vẫn không quên ca ngợi sở trường của bạn, bảo vệ quan điểm của mình mà vẫn dũng cảm nhận ra sở đoản của mình, mà vẫn khuyên nhủ thuyết phục nhau, vẫn ủng hộ nhau, mà vẫn vui sướng khi xu hướng khác mình giành được thắng lợi như các vị ấy thì thật hiếm có.
Trong những cuộc bàn thảo vừa xung đột vừa cảm động ấy (đặc biệt là giữa Phan Châu Trinh với Phan Bội Châu và Nguyễn Tất Thành) Phan Châu Trinh luôn là người chủ động nhất và cũng là người có nhiều trăn trở dằn vặt nhất. Sở dĩ như vậy là vì Phan Châu Trinh luôn là người trung dung, dân chủ, ôn hoà, mà người như thế thường là chiếc cầu ở giữa nối các phía cực đoan gần lại với nhau.
Nhưng từ khi Phan Châu Trinh mất đi, phe ôn hoà không còn, chỉ còn toàn những phe chủ trương bạo lực thì tình hữu ái tương đối ấy không còn nữa, tuy cùng muốn cứu nước mà lại tìm cách vu cáo nhau, thôn tính nhau, tranh công của nhau đến một mất một còn. Bài học ấy đáng để những người đương thời suy ngẫm.
f. Tại sao tư tưởng Phan Châu Trinh bị chìm lắng?
Đã 81 năm kỷ niệm ngày mất của chí sĩ họ Phan (24.3.1926), hôm nay đã có đủ độ lùi để nhìn lại một giai đoạn lịch sử dân tộc. Tất nhiên lịch sử là cái đã qua, nhưng với niềm luyến tiếc ta cứ thử nghĩ về một chữ “nếu”.
Nếu đoàn tàu Việt Nam thuở ấy rẽ vào đường ray Phan Châu Trinh, nhằm hướng xã hội dân chủ như Na Uy, Thuỵ Điển bây giờ thì sao nhỉ?
Nếu nương vào Pháp để đi lên thành công, không thành cộng sản, thì giản ước được bao nhiêu thứ:
– không có cuộc đánh Pháp 9 năm
– không có cuộc “Nam Bắc phân tranh lần thứ 2” dẫn đến cuộc đánh Mỹ
– không phải tham chiến ở Căm-pu-chia
– không tranh giành gì để phải đánh Tàu năm 1979 (và đứng trước nguy cơ Bắc thuộc mới)
– không có lý do gì phải tiến hành cuộc “đổi mới hay là chết”
– không có lý do gì để xuất hiện làn sóng đòi dân chủ-nhân quyền, dẫn đến hài kịch bịt miệng bị cáo trước toà cho thiên hạ xem, vân vân…
Nghĩa là tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, bao nhiêu gương anh hùng, bao nhiêu nạn nhân, bao nhiêu máu xương, bao nhiêu hận thù…, và tăng thêm được bao nhiêu là hạnh phúc. Lịch sử không thể quay lại để kiểm chứng, nhưng ai cũng có quyền giả thiết để suy ngẫm, để rút kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai.
Nhưng tổ tiên mình thuở trước chắc vụng đường tu nên Trời đã sai lão Thiên lôi ra “bẻ ghi” để con tàu Việt Nam không thể đi vào đường ray Phan Châu Trinh, mà ngoặt sang đường ray Quốc tế số 3, có chữ “tiên tiến nhất trong xã hội loài người”, và thế là hôm nay ta đang ngồi đây giữa sân ga hiện thực này, tụt hậu so với xung quanh gần nữa thế kỷ, với bao vết thương trên thịt da và trong phủ tạng.
Sau khi đã công nhận những điều ưu điểm tuyệt vời trong tư tưởng Phan Châu Trinh, ta thường an ủi cho sự đi trệch đường ray đó bằng cách giải thích:
“Lịch sử, do những éo le của nó, đã không đi được theo con đường Phan Châu Trinh sáng suốt lựa chọn gần 100 năm trước” (Nguyên Ngọc, bđd.). Có lẽ hầu hết chúng ta đều làm dịu vết thương của mình như thế.
Nhưng cái gì là “sự éo le” của lịch sử? Ta bảo đó là “kẻ thù đã buộc chúng ta…”.
Cũng có thể kể ra một loạt sử liệu làm “bằng chứng cấu thành tội phạm” để kết án kẻ thù đã làm chúng ta “lỡ tàu”, để tự an ủi bằng chữ “bất khả kháng”. Nhưng mọi kẻ thù xưa nay, dù ở mức độ này hay mức độ khác, bản chất chúng bao giờ cũng thế thôi, bao giờ kẻ thù chẳng buộc chúng ta chọn con đường bất lợi. Quy tội cho chúng một nghìn lần cũng vô ích.
Vấn đề là ở mình. Nhìn số phận của mình mà lại thấy nguyên nhân nằm ở ngoài mình thì có nghĩa là mình bó tay. Cứ chịu bó tay, cứ chịu thua kém thiên hạ thì kẻ thù lại đến, và mình lại phải gồng lên để lại tiếp tục “anh hùng”! (Năm 1975, sau “đại thắng”, ta tuyên bố từ nay trở đi không kẻ thù nào dám xâm phạm bờ cõi ta nữa, thì chỉ 4 năm sau, một kẻ thù khác lại xâm phạm bờ cõi ngay chứ họ sợ gì đâu? Rồi đây, cái “biên giới mềm” lại càng khó bảo vệ hơn nữa). Phan Châu Trinh là người Việt Nam đầu tiên nhận ra nguyên nhân gốc rễ của cái chuỗi khổ ải lặp đi lặp lại bất tận ấy, là thua kém thiên hạ một tầm văn minh, và có giải pháp cơ bản để thoát ra và chấm dứt nó.
Nhưng bất hạnh thay, lịch sử đã không “chọn” Phan Châu Trinh.
Không, đừng nói lịch sử, phải nói: dân tộc này đã không “chọn” Phan Châu Trinh. Đổ cho lịch sử khách quan là vô trách nhiệm với chính mình.
Mặc dù đã cố gắng hết mình, lo cho số phận dân tộc, Phan Châu Trinh vẫn không thoát khỏi số phận cô đơn. Nếu Phan Châu Trinh cũng hô “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”, cũng “thề phanh thây uống máu quân thù” (lời cũ bài Quốc ca) thì chắc “lịch sử” đã chọn cụ rồi. Chọn cái gì, không chọn cái gì là do tâm lý dân tộc, sở thích của dân tộc, nhận thức của dân tộc, và chúng ta lại trở về với hai phần đầu của bài viết này (về mấy nhược điểm chính trong tính cách của dân tộc ta).
Thay vì “phanh thây” quân thù ta cần “nội soi” và mổ xẻ chính cơ thể mình với bàn tay tinh tế của y thuật.
Phan Châu Trinh lo cho dân trí của dân tộc này, nhưng chưa kịp làm cho dân trí trưởng thành thì dân trí đã gạt cụ ra bên lề lịch sử (mặc dù vẫn kính trọng cụ nhưng kính nhi viễn chi thôi, chỉ “cung kính” chứ không “tòng mệnh”, không đi theo đường).
Nhưng điều oái oăm là trong khi những người muốn đổi mới số phận dân tộc còn đang lúng túng trước dân trí thì phía cai trị bao giờ cũng hiểu dân trí rất rõ và tận dụng rất tài những nhược điểm của dân trí.
*
Mở đầu bài viết tôi chỉ muốn kính gửi đến các ông Võ Văn Kiệt, Bùi Tín, Lê Hồng Hà (và đến tất cả mọi người) mấy ý kiến nhỏ mà các ông đề cập về tình hình thời sự-chính trị, mà rồi lan man phải nhắc đến cụ Phan Châu Trinh 100 năm về trước, có lẽ một phần vì những điều các ông phát biểu (nhất là bài của ông Lê Hồng Hà) đều phảng phất có hình bóng Phan Châu Trinh trong đó, gợi ra cái nhu cầu phải ôn lại nhân vật lịch sử kiệt xuất này, làm chút ánh sáng giúp ta tránh một số điều mù quáng hiện nay. Nhưng đây là lĩnh vực tôi ít hiểu biết nhất. May mà có những người đi trước đã khảo cứu khá sâu về Phan Châu Trinh như các vị Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Văn Dương, Nguyên Ngọc, TS Thu Trang, Mai Thái Lĩnh…, lại thêm ở quê nhà Quảng Nam của cụ Phan cũng đã có nhiều hoạt động để nối tiếp con đường của cụ. Tôi xin cảm ơn các vị ấy.
Để kết luận, tôi thấy không gì bằng dùng lời kết của TS Thu Trang khi viết về Phan Châu Trinh: “CHỚ ĐEM THÀNH BẠI LUẬN ANH HÙNG!”.
Bà nhắc lại lời của triết gia Nietzsche: “Có vô vàn sự việc mà nhân loại đã thu đạt được trong bao thời kỳ trước, nhưng với một vẻ rất nhỏ, rất yếu tựa như còn trong trứng, nên người ta không trông thấy được sự thành hình. Nhưng với thời gian, có khi cần đến hàng thế kỷ, những sự việc ấy mới nổi bật lên trong ánh sáng… (Thu Trang, sđd)
Sinh thời, bao giờ Phan Châu Trinh cũng rất yêu mến bạn bè và dân chúng, thế mà rất nhiều lần cụ phải nhắc đến chữ “ngu”, như nhắc đến một kẻ thù nguy hiểm, không thể coi thường. Chính cụ cũng lấy chữ ngu ra để tự răn mình.
Vâng, cái ngu dốt thật đáng sợ, nhưng đáng sợ nhất là ngu dốt mà được hoan hô và nhất thời thắng lợi, vì như thế nó phá huỷ mất khả năng nhận thức ra chân lý.
Đà Lạt, viết xong ngày 24.5.2007 
_______________________________________________
[1]Mai Thái Lĩnh, “Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh – Về những nguyên tắc căn bản của chế độ dân chủ (Phần 1)”, talawas 24.2.2007
[2]Mai Thái Lĩnh, “Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh – Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (Phần 2)”, talawas 26.2.2007
[3]Mai Thái Lĩnh, “Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh – Về nền tảng đạo đức Nho giáo (Phần 3), talawas 24.3.2007
[4]Nguyễn Q. Thắng, Phan Châu Trinh – Cuộc đời và tác phẩm, Nxb Văn học, 2006 (tái bản lần thứ tư, có bổ sung)
[5]TS Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Nxb Văn Nghệ TPHCM, 2000
[6]Nguyên Ngọc, “Nhà cải cách giáo dục lớn đầu thế kỷ XX”, tạp chí Tia sáng, Bộ Khoa học và Công nghệ, tháng 10.2002, Hà Nội
[7]Daniel Héméry, trích theo Nguyên Ngọc, tạp chí Tia sáng (bài đã dẫn)
[8]Trích theo Huỳnh Lý, Lời giới thiệu – Phan Châu Trinh toàn tập, tập I, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr. 13-14
[9]Lê Bảo Sơn; Phan Trọng Hùng, “5 nhà trí thức phát biểu về ‘Con đường xã hội-dân chủ ở nước ta’”, talawas 2.9.2005; http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5273&rb=0401

Phản ứng về phiên xử Đinh Nhật Uy

Bạn bè và Đinh Nhật Uy vui mừng vì anh được tự do

Hàng loạt người dùng Facebook và các công dân mạng đã chia sẻ suy nghĩ của họ ngay trước phiên xử Đinh Nhật Uy và sau khi anh bị kết án tù treo 15 tháng.

Nhà báo kỳ cựu Trần Hạnh từ Úc viết trên Facebook:

“Tại Việt Nam, một nhà nước độc đoán tàn bạo ngu đần vừa xử Đinh Nhật Uy, một thanh niên yêu nước, 15 tháng tù treo. Người dân reo mừng! Bất công vẫn y nguyên.”

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh dẫn lời Facebooker ‘Bấm Tin Không Lề‘ viết:

“Đinh Nhật Uy đã bị bắt ngày 15/6/2013, tính đến ngày ra tòa, Uy đã bị giam đúng 4 tháng 2 tuần. Bây giờ tòa xử 15 tháng tù treo, vậy thời gian đã ngồi tù của Uy sẽ được tính sao đây?

“Vì sao cơ quan điều tra đã không cho Đinh Nhật Uy được tại ngoại hầu tra? Ngay cả khi cho rằng Uy phạm tội, thì tội này cũng không phải đặc biệt nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng bởi vì hàng triệu Facebooker đã và đang “phạm tội” như Uy mỗi ngày là viết trên Facebook. Không những thế, họ viết còn nặng hơn cả những gì Uy viết.

“Đinh Nhật Uy đã bị bắt ngày 15/6/2013, tính đến ngày ra tòa, Uy đã bị giam đúng 4 tháng 2 tuần. Bây giờ tòa xử 15 tháng tù treo, vậy thời gian đã ngồi tù của Uy sẽ được tính sao đây?”

Tin Không Lề

“Uy cũng không có ý định trốn hoặc gây cản trở cho việc điều tra, nên việc áp dụng biện pháp tạm giam với Đinh Nhật Uy là không cần thiết, nhưng họ đã bắt giam Uy hơn 4 tháng. Bây giờ tòa tuyên án tù treo, vậy ai sẽ trả lại thời gian ngồi tù (lẽ ra không phải ngồi) của Đinh Nhật Uy?”

Facebooker Nguyễn Đình Hà bình luận:

“…[H]ình như cả cái xứ này nhận án tù treo từ lâu lắm rồi, chỉ có khác là không có bản án, không có thời hạn chấp hành hình phạt thôi.
Tại sao á? Thì đi đâu cũng phải khai báo, đăng ký, làm việc gì cũng phải đến cơ quan công an hoặc chính quyền địa phương xin xác nhận, nhận xét, điện thoại lúc nào cũng có thể bị nghe lén, thư tín thì có nguy cơ bị đọc trộm, công an thích bắt lúc nào thì bắt, các quyền tự do, dân chủ căn bản đều bị hạn chế, bị xâm hại đó thôi.”

Có người cũng nói ngoài việc khiếu nại bản án, Đinh Nhật Uy cũng nên khiếu nại chuyện phải hủy đám cưới vì bị bắt giam trong vài tháng.

‘Không thể bào chữa’

Vẫn trên Facebook, Bạch Huỳnh Duy Linh viết:

“Những người bị đưa ra tòa có liên quan đến chính trị không thể nào bào chữa nếu dựa vào luật pháp của Việt Nam. Nếu dựa vào hệ thống luật pháp đó chắc chắn sẽ không cãi được với viện kiểm soát.”

Một số công dân mạng cũng đưa nhiều ảnh và video quay cảnh người ủng hộ Đinh Nhật Uy ngoài phiên tòa bị bắt đưa về đồn công an.

Có cáo buộc ông Lưu Trọng Kiệt bị ‘công an chìm’ tấn công

Cũng có cáo buộc “công an chìm” đánh bị thương ông Bấm Lưu Trọng Kiệt, người tới theo dõi phiên tòa sáng nay.

Blogger Jonathan London dẫn đường link tới một video trên YouTube trong đó người ta có thể nghe thấy tiếng hô ‘Tự do cho Đinh Nhật Uy’, ‘Tự do cho dân tộc Việt Nam’, ‘Bãi bỏ 258’ và ‘Tự do Internet’.

Blogger này cũng để trong ngoặc kép: “Hãy bỏ 258”, điều luật hình sự vẫn được dùng để trấn áp các biểu đạt ôn hòa của người dân.

Án tù treo cho Facebooker Đinh Nhật Uy

Đinh Nhật Uy (đeo kính đứng giữa) là người đầu tiên bị xử theo Điều 258

Tòa án tỉnh Long An ngày 29/10 tuyên án Đinh Nhật Uy, anh trai của Đinh Nguyên Kha, 1 năm 3 tháng tù cho hưởng án treo vì tội Lợi dụng quyền tự do dân chủ theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự, luật sư bào chữa của Đinh Nhật Uy cho biết.

Bên cạnh đó, Đinh Nhật Uy cũng phải trải qua một năm thử thách, luật sư Hà Huy Sơn cho biết thêm.

Ông Uy là người sử dụng Facebook (Facebooker) đầu tiên ở Việt Nam bị xử theo Điều 258, mà nhiều người cho là giới hạn tự do trên internet.

Trả lời BBC qua điện thoại sau phiên tòa, diễn ra trong vài tiếng đồng hồ sáng 29/10, luật sư Sơn cho rằng bản án là “không khách quan”.

“Hai luật sư đã đưa ra quan điểm rằng người bị hại không bị thiệt hại gì về lợi ích vật chất và tinh thần để cấu thành trách nhiệm hình sự theo Điều 258, nhưng tòa án không nghe theo ý kiến của luật sư và tuyên án theo đề nghị của Viện Kiểm sát”, ông nói. Tuy nhiên, ông Sơn cũng cho biết bản án của Đinh Nhật Uy là “nằm trong dự đoán”.

“Có thể người ta để mức án tương đối cao để răn đe người khác, nhưng lại cho hưởng án treo, hoặc nếu để án tù thì có thể thời hạn sẽ ngắn hơn, vì Đinh Nhật Uy thì cũng không phải người mà chính quyền lo ngại lắm,” ông nói.

Khi được hỏi về thái độ của ông Uy khi nghe tuyên án, ông Sơn cho biết “Đinh Nhật Uy vẫn cho rằng mình bị oan, không có tội.”

“Uy có đề nghị trước tòa là nếu tôi có sai sót gì thì đề nghị bên bị hại kiện ra tòa dân sự, nếu có phải bồi thường gì thì tôi sẽ sẵn sàng thi hành.”

Bà Nguyễn Thị Kim Liên, mẹ Đinh Nhật Uy, cho BBC biết gia đình “cũng phấn khởi, nhưng không bằng lòng hoàn toàn, vì con tôi không có tội”.

Hiện cả gia đình và luật sư vẫn chưa rõ Đinh Nhật Uy có ý định kháng cáo hay không.

Trước đó, trả lời BBC sáng 29/10, bà Liên cho biết bà và hàng chục người có mặt trước tòa án tỉnh Long An để dự phiên xử đã bị lực lượng an ninh đẩy lên xe đưa đi.

“Khoảng 40-50 người đã tới trước tòa, vì đây là ‘phiên tòa công khai,” bà nói.

Bà cho biết một trong số những chiếc xe này đưa bà và hơn một chục người khác đến phòng chờ của trại tạm giam thành phố Tân An để làm việc.

“Tôi không rõ họ đưa những người khác đi đâu”, bà nói.

Các nguồn tin trên mạng xã hội nói những người đến tham dự phiên tòa Đinh Nhật Uy sáng 29/10 đã bị lực lượng công an chia nhỏ và bắt giữ theo nhiều nhóm khác nhau nên cho đến nay vẫn không xác định được chính xác số người bị bắt.

Người dùng Facebook

Bình luận với BBC về bản án dành cho Đinh Nhật Uy, blogger Nguyễn Anh Tuấn – một trong những người khởi xướng Tuyên bố 258 – nói anh “vui cho gia đình cô Liên khi sắp được gặp lại Uy”.

“Với sự phát triển của Facebook ở Việt Nam, tôi cho rằng Uy sẽ chỉ là người đầu tiên chứ không phải người duy nhất. Do đó, chúng tôi sẽ tiếp tục các hành động cho đến khi nhà nước Việt Nam bãi bỏ điều 258 và các điều khoản tương tự.”

Blogger Nguyễn Anh Tuấn

“Tuy nhiên, đây vẫn là bản án bất công, khi tuyên Uy có tội, dù là án treo”

“Trường hợp của Uy là một trong những lý do chính khiến tôi tham gia ký Tuyên bố 258, bởi tôi tin rằng nếu các blogger và Facebooker chúng tôi im lặng trước việc bắt giữ Uy theo điều 258 thì trong tương lai người kế tiếp chính là chúng tôi.”

“Với sự phát triển của Facebook ở Việt Nam, tôi cho rằng Uy sẽ chỉ là người đầu tiên chứ không phải người duy nhất. Do đó, chúng tôi sẽ tiếp tục các hành động cho đến khi nhà nước Việt Nam bãi bỏ điều 258 và các điều khoản tương tự.”

Đinh Nhật Uy, 30 tuổi, bị bắt hôm 15/6 để điều tra về ‘Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân’ theo Điều 258 Bộ Luật hình sự.

Bản kết luận điều tra dài bảy trang do Đại tá Nguyễn Sáu, Thủ trưởng Cơ quan An ninh Điều tra tỉnh Long An, ký ngày 27/8 vừa được phát tán trên mạng internet.

Cơ quan điều tra xác định rằng từ ngày 21/11/2012 đến ngày 15/06/2013 tức thời điểm bị bắt, Đinh Nhật Uy đã “sử dụng máy vi tính kết nối mạng internet để thực hiện 58 lượt đăng tin trên trang Facebook cá nhân… Các tin đăng này có chứa nội dung hướng đến việc xâm hại các cơ quan Nhà nước, tổ chức và công dân…”

Ông Đinh Nhật Uy bị nói đã sử dụng trang Facebook cá nhân để “đăng tin có nội dung chỉ trích, phê phán, chế nhạo hoạt động của các cơ quan tư pháp; xúc phạm đến hai tổ chức kinh tế là tập đoàn Viễn Thông quân đội và Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam”.

Ngoài ra, theo bản kết luận điều tra nói trên, trang Facebook của Đinh Nhật Uy còn chia sẻ đường link tới các trang và blog khác, có nội dung “chống đối chính quyền , cổ vũ cho các hoạt động vi phạm pháp luật”.

Ngoài các hoạt động trên mạng xã hội Facebook, Đinh Nhật Uy còn bị buộc là đã trả lời phỏng vấn đài báo nước ngoài là RFA, VOA và Radio Chân trời mới với nội dung “bênh vực Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên”.

Đinh Nguyên Kha, em ruột của Đinh Nhật Uy, vừa được tòa phúc thầm Long An giảm án từ 8 năm xuống 4 năm tù giam vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự.

Blogger Ðinh Nhật Uy bị tuyên án 15 tháng tù treo

Blogger Đinh Nhật Uy bị bắt từ ngày 15/6 sau khi bắt đầu chiến dịch vận động trên trang Facebook cá nhân, kêu gọi trả tự do cho em trai Đinh Nguyên Kha hiện đang thọ án 4 năm tù về tội danh ‘tuyên truyền chống chính phủ'

Blogger Đinh Nhật Uy bị bắt từ ngày 15/6 sau khi bắt đầu chiến dịch vận động trên trang Facebook cá nhân, kêu gọi trả tự do cho em trai Đinh Nguyên Kha hiện đang thọ án 4 năm tù về tội danh ‘tuyên truyền chống chính phủ’

Một tòa án Việt Nam đã kết án một người sử dụng trang mạng xã hội Facebook để chỉ trích chính phủ.

Hôm nay, toà án đã ra phán quyết blogger Ðịnh Nhật Uy là có tội, nhưng cho bị can được hưởng án treo và không bị giam cầm.

Luật sư của blogger Ðinh Nhật Uy cho biết thân chủ của ông bị buộc tội “lạm dụng quyền tự do dân chủ” trong phiên xử kéo dài 1 ngày.

Ðây là vụ xử đầu tiên ở Việt Nam đề cập đích danh trang mạng Facebook.

Tổ chức Human Rights Watch có trụ sở ở Hoa Kỳ đã kêu gọi phóng thích blogger Ðinh Nhật Uy ngay tức khắc.

Tổ chức này báo cáo có 61 nhân vật bất đồng chính kiến và hoạt động chính trị đã bị cáo buộc và kết án tù trong năm 2013, so với khoảng 40 vụ buộc tội cách đây 1 năm.

Hồi tháng 9, một bộ luật mới có hiệu lực ở Việt Nam ngăn cấm việc chia sẻ các tin nhắn chỉ trích chính phủ trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Chưa có ai bị truy tố theo bộ luật này.

Hướng về Long An và Đinh Nhật Uy

 http://danlambaovn.blogspot.com/2013/10/huong-ve-long-va-inh-nhat-uy.html#.Um3-nxBGbCZ

Nhận định của Nguyễn Trí Dũng, con của blogger Điếu Cày, Đào Trang Loan thành viên Mạng lưới Blogger Việt Nam và Linh mục Giuse Đinh Hữu Thoại, trưởng văn phòng Công lý-Hòa bình Dòng Chúa Cứu Thế – Sài Gòn.

CTV Danlambao – 7h30 phút ngày mai 29/10/2013, blogger Đinh Nhật Uy bị nhà cầm quyền đưa ra trước tòa án nhân dân tỉnh Long An để xét xử theo khoản 1 của Điều 258 BLHS. Đây là phiên tòa đầu tiên trên thế giới mà “bị can” thực hiện mọi hành vi của mình trên trang facebook mà bị truy tố. Tuần trước bà Nguyễn Thị Kim Liên đã có thư mời chủ trang mạng facebook.com là ông Mark Zuckeberg tham dự phiên tòa với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Một nhóm các nhà hoạt động nhân quyền ở Mỹ đã đến trụ sở facebook và đã trao cho họ bức thư của bà Liên.

Theo tin tức của CTV Dân Làm Báo từ Hà Nội, Vinh, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài Gòn, An Giang, Tiền Giang, Long An… thì những người yêu mến anh Uy và yêu chuộng tự do đã lên đường đến Long An để tham dự phiên tòa chế độ này. Một số blogger dự đoán sẽ bị côn an chặn nên đã lên đường từ trước và hẹn nhau đúng 7h30 phút sẽ đến trước cổng tòa án để vào tham dự phiên tòa “công khai”.

Trong bầu không khí sục sôi của nhiều người đến tham dự phiên tòa, chúng tôi đã liên lạc được với những bạn trẻ, nhà lãnh đạo tôn giáo, con của tù nhân công ước, blogger từng đi trao Tuyên bố 258… để chuyển tải cho quý vị trong thôn DLB bầu không khí sục sôi đó!

*

Anh Nguyễn Trí Dũng, con của tù nhân công ước-blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn:

1. Anh có thể cho chúng tôi được biết nhận định của anh về phiên tòa ngày mai?

Nguyễn Trí Dũng: Chỉ cần nhìn qua lý lẽ nông cạn và chứng cớ mù mờ thì kinh nghiệm cá nhân tôi mách bảo phiên tòa Đinh Nhật Uy chắc chắn sẽ lại là một phiên tòa đóng, mà những việc gì xảy ra trong một phiên tòa đóng không hề quan trọng! Vì bản thân cái ý nghĩa lớn nhất của sự minh bạch đã không còn, thì phiên tòa không đủ ý nghĩa công lý để kết án một con người. Vậy đó!

2. Nếu phiên tòa này ngày mai “có án tù” cho Đinh Nhật Uy, anh có cho rằng tiếp theo nó sẽ là chiến dịch 258 để bóp nghẹt tiếng nói của các blogger bất đồng chính kiến?

Nguyễn Trí Dũng: Chiến dịch bắt bớ các blogger và tiếng nói đối lập đã có từ lâu. Trước đây là Điều 79, Điều 88, nay nhà cầm quyền chuyển sang Điều 258. Nếu không phải Điều 258 thì sẽ là điều khác, thậm chí không cần điều luật rõ ràng nào!

Chỉ có khác là vụ án Đinh Nhật Uy là một trong những vụ điển hình nhất sử dụng sự mù mờ của Điều 258 để bắt blogger và tiếng nói bất đồng. Nếu có án tù, chứng tỏ trong tương lai Điều 258 sẽ là đôi dép ưa thích để đôi chân bất công mang vào chà đạp tự do ngôn luận!

Chưa bàn sâu bàn kỹ, chỉ cần liệt kê một loạt các án của Điều 258 ai cũng thấy không bao giờ có một cơ quan hay cá nhân của nhà nước nào bị kết án theo điều này. Trong khi xã hội có hơn 700 báo đài và 258 là 1 điều luật trong đó có bao gồm lãnh vực thông tin.

Chứng tỏ Điều 258 đang được sử dụng vào một mục đích cá biệt và áp dụng cho nhân dân là chính. Khi tôi nói nhân dân có nghĩa là những công cụ thông tin của nhân dân như Facebook, Google+, Cựu Yahoo blog, và các trang blog khác…

3. Anh có thể cho độc giả trong thôn được biết kinh nghiệm khi tham gia 1 phiên tòa kiểu này?

Nguyễn Trí Dũng: Chủ yếu là bạn xác định xem mục đích của bạn là gì?!

– Bạn có thể không đến dự để thể hiện mình không công nhận một phiên tòa bất công.

– Bạn có thể đến để tham dự và biểu thị ý kiến cá nhân của mình một cách ôn hòa và cũng có thể nêu ý kiến cá nhân của mình bằng những công cụ hiện có.

Tự do là ở chỗ đó, bạn luôn biết mục đích của mình và làm những gì đúng với công lý và quyền tự do.

Xin cảm ơn anh và chúc blogger Điếu Cày sớm được trả tự do!

*

    Blogger Đào Trang Loan và ông Felix Schwarz tiếp nhận Tuyên Ngôn 0258
của MLBVN tại toà đại sứ Đức

Có nhiều người cho rằng bản án dành cho Đinh Nhật Uy có thể là đòn giáng mạnh vào Mạng lưới Blogger Việt Nam (MLBVN) và Tuyên bố 258, chính vì vậy chúng tôi đã liên lạc với một thành viên của MLBVN là blogger Đào Trang Loan (facebook Hư Vô). Đào Trang Loan được biết đến như một người trẻ nhiệt huyết đã từng tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, dã ngoại nhân quyền… Thời gian vừa qua bạn đã cùng với một số blogger khác, đại diện cho MLBVN mang Tuyên bố 258 đến các đại sứ quán Đức, Úc để gióng lên hồi chuông báo động về nhân quyền xuống cấp của Việt Nam. Chúng tôi đã trao đổi với bạn Đào Trang Loan để hiểu rõ tâm tư của một thành viên mạng lưới blogger VN trước phiên tòa chế độ này.

1. Chào bạn, bạn có thể cho chúng tôi được biết dư luận của các blogger Hà Nội về phiên tòa ngày mai như thế nào?

Đào Trang Loan: Theo tôi thấy thì hầu hết các blogger ngoài này đều không đồng ý với bản cáo trạng của cơ quan an ninh điều tra đối với Đinh Nhật Uy. Họ cho rằng nếu Uy có “tội” thì “tội” của họ có thể gấp 3 tội của Uy. Một số người đã khăn gói vào Long An để kịp dự phiên tòa ngày mai.

Còn riêng tôi, tôi thấy đây là một phiên tòa vô lý vì những gì họ buộc tội trong cáo trạng của Đinh Nhật Uy như: xúc phạm đến 2 tập đoàn VNPT, Viettel làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của 2 tập đoàn này mà không có trưng ra bất cứ thứ gì để chứng minh. Bên cạnh đó, bất kỳ người tiêu thụ, khách hàng nào cũng có quyền phê bình sản phẩm, cung cách phục vụ của một công ty. Ngoài ra còn có lưu trữ áo HS-TS-VN, áo No-U xóa đường lưỡi bò-Bảo vệ tổ quốc, những ý kiến cá nhân của Uy về việc Uy lên tiếng cho em trai mình là Đinh Nguyên Kha đang bị bỏ tù, những lí do hết sức mơ hồ để ghép Uy vào Điều 258. Mà Điều 258 cũng là một điều luật hết sức mơ hồ và dễ bị lợi dụng để chụp mũ các tiếng nói đối lập.

2. Chị có cho rằng phiên tòa lần này là cả một chiến dịch để đánh vào Mạng lưới Blogger Việt Nam cũng như Tuyên bố 258?

Đào Trang Loan: Cá nhân tôi nghĩ nhà cầm quyền dường như quá lo lắng về sức ảnh hưởng của Tuyên Bố 258 nên phiên tòa này diễn ra như một hình thức dọa nạt. Điều này chứng tỏ sự thành công của MLBVN và Tuyên bố 258. Còn phiên tòa này có là một chiến dịch của nhà cầm quyền hay không thì phải đợi kết quả từ phiên tòa ngày mai và những động thái tiếp theo. Nếu có án tù cho Đinh Nhật Uy thì rõ ràng quyền tự do ngôn luận đã, đang và sẽ bị bóp nghẹt.

Cảm ơn chị, chúc chị và MLBVN sức khỏe và sự thành công!

Linh mục Giuse Đinh Hữu Thoại, trưởng Văn phòng Công lý-Hòa bình Dòng Chúa Cứu Thế – Sài Gòn đã dành cho chúng tôi những nhận định của mình về phiên tòa này:
Nhà cầm quyền VN càng ngày càng lún sâu vào những sai lầm ngớ ngẩn khi sử dụng một điều luật mơ hồ để kết án người sử dụng facebook. Thật ra họ tái diễn trò bắt dân để có mà trao đổi với quyền lợi từ quốc tế mà thôi.

Tôi không nghĩ sau phiên tòa này nhà cầm quyền có thể đàn áp các nhà hoạt động và người bất đồng chính kiến. Vì làm sao có thể bắt hết tất cả những nhà hoạt động nhân quyền và tôn giáo hiện nay khi con số của họ ngày càng đông, liên kết chặt chẽ có tổ chức và nhất là họ không còn sợ hãi nữa?!

Người tham dự phiên tòa này lần này tôi chắc sẽ đông hơn. Vì tôi biết có những người ở tận Hà Nội để vào tham dự, ngoài ra Nghệ An cũng vào. Còn ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận Long An tôi nghĩ sẽ không ít.
*
Ảnh bạn đọc gửi Dân Làm Báo
Chỉ còn vài tiếng nữa thôi, phiên tòa đầu tiên kết tội các blogger Việt Nam về Điều 258 sẽ diễn ra. Dư luận thế giới quan tâm tới nhân quyền Việt Nam đều hướng mắt về Long An, hướng về blogger – công dân yêu nước Đinh Nhật Uy để theo dõi phiên tòa này. Liệu thẩm phán Nguyễn Hòa Bình có cho ra một phán quyết về một bản án công bằng hay không? Liệu những nhân viên công lực sẽ “tiếp đón” các blogger đến tham dự phiên tòa như thế nào?
Chúng ta hãy chờ xem diễn biến của phiên tòa ngày mai trên Dân Làm Báo.

danlambaovn.blogspot.com

Nhóm người H’mong lại trở về Hà Nội khiếu kiện

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok. 2013-10-27

Nhóm dân tộc thiểu số H’mong đến vườn hoa Mai Xuân Thưởng  để khiếu nại việc phá nhà ma theo tập quán của họ (ngày 23/10/2013)

Nhóm dân tộc thiểu số H’mong đến vườn hoa Mai Xuân Thưởng để khiếu nại việc phá nhà ma theo tập quán của họ (ngày 23/10/2013)

Courtesy danchimvie

Nghe bài này

Nhóm dân tộc thiểu số H’mong cả trăm người về Hà Nội khiếu kiện chuyện chính quyền địa phương ngăn cản không cho họ thực hiện những nghi lễ mới bị trục xuất đưa về quê từ tối ngày 23 tháng 10. Tuy nhiên đến sáng chủ nhật 27 tháng 10, một số lại trở về Hà Nội và bị hốt đưa về trụ sở tiếp công dân số 1 Ngô Thì Nhậm, Hà Đông.

Gia Minh cập nhật thông tin qua cuộc nói chuyện với hai người trong cuộc là anh Ma Văn xá và  ông Ma Văn Sình.

Về đòi lại đồ và người

Tương tự như nhiều người dân oan từ nhiều vùng khác nhau của Việt Nam, những người H’mong kéo nhau lên Hà Nội từ hồi tháng 9 và bị trục xuất đưa về tối ngày 23 tháng 10 trong khi đơn khiếu nại của họ chưa được giải quyết nên họ lại phải trở về thủ đô để gặp cho được các cấp giải quyết cho họ.

Anh Ma Văn Xá vào trưa ngày 27 tháng 10 cho biết:

Có một số bà con bị mất tích, rồi hành lý, đồ dùng, quần áo, tiền bạc… đều bị mất cả nên bà con xuống lại tìm để mang về.

Bà con đến Hà Nội lúc 7 giờ sáng, đi bằng xe ô tô. Đến Vườn Hoa Lý Tự Trọng để tìm lại đồ dùng và người mất tích vì một số người dân oan ở đó nói có thấy điện thoại, túi còn đấy. Bà con đến đấy khoảng 1 tiếng thì công an đến bắt lôi bà con lên xe đưa về số 1 Ngô Thì Nhậm. Công an nói tối hôm ấy đưa về đây mà không có đồ của bà con. Chỉ có công an làm việc và bà con ở lại nghỉ tại trụ sở tiếp công dân.

Bà con có nguyện vọng mong Đảng, chính quyền không còn đánh đập bà con, không ép bà con đến con đường cùng. Đất nước này phải có tự do để bà con sống hòa hợp, Nhà nước trả tự do cho mọi người để họ được sống và làm những việc mình mong muốn.

Anh Ma văn Xá

Bà con bị lừa rất nhiều lần nói là mai giải quyết, mà tối lại ‘mò’ đến bắt bà con về. Nay bà con không biết nói thật hay nói đùa, nên ở đây để làm đơn tố cáo đòi trả lại tiền, đồ dùng và đòi trách nhiệm chữa cho những người bị thương nằm tại bệnh viện và những người mất tích.

Bà con có nguyện vọng mong Đảng, chính quyền không còn đánh đập bà con, không ép bà con đến con đường cùng. Đất nước này phải có tự do để bà con sống hòa hợp, Nhà nước trả tự do cho mọi người để họ được sống và làm những việc mình mong muốn.

Kiến quyết theo lối sống mới

Điều mà anh Ma văn Xá nói mong muốn được tự do thực hiện đó là những hành xử tâm linh của người H’mong hiện nay được chính một đồng bào của họ hướng dẫn là ông Dương Văn Mình.

Ông Ma Văn Sình một người H’Mong nói lại điều đó:

Bà con vẫn tiếp tục không bao giờ bỏ.

Gia Minh: Báo chí Nhà nước nói rằng ông Dương Văn Mình theo tà đạo và có những sai phạm. Ông nhận xét ra sao về ông Dương Văn Mình?

Ông Ma văn Sình: Chính quyền và an ninh qui cho ông Dương Văn Mình là tà đạo, nhưng trong thực tế ông Dương Văn Mình không phải tà đạo, nghịch đạo. Tôi nói cho anh biết ông Dương Văn Mình chỉ là người phổ biến cho bà con cải cách, đổi mới những cái lạc hậu đi. Bà con nhìn thấy đó là con đường đi rất phù hợp cho bà con. Bà con không bỏ.

Chính quyền và an ninh qui cho ông Dương Văn Mình là tà đạo, nhưng trong thực tế ông Dương Văn Mình không phải tà đạo, nghịch đạo. Tôi nói cho anh biết ông Dương Văn Mình chỉ là người phổ biến cho bà con cải cách, đổi mới những cái lạc hậu đi. Bà con nhìn thấy đó là con đường đi rất phù hợp cho bà con

Ông Ma văn Sình

Gia Minh: Xin ông cho biết lại cụ thể những điều mà ông Dương Văn Mình nói bà con đổi mới để có cuộc sống mới là gì?

Ông Ma văn Sình: Thứ nhất ông phổ biến, bảo cho bà con bỏ ma chay đi, không làm ma nữa, bây giờ hết thế kỷ rồi. Theo yều cầu của bà con phải có cái thay thế, anh Dương Văn Mình phổ biến là có một con ‘cóc, con ve’ thay cho kèn trống và một cây Thánh Giá để tiễn đưa linh hồn. Thứ hai về đám cưới, chú rễ cài một bông hoa bốn lá, cô dâu cài bông hoa chín lá. Có ba bàn và một bàn giảng đạo.

Bài hát tiễn đưa người chết có bốn bài hát, đám cưới có năm bài hát. Chỉ có thế thôi.

Cái nhà để ‘con cóc, con ve’, trước bà con xây dựng chính quyền bảo như thế là đúng, để cho bà con sử dụng; nhưng sau có người là theo thì chính quyền phản ứng và phá từ năm 2007. Đến năm 2012, bà con vẫn không có đơn khiếu nại, báo cáo chính quyền. Nhưng đến ngày 7 tháng 4 năm 2013, bà con sửa chữa lại nhà đó để bảo quản ‘con cóc, con ve’ khỏi mưa nắng; nhưng chính quyền nói không được phép, nói trái phép không cho làm. Bà con không chịu bảo bà con phải cho phép. Chính quyền kéo lực lượng đến đàn áp, khống chế bà con.

Thông tin từ người H’mong và những người quan tâm cho biết ông Dương Văn Mình hiện đang mắc bệnh và chữa trị tại bệnh viện 198 của công an dưới sự canh gác chặt chẽ.

Lời cuối cho nhóm Hoàng Thị Nhật Lệ

Nguyễn Ngọc Già gửi RFA từ Việt Nam.  2013-10-26
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/nguyen-ngoc-gia-blog-1026-10262013115021.html

bac_si_vut_xac_benh_nhan_305.jpg

BS Nguyễn Mạnh Tường, chủ nhân thẩm mỹ viện Cát Tường ở Hà Nội bị công an bắt hôm 22 tháng 10.

Courtesy 24h

Một kẻ “hành” cái “nghề” gọi là “sửa sắc đẹp” không những làm chết người, lại còn liệng nạn nhân xuống sông Hồng, hầu như không ai không biết. Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra đây cho thế hệ trẻ như nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ xem chất đểu cáng của người cộng sản: Đỗ Kim Tuyến – trung tướng – Tổng cục phó Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, Bộ Công an – đại biểu quốc hội Hà Nội, phát ngôn sau vụ chết người này [1]: “…hiện chưa có giải pháp chống suy thoái đạo đức xã hội”. Phía sau câu nói này, mục tiêu rõ ràng của người cộng sản: chạy trốn trách nhiệm đối với dân.

Người cộng sản đang tự phỉ nhổ lẫn nhau, bởi không ai không biết phong trào “Học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” từ ngày 03/2/2007 kéo dài cho đến nay, ròng rã hơn 6 năm trời! Phong trào này không phải để “chống suy thoái đạo đức xã hội” như Đỗ Kim Tuyến nói, thì để làm gì (?)

Gần 7 năm qua, dù chưa có thống kê, nhưng tội ác trong xã hội ngày càng dày đặc về số lượng và man rợ về tính chất.

Trước khi tên đồ tể khoác áo bác sĩ có tên Nguyễn Mạnh Tường gây cái chết “trôi sông lạc chợ” cho người phụ nữ đáng thương kia, nhất định hắn cũng đã từng ngồi trong hội trường với cái thứ “học và làm theo…” phủ trùm trong mọi cơ quan và “bài thu hoạch” của hắn chắc chắn đã từng nhận được đánh giá tốt đẹp (!).

Nếu cô Lệ và bạn bè chưa tin, hãy xem thêm tên lưu manh “nổi tiếng” Hồ Xuân Mãn theo đường dẫn dưới đây [2].

Tôi biết nhóm bạn “phản bác tuyên bố 258” có đọc bài “Hoàng Thị Nhật Lệ và Nguyễn Hạnh Phúc”. Điều này không làm tôi vui, thay vào đó tôi vô cùng lo ngại. Lo ngại bởi tính “khôn lỏi” của thế hệ trẻ như nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ, nhưng tôi không trách, bởi tôi biết, ít nhiều bạn trẻ hiện nay bị cộng sản “nhồi sọ” quá lâu, đặc biệt một phần từ phong trào “học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ắt không tránh khỏi trong tất cả các giảng đường, thời gian qua.

Mục đích bài viết này, vừa để không mang tiếng xúi bậy vừa làm tròn trách nhiệm của một Người Lớn đối với thế hệ trẻ Việt Nam. Tôi cũng không hy vọng nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ nhận ra, nhưng ít nhất, tôi viết cho lương tâm tôi thanh thản với ngạn ngữ “còn nước còn tát” như đã trình bày trong bài trước.

Cần nhắc lại: Tôi chỉ khuyên nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ nên viết “Thư Ủng Hộ” điều 258, Luật Hình Sự. Nhóm cô Lệ vì bị “tẩy não” quá lâu, nên sanh ra tính thực dụng bẽ bàng: thấy ý kiến gì có vẻ “hay hay” và nghĩ có lợi cho mình là … “tranh thủ” chụp giựt, từ đó “sản xuất” ra cái “Tuyên bố ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc” [3].

“Tình” của người cộng sản

“Tình” của người cộng sản có là “tấm gương” cho nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ soi?

IMG_4698-250.jpg
Nhóm “Phản bác 258” trao thư phản bác cho đại diện Vụ các Tổ chức Quốc tế – Bộ Ngoại giao Việt Nam tại số 6 Chu Văn An Hà Nội sáng 17/10/2013. Courtesy FB HTNL.

Trong thể thao, đôi khi vì quá chủ quan về tài năng mà vận động viên đã tự làm chết mình. Tuy nhiên, điều đau thương hơn, không phải cái chết mà chính tật nguyền vĩnh viễn đã để lại nỗi đau cho mình và gánh nặng cho gia đình trong sự bỏ mặc của cộng sản, sau khi “quả chanh” đã không còn “vắt” được chút “nước cốt” nào nữa. Trường hợp võ sĩ Lê Thị Huệ [4] là minh chứng của người cộng sản đối với nhân tài. Đó là nghĩa đen với tính thực dụng, bạc bẽo và bất lương mà người cộng sản đối xử với thế hệ trẻ “cạn tàu ráo máng”.

Trong giới blogger, không ai không biết blogger Beo do nhà báo Hồ Thị Thu Hồng, cựu tổng biên tập báo Thể Thao Tp.HCM. Với bề dày hoạt động nhiều chục năm cùng sự “cúc cung tận tụy” dưới trướng của một phe phái “nặng cân”, cuối cùng bà Hồng cũng bị đá văng khỏi chức vụ, bất chấp sự “bảo kê” từ một viên tướng an ninh khét tiếng dã man máu lạnh bị về vườn, sau những trận đấu đá “một mất một còn” của các phe phái. Đó là tấm gương gọi là “ủng hộ” mang màu sắc “yêu nước” mà thế hệ trẻ “kính đảng, yêu bác, trọng chế độ” nên lấy đó làm gương.

Hồ Đức Việt, một người cộng sản cao cấp, đã từng ngấp nghé chiếc ghế “tổng bí thư”, bị cho “về vườn” sau cuộc “giành ghế” ngã ngũ với phần thua nghiêng về ông Việt. Ông ta đã chết trong tức tưởi, nghe đâu từ căn bệnh gan sau một thời gian dài chỉ “uống mà không ăn”. Đám tang dù “trang trọng”, nhưng không dấu được những bộ mặt “đưa đám” tỏ ra “buồn rầu” là tấm gương thứ ba dành cho nhóm bạn cô Lệ.

Nếu những “tấm gương” trong nước chưa đủ thuyết phục, thì “gương soi” “đắt tiền” sau đây càng cần thiết đưa ra cho các bạn trẻ tiếp tục suy ngẫm xem người cộng sản Việt Nam đối xử với một nhân vật vô cùng nổi tiếng [5] và luôn ủng hộ chế độ độc đảng toàn trị (trích):

“Gần đây đọc hồi ký “Gia đình bạn bè và đất nước” của nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, tôi giật mình kinh hãi khi biết một sự thật. Thời đó, sau chiến tranh, trên dãi đất chữ S này, tất cả mọi thứ đều thiếu thốn, chỉ đạn bom và anh hùng là dư dã. Tháng 10 năm 1975, bà Bình cùng với hai cộng sự đi qua mấy nước Ả Rập với một nhiệm vụ trọng đại. Nhiệm vụ đó nằm trong hai chữ “vay dầu”. Bà Bình kể trong cuốn hồi ký.

Chuyến đi Iraq để lại cho tôi một kỷ niệm sâu sắc. Lúc đó ông Saddam Hussein mới là phó Tổng thống nhưng được dư luận coi là “người hùng” ở Iraq. Khi nghe chúng tôi trình bày yêu cầu bức xúc của Việt nam, ông trả lời ngay: “Chúng tôi đã quyết định tặng Việt Nam 400 ngàn tấn dầu và cho vay 1,5 triệu tấn với lãi suất ưu đãi”. Tôi nghe mà không tin ở tai mình, hỏi lại đồng chí phiên dịch mới biết chắc đó là sự thật. Chúng tôi rất xúc động trước tấm lòng của các bạn Iraq. Sau này khi Iraq bị cấm vận, phải đổi dầu lấy lương thực, các bạn vẫn dành cho Việt Nam những hợp đồng trao đổi thương mại rất thuận lợi trong lúc chúng ta còn nhiều khó khăn về kinh tế.

Năm 2002, tôi đến Iraq lần cuối để giải quyết món nợ kéo dài 20 năm còn chưa trả. Theo ý kiến của các đồng chí ở Chính phủ, chúng ta đề nghị chuyển số tiền nợ thành số vốn đầu tư vào một dự án kinh tế ở Việt Nam. Khi tôi gặp ông Saddam trình bày ý kiến này thì ông cười, nói ngay: “Các bạn Việt Nam không nên bận tâm. Tôi biết các bạn còn khó khăn, ta xem như số nợ này đã trả”[…] Chỉ biết nhắc lại câu của bà Bình “tôi nghe mà không tin ở tai mình” . Là khi bà nghe ông (Saddam Husein) hào hiệp cho “các bạn Việt Nam” món quà quá sức tưởng tượng.

Một năm sau, thì ông Saddam lâm nạn và ba năm sau khi ông bị treo cổ, những người đứng đầu đất nước này không hề hé môi nói được một lời!” (hết trích)

Tuyên bố ủng hộ VN ứng cử Hội Đồng NQLHQ

Bàn về lý lẽ của “Tuyên bố ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc” (xin viết tắt TBUHVN).

Đọc qua bản TBUHVN, tôi thật băn khoăn:

– Một “bản tuyên bố” không phải một… “bài tuyên giáo”. Nhóm Hoàng Thị Nhật Lệ không nhận ra yếu tố quan trọng bậc nhất này. Điều này có nghĩa: một “bản tuyên bố” không phải là nơi kể lể, phô trương công trạng, dù đó là của bất cứ tổ chức nào.

– Khi nào “bản tuyên bố” một vấn đề nào đó ra đời? Khi nhu cầu tự thân phát sinh khách quan. Điều này có nghĩa: điều mà ta chưa có nay có (ví như Hồ Chí Minh tuyên bố khai sinh ra nước VNDCCH, cũng như nhiều quốc gia tuyên bố độc lập khỏi Anh, Pháp, Tây Ban Nha v.v… trước đây), điều ta không cần nữa (tuyên bố ra khỏi đảng, hoặc ly khai chính thức với tổ chức nào đó v.v…), hay điều mà ta bị tước đoạt, xâm phạm, cưỡng bức dưới mọi hình thức nay không chấp nhận nữa (tức là nhóm bạn “Tuyên bố 258”, “Tuyên bố công dân tự do” v.v…); hoặc giả nhu cầu đó “đang có”, nhưng đứng trước nguy cơ được cho là có thể “bị mất” (tức là nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ). Như vậy, trong TBUHVN, lẽ ra điều nhóm bạn cô Lệ cần trình bày là những tốt đẹp mà họ và nhiều người Việt Nam đang “hưởng” từ chế độ này, chúng đang có nguy cơ “bị mất”, một khi Việt Nam thất cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Những “tốt đẹp” mà nhóm cô Lệ cũng như nhiều người Việt Nam đang “hưởng”, một khi được trình bày khách quan, có cơ sở thực tiễn (không phải dẫn bằng những bộ luật dày đặc nhưng vô hiệu trên thực tế), ôn hòa trong “bản tuyên bố” mới đảm bảo tính khoa học, từ đó sẽ thuyết phục thế giới.

– Bản TBUHVN bỗng nhiên trở thành “bản kết tội” nhóm bạn “Tuyên bố 258” mang chất chủ quan, thông qua “phần kết” (trích): “Chúng tôi – những người ủng hộ, ghi nhận nỗ lực Nhà nước Việt Nam thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền đồng lòng ký tên nhằm chứng tỏ, những cá nhân, nhóm người cản trở, chống phá việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc kia chỉ là những cá nhân đơn lẻ, lạc lõng, đi ngược lại lợi ích của đông đảo nhân dân, cộng đồng blogger Việt Nam” (hết trích). Vậy ra, tuyên bố của nhóm cô Lệ chỉ “nhằm chứng tỏ…” và “tố cáo” với thế giới nhóm bạn “Tuyên bố 258″… phá hoại (?!) Lại nói về Chủ thể – Khách thể, lần này trong cái gọi là “ủng hộ”. Nhóm cô Lệ vẫn không đủ tri thức để nhận ra vấn đề tương tự, nhưng hơi khác một chút: mối tương quan của Chủ thể (nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ) – Khách thể (Liên Hiệp Quốc và các nước). Điều đó có nghĩa, thay vì báo động trước Liên hiệp Quốc và thế giới, những lợi ích của người Việt Nam (mà nhóm Hoàng Thị Nhật Lệ cho rằng họ đại diện) có thể “bị mất” nếu như Việt Nam không trúng cử, họ xoay qua… tiếp tục đả kích nhóm “Tuyên bố 258”. Nhóm Hoàng Thị Nhật Lệ hoàn toàn bị lạc đề, bởi họ đang “ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc”, chứ không phải “đôi co” với nhóm “Tuyên bố 258”. Thật thảm hại, vì suy cho cùng, bản TBUHVN chẳng qua là sự lặp lại “bản phản bác tuyên bố 258” trước đây mà cô Lệ và bạn bè đã bị “chú” Đông La cùng “các anh các chú” khác “chơi khăm” và “xí gạt” (!).

– Những người làm ra bản TBUHVN, không phân biệt được khái niệm “đối nội” và “đối ngoại” khi gắn kết với việc “ủng hộ” này. Bản TBUHVN ngoài việc phải sửa lại 99% nội dung, nó chỉ có ý nghĩa, khi một hay vài quốc gia hoặc các tổ chức khác trên thế giới chủ động thực hiện. Đó mới mang tính khách quan cần có cho tuyên bố ủng hộ tầm quốc tế – điều không dành cho một nhóm người Việt Nam chủ xướng, bất chấp có một số người Mỹ gốc Việt “ủng hộ” mang tính “ăn theo” (!). Nghe có vẻ vô lý? Không vô lý, vì chế độ này là của ai, do ai, vì ai? Thưa, “của dân, do dân, vì dân”. Do đó tự thân những người “ủng hộ” Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, tựa như chuyển thông điệp với thế giới câu ngạn ngữ “mèo khen mèo dài đuôi”. Đó là tính “vô hiệu quả” của “bản ủng hộ”, rất tiếc nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ không nhận ra.

Kết

Trong những tuyên bố mang chất chính trị tầm phổ quát, ảnh hưởng sâu rộng cả trong và ngoài nước, thì thuộc tính cẩn trọng, khách quan và đủ tri thức cần đặt lên hàng đầu, song hành với tính chính nghĩa và chân lý mà bất cứ ai đang mưu cầu Tuyên Bố đều phải quan tâm kỹ lưỡng.

Nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ mãi loay hoay từ “phản bác” chuyển qua “ủng hộ”, họ đều thất bại. Thất bại ở đây không chỉ vì họ không có chính nghĩa và chân lý mà còn do họ bị nuôi dưỡng bởi tâm thức “nô lệ” từ ý thức hệ “đấu tranh giai cấp” “một mất một còn” phi nhân của cộng sản Việt Nam.

“Phản bác” thì không đảm bảo khoa học; “ủng hộ” thì không đủ tri thức và không đúng vấn đề, vậy nhóm bạn Hoàng Thị Nhật Lệ nên làm gì, nếu họ thật sự yêu mến chế độ độc đảng toàn trị? Nếu đủ bản lĩnh và khả năng, hãy nhờ cậy những người như ông Nguyễn Phương Hùng vận động các tổ chức nước ngoài lên tiếng cùng với quan chức Việt Nam xin công nhận “nền kinh tế thị trường” từ thế giới, như mới đây Thủ tướng Việt Nam vừa xin Hoa Kỳ. Đó phải chăng là việc làm mà cộng sản Việt Nam đang cần cấp thiết từ nhóm bạn cô Lệ? Chỉ xin nhắc về những “tấm gương soi đắt tiền” ở phần đầu, trong trường hợp quý vị may mắn “thành công rực rỡ” (!).

Nguyễn Ngọc Già, Việt Nam 26-10-2013

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

________

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/146292/vuc-day-suy-thoai-dao-duc-mat-ca-the-he.html [1]

http://www.saigontin.com/viet-nam/bi-th%C6%B0-%E2%80%9Cham-c%E1%BB%A7a-l%E1%BA%A1%E2%80%9D-d%C6%B0%E1%BB%A3c-phong-anh-hung-l%E1%BB%B1c-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-vu-trang/ [2]

http://phanbactuyenbo258.blogspot.com/2013/10/tuyen-bo-ung-ho-viet-nam-ung-cu-hoi-ong.html [3]

http://dantri.com.vn/the-thao/con-ai-thuong-phan-hue-724220.htm [4]

http://nguyenhoalu.wordpress.com/2013/10/24/an-nghia-tren-doi/ [5]

Tin, bài liên quan

‘Nhiều nước muốn Nhật đối phó TQ’

Ông Shinzo AbeÔng Abe liên tục có những tuyên bố cứng rắn nhằm vào Trung Quốc

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe nói rằng các nước khác muốn Nhật có một vai trò lãnh đạo mạnh mẽ hơn ở châu Á để đối chọi lại sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc.

Ông Abe nói với tờ Wall Street Journal rằng ‘có những quan ngại rằng Trung Quốc muốn thay đổi trật tự hiện hành bằng vũ lực thay vì bằng pháp trị’.

Hôm thứ Bảy ngày 26/10, Bắc Kinh đã lên tiếng rằng nếu Tokyo bắn hạ máy bay không người lái của họ thì họ sẽ coi đó là ‘hành động chiến tranh’.

“Chúng tôi sẽ có hành động quyết liệt để đáp trả và bên gây hấn sẽ phải nhận mọi hậu quả,” ông Cảnh Nhạn Sinh, phát ngôn nhân của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, nói trên trang chủ của Bộ này.

Lời tuyên bố này là phản ứng trước thông tin rằng ông Abe đã chuẩn y kế hoạch quốc phòng cho phép sử dụng không lực để bắn hạ các máy bay tự lái của Trung Quốc trên không phận Nhật Bản.

Trung-Nhật đối đầu

Các phân tích gia cho rằng sự đối đầu giữa hai nước phản ánh sự thay đổi trong cán cân quyền lực với sự vươn lên như vũ bão về kinh tế của Trung Quốc trong khi nền kinh tế Nhật Bản lết bết trong suốt hai thập kỷ qua.

Trung Quốc đã cảnh báo về chủ nghĩa dân tộc của Nhật Bản ở một khu vực mà quá khứ bành trướng thuộc địa của Nhật vẫn là những ký ức cay đắng.

“Có những quan ngại rằng Trung Quốc đang muốn thay đổi hiện trạng bằng vũ lực thay vì bằng pháp trị. Nếu Trung Quốc thích đi con đường đó thì họ không thể nào trỗi dậy hòa bình được.”

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe

Trong cuộc phỏng vấn với tờ Wall Street Journal, Thủ tướng Abe nói rằng ông nhận thấy rằng ‘các nước mong Nhật lãnh đạo không chỉ trên mặt trận kinh tế mà còn trên lĩnh vực an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương’.

Ông cũng hứa sẽ đưa ra những chính sách để vực dậy ảnh hưởng đang ngày càng sa sút của Nhật.

Các nước khác muốn Nhật đứng ra đối phó với Trung Quốc, ông Abe nói nhưng không cho biết cụ thể là nước nào.

“Có những quan ngại rằng Trung Quốc đang muốn thay đổi hiện trạng bằng vũ lực thay vì bằng pháp trị. Nếu Trung Quốc thích đi con đường đó thì họ không thể nào trỗi dậy hòa bình được,” ông nói.

“Họ không nên đi con đường đó và nhiều nước muốn Nhật nói mạnh với Trung Quốc về điều đó. Họ hy vọng rằng nhờ đó Trung Quốc sẽ có hành động có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.”

Các bài liên quan