Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đang giới thiệu các bản đồ cổ khẳng định chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông và Hoàng Sa – Trường Sa từ xa xưa, ngày 3/6, tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM Ành: Thể thao Văn Hóa
Cuộc triển lãm ‘Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông và Hoàng Sa- Trường Sa’ do Ủy ban Công lý- Hòa Bình thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam theo kế hoạch khai mạc vào ngày 19 và kéo dài cho đến ngày 22 tháng 6 này.
Tuy nhiên chỉ một ngày trước khi cuộc triển lãm diễn ra, cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu Ban Tổ chức hoãn lại.
Hoãn bất ngờ, lý do mù mờ!
Một thông báo ngắn do linh mục Inhaxio Hồ Văn Xuân, tổng đại diện của tổng giáo phận Sài Gòn ký ngày 18 tháng 6 gửi cho các linh mục chánh, phó xứ, các tu sĩ nam nữ và giáo dân trong tổng giáo phận. Nội dung cho biết đức tổng giám mục Phao lô Bùi Văn Đọc quyết định hoãn đến một dịp khác cuộc triển lãm bản đồ xác nhận chủ quyền của đất nước Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam ở số 72/12 đường Trần Quốc Toản, phường 8 quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Thông báo kêu gọi các linh mục, tu sĩ và giáo dân thông cảm về quyết định đó.
Ông Nguyễn Đình Đầu, một nhà sưu tập bản đồ và nghiên cứu về Biển Đông, một thành viên trong Ban Tổ chức cuộc triển làm và ra mắt sách đó cho biết thông tin hoãn cuộc triển lãm như sau:
Mai triển lãm đó không thành, tôi mới được tin từ Linh mục Thăng cho biết, tôi chưa biết vì sao. Linh mục Thăng nói Ban Tôn giáo có yêu cầu Đức Tổng Giám mục hoãn cuộc triển lãm đó đến một ngày khác.
Người đứng đầu Ủy ban Công Lý & Hòa Bình của Hội Đồng Giám mục Việt Nam, đức giám mục Phao Lô Nguyễn Thái Hợp, nói rõ hơn về thông tin cuộc triển lãm và tọa đàm về Biển Đông tại Văn Phòng Hội Đồng Giám mục Việt Nam bị yêu cầu hoãn:
Hoạt động đó trước đây trên nguyên tắc tổ chức với Tòa Giám mục thành phố Sài Gòn; nhưng tôi đang ở Hà Nội và nghe nói cuộc đó gặp khó khăn và ngừng lại rồi, hoãn lại và tôi nghe nói thành phố không đồng ý! 1.16 Theo tôi được biết, hình như Thành phố không muốn giới Công giáo làm riêng. Ban Tôn giáo đã gặp tổng giám mục Phao lô Bùi Văn Đọc. Chính vì vậy mà cha tổng đại diện vừa ra thư báo cho các linh mục biết hoãn lại cuộc triển lãm đó.
Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam ở số 72/12 đường Trần Quốc Toản, phường 8 quận 3, thành phố Hồ Chí Minh
Hoãn lại và tôi nghe nói thành phố không đồng ý! 1.16 Theo tôi được biết, hình như Thành phố không muốn giới Công giáo làm riêng. Ban Tôn giáo đã gặp tổng giám mục Phao lô Bùi Văn Đọc. Chính vì vậy mà cha tổng đại diện vừa ra thư báo cho các linh mục biết hoãn lại cuộc triển lãm đó
ĐGM Phao Lô Nguyễn Thái Hợp
Nội dung triển lãm công khai rồi!
Ông Nguyễn Đình Đầu cho biết công tác chuẩn bị cho cuộc triển lãm đã hoàn tất, chỉ còn chờ khai mạc thôi. Ông Nguyễn Đình Đầu cho biết những nội dung chính của cuộc triển lãm:
Tôi viết một cuốn sách theo hệ thống biên niên sử. Theo lịch sử và theo công pháp quốc tế thì Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam từ lâu đời. Nhưng từ bao giờ? Các tư liệu của trong nước Việt Nam như thế nào? Và các tư liệu của ngoại quốc kể cả Trung Hoa như thế nào? Tôi viết thành một quyển sách. Quyển sách đó dựa trên những tư liệu chính xác. Chúng tôi tổ chức cuộc triển lãm những tư liệu mà dựa trên đó chúng tôi xây dựng cuốn sách ấy. (Đó là những) bản đồ trong nước vẽ, trong nước thực hiện như của các Chúa Nguyễn, của Triều Nguyễn, hay của người Pháp nhân danh Việt Nam thực hiện những bản đồ đó. Các bản đồ đó cũng dựa trên điều kiện của Nhà Nước như đưa vào sách luật, đưa vào công báo chính thức ( journal officiel). Đó là những tài liệu chính thức. Hay những tài liệu ngoại quốc họ nói Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam và được ghi bằng tên quốc tế thời đó như Paracel hay còn ghi cả chữ Đại Nam bên cạnh đó. Những bản đồ như thế được mang ra triển lãm chứ không phải mang những bản đồ ‘khơi khơi’ ra để triển lãm đâu.
Cái này đáng lẽ ra phải soi sáng dư luận, ít nhất cho người trong nước mình chứ, cho rõ ràng. Trong khi TQ họ tuyên truyền và thậm chí bịa ra đường lưỡi bò, từ một cái không tưởng mà họ tuyên truyền mãi thành ra sự thật. Còn mình làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, làm chủ phần biển của mình mà không tuyên truyền, không để ý
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu
Theo ông Nguyễn Đình Đầu thì những tư liệu như thế từ ngày 3 tháng 6 đã được triển lãm cho công chúng xem tại Thư viện Tổng hợp và Nhà Văn hóa Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh rồi. Ông nói về cuộc triển lãm tại những nơi đó như sau:
Lúc đầu tiên tính một tuần lễ thôi, nhưng Thành phố thấy đông người đến xem nên lại thêm một tuần lễ, và sau đó đưa ra Nhà Văn hóa Thanh Niên một tuần lễ nữa.
Đức giám mục Phao lô Nguyễn Thái Hợp cũng nói về nội dung chính cuộc triển lãm và tọa đàm được Ủy ban Công Lý & Hòa Bình của Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức kỳ này:
Cuộc tọa đàm này làm lại cuộc tọa đàm mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã làm với Đại học Quốc gia. Lần này theo lời mời của tổng giám mục, định tổ chức lần này tại Văn phòng của Hội đồng Giám mục Việt Nam.
Cuộc triển lãm đó cũng triển lãm những bản đồ mà Việt Nam có. Từ bản đồ đầu tiên thế kỷ thứ 15, cho đến những bản đồ sau này của Tabert, của Đắc Lộ, của nhiều người khác nữa- các tác giả của Âu Châu cũng như của Việt Nam. Những bản đồ đó nói rất rõ Hoàng Sa và Trường Sa nằm trên lãnh thổ của Việt Nam. Đặc biệt bản đồ của Tabert còn dịch chữ Hoàng Sa là đảo Cát Vàng. Rồi nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, cũng là phó chủ tịch Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình cũng ra một cuốn sách bản đồ và lãnh thổ của Việt Nam.
Bằng chứng quí giá chưa được công khai đủ!
Sau thời gian cả nửa thế kỷ chuyên sưu tầm các bản đồ cổ của Việt Nam do cả trong và ngoài nước vẻ ra, ông Nguyễn Đình Đầu hiện là chủ sở hữu của những tư liệu được cho là quí giá chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu rất mong muốn những tư liện bản đồ mà ông sưu tập được giới thiệu rộng rãi cho người dân cũng như cơ quan chức năng; và những bản đồ này được dùng trong công cuộc đấu tranh chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ông nói:
Cái này đáng lẽ ra phải soi sáng dư luận, ít nhất cho người trong nước mình chứ, cho rõ ràng. Trong khi Trung Quốc họ tuyên truyền và thậm chí bịa ra đường lưỡi bò, từ một cái không tưởng mà họ tuyên truyền mãi thành ra sự thật. Còn mình làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, làm chủ phần biển của mình mà không tuyên truyền, không để ý. Thành ra tôi cũng có phát biểu về vấn đề đó.
Nhiều người hẳn còn nhớ cách đây 5 năm, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cũng thực hiện cuộc triển lãm những bản đồ mà ông sưu tầm được. Thế nhưng chỉ 24 tiếng đồng hồ trước khi cuộc triển lãm khai mạc, cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh buộc ông phải hủy cuộc triển lãm lúc đó.
Cảnh sát biển Trung Quốc (P) phất cờ báo hiệu cho tàu biển Việt Nam KN-762 (T) để tránh va chạm trên vùng biển Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 hôm 02/5/2014. AFP photo
Việt Nam đã sử dụng cuộc họp báo Quốc tế lần thứ 5 tại Hà Nội để giải tỏa dư luận, phát xuất từ sự việc Trung Quốc ngày 8 và 9/6 công bố tài liệu mang tên “Tác nghiệp của giàn khoan Hải Dương 981: sự khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc, đề nghị lưu hành tại Liên Hợp Quốc.”
Trong cuộc họp báo, đáp câu hỏi của Vietnam Net về phản ứng của Việt Nam đối với việc Trung Quốc đang mở rộng một số công trình kiên cố ở Trường Sa. Ông Lê Hải Bình phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam trả lời, Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý, bằng chứng để khẳng định chủ quyền ở Trường Sa. Cơ quan chức năng Việt Nam cho biết Trung Quốc đã mở rộng, xây dựng công trình trái phép ở Gạc Ma và một số điểm khác vốn bị Trung Quốc chiếm từ tháng 3-1988.
Theo lời ông Bình, Việt Nam cực lực phản đối hành vi này và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động xây dựng mở rộng trái phép, các hành động thay đổi hiện trạng, không để hành động tái diễn trong tương lai vì nó ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở biển Đông…
Được biết ngày 12/6 vừa qua hàng trăm người dân Philippines đã biểu tình phản kháng Trung Quốc về việc kiên cố hóa bãi Gạc Ma thiết lập đường băng cho máy bay, chuẩn bị lập vùng nhận dạng phòng không trên biển đông. Nhận định về vấn đề Trung Quốc đang phát triển Gạc Ma và không thấy một cuộc biểu tình nào của người dân Việt Nam. Tiến sĩ Nguyễn Quang A thuộc nhóm chủ trương Diễn đàn Xã hội Dân sự từ Hà Nội nhận định:
Có lẽ người dân cũng chán không buồn biểu tình nữa với cách ứng xử của nhà cầm quyền, nó làm cho người Việt Nam rời rạc không gắn kết với nhau nữa. Đó là điều rất nguy hiểm rất lớn.
– Tiến sĩ Nguyễn Quang A
“Có lẽ người dân cũng chán không buồn biểu tình nữa với cách ứng xử của nhà cầm quyền, nó làm cho người Việt Nam rời rạc không gắn kết với nhau nữa. Đó là điều rất nguy hiểm rất lớn, ví dụ Gạc Ma có thể là vấn đề nguy hiểm không kém gì giàn khoan HD 981. Phía nhà nước, chính phủ mà không để cho người dân thực hiện quyền biểu tình của mình thì đây là sai lầm rất lớn của chế độ này.”
Trong cuộc họp báo không thấy các giới chức Việt nam đề cập cụ thể những tài liệu mà Trung Quốc công bố tại Liên hợp quốc như Bản đồ Thế giới do Cục Đo đạc và bản đồ-Phủ Thủ tướng Việt Nam ấn hành năm 1972 và sách giáo khoa địa lý lớp 9 ấn hành năm 1974. Những tài liệu này theo phía Trung Quốc thể hiện việc Việt Nam công nhận Tây Sa, Nam Sa là của Trung Quốc. Các quần đảo này là Hoàng Sa Trường Sa mà Việt Nam khẳng định chủ quyền. TS Nguyễn Quang A nhận định:
“Lẽ ra phải nêu những chuyện đó ra. Nhưng mà họ nêu ra thì họ có thể có sự e ngại nào đó, trên báo chí hay TV người dân biết được có những chuyện như thế thì có thể tính chính đáng của chế độ này bị lung lay.”
Về công thư Phạm Văn Đồng 1958
Tại cuộc họp báo ông Trần Duy Hải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, qua trả lời các câu hỏi của báo chí đã đưa ra 4 luận điểm bác bỏ các quan điểm của Trung Quốc liên quan tới chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Thứ nhất các tư liệu lịch sử cho thấy Trung Quốc không có chủ quyền với Hoàng Sa; thứ hai các hội nghị quốc tế không giao Hoàng Sa cho Trung Quốc, cụ thể Hội nghị San Francisco và cho đến trước 1974, Trung Quốc vẫn hoàn toàn ý thức Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam Cộng Hòa; thứ ba Trung Quốc vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa và sử dụng vũ lực, năm 1974 đánh chiếm các đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa sau khi đánh bại quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Và luận điểm thứ 4 theo lời ông Trần Duy Hải Việt Nam chưa bao giờ công nhận chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Công thư Phạm Văn Đồng 1958 không hề đề cập vấn đề chủ quyền và phía Trung Quốc luôn tìm cách diễn giải sai văn bản này.
Trao đổi với chúng tôi, TS Nguyễn Nhã chuyên gia nghiên cứu biển Đông hiện sống và làm việc tại TP.HCM chia sẻ quan điểm:
“Công hàm Phạm Văn Đồng hay tất cả mọi thứ khác Trung Quốc nói Việt Nam lật lọng. Trong đó có ông Ung Văn Khiêm tuyên bố thế nào, viên chức Bộ Ngoại giao thế nào…sách giáo khoa, bản đồ thế nào…Theo tôi Hiệp định Genève qui định rất rõ rồi, trong thời gian sau 54 cho đến 75 trong lãnh thổ cũng như ngoài biển từ vĩ tuyến 17 trở xuống thuộc về chính quyền phía Nam quản lý. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý, cho nên những điều như Trung Quốc nói nó chỉ thể hiện vấn đề chính trị, quan hệ đồng minh đồng chí ủng hộ cùng phe thôi.”
Theo TS Nguyễn Nhã, Việt Nam qua các thời đại đều khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa Trường Sa. Trước 1975 Hoàng Sa Trường Sa thuộc về VNCH, sau 30/4/1975 Việt Nam thống nhất dưới danh nghĩa một nhà nước mới và được quốc tế công nhận. TS Nguyễn Nhã nhấn mạnh:
Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý, cho nên những điều như Trung Quốc nói nó chỉ thể hiện vấn đề chính trị, quan hệ đồng minh đồng chí ủng hộ cùng phe thôi.”
– TS Nguyễn Nhã
“Nhà nước mới thống nhất này có tính chất pháp lý hoàn toàn khác với nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mặc dù nhà nước này cũng có một số nhân vật trong chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó nhà nước thống nhất này đã khẳng định chủ quyền, về ngoại giao năm 1979 có Sách Trắng khẳng định chủ quyền Việt Nam về Hoàng Sa Trường Sa rồi và phản bác những gì Trung Quốc nói. Như thế về tính pháp lý quốc tế, bất cứ chính quyền nào kể từ Chúa Nguyễn cho đến Nhà Nguyễn cho đến thời Pháp thuộc, sau 1954 rồi sau 1975 thống nhất, tất cả các chính quyền có trách nhiệm quản lý chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền thành thử ra những bằng chứng Trung Quốc đưa ra không có giá trị pháp lý quốc tế.”
Cuộc họp báo quốc tế lần thứ 5 ngày 16/6/2014 của Bộ Ngoại giao Việt Nam diễn ra trong bối cảnh giàn khoan HD 981 của Trung Quốc đã hoạt động trái phép trên vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam 47 ngày. Trung Quốc tiếp tục duy trì lực lượng hơn 100 tàu có máy bay yểm trợ để bảo vệ giàn khoan, bao gồm tàu quân sự, tàu hải cảnh, tàu vận tải, tàu cá. Việt Nam từ chỗ là nạn nhân bị xâm lấn, bị phun vòi rồng bị va đập hư hại hơn 30 tàu kiểm ngư, tàu cảnh sát biển nay đã bị Trung Quốc vu vạ ngược lại. Việt Nam đã cực lực phản bác các cáo giác được cho là bịa đặt của Trung Quốc.
Chuyến thăm Việt Nam của ông Dương Khiết Trì Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc trong tuần này, đặt ra chút ít khả năng về việc giảm căng thẳng về vụ giàn khoan HD 981, dù lịch làm việc trên nguyên tắc là đối thoại thường niên về hợp tác song phương. Trước đây các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã từ chối gặp gỡ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sau khi cuộc khủng hoảng xảy ra.
CTV Danlambao – Bắt đầu từ người đàn ông gánh nước hôm 8/6/2014 tại Sài Gòn với biểu ngữ “Nước nhà không bán” và “Mất nước là chết”, các hoạt động ủng hộ ý tưởng mang tên “Không bán nước” sau đó liền được hưởng ứng và lan tỏa đến Nha Trang, Hải Phòng.
Trong tuần qua, 2 bloggers Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm) và Phạm Thanh Nghiên đã xuống đường cùng thông điệp “Không bán nước” và mời gọi người dân uống nước miễn phí. Những hoạt động đơn giản và độc đáo, nhưng đều là những việc làm đáng quý trong hoàn cảnh mà lòng yêu nước tiếp tục bị chà đạp bởi những kẻ bán nước và bọn cướp nước.
Dưới đây là chia sẻ của Blogger Phạm Thanh Nghiên khi thực hiện hoạt động “Không bán nước” tại Hải Phòng:
Ở trong nước, quyền tự do đi lại của những người tranh đấu bị hạn chế rất nhiều, nhất là đối với một người bị quản chế như tôi. Trong khi đó, việc tìm cách để tiếp cận với người dân, nói cho họ biết những gì đang diễn ra trên đất nước này luôn là một đòi hỏi cần thiết đối với chúng ta.
Với khả năng hạn hẹp và hoàn cảnh đặc biệt, tôi chỉ có thể thực hiện được những công việc nho nhỏ không phải di chuyển nhiều. Việc Trung Quốc xấc xược cắm giàn khoan HD981 trong vùng biển chủ quyền của nước ta đã thức tỉnh nhiều người dân Việt Nam. Cuộc xuống đường biểu tình ôn hòa ngày 11.5 vừa rồi đã phần nào nói lên tinh thần cũng như quyết tâm của người dân trong nước.
Tôi bắt đầu nảy ra ý tưởng viết khẩu hiệu lên tường, hưởng ứng hoạt động “Mời uống nước miễn phí – Không bán nước” ngay tại nhà. Đây là một cách đồng hành với các đồng đội của mình cũng như đồng bào trước thực tế bị ngăn cản không thể tới những nơi mình muốn.
Khẩu hiệu trên tường với nội dung “Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam. Đả đảo Trung cộng xâm lươc. Phản đối giàn khoan HD981” tôi đã viết ngày 10.5, trước cuộc biểu tình ôn hòa 1 ngày. Đầu tiên đó là hàng chữ khá mờ nhạt trên bức tường cũ. Chính một số người đi đường và bà con lối xóm góp ý nên tôi đã sơn mới lại bức tường và viết chữ rõ hơn.
Không phải ai cũng biết về việc chủ quyền đất nước đang bị xâm phạm và đánh giá đúng hành động cũng như thái độ của nhà cầm quyền VN trong vấn đề này. Không cho rằng cách làm của mình là đúng cho tất cả mọi người. Song tôi chợt nghĩ, nếu trên các con phố tại Hải Phòng, Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng hay Nha Trang… thi thoảng lại xuất hiện những thông điệp tương tự như thế, hẳn cũng khá thú vị.
Dù cuộc sống hối hả nhưng mỗi ngày, trong số hàng trăm người đi qua sẽ có hàng chục người chú ý. Và trong số những người chú ý hy vọng sẽ có người quan tâm. Việc làm nhỏ bé của tôi chỉ mong mang lại ý nghĩa nho nhỏ thế thôi.
Hình ảnh tôi đeo biển HD 981 gạch chéo trên người, bên cạnh là một cái bản bày sẵn vài chai nước với tấm biển mang hàng chữ viết tay “MỜI UỐNG NƯỚC MIỄN PHÍ – KHÔNG BÁN NƯỚC”. Hy vọng rằng việc làm đó của mình gây được sự chú ý của người qua lại.
Rủi ro: Có hai khả năng xảy ra. Một là có thể bị công an hay “quần chúng tự phát”, dân phòng hoặc “kẻ lạ” phá đám, tấn công. Hai là không sao cả. Trường hợp “không sao cả” là điều tôi mong muốn. Chúng ta có thể thoải mái tiếp cận với người dân, mang đến cho họ thông điệp mình muốn nhắn nhủ mà không bị ngăn cản. Trong trường hợp bị ngăn cản, tôi nghĩ điều đó cũng không tệ.
Họ tịch thu chiếc bàn “KHÔNG BÁN NƯỚC” ư? Thế là họ cho rằng việc “không bán nước” là hành vi bị cấm.
Họ tịch thu tấm biển HD981 gạch chéo trên người tôi ư? Vậy là họ cho rằng việc phản đối giàn khoan HD 981 là “vi phạm luật pháp”. Và nếu họ bắt tôi, chính là việc họ đã công khai thừa nhận họ là những kẻ bán nước. Đơn giản có vây thôi. Tôi phát nước, mời bà con uống miễn phí, ai uống thì vào, không uống thì thôi chứ tôi có bán chác gì đâu. Tôi “KHÔNG BÁN NƯỚC”.
Trở ngại: Trở ngại lớn nhất chính là tâm lý. Không dễ dàng bước chân khỏi cổng để làm một việc bị hàng xóm, người đi đường cho là “chuyện ruồi bu, chuyện không đâu”. Họ nhìn mình như nhìn một “kẻ khùng”, “một con điên” trong khi đối với họ đó là “việc của đảng và nhà nước”. Không phải ai cũng quan tâm. Đường nhà tôi là con đường nhỏ, rất ít người qua lại. Thi thoảng có một vài người đi xe gắn máy, xe đạp qua và họ rất ngại phải dừng lại nhất là khi trời nắng nóng.
Trong số mười người mình mời có khi chỉ hai người dừng lại mà thôi và mình phải chấp nhận việc đó. Xong cũng có người chịu lắng nghe mình. Họ cầm tờ tài liệu, nhận chai nước và cảm ơn rất chân thành. Điều đó khiến tôi thấy vui. Thậm chí có người còn nói “Nếu ai cũng yêu nước như chị thì tốt biết mấy”. Tôi thấy ngượng với lời khen ấy. Nhiều người yêu nước hơn tôi, đóng góp và hy sinh nhiều hơn tôi.
Tôi nhớ đến mẹ Lê Thị Tuyết Mai tự thiêu hôm 23/5/2014 để phản đối Trung Quốc xâm lược. Chợt thẹn với mẹ. Tôi không có gan làm như mẹ, càng không ủng hộ hay khuyến khích việc tự thiêu để bày tỏ lòng yêu nước. Tôi chỉ có thể cố gắng trong khả năng hạn hẹp của mình và “bắt đầu bằng một công việc nhỏ nhất nhưng có tiếp cận, có bóng dáng của quần chúng” như đã có dịp bày tỏ tâm tình trong một bài viết. Không phải để ấp ủ “giấc mơ thủ lĩnh” mà đơn giản chỉ là mong có người đồng cảm. Từ ít người đến nhiều người “biết”, “tư duy” rồi “đồng tình” và dẫn đến “hành động” sẽ có nhiều cơ hội thay đổi vận mệnh Dân tộc này.
Đó là một việc làm nhỏ bé của cá nhân tôi góp cùng những hy sinh, cống hiến của đồng đội tôi trong giai đoạn khó khăn muôn vàn này.
*
Hình ảnh “Không bán nước” tại Nha Trang do blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh thực hiện:
CTV Danlambao – Trong tuần này, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì sẽ đến Hà Nội tham dự cuộc đối thoại cấp cao với người đồng nhiệm phía Việt Nam là Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh. Thông tin này được báo South China Morning Post tiết lộ hôm 15/6/2014, đồng thời cũng được người phát ngôn bộ ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình xác nhận trong cuộc họp báo chiều ngày 16/6/2014.
Trước đó, hồi tháng 5/2014, báo The New York Times tiết lộ nguồn tin nói rằng chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã từ chối gặp tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sau khi người đứng đầu ĐCSVN bí mật đề nghị được sang Bắc Kinh đàm phán vụ giàn khoan HD 981.
Chuyến sang Việt Nam dưới danh nghĩa tham dự cuộc họp “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt – Trung” diễn ra trong bối cảnh tình hình Biển Đông ngày một căng thẳng sau sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 cùng hàng trăm tàu chiến xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.
Cuộc họp năm nay không được giới chức hai nước thông báo rộng rãi, báo South China Morning Post nói rằng “việc im lặng này vì lo sợ các phản ứng dữ dội từ công chúng”.
Theo Người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình: “Trong các chủ đề cuộc gặp lần này, việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan chắc chắn sẽ được đề cập”.
Dự kiến, ông Dương Khiết Trì sẽ có cuộc gặp với phó thủ tướng Phạm Bình Minh trong tuần này. Trước đó, truyền thông Việt Nam, Trung Quốc đều cho biết đã xảy ra một cuộc khẩu chiến gay gắt giữa hai ông Phạm Bình Minh và Dương Khiết Trì liên quan đến giàn khoan HD 981.
Giữa lúc nhà cầm quyền CSVN ngày càng tỏ ra nhu nhược trước Trung Quốc, chuyến thăm của Dương Khiết Trì ẩn chứa những hiểm họa khôn lường đối với dân tộc Việt Nam, đặc biệt là những mật ước do hai đảng cộng sản tự ký kết.
Rõ ràng, sự cao giọng gây hấn trong thời gian gần đây của Trung Quốc nhằm mưu đồ buộc giới cầm quyền CS phải chấp nhận một sự thần phục vô điều kiện.
Hồi năm 2011, người tiền nhiệm của Dương Khiết Trì là Đới Bỉnh Quốc cũng sang Việt Nam họp “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt – Trung” trong bối cảnh các cuộc biểu tình chống TQ liên tục diễn ra tại Hà Nội. Hậu quả sau khi chuyến thăm kết thúc là những thỏa ước mật giữa hai đảng cộng sản, kế đến là những cuộc đàn áp khốc liệt nhắm vào những người biểu tình yêu nước.
Từ hành động cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Việt Nam, Trung Quốc tiếp tục gia tăng gây hấn qua vụ giàn khoan HD 981. Mức độ xâm lược của Trung Quốc ngày càng leo thang tỷ lệ nghịch với phản ứng nhu nhược của đảng cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Gia Kiểng (Thông Luận) – “…Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn “thoát Trung” mà lại “phò Dũng” là rất sai, sai một cách bi đát…”
*
Một tháng rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Bắc Kinh đưa giàn khoan vào vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Giàn khoan vẫn còn đó những dư luận thế giới đã ngoảnh sang những vấn đề khác. Bắc Kinh đã thành công một bước trong tiến trình bình thường hóa sự chiếm đoạt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Bước tiến này mở đường cho những hành động lấn chiếm khác.
Hành động của Bắc Kinh đáng lẽ là một sự dại dột và đã phải thất bại bẽ bàng; không những thế còn tạo cho Việt Nam một cơ hội để tái khẳng định chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa và các quyền lợi chính đáng trên Biển Đông theo qui định của luật pháp quốc tế. Trong những ngày đầu khi Trung Quốc vừa đưa giàn khoan HD-981 vào hải phận Việt Nam lập trường của các chính phủ -Hoa Kỳ, Châu Âu cũng như các nước trong khu vực Thái Bình Dương- đã đồng thanh lên án hành động của Trung Quốc như là một sự khiêu khích. Ngược lại không một quốc gia nào bênh vực Trung Quốc cả. Một cách mặc nhiên thế giới đã nhìn nhận Hoàng Sa và vùng biển chung quanh không phải là của Trung Quốc, nghĩa là của Việt Nam hay ít nhất có thể được coi là của Việt Nam.
Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam phản ứng một cách mạnh mẽ, dù ôn hòa, đối với Trung Quốc và đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc? Chắc chắn Trung Quốc sẽ xấc xược phủ nhận thẩm quyền của Tòa Án Công Pháp Quốc Tế (International Court of Justice) và cũng sẽ sử dụng quyền phủ quyết nếu Việt Nam đưa vấn đề ra Hội Đồng Bảo An. Nhưng đó là tất cả những gì mà chúng ta chờ đợi. Trung Quốc sẽ bị cô lập và lên án, chủ quyền của Việt Nam sẽ được thừa về mặt tình cảm, Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều nếu tái diễn sự khiêu khích. Có mọi triển vọng là họ không dám tái diễn vì Trung Quốc vừa rất lệ thuộc vào thế giới vừa không đủ mạnh để thách thức thế giới, hơn nữa lại đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng lớn. Tóm lại giàn khoan của Trung Quốc sẽ rút đi sau một vài tháng chi phí tốn kém, sau khi bị lên án và khiến Việt Nam được bênh vực.
Nhưng thực tế đã không như vậy bởi vì chính quyền cộng sản Việt Nam đã không có phản ứng. Hành động xâm lược của Trung Quốc vẫn tiếp tục và không còn lôi kéo sự chú ý của thế giới nữa. Lần sau nếu tình trạng này lặp lại sự chú ý của thế giới sẽ còn ít hơn. Lẽ phải lúc đó sẽ chỉ là lý của kẻ mạnh.
Những gì chính quyền CSVN đã làm, như phổ biến một thư luân lưu tới các thành viên LHQ một tháng sau khi sư kiện khởi đầu, một vài tuyên bố nguyên tắc và một số tàu cá và cảnh sát biển tới gần hiện trường, không đáng được coi là một phản ứng. Ngay cả nếu chính quyền CSVN muốn dâng biển và đảo cho Trung Quốc trong một thỏa hiệp ngầm họ cũng khó có thể phản ứng yếu hơn.
Hành động của Trung Quốc vừa là một hành động lấn chiếm vừa là một hành động chiến tranh bởi vì họ đem theo cả hàng trăm tàu chiến và đánh phá các tàu của Việt Nam, kể cả tàu của cảnh sát biển Việt Nam. Trước một biến cố nghiêm trọng như vậy bất cứ một chính quyền nào trên thế giới cũng đã phải thông tin và giải thích đầy đủ cho nhân dân biết những gì xảy ra qua thông điệp long trọng của quốc trưởng và thủ tướng cùng với những phát biểu của các bộ trưởng và các cấp lãnh đạo chính trị để động viên toàn dân đoàn kết trong cố gắng giữ nước, đồng thời lập tức đưa vấn đề ra công pháp quốc tế.
Nhưng chúng ta đã thấy gì?
Ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn không nói gì trước hội nghị trung ương của đảng cộng sản diễn ra đúng lúc Trung Quốc đang trắng trợn xâm phạm vùng biển Việt Nam và cũng không thấy có ủy viên trung ương đảng nào tỏ ra bức xúc. Hình như đối với ông Trọng và đảng cộng sản không có vấn đề gì cả.
Về phía nhà nước cả chủ tích nước lẫn thủ tướng đều không tuyên bố gì với quốc dân. Quốc hội cũng không có phản ứng. Ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang kêu ca trong một buổi tiếp xúc với cử tri một quận rằng “anh phải rút đi chứ, nhà tôi chứ đâu phải nhà anh!”. Không khác gì một người dân oan trong số hàng triệu dân oan của chế độ. Ông chủ tịch thừa biết những tiếng kêu than này có tác dụng gì. Ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ nói trước hội nghị ASEAN một phần rất nhỏ những điều mà mọi người đều đã biết và cũng không dám kêu gọi hậu thuẫn của thế giới, sau đó cũng chỉ trả lời với ký giả nước ngoài, tại nước ngoài, rằng “không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc”.Không một cấp lãnh đạo quốc gia nào trong trường hợp Việt Nam khi ra nước ngoài và bị các ký giả chất vấn có thể nói yếu hơn.
Ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh được một cơ hội bằng vàng để bảo vệ lập trường của Việt Nam khi tham dự Đối Thoại Shangri-La 13. Trước đó cả thủ tướng Nhật Shinzo Abe lẫn bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đều đã mạnh mẽ tố giác hành động của Trung Quốc và tuyên bố sẽ không để Trung Quốc lộng hành trên Biển Đông, sẽ sẵn sàng giúp các nước trong vùng, kể cả Việt Nam, phương tiện tự vệ. Một chính quyền Việt Nam quan tâm bảo vệ chủ quyền không thể mong đợi nhiều hơn. Tuy vậy ông Thanh đã tuyên bố rằng “quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp”và vụ giàn khoan HD-981 chẳng có gì nghiêm trọng vì “mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng”. Chẳng khác gì bảo Mỹ, Nhật và thế giới đừng xía vào, hãy để mặc Việt Nam giải quyết với Trung Quốc. Nhưng giải quyết như thế nào? Ông Thanh chỉ dám “đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”. Thật khó có thể có một bộ trưởng quốc phòng bất xứng hơn.
Bộ ngoại giao cũng không dám triệu tập đại sứ Trung Quốc để phản đối dù đây phản ứng nhẹ nhất trong trường hợp này. Các chính phủ triệu tập đại sứ trong những trường hợp không quan trọng hơn nhiều; thí dụ như Bắc Kinh đã triệu tập đại sứ Mỹ tại Trung Quốc để phản đối việc năm sĩ quan Trung Quốc bị tố giác là có hoạt động gián điệp. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam là một đại sứ hay một thái thú? Tệ hơn nữa, bộ ngoại giao còn làm một việc rất vô ý thức là triệu tập đại điện sứ quán Trung Quốc (nhấn mạnh: đaị diện sứ quán chứ không phải đại sứ) sau khi một tàu cá Việt Nam bị đụng chìm ngày 26-5. Như vậy là việc Trung Quốc tìm dầu trong hải phận Việt Nam không nghiêm trọng bằng một chiếc tàu cá bị đụng chìm? Chỉ một tháng sau khi hành động xâm lược của Trung Quốc diễn ra phái bộ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc mới cho phổ biến một thư luân lưu đến đại diện các nước, nhưng đây cũng chỉ là một thông báo mà thôi chứ không kêu gọi một hành động quốc tế nào cả.
(Đến đây xin mở một ngoặc đơn. Sự nhu nhược này không phải do lỗi của bộ ngoại giao, mà là vì bộ ngoại giao không có quyền quyết định. Chính sách cũng như hành động đối ngoại hoàn toàn ở trong tay một một vài người trong bộ chính trị; những người này khống chế được bộ máy đảng và nhà nước và quyết định chính sách đối ngoại một cách hoàn toàn bí mật. Ngay cả những cấp lãnh đạo, kể cả đa số ủy viên trung ương đảng, cũng chỉ biết đến những thay đổi định hướng đối ngoại rất lâu sau khi chúng đã thành một thực tế. Cuối thập niên 1950 Lê Duẩn và Lê Đức Thọ quyết định theo Trung Quốc (để có thể phát động nội chiến) và thanh trừng những phần tử bị cáo buộc là “xét lại chống đảng” vì thân Liên Xô. Không ai biết. Gần mười năm sau họ đổi hướng 180 độ và theo Liên Xô chống Trung Quốc. Cũng không ai biết. Năm 1984 sau khi Liên Xô bối rối không bảo vệ được chế độ CSVN nữa, Nguyễn Văn Linh được đưa trở lại bộ chính trị rồi trở thành tổng bí thư để thực hiện chính sách đầu hàng và thần phục Trung Quốc cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Vẫn không ai biết. Trí thức Việt Nam còn tung hô Nguyễn Văn Linh như một người của đổi mới mà không biết rằng ông ta chỉ là người của Trung Quốc).
Chính quyền CSVN đã không nói gì với nhân dân. Họ không cần giải thích gì cả bởi vì họ không thấy có một bổn phận nào đối với nhân dân Việt Nam cả; họ là một lực lượng chiếm đóng và thống trị chứ không phải là một chính quyền Việt Nam. Họ còn dùng bọn côn đồ – mà họ vẫn thường dùng để hành hung những người dân chủ – để gây bạo động và lấy đó làm cớ để cấm đoán những cuộc biểu tình của những người yêu nước phản đối hành động xâm lược của Bắc Kinh. Nếu họ thực sự là dụng cụ của Trung Quốc để bán đứng đất nước họ cũng không thể làm khác.
Chúng ta có thể tự hỏi tại sao Trung Quốc lại làm như vậy? Hành động của họ đáng lẽ phải là một hành động ngu xuẩn rất có hại cho họ, nhưng họ đã thành công bởi vì họ biết trước phản ứng của Hà Nội. Tất cả diễn ra như một kịch bản đã được chuẩn bị trước.
Không thể loại trừ khả năng là giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã có những thỏa ước không được công bố và Bắc Kinh đã dựa vào đó để hành động. Nếu không thì không ai có thể giải thích tại sao chính quyền Hà Nội không đưa vấn đề ra công pháp quốc tế dù sau hơn 20 lần tiếp xúc vẫn chỉ nhận được một câu trả lời trịch thượng của Bắc Kinh là không có gì để thảo luận cả vì họ hoàn toàn đúng. Người ta có thể nghĩ như vậy khi đọc lại bản tuyên bố chung Việt – Trung ngày 21/06/2013 sau chuyến thăm viếng Bắc Kinh của ông Trương Tấn Sang:
“Hai bên hoan nghênh Thỏa thuận sửa đổi liên quan tới Thỏa thuận thăm dò chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa doanh nghiệp hữu quan hai nước, nhất trí mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận, kéo dài thời hạn thỏa thuận, cùng nhau thúc đẩy hoạt động thăm dò chung đối với cấu tạo dầu khí vắt ngang đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ sớm đạt được tiến triển tích cực”. (Tác giả tô đậm những cụm từ đáng chú ý).
Thỏa thuận sửa đổi nào? Thoả thuận thăm dò chung nào? Khu vực thỏa thuận nào? Mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận tới đâu? Nhân dân Việt Nam không được biết, tất cả đều chỉ là những cam kết dấm dúi giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và quan thày Trung Quốc của họ. Cũng không nên quên câu nói của thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh – một người rất thận cận với ông Dũng đồng thời cũng là một trong những người nhiều quyền lực nhất hiện nay – đại diện Việt Nam trong cuộc đàm phán Việt – Trung năm 2012: “Việt Nam không còn bất cứ băn khoăn gì khi hợp tác với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực “. Không còn bất cứ băn khoăn nào, vậy việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và Trường Sa coi như đã xong? Nếu quả thực như thế thì Trung Quốc có quyền làm những gì họ đang làm. Có những lúc mà ngôn ngữ không đủ để nói lên sự ngạc nhiên và phẫn nộ.
Cũng đáng ngạc nhiên và thất vọng không kém là thái độ của nhiều trí thức Việt Nam. Họ chống ách lệ thuộc Bắc Kinh và muốn “thoát Trung” nhưng lại ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng. Đối với họ Nguyễn Tấn Dũng là người tiến bộ, thân phương Tây và dám đối đầu với Bắc Kinh. Lý do là vì ông đã gửi con đi du học Mỹ, đã gửi thông điệp đầu năm nói tới “đổi mới thể chế” và “xây dựng dân chủ” và mới đây đã công khai phản đối việc Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sau đó lại tuyên bố không chấp nhận quan hệ lệ thuộc.
Tại sao lại có thể nông cạn và dễ tính đến thế được? Việc ông Dũng gửi con sang du học tại Mỹ không chứng minh gì cả; phần lớn các lãnh tụ chóp bu Nga và Trung Quốc cũng làm như thế, chính bản thân Tập Cận Bình cũng đã thực tập tại Mỹ. Chính quyền Trung Quốc cũng vừa tiết lộ là có hơn một nghìn quan chức tỉnh Quảng Đông gửi con du học các nước phương Tây. Gửi con đi học tại Mỹ không có nghĩa là thân Mỹ. Mà dù có được đào tạo tại phương Tây cũng không có nghĩa là đã trở thành người dân chủ. Cho tới thập niên 1980 hầu như tất cả các chế độ Châu Mỹ La Tinh đều là những chế độ độc tài mafia do những kẻ tốt nghiệp tại các trường đại học Mỹ cầm đầu. Bachar al Assad, tên độc tài khát máu tại Syria, tốt nghiệp tại Anh. Giáo dục quả nhiên thay đổi cách suy nghĩ nhưng thường phải một hai thế hệ. Người ta cố tình gán cho Nguyễn Tấn Dũng những chủ trương mà ông không bao giờ có, hơn nữa còn chống lại một cách hung bạo. Có những vị hân hoan vì ông Dũng nói tới “phát huy dân chủ” trong bài thông điệp đầu năm, nhưng đó hoàn toàn chỉ là thứ dân chủ mà ĐCSVN đã nói tới từ thời Việt Nam Dân Chủ Công Hòa, nghĩa là dân chủ kiểu xã hội chủ nghĩa, cái dân chủ mà bà Nguyễn Thị Doan đánh giá là ưu việt gấp triệu lần dân chủ đa nguyên đa đảng. Hoàn toàn không có gì mới. Điều chắc chắn là ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố “nhất định không để nhen nhúm những tổ chức đối lập”. Đó là xây dựng dân chủ? Cũng đừng quên rằng chính ông Dũng đã ký quyết định 97/2009/QĐ-TTg cấm phản biện và khai tử nhóm IDS.
…những lời tuyên bố mơ hồ, chung chung, vớ vẩn của ông Dũng
“thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta”…
Ca tụng ông Dũng là dám chống Trung Quốc cũng chỉ là lấy mơ ước làm sự thực, hay tệ hơn nữa là tán tụng kẻ có quyền, một thái độ chẳng có gì đáng tự hào. Về vụ HD-981 ông Dũng đã chỉ nói một phần nhỏ những điều mà mọi người đã biết. Còn câu “không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc”thì quả là vớ vẩn. Có gì là khảng khái? Ai có thể nói ngược lại? Ông Dũng còn phải cố gắng nhiều, rất nhiều, nếu muốn chứng tỏ thực tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc.
Điều chắc chắn là ông Dũng đã góp phần quyết định đưa Việt Nam đi sâu vào thế lệ thuộc Trung Quốc. Lệ thuộc Trung Quốc là chọn lựa chiến lược của ĐCSVN từ giữa năm 1984 và là trách nhiệm chung của các bộ chính trị từ đó. Nhưng cũng có những điều chủ yếu thuộc trách nhiệm của hành pháp, nghĩa là thủ tướng. Như cho Trung Quốc thuê dài hạn rừng đầu nguồn; cho Trung Quốc thuê những vùng biển rộng lớn để khai thác hải sản; cho các doanh nghiệp Trung Quốc đưa công nhân ồ ạt sang Việt Nam và tổ chức như những khu riêng của người Hoa; cho người và hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam không kiểm soát; xuất khẩu hàng hóa Trung Quốc mang nhãn made in Vietnam sang Hoa Kỳ và Châu Âu đưa thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc lên 24 tỷ USD; cho Trung Quốc trúng thầu gần hết các dự án và sau đó thi công một cách bê bối v.v. Cũng đừng quên Nguyễn Tấn Dũng là người bảo vệ dự án Bô-xit Tây Nguyên một cách quả quyết nhất, tuyên bố “dự án này phải tiếp tục vì là một chủ trương lớn của Đảng”. Đinh Đăng Định chỉ có tội phản đối dự án này mà bị cầm tù tới chết. Riêng về điểm này phải nhìn nhận là ông Trương Tấn Sang đã tỏ ra có trách nhiệm hơn và phần nào đã bênh vực những người phản đối. Điếu Cày có tội gì mà bị xử tới 12 năm tù sau khi đã ở tù 3 năm? Anh chẳng viết hay tuyên bố gì đáng nói. Tội duy nhất của Điếu Cày là đã tổ chức những cuộc biểu tình chống ngọn đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008. Nguyễn Xuân Nghĩa bị xử 6 năm tù -và còn bị công an cho thường phạm đánh trong tù- chỉ vì căng những biểu ngữ “Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam”. Không thể nói rằng đây là chính sách của Đảng; chính sách phục tùng Trung Quốc là của Đảng nhưng sự hung bạo là của Nguyễn Tấn Dũng. Cũng không nên quan trọng hóa quá đáng vai trò của bộ chính trị. Ông Dũng chẳng coi bộ chính trị ra gì, bộ chính trị muốn kỷ luật ông mà không được, muốn đưa hai ông Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào bộ chính trị cũng không được. Nguyễn Tấn Dũng mạnh hơn bộ chính trị vì kiểm soát được đa số trong ban chấp hành trung ương. Ai thắc mắc điều này có thể nhìn vào những bản án dành cho Trần Huỳnh Duy Thức và Cù Huy Hà Vũ. Duy Thức sử dụng tài liệu do văn phòng Trương Tấn Sang cung cấp để tố cáo Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng và lãnh 16 năm tù trước sự bất lực của phe Trương Tấn Sang, Hà Vũ đòi kiện Nguyễn Tấn Dũng về vụ Bô-xit và lãnh 7 năm dù thuộc diện con cháu công thần và được nhiều che chở ngay trong đảng. Bản hiến pháp mới vừa có hiệu lực từ đầu năm nay trong đó nét đậm nhất là rập khuôn theo chế độ Trung Quốc cũng là do ông Dũng đưa ra trước đại hội Đảng thứ 11; chỉ có điều là sau đó có quá nhiều vụ bê bối bị phát giác khiến ông không giành được chức tổng bí thư đảng như dự tính.
Cũng Nguyễn Tấn Dũng vừa ra chỉ thị cấm biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam. Tại sao cấm những cuộc biểu tình chính đáng này? Và tại sao không thấy trí thức trong nước nào lên tiếng mạnh mẽ phản đối quyết định này? Ông Dũng viện cớ ngăn ngừa những bạo loạn như dã xảy ra tại Bình Dương, nhưng ai điều động bọn côn đồ đập phá? Bọn này rõ ràng là được công an bảo kê. Chúng chỉ có vài chục đứa mà dám đến các doanh nghiệp đòi phải để công nhân ngừng làm việc để đi biểu tình và khi được trả lời là công nhân đã đi biểu tình rồi thì đòi vào khám nhà máy xem còn công nhân không. Nhà máy cầu cứu thì được công an lời là “không thể làm gì cả”. Tại sao công an lại không thể làm gì cả, trừ khi được lệnh cấm can thiệp? Rồi sau những thiệt hai to lớn đã có sĩ quan công an nào bị khiển trách không? Bình thường trước một sư kiện nghiêm trọng như vậy chính bộ trưởng công an phải tự kiểm điểm, thậm chí phải từ chức hoặc bị cách chức. Nên nhớ rằng công an hoàn toàn ở trong tay ông Dũng. Giải thích hợp lý nhất là chính ông Dũng đã tạo ra những cuộc bạo loạn này để có cớ cấm những cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Nhưng giải thích này có thể chưa đủ. Có thể còn có cả sự phối hợp với Trung Quốc – cả trong vụ giàn khoan HD-981 lẫn những diễn tiến sau đó – để tạo ra một tình trạng căng thẳng vừa biện minh cho sự suy sụp kinh tế không thể che giấu được nữa vừa giúp Nguyễn Tấn Dũng lấy cớ vãn hồi an ninh trật tự làm một cuộc đảo chính – công khai hoặc ngầm – thu tóm mọi quyền lực trong tay và vô hiệu hóa các đối thủ. Rất có thể. Bởi vì Trung Quốc không thể tìm được một đồng minh lý tưởng hơn ông Dũng, ông vừa hợp tác tận tình với Trung Quốc vừa thẳng tay đàn áp những người chống Trung Quốc. Ai cũng phải thấy là vụ giàn khoan HD-981 đã chỉ có lợi cho Nguyễn Tấn Dũng.
Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn “thoát Trung” mà lại “phò Dũng” là rất sai, sai một cách bi đát.
Có thể nói gì thêm về Nguyễn Tấn Dũng?
Khi lên làm thủ tướng ông tuyên bố nếu không dẹp được tham nhũng ông sẽ từ chức. Thực tế là tham nhũng không giảm đi, cũng không thể nói là tăng lên, mà phải nói là đã bùng nổ dưới chính phủ của ông Dũng. Hối lộ, vơ vét, móc ngoặc, mua quan bán chức đã trở thành qui luật dưới chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Phải nói một cách thật rõ rệt: nếu không dẹp được tham nhũng thì đất nước không có tương lai. Nguyễn Tấn Dũng không dẹp mà còn giúp tham nhũng bành trướng. Như vậy không thể viện dẫn bất cứ lý do nào để ủng hộ ông.
Ông Dũng đã khởi xướng ra “sáng kiến” dùng bọn côn đồ làm cánh tay nối dài của công an để hành hung dân oan và những người dân chủ. Tôi được nghe hai tiếng “đầu gấu” lần đầu tiên từ ông Hoàng Minh Chính qua điện thoại năm 2002. Ông Chính cùng các thân hữu tới tòa án ủng hộ Lê Chí Quang đang bị xét xử. Ông la lên: “Chúng nó dùng bọn đầu gấu đánh anh em dân chủ!”. Lúc đó ông Dũng vừa lên làm phó thủ tướng nhưng quyền lực át hẳn ông thủ tướng rất lu mờ Phan Văn Khải. Vài năm sau chính ông Hoàng Minh Chính cũng bị bọn đầu gấu xô đẩy và bị ném đồ dơ bẩn khi đi chữa bệnh ở Mỹ về, người nhà bị hành hung. Hiện tượng đầu gấu liên tục phát triển cùng với quyền lực của ông Dũng, đến mức giờ đây khó phân biệt công an và côn đồ. Hầu như không có người dân chủ trẻ nào không bị đánh, kể cả các phụ nữ như Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Hoàng Vi.
Dưới chính quyền của ông Dũng công an trở thành hung bạo. Hiện tượng tra tấn nghi can, dùng thường phạm đánh chính trị phạm trong nhà tù, đánh người, thậm chí đánh chết người, trong đồn công an ngày càng trở thành bình thường. Đó chủ yếu là thành quả của ông Dũng. Không thể nói rằng trách nhiệm của ông Dũng chỉ là đã không kiểm soát được công an. Ông nắm rất vững lực lượng công an, ông xuất thân là một công an và từng là thứ trưởng trực bộ công an. Công an không thể làm những gì mà ông cấm.
Nhiều người nói hãy cứ tập trung phát triển kinh tế rồi sẽ có dân chủ. Những người này không hiểu kinh tế và nói bậy. Nhưng ngay cả như thế thì Nguyễn Tấn Dũng cũng không phải là người lãnh đạo quốc gia chấp nhận được. Ông tỏ ra rất thiếu bài bản về kinh tế.
Một vài thí dụ:
-Ít lâu sau khi chính thức lên làm thủ tướng ông sang thăm Mỹ và tìm gặp Alan Greenspan, vừa mãn nhiệm kỳ chủ tịch ngân hàng trung ương Mỹ, để chiêm ngưỡng một thiên tài kinh tế. Chỉ một thời gian ngắn sau thế giới nhận ra Alan Greenspan là thống đốc tồi nhất từ một thế kỷ và đã gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu chưa từng có.
– Cuối năm 2007 ông Dũng tung ra 150 nghìn tỷ đồng để mua 9 tỷ USD làm cả nước điêu đứng vì vật giá tăng vọt, lý do là để “hỗ trợ đồng đô la” vì sợ hối suất đồng đô la Mỹ sẽ giảm sút nghiêm trọng so với đồng tiền Việt Nam; dự đoán này sai một cách lố bịch vì điều ngược lại đã xảy ra. Đồng đô la lúc đó bằng 15.000 đồng Việt Nam, ngay sau đó nó đổi lấy 18.500 đồng.
– Cuối năm 2008 chính phủ của ông Dũng trổ tài một lần nữa. Thấy thực phẩm lên giá đột ngột họ ra lệnh cấm xuất cảng gạo vì nghĩ rằng giá gạo sẽ còn tăng thêm và sợ bán hố. Sau đó thì giá gạo xuống nhanh và nông dân khốn khổ. Thực ra giá thực phẩm chỉ biến động trong một thởi gian ngắn, ngay lúc ông Dũng lấy quyết định ngớ ngẩn đó thị trường gạo đã trở lại bình thường rồi.
– Năm 2009 ông Dũng tung ra “gói kích cầu” 8 tỷ USD để kích thích tăng trưởng kinh tế. Theo lời bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư Bùi Quang Vinh thì số tiền 8 tỷ USD này đã mất toi và “doanh nghiệp bây giờ chết hết rồi”.
Sai lầm tai hại nhất của ông Dũng là lập ra những tập đoàn lớn, bắt chước các chaebol của Hàn Quốc dù không có những cấp lãnh đạo tương xứng và cũng không có cả những công ty đúng nghĩa. Kết quả là tất cả 127 tập đoàn đều lỗ nặng vì chỉ là những ổ lãng phí và tham nhũng. Chúng đang gánh một tổng số nợ gần 100 tỷ USD. Ai sẽ trả cái giá kinh khủng của sự ngu dốt này nếu không phải là thế hệ đang lớn lên? Trung bình mỗi người Việt Nam sẽ phải trả 1000 USD (22 triệu đồng) vì sự bất tài, tham nhũng và tính vĩ cuồng của chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Trong kỷ nguyên tri thức này không một quốc gia nào có thể chấp nhận một người lãnh đạo thiếu hiểu biết như ông Dũng mà không tàn lụi. Ngày nay người ta không còn có thể nói là đã có các cố vấn vì các vấn đề đã trở thành quá phức tạp và các dữ kiện thay đổi quá nhanh chóng. Muốn tuyển chọn các cố vấn có thực tài và sau đó trọng tài giữa các đề nghị phức tạp thì bắt buộc phải có một trình độ nào đó mà ông Dũng hoàn toàn không có.
Điều quan trọng cần được đặc biệt lưu ý là Việt Nam vừa để mất một cơ hội bằng vàng để vươn lên. Năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới vốn và kỹ thuật nước ngoài đã ồ ạt đổ vào nước ta. Khối lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lớn hơn tổng số đầu tư vào tất cả các nước trong vùng. Khối lượng đầu tư nước ngoài to lớn này có lúc đã tạo ra ảo tưởng, nhưng sau đó sự bất tài, tham nhũng và những vụ án chính trị thô bạo đã khiến các nhà đầu tư chán ngán bỏ đi. Họ sẽ chỉ trở lại nếu Việt Nam thay đổi chế độ chính trị.
Đặc tính nổi bật và phải lên án nhất của ông Dũng là sự hung bạo đối với những người dân chủ. Những vụ trước đây bị xử 2 hoặc 3 năm – như thế đã là rất thô bạo vì các nạn nhân hoàn toàn vô tội – có thể bị xử trên 10 năm trong mấy năm gần đây sau khi ông Dũng đã thu tóm được phần lớn quyền lực trong tay. Vào năm 2007 Lê Thị Công Nhân bị xử 3 năm tù, Nguyễn Văn Đài 4 năm, nhưng từ năm 2010 trở đi Trần Huỳnh Duy Thức bị xử 16 năm, Điếu Cày 15 năm, Tạ Phong Tần 10 năm, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm, Đỗ Thị Minh Hạnh 7 năm. Sự hung bạo đã tăng gấp ba.
Tóm lại Nguyễn Tấn Dũng là một người rất thiếu kiến thức và khả năng, rất tham nhũng, rất tận tình với Trung Quốc và rất hung bạo đối với những người dân chủ và những người chống chính sách lệ thuộc vào Bắc Kinh. Hơn nữa còn là người đã gây thiệt hại lớn nhất – về mọi mặt kinh tế, xã hội, đạo đức và môi trường – cho đất nước từ hơn mười năm nay. Người ta có thể không dám đả kích ông Dũng vì ông là người đầy quyền lực và rất hung bạo, nhưng ủng hộ và ca tụng ông là chuyện khác.
Làm sao không khỏi phiền lòng khi đọc thư ngỏ của nhiều trí thức có uy tín đánh giá những lời tuyên bố mơ hồ, chung chung, vớ vẩn của ông Dũng “thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta”. Ý chí của nhân dân ta đâu phải chỉ có thế. Hay khi đọc lời thuật rằng “cuộc hội thảo về “thoát Trung” là do cảm hứng vì những lời tuyên bố của thủ tướng”. Cảm hứng quá hời hợt. Và làm sao có thể thảo luận về “thoát Trung” nếu, như ban tổ chức yêu cầu, không được phép phê phán một chính quyền coi phụ thuộc Trung Quốc là điều kiện để tồn tại? Cần nhấn mạnh lệ thuộc Trung Quốc không phải là yêu cầu của nhân dân Việt Nam mà chỉ là nhu cầu sống còn của chế độ cộng sản.
Các trí thức đang ủng hộ ông Dũng và muốn ông Dũng có thế mạnh hơn nữa phải rất cảnh giác. Họ có thể sắp được mãn nguyện đấy, nhưng đó sẽ chỉ là một thảm kịch cho đất nước.
Để kết luận, xin có một lời cải chính nếu những gì vừa viết ở trên có thể khiến độc giả nghĩ rằng tôi bi quan. Không, tôi không hề bi quan. Trái lại tôi tin rẳng chúng ta có thể lạc quan. Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh lịch sử quan trọng, hạn kỳ dân chủ có thể rất gần.
Dù muốn hay không Trung Quốc cũng sẽ không thể là một chỗ dựa cho chế độ cộng sản Việt Nam nữa. Trung Quốc đã tích lũy quá đủ mâu thuẫn và khó khăn và đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng rất lớn. Khủng hoảng kinh tế, tài chính và môi trường. Khủng hoảng mô hình, chính trị, đồng thuận và căn cước. Chính sự thống nhất của Trung Quốc cũng sẽ không được bảo đảm. Trung Quốc sẽ phải dồn mọi cố gắng để lo cho chính mình và sẽ không còn sức lực và ý chí để tiếp tục chính sách bành trướng bá quyền. Dù muốn hay không quan hệ lệ thuộc Việt Trung cũng sẽ phải chấm dứt. Vấn đề lớn của chúng ta không phải là “thoát Trung” mà là “giải Cộng” nghĩa là chấm dứt chế độ độc tài đảng trị trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Ngay cả nếu kịch bản Nguyễn Tấn Dũng thâu tóm mọi quyền lực xảy ra thì nó cùng lắm cũng chỉ có thể làm chậm lại đôi chút chứ không thể ngăn chặn tiến trình dân chủ hóa. Nó sẽ chỉ là một sự chuyển hóa từ độc tài đảng trị sang độc tài cá nhân, và sự chuyển hóa này cũng chỉ là một chặng đường quen thuộc trong tiến trình đào thải của các chế độ độc tài.
Chúng ta còn một lý do quan trọng khác để tin tưởng: một tầng lớp trí thức chính trị, tầng lớp mà chúng ta chưa bao giờ có trong suốt dòng lịch sử, đang hình thành. Đó là những trí thức trẻ. Họ hiểu biết về chính trị và tình hình thế giới hơn hẳn thế hệ cha anh, không ràng buộc với chế độ, không khiếp sợ cũng không trông đợi gì ở bạo quyền và thẳng thắn chọn lựa dân chủ. Họ đã nắm được chìa khoá của tương lai, kể cả tương lai rất gần. Sự chuyển giao thế hệ sắp hoàn tất. Đất nước phải thay đổi vì đã thay da đổi thịt.
Kỷ nguyên tự do dân chủ sắp mở ra và các thế hệ mai sau sẽ nhận diện những con người của đất nước hôm nay. Ở thời điểm này quỵ lụy, luồn cúi không chỉ là bệ rạc mà còn là dại dột.
Nguyễn Quang Duy tường trình – Bảy Dân Biểu tiểu bang Victoria Úc, Luke Donnellan, Don Nowderlla, Marsha Thomson, Hong Linh, Martin Pakula, Cersa Melhem, Marlene Kairouz cho phổ biến một lá thư gởi Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng về trường hợp của Tù Nhân Lương Tâm Đỗ thị Minh Hạnh. Bảy Dân Biểu cũng kêu gọi ông Dũng thả ngay 3 thành viên Khối 8406, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng.
Được biết ngày 21-5-2014 vừa qua tại Quốc Hội Tiểu Bang Victoria Úc, đựơc sự hỗ trợ của dân biểu Luke Donnellan, Khối 8406 đã tổ chức một diễn đàn về Nhân Quyền cho Việt Nam. Diễn giả chính là Trần Ngọc Minh thân mẫu của Đỗ Thị Minh Hạnh vừa đến Úc để vận động cho Hạnh, Hùng và Chương.
Bà Minh đã kể lại hòan cảnh của Hạnh và của các tù nhân chính trị khác. Bà kêu gọi Quốc Hội Victoria hãy cứu lấy con bà bằng cách kêu gọi nhà cầm quyền cộng sản phải thả ngay con bà. Các vị dân biểu đã lắng nghe và hứa sẽ vận động cho Hạnh.
Các diễn giả khác là Giáo Sư Tiến Sỹ Kiều Tiến Dũng thuyết trình về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam. Trương Phúc một sinh viên du học nhận xét về việc nhà cầm quyền cộng sản trắng trợn vi phạm quyền làm người. Anh Phúc đặc biệt nhấn mạnh nhiều trường hợp công an cộng sản đánh chết dân khi bị tạm giam.
Dự định nhà báo Phạm Chí Dũng sẽ có bài thuyết trình về Xã Hội Dân Sự nhưng vì lý do kỹ thuật nên không thể thực hiện.
Từ Việt Nam, qua skype, Luật sư Nguyễn Văn Đài một thành viên sáng lập Khối 8406 đã thuyết trình Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam. Xin xem tòan bài thuyết trình.
Bảy Dân biểu lắng nghe và hỏi họ có thể làm gì để giúp đỡ cho các tổ chức Xã Hội Dân Sự của Việt Nam phát triển. Luật Sư Đài cho biết: “Các tổ chức Xã Hội Dân Sự thực sự của Việt Nam rất yếu và thiếu về mọi mặt. Bởi vậy, chúng tôi cần được Quốc hội bang Victoria công nhận, giao lưu, trao đổi với các tổ chức XHDS của Việt Nam. Hỗ trợ chúng tôi về đào tạo cán bộ, trợ giúp tài chính cho hoạt động và phát triển của các tổ chức Xã Hội Dân Sự của Việt Nam.”
Các dân biểu bang Victoria đề nghị các tổ chức XHDS cử một số thành viên sang thăm tiếu bang Victoria và thảo luận.
Luật sư Nguyễn Văn Đài thuyết trình về Xã Hội Dân Sự Việt Nam trước Quốc Hội Tiểu Bang Victoria Úc 21-5-2014.
Thưa các vị Dân biểu đáng kính của Quốc hội tiểu bang Victoria, Australia.
Xin cảm ơn quí vị đã dành cho tôi cơ hội quí báu này để phát biểu trước Quí vị về tổng lược các tổ chức XHDS ở Vietnam. Tôi xin được trình bày như sau:
1/ Thực trạng về các tổ chức XHDS ở VN:
Ở VN chưa có các tổ chức XHDS mà được chính quyền công nhận hay thừa nhận hợp pháp. Chính quyền có thành lập các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp như tổ chức Công đoàn, phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh, nông dân, luật sư, luật gia,…. Nhưng các tổ chức này không phải là các tổ chức tự nguyện của người dân, không do người dân tự thành lập, tự quản lý và điều hành. Đứng đầu các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp này thường là một quan chức đảng CSVN đương nhiệm hay đã nghỉ hưu. Về mặt bản chất thì đó là các tổ chức nối dài của chính quyền và đảng CS nhằm kiểm soát người dân.
2/ Việc thành lập các tổ chức XHDS chưa được Nhà nước công nhận:
Trong những năm qua, trước thực tế đòi hỏi của nhu cầu xã hội trong các vấn đề trợ giúp nhân đạo, bảo vệ, quảng bá và thúc đẩy nhân quyền. Đã có rất nhiều các tổ chức XHDS do các tổ chức Tôn giáo thành lập nhằm các mục đích nhân đạo. Đồng thời cũng có rất nhiều các tổ chức XHDS được thành lập để phát động lòng yêu nước của nhân dân nhằm chống sự bá quyền của Trung Quốc như: Hanoi No-U FC, Hoang Sa FC, Saigon No-U FC, Vinh No-U FC. Các tổ chức XHDS để bảo vệ, quảng bá, thúc đẩy nhân quyền và vận động dân chủ như: Brotherhood For Demcracy(BFD), Mạng lưới Blogger Vietnam, Diễn đàn XHDS, Hội Dân Oan, Hội Phụ nữ Nhân quyền Vietnam, Hội Tù nhân Lương tâm, Hội Bầu bí tương thân,… Và có khoảng 100 Câu lạc bộ tình nguyện do sinh viên tự thành lập trong các trường Đại học.
3/ Khuynh hướng của các tổ chức XHDS do người dân tự thành lập:
– Đối với các tổ chức XHDS, CLB Sinh viên tình nguyện thì có xu hướng chủ yếu để làm các công tác xã hội nhân đạo như: giúp đỡ người nghèo, chăm sóc y tế, sức khỏe cộng đồng.
– Đối với các tổ chức XHDS do những người đang hoạt động nhân quyền thành lập thì mục đích chủ yếu là bảo vệ, quảng bá, thúc đẩy nhân quyền và vận động dân chủ.
4/ Các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực nhân đạo hay nhân quyền được thành lập và hoạt động ở các thành phố ở miền đồng bằng trên phạm vi cả nước. Ở các tỉnh miền núi, hầu như không có các tổ chức XHDS do người dân tự thành lập.
Những người tham gia thành lập các tổ chức XHDS chủ yếu là những người trẻ tuổi, thành phần trí thức và sinh viên. Tuyệt đại đa số những người này đều không chấp nhận chế độ độc đảng CS. Họ mong muốn xây dựng một xã hội tự do, dân chủ theo mô hình của các nước dân chủ Âu, Mỹ. Mong muốn xây dựng mối quan hệ đồng minh với Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, và các nước dân chủ trong khu Châu Á Thái Bình Dương và EU làm nền tảng để có thể cân bằng trong mối quan hệ láng giềng với Trung Quốc.
5/ Sự khác nhau giữa các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp của Nhà nước và các tổ chức XHDS của người dân:
Thứ nhất, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp của Nhà nước thì do các cơ quan nhà nước đứng ra thành lập, quản lý và điều hành. Chính phủ cấp ngân sách cho các tổ chức này hoạt động. Đảng CS và chính quyền can dự vào việc bầu ban lãnh đạo của các tổ chức này. Những tổ chức quan trọng như Công đoàn, Thanh niên, sinh viên, phụ nữ, cựu chiến binh, luật sư, luật gia,… thì đảng CS và chính quyền cử người sang lãnh đạo và quản lý.
Còn các tổ chức XHDS do các tổ chức tôn giáo và người dân tự thành lập thì chưa được nhà nước công nhận. Các tổ chức này tự lo về tài chính, hoạt động độc lập với đảng CS và chính quyền. Không chịu sự quản lý, điều hành của đảng CS và chính quyền.
Thứ hai, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp của nhà nước nên được đảng CS và chính quyền hỗ trợ mọi mặt từ trụ sở, phương tiện đi lại, làm việc, được cấp kinh phí hoạt động nên các tổ chức này có hệ thống từ trung ương đến địa phương. Được tổ chức và quản lý chặt chẽ, đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp.
Còn các tổ chức XHDS do người tự đóng góp tài chính, nên không có trụ sở. Phương tiện đi lại không có, trang thiết bị làm việc cũng nghèo nàn. Số lượng thành viên của các tổ chức XHDS còn ít và yếu, thiếu kinh nghiệm.
Thứ ba, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp được nhà nước thành lập nên họ được bảo vệ về mặt luật pháp. Có tư cách pháp nhân, có trụ sở nên mọi hoạt động của họ được pháp luật thừa nhận.
Còn các tổ chức XHDS thì do người dân tự thành lập, chưa được nhà nước công nhận. Do vậy các tổ chức XHDS không được pháp luật bảo hộ và bảo vệ trong các hoạt động của họ. Ngoài ra, các cơ quan an ninh, chính quyền thường xuyên sách nhiễu, đe dọa các thành viên của các tổ chức XHDS. Cơ quan an ninh, chính quyền sẽ sách nhiễu, đe dọa, câu lưu các thành viên của các tổ chức XHDS nếu các hoạt động của họ bị phát hiện. Thậm chí, cơ quan an ninh tịch thu các trang thiết bị làm việc như điện thoại, máy tính của các thành viên và tổ chức XHDS.
Nhà nước thường cử các tổ chức XHDS trá hình do họ thành lập để tới các diễn đàn khu vực và quốc tế để đánh bóng cho họ, tạo điều kiện cho họ xin các ngân khoản từ các tổ chức quốc tế để tăng thêm khả năng khống chế. Trong khi đó các tổ chức XHDS thực sự thì ít được biết đến ở trong và ngoài nước, không có cơ hội tiếp cận với thế giới. Hoàn toàn bị loại khỏi các diễn đàn khu vực và quốc tế. Nhóm nào tự mình tham dự các diễn đàn đó thì bị cấm cản, sách nhiễu hay bị trừng phạt.
6/ Rõ ràng, là các tổ chức XHDS do người dân tự thành lập gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại với cơ quan an ninh và chính quyền ngay từ khi thành lập, và trong suốt quá trình hoạt động. Đảng CS và chính quyền không thừa nhận, không hỗ trợ mà còn đàn áp, sách nhiễu. Cơ quan an ninh thường xuyên theo dõi các thành viên của các tổ chức XHDS, ngăn cản các thành viên của các tổ chức XHDS gặp mặt nhau. Cấm xuất cảnh hầu hết các thành viên của các tổ chức XHDS. Cơ quan an ninh cũng thường xuyên sách nhiễu, gây khó khăn cho công ăn, việc làm của các thành viên của tổ chức XHDS. Cơ quan an ninh có thể tấn công vào nhà, khám nhà, lấy máy tính của các thành viên các tổ chức XHDS bất cứ lúc nào. Cơ quan an ninh còn gây áp lực với chủ các nhà trọ để họ không cho các thành viên của các tổ chức XHDS thuê nhà. Gần đây, cơ quan an ninh thường xuyên tấn công đánh đập các thành viên của các tổ chức XHDS một cách vô cớ. Cản trở các thành viên của các tổ chức XHDS gặp gỡ với các quan chức ngoại giao nước ngoài tại Vietnam.
Đồng thời các tổ chức XHDS không thể tiếp cận với các viện trợ nhân đạo của chính phủ các nước. Không thể tiếp nhận sự giúp đợ trực tiếp từ các tổ chức NGO quốc tế. Bởi vậy, các tổ chức XHDS ở Vietnam không có đủ nguồn lực tài chính để phát triển thành viên và mở rộng hoạt động.
Đó là những khó khăn thách thức mà các tổ chức XHDS đã và đang găp phải.
7/ Tiềm năng: Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thách thức nêu trên, các tổ chức XHDS ra đời đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của quá trình phát triển của xã hội Việt Nam. Đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng lên của người dân Việt Nam trong các vấn đề nhân đạo, trong bảo vệ, quảng bá, thúc đẩy nhân quyền và vận động dân chủ.
Các tổ chức XHDS cũng đã được cộng đồng người Việt ở hải ngoại giúp đỡ ở mức tối thiểu để có thể tồn tại và duy trì hoạt động. Một số NGO quốc tế cũng đang tìm hiểu và tìm cách hỗ trợ.
Nếu các tổ chức XHDS Vietnam được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ các nước và cộng đồng quốc tế về cả chính trị và tài chính. Chắc chắn, các tổ chức XHDS sẽ đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ, quảng bá, thúc đẩy nhân quyền và vận động dân chủ ở Việt nam. Nhằm xây dựng một nước Vietnam dân chủ, hội nhập quốc tế và cùng với các quốc gia dân chủ bảo vệ hòa bình và ổn định trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
8/ Mong muốn và kiến nghị: Tôi thay mặt cho các tổ chức XHDS của Việt nam kêu gọi quốc hội bang Victoria hãy tạo mọi cơ hội để các giới chức bang Victoria tiếp xúc với các tổ chức XHDS thực sự, công nhận vai trò và mở các các chương trinh hợp tác với các tổ chức này, cũng như dành một khoản ngân sách, và thông qua các tổ chức NGO quốc tế để tài trợ cho các tổ XHDS thực sự của Việt Nam. Vì mối quan hệ đồng minh trong tương lai giữa Việt nam và Australia. Vì lợi ích và sự thịnh vượng chung của hai nước, hai dân tộc.
Trân trọng cảm ơn quí vị. Xin Chúa chúc phước tất cả quí vị và tình hữu nghị giữa chúng ta.
(PTTPGQT) – Viện Tăng Thống vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế lá Thư Ngỏ của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), về Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí chống Ngoại xâm và Phát triển đất nước để phổ biến.
GHPGVNTN qua tiếng nói của Đức cố Đệ tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang và Đức Đương kim Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ đã dõng dạc lên tiếng cho tiến trình Dân chủ hoá Việt Nam từ đầu thập niên 90 cho đến nay. Với vấn đề Trung Cộng xâm lăng biển đảo và lãnh thổ Việt Nam, hay đại nạn sinh thái và mai phục vùng yết hầu Tây nguyên khi Hà Nội để Trung quốc vào đây khai thác bô-xít, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, cũng đã cất tiếng báo động rất sớm từ năm 2007.
Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ bên giỏ hoa do Phật tử dâng tặng ngày Tết
Hôm nay, nhân dân trong và ngoài nước khắc khoải, phẫn nộ trước sự kiện xâm lấn vùng đặc quyền kinh tế của Trung quốc khi đặt giàn khoan Hải dương 981 đầu tháng 5 vừa qua, thì nhà cầm quyền Hà Nội vẫn lửng lơ trong ý chí và thái độ ươn hèn trước nguy cơ mất nước.
Vì vậy, ngày 10.5 vừa qua, nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Đức Tăng Thống đã ra Tuyên Cáo về việc Trung quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam. Và hôm nay, Ngài gửi lá Thư Ngỏ về Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí chống Ngoại xâm và Phát triển đất nước, ký tại Thanh Minh Thiền Viện, ở Saigon ngày 16.6.2014. Sau đây là toàn văn Thư Ngỏ ấy :
của Đức Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
về Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí
chống ngoại xâm và phát triển đất nước
Thời gian qua, Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) và bản thân tôi, nhận được nhiều thư của quý nhân sĩ và đồng bào các giới thúc đẩy Giáo hội lên tiếng, và đề xuất những biện pháp cứu nguy đất nước, trước nạn độc tài đảng trị làm điêu linh dân tộc. Vô hình trung, nạn độc tài này lại nuôi dưỡng bước chân xâm lược biển đảo và lãnh thổ mà tổ tiên nước Việt đã đổ xương máu gầy dựng suốt bao nhiêu đời.
Chúng tôi tri ân sự tin cậy và trông chờ của chư liệt vị đối với Giáo hội chúng tôi. Tuy nhiên điều cần nói là GHPGVNTN là một tôn giáo, hoà quyện cùng dân tộc trên hai nghìn năm qua, để dựng xây nền văn hiến và bảo vệ chủ quyền nước Việt. Sự đóng góp này là ý chí hoằng hoá chúng sinh của đạo Phật, mà tiêu đích thấy rõ, là bao lâu con người chưa giải thoát giác ngộ, thì xã hội không sao thay đổi, tiến bộ. GHPGVNTN không là một đảng chính trị để có biện pháp thích nghi trong vấn đề điều hành quốc gia.
Theo giáo luật Phật chế, Giáo hội không làm chính trị, không tham gia chính trị. Thế nhưng chư Tăng Ni vẫn là công dân của một nước, tức có trách vụ đóng góp ý kiến khi công động xã hội luân hiểm đưa tới sự mất nước hay suy vong.
Thái độ này đã là truyền thống dấn thân xã hội, mà người Phật tử Việt Nam, chư lịch đại tổ sư, các đạo sư, thiền sư không ngừng quan tâm suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, ở thời bình cũng như thời chiến. Sự đóng góp của đạo Phật Việt trên căn bản của đại thừa giáo đã là nền tảng dựng nước và giữ nước không thể phủ nhận. Cho nên mọi âm mưu biến tướng đạo Phật nói chung, và GHPGVNTN nói riêng, đi ngược quyền lợi đất nước.
Cuộc vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ của GHPGVNTN suốt 39 năm qua, đã là hành hoạt kiên trì mang tính đồng hành cùng dân tộc như giải pháp cứu nguy tình thế và phát triển quốc gia.
Không tôn trọng nhân quyền cơ bản, thì người dân chưa được làm người để xây dựng một xã hội hoà ái. Không thực thi dân chủ đa nguyên, thì quốc gia biến thành trại lính, khó chen chân vào thế giới văn minh tiến bộ và phát triển ngày nay.
Vì vậy, mười ba năm trước, ngày 21.2.2001, tôi đã gióng Lời Kêu Gọi Cho Dân Chủ với một chương trình chính trị 8 điểm. Ba năm sau đó, ngày 3.2.2005, tôi lại gửi Lời Chúc Xuân nhân Tết Ất Dậu đến quí vị Nhân sĩ, Trí thức, Văn Nghệ sĩ, và Ðồng bào trong và ngoài nước, tái khẳng định ý nghĩa của Vô thường rằng : «Hạnh phúc có thể tái tạo, tự do có thể thiết lập, nô lệ có thể chấm dứt. Cho nên kẻ sĩ phu theo thời mà thông biến. Lịch sử nước ta trải dài nhiều nghìn năm cho thấy sĩ phu là giới hiểu thời vụ, nhờ hiểu thời vụ mà ra tay chuyển hóa thời đại làm cho quê hương thoát cơn luân hiểm, sinh dân được an lạc». Và rằng : «Không còn con đường nào khác ngoài con đường dân chủ đa nguyên để tái thiết đất nước. Lẽ giản dị là nhiều ý kiến vẫn hơn một ý niệm độc tôn, nhiều thành phần chính kiến, tôn giáo, xã hội, đồng tâm hiệp lực xây dựng quê hương, vẫn hơn một đảng phái độc quyền bao cấp quản lý».
Liền đó, trong cuộc trả lời phỏng vấn Ðài nước ngoài, tôi ngỏ lời «Đề nghị Nhà nước Việt Nam không nên sợ hãi. Chỉ sợ mình không có chính nghĩa, không thật sự có tâm huyết với dân tộc thôi. Chứ sợ gì mất quyền. Ðừng sợ có tự do, dân chủ là mình mất quyền. Không đâu. Người dân bây giờ tinh tường lắm. Ai có công, ai thật sự vì dân, vì nước, người ta biết. Miễn là mọi đảng phái khác cũng được quyền tham dự để cho dân có cơ sở so sánh, lựa chọn, các đảng phái có cơ sở tranh đua phục vụ tổ quốc. Ðừng sợ nhiều đảng loạn quyền. Chỉ sợ dân trí bị kìm hãm trong chủ nghĩa ngu dân thôi. Mà đã ngu dân, thì một đảng cũng sinh loạn».
«Bối cảnh nước ta ngày nay, theo tôi suy nghĩ vào năm 2005, không cần có vài chục đảng mới thiết lập được dân chủ. Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính lưu. Nhưng trái lại, phải có nhiều xã hội dân sự tự do xuất hiện với mọi quyền con người cơ bản, ắt việc nước sẽ khai thông, quốc gia sẽ thịnh trị. Ðiều kiện tiên quyết muốn được như vậy là phải có tự do, dân chủ thật sự để mỗi người và mọi thành phần xã hội được bình đẳng tham gia việc nước. Không sung sướng gì bằng, không hạnh phúc gì bằng, khi những người làm chính trị được chính người dân tin tưởng giao quyền cho. Ðời sống nhân dân các nước dân chủ ở Bắc Âu là mô thức khá hoàn hảo về sự an lạc và tự do của người dân mà chúng ta có thể học hỏi, nghiên cứu, dung hóa, áp dụng vào bối cảnh Việt Nam».
Phải có dân chủ đa nguyên thì mới giải quyết mọi vấn nạn bế tắc. Ba mươi chín năm qua, đất nước đã bế tắc trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, tôn giáo, văn hoá, chính trị. Nay thêm nạn ngoại xâm đến từ phương Bắc, mà sự kiện giàn khoan Hải dương 981 của Trung quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam đầu tháng 5 vừa qua, là thách thức lớn, báo hiệu thời đại Bắc thuộc lần thứ hai khai diễn. Nếu Nhà nước Cộng sản Việt Nam không có tâm hướng Hộ Quốc, Hộ Dân, tất rơi vào tâm địa của một chính quyền bán nước hại dân.
Tâm hướng Hộ Quốc Hộ Dân trong lúc này chẳng có giải pháp nào khác ngoài tiến trình dân chủ hoá chế độ. Trong cuộc kháng chiến giành độc lập năm 1945, tuy đảng Cộng sản nắm quyền lãnh đạo, nhưng nếu không có sự tham dự của toàn dân qua mọi khuynh hướng đảng phái và tôn giáo, thì cũng thất bại. Sự lãnh đạo độc tôn này lại là bài học đau thương gây chết chóc hằng triệu dân lành hai miền Nam Bắc, trở thành cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cuộc phiêu lưu chính trị, làm tiêu hoại túi khôn dân tộc so với các quốc gia khu vực như Ấn Độ, Singapore, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Nam Dương, v.v…
Nước mất, thì đạo giáo, văn hiến, dân tộc cũng mất theo. Nô lệ chưa bao giờ là cách sống và thế đứng của người dân Việt. Diên Hồng không là một hội nghị hình thành từ sự kêu gọi hay tập họp. Diên Hồng là ý chí và xung lực của toàn thể nhân dân. Thời đại nhà Trần đã thành công nhờ ý chí và xung lực ấy. Vì đâu tám thế kỷ sau, ý chí ấy không trưởng thành ?
Kìm hãm sự trưởng thành là chế độ độc tài độc đảng dựa vào ý thức hệ Mác Lê Mao. Nay cần thanh toán mầm mống ngoại lai làm tiêu hoại thần trí và tinh não Việt Nam.
Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi cất lời kêu gọi giới nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà lãnh đạo tôn giáo và đồng bào các giới hãy chung lòng kết hợp chung quanh Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí chống ngoại xâm và phát triển đất nước, tái tạo ý chí Diên Hồng vào thế kỷ XXI.
Bạn đọc Danlambao – Ảnh trái là sắc lệnh 174-NV do cố Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, ông Ngô Đình Diệm ký ngày 13/7/1961 nêu rõ: “đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hòa Vang”.
Ảnh bên phải là bức công hàm của cố thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958, ghi: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc” và “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.
Không cần phải phân tích dông dài, chỉ cần đọc và so sánh 2 văn bản trên, một người dân lao động ít học như tôi cũng đủ thấy rõ ai là kẻ bán nước, ai là người giữ nước.
Một chế độ yêu nước và giữ nước như Việt Nam Cộng Hòa dứt khoát không thể là ‘ngụy’, tôi gọi đó là Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Một chế độ bán nước như Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa dứt khoát là ngụy, tôi gọi đó là bọn ngụy quyền cộng sản Ba Đình hay tập đoàn tà quyền Việt gian bán nước.
Công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc. RFA files
Sau khi hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tiến hành khoan thăm dò và di chuyển tại vùng biển mà Hà Nội cho là thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc đưa ra những văn bản từ thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa chứng minh Bắc Kinh có quyền hoạt động tại khu vực đó và chính Việt Nam đang cản trở phía Trung Quốc.
Hà Nội đã đưa ra những lập luận phản bác đối với một trong những văn bản đó là Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng hồi năm 1958. Tuy nhiên theo một số nhà trí thức Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài thì những lập luận phản bác của Việt Nam chưa đủ mạnh.
Cảm thông
Ngay sau khi vụ việc giàn khoan Hải Dương 981 xảy ra, không chỉ người Việt trong nước mà nhiều người Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài đều quan tâm đến các diễn biến trên vùng biển quê hương.
Nhiều người đều có chung thông tin khu vực Hoàng Sa mà hiện nay Trung Quốc đang quản lý thuộc Việt Nam từ trước và thời điểm cả quần đảo này bị thâu tóm bởi Bắc Kinh là vào tháng giêng năm 1974 qua một cuộc hải chiến khiến 74 sĩ quan và binh sĩ của Việt Nam Cộng hòa phải bỏ mình để bảo vệ đảo.
Nhưng rồi Trung Quốc lại trưng ra công hàm do thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1958 gửi cho ông Chu Ân Lai nói rằng Hà Nội công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng phản bác lập luận rằng lúc đó Hoàng Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa nên Hà Nội không thể cho cái không thuộc về họ. Một số ý kiến còn cho rằng thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công hàm đó trong hoàn cảnh chiến tranh với sự trợ giúp của Trung Quốc để chống Mỹ nên cần thông cảm cho ông Phạm Văn Đồng.
Những bài trên trang Chinhphu.vn có nói công hàm của ông Phạm Văn Đồng xuất phát từ một mối quan hệ rất đặc thù giữa Việt Nam với Trung Quốc, Họ không nói đặc thù là gì nhưng chúng ta đều hiểu dặc thù ở đây là phía VNDCCH cần phải có sự hỗ trợ về quân sự, tài chính, thậm chí về nhiều vấn đề khác từ TQ
GS. Nguyễn Văn Tuấn
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, hiện làm việc tại Khoa Y, Đại học News South Wales, Australia có ý kiến về điều này:
Thực ra quan điểm thông cảm vì thời đó là thời kỳ khó khăn cũng là một lý giải của phía Việt Nam. Nếu đọc những bài trên trang Chinhphu.vn có nói công hàm của ông Phạm Văn Đồng xuất phát từ một mối quan hệ rất đặc thù giữa Việt Nam với Trung Quốc, Họ không nói đặc thù là gì nhưng chúng ta đều hiểu dặc thù ở đây là phía Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa cần phải có sự hỗ trợ về quân sự, tài chính, thậm chí về nhiều vấn đề khác từ Trung Quốc -đại khái là phải có viện trợ từ Trung Quốc thành ra họ phải làm như vậy. Nhưng theo tôi nghĩ thì ngay cả cách biện minh như vậy cũng không thuyết phục mấy.
Phản bác yếu
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho biết ông đồng ý với một bài viết của một giáo sư hiện cũng đang giảng dạy tại Đại học New South Wales, Australia là giáo Giáo sư Phạm Quang Tuấn phản biện lại một bài viết của giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp với tựa đề ở thể nghi vấn “Có cần phải thông cảm cho ông Phạm Văn Đồng?’
Ngoài ra giáo sư Phạm Quang Tuấn cũng có nhận xét về những lập luận từ phía Việt Nam đưa ra nhằm bác bỏ Công hàm Phạm Văn Đồng:
Những lập luận của Trung Quốc phía Việt Nam rất cần phải phản bác, và có nhiều cách phản bác. Nhưng tôi thấy cách phản bác mà báo chí của chính phủ ở Việt Nam nói thì không có hiệu nghiệm. Chẳng hạn họ nói thời đó Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về miền nam Việt Nam thành ra miền bắc không có quyền gì về hai đảo đó, nên công hàm của ông Phạm Văn Đồng là vô hiệu. Nói như vậy không có hiệu nghiệm vì chính phủ miền Bắc từ trước họ tự coi họ là chính phủ của cả nước Việt Nam chứ không phải chỉ của riêng miền Bắc thôi. Hay họ nói ông Phạm Văn Đồng khi viết công hàm đó chỉ cốt để ủng hộ hải phận 12 hải lý của nước Tàu thôi. Theo tôi phản bác đó cũng không công hiệu vì ngoài câu 12 hải lý đó, ông Phạm Văn Đồng còn viết, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố của Trung Quốc. Và Trung Quốc nói bản tuyên bố đó áp dụng cho Hoàng Sa, Trường Sa. Thành ra không thể chối cãi là ông Phạm Văn Đồng không nói tới Hoàng Sa, Trường Sa.
Vị trí của giàn khoan HD 981 trong thềm lục địa của Việt Nam
Cách hóa giải?
Tuy cả hai vị giáo sư hiện đang ở đại học News South Wales đều đồng ý rằng những phản biện từ phía chính quyền Hà Nội hiện nay đối với Công hàm Phạm Văn Đồng không mấy hiệu quả; họ cũng đề cập đến những cách thức có thể giúp hóa giải nó đi.
Họ nói thời đó Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về miền nam Việt Nam thành ra miền bắc không có quyền gì về hai đảo đó, nên công hàm của ông Phạm Văn Đồng là vô hiệu. Nói như vậy không có hiệu nghiệm vì chính phủ miền Bắc từ trước họ tự coi họ là chính phủ của cả nước Việt Nam
GS. Phạm Quang Tuấn
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn trình bày:
Một vài quan chức trong nước bây giờ họ cũng dùng cách lý giải mà các học giả Việt Nam ở nước ngoài đã đề nghị từ lâu ( theo tôi biết đã trên 10 năm rồi, lúc đó trong nước người ta chưa quan tâm nhưng ngoài này người ta đã quan tâm); tức là trong thời gian đó năm 1958, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà đó là thuộc Việt Nam Cộng Hòa. Theo tôi lý lẽ này là hợp lý vì anh không thể sang nhượng cái mà anh không có được; tôi nghĩ như thế hợp lý nhưng nếu các quan chức chính phủ Việt Nam bây giờ nói như thế thì điều hợp lý đó phải xảy ra với điều kiện là phải công nhận chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Thế nhưng khổ nỗi phía bên bắc Việt Nam, tức Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, luôn xem Việt Nam Cộng Hòa là ngụy, và đó là vùng đất tạm chiếm. Họ không công nhận Việt nam Cộng hòa như là một chính phủ hợp pháp. Thành ra để lý giải điều đó thì họ phải công nhận Việt Nam Cộng hòa, đòi hỏi phải thay đổi một quan điểm trong quá khứ. Như thế may ra mới thuyết phục được người ta!
Gần đây tôi có đọc một bài viết, thực ra vài bài chứ không phải một, nhưng bài này đặc biệt vì là bài của một nhà nghiên cứu bên Trung Quốc. Ông này đặc biệt chỉ viết về công hàm Phạm Văn Đồng, và lý lẽ của ông này là Việt Nam không thể nào bỏ qua công hàm đó. Ông này còn mỉa mai, thách thức nữa chứ. Ông nói rằng ông mong Việt Nam sẽ ra tòa án quốc tế và đừng quên mang theo Công hàm của ông Phạm Văn Đồng!
Theo giáo sư Phạm Quang Tuấn công tác hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng đòi hỏi cần có sự nghiên cứu sâu về mặt pháp lý và ông nói tiếp:
Đây là vấn đề rất khó khăn và có nhiều người đang nghiên cứu để tìm cách có thể nói hóa giải công hàm này. Có nhiều cách đã được đưa ra. Chẳng hạn có người nói hồi đó Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, hai miền bắc- nam không thực sự là hai quốc gia vì không cai quản cả nước Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam. Có người lại nói miền bắc và miền nam thời xưa là hai quốc gia khác nhau nên chính phủ Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa bây giờ thửa hưởng chủ quyền Hoàng Sa- Trường Sa là từ chủ quyền của quốc gia miền nam thời xưa, tức Việt Nam Cộng Hòa, sau đó là ‘Cộng hòa Miền Nam’; do đó Việt Nam bây giờ vẫn thừa hưởng chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhiều ý kiến đóng góp đều cho rằng vấn đề hóa giải Công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 nay hoàn toàn tùy thuộc vào chính quyền Việt Nam hiện nay.
Ngoài công hàm Phạm Văn Đồng, vào ngày 9 tháng 6 vừa qua, Trung Quốc khi đệ thư cho tổng thư ký Liên hiệp quốc trình bày về những diễn biến tại khu vực giàn khoan Hải Dương 981 cũng đính kèm thêm một số chứng cứ mà theo họ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đối với những chứng cứ mới đó, phía Việt Nam đến lúc này vẫn chưa có phản bác nào.
Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc phụ trách đối ngoại, ông Dương Khiết Trì, sẽ sang Việt Nam vào tuần tới trong khuôn khổ đối thoại thường niên về hợp tác song phương. Báo South China Morning Post, số ra ngày hôm nay, 15/06/2014, đã cho biết thông tin này.
Đây sẽ là quan chức Trung Quốc cao cấp nhất tới Việt Nam, vào lúc quan hệ giữa hai nước đang căng thẳng do việc Trung Quốc, kể từ đầu tháng Năm vừa qua, đã đưa giàn khoan dầu vào vùng biển mà Việt Nam khẳng định thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình.
Bình thường ra, những sự kiện này thường được thông tin trước. Tuy nhiên, lần này, Bộ Ngoại giao của cả hai nước đều chưa thấy có thông báo gì. Nguồn tin tại Việt Nam giải thích với South China Morning Post là thời điểm chuyến đi của ông Dương Khiết Trì không phù hợp với tình hình hiện nay; chính phủ Việt Nam và Trung Quốc buộc phải tổ chức đối thoại thường niên theo lịch trình đã định và tránh không gây ra những phản ứng từ phía công luận ở mỗi nước.
Theo tiến sĩ Trần Trường Thủy, thuộc Viện Biển Đông, Học viện Quan hệ quốc tế, ông Dương Khiết Trì tới Hà Nội tham dự vòng gặp gỡ cuối cùng trong khuôn khổ Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương và sẽ có cuộc hội đàm với Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh.
Theo ông Thủy, “đây là cuộc gặp thông thường bàn về hợp tác, nhưng lần này, chủ đề chính sẽ tập trung vào những vấn đề ở Biển Đông”.
Ông Dương Khiết Trì và ông Phạm Bình Minh đã có cuộc điện đàm gay gắt vào ngày 06/05, khi mới xẩy ra cuộc khủng hoảng. Ngoại trưởng Minh đã tố cáo Trung Quốc đưa giàn khoan cũng như điều động các tàu, xâm nhập bất hợp pháp vào vùng biển của Việt Nam, trong khi đó, ông Dương nói rằng các “quấy nhiễu của Việt Nam đối với các hoạt động bình thường của các công ty Trung Quốc đã “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Trung Quốc”.
Theo các nguồn tin báo chí, Bắc Kinh đã bác bỏ hoặc không đáp lại những đề nghị của Hà Nội muốn có các cuộc đối thoại ở cấp cao hơn hai ông Dương Khiết Trì và Phạm Bình Minh.
Không rõ lần này, ông Dương Khiết Trì có các cuộc gặp với các quan chức cao cấp hơn Ngoại trưởng Phạm Bình Minh hay không.
Ủy ban chỉ đạo hợp tác Việt-Trung được thành lập năm 2006, họp hàng năm để thảo luận về những hồ sơ và các dự án hợp tác chính trong quan hệ giữa hai nước. Năm ngoái, cuộc họp được tổ chức tại Bắc Kinh và ông Dương Khiết Trì là trưởng phái đoàn Trung Quốc, còn đại diện phái đoàn Việt Nam là ông Nguyễn Thiện Nhân.
Tuy nhiên, các căng thẳng trước đây tại Biển Đông đã từng làm gián đoạn đối thoại. Ông Trương Minh Lượng (Zhang Mingliang), chuyên gia về Đông Nam Á, thuộc đại học Kị Nam, Quảng Châu, Quảng Đông (Jinan University – Guangzhou), cho biết, cuộc gặp năm 2007 bị đình hoãn do căng thẳng song phương, sau khi các tàu tuần dương của Trung Quốc bắn cháy một tàu cá Việt Nam và làm một ngư dân thiệt mạng.
Ông Trương cho rằng, hiện nay không phải là thời điểm thuận lợi cho một cuộc gặp cấp cao, nhưng cả hai bên không muốn hủy bỏ chuyến đi này, bởi vì họ có những vấn đề phải giải quyết.
Báo South China Morning Post đã hỏi, nhưng cả Bộ Ngoại giao Trung Quốc và Việt Nam đều không khẳng định chuyến đi của ông Dương Khiết Trì.
Theo tờ báo, nguồn tin từ Việt Nam cho biết Hà Nội có thể sẽ đưa tin về cuộc họp, khi ông Dương Khiết Trì có mặt tại Việt Nam. Dường như Việt Nam phải làm như vậy để tránh gây xôn xao trong công luận, vốn đã bức xúc về bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, tướng Phùng Quang Thanh, tại Đối thoại Shangri-la, khi ông nói rằng “mọi việc đều tốt đẹp” trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Trà Mi (VOA) – Một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng, xuất thân từ một gia đình ‘công thần’ với đảng cộng sản Việt Nam, cho rằng bao giờ Trung Quốc chiếm nốt Trường Sa, chính thể Việt Nam thay đổi, mới có thể có liên minh quân sự giữa Việt Nam với Hoa Kỳ.
Nhận định của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ được đưa ra giữa bối cảnh tranh chấp Biển Đông tiếp tục leo thang với giàn khoan 981 Trung Quốc đưa vào khu vực Việt Nam có tuyên bố chủ quyền, làm khơi dậy những tranh luận về khả năng Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ để đối phó với sự xâm lược từ Bắc Kinh.
Việt-Mỹ có thể đồng hành quân sự với nhau hay không và lợi-hại của việc này ra sao? Đó cũng là nội dung cuộc trao đổi giữa Trà Mi VOA Việt ngữ hôm nay với Tiến sĩ luật Hà Vũ, người cách đây 4 năm từng tuyên bố rằng ‘Đồng hành quân sự với Mỹ là mệnh lệnh thời đại để bảo vệ chủ quyền trước sự lấn lướt của Trung Quốc’ vì ‘chỉ có Mỹ với tư cách cường quốc duy nhất trên thế giới sẵn sàng đối mặt với Trung Quốc về quân sự’ mới có thể giúp Việt Nam ‘giải bài toán an ninh lãnh thổ.’
Con trai cố thi sĩ Cù Huy Cận cũng là người đã nhiều lần kiến nghị giới lãnh đạo Việt Nam tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ để bảo vệ chủ quyền quốc gia trước hiểm họa bành trướng của Trung Quốc.
VOA: Theo ông, với tình hình hiện nay, về phía Mỹ, chuyện ‘đồng hành quân sự’ với Việt Nam có khả thi?
TS Hà Vũ: Hoàn toàn khả thi. Mỹ với tư cách siêu cường thế giới có lợi ích toàn cầu thì mọi xung đột quân sự trên thế giới đều ảnh hưởng tới quyền lợi của Mỹ, ảnh hưởng tới bối cảnh hợp tác của Mỹ với các nước. Cho nên, bắt buộc Mỹ phải quan tâm đặc biệt là hiện nay Trung Quốc đã thể hiện quá rõ ràng hành động xâm chiếm lãnh thổ của các nước ở Đông Á.
VOA: Khả thi, nhưng thiện chí của Mỹ trong chuyện ‘đồng hành quân sự’ với Việt Nam ra sao? Với cách phản ứng của Mỹ trước các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông hiện nay dừng lại ở mức ‘lên tiếng phản đối’ và ‘bày tỏ quan ngại’, người ta nghi ngờ khả năng Mỹ tiến gần hơn với Việt Nam để ‘tái cân bằng lực lượng’ ở Châu Á là chưa mấy tích cực. Ý kiến ông thế nào?
TS Hà Vũ:Mọi người không hiểu đúng chính sách của Mỹ. Mỹ đặc biệt quan tâm đến ổn định ở Đông Á và tình hình Biển Đông nói riêng. Các hành vi gây xung đột của Trung Quốc, đương nhiên Mỹ phải đặc biệt quan tâm vì nó làm gián đoạn đường lưu chuyển của quốc tế. Thế nhưng, việc sẵn sàng can dự từ phía Mỹ để giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền phải có điều kiện, phải có hiệp ước liên minh quân sự.
VOA: Liệu Mỹ có sẵn sàng đánh đổi những quyền lợi về thương mại-quân sự với bạn hàng rất lớn là Trung Quốc để đi bảo vệ những nước nhỏ hơn trong khu vực?
TS Hà Vũ:Không phải lúc nào quan hệ với nước lớn cũng đè bẹp quan hệ với nước nhỏ. Ở đây còn có vấn đề chính nghĩa. Nếu chỉ thấy Trung Quốc là nước rất lớn mua hàng hóa của mình mà mặc kệ Trung Quốc muốn làm gì làm, thì đến lúc nào đó, chính sách chỉ trọng đồng tiền sẽ dẫn đến việc Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự dẹp tan quyền lợi của Mỹ. Việc Mỹ ủng hộ Việt Nam về mặt quân sự chống lại xâm lược Trung Quốc cũng chính là bảo vệ quyền lợi của Mỹ, không chỉ bảo vệ đường giao thông hàng hải ở Đông Á mà còn để khẳng định với Trung Quốc rằng phải chấm dứt ngay những hành động phiêu lưu quân sự. Tóm lại, Mỹ nhất thiết phải ủng hộ Việt Nam. Nhưng Mỹ chỉ có thể ký hiệp định liên minh quân sự với một nước có chế độ chính trị, nếu không hoàn toàn thân thiện, thì cũng không thù địch. Mỹ luôn có chính sách chống lại chủ nghĩa cộng sản vì đó là chủ nghĩa vô nhân, xâm hại những quyền căn bản của con người. Bây giờ Việt Nam vẫn duy trì chế độ chống lại con người ấy mà Mỹ lại ủng hộ chế độ đó thì không khác gì phản lại lý tưởng vì con người của mình, phản lại các giá trị nhân bản của Mỹ và của thế giới.
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đến đài VOA để dự cuộc phỏng vấn (Ảnh: Khải Nguyễn)
“Trong ban lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay không có phe thân Tây hay phe thân Tàu, mà chỉ có một phe quyết giữ cho được độc tài của đảng cộng sản để cướp bóc hơn nữa tài sản của nhân dân và quốc gia.”
Cù Huy Hà Vũ
VOA: Quan hệ Việt-Mỹ lâu nay vẫn có những rào cản. Với cuộc đối thoại nhân quyền vừa diễn ra tháng rồi và tình hình Biển Đông hiện nay, ông dự kiến sẽ trông thấy những điều gì sắp tới?
TS Hà Vũ: Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, Việt Nam tất yếu phải liên minh quân sự với Mỹ. Muốn vậy, Việt Nam phải từ bỏ chế độ độc tài, phải trao lại quyền làm chủ đất nước cho người dân thông qua bầu cử công khai, tự do, có sự giám sát của Liên hiệp quốc. Mỹ trong cuộc đối thoại nhân quyền tháng 5 qua đã đòi hỏi Việt Nam cải thiện nhân quyền, trả tự do cho các nhà bất đồng chính kiến và hủy các căn cứ pháp lý dựa vào đó bỏ tù họ. Việt Nam cũng đã có những cam kết sẽ cải thiện. Đây không phải là vấn đề nhân nhượng mà là cái thế bắt buộc Việt Nam phải cải thiện nhân quyền. Vì nếu không, những thứ khác sẽ ách tắc, từ việc gia nhập Hiệp định tự do thương mại TPP cho đến sự hỗ trợ từ Mỹ chống xâm lược từ Trung Quốc. Tuy nhiên, tôi cảnh báo rằng cộng sản Việt Nam nói không đi đôi mà thậm chí còn ngược lại với hành động. Họ cam kết điều này điều kia với Mỹ và Liên hiệp quốc với tính chất thủ đoạn, chiến thuật câu giờ để chế độ cộng sản tồn tại được lúc nào hay lúc nấy. Cho nên, tôi thật sự hoàn toàn không tin tưởng vì hiện nay đảng cộng sản Việt Nam vẫn đặt lợi ích của họ lên trên lợi ích dân tộc.
VOA: Nhiều người nói trong nội bộ đảng vẫn chưa thống nhất được chính sách thân Tây hay thân Tàu vì giữa lúc Bộ Ngoại giao kêu gọi Mỹ ‘có hành động mạnh mẽ hơn’ để bảo vệ hòa bình Biển Đông thì Bộ Quốc phòng, tại Đối thoại Shangri-la, nói quan hệ Việt-Trung nhìn chung tốt đẹp và rằng ngay trong gia đình còn có xích mích huống chi là các nước láng giềng, va chạm là điều khó tránh khỏi.
TS Hà Vũ:Trong ban lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay không có phe thân Tây hay phe thân Tàu, mà chỉ có một phe quyết giữ cho được độc tài của đảng cộng sản để cướp bóc hơn nữa tài sản của nhân dân và quốc gia. Tuy nhiên, trong cách hành xử họ có sự phân công. Bên đảng tập trung vào chuyện hòa hiếu với Trung Quốc. Bên nhà nước thì tìm cách kéo sự can thiệp của phương Tây giúp giải tỏa phần nào tâm lý người dân trước hành vi xâm lược của Trung Quốc vì hiện giờ người dân vô cùng phẫn nộ trước các chính sách của nhà nước đối với Trung Quốc.
VOA: Theo ông, không có phe thân Tây hay thân Tàu trong nội bộ đảng, chỉ có một phe thân lợi ích của chính họ mà thôi. Vậy những điều kiện như thế nào cần và đủ để giới lãnh đạo Việt Nam bắt buộc phải thay đổi vì quyền lợi đất nước?
TS Hà Vũ: Điều kiện để họ thay đổi là Trung Quốc tiến tới xâm lược nốt quần đảo còn lại là Trường Sa. Trong trường hợp đó, nhân dân và quân đội Việt Nam sẽ phải có hành động chính thức buộc đảng cộng sản từ bỏ quyền lực của mình, lập chính phủ mới hoàn toàn của dân. Chính phủ đó lúc ấy mới có thể đặt vấn đề liên minh quân sự với Mỹ và chỉ trong trường hợp đó Mỹ mới có thể giúp Việt Nam về mặt quân sự để bảo toàn lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông.
VOA: Có người cho rằng nếu Việt Nam nghiêng về Trung Quốc thì mất Biển Đông, mất chủ quyền; nhưng nghiêng về Mỹ thì tự biến mình thành tuyến đầu chống Trung Quốc, đẩy dân tộc vào nguy cơ xung đột chiến tranh và nhiều rủi ro với Trung Quốc. Ý kiến ông ra sao?
TS Hà Vũ:Ý kiến đó hoàn toàn sai lầm. Trong quan hệ quốc tế ngày nay là bảo vệ quyền lợi của nhau chứ không phải liên kết với nhau để chống lại hay xâm hại quyền lợi của nước khác.
VOA: Từ kinh nghiệm của Việt Nam với Mỹ trong quá khứ, cũng có người lo ngại rằng kết thân với Mỹ, trong trường hợp nào đó, khi quyền lợi của Mỹ ngả nghiêng về một hướng khác thì Việt Nam cũng có thể bị bỏ rơi một lần nữa.
TS Hà Vũ:Tôi không nghĩ như vậy. Khi Việt Nam và Mỹ thật sự cần đến nhau thì không có khái niệm Mỹ bỏ rơi Việt Nam hay ngược lại. Nếu chế độ độc tài của đảng cộng sản Việt Nam được giải thể thì Mỹ chắc chắn sẽ coi Việt Nam không những là nước bạn, mà còn là nước có thể hợp tác trong mọi lĩnh vực để cùng nhau phát triển.
VOA: Xin chân thành cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.
Các bằng chứng mà Bắc Kinh mới đưa ra bao gồm công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng công nhận Tuyên bố về Lãnh hải của Trung Quốc vào năm 1958 trong đó khẳng định ‘Tây Sa’ và ‘Nam Sa’ là ‘lãnh thổ của Trung Quốc’.
Ngoài ra còn có bản chụp Tập bản đồ Thế giới do Cục Đo đạc Bản đồ, cơ quan in bản đồ chính thức của Chính phủ Việt Nam trực thuộc Phủ thủ tướng, xuất bản năm 1972, trong đó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường theo cách gọi của Trung Quốc là ‘Tây Sa’ và ‘Nam Sa’.
Một bằng chứng khác là một đoạn được cho là trích trong sách Địa lý lớp 9 do Nhà Xuất bản Giáo dục của miền Bắc phát hành năm 1974 có ghi: “Vòng cung từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến các đảo Hải Nam… làm thành một bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc’.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn dẫn phát ngôn của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Đại biện lâm thời Trung Quốc Lý Chí Dân vào năm 1956 rằng ‘căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc’.
Trung Quốc còn lập luận rằng từ trước năm 1974, các đời Chính phủ Việt Nam (Bắc Việt) ‘không hề có bất cứ dị nghị gì đối với chủ quyền quần đảo Tây Sa của Trung Quốc’ và rằng họ là bên ‘phát hiện, khai thác, kinh doanh và quản lý sớm nhất’ đối với quần đảo này từ thời Bắc Tống (960 – 1126)
“Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã nuốt lời cam kết của mình, đưa ra yêu sách lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc luật pháp quốc tế về ‘cấm nuốt lời cam kết’ và nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế,” Bộ Ngoại giao Trung Quốc viết.
‘Suy diễn’
Tuy nhiên, trao đổi với BBC hôm thứ Năm 12/6/2014, Tiến sỹ Nguyễn Nhã, một nhà nghiên cứu của Việt Nam, nói rằng những ‘chứng cứ’ này của Trung Quốc ‘không có giá trị pháp lý quốc tế’ mà chỉ có tác dụng về ‘tâm lý’ và ‘chính trị’.
“Học giả Trung Quốc khi thì nói thời Minh, khi thì nói thời Tống, có khi nói đời Đường, có khi nói đời Hán,” ông nói, phản bác lập luận của Trung Quốc nói rằng họ quản lý Hoàng Sa tờ thời Bắc Tống.
Trung Quốc hiện đang kiểm soát và phát triển quần đảo Hoàng Sa
“Tất cả chứng cứ họ đưa ra hoàn toàn mang tính suy diễn thôi,” ông nói thêm.
Khi Đề đốc Lý Chuẩn của tỉnh Quảng Đông đời nhà Thanh ra đảo cắm cờ tuyên bố chủ quyền hồi năm 1909 thì họ cho rằng quần đảo này là ‘đất vô chủ’, theo Tiến sỹ Nguyễn Nhã.
“Tuy nhiên, nó đâu có vô chủ,” ông phản bác.
“Họ viện cớ là tại sao năm 1909 họ hành động như thế thì không ai phản đối,” ông nói.
“Đến năm 1921 khi chính quyền phía nam của Trung Quốc quyết định sáp nhập Hoàng Sa vào Hải Nam thì chính quyền Pháp lúc đó mới quan tâm và dư luận báo chí Đông Dương và Pháp quốc mới lên tiếng phản đối.”
“Không phải phản ứng trễ là mất chủ quyền,” ông nói, “Sau khi chính quyền Quảng Đông khảo sát và cắm cờ chủ quyền thì Cách mạng Tân Hợi nổ ra năm 1911 họ cũng đâu có quan tâm?”
Em trai luật sư Lê Quốc Quân nêu lý do vì sao nhà bất đồng chính kiến này bị ‘bất ngờ’ chuyển khỏi trại giam Hỏa Lò, Hà Nội tới trại An Điềm, ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, thuộc miền nam Trung Bộ Việt Nam.
Trao đổi với BBC hôm 15/6/2014, ông Lê Quốc Quyết, em trai luật sư Quân cho hay một ngày trước vụ chuyển trại, cả ông Quân lẫn những người thân tới thăm nuôi ông vào hôm thứ Năm 12/6 đều không biết gì về quyết định chuyển trại của nhà chức trách.
Ông Quyết nói anh trai của ông có thể đã bị chuyển đi do gần đây có những phát ngôn kêu gọi phản đối vụ tranh chấp biển đảo đang xảy ra giữa Trung Quốc với Việt Nam.
‘Báo tin qua người đi đường’
LS Quốc Quân bị tòa phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm với 30 tháng tù giam vì tội ‘trốn thuế.’
Em trai ông Quân cho hay có thể ông Quân đã ‘bất ngờ’ với động thái này và buộc phải dùng hình thức tiết lộ với người đi đường về việc ông bị chuyển trại nhằm truyền đạt thông tin ra ngoài và về gia đình.
Gia đình ông Quân cho hay sẽ tới trại giam An Điềm ở tỉnh Quảng Ngãi trong đầu tuần tới để xác minh sự việc và có thể sẽ khiếu nại, hoặc thông qua luật sư của ông Quân để khiếu nại nếu việc chuyển trại không thông báo trước với gia đình tù nhân được phát hiện là ‘sai quy định pháp luật’.
Em trai ông Quân cho hay nhà bất đồng chính kiến không được đối xử như các tù nhân khác đã được tuyên án, mặc dù ông Quân đã được tuyên án ở phiên tòa phúc thẩm, đồng thời ông cũng liên tục làm đơn kêu oan về việc mình ‘vô tội’.
Hôm 18/2, phiên tòa phúc thẩm của Tòa án Nhân dân tối cao thành phố Hà Nội xét xử luật sư Quân về tội trốn thuế đã tuyên y án bản án phúc thẩm với hình phạt 30 tháng tù giam đối ông Quân.
Cuộc tọa đàm liên quan tình hình Biển Đông do Trung Tâm Minh Triết Việt Nam tổ chức vào chiều thứ bảy 14 tháng 6 năm 2014. Courtesy TT Minh Triết Việt
Trung Tâm Minh Triết Việt Nam vào chiều thứ bảy 14 tháng 6 tiến hành tổ chức cuộc tọa đàm liên quan tình hình Biển Đông. Những điểm đáng chú ý của cuộc tọa đàm này là gì?
Nhấn mạnh đến vấn đề Gạc Ma
Dư luận trong nước suốt hơn một tháng qua chú trọng phần lớn đến việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan khủng Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trong khi đó thông tin được nói là đáng tin cậy từ phía Philippines cho biết Trung Quốc cũng đang triển khai cải tạo đất và tiến hành công tác xây dựng tại các bãi đá Gạc Ma, Châu Viên, Tư Nghĩa, Ga Ven, Én Đất thuộc quần đảo Trường Sa.
Điểm nhấn của cuộc tọa đàm lần này là trình bày vấn đề bãi đá Gạc Ma nơi mà Trung Quốc tấn công giết chết 64 binh sĩ của Việt Nam vào năm 1988. Giám đốc Trung Tâm Minh Triết Việt, ông Nguyễn Khắc Mai, nói về điều này:
“Thật ra cái đinh của vấn đề là Gạc Ma, vị trí Gạc Ma hiện nay. Thứ hai hành động sai trái của Trung Quốc là đánh chiếm Gạc Ma năm 88 như thế nào, và nói rõ họ vi phạm luật pháp quốc tế như thế nào. Thứ ba những hoạt động của Trung Quốc hiện nay ở Gạc Ma, thứ tư là tình hình nguy hiểm khi Trung Quốc làm một chốt quân sự tại đó. Một sân bay, căn cứ quân sự ở đó sẽ nguy hiểm cho Việt Nam, đối với an ninh hàng hải… Chủ quyền của Việt Nam và khu vực thế nào. Thành thử ở đây vấn đề Gạc Ma là một vấn đề rất lớn.
Đúng là có lệnh ở trên là không được chủ động nổ súng trước, thế nhưng không có nghĩa là khi mà đồng đội của mình bị Trung Quốc giết, đâm mà không có hành động đáp trả.
-Thiếu tướng Lê Mã Lương
Cái yếu của Trung Quốc năm 88 là sau khi họ đã ký kết Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 82, trong đó có điều 2 khoản 4 cấm dùng vũ lực quân sự để giải quyết những tranh chấp. Họ đã vi phạm điều này. Mình nói rõ họ là một thành viên Liên Hiệp Quốc, là một nước lớn, lại là thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mà lại trắng trợn chà đạp lên công ước mà họ ký. Đó là điều cần phải nói rõ.”
Thiếu tướng Lê Mã Lương, anh hùng lực lượng vũ trang, nguyên giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tại cuộc tọa đàm cũng nói lại cho rõ thông tin cho rằng các chiến sĩ Việt Nam tại Gạc Ma vào thời điểm năm 1988 khi bị tấn công đã không dũng cảm chiến đấu chống lại Trung Quốc. Ông trình bày:
Tàu HQ-604 của Việt Nam bị TQ bắn đang chìm tại phía Tây Nam bãi Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988. RFA screen capture
“Tôi muốn làm rõ hơn trận chiến Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988 vì có những thông tin bị nhiễu. Đúng là có lệnh ở trên là không được chủ động nổ súng trước, thế nhưng không có nghĩa là khi mà đồng đội của mình bị Trung Quốc giết, đâm mà không có hành động đáp trả dù loại vũ khí trong tay ‘nhẹ’ hơn, không hiện đại bằng Trung Quốc và đó là cuộc chiến không cân sức.”
Theo thiếu tướng Lê Mã Lương thì lúc đó Việt Nam không bất ngờ về cuộc tấn công của phía Trung Quốc. Ông nêu ra lý do:
“Đô đốc Hải quân Giáp Văn Cương suốt từ cuối năm 87 đến đầu năm 88 đã ra Trường Sa rất nhiều lần và có những chỉ đạo rất kịp thời như cắm cờ trên các bãi đá của Việt Nam và đưa các lực lượng công binh hải quân ra xây dựng một số đảo mà trong đó có ba đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Bộ đội Việt Nam đã có kế hoạch đề xuất rất sớm. Thế nhưng do chênh lệch lực lượng nên bộ đội Việt Nam chịu một tổn thất rất lớn, đây cũng là một bài học. Và nhìn từ góc độ nào đó thì đây cũng là một nỗi đau cho hải quân nói riêng và quân đội Việt Nam nói chung.”
Nêu rõ bản chất của Trung Quốc
Cuộc tọa đàm trình bày lại cuộc chiến ngắn ngủi Gạc Ma với sự tổn thất 64 nhân mạng bộ đội công binh hải quân và ba tàu chiến hồi năm 1988 và thực tế hiện nay Trung Quốc đang cải tạo đất xây dựng nơi chiếm đóng hồi năm 1988 thành một căn cứ quân sự. Đây là điều cần được lên tiếng đánh động cho mọi người thấy như lời của ông Nguyễn Khắc Mai:
“Nếu liên kết sự kiện giàn khoan và Gạc Ma lại thì thấy âm mưu và hành động rất thâm hiểu của Trung Quốc rất nguy hiểm với an ninh khu vực và của Việt Nam; cho nên phải đánh động dư luận này.”
Thiếu tướng Lê Mã Lương sau khi trình bày lại cho rõ cuộc chiến Gạc Ma đã đưa ra 5 kết luận. Theo ông này chủ trương độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là nhất quán từ trước đến nay. Khi chưa đủ mạnh thì Bắc Kinh chưa ra tay, còn nay khi họ thấy lực có thể tiến hành đến đâu thì họ xuất chiêu đến đó. Ông nhấn mạnh:
Nếu liên kết sự kiện giàn khoan và Gạc Ma lại thì thấy âm mưu và hành động rất thâm hiểu của Trung Quốc rất nguy hiểm với an ninh khu vực và của Việt Nam.
-Ô. Nguyễn Khắc Mai
“Những người Việt Nam yêu nước hiểu rõ vấn đề với Trung Quốc phải thể hiện quan điểm không còn là bạn bè, không còn là đồng chí cho nên ’16 chữ vàng, 4 tốt’ đối với những người Việt Nam yêu nước không còn có ý nghĩa gì hết. Với Trung Quốc chỉ là một nước láng giềng, chỉ là một đối tác. Và làm rõ chuyện đó thì tình hình Việt Nam sẽ khác đi vì bây giờ là cơ hội để Việt Nam có thể nhận ra giá trị lịch sử, nhìn lại những quan hệ, kể cả những bang giao với Trung Quốc. Đây là cơ hội rất tốt.”
Hành động
Ông Nguyễn Trung, cựu đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, cựu thành viên Ban Nghiên cứu của nguyên thủ tướng Phan Văn Khải, cũng là một diễn giả của cuộc tọa đàm cho biết thêm về mục đích của hoạt động mà ông tham gia như sau:
“Chủ yếu để ủng hộ cuộc đấu tranh của chính phủ Việt Nam hiện nay yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan của họ về nước. Chủ yếu là điều đó và chúng tôi cũng chuẩn bị một tuyên bố nhằm thứ nhất lên án hành động của Trung Quốc và những sai trái của họ. Thứ hai biểu thị sự ủng hộ của cả nước đối với cuộc đấu tranh của chính phủ hiện thời trong việc bảo vệ chủ quyền, kể cả phải dùng biện pháp pháp lý quốc tế. Nhưng điểm cuối cùng là kêu gọi dư luận thế giới ủng hộ của đấu tranh của Việt Nam.”
Theo ông Nguyễn Khắc Mai cuộc tọa đàm cũng nhằm mục tiêu thông tin đầy đủ tất cả mọi khía cạnh liên quan.
Đối với nhiều người dân Việt Nam, các vấn đề lịch sử như cuộc chiến Gạc Ma đến nay họ mới được biết rõ vì cơ quan chức năng không thông tin đầy đủ cho dân chúng biết. Nay những tổ chức như Trung Tâm Minh Triết đang nỗ lực góp phần bạch hóa những phần tối của lịch sử bị cố tình làm khuất đi.
Tòa sơ thẩm đã tuyên án ông Phạm Viết Đào 15 tháng tù hồi tháng Ba
Tòa phúc thẩm đã xử kín và y án sơ thẩm đối với nhà văn, blogger Phạm Viết Đào, một người thân của gia đình ông thông báo với BBC.
“Hôm 12/6, vợ ông Đào đã gặp chồng và được cho biết hôm thứ Hai, 9/6, tòa phúc thẩm đã xử kín, không có mặt ai cả, chỉ có viện kiểm sát, tòa án và ông Đào”, người này nói với điều kiện ẩn danh.
“Viện kiểm sát đã đề nghị giảm xuống Khoản 1 Điều 258, nhưng tòa án không chấp nhận, quyết định giữ nguyên Khoản 2 và y án.”
“Sau đó ông Đào có đề nghị nhờ luật sự giúp đỡ, nhưng luật sư cũng cho biết với tình trạng hiện nay của Việt Nam, điều đó là khó khả thi”.
“Theo bản án thì đến tháng Chín này ông Đào sẽ mãn hạn tù,” người này nói thêm.
Trước đó, hôm 19/3, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã tuyên án ông Phạm Viết Đào 15 tháng tù vì tội ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ’ theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự.
‘Nói xấu Đảng, Nhà nước’
Điều 258
Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân:
Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Ông Đào, người có nhiều bài viết trên blog chỉ trích chính quyền Việt Nam, bị bắt hồi 13/6 năm ngoái tại Hà Nội.
Trong tin đăng ngày 19/3, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) dẫn cáo trạng được đọc tại tòa sơ thẩm cho biết từ tháng 2/2012 đến tháng 6/2013, ông Đào đã lập ra ba blog và đăng tải 91 bài “có nội dung nói xấu, xuyên tạc, bôi nhọ, công kích Đảng, Nhà nước, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.”
“Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Viết Đào thừa nhận việc đăng tải các bài viết nói trên”, “thừa nhận toàn bộ nội dung luận tội của Viện kiểm sát là đúng” và “xin được xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.”
Trong khi đó, hãng thông tấn AFP cho biết ông Đào đã xin lỗi vì “đăng tải một số thông tin không đúng sự thật”, nhưng cũng nói thêm rằng ông không nghĩ những bài viết của ông “ảnh hưởng xấu đến xã hội”.
Ông Phạm Viết Đào từng công tác tại Vụ Điện ảnh của Bộ Văn hóa và sau đó là Thanh tra của bộ này cho tới năm 2007.
Sau đó ông làm Trưởng phòng Thanh tra hành chính và phòng chống tham nhũng của Bộ Văn hóa–Thể thao và Du lịch.
Ông là Hội viên Hội nhà văn và cũng từng dịch nhiều tác phẩm sang tiếng Romania, nước ông đã du học và tốt nghiệp đại học ngành văn chương.
Hôm 4/3, ông Trương Duy Nhất, một blogger có tiếng khác trong nước, bị bắt trước ông Đào vài tuần, đã bị Tòa án Nhân dân TP. Đà Nẵng tuyên án hai năm tù vì tội danh tương tự.
Luật sư Trần Vũ Hải, người bào chữa cho ông Trương Duy Nhất, thông báo với BBC trong một cuộc phỏng vấn gần đây rằng phiên tòa sơ thẩm xét xử ông Nhất sẽ diễn ra trong vài tuần tới.
Ông Nguyễn Khắc Lợi, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội được báo điện tử Dân trí ngày 12/6 dẫn lời cho biết trong 5 tháng đầu năm, Hà Nội vẫn đón trên 220.000 khách quốc tế.
Tuy nhiên, “các công ty lữ hành Trung Quốc đã chấm dứt hoạt động trên địa bàn thành phố, trong khi khách nước ngoài chủ yếu là người Trung Quốc”, ông Lợi cho biết.
Thông tin trên được đưa ra giữa lúc tranh chấp chủ quyền trên biển đang khiến giới quan sát lo ngại sẽ tác động đến kinh tế Việt Nam.
Trước đó, trong tháng Năm, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Nguyễn Văn Tuấn được báo trong nước dẫn lời nói không chỉ khách du lịch Trung Quốc mà cả khách du lịch từ những nơi nói tiếng Hoa như Singapore, Đài Loan, Ma Cao, Hong Kong, cũng đang sụt giảm.
Ông Tuấn cũng cảnh báo điều này có thể sẽ dẫn đến tổng thu giảm hơn 500 triệu đôla trong năm nay.
Tổng doanh thu ngành du lịch trong năm 2013 là 7,5 tỷ đôla, theo số liệu được Tổng cục Du lịch công bố hồi tháng 12.
Một báo cáo hồi tháng Tư của Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch Trung Quốc (CTA) cho biết Việt Nam đứng cuối bảng trong số hơn hai mươi quốc gia người Trung Quốc thường tới du lịch.
Lý do thường khiến du khách Trung Quốc không hài lòng là độ an toàn, dịch vụ bằng tiếng Trung Quốc kém và chi phí du lịch, theo CTA.
Trong số 22 nước mà viện nghiên cứu đặt tại Bắc Kinh khảo sát (gồm cả Trung Quốc), Việt Nam đứng thứ 21, lần lượt sau Indonesia và Campuchia.
Hồi tháng Năm, các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Tĩnh và Bình Dương đã leo thang thành bạo động khiến nhiều nhà máy, doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan bị ảnh hưởng.
Bắc Kinh đã cho sơ tán hàng nghìn công dân ra khỏi Việt Nam và yêu cầu Hà Nội bồi thường thiệt hại.
‘Ảnh hưởng tạm thời’
“Nhìn từ góc độ tăng trưởng, tác động ngắn hạn của những sự kiện gần đây sẽ tương đối ít. Ngành sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất là dịch vụ du lịch nhưng chỉ là tạm thời“
Ngân hàng HSBC
Trong một diễn biến khác, các tập đoàn nhà nước của Trung Quốc cũng đã nhận được chỉ thị tạm thời không tham gia đấu thầu tại Việt Nam, theo báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP) trong số ra ngày 9/6.
SCMP cho biết ba công ty Trung Quốc đang thực hiện các gói thầu ở Việt Nam cũng nhận được chỉ thị như vậy.
Trong một báo cáo gần đây, Ngân hàng HSBC cho rằng tác động ngắn hạn từ căng thẳng trên Biển Đông đối với kinh tế Việt Nam tương đối ít.
Tuy nhiên, HSBC cũng cho biết chưa thể đánh giá đầy đủ về tác động dài hạn.
Báo cáo chủ đề “Cái nhìn cận cảnh về FDI và giao thương” cho rằng FDI đăng ký từ Trung Quốc tại Việt Nam, dù có tăng lên trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn tương đối nhỏ.
Thế nhưng, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam và vì vậy, mối quan hệ kinh tế giữa hai nước đơn thuần là quan hệ chuỗi cung ứng cấp 1 hơn là quan hệ đầu tư, HSBC nhận định.
“Vì thế, nhìn từ góc độ tăng trưởng, tác động ngắn hạn của những sự kiện gần đây sẽ tương đối ít. Ngành sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất là dịch vụ du lịch nhưng chỉ là tạm thời”, báo cáo viết.
Tuy nhiên, HSBC cũng khuyến cáo Việt Nam nên cố gắng ‘nội địa hóa’ nguyên liệu đầu vào để tăng cường quản lý chuỗi cung ứng của mình và giảm bớt sự phụ thuộc vào nguyên liệu từ Trung Quốc.
Người Hồi giáo Shia tình nguyện cầm súng để hỗ trợ quân đội chính phủ
Tổng thống Barack Obama nói ông cần vài ngày để quyết định hành động của Hoa Kỳ trước khủng hoảng hiện nay tại Iraq, nhưng cũng khẳng định lính Mỹ sẽ không tham chiến.
Bất kỳ sự can thiệp nào của Hoa Kỳ cũng “cần đi đôi với nỗ lực nghiêm túc và thành khẩn từ giới lãnh đạo Iraq nhằm gạt qua một bên những mâu thuẫn phe phái,” ông nói.
Trong những ngày qua, phiến quân Hồi giáo dòng Sunni đã chiếm hai thành phố Mosul, Tikrit, và đang tiến gần đến Baghdad.
Giáo sỹ dòng Shia cao cấp nhất tại Iraq đã ra lời kêu gọi người Hồi giáo Shia cầm súng.
Thông điệp của Đại Giáo sỹ Ayatollah Ali al-Sistani được đọc tại lễ cầu nguyện ở thành phố Karbala hôm 12/6 viết: “Những công dân có thể cầm súng và chiến đấu chống lại khủng bố, bảo vệ đất nước, nhân dân và thánh đường linh thiêng của mình, nên tình nguyện tham gia với lực lượng an ninh để đạt mục đích cao cả này.”
Một số nguồn tin nói hàng nghìn người đã gia nhập lực lượng dân quân Shia, điều được cho là sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ Baghdad, phóng viên BBC tại đây, Richard Galpin, cho biết.
Phiến quân Hồi giáo dòng Sunni từ lực lượng ISIS (Nhà nước Hồi giáo tại Iraq và Levant), xem người Shia là “những kẻ ngoại đạo”.
Dòng người tỵ nạn đang đổ về vùng tự trị Kurdistan
“Phá vỡ thế tiến công”
Ông Obama nói với các phóng viên rằng ISIS không chỉ là mối nguy đối với đất nước và nhân dân Iraq, mà còn “đe dọa cả những lợi ích của Hoa Kỳ”.
Ông nói Iraq cần sự hỗ trợ để “phá vỡ thế tiến công của lực lượng Hồi giáo cực đoan, đồng thời củng cố khả năng chiến đấu của lực lượng an ninh”.
Tổng thống Iran Hassan Rouhani đã có cuộc điện đàm với ông Maliki hôm 12/6 và hứa Iran – quốc gia nơi người Hồi giáo Shia chiếm đa số – sẽ không “cho phép những kẻ ủng hộ khủng bố quấy phá nền an ninh và sự ổn định của Iraq”.
Một số nguồn tin ẩn danh do tờ Wall Street Journal và đài CNN dẫn lại cho biết Iran đã điều vài đơn vị tinh nhuệ thuộc lực lượng Vệ binh Cách mạng đến chi viện cho Iraq.
Tuy nhiên một số nguồn tin khác nói giới chức Iran đã bác bỏ điều này.
Giá dầu thô Brent đã tăng mạnh hôm 13/6 do tâm lý bất định giữa lúc giao tranh tiếp diễn.
Phiến quân ăn mừng chiến thắng dễ dàng
Chia cắt Iraq?
Sau khi chiếm được Mosul vào tối thứ Hai và tiếp đó là quê hương của Saddam Hussein – thành phố Tikrit, phiến quân đã nam tiến xuống tỉnh Diyala.
Hôm 13/6, các tay súng ISIS đã đụng độ với dân quân Shia gần thị trấn Muqdadiya, cách Baghdad 80km.
Lực lượng chi viện thuộc quân đội Iraq và dân quân Shia đã có mặt tại thành phố Samarra, nơi phiến quân đang tìm cách tiến vào từ phía bắc.
Ông Maliki cũng được cho là đang trên đường đến thành phố này để chủ trì một cuộc họp an ninh.
Tại Geneva, Cao ủy phụ trách nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, bà Navi Pillay, đã báo động về “những vụ hành quyết tập thể”, và cho biết số người bị sát hại trong những ngày qua có thể đã lên đến hàng trăm.
Tổ chức Di cư Quốc tế ước tính 40.000 người đã tháo chạy khỏi Tikrit và Samarra, bên cạnh 500.000 người được cho là đã rời khỏi Mosul.
Nhiều người đã vượt biên sang vùng tự trị Kurdistan.
Lãnh đạo Kurditan đã tận dụng xung đột hiện nay để chiếm giữ các khu vực mà họ muốn sáp nhập vào vùng tự trị của mình từ lâu, như thị trấn Saadiyah và thành phố Jalawla.
Giới phân tích lo ngại rằng bạo lực hiện nay sẽ khiến Iraq bị chia cắt thành những vùng lãnh thổ riêng biệt của người Sunni, Shia và Kurdistan.
Stephen Harper mở cuộc tấn công toàn diện vào chủ nghĩa cộng sản tại cuộc gây quỹ ở Toronto.
Hôm thứ Sáu 30 tháng 5, năm 2014, tại Toronto, Thủ tướng Canada Stephen Harper đã nói chuyện với quan khách trong bữa tiệc gây quỹ dựng đài tưởng niệm nạn nhân chủ nghĩa cộng sản.
TORONTO – Thủ tướng Stephen Harper đã mở cuộc tấn công toàn diện tội ác của chủ nghĩa cộng sản tại một buổi quyên góp hôm thứ Sáu đẻ xây đài tưởng niệm nạn nhân cộng sản.
Trong một bài phát biểu dài trước bữa ăn tối, Thủ tướng Harper đã nhắm vào Tổng thống Nga Vladimir Putin và những tín đồ cũ của chủ nghĩa cộng sản.
“Trong thế kỷ 20, ý thức hệ độc hại và sự thực hành tàn nhẫn của chủ nghĩa cộng sản đã từ từ gây nhiễm độc khắp nơi trên thế giới, trên hầu hết các châu lục,” Harper nói.
“Kết quả là một thảm họa. Hơn 100 triệu người bị thảm sát – một con số gần như không thể hiểu nổi.”
Mục tiêu của buổi tiệc nhằm giúp gây quỹ cho tổ chức “Tribute to Liberty” để dựng một đài tưởng niệm vĩnh viễn tại Ottawa, thủ đô Canada, để tưởng nhớ “hàng trăm triệu” linh hồn nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản.
Trong năm 2010 , chính phủ của đảng Bảo thủ cho biết sẽ hỗ trợ chương trình dựng đài tưởng niệm này.
Các thế hệ công dân tương lai của Canada, Thủ tướng Harper nói, phải được nhắc nhở rằng họ có được đời sống hòa bình ngày nay là nhờ những cuộc đấu tranh và sự hy sinh của người trước.
Với ngôn nhữ giống như ở thời còn Chiến tranh Lạnh, Harper chỉ trích chủ nghĩa cộng sản là một ý thức hệ áp bức, thậm chí giết người.
“Tội ác xuất hiện dưới nhiều hình thức và chúng có thể tái sinh,” ông nói.
“Nhưng dù ở bất cứ hình dạng, nhãn hiệu nào – chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa Mác-Lênin, (tư tưởng Hồ Chí Minh? – TM) hay ngày hôm nay là chủ nghĩa khủng bố – tất cả đều có một điểm chung: sự hủy diệt, chấm dứt tự do của con người.”
“Chúng ta cảm nhận sâu sắc nỗi đau này vì gần như một phần tư người dân Canada hay cha mẹ của họ, đã một thời mắc phải xích xiềng của cộng sản và họ chắc chắn hiểu được sự hủy hoại của chủ nghĩa cộng sản.”
Thủ tướng Harper lặp lại việc ông ủng hộ Ukraine, và một lần nữa đả kích Putin, nói rằng tổng thống Nga đã “quen dần với những cuộc đối đầu” và “chủ nghĩa bành trướng và chủ nghĩa quân phiệt” của Nga đang đe dọa an ninh toàn cầu.
Canada, ông cho biết, đã là nơi ẩn náu cho những người chạy trốn sự đàn áp (của cộng sản).
“Thay vì định mệnh nghiệt ngã trong chủ nghĩa cộng sản, họ tìm thấy cơ hội Canada.”
Harper cho biết Canada và phương Tây đóng vai trò ủng hộ tự do trong Chiến tranh Lạnh, và ông đã nhắc đến cựu Thủ tướng Brian Mulroney cùng với cựu Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan.
Thủ tướng đã bày tỏ “sự hối tiếc lớn” rằng Canada đã không luôn luôn ứng xử xứng đáng với khát vọng cao cả của mình.
Một ban giám khảo sẽ lựa chọn mẫu thiết kế tượng đài hạng nhất trong vòng vài tháng tới.
Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã cho người ta thấy nó diễn ra có tính chu kỳ, giống như chuyện con kiến bò quanh miệng chén, nhưng chỉ khác cái vòng tròn bạn thù ấy là một hình xoáy trôn ốc. Điều đáng ngại là diễn biến đó hiện nay xảy ra trong sự thiếu nhất quán và mất đoàn kết của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ trong việc lãnh đạo quốc gia.
Cách đây hơn 35 năm, không khí chống Trung Quốc khi ấy có lẽ còn căng thẳng hơn những ngày này. Còn nhớ lúc ấy trên trang nhất những tờ báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân… tràn ngập các tin tức và hình ảnh tố cáo Trung Quốc, một quốc gia trước đấy không lâu đã từng được Việt Nam coi là anh em đồng chí và được ví như môi với răng, như câu “Môi hở, răng lạnh”. Khi ấy Tổng Bí thư Đảng CSVN ông Lê Duẩn nắm quyền lực một cách tuyệt đối, có vai trò quyết định trong việc lèo lái quốc gia. Với các hành động quyết đoán mang hơi hướng độc tài của ông Lê Duẩn, cộng với sự thống nhất trong ban lãnh đạo lúc ấy là nguyên nhân khiến cho Việt Nam giành thắng lợi trước Trung Quốc trong cuộc chiến Biên giới phía Bắc (1979).
Điều đó là điểm khác cơ bản nhất đối với hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, khi quyền lãnh đạo thuộc về tập thể Bộ Chính trị với vai trò hết sức mờ nhạt của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng người giữ trọng trách lớn nhất. Đây chính là điều hết sức đáng lo ngại.
Nội bộ lãnh đạo bất nhất và bạc nhược
Từ đầu tháng 5.2014, khi chính quyền Trung quốc đưa giàn khoan HD-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đấy cũng là thời điểm diễn ra Hội nghị Ban chấp hành TW9 khóa XI. Trong báo cáo khai mạc và kết thúc Hội nghị TW9 của ông TBT Nguyễn Phú Trọng hầu như vấn đề này không được đề cập.
Không có bất cứ một chữ ‘Trung Quốc’ nào, và chỉ có duy nhất một lần chữ ‘Biển Đông’ được nhắc đến trong báo cáo đó. Không những thế, phải rất lâu người ta mới thấy các lãnh đạo của đảng CSVN và chính quyền, như các ông TBT Nguyễn Phú Trọng, CTN Trương Tấn Sang và CTQH Nguyễn Sinh Hùng mới lên tiếng phản đối một cách rời rạc, yếu ớt chưa đủ tầm cần phải có. Có ý kiến cho rằng các phát biểu của các lãnh đạo quốc gia phải hết sức thận trọng, cẩn thận nếu không thì sẽ hớ bởi lỡ lời, và khi đó không rút lại được. Điều này có thể chấp nhận được, song một yêu cầu dứt khoát là các phát biểu của những
người lãnh đạo hàng đầu phải hướng về một phía và chung một mục tiêu. Nhưng trên thực tế thì sao?
Trước hết là Tổng BT Nguyễn Phú Trọng một con người giáo điều và bảo thủ đã im lặng tuyệt đối trong vấn đề này, và có người không kìm được sự tức giận đã phải hỏi <http://www.procontra.asia/?p=4419> “Tổng Bí thư đang làm gì?” trong lúc nước sôi lửa bỏng? Trong lúc đó có tin từ The New York Times, một
nhật báo có uy tín của cho biết rằng: một nhà ngoại giao cấp cao ở Bắc Kinh tiết lộ người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam (Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng) muốn qua Bắc Kinh gặp Tập Cận Bình để nói chuyện về Biển Đông, nhưng Tập Cận Bình đã từ chối không chịu gặp. Đau đớn hơn thì vào cùng thời điểm đó, ông Tập Cận Bình đã tiếp trọng thị Thủ tướng Hunxen của Campuchia. Vậy mà ông Tổng BT Nguyễn Phú Trọng không biết để mà thay đổi, không những thế ông ta vẫn giữ nguyên đường lối ngả hẳn về phía Trung Quốc như từ trước đến nay.
Song cũng may cho ông Trọng, bây giờ người ta đều hiểu rằng vào lúc này thực chất là ông không có thực quyền trong Đảng, nói không có người nghe và hai chữ “Trung Quốc” là điều phạm húy ông ta không được phép nói ra. Tuy vậy còn có không ít người “ác ý” thì mỉa mai rằng: có lẽ phía Trung Quốc nên cho sửa chữa căn biệt thự trước kia ông Hoàng Văn Hoan đã sống khi trốn chạy khỏi Việt Nam năm 1979 để dành cho ông Trọng sang trú ngụ trong thời gian sắp tới.
Còn ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang thì các phát biểu có vẻ chung chung nhằm không mất lòng ai, từ người dân, hay chính phủ Hoa kỳ, Trung Quốc.
Trước đây ông Trương Tấn Sang đã từng có các phát biểu về chủ quyền biển đảo đã thu hút sự quan tâm và tin tưởng của người dân. Nhưng mới nhất ngày 19.5.2014, trong dịp tiếp Tân Đại sứ Trung Quốc, Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang vẫn còn chúc mừng và hy vọng Đại sứ Hồng Tiểu Dũng sẽ ” phát huy tốt
vai trò cầu nối quan trọng, đóng góp thiết thực cho quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước “.
Đối với Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng cũng chẳng hơn gì, cũng ba phải, nước đôi và không có một chính kiến cụ thể. Việc thông qua Luật Biểu tình thuộc thẩm quyền của Quốc hội, tuy nhiên công việc này cũng đã và đang gặp rất nhiều trở ngại, vì số ĐBQH ủng hộ việc đưa Dự Luật này ra Quốc hội xem xét chỉ là thiểu số. Đặc biệt việc Ủy ban Pháp luật của Quốc hội sẽ tổng hợp ý kiến của các đại biểu Quốc hội để báo cáo Đảng đoàn Quốc hội. Sau đó Đảng đoàn Quốc hội sẽ có trách nhiệm báo cáo Bộ Chính trị về vấn đề này. Việc chiều 30-5, với tỷ lệ 85,14% trên tổng số đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc
hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa XIII và năm 2014 của Quốc hội. Theo nghị quyết này, 2 dự án Luật Biểu tình và Luật Trưng cầu ý dân được bổ sung vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của
Quốc hội năm 2015. Đây là một chỉ dấu cho thấy trong lúc này, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng không ủng hộ Thủ tướng Dũng. Điều đó cho thấy sự dửng dưng vô trách nhiệm của một số người đứng đầu nhà nước và lãnh đạo các ngành ở mọi cấp từ trung ương tới địa phương, trước vận mệnh của dân tộc đang bị đe dọa bởi họa xâm lăng của kẻ thù phương Bắc. Đến giờ phút này họ chưa hết mê muội để từ bỏ mối quan hệ anh em với kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt nam, đó là một số đông những kẻ có quan điểm và thái độ “hèn với giặc – ác với dân”, luôn lo mất chức quyền hơn mất nước và đến nay đang dần dần lộ mặt là tay sai của Bắc kinh.
Có phải Thủ tướng Dũng đã nổi bật và đang khuynh loát?
Trong bối cảnh quan điểm của các lãnh đạo Việt Nam vẫn đang bùng nhùng thiếu nhất quán như vậy, đây cũng chính là lý do Việt Nam vẫn đang chần chừ chưa thể quốc tế hóa việc kiện Trung Quốc về vụ giàn khoan HD-981 cũng như vụ quần đảo Hoàng Sa.
Nguyên nhân chính là do một bộ phận lãnh đạo còn e ngại động chạm tới quan hệ hữu nghị với Trung Quốc và thiếu một sự thống nhất quyết tâm trong nội bộ lãnh đạo từ Đảng tới Quốc hội. Trong bối cảnh này, thái độ quyết đoán và các phát biểu kiên quyết của các lãnh đạo là một điều hết sức cần thiết, bởi vì nó có giá trị tinh thần nhất định cho toàn dân vào thời điểm nước sôi lửa bỏng này.
Phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng khi trả lời báo chí ở Philippines vừa qua khi cho rằng “Nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”, cũng như một tin quan trọng gần đây không thể không nhắc đến, đó là việc Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng một lần nữa đã khẳng định phải làm Luật biểu tình trước Quốc hội ngày 27.5.2014, điều đó đã nhận được sự đồng tình của đa số dân chúng Việt Nam. Và nhiều người hồ hởi cho rằng điều này chỉ có thể xảy ra khi Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Tấn Dũng tiến hành cải cách toàn diện và sâu rộng thể chế chính trị hiện tại để đưa Việt Nam thành một quốc gia dân chủ.
Họ cho rằng đây cũng chính là một đòn hiểm nhất rất đáng sợ mà Việt Nam giành cho người láng giềng tham lam phương Bắc. Việc Quốc hội có sớm thông qua Luật Biểu tình vào năm 2015 theo kế hoạch hay không phần nào cũng đánh giá được sức mạnh thực có của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các cộng sự của ông đang chiếm đa số lớn trong Ban Chấp hành TW Đảng CSVN.
Những ngày này dư luận xã hội cho rằng, các hoạt động và các lời tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thể hiện vai trò nổi bật của một nhà lãnh đạo khôn ngoan và kiên quyết trong việc chống Trung Quốc cũng như trong việc thúc đẩy dân chủ hóa với mục đích nhằm lôi kéo sự ủng hộ của dư luận thế
giới đặc biệt là Hoa kỳ. Điều đó đã cho thấy có lẽ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giành được cho mình một vị thế quan trọng cần phải có của một người đang làm chủ cuộc chơi, để tạo ra một sự đồng thuận từ trong Bộ Chính trị trong cách đối phó với vụ khủng hoảng giàn khoan trên Biển Đông. Trong lúc phe bảo thủ trong Đảng của TBT Nguyễn Phú Trọng vẫn còn không dám thay đổi, vẫn rất dè dặt, thận trọng để giữ nguyên đường lối ngả hẳn về phía Trung Quốc như từ trước đến nay. Nên nhớ, theo quy định, mọi phát biểu của lãnh đạo cấp cao về một vấn đề quan trọng, đặc biệt là vấn đề đối ngoại đều phải có sự đồng ý và thống nhất chủ trương của đa số hoặc hầu hết các thành viên Bộ Chính trị.
Nếu như thế thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận được sự ủng hộ của đa số trong Bộ Chính trị, song chưa hẳn là đa số tuyệt đối. Phải chăng đó là lý do vì sao cho đến lúc này việc chống Trung Quốc bằng lời nói của ông Thủ tướng Dũng không đi đôi với hành động. Hơn nữa nếu thực sự Thủ tướng Dũng mạnh và khuynh loát thì sao ông không gây sức ép buộc Hội nghị TW9 ra nghị quyết về vấn đề Biển đông?
Hay là chính sách tung hỏa mù?
Tình thế hiểm nghèo của đất nước hiện nay vừa là thách thức song cũng vừa là cơ hội lớn cho dân tộc Việt Nam thoát Trung và chấn hưng đất nước, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước và dân tộc Việt nam theo con đường mà các quốc gia văn minh khác đã lựa chọn. Muốn như vậy thì buộc phải thúc đẩy cải cách thể chế chính trị, chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang thể chế dân chủ tự do một cách ôn hòa, cùng với việc cải cách kinh tế, văn hóa, giáo dục… để đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng toàn diện và sâu sắc hiện nay.
Và chỉ có như thế mới có thể tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc và sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của thế giới tiến bộ để tạo nên sức mạnh trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.
Trong bối cảnh chính trị hiện nay, dư luận cho rằng đây là thời điểm hết sức thuận lợi cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một nhà lãnh đạo có tư tưởng cấp tiến, có các phát biểu cứng rắn chống Trung quốc ra tay tiến hành cải cách theo tinh thần thông điệp đầu năm 2014. Tuy nhiên các động thái từ trong
nước, đặc biệt các phản ứng thiếu dứt khoát từ nhiều phía, đặc biệt là phát biểu gần đây của Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh cho thấy ở thời điểm này đảng CSVN khó có đủ can đảm để tuyệt giao mọi quan hệ chính trị với Trung Quốc như mong mỏi đa số người dân. Điều đó một số người cho rằng việc này là một sự tính toán có hệ thống của ban lãnh đạo Đảng CSVN, họ đang trình bày một vở diễn theo phương châm “Kẻ đấm, người xoa” để nhằm đánh lạc hướng dư luận, khiến người dân không biết đường nào mà lần.
Để hiểu rõ hơn về quan điểm của các lãnh đạo Việt nam, xin bạn đọc theo dõi một đoạn ngắn đăng trên trang facebook của Nhà báo Huy Đức gần đây, khi cho rằng : “Cựu thứ trưởng Bộ Nội vụ đặc trách An ninh, Trung tướng Võ Viết Thanh (1987-1991), kể: “Gặp các vị đương chức tôi hay hỏi: Nếu bây giờ tranh
cử với một người chủ trương dân chủ, chủ trương kinh tế thị trường mà quý vị vẫn chủ trương ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’, chủ trương chuyên chính vô sản, chủ trương ‘quốc doanh chủ đạo’, dân có bầu cho quý vị không? Các vị ấy trả lời: Không. Tôi bảo, sao quý vị biết lòng dân như vậy mà vẫn cứ cố tình
nói khác, làm khác!”. Đấy chính là cả một vấn đề của chính trị Việt Nam nói chung và quan hệ Việt – Trung nói riêng. Đó là mọi hành động và lời nói của các quan chức lãnh đạo VN chẳng bao giờ nhằm mục đích vì nước vì dân hay vì chống kẻ thù, mà tất cả chỉ phục vụ lợi ích cá nhân của họ trong việc lấy
điểm để thăng tiến và bảo vệ quyền lực của cá nhân họ cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới. Còn tất cả thì sống chết mặc bay và họ không quan tâm. Đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng vậy, sự kiện giàn khoan HD-981 cũng chính là lúc ông ta tranh thủ lấy điểm với Ban Chấp hành TW, Bộ Chính trị cho kỳ Đại hội Đảng lần thứ 12 sắp tới vào năm 2016, chứ hoàn toàn không xuất phát từ mục đích chống Trung Quốc xâm lược hay vì việc lấy lòng quần chúng nhân dân. Bởi vì niềm tin của quần chúng nhân dân chỉ được coi là một thứ trò chơi trong bàn cờ chính trị, chứ nó hoàn toàn không có giá trị gì trong việc thăng tiến của các lãnh đạo Cộng sản.
Việc lãnh đạo Việt Nam không dứt khoát trong việc đưa Trung Quốc ra kiện trước Tòa án quốc tế từ trước đến nay và ngay cả trong hiện tại cũng thể hiện điều đó. Vì đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trong tinh thần hòa hòa bình thì tại sao không sử dụng biện pháp pháp lý đối với Trung Quốc ngay vào lúc này?
Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Giữa lúc vận mệnh quốc đang bị đe dọa và cũng chính là lúc này là lúc chúng ta phân biệt được thật giả, đồng thau từ những người lãnh đạo quốc gia nói riêng và các chính trị gia nói chung. Phải thông qua cả lời nói cũng như hành động cụ thể của họ để đánh giá họ, chứ không chỉ tin vào những lời nói suông.
Ngày Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014, Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh công bố bài “Hoạt động của giàn khoan HYSY 981: Khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc.” Trong bài này Cộng Sản Trung Hoa đã trình bày lập luận tại sao quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Quốc. (HYSY-981 viết tắt tên Hai Yang Shi You, Hải Dương Thạch Du, là tên công ty CNOOC, người Việt Nam quen viết tắt là HD-981). Ðây là một hành động “Vừa đánh trống vừa ăn cướp.”
Ngay sau khi xảy ra vụ giàn khoan HD-981 vào biển Việt Nam, mục này đã khuyên chính quyền Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng) hãy theo gót Philippines kiện Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) ra trước các tòa án trọng tài quốc tế. Sau đó, tại Singapore, ông Nguyễn Tấn Dũng nói sẽ dùng biện pháp pháp lý với Trung Quốc về vụ Hoàng Sa, Trường Sa; mà không xác định sẽ làm gì. Các viên chức chính quyền cộng sản tiếp tục nói họ “đang chuẩn bị hồ sơ” đưa Trung Cộng ra tòa. Mãi không thấy chuẩn bị xong. Bây giờ thì Trung Cộng đi bước trước.
Sau đó, bàn về lá thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958, mục này đã đề nghị chỉ có một giải pháp thoát khỏi hậu quả của lá thư bán nước này, cũng như thoát khỏi các thỏa hiệp ở hội nghị Thành Ðô 1990, là xóa bỏ chế độ cộng sản. Dân Việt Nam thành lập một thể chế chính trị mới, chính quyền mới tuyên bố xóa bỏ tất cả các thỏa hiệp bất bình đẳng, công khai hoặc bí mật, đã ký kết với Cộng Sản Trung Hoa.
Bây giờ thì người dân Việt Nam hiểu rõ tại sao Việt Cộng chuẩn bị mãi không xong hồ sơ kiện Trung Cộng ra tòa. Vì họ biết sẽ đuối lý. Chỉ có một cách thoát ra khỏi cảnh bế tắc này là xóa bỏ chế độ cộng sản; hoặc ít nhất là phủ nhận và kết tội các chính quyền cộng sản từ thời Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng (1958) đến Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười (1990). Cả hai điều đó, đảng Cộng sản Việt Nam không thể làm được, để cho bây giờ Trung Cộng đi kiện trước tòa án dư luận Liên Hiệp Quốc.
Ngày Thứ Hai, 8 tháng 6, phó trưởng đoàn Trung Cộng ở Liên Hiệp Quốc Vương Dân (Wang Min) đã đọc một bài diễn văn nhân dịp kỷ niệm 20 năm thi hành Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), với lời khoe khoang rằng Bắc Kinh luôn luôn tôn trọng công ước này. Trong cùng ngày, Vương Dân chính thức yêu cầu tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, trụ sở tại New York, chuyển tới 193 quốc gia hội viên bản thông báo của Bắc Kinh về vụ tranh chấp trên Biển Ðông. Các văn kiện trên kèm theo các bằng cớ để Trung Cộng chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc.
Những hành động mới của Bắc Kinh sẽ buộc chính quyền Cộng Sản Việt Nam không thể “chuẩn bị” mãi không xong hồ sơ thưa kiện. Việt Cộng phải đối diện với quyết định: Hoặc đứng ra thưa kiện Trung Cộng trước Liên Hiệp Quốc hay các tòa án trọng tài quốc tế khác, hoặc tiếp tục lặng thinh, không nói cũng không làm làm gì cả, tức là chịu thua. Cho tới ngày Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014, Việt Cộng vẫn chưa có hành động hay lời nói nào; một tình trạng tê liệt từ đầu não.
Trong khi đó thì Trung Cộng đã chuẩn bị sẵn hồ sơ. Và họ đang yêu cầu ông tổng thư ký Liên Hiệp Quốc phổ biến cho tất cả các nước hội viên trên thế giới.
Hồ sơ của Trung Cộng được tóm tắt trong tất cả các bản tin trên thế giới. Nhiều nhà quan sát ngoại quốc đã bị Trung Cộng thuyết phục, có người tin rằng Trung Cộng có lý, viết “…đối với quần đảo Hoàng Sa, nơi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc khá mạnh.” (for the Paracel Islands, where China’s sovereignty claims are fairly strong – Zachary Keck viết trên tạp chí The Diplomat, ngày 10 tháng 6, 2014). Trong ba ngày liên tiếp, cả chính quyền và đảng Cộng sản Việt Nam không nói một lời nào chính thức phủ nhận những “chứng cớ” mà Trung Cộng đưa ra, ở Bắc Kinh và ở New York.
Chứng cớ của Trung Cộng bao gồm bức thư Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958, mà Bắc Kinh đã công bố từ tháng trước, nay lại đưa ra thêm những chứng cớ khác.
Trong văn kiện gửi cho 193 nước trong Liên Hiệp Quốc, Vương Dân nhấn mạnh rằng quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc và không hề có tranh chấp. “Không có tranh chấp” nghĩa là Trung Cộng có thể đưa giàn khoan vào vùng đó mà không vi phạm công ước về luật biển. Tất cả luận cứ của Việt Nam trong vụ này là Hoàng Sa thuộc nước ta, Trung Cộng đã chiếm, tức là đang có tranh chấp.
Nhưng Vương Dân còn nói “trước năm 1974 không có một chính quyền nào liên tiếp cai trị nước Việt Nam đã phản đối Trung Quốc về vấn đề chủ quyền này.” Ðây là một điều hoàn toàn sai sự thật. Chính quyền Pháp và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn xác định chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa, đã thành lập đài khí tượng trên một hòn đảo, nằm trong hệ thống thông tin khí tượng quốc tế. Tại hội nghị San Francisco tháng 9 năm 1951, thủ tướng chính phủ quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã xác nhận chủ quyền trên các đảo này và được 46 trong 51 quốc gia đồng ý. Mãi đến năm 1974, Trung Cộng mới tấn công và chiếm đóng. Viên đại sứ Trung Cộng nói như trên vì họ vẫn lừa gạt cả thế giới, nói rằng trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 là do khi quân Trung Cộng đến kiểm soát Hoàng Sa, thuộc lãnh thổ của họ, thì hải quân Việt Nam Cộng Hòa khiêu khích, tấn công. Nhưng Liên Hiệp Quốc vẫn còn lưu giữ hồ sơ những công hàm phản đối của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào tháng 2 năm 1974.
Vương Dân còn viết rằng, “Việt Nam đã chính thức công nhận quần đảo Tây Sa (sic) thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ thời xa xưa.” Ðiều này mọi người Việt Nam biết là sai và có thể phản bác trên dư luận thế giới. Ðời nhà Nguyễn đã thành lập “đội Hoàng Sa” bảo vệ an ninh quần đảo. Năm 1956, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã ký sắc lệnh thành lập quận Hoàng Sa. Bà thủ tướng Ðức mới tặng cho Tập Cận Bình một bản đồ Trung Quốc cổ, in từ đời nhà Thanh, trong đó lãnh thổ Trung Quốc ở cực Nam là đảo Hải Nam, hoàn toàn không có Hoàng Sa, Trường Sa. Thư viện lịch sử Việt Nam đang lưu giữ tập bản đồ cổ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do nhà Thanh xuất bản năm 1904, không hề có Hoàng Sa, Trường Sa.
Một cuốn sách, Compendio di Geografia (Ðịa lý thế giới) của nhà địa lý học người Ý Adriano Balbi, xuất bản lần đầu ở Livorno năm 1824, tái bản nhiều lần, xác định Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Bản còn được lưu trữ tại thành phố Torino ở miền Bắc nước Ý là bản in năm 1850 ở Livorno.
Nhưng Vương Dân còn viết thêm rằng, “Quan điểm này đã phản ảnh trong các bản tuyên bố của chính phủ họ, trong các văn kiện cũng như trong báo chí, bản đồ và sách giáo khoa.” Khi nói đến “chính phủ họ, its government,” Vương Dân chỉ có thể nói về chính quyền cộng sản đã cai trị Việt Nam từ sau năm 1975. Và cả Bộ Ngoại Giao Trung Cộng lẫn phái đoàn của họ ở Liên Hiệp Quốc đã trưng ra các bằng chứng cho thấy là chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã đồng ý với Trung Cộng về chủ quyền trên hai quần đảo.
Ðây là một đòn chí tử đánh thẳng vào đầu đảng Cộng Sản Việt Nam. Có thể nói Trung Cộng đã hoàn toàn bỏ rơi, không còn thương tiếc Việt Cộng nữa. Vì những bằng cớ do Bắc Kinh đưa ra chỉ chứng tỏ Việt Cộng đã bán nước. Sau khi chịu miếng đòn này, đảng Cộng Sản Việt Nam phải gọi là “Ðảng Phá Sản.” Ðảng Cộng Sản đã theo chủ trương kinh tế quốc doanh làm phá sản kinh tế Việt Nam. Họ đã dùng hành động man trá, làm phá sản đạo lý trong đời sống con người Việt Nam. Nay, Trung Cộng đưa thêm bằng cớ chứng tỏ Cộng Sản Việt Nam đã theo một chính sách ngoại giao phá sản hơn nửa thế kỷ, ngay từ năm 1950 khi họ ghi vào cương lĩnh đảng là theo “chủ nghĩa Mao Trạch Ðông” và đón các cố vấn Trung Cộng vào dạy họ làm cách mạng vô sản.
Ngoài bức công hàm Phạm Văn Ðồng, Trung Cộng còn dẫn chứng các bản đồ và sách giáo khoa môn địa lý do Việt Cộng xuất bản, trong đó công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên hai quần đảo. Trong cuốn Ðịa Lý Lớp Chín, in năm 1974, bài viết về “Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” có đoạn nói rõ ràng “Vòng cung đảo từ các đảo Nam Sa, Tây Sa (sic) đến các đảo Hải Nam, Ðài loan, quần đảo Hoành Bồ, Châu Sơn… làm thành một bức “trường thành” bảo vệ lục địa Trung Quốc…” Năm 1974 cuốn sách này ra đời, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng đều còn nắm quyền cao nhất nước. Sách giáo khoa trong chế độ cộng sản do chính quyền soạn, kiểm duyệt và ấn loát. Ðầu năm 1974, Thiếu Tá Ngụy Văn Thà và các tử sĩ Hoàng Sa hy sinh vì tổ quốc khi nước ta bị Trung Cộng tấn công.
Trong khi đó chính quyền cộng sản miền Bắc hồ hởi mô tả Hoàng Sa, Trường Sa nằm trong “bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc.”
Cuối cùng, làm cách nào để dân tộc Việt Nam bác bỏ được những lời ngụy biện của chính quyền Trung Cộng? Giải thích lại bức công hàm Phạm Văn Ðồng chỉ đi vào ngõ bí, nói để lòe bịp dân Việt được nhưng không thể đưa ra cãi trước tòa án và dư luận thế giới. Trung Cộng đã đưa ra quy tắc Estoppel trong luật pháp, không cho phép ai nói và làm ngược lại những điều mình đã nói hay làm trước đó, gây thiệt hại cho người khác. Cũng không thể nói rằng các sách giáo khoa và bản đồ của chế độ cộng sản đã in sai, nay xin cải chính lại. Vì guồng máy kiểm soát và duyệt y các sách giáo khoa được Ban Tuyên Giáo thi hành, do chính đảng Cộng Sản chủ trì.
Chỉ có một cách thoát ra khỏi ngõ bí này là xóa bỏ chế độ cộng sản. Dân tộc Việt Nam cần lập ra một thể chế chính trị mới, giống như các nước cộng sản Ðông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ đã làm. Chính quyền mới tuyên bố đoạn tuyệt với quá khứ nhục nhã, xóa bỏ tất cả các thỏa hiệp bất bình đẳng, công khai hoặc bí mật, đã ký kết với Cộng Sản Trung Hoa. Khi đó, nước Việt Nam có thể nói dõng dạc với cả thế giới rằng Hoàng Sa, Trường Sa vĩnh viễn thuộc chủ quyền dân tộc Việt.
Hàng trăm tàu Trung Quốc lớn nhỏ được điều động đến bảo vệ giàn khoan HD 981. AFP
“Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam nên rút tất cả tàu về, cách làm này sẽ giúp tạo nên hòa bình cho quá trình ngoại giao, giải quyết căng thẳng.” Đây là khuyến nghị của trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ Daniel Russel, đặc trách khu vực Châu Á – TBD trong cuộc họp báo qua điện thoại ngày hôm qua từ Yangon, nơi ông đang tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN.
Ngoài ra, hãng tin Straits Times của Singapore cũng trích lời bình luận của ông Russel về tình hình hiện nay, ông Russel cho rằng các nước tham gia tranh chấp tại Biển Đông cần bảo đảm hành vi của mình không mang tính khiêu khích… đó là cơ sở để hạ nhiệt căng thẳng trên biển Đông, đồng thời, ngoài việc nhấn mạnh các bên cần thể hiện tinh thần hợp tác, tự kiềm chế và đảm bảo cho ngư dân, tàu bè, ông Russel không quên nhấn mạnh yếu tố quan trọng hạ nhiệt là “Trung Quốc phải rút giàn khoan.”
Bên cạnh đó, vị trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng lưu ý rằng Việt Nam từ lâu đã tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam lâu nay đã thăm dò, khai thác dầu khí ở khu vực mà Việt Nam chính thức tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế tính từ đất liền.
Trước khi kết thúc cuộc họp báo với giới phóng viên, ông Russel cũng thẳng thắn và kịch liệt lên án những hành vi cưỡng bức hay đe dọa vốn đang đẩy hiện trạng trên biển Đông đi quá xa.
Đại sứ Việt Nam tại LHQ Lê Hoài Trung. Vietnamplus
Đảng cộng sản Việt nam đang đối diện với nhiều thách thức lớn trong cuộc khủng hoảng biển Đông hiện nay. Kính Hòa tổng hợp một số nhận định về những thách thức này đối với sự tồn tại của đảng cộng sản Việt nam.
Cuộc khủng hoảng lớn
Xung đột giữa hai quốc gia cộng sản không có dấu hiệu dừng lại với việc một mặt Trung quốc cương quyết dùng lực lượng lớn bảo về giàn khoan của họ trong thềm lục địa Việt nam, mặt khác họ tấn công Việt nam trên phương diện quan hệ quốc tế khi cho lưu hành tại Liên Hiệp Quốc thư tố cáo Việt nam xâm phạm chủ quyền của Trung quốc.
Đảng cộng sản Việt nam đang phải đối đầu với một nan đề lớn kể từ khi phải quyết định cải tổ nền kinh tế hồi cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Vào thời điểm ấy đảng cộng sản cũng phải có những quyết định khó khăn, nhưng hầu như chỉ có sự phản kháng thụ động từ dân chúng, mà tiêu biểu nhất là bỏ nước ra đi, hoặc là tiến hành những hoạt động kinh tế tư nhân không được phép.
Cá nhân tôi cho rằng đây là lúc nhà nước Việt nam phải lựa chọn sự thay đổi về đường lối đối nội lẫn đối ngoại. Đối nội là thay đổi đường lối với chính sách với những tiếng nói phản biện trong nước. Đối ngoại là thay đổi sự quá phụ thuộc vào Trung Quốc
blogger Mẹ Nấm
Cuộc khủng hoảng biển Đông 2014 đưa đến cho đảng cộng sản những thách thức trực diện và chủ động hơn từ nhiều tầng lớp. Lớn tiếng nhất có lẽ là những lời yêu cầu Bộ chính trị phải từ bỏ quyền lực của những người bất đồng chính kiến cứng rắn như bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Và có những tiếng nói ôn hòa hơn như những người biểu tình chống Trung quốc ngày 11/5/2014. Trong cuộc biểu tình lớn mà có người cho rằng đảng cầm quyền đã ngầm cho phép, những người biểu tình đã kết hợp chuyện chống Trung quốc với những yêu cầu cải tổ đất nước. Một trong những người đưa ra những đòi hỏi ôn hòa đó là blogger Mẹ Nấm nói với chúng tôi sau cuộc biểu tình:
Tàu cá Việt Nam bị chìm ngay sau khi tàu TQ đâm hôm 26/5/2014. Hình chụp từ video.
“Cá nhân tôi cho rằng đây là lúc nhà nước Việt nam phải lựa chọn sự thay đổi về đường lối đối nội lẫn đối ngoại. Đối nội là thay đổi đường lối với chính sách với những tiếng nói phản biện trong nước. Đối ngoại là thay đổi sự quá phụ thuộc vào Trung Quốc. Cái câu vì một quốc gia cường thịnh thì tôi nghĩ là thông điệp ngắn mà ôn hòa.”
Ngoài ra còn có những yêu cầu cụ thể hơn trong chính sách đối ngoại như các nhà bất đồng chính kiến Cù Huy Hà Vũ, Bùi Tín, Nguyễn Thanh Giang cho rằng cần phải nhanh chóng thực hiện một liên minh quân sự với Hoa Kỳ để giữ vững nền độc lập.
Trên bình diện chính thức, Việt nam tuyên bố lúc nào cũng theo đuổi một chính sách “không liên kết.” Ngay trong những ngày cuộc khủng hoảng đang diễn ra hiện nay, giới chức quân sự Việt nam đều lên tiếng phủ nhận việc xích lại với Hoa Kỳ để chống Trung quốc. Bên cạnh đó những động tác ngoại giao của Việt nam lại cho thấy có sự xích lại gần ấy, ví dụ như Việt nam đề nghị Hoa Kỳ lên án mạnh mẽ hơn nữa hành động của Trung quốc trên biển Đông, cũng như phát triển những quan hệ xã giao với hải quân Philippines, một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ.
Tôi nghĩ là Đảng cộng sản Việt Nam chưa cho phép dân chủ xảy ra. Điều đó nó nằm ngòai những gì mà chúng ta biết về họ, về lịch sử của họ, và do đó họ sẽ làm mọi cách để không cho điều đó xảy ra
Tiến sĩ Vũ Tường
Song nhiều nhà quan sát chính trị nước ngoài trong đó có Tiến Sĩ Vũ Tường từ Đại học Oregon cho rằng thực ra Bộ ngoại giao trong lịch sử tồn tại của đảng cộng sản Việt nam chỉ thực thi đường lối của những nhân vật phụ trách đối ngoại của đảng mà thôi. Hiện nay, nhân vật đứng đầu Bộ ngoại giao không phải là thành viên của bộ chính trị nhiều quyền lực nhất nước mặc dù ông kiêm nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng. Lời mời của phía Hoa Kỳ về một chuyến viếng thăm nước Mỹ ngay sau cuộc khủng hoảng bùng nổ vẫn chưa được thực hiện sau gần hai tuần lễ leo thang xung đột.
Tàu Hải cảnh của Trung Quốc chủ động đâm thẳng vào mạn trái tàu Cảnh sát biển Việt Nam. (Nguồn: Cảnh sát biển)
Dàn xếp phe phái hay mở rộng dân chủ?
Cuộc khủng hoảng hiện tạo ra nhiều đồn đoán hơn về những quan hệ phe phái hay những khuynh hướng thân phương tây hoặc thân Trung quốc trong nội bộ đảng cộng sản, theo đó nhóm có khuynh hướng chống Trung quốc sẽ mạnh hơn. Tuy nhiên một nhà quan sát thường xuyên theo dõi chính trị Việt nam từ Pháp là ông Nguyễn Gia Kiểng lại cho rằng vấn đề phe phái không có ý nghĩa gì vì những người cộng sản đều có chung một mục đích là bảo vệ sự độc tôn của đảng cộng sản. Nhận định này giống với phát biểu của Tiến sĩ Vũ Tường về những nhân sự cao cấp trong Bộ chính trị khi được hỏi rằng liệu họ có cho phép những cải cách dân chủ không sau khi có những khuôn mặt mới xuất hiện vào năm ngoái trong bộ phận quyền lực này:
“Tôi nghĩ là Đảng cộng sản Việt Nam chưa cho phép dân chủ xảy ra. Điều đó nó nằm ngòai những gì mà chúng ta biết về họ, về lịch sử của họ, và do đó họ sẽ làm mọi cách để không cho điều đó xảy ra.”
Đây cũng là nhận định của ông David Brown một người từng làm việc ở bộ ngoại giao Hoa Kỳ về những người chủ trương bảo thủ trong đảng rằng họ ghét cay ghét đắng việc mở rộng dân chủ vì họ xem đó là bước đệm dẫn tới những cuộc cách mạng thách thức sự độc tôn của đảng cộng sản.
Song người ta cũng không phủ nhận là có những thành phần ôn hòa trong giới cầm quyền hiện nay, và dưới áp lực của của cuộc khủng hoảng, một hội thảo về việc làm cách nào thoát ra khỏi ảnh hưởng chính trị của Trung quốc, đồng minh ý thức hệ của đảng cộng sản Việt nam được công khai tổ chức tại Hà nội, tuy rằng cuộc hội thảo cũng bị những người như nhà bất đồng chính kiến Hà Sĩ Phu phê bình là bị giới hạn vì theo ông muốn thoát khỏi Trung quốc thì phải thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản.
Sự thách thức về việc từ bỏ ý thức hệ này đối với đảng cộng sản Việt nam là một thách thức dai dẳng từ khi khối cộng sản Đông Âu bị sụp đổ đến nay. Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, một nhà quan sát khác từ Đại học George Mason Hoa kỳ cho rằng chính sách dựa trên ý thức hệ để có những cư xử mềm dẻo với Trung quốc đã mất sự thuyết phục sau khi cuộc khủng hoảng giàn khoan nổ ra.
Tuy nhiên nếu từ bỏ ý thức hệ cũng có nghĩa là chia sẻ sự cầm quyền và không còn độc tôn được nữa.
Tóm lại hiện đảng cộng sản Việt nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức đến cùng một lúc.
Một mặt phải khắc phục sự yếu kém của nền kinh tế với những yêu cầu tư hữu hóa ngày càng cấp bách như chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có nói ngay trong một cuộc gặp mặt với doanh nghiệp vừa qua. Và đương nhiên là một nền kinh tế mang tính tư nhân hơn cần có một môi trường xã hội dân chủ hơn để phát triển.
Thách thức thứ hai là đối diện với những yêu cầu mở rộng dân chủ của một số tầng lớp trong nước, mà những yêu cầu này luôn đi đôi với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, quốc gia duy nhất có khả năng cân bằng quyền lực quân sự với Trung quốc tại châu Á.
Thách thức thứ ba là sự chính danh của việc cầm quyền khi không thể đối đầu được với kẻ đồng minh ý thức hệ là Trung quốc.
Thời gian không còn nhiều từ nay cho đến đại hội đảng trong năm tới, và những thách thức trong vụ khủng hoảng giàn khoan cho thấy là phải có những giải pháp ngay lập tức. Đó là những thách thức lớn lao trong tương lai gần của đảng cộng sản, mà theo lời một bạn trẻ tham gia cuộc biểu tình ngày 11/5 là sự tồn tại của đảng cộng sản hay bất cứ đảng chính trị nào đều phụ thuộc vào việc đảng đó có giữ được độc lập chủ quyền của đất nước hay không.
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng (giữa) đi cùng với các thành viên cùng đoàn đến dự lễ bế mạc hội nghị thượng đỉnh ASEAN 24 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Myanmar hôm 11/5/2014. AFP photo
Kính gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,
Trước tiên, kính mong Thủ tướng thứ lỗi cho sự đường đột và mạo muội của cháu. Vì Thủ tướng quá bận rộn khi phải lo giải quyết nhiều công việc quốc gia đại sự, và nhất là khi những căng thẳng xung quanh giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc vẫn chưa có dấu hiệu lắng dịu.
Đầu thư, cháu xin được chia sẻ câu chuyện liên quan tới thảm họa hạt nhân Fukusima, tháng Ba năm 2011 tại Nhật Bản: đó là bức thư tâm tình của Ashwin Cresswell, một cậu bé Úc 9 tuổi, gửi tới bà Julia Gillard, thủ tướng Úc. Trong thư, Ashwin bày tỏ sự cảm thông của mình với sự mất mát của Toshihito, một câụ bé Nhật Bản, mới chỉ 8 tuổi nhưng đã mất cả gia đình sau thảm họa kinh hoàng đó. Những lời trong bức thư của cậu bé Ashwin hồn nhiên như sau:
“Gửi bà Julia Gillard,
Mẹ cháu bảo các Thủ tướng có thể nói chuyện với những Thủ tướng khác. Xin bà hãy gửi bức thư này đến Thủ tướng Nhật Bản giúp cháu được không ạ?
Cháu không nói được tiếng Nhật Bản nhưng cháu hy vọng Thủ tướng Nhật sẽ nói được tiếng Úc.
Cháu đã nhìn thấy bức ảnh của cậu bé người Nhật Toshihito Aisawa trên báo. Mẹ cháu đã đọc cho cháu nghe câu chuyện của bạn ấy và mẹ cháu kể, bạn ấy đã mất hết cả cha mẹ trong trận sóng thần.
Bà có biết bạn Toshihito không ạ? Bạn ấy có được ăn và uống những thứ mình thích không ? Bạn ấy có chiếc áo thun đẹp để mặc không? Nếu bạn ấy không có, cháu sẵn sàng cho bạn ấy mượn.
Nếu bạn ấy không thể tìm được cha mẹ, bạn ấy có thể ở với gia đình cháu. Bạn ấy cũng có thể chơi đồ chơi của cháu và đi học với cháu. Không biết bạn Toshihito có thích ở với gia đình cháu không nhỉ?”
Có lẽ bất cứ ai cũng sẽ cảm động khi đọc bức thư đó và tấm lòng của Ashwin Cresswell đã được đích thân bà Julia Gillard chuyển tới tận tay người đồng nhiệm Nhật Bản, khi đó là thủ tướng Naoto Kan. Ngoài khía cạnh nhân văn và tinh thần chia sẻ, điều thường thấy ở những xã hội tiến bộ, đang ở những vị trí rất cao trong nấc thang văn minh của nhân loại như Úc, Nhât Bản, vv … ta còn thấy ở đó là cái ý thức “dân sự” khi tâm nguyện của một cậu bé 9 tuổi có thể tới được tay lãnh đạo quốc gia để được xem xét.
Trên tinh thần đó, với tư cách là một công dân Việt Nam và đã từng hai lần đi “bỏ phiếu bầu cử tại địa phương” cháu cũng xin được chuyển tâm thư của mình tới Thủ tướng Việt Nam với nội dung “chính trị” liên quan tới sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và mối trăn trở về những vấn đề của đất nước. Cách đây vài tháng, ông Algore, cựu phó Tổng thống Mỹ, trong bài nói chuyện với sinh viên của đại học Oxford, Anh Quốc có nhắn gửi: “Người trẻ tuổi cần biết quan tâm tới chính trị để làm cho xã hội tốt đẹp hơn” Và cũng rất mừng là mới đây thôi, trong kì thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông 2014, đề thi môn Văn học Việt Nam đã chọn giàn khoan Hải Dương 981 là chủ đề cho một câu hỏi chiếm 3 điểm trên tổng 10. Nhưng cũng đáng buồn là trong cuộc thi Hoa hậu Biển cách đây không lâu, một thí sinh đã vô tư hồn nhiên đáp: “Em mong Trung Quốc sẽ mở giàn khoan để cho đất nước Việt Nam của em ngày càng tươi đẹp hơn”.
Như một công dân Việt Nam bình thường; cháu sinh ra và lớn lên, đi học 12 năm phổ thông và tốt nghiệp đại học tại Việt Nam rồi có điều kiện để đi du học nước ngoài. Hiện tại, cháu đang là sinh viên cao học tại Đài Loan, một hòn đảo rất gần với Việt Nam và có nhiều mối liên hệ về lịch sử, văn hóa, chính trị với chúng ta và cũng có một số “vấn đề” đối với nhà nước Trung Quốc. Chỉ mới đây thôi, ngay trong tháng Ba, hàng trăm ngàn sinh viên của hòn đảo này đã tuần hành, biểu tình và chiếm đóng cả tòa nhà của Viện Lập Pháp tại Đài Bắc để phản đối hiệp định Hợp tác Thương mại dịch vụ mà Chính quyền Quốc dân Đảng của Tổng thống Mã Anh Cửu đã kí kết với Bắc Kinh và đơn phương thông qua bất chấp sự phản đối của đảng đối lập trong Quốc hội.
Những sinh viên đã hành động như vậy vì họ cho rằng: hiệp định này sẽ ngày càng gia tăng sự phụ thuộc của Đài Loan vào thương mại với Trung Quốc, lo ngại rằng Đài Loan sẽ bị Trung Quốc thôn tính, và họ nghi ngại rằng bên trong nội dung của bản hiệp định có những điều khoản không rõ ràng; điều mà họ đòi hỏi ở chính quyền là tính minh bạch và muốn tổng thống ra đối chất với họ. Sự kiện đó đã xảy ra trong hơn 20 ngày, nằm trong trật tự và tầm kiểm soát của an ninh, không có nhiều sự đàn áp, bắt bớ. Truyền thông quốc tế khi đó gọi sự kiện là Phong trào sinh viên Hoa Hướng Dương. Một điều đáng tiếc là gần 700 cơ quan báo chí truyền thông của Việt Nam lại không hề đưa tin về sự kiện này?
Với một chút kiến thức thu được cùng những trải nghiệm khi quan sát và học hỏi nơi xứ người, cháu có ước muốn sau này có thể đóng góp môt phần nhỏ bé sức của mình cho sự thay đổi của đất nước. Theo nhận xét của bản thân, cháu thấy rằng Đài Loan còn rất nhiều việc phải làm để có thể bắt kịp phương Tây hay Nhật Bản nhưng họ thực sự đã phát triển hơn Việt Nam rất xa và họ là một trong những vùng lãnh thổ có mức sống cao nhất châu Á. Tại hòn đảo này, hiện đang có tới 100 ngàn cô dâu Việt lấy chồng xa xứ với gần 150 ngàn đứa con lai Việt – Đài và quãng gần 100 ngàn lao động xuất khẩu tới từ những vùng quê nghèo của Việt Nam, trong số đó có hàng ngàn người hiện đang cư trú và làm việc trái phép, có thể bị bắt giam và trục xuất bất cứ lúc nào, vậy mà cơ quan ngoại giao của chúng ta vẫn chưa có sự quan tâm tới họ một cách thỏa đáng … Hiện tượng này đã và đang gây ra một số vấn đề cho xã hội của Đài Loan.
Những sinh viên đi du học như cháu chỉ chiếm một con số khiêm tốn là gần 4000 người so với những nhóm kể trên. Trong cuộc sống thường nhật, tiếp xúc và giao tế với người Đài, cháu nhận thấy rằng phần đông dân ở đây không coi trọng người Việt cho lắm, đúng hơn là còn có một chút coi thường; và có một chút xấu hổ khi ở nhiều nơi công cộng, người ta dán những bảng thông báo như “Cấm ăn cắp”, “Cấm băng ngang qua đường tàu” và “Cấm gây ồn” bằng tiếng Việt. Trong thâm tâm, cháu luôn khao khát một điều rằng đất nước Việt Nam của mình sẽ có ngày vươn lên, thật văn minh, thịnh vượng để không còn thua kém Đài Loan hay Mã Lai và những thanh niên nam nữ người Việt cũng sẽ không cần phải xuất ngoại để mưu sinh nữa, và người ta cũng sẽ không dám coi thường Việt Nam nữa.
Xa hơn nữa, cháu mơ rằng thế hệ trẻ của Việt Nam sau này sẽ được hưởng một nền giáo dục thật tốt với trường lớp và cơ sở vật chất phong phú hiện đại (những khuôn viên rộng và đẹp, có thư viện, hồ bơi và sân bóng, vv); khi đó bằng cấp do Việt Nam đào tạo sẽ được các quốc gia tiên tiến coi trọng và Việt Nam cũng sẽ tự ươm cho mình được một nguồn nhân lực cạnh tranh, giải quyết được tình trạng “chảy máu chất xám” đang gây hại nghiêm trọng cho sự phát triển của đất nước. Làm sao để đất nước và cuộc sống của con người Việt Nam cũng tươi đẹp như núi rừng và biển trời của chúng ta. Vì sao mà một em bé mồ côi, nạn nhân của chiến tranh như Phillipne Roesler, rời Việt Nam qua Đức khi còn nằm nôi lại có thể trở thành phó Thủ tướng Đức ? Và tại sao chúng ta lại quá dễ dãi để cho truyền thông tung hô sự kiện đôi vợ chồng siêu sao Brad Pitt và Angelina Jolie tới Việt Nam nhận cậu bé Pax Thiên làm con nuôi và coi đó là một niềm vinh hạnh?
Đã một tháng trôi qua kể từ khi Trung Quốc mang giàn khoan Hải Dương 981 và đặt nó trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Cùng tâm trạng như rất nhiều người Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới, cháu nghe ngóng và cập nhật tình hình về cái giàn khoan “ngang ngược” đó liên tục mỗi ngày. Mối quan tâm của cháu đối với sự kiện thậm chí còn lớn hơn cả việc học; và làm sao có thể học được khi chủ quyền và an ninh lãnh thổ của đất nước mình đang bị đe dọa. Mỗi khi đọc tin tức, xem hình ảnh lẫn những đoạn phim, cháu đã khóc khi thấy lực lượng cảnh sát biển Việt Nam và những ngư dân trung kiên quyết tâm bám biển và đương đầu với một thế lực áp đảo có vũ trang của “một thực thể lạ” như lâu nay truyền thông vẫn đưa tin. Vì sao “tàu lạ” lại có thể phun vòi rồng với áp lực nước cao, có thể làm vỡ cả cửa kính vào tàu kiểm ngư của ta, “tàu lạ” có thể ném đá gây thương tích cho ngư dân Đà Nẵng và đâm chìm cả tàu cá của ta? Tại sao họ lại có thể thực hiện hành vi giết người Việt Nam ở ngay trong vùng lãnh thổ và đặc quyền kinh tế của Việt Nam ? Tại sao “nước lạ” có thể điều máy bay quân sự và tàu hộ vệ mang tên lửa vào lãnh hải của Việt Nam với thái độ hung hãn, dẫn tới căng thẳng leo thang, thậm chí súng có thể nổ bất cứ lúc nào. Tại sao lại như vậy? Nói như những ngư dân Đà Nẵng thì “Biển là của mình cơ mà!”
Cuộc biểu tình dẫn tới bạo loạn với quy mô lên tới hàng chục ngàn của người lao động trong những khu chế xuất, khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khắp trên cả nước đã gây ra rất nhiều hệ quả và mối quan ngại về tương lai của Việt Nam. Không chỉ những doanh nghiệp Trung Quốc, mà cả Đài Loan, Hongkong, Singapore rồi Hàn Quốc và Nhật Bản, vv … cũng chịu thiệt hại. Nghiêm trọng hơn là tình trạng cướp bóc, hôi của, ẩu đả và cả án mạng tại khu công nghiệp Formosa, Vũng Áng, Hà Tĩnh. Tiếp đó là việc Trung Quốc đưa tàu tới sơ tán hàng ngàn công nhân của họ về nước (chúng ta sẽ thấy giật mình là không ngờ người Trung Quốc đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam nhiều đến thế, và vì sao Trung Quốc lại trúng thầu quá nhiều dự án ở Việt Nam?) rồi giải phóng quân Trung Quốc còn điều hơn 300 ngàn lính với phương tiện hùng hậu tới sát biên giới phía Bắc, tuyên bố tình trạng chiến tranh cấp 3 … làm cho người Việt phải lo âu, mất ăn mất ngủ.
Đất nước Việt Nam đã chịu đựng quá nhiều cuộc chiến tranh trong phần lớn thời gian của thế kỷ 20 rồi, nên giờ đây không mấy ai lại mong muốn có binh đao loạn lạc nữa. Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến dài, đẫm máu, đau thương nhất và gây chia rẽ, hận thù nhiều nhất trong lịch sử nhân loại. Cho tới hôm nay, dù đã gần 40 năm kể từ khi chiến tranh kết thúc, nhưng hai khối người Việt ở quốc nội và hải ngoại dường như vẫn chưa cùng nhau nhìn về chung một hướng, dù đất nước đang nguy ngập. Câu chuyện hòa giải, hòa hợp dân tộc vẫn còn rất xa vời vì đôi bên chưa có ai thật sự mở lòng và thực tâm chìa tay ra.
Vụ bạo loạn của tầng lớp công nhân Việt Nam đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh về những vấn nạn xã hội trên đất nước hôm nay. Theo như nhiều cơ quan báo chí truyền thông trong nước, cho rằng có những “thế lực xấu” đứng đằng sau tổ chức, giật dây kích động những người nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết, và kêu gọi tinh thần yêu nước phải dựa trên lý trí và sự tỉnh táo. Nhưng đằng sau đó có những căn nguyên khác mà chúng ta không mấy ai quan tâm tới: Vì sao những người công nhân lại hành xử như vậy ? Phải chăng vì họ bất mãn với đồng lương ít ỏi và cuộc sống khó khăn ? Đã có nhiều bài báo, viết về những cảnh đời trong những khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Thật xót xa làm sao khi biết nhiều nam công nhân phải chạy xe ôm ngoài giờ và nhiều nữ lao động thậm chí phải hành nghệ mại dâm để có thêm tiền trang trải cuộc sống và giúp đỡ gia đình. Đối với họ, tương lai là một cái gì đó mơ hồ. Tình trạng bất bình đẳng và những bất công trong xã hội Việt Nam hôm nay đã dẫn tới những ức chế tâm lý rồi đè nén thành một khối chỉ trực bộc phát khi bị châm ngòi… Và giàn khoan Hải Dương 981 chính là một mồi lửa.
Lực lượng chống bạo loạn bảo vệ bên ngoài nhà máy xây dựng ở Bình Dương hôm 14/5/2014. AFP photo
Trong vụ bạo loạn này, rất nhiều doanh nghiệp của Đài Loan bị ảnh hưởng, và thực tế là họ chịu thiệt hại nặng nhất. Theo như tin tức mà báo đài đã đưa, có hàng trăm nhà máy của Đài Loan tại Việt Nam bị hư hỏng, phải đóng cửa, chủ thuê thì kinh hãi bỏ về nước, đã có những cuộc biểu tình của người Đài Loan phản đối Việt Nam tại Văn phòng Ngoại giao của Việt Nam tại Đài Bắc; chính quyền Đài Loan lên án, chỉ trích và yêu cầu Việt Nam phải bồi thường cho những doanh nghiệp; trên truyền hình của Đài Loan có chiếu cảnh ông Bùi Trọng Vân, đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Đài Bắc phải lên truyền hình xin lỗi phía Đài Loan với những lời lẽ khẩn khoản: “Chúng tôi rất xin lỗi người dân Đài Loan … Mong các doanh nghiệp Đài Loan đừng rời bỏ Việt Nam” Cô dâu, người lao động và sinh viên chúng cháu đã phải đối diện với những ánh mắt và thái độ không mấy thân thiện từ người bản xứ, cùng với những câu hỏi, thắc mắc nhạy cảm và rất khó trả lời, đại loại như: “Vì sao người Việt Nam lại hành động như thế?” “Chúng tôi là người Đài Loan, không phải Trung Quốc” Một vị cô giáo dạy tiếng Hoa còn nói rằng “Xin đừng giết chúng tôi, chúng tôi là người Đài Loan”
Bản thân cháu cũng đã phải đối mặt với những áp lực tương tự, trong giờ học của một ông giáo sư có lập trường thân thiện với Bắc Kinh, nằm trong Ủy ban Hiệp Thương giữa hai bờ eo biển Đài Loan, ông ta thường xuyên hỏi cháu, sinh viên Việt Nam duy nhất trong lớp bên cạnh những bạn học Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Séc, Romani, Nhật Bản, vv … những câu hỏi khó trả lời như là: “Vì sao người Việt Nam lại hành động điên cuồng như vậy?” “Đài Loan chúng tôi luôn coi trọng đầu tư vào Việt Nam và đối xử tốt với công nhân Việt Nam” và “Vì sao Việt Nam lại phản ứng dữ dội như vậy với Trung Quốc?” và “Vì sao Việt Nam lại không chịu ngồi vào bản đàm phán để giải quyết vấn đề song phương cùng với Trung Quốc?” Cháu đã rất khó chịu và phải cố gắng để giữ bình tĩnh, đối đáp với ông ta rằng: “Xin lỗi Đài Loan nhưng đó là vùng đặc quyền kinh tế biển và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam theo công ước quốc tế, một phần biển đảo của Việt Nam hiện đã bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng trong quá khứ và chúng tôi có đầy đủ những bằng chứng lịch sử lẫn pháp lý để có thể khởi kiện Trung Quốc. Việt Nam không thể nhượng bộ về vấn đề chủ quyền, dù đối phương là Trung Quốc, một cường quốc”.
Đó cũng chính là cái tinh thần trong những tuyên bố mới đây của Thủ tướng: “Không thể đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông, lệ thuộc”, “Việt Nam sẽ làm hết sức để bảo vệ chủ quyền” hay “Không thể vì tình hữu nghị mà im lặng”, vv. Tuyên bố dứt khoát, đầy bản lĩnh của Thủ tướng đã đem lại một niềm tin cho khối cộng đồng 90 triệu người dân Việt Nam và 4 triệu kiều bảo ở hải ngoại. Nhưng rõ ràng là chúng ta cần phải làm nhiều việc khác hơn nữa thì mới có thể bảo vệ được chủ quyền biển đảo.
Trong suốt thời gian qua, những phản ứng và bước đi của Chính phủ vẫn khiến người dân Việt Nam không khỏi lo lắng. Hội nghị cấp cao ASEAN đã không đạt được sự đồng thuận mong muốn giữa các nước thành viên về vấn đề biển Đông; những tuyên bố của bộ ngoại giao Việt Nam khi bác bỏ công hàm 1958, theo nhiều chuyên gia nghiên cứu về luật biển là không có lợi cho Việt Nam nếu đưa tranh chấp pháp lý ra giải quyết tại tòa án (vì tính chính danh của 2 nước Việt Nam sau năm 1954); trong lúc đó Trung Quốc vẫn luôn tìm cách bôi xấu và hạ thấp hình ảnh của Việt Nam với dư luận quốc tế, tìm mọi cách ngăn cản sự can thiệp từ đa phương; mà song phương thì chúng ta hoàn toàn yếu thế. Nhiều nước như Mỹ, Nhật, Pháp rồi Phillipines đều lên tiếng ủng hộ Việt Nam, nhưng chúng ta thực ra vẫn đang đơn độc vì không thể kì vọng nhiều hơn. Chúng ta có quan hệ ngoại giao, làm bạn với tất cả các nước, nhưng lại không có đồng minh chiến lược cùng chia sẻ lợi ích.
Bài phát biểu vài ngày trước của Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam tại diễn đàn đối thoại an ninh Shang-ri La lại mâu thuẫn với những phát ngôn mạnh mẽ, cứng rắn của Mỹ và Nhật Bản. Vì sao mà “Chuyện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam như mâu thuẫn nội bộ GIA ĐÌNH và cần giải quyết song phương: “Những vấn đề có liên quan đến hai nước thì cần giải quyết SONG PHƯƠNG… Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi” ? Lập luận này của chúng ta vô tình đã đặt Mỹ và Nhật Bản vào thế việt vị và khiến Việt Nam lại ở vào thế tự cô lập mình với những thiện chí của quốc tế.
Vì sao mà trước đó, trong năm 2011 trong chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo 2 đảng, chúng ta lại đặt bút kí vào: “Thỏa Thuận Về Những Nguyên Tắc Cơ Bản Chỉ Đạo Giải Quyết Vấn Đề Trên Biển Giữa Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa”. Trong thỏa thuận này có 1 nguyên tắc rất bất lợi cho Việt Nam, đó là “Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị.”Và vì sao khi chúng ta đã là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, đã từng giữ cả ghế chủ tịch, nhưng lại không tranh thủ tận dụng nhiệm kỳ đó để đưa vấn đề biển Đông ra với thế giới?
Hiện giờ Trung Quốc vẫn đang tăng cường lực lượng và uy hiếp chúng ta trên biển lẫn trên đất liền. Điều gì sẽ xảy ra nếu căng thẳng leo thang dẫn tới không thể kiểm soát và có bên nổ súng trước ? Nếu chiến tranh xảy ra, đó thật sự sẽ là một thảm họa. Như các diễn đàn quân sự phân tích, Việt Nam hiện có lực lượng quân sự hùng hậu nhất Đông Nam Á, thời gian gần đây chúng ta cũng đã tăng cường mua sắm nhiều khí tài và hiện đại hóa quân đội … chúng ta đã sở hữu thêm máy bay chiến đấu, tàu chiến, tàu ngầm và tên lửa phòng thủ thế hệ mới, vv … nhưng những gì chúng ta có do mua được từ Nga hay Do Thái thì Trung Quốc cũng có thể mua được và còn có nhiều hơn ta nhờ vào tiềm lực kinh tế hùng hậu và chi tiêu quân sự khổng lồ. Trong trường hợp xấu nhất khi có xung đột, liệu chúng ta có thể bảo vệ được chủ quyền và an ninh của đất nước ? Về lâu về dài, khi kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khan do tham nhũng yếu kém, liệu chúng ta có thể đứng vững khi có xung đột và chúng ta hiện nay bị lệ thuộc quá nhiều vào nhập siêu từ Trung Quốc ? Tuy có phần cay đắng, nhưng có một sự thật mà chúng ta cần phải nhìn nhận là: Đất nước Việt Nam đang hết sức nguy ngập. Lối thoát nào cho Việt Nam?
Trong thời đại thông tin tự do và sự phát triển của internet như ngày nay, sẽ không quá khó để có thể tham khảo bài học lịch sử của rất nhiều quốc gia trên thế giới.
– Vì sao chỉ vài quả đạn pháo từ hạm đội của Đô đốc Matthew C. Perry nã vào thành Edo (Tokyo ngày nay) mà nước Nhật đã bừng tỉnh để thực hiện một cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân toàn diện, sâu rộng, nhanh chóng trong nửa sau của thế kỷ 19, biến Nhật Bản từ lạc hậu trở thành cường quốc, đánh thắng Nga và Trung Quốc, cạnh tranh ngang ngửa với những đế quốc phương Tây đầu thế kỷ 20? Và vì sao một nước Nhật bại trận trong thế chiến thứ 2, từ đống đổ nát lại có thể vươn lên mạnh mẽ, trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 thế giới chỉ trong một thế hệ (23 năm tính từ khi tuyên bố đầu hàng vô điều kiện sau khi bị Mỹ ném 2 quả bom nguyên năm 1945 cho tới khi tổ chức Thế vận hội Tokyo 1968)? Và ngày nay nước Nhật đang trở lại mạnh mẽ với vị thế của một cường quốc quân sự đích thực để duy trì hòa bình và an ninh trong khu vực trước những mối đe dọa mới.
– Vì sao chỉ hơn 20 năm sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, một số quốc gia Soviet cũ như Balan hiện đã đạt được mức phát triển gần ngang với Tây Âu, xã hội dân chủ, nhân văn và có thể tự tin đứng vững trước một nước Nga to lớn và hùng mạnh về quân sự.?
– Năm 1971, khi bị mất ghế ở Liên Hiệp Quốc; trước nguy cơ bị Bắc Kinh sát nhập. Đài Loan và nhất là Tưởng Kinh Quốc đã có những bước đi sáng suốt như thế nào để Mỹ thông qua đạo luật Đài Loan và ngầm hộ trợ về quốc phòng? Và vì sao Tưởng Kinh Quốc dám từ bỏ cả lợi ích của gia tộc để Đài Loan có một nền dân chủ và nhân quyền đáng ngưỡng mộ ở châu Á, điều làm cho Đài Loan khác biệt với Trung Quốc và vẫn có thể đứng vững trước những mối đe dọa.?
– Vì sao Thổ Nhỹ Kỳ cũng nằm ngay trên bờ Hắc Hải như Ukraine, nhưng nước Nga to lớn lại không thể mang quân vào Thổ dễ dàng như Crimea ? Vì sao Thổ Nhĩ Kỳ lại có một lực lượng mạnh trong NATO, có thể tự sản xuất cả những khí tài hiện đại như máy bay chiến đầu F-16 (mà nếu có chúng, Việt Nam sẽ bảo vệ biển đảo hữu hiệu hơn) trong khi trước Thế chiến thứ 2 Thổ cũng là một nước lạc hậu và phải liên tục thay đổi chính sách ngoại giao, khi ngả về Đức Quốc Xã, lúc thiên về Liên Xô, rồi cuối cùng lại tin tưởng theo Anh-Mỹ ?
– Và bên cạnh đó cũng là những bài học về sự thất bại trong việc bảo vệ chủ quyền như trường hợp của Tiệp Khắc những năm 1930, trong Thế chiến thứ Hai. Vì sao Tiệp Khắc khi đó có nền kinh tế, quân sự và khoa học hùng mạnh, là 1 trong 10 cường quốc ở châu Âu lại dễ dàng bị sát nhập và chiếm đóng bởi Đức Quốc Xã mà không tốn sức giao tranh? Vì sao những lãnh đạo của Tiệp Khắc khi đó lại để cho Hitler dễ dàng mang quân vào tiếp quản nước mình ?
Giáo sư Lê Xuân Khoa, một trí thức Việt Nam nổi tiếng ở hải ngoại có viết: “Trong quan hệ quốc tế, chỉ có lợi ích quốc gia là quan trọng hơn cả. Cũng như trong sự giao thiệp giữa các cá nhân, quyền lợi vị kỷ hay gia đình của mỗi người luôn luôn là ưu tiên được bảo vệ, mọi hình thức liên minh giữa các quốc gia đều chỉ tồn tại chừng nào mỗi thành viên còn thấy sự hợp tác đó có lợi ích cho xứ sở của mình …” Và cũng có một câu châm ngôn trong chính trị học quốc tế : “Không có bạn bè và kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có đồng minh giai đoạn và lợi ích vĩnh viễn là quan trọng”.
Theo dõi tình hình và những biến động của chính trị quốc tế trong thời gian gần đây như: diễn biến tại Ukraina và Thái Lan, căng thẳng và tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông Á và biển Đông Nam Á, với chính sách xoay trục của Hoa Kỳ khi chuyển trọng tâm về khu vực Châu Á-Thái Bình Dương … Sau hơn nửa thế kỷ, vị trí của Việt Nam hôm nay lại trở nên quan trọng và được quan tâm hơn bao giờ hết, nhưng mặt khác, đó cũng lại là một nguy cơ. Nhận thức được tầm quan trọng của tuyến hàng hải huyết mạch đi qua biển Đông, dự án kênh đào Kra của Thái Lan nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương thay cho sự quá tải của eo Mallaca sẽ được khởi động trong nay mai … tự nhiên Phú Quốc, Kiên Giang, Sài Gòn, Cam Ranh và vịnh Vân Phong của Việt Nam có tiềm năng sẽ trở thành những điểm sáng trên bản đồ địa chính trị và kinh tế thế giới nếu có thể tận dụng được cơ hội từ những sự vận động chuyển dịch này, vừa có thể thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa đất nước vừa bảo đảm an ninh quốc phòng.
Nhưng có thể chỉ 10 năm nữa thôi, tầm quan trọng đó và cả cơ hội đó có thể sẽ qua đi nếu chúng ta không thể tận dụng. Biết chủ động chiến lược hóa, quốc tế hóa, quan trọng hóa vị trí của quốc gia cũng như biết khai thác mối lo của các cường quốc sẽ làm cho vị trí của quốc gia quan trọng hơn trong tranh chấp quốc tế. Chính sách BA KHÔNG mà hiện nay chúng ta theo đuổi, có phải là một lựa chọn có lợi cho quốc gia và dân tộc?
Trước những đòi hỏi cấp bách đó của thời đại và vận nước đang lâm nguy, rõ ràng là chúng ta CẦN PHẢI THAY ĐỔI như câu khẩu hiệu, trong cuộc biểu tình chống giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc: “Vì một quốc gia cường thịnh, cần phải thay đổi” Nhưng thay đổi như thế nào? Làm sao để thay đổi? Thủ tướng với quá nhiều kinh nghiệm trong chính phủ, trên nhiều lĩnh vực từ quốc phòng, an ninh cho tới tài chính, vv. và guồng máy giúp việc cho thủ tướng hoàn toàn biết rất rõ. Vấn đề chỉ còn là: LIỆU CHÚNG TA CÓ DÁM THAY ĐỔI HAY KHÔNG?
Cũng theo một ý đúc kết của Giáo sư Lê Xuân Khoa: “Bài học cho Việt Nam về lợi ích quốc gia trong quan hệ hợp tác quốc tế là mọi hoạt động đều phải hưổng về sự xây dựng và duy trì một hệ thông chính quyền dân chủ thích hợp, và sự hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới để có thể vừa bảo vệ được những quyền lợi chính đáng của mình vừa tranh thủ được sự tôn trọng, hợp tác và giúp đỡ của các nước.” … “Những nhà lãnh đạo thật tâm yêu nước và có tài là những người biết rút ra được những bài học của quá khứ, những kinh nghiệm hay, dở của mình và của người để áp dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đem lại an ninh, thịnh vượng và hạnh phúc cho nhân dân.”
Thư đã dài, tới đây cháu xin dừng bút,
Thưa Thủ tướng,
Trong đời người, được chứng kiến lịch sử thay đổi là một điều may mắn và nhất là lại còn có khả năng để kiến tạo cho sự thay đổi đó. Thủ tướng đang là người thuyền trưởng có trách nhiệm lèo lái con thuyền quốc gia trong cơn bão tố mà tất cả thủy thủ cũng như hành khách trên tàu sẵn sàng chịu chung số phận. Tiếng kèn đang thúc giục để lịch sử sang trang. Người dân Việt Nam ở hải ngoại cũng như quốc nội sẽ đồng hành cùng với Thủ tướng. Cháu mong rằng những bạn trẻ Việt Nam, cùng thế hệ như cháu, càng ngày càng quan tâm tới chính trị, hiểu và nắm bắt được thời cuộc, để có sự đồng tình và ủng hộ đối với những bước đi của Thủ tướng.
Xin Thủ tướng hãy đi đầu và dẫn dắt cho sự thay đổi của đất nước Việt Nam, để chúng ta có thể vươn lên, có thể mở mày mở mặt, để những thế hệ tương lai có quyền: “Tự hào vì là người Việt Nam”
Dù còn rất nhiều khó khăn, trở ngại và vẫn còn đó những thế lực ngăn cản “chống phá” nhưng cháu có một niềm tin mãnh liệt là Thủ tướng SẼ THÀNH CÔNG và sẽ mang lại một cuộc ĐỔI ĐỜI cho dân tộc Việt Nam; và người dân của chúng ta có ngày sẽ có thể kiêu hãnh mà gọi tên Tổ quốc mình.
Và chúng ta cần phải bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc, bằng bất cứ giá nào. Và chắc chắn rằng, giàn khoan Hải Dương 981 sau này sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như là một sự kiện, bước ngoặt cho sự đổi thay của dân tộc.
Kính chúc Thủ tướng sức khỏe để đi trọn vẹn chặng đường này,
Bức tâm thư được viết trong tâm trạng lo âu và tấm lòng khi nghĩ về Tổ quốc và biển đảo. Đã có quá nhiều những lá thư ngỏ từ những trí thức nổi tiếng và nhân sĩ yêu nước ở cả trong và ngoài nước. Người viết chỉ mong muốn được góp một tiếng nói, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước của người Việt và nhất là thế hệ trẻ: Chúng ta hãy cùng quan tâm và biết lo những vấn đề hệ trọng của đất nước, để có một nước Việt Nam tốt đẹp hơn trong tương lai.
Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
Xóm làng là làng của ta
Xương máu ông cha làm ra
Chúng ta phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
Cánh đồng đơm đầy hương hoa
Công khó dân ta làm ra
Quyết tâm ta gìn giữ lấy
Nuôi nhau chung sống một nhà
Xóm giếng ta là tình quê hương
Chung sống vui bên ruộng nương
Có nhau để cùng chung sức
Vươn lên non nước hùng cường
Cõi đời là đời của ta
Nuôi dưỡng công lao mẹ cha
Lớn khôn để gìn giữ nước
Thay nhau xây đắp sơn hà
[1] (*) Ngày 4 tháng 6, Tưởng niệm sự kiện Thiên An Môn, Trung Quốc
Tàu hai nước tiếp tục va chạm hàng ngày tại vùng biển đặt giàn khoan
Trung Quốc đã đưa tranh cãi với Việt Nam xung quanh việc họ đặt giàn khoan trên Biển Đông ra Liên Hiệp Quốc hôm thứ Hai ngày 9/6, hãng tin Mỹ AP tường thuật từ trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York.
Theo đó, Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội ‘xâm phạm chủ quyền’ của họ và ‘cản trở một cách phi pháp’ hoạt động thăm dò của công ty dầu khí Trung Quốc.
Trung Quốc nói văn kiện lập trường kèm theo bản đồ vị trí tác nghiệp của doanh nghiệp Trung Quốc “cũng như tài liệu liên quan mà Việt Nam lâu nay công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa”.
Phó Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc Vương Minh đã gửi ‘thư bày tỏ lập trường’ của họ về hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 trên Biển Đông đến Tổng thư ký Ban Ki-moon hôm 9/6 và yêu cầu người đứng đầu tổ chức này cho lưu hành đến tất cả 193 quốc gia thành viên của Đại hội đồng.
Trong văn bản này, Trung Quốc nói đã có bốn công dân Trung Quốc ‘bị giết hại dã man’ và hơn 300 người bị thương trong các cuộc bạo loạn ở Việt Nam.
Lá thư cho biết Công ty dầu khí Hải dương quốc gia Trung Quốc đã có các hoạt động thăm dò địa chất ở khu vực này trong vòng 10 năm qua và việc đưa giàn khoan ra đây chỉ là ‘sự tiếp tục công việc thăm dò thường xuyên’ và giàn khoan này ‘nằm hoàn toàn trong phạm vi chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc’.
Bắc Kinh nói Hà Nội đã cản trở hoạt động của giàn khoan ‘một cách phi pháp và cưỡng ép’ với việc điều tàu có vũ trang ra khu vực và đâm tàu Trung Quốc.
Văn bản lên án các hành động của Việt Nam ‘đã xâm phạm chủ quyền Trung Quốc’, ‘đe dọa nghiêm trọng đến các công dân Trung Quốc đang làm việc trên giàn khoan và vi phạm luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển’.
Trung Quốc cũng đưa ra nhiều dẫn chứng chứng minh quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là Tây Sa ‘là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc mà không có bất kỳ tranh chấp nào’.
AP đã tìm cách gọi cho phái bộ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc và phát ngôn nhân của nước này để hỏi về phản ứng nhưng không có ai trả lời.
Trước đó, phái bộ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc đã gửi thư cùng công hàm lên Tổng Thư ký Ban Ki-moon để phản đối giàn khoan và các tàu hộ tống của Trung Quốc ‘trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam’
Vụ giàn khoan Hải Dương 981 là cơ hội cho Việt Nam?
Hành động Trung Quốc cắm giàn khoan trên vùng biển do Việt Nam quản lý đang làm sao nhãng sự quan tâm của dân chúng đến việc triển khai thi thành Hiến pháp sửa đổi.
Giàn khoan và Hiến pháp đều là những vấn đề ảnh hưởng to lớn đến sự đi lên của đất nước.
Tuy không mấy liên quan nhưng việc diễn giải triển khai Hiến pháp theo hướng nào sẽ tạo động lực hoặc kìm hãm đất nước phát triển, từ đó mà có được hay không lời giải lối ra cho những vụ giàn khoan về sau.
Bộ máy nhà nước
Chúng ta biết rằng Hiến pháp quy định về tổ chức bộ máy nhà nước. Tổ chức như thế nào, các thiết chế quan hệ với nhau ra sao, đều đã được nghiên cứu kỹ lưỡng hòng tìm ra một cơ chế hoạt động sao cho hiệu quả nhất.
Đặc thù ở Việt Nam là một đảng lãnh đạo đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cho nên tổ chức bộ máy nhà nước bên cạnh những điểm tương đồng thì cũng có điểm khác với mô hình chính quyền của các quốc gia dân chủ đa đảng.
Trong nhiều năm trở lại đây, vì vấn đề hiệu quả và để tạo sức bật cho đất nước phát triển, Đảng cộng sản đã phải tìm cách tổ chức thiết kế bộ máy nhà nước sao cho tiệm cận với mô hình tổ chức chính quyền của các quốc gia dân chủ.
Cụ thể: Hiến pháp năm 1992 chỉ có duy nhất một từ lập pháp trong câu Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, và không có từ hành pháp hay tư pháp. Người nước ngoài chắc sẽ khó tưởng tượng một hiến pháp lại thiếu đi những từ này.
Đến năm 2001 Quốc hội đã ban hành nghị quyết bổ sung vào Hiến pháp nội dung tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước là: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 thì đưa thêm vào từ “kiểm soát” sau từ “phối hợp” và tiến thêm một bước khi quy định cụ thể Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, chính phủ thực hiện quyền hành pháp, tòa án thực hiện quyền tư pháp.
Như thế mô hình nhà nước đã có dáng hình gần gũi với hệ thống tổ chức tam quyền phân lập hoat động theo nguyên lý cân bằng kiểm soát của chính quyền dân chủ.
Những sự thay đổi cho thấy vì quyền lợi của chính mình Đảng cộng sản chẳng thể nào bỏ qua được tinh hoa tri thức nhân loại đã được đúc rút kiểm chứng qua mấy trăm năm lịch sử kể từ khi ra đời Hiến pháp Mỹ.
Thực tế ở Việt Nam, bộ máy nhà nước không chỉ được vận hành theo Hiến pháp mà nó còn thường xuyên chịu tác động bởi hoạt động lãnh đạo của Đảng.
Tác giả nói bộ máy nhà nước thường xuyên chịu tác động bởi hoạt động lãnh đạo của Đảng
Các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước đều là thành viên trong các cơ quan ban bệ của Đảng, những người này không chỉ hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật mà trước nhất và trên hết họ hoạt động theo các Nghị quyết của Đảng.
Khi đó các thiết chế bộ máy nhà nước đã không vận hành theo các nguyên lý đã được tính toán, thiết kế, bố trí ở Hiến pháp. Phần mềm khoa học đã được lập trình cho bộ máy nhà nước lại bị vứt bỏ.
Thế khi các thiết chế bộ máy nhà nước hoạt động theo các nguyên lý của Đảng thay vì theo Hiến pháp thì có đảm bảo hiệu năng cho bộ máy không?
Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng có dung hợp được với các nguyên lý tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước không?
Đảng là tổ chức của những con người hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phục tùng chấp hành, trong khi bộ máy Nhà nước là tổ chức của các thiết chế vận hành với nguyên tắc phân công phối hợp hoặc cân bằng kiểm soát, như thế làm sao có thể dung hợp?
Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng có thể cũng mang tính khoa học nhưng mục tiêu của tổ chức đảng là chiếm lĩnh và duy trì quyền lãnh đạo, khác với mục tiêu của các thiết chế bộ máy nhà nước là thực hiện cho thật tốt chức năng nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định theo Hiến pháp.
Nếu Đảng chỉ lãnh đạo bằng đường lối chính sách với các mục tiêu dài hạn thì xem ra cũng ổn.
Nhưng thực tế Đảng lại hoạt động với những mục tiêu ngắn hạn và thường xuyên chỉ đạo cụ thể với từng vấn đề của đời sống đất nước phát sinh hàng ngày.
Giải pháp cho Đảng
Đảng muốn giữ quyền lãnh đạo đất nước và hẳn Đảng cũng muốn đất nước phát triển, nhưng thực tế Đảng mới chỉ thực hiện được vế thứ nhất, vế thứ hai thì chưa làm được.
Để làm được thực sự cũng không khó gì, Đảng chỉ cần mạnh dạn, tiến đến gần, chọn lấy và sử dụng các thành tựu của nhân loại, vận dụng một cách khôn ngoan hợp lý hơn.
Thực ra thì nhiều việc Đảng cũng đã làm rồi, ví như chủ trương bỏ đi không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp quận, huyện, xã, phường.
Nước Mỹ và hầu hết các nước dân chủ tiến bộ họ chỉ tổ chức hai cơ quan dân cử là Nghị viện liên bang và nghị viện bang, tương ứng với Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam.
Nhưng thay đổi như đó chưa đủ để đất nước phát triển. Để đất nước phát triển Đảng cần tiết giảm các hoạt động thường xuyên can thiệp vào bộ máy nhà nước, Đảng không làm thay cho nhà nước và hãy thay thế tư cách giải quyết vấn đề.
Cùng một vấn đề phải giải quyết, Đảng nên xử lý bằng tư cách các thiết chế bộ máy nhà nước thay vì tư cách Đảng. Để ra một chính sách thay vì cơ quan Đảng ra nghị quyết hãy để cho Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ quốc hội thực hiện.
Như thế sẽ không trái với Hiến pháp, giúp cho bộ máy nhà nước được vận hành theo đúng các nguyên lý khoa học đã thiết kế, tiệm cận với mô thức hoạt động của các chính quyền dân chủ tiến bộ.
Trong định hướng xây dựng quốc gia pháp quyền, Đảng cần thay thế tư cách giải quyết vấn đề để hợp lực được với sức mạnh của tính hợp hiến và hợp pháp.
Để Đảng không mất quyền lãnh đạo thì điều hợp lý cần làm hợp nhất Tổng bí thư và Bộ chính trị với Chủ tịch quốc hội và Ủy ban thường vụ quốc hội. Khi đó Đảng lãnh đạo bằng đường lối chính sách cũng tương hợp với Quốc hội ban hành luật.
Lối ra thoát Trung
Đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, nếu Đảng và Quốc hội thực hiện một lộ trình canh tân hệ thống, đổi mới theo hướng dân chủ tiến bộ sẽ tạo sức bật cho đất nước phát triển và đó cũng là giải pháp về lâu dà để thoát Trung.
Quốc hội có thể dành 100 ghế cho những người ngoài Đảng lâu nay vẫn có những quan điểm ý kiến khác với Đảng trên nhiều vấn đề.
Đó là những người vẫn quy kết Đảng độc quyền lãnh đạo, mất dân chủ và nhiều người trong số họ đã được quốc tế biết đến.
“Đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, nếu Đảng và Quốc hội thực hiện một lộ trình canh tân hệ thống, đổi mới theo hướng dân chủ tiến bộ sẽ tạo sức bật cho đất nước phát triển và đó cũng là giải pháp về lâu dà để thoát Trung.“
Số 100 ghế đại biểu Quốc hội có thể lấy từ các thành viên thuộc khối cơ quan hành pháp và tư pháp.
Điều này phù hợp với tinh thần của Hiến pháp sửa đổi đã phân định Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp còn Tòa án thực hiện quyền tư pháp.
Nếu làm được hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế sẽ thay đổi, thế giới khi thấy Việt Nam vận động theo hướng dân chủ, sẽ ủng hộ giúp đỡ Việt Nam trong vấn đề Biển Đông.
Không chỉ thế, khi Việt Nam dân chủ hóa sẽ thu hút làn sóng đầu tư mới từ quốc tế giúp cho nền kinh tế thoát khỏi tình trạng bi đát, dân nghèo có cơ may đổi đời.
Trong mối tương quan với Trung Quốc, một nước Việt Nam dân chủ hóa sẽ như nhát đốt của con ong lên cơ thể con thú Trung Quốc, sẽ khiến nó lồng lên mà bỏ chạy đi nơi khác.
Đó là giải pháp toàn vẹn vừa duy trì vị thế lãnh đạo của Đảng, vừa nâng cao dân chủ, vừa thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời lại giải quyết được các vấn đề đất nước như vụ giàn khoan và đạt được yêu cầu thoát Trung.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của trưởng văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự ở thành phố Nam Định.
Bảy bị cáo còn lại nhận các mức án từ hai đến tám năm tù, trong đó ông Lý Xuân Hải, cựu tổng giám đốc Ngân hàng ACB, bị án tám năm tù.
Đây được xem là một trong những vụ án lớn nhất, phức tạp nhất và cũng gây tranh cãi nhất trong vài năm gần đây.
‘Luật có như không’
Ngay sau phiên tòa, viết trên trang Facebook cá nhân, luật sư Lê Công Định cho rằng: “Tội lớn nhất của anh Kiên là đã chứng minh rằng ở đất nước này luật pháp có như không.”
Còn nhà báo Huy Đức viết một bài phân tích dài, đặt câu hỏi: “Nếu trong hai tuần vừa qua Bầu Kiên được xét xử trước một bồi thẩm đoàn, liệu Tòa có dám để các dự thẩm biểu quyết (có tội hay không có tội) trước quá nhiều vấn đề pháp lý bị bỏ qua như thế.”
Ám chỉ vụ án có yếu tố chính trị, ông Huy Đức nhận xét: “Hôm nay chính trị có nhu cầu chuyên chính với Bầu Kiên thì ngày mai chính trị cũng có thể có nhu cầu ngược lại.”
Mức án sơ thẩm
1.Nguyễn Đức Kiên (SN 1964): 30 năm tù cho 4 tội danh (Kinh doanh trái phép; Trốn thuế; Cố ý làm trái; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản).
2. Lê Vũ Kỳ (SN 1956): 5 năm (trước đó đề nghị từ 7 đến 8 năm tù)
3. Trịnh Kim Quang (SN 1954): 4 năm tù (trước đó đề nghị 6 đến 7 năm tù.
4. Phạm Trung Cang (SN 1954): 3 năm tù (trước đó đề nghị 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 5 năm)
5. Lý Xuân Hải (SN 1965): 8 năm tù. Cấm đảm nhiệm các chức vụ ngân hàng trong 5 năm (trước đó đề nghị 12 đến 14 năm tù).
6. Huỳnh Quang Tuấn (SN 1958): 2 năm tù (trước đó đề nghị 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 5 năm).
7. Trần Ngọc Thanh (SN 1952): 5 năm 6 tháng tù (trước đó đề nghị 9 đến 10 năm tù).
8. Nguyễn Thị Hải Yến (SN 1969): 5 năm tù (trước đó đề nghị 7 đến 8 năm tù).
(Nguồn: Báo Tiền Phong)
“Lúc đó, những người tiến hành tố tụng sẽ phải đối diện với một mục tiêu chuyên chính khác.”
Về thông điệp của bản án, ông Huy Đức cho rằng nó cho thấy “không ai trong thể chế này có khả năng tìm kiếm cho mình sự an toàn pháp lý”.
‘Nghiêm minh, răn đe’
Trong khi đó, trả lời BBC hôm 9/6, ông Bùi Kiến Thành, một doanh nhân Việt kiều Mỹ đang sống ở Hà Nội, lại khẳng định vụ án cần được xử “nghiêm minh, để răn đe”.
“Không riêng gì ông Kiên, rất nhiều người ở trong tình trạng giống ông Kiên mà chưa bị truy tố,” ông Bùi Kiến Thành nói.
Theo tường thuật của báo chí trong nước, ông Kiên, trước tòa, đã nói rằng “cơ quan điều tra hình sự hóa quan hệ kinh tế”.
Nhưng ông Bùi Kiến Thành lại cho rằng các tội danh không chỉ mang tính chất kinh tế.
“Các tội danh đều là vấn đề hình sự. Những vấn đề đưa ra xét xử, không thể nói đó chỉ là quản lý kinh tế mà rõ ràng có yếu tố hình sự trong đó.”
Về thông điệp của phiên tòa, ông Thành nói đó là tín hiệu người kinh doanh “phải tôn trọng luật pháp”.
“Sau vụ án này, các lãnh đạo ngân hàng phải quan tâm hơn nữa về trách nhiệm của mình.”
“Cơ quan quản lý nhà nước phải tôn trọng luật pháp, có biện pháp để tránh các sai phạm khác,” ông Thành nói.
Tường thuật của ngư dân và clip về việc tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc bao vây, đuổi và đâm chìm làm tôi nhớ lại một chuyện thời sinh viên.
Hôm đó, tôi thấy trong một thư viện của đại học một quyển sách với một chuỗi hình chụp từ máy bay. Những hình này chụp lại cảnh một chiếc thuyền cuả người Việt tỵ nạn trong thập niên 1980 bị nhiều thuyền hải tặc bao vây. Thuyền hải tặc dùng bạt che số hiệu và đâm húc cho đến khi chiếc thuyền xấu số chìm. Không biết bao nhiêu sinh mạng đã bị dập tắt trong lòng biển. Lần này may mắn là các nạn nhân được cứu.
Từ năm 2009, Trung Quốc đã đâm húc tàu thuyền ngư dân Việt Nam, bắn họ, đánh đập họ, bắt họ, đòi tiên chuộc, cướp phá hoại tài sản của họ biết bao nhiêu lần. Hoàng Sa thì từ khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, họ khăng khăng là không có tranh chấp, không có gì để đàm phán. Trong cuộc đối đầu về giàn khoan HD-981, họ đã đâm hư hại 24 tàu của cơ quan nhà nước Việt Nam, coi nhà nước Việt Nam không ra gì.
Trung Quốc không nhượng bộ
Với thực tế đó, còn có gì để nấn ná với khái niệm “kiên trì đàm phán” nữa? Chắc chắn là Trung Quốc sẽ không nhượng bộ gì về chủ quyền đối với các đảo. Về vùng đặc quyền kinh tế có thể có chung quanh các đảo nói chung và vấn đề giàn khoan HD-981 nói riêng, nếu Trung Quốc có nhượng bộ, chắc chắn là họ sẽ ra giá. Giá đó có thể là công nhận “chủ quyền Trung Quốc” trên quần đảo và trong vùng nội thủy và lãnh hải mà họ tuyên bố, hay là để cho họ cùng khai thác trong vùng Tư Chính – Nam Côn Sơn. Thậm chí, cũng có thể một trong những mục đích chính của Trung Quốc trong việc triển khai giàn khoan Hải Dương 981 là để gây áp lực buộc Việt Nam cho họ cùng khai thác trong vùng Tư Chính – Nam Côn Sơn.
Như vậy, thực chất của biện pháp “kiên trì đàm phán” chính là vì “đại cục” mà hy sinh Hoàng Sa, và vùng biển Hoàng Sa có thể có. Biện pháp thứ nhì, đối đầu trên thực địa, là không thể thiếu được, nhưng là một cuộc chiến không cân sức cho Việt Nam. Việt Nam phải bổ xung bên cạnh lòng dũng cảm, sự chịu đựng và hy sinh của cảnh sát biển Việt Nam, kiểm ngư và ngư dân với biện pháp thứ ba: biện pháp pháp lý.
Ngày 23/5, bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Luật pháp quốc tế Bộ Ngoại giao Việt Nam trả lời phóng viên Reuters, “Cá nhân tôi là một luật gia, tôi luôn luôn hỏi mình khi nào là thời điểm để sử dụng biện pháp pháp lý. Tuy nhiên, chúng ta phải chờ đợi quyết định của Chính phủ.” Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Chính trị sẽ quyết định “thời điểm nào hợp lý” cho việc kiện. Tuy không phải là luật gia, tôi cũng tự hỏi, “Bao giờ Bộ Chính trị Việt Nam mới quyết định xử dụng biện pháp pháp lý, một biện pháp hòa bình, văn minh, và là biện pháp duy nhất trong đó Việt Nam có thể chiến đấu một cách bình đẳng với Trung Quốc?”
Dường như có điều gì đó làm họ chần chừ. Có phải là họ ngại trả đũa kinh tế từ Trung Quốc chăng?
Hệ quả?
Ngày xưa, khi trả lời câu hỏi “Hòa hay chiến?”, có lẽ lãnh đạo và người dân Đại Việt cũng đã nghĩ tới những hệ quả xấu cho nông nghiệp từ vó ngựa Mông Cổ. Có lẽ họ cũng đã nghĩ đến chiến lược đồng không nhà trống có thể ảnh hưởng đến kinh tế thế nào. Và họ còn phải nghĩ sẽ sinh bao nhiêu xương máu trước quân đội thiện chiến nhất thế giới lúc đó. Nhưng trả lời của họ vẫn là trả lời mãi có tiếng thơm trong lịch sử.
Ngày nay, câu hỏi không khắc nghiệt bằng “Hòa hay chiến?”, nó là “Kiện hay không kiện?” (Kiện ở đây là kiện Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS trong sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, không phải là kiện để đòi lại Hoàng Sa, vì không có tòa nào có thẩm quyền để thụ lý vụ kiện kiện để đòi lại Hoàng Sa).
Việt Nam tổ chức họp báo lên án Trung Quốc
Ngày nay, việc ra tòa để giải quyết tranh chấp là một phương tiện văn minh. Hàng chục nước trên thế giới đã ra tòa để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, trong đó có cả Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Singapore và Indonesia. Philippines cũng đã phải hỏi câu hỏi “Kiện hay không kiện?”, và họ đã có một trả lời không bị cột vào nỗi sợ Trung Quốc sẽ trả đũa kinh tế, hay nỗi sợ nào đó khác.
Trả lời của Bộ chính trị cho câu hỏi “Kiện hay không?” sẽ trả lời những câu hỏi, “Lãnh đạo Việt Nam có dùng tất cả các biện pháp hòa bình không? Có dùng tất cả những biện pháp cần thiết không? Có dùng tất cả những biện pháp trong đó Việt Nam có thể đấu tranh một cách bình đẳng không?”.
“Trung Quốc đã cố ý triển khai giàn khoan ở một địa điểm mà Việt Nam có thể đơn phương kiện. Có thể đó là phép thử của họ, xem lãnh đạo Việt Nam có dám kiện hay không. “
Trả lời cho những câu hỏi đó sẽ là những chỉ số quan trọng về lãnh đạo Việt Nam đối phó với Trung Quốc thế nào trong cuộc tranh chấp có tính sống còn cho Việt Nam, có thể giúp chúng ta dự đoán về tương lai, và có thể giúp Trung Quốc đánh giá về ý chí trên thực tế của lãnh đạo Việt Nam.
Trung Quốc đã cố ý triển khai giàn khoan ở một địa điểm mà Việt Nam có thể đơn phương kiện. Có thể đó là phép thử của họ, xem lãnh đạo Việt Nam có dám kiện hay không. Nếu Trung Quốc cho rằng lãnh đạo Việt Nam sợ trả đũa kinh tế, hay sợ điều gì khác, cho nên không dám kiện, họ sẽ lấn tới và làm cho tình hình của Việt Nam nguy khốn hơn.
Hiện nay, cảnh sát biển và kiểm ngư đang dũng cảm thi hành nhiệm vụ của họ, ngư dân Việt Nam đang kiên trì bám biển dưới mũi tàu sắt Trung Quốc, lòng dân đang bức xúc, nhưng chưa biết Bộ chính trị sẽ thi hành nhiệm vụ của họ thế nào.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của tác giả, một thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.
Phần phát biểu của các tổ chức tôn giáo, hội nhóm XHDS
*
Đại diện hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Thượng tọa Thích Thiện Minh cho rằng hiện nay công đoàn của nhà nước được thành lập chỉ để phục vụ cho lợi ích của đảng cộng sản. Tổ chức công đoàn vẫn là những người có chức có quyền trong công ty và nhận lương từ giới chủ, chứ không phải là từ những công nhân để bảo vệ quyền lợi cho chính mình.
Chính vì đó, mà công nhân đứng lên đình công, biểu tình không được hướng dẫn dẫn dắt sẽ trở thành làm những việc sai trái thậm chí vi phạm pháp luật như các vụ vừa qua ở Vũng Áng, và Bình Dương. Ba bạn trẻ của chúng ta là Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng là những người tự nguyện thành lập công đoàn để hướng dẫn, bảo vệ quyền lợi cho các công nhân. Tuy nhiên điều nghịch lý là những bạn trẻ đó lại bị nằm trong lao tù. Chúng tôi thấy rằng các việc làm của bạn trẻ là đúng đắn phù hợp với xu thế quốc tế, phù hợp với các công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã kí kết và tham gia.
Hiện nay, nhà nước có ý đưa ra mô hình XHDS nhỏ giọt, nhưng thuộc quản lý của nhà nước cho nên chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Vì vậy, các hội đoàn độc lập cần lên tiếng và hành động mạnh mẽ hơn để bảo vệ lợi ích cho những người công nhân.
*
Hội Bầu Bí tương thân là một hội hoạt động về vấn đề từ thiện, giúp đỡ những trường hơp đấu tranh dân chủ bị đàn áp. Anh Hoàng Dũng đại diện cho hội BBTT nhận thấy rằng hiện nay các anh em đấu tranh dân chủ còn gặp rất nhiều khó khăn do những hạn chế từ phía chính quyền. Để mọi người có thể ngồi lại với nhau cùng bàn luận như vậy là cả một quá trình dài với rất nhiều mất mát, hi sinh. Những người như Bs Nguyễn Đan Quế, Thượng tọa Thích Thiện Minh, cũng như anh Phạm Bá Hải, Phạm Chí Dũng… đã phải chịu tù tội rất nhiều.
Hội cũng mong rằng trong tương lai gần sẽ có một công đoàn thật sự đấu tranh cho công nhân và những người như Hạnh, Chương, Hùng sẽ được phóng thích và họp mặt với chúng ta như ngày hôm nay.
*
Đại diện Mạng lưới blogger Việt Nam blogger Nguyễn Hoàng Vi khẳng định lời nói cần phải đi đôi với việc làm. Trong thời gian qua, mặc dù mới thành lập nhưng Mạng lưới blogger Việt Nam đã tập trung vào quyền Tự do ngôn luận như phổ biến tuyên ngôn quốc tế nhân quyền cho người dân. Ngoài ra, các blogger còn vận động Liên hiệp quốc và quốc tế đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam để cải thiện tình trạng nhân quyền.
Còn về việc thành lập công đoàn độc lập, các blogger cho rằng hiện nay lực lượng công nhân ở Việt Nam chưa có hội đoàn nào lãnh đạo dẫn tới vụ việc đáng tiếc ở Vũng Áng và Bình Dương. Trong thời gian sắp tới, các tổ chức XHDS khác nên hỗ trợ thiết thực để thành lập hội đoàn thực sự vì quyền và lợi ích chính đáng của người công nhân.
*
Chức sắc các tôn giáo như Chánh trị sự Hứa Phi (Cao Đài), Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, ông Lê Văn Sóc PGHH, Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (Hội Thánh Chuồng Bò) phát biểu rằng tôn giáo không chỉ chăm lo đời sống tinh thần cho cá nhân mỗi con người mà còn phải nghĩ đến vận mệnh đất nước. Đất nước có vẹn toàn, tự do, dân chủ thì tôn giáo mới có thể sinh hoạt trong yên bình. Tuy các vị tu sĩ không thể tham gia làm chính trị nhưng sẽ luôn ủng hộ, là nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của dân do, dân chủ ở Việt Nam.
*
Trên phương diện người làm truyền thông, đại diện truyền thông Dòng Chúa Cứu Thế cô Anna Huyền Trang cho biết điều kiện còn hạn hẹp nên có những vụ vi phạm nhân quyền ở những vùng xa mà truyền thông DCCT không thể đưa tin. Vì vậy, nên tổ chức thêm các khóa học cơ bản về truyền thông để những người chứng kiến sự việc có thể tường thuật ngắn gọn trên mạng xã hội giúp truyền thông có thể đưa tin chính xác, đầy đủ hơn.
*
Anh Phạm Bá Hải đại diện tổ chức Bạch Đằng Giang Foundation cho biết tổ chức BĐGF hoạt động chủ yếu về vấn đề tự thiện giúp đỡ nạn nhân của các vụ vi phạm nhân quyền. Trong mục tiêu của hội nêu rất rõ là cổ võ việc thành lập Công đoàn độc lập. Và chính điểm này là điểm mấu chốt, khiến cho Hội gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề hoạt động. Quan điểm từ phía an ninh luôn là công đoàn thì phải là của nhà nước chứ không phải từ công nhân lập ra.
Thời điểm này chúng ta phải làm mọi việc để thúc đẩy việc ra đời công đoàn độc lập và những người vì việc này phải bị trả giá trước kia sẽ là những người chủ chốt khi Công đoàn độc lập ra đời.
*
Kết thúc cuộc họp, các tổ chức XHDS tham gia đều tán thành việc thành lập một Công đoàn độc lập trong thời gian tới. Đồng thời sẽ có những sự hỗ trợ thiết thực cho công nhân trong thời gian chuẩn bị. Mọi người cũng đồng ý soạn thảo một bản lên tiếng về Công đoàn độc lập cũng như yêu cầu chính quyền trả tự do cho Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng.
Những trường hợp bị sách nhiễu và ngăn chặn
Công an, an ninh tuy không hành hung những người đến tham dự, tuy nhiên đã có những sự việc xảy ra như là ngăn chặn ông Nguyễn Văn Điền (Út Điền) và Nguyễn Văn Thơ (Năm Thơ) thuộc PGHH. Ông Điền kể lại vụ việc như sau:
– Khoảng 12h đêm, tôi và ông Nguyễn Văn Thơ đi lên Sài Gòn để tham dự cuộc họp các tổ chức XHDS. Vừa ra khỏi nhà thì gặp một toán CA tỉnh Đồng Tháp do trung tá Minh chặn đường không cho chúng tôi đi. Sau một lúc tranh cãi, họ nói với chúng tôi rằng họ thích xài luật rừng nên ko cho chung tôi đi. Họ đuổi xe khách không cho chúng tôi lên xe. Những người công an chặn chúng tôi không mặc sắc phục, họ không nói lí do chặn đường chúng tôi. Công an nói tôi là ai ông ko cần biết nhưng tôi có quyền không cho ông đi, vậy thôi. Bắt buộc hai chúng tôi phải quay trở về nhà, sáng nay họ vẫn còn bao vây nhà tôi, và đang đứng canh ngoài cửa.
Đặc biệt đầu đường Lương Định Của, lực lượng an ninh cho xe máy xúc đổ đất chắn 2/3 con đường, dùng dây barie ngăn chặn không cho các xe taxi chạy về chùa Liên Trì. Phái đoàn của Cao Đài đã phải đi bộ đến địa điểm họp mặt.
Công đoàn độc lập phải là tổ chức xã hội do chính công nhân thành lập, thật sự hướng đến công nhân, lấy công nhân làm trung tâm và bảo vệ quyền lợi thiết thực của mỗi công nhân trong từng nhà máy, xí nghiệp.
Công đoàn độc lập không thể là một tổ chức hữu danh vô thực như Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (TLĐLĐVN) và các cấp công đoàn cơ sở của hệ thống nhà nước, khi các tổ chức này đã chỉ được biết đến như một khâu trung gian hưởng thụ 2% trên tổng quỹ lương doanh nghiệp mà chưa hề đồng thuận với bất kỳ yêu cầu biểu thị chính đáng nào của công nhân trong gần 1.000 cuộc đình công tự phát hàng năm.
Về mặt pháp lý, bất kỳ cuộc đình công nào cũng phải có sự chấp thuận của TLĐLĐVN. Nhưng thực tế đã minh chứng một sự thật quá chua chát là TLĐLĐVN chưa bao giờ lãnh đạo, tổ chức hoặc hỗ trợ bất kỳ vụ đình công nào. Tất cả các cuộc đình công ở Việt Nam đều mang tính tự phát nhưng đều bị xem là bất hợp pháp. Thậm chí các cuộc đình công phản đối hành động xâm lăng của Trung Quốc đã vượt tầm kiểm soát như đã xảy ra trong tháng qua. Trong các vụ biểu tình của công nhân ở Bình Dương, Đồng Nai và Hà Tĩnh các tổ chức của TLĐLĐVN, được mang danh là đại diện của công nhân, đã hoàn toàn vô dụng và để cho những kẻ xấu lợi dụng gây bạo loạn làm hoen ố hình ảnh công nhân Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung. Nếu có công đoàn độc lập do chính công nhân lập ra, thì chắc chắn sự việc đáng tiếc như vậy đã không xảy ra.
Quyền lên tiếng
Quyền được lên tiếng để tự bảo vệ những lợi ích của mình trước giới chủ và trước những chính sách bất hợp lý của Nhà nước về thuê và sử dụng lao động là quá cấp thiết đối với hầu hết 5 triệu công nhân Việt Nam!
Quyền được tự thành lập một tổ chức công đoàn độc lập của công nhân càng trở nên bức bách trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã bị các nhóm lợi ích tham tàn ở đất nước này đẩy vào tình thế suy thoái và khủng hoảng trong suốt gần 7 năm qua. Không những không được cải thiện, mức thu nhập bình quân của công nhân còn bị giảm tương đối 25-30% trong khi mặt bằng giá cả tăng vọt từ 2-3 lần từ ít nhất năm 2011 đến nay. Tại nhiều nhà máy và xí nghiệp, công nhân phải làm việc ít nhất 10 giờ mỗi ngày và sáu ngày một tuần, nhưng mức thu nhập hoàn toàn không đủ sống. Tình trạng thảm thương đó vẫn tiếp tục tăng tiến bất chấp Việt Nam đã có cơ hội tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ năm 2007, nhưng đã chỉ trở thành cơ hội để hố phân hóa giữa 5% số người có thu nhập cao nhất với 5% người nghèo nhất ước tính lên đến ít nhất 60-70 lần.
Một khi đã không thể biểu diễn được lòng thành và khả năng nâng cao mức sống và quyền lợi cho công nhân sau WTO, không có gì bảo đảm là các chính sách của Nhà nước và doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam sẽ làm cho đời sống người công nhân đỡ khốn khổ hơn nếu nhà nước này được chấp nhận tham gia vào cơ chế thương mại Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong thời gian tới.
Phải thành lập Công đoàn độc lập
Truyền thống quan tâm đến chính sách an sinh xã hội và quyền lợi người lao động của những quốc gia có ảnh hưởng lớn nhất trong TPP là Hoa Kỳ và Nhật Bản đã khiến Nhà nước Việt Nam phải đối diện với một điều kiện bất khả kháng: muốn vào TPP, Việt Nam phải chấp nhận mô hình Công đoàn độc lập.
Những tổ chức nghiệp đoàn lao động có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ như American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations, Communications Workers of America, International Brotherhood of Teamsters và International Brotherhood of Electrical Workers đều đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc Việt Nam gia nhập hiệp định TPP, nếu nhà nước này không thỏa mãn điều kiện hình thành Công đoàn độc lập, không thực hiện những cải cách quan trọng về luật lao động và tự do dân sự, không trả tự do vô điều kiện do cho hàng loạt nhà hoạt động công đoàn độc lập như Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương… đã bị bắt giam và bị xử tù.
Chúng tôi, các tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam, đồng thanh tuyên bố ủng hộ hoàn toàn:
1. Công đoàn độc lập do chính công dân Việt Nam thành lập và điều hành.
2. Giới thiệu người tham gia và kêu gọi công nhân gia nhập hội viên.
3. Vận động các quốc gia và các tổ chức quốc tế ủng hộ và bảo vệ.
Đại diện các tổ chức XHDS Việt Nam ký tên:
1. Bach Dang Giang Foundation: Ths. Phạm Bá Hải
2. Cao Đài: Ông Hứa Phi, Bà Bạch Phụng
3. Cao Trào Nhân Bản: Bs. Nguyễn Đan Quế
4. Con Đường Việt Nam: Ông Hoàng Văn Dũng
5. Công Giáo: Lm. Đinh Hữu Thoại
6. Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự: Ts. Nguyễn Quang A
7. Hiệp Hội Dân Oan: Ông Nguyễn Xuân Ngữ
8. Hội Ái Hữu Cựu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo: Kỹ sư Trương Minh Nguyệt, Ls. Nguyễn Bắc Truyển
9. Hội Anh Em Dân Chủ: Ls. Nguyễn Văn Đài, Ký giả Trương Minh Đức
10. Hội Bầu Bí Tương Thân: Ông Nguyễn Lê Hùng
11. Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm: Bs. Nguyễn Đan Quế, Lm. Phan Văn Lợi
12. Hội Phụ Nữ Nhân Quyền: Bà Dương Thị Tân, Cô Huỳnh Thục Vy
13. Khối 8406: Lm Phan Văn Lợi
14. Phật Giáo Hòa Hảo: Cụ Lê Quang Liêm, Tu sĩ Lê Minh Triết
15. Phong Trào Liên Đới Dân Oan: Bà Trần Ngọc Anh
16. Tăng Đoàn PGVNTN: HT. Thích Không Tánh
17. Tin Lành: MS Nguyễn Hoàng Hoa, MS Nguyễn Mạnh Hùng
Công nhân Bình Dương biểu tình chống Trung Quốc ngày 14/05/2014 với các biểu ngữ khẳng định chủ quyền biển đảo đồng thời kêu gọi có thái độ đúng mực. REUTERS/Stringer
Ngày 08/06/2014, các hội đoàn dân sự tại Việt Nam đã ra tuyên bố kêu gọi thành lập Công đoàn độc lập. Theo đó, Công đoàn độc lập phải là một tổ chức xã hội do chính công nhân lập ra và thực sự bảo vệ quyền lợi cho công nhân. Tuyên bố được 17 tổ chức xã hội dân sự và đại diện các tôn giáo Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo ký tên.
Các hội đoàn dân sự cho rằng : « Công đoàn độc lập không thể là một tổ chức hữu danh vô thực như Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và các cấp công đoàn cơ sở. Các tổ chức này chỉ như một khâu trung gian hưởng 2% trên tổng quỹ lương doanh nghiệp mà chưa hề đồng thuận với bất kỳ yêu cầu chính đáng nào của công nhân trong gần 1.000 cuộc đình công tự phát hàng năm ».
Trong các vụ biểu tình của công nhân ở Bình Dương, Đồng Nai và Hà Tĩnh, các tổ chức trên đã « hoàn toàn vô dụng và để cho kẻ xấu lợi dụng gây bạo loạn làm hoen ố hình ảnh công nhân Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung ».
Tuyên bố cho rằng quyền được tự thành lập một tổ chức Công đoàn độc lập đối với 5 triệu công nhân càng trở nên bức bách trong bối cảnh thu nhập bình quân giảm 25-30%, còn giá cả lại tăng vọt hai đến ba lần từ 2011 đến nay. Hơn nữa, Việt Nam khó thể gia nhập TPP (Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương) nếu không có những cải cách quan trọng về luật lao động và tự do dân sự.
Trả lời RFI Việt ngữ, luật sư Nguyễn Văn Đài, đại diện Hội Anh em Dân chủ cho biết lý do các hội đoàn đưa ra lời kêu gọi như trên :
Phiên tòa sơ thẩm gây nhiều chú ý với ông Nguyễn Đức Kiên (còn gọi là Bầu Kiên) và các bị cáo đã kết thúc với mức án 30 năm tù cho ông Kiên.
Cho rằng bị cáo Nguyễn Đức Kiên giữ vai trò “quan trọng, chủ mưu, không khai báo thành khẩn”, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội đã tuyên án 30 năm tù và bắt nộp phạt hơn 75 tỷ đồng.
Cụ thể, ông Kiên bị phạt 20 tháng tù về tội kinh doanh trái phép, 18 năm tù về tội cố ý làm trái, 6 năm 6 tháng tù về tội trốn thuế và 20 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đây là mức án Viện kiểm sát Hà Nội đề nghị, và là mức tối đa đối với các tội danh.
‘Không thành khẩn’
Về tội Cố ý làm trái, Hội đồng xét xử cho rằng chủ trương ủy thác cho 19 nhân viên gửi hơn 718 tỷ đồng vào Vietinbank (sau đó đã bị một trưởng phòng giao dịch của Vietinbank là bà Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt) và đầu tư mua cổ phiếu trên thị trường là “hoàn toàn sai”, do thực hiện nghiệp vụ gửi tiền “trước khi Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực”, Tuổi Trẻ dẫn lời cho biết.
Hội đồng xét xử cũng bảo lưu quan điểm của Viện kiểm soát, cho rằng “ông Kiên chỉ đạo chuyển nhượng 20 triệu cổ phần đã thế chấp cho Công ty cổ phần thép Hòa Phát để chiếm đoạt 264 tỷ đồng (khoảng 13 triệu đôla). Do nhận định ông Kiên “không thành khẩn nhận tội”, Hội đồng đề nghị “có mức hình phạt nghiêm khắc”, và phạt thêm ông Kiên 100 triệu đồng.
Các tội kinh doanh trái phép và trốn thuế của ông Kiên có liên quan đến việc hoạt động kinh doanh vàng trên thị trường của ông này. Cụ thể, trong giai đoạn 2007-2012 ông Kiên thành lập sáu công ty để “kinh doanh tài chính và kinh doanh vàng trạng thái trái phép”, với số tiền lên tới hơn 21.490 tỷ đồng (một tỷ đôla).
Mức án sơ thẩm
1.Nguyễn Đức Kiên (SN 1964): 30 năm tù cho 4 tội danh (Kinh doanh trái phép; Trốn thuế; Cố ý làm trái; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản).
2. Lê Vũ Kỳ (SN 1956): 5 năm (trước đó đề nghị từ 7 đến 8 năm tù)
3. Trịnh Kim Quang (SN 1954): 4 năm tù (trước đó đề nghị 6 đến 7 năm tù.
4. Phạm Trung Cang (SN 1954): 3 năm tù (trước đó đề nghị 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 5 năm)
5. Lý Xuân Hải (SN 1965): 8 năm tù. Cấm đảm nhiệm các chức vụ ngân hàng trong 5 năm (trước đó đề nghị 12 đến 14 năm tù).
6. Huỳnh Quang Tuấn (SN 1958): 2 năm tù (trước đó đề nghị 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 5 năm).
7. Trần Ngọc Thanh (SN 1952): 5 năm 6 tháng tù (trước đó đề nghị 9 đến 10 năm tù).
8. Nguyễn Thị Hải Yến (SN 1969): 5 năm tù (trước đó đề nghị 7 đến 8 năm tù).
(Nguồn: Báo Tiền Phong)
Trong đó, công ty B&B của ông Kiên thu lãi hơn 100 tỷ đồng trong năm 2009, nhưng bị tố cáo không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (25 tỷ đồng). Tòa tuyên phạt ông Kiên gấp ba lần số tiền trên, tức 75 tỷ đồng (3,54 triệu đôla).
Phần lớn các bị cáo khác trong vụ án được giảm nhẹ hình phạt so với đề nghị của Viện kiểm sát: nguyên Tổng giám đốc ACB Lý Xuân Hải (8 năm tù giam, đề nghị 12-14 năm); nguyên Phó chủ tịch ACB Trịnh Kim Quang (4 năm tù giam, đề nghị từ 6-8 năm); và nguyên Phó chủ tịch ACB Lê Vũ Kỳ (5 năm tù giam, đề nghị 6-8 năm).
Hai nguyên Phó chủ tịch khác của ACB là ông Phạm Trung Cang và Huỳnh Quang Tuấn nhận án phạt nhẹ nhất, lần lượt là 3 năm và 2 năm tù giam, tuy vậy tăng nặng so với đề nghị hưởng án treo của Viện kiểm sát.
Một bị cáo khác, ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư, nguyên Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng ACB, đã được tạm đình chỉ điều tra với lý do “mắc bệnh hiểm nghèo”.
‘Điều tra vợ và em gái’
Ông Nguyễn Đức Kiên hiện phủ nhận tất cả các cáo trạng trên, cho rằng bị oan và “cơ quan điều tra hình sự hóa quan hệ kinh tế”.
“Tôi bị buộc tội bốn tội danh trong khi cá nhân tôi trong 20 tháng qua đã có nhiều đơn, nhiều lần trả lời bản cung cơ quan điều tra, tôi cho rằng tôi không có tội, tôi bị oan,” ông Kiên nói.
Truyền thông Việt Nam cũng đưa tin Hội đồng xét xử yêu cầu công an “tiếp tục điều tra làm rõ” cáo buộc giúp ông Kiên trốn thuế đối với bà Đặng Ngọc Lan (vợ ông Kiên) và Nguyễn Thúy Hương (em gái ông Kiên).
Tòa án cũng đọc quyết định khởi tố tiếp hai vụ án hình sự mới về tội “Kinh doanh trái phép xảy ra tại ngân hàng ACB” và vụ án hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Vietinbank”.
Công đoàn độc lập phải là tổ chức xã hội do chính công nhân thành lập, thật sự hướng đến công nhân, lấy công nhân làm trung tâm và bảo vệ quyền lợi thiết thực của mỗi công nhân trong từng nhà máy, xí nghiệp.
Công đoàn độc lập không thể là một tổ chức hữu danh vô thực như Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (TLĐLĐVN) và các cấp công đoàn cơ sở của hệ thống nhà nước, khi các tổ chức này đã chỉ được biết đến như một khâu trung gian hưởng thụ 2% trên tổng quỹ lương doanh nghiệp mà chưa hề đồng thuận với bất kỳ yêu cầu biểu thị chính đáng nào của công nhân trong gần 1.000 cuộc đình công tự phát hàng năm.
Về mặt pháp lý, bất kỳ cuộc đình công nào cũng phải có sự chấp thuận của TLĐLĐVN. Nhưng thực tế đã minh chứng một sự thật quá chua chát là TLĐLĐVN chưa bao giờ lãnh đạo, tổ chức hoặc hỗ trợ bất kỳ vụ đình công nào. Tất cả các cuộc đình công ở Việt Nam đều mang tính tự phát nhưng đều bị xem là bất hợp pháp. Thậm chí các cuộc đình công phản đối hành động xâm lăng của Trung Quốc đã vượt tầm kiểm soát như đã xảy ra trong tháng qua. Trong các vụ biểu tình của công nhân ở Bình Dương, Đồng Nai và Hà Tĩnh các tổ chức của TLĐLĐVN, được mang danh là đại diện của công nhân, đã hoàn toàn vô dụng và để cho những kẻ xấu lợi dụng gây bạo loạn làm hoen ố hình ảnh công nhân Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung. Nếu có công đoàn độc lập do chính công nhân lập ra, thì chắc chắn sự việc đáng tiếc như vậy đã không xảy ra.
Quyền lên tiếng
Quyền được lên tiếng để tự bảo vệ những lợi ích của mình trước giới chủ và trước những chính sách bất hợp lý của Nhà nước về thuê và sử dụng lao động là quá cấp thiết đối với hầu hết 5 triệu công nhân Việt Nam!
Quyền được tự thành lập một tổ chức công đoàn độc lập của công nhân càng trở nên bức bách trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã bị các nhóm lợi ích tham tàn ở đất nước này đẩy vào tình thế suy thoái và khủng hoảng trong suốt gần 7 năm qua. Không những không được cải thiện, mức thu nhập bình quân của công nhân còn bị giảm tương đối 25-30% trong khi mặt bằng giá cả tăng vọt từ 2-3 lần từ ít nhất năm 2011 đến nay. Tại nhiều nhà máy và xí nghiệp, công nhân phải làm việc ít nhất 10 giờ mỗi ngày và sáu ngày một tuần, nhưng mức thu nhập hoàn toàn không đủ sống. Tình trạng thảm thương đó vẫn tiếp tục tăng tiến bất chấp Việt Nam đã có cơ hội tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ năm 2007, nhưng đã chỉ trở thành cơ hội để hố phân hóa giữa 5% số người có thu nhập cao nhất với 5% người nghèo nhất ước tính lên đến ít nhất 60-70 lần.
Một khi đã không thể biểu diễn được lòng thành và khả năng nâng cao mức sống và quyền lợi cho công nhân sau WTO, không có gì bảo đảm là các chính sách của Nhà nước và doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam sẽ làm cho đời sống người công nhân đỡ khốn khổ hơn nếu nhà nước này được chấp nhận tham gia vào cơ chế thương mại Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong thời gian tới.
Phải thành lập Công đoàn độc lập
Truyền thống quan tâm đến chính sách an sinh xã hội và quyền lợi người lao động của những quốc gia có ảnh hưởng lớn nhất trong TPP là Hoa Kỳ và Nhật Bản đã khiến Nhà nước Việt Nam phải đối diện với một điều kiện bất khả kháng: muốn vào TPP, Việt Nam phải chấp nhận mô hình Công đoàn độc lập.
Những tổ chức nghiệp đoàn lao động có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ như American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations, Communications Workers of America, International Brotherhood of Teamsters và International Brotherhood of Electrical Workers đều đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc Việt Nam gia nhập hiệp định TPP, nếu nhà nước này không thỏa mãn điều kiện hình thành Công đoàn độc lập, không thực hiện những cải cách quan trọng về luật lao động và tự do dân sự, không trả tự do vô điều kiện do cho hàng loạt nhà hoạt động công đoàn độc lập như Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương… đã bị bắt giam và bị xử tù.
Chúng tôi, các tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam, đồng thanh tuyên bố ủng hộ hoàn toàn:
1. Công đoàn độc lập do chính công dân Việt Nam thành lập và điều hành.
2. Giới thiệu người tham gia và kêu gọi công nhân gia nhập hội viên.
3. Vận động các quốc gia và các tổ chức quốc tế ủng hộ và bảo vệ.
Đại diện các tổ chức XHDS Việt Nam ký tên:
1. Bach Dang Giang Foundation: Ths. Phạm Bá Hải
2. Cao Đài: Ông Hứa Phi, Bà Bạch Phụng
3. Cao Trào Nhân Bản: Bs. Nguyễn Đan Quế
4. Con Đường Việt Nam: Ông Hoàng Văn Dũng
5. Công Giáo: Lm. Đinh Hữu Thoại
6. Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự: Ts. Nguyễn Quang A
7. Hiệp Hội Dân Oan: Ông Nguyễn Xuân Ngữ
8. Hội Ái Hữu Cựu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo: Kỹ sư Trương Minh Nguyệt, Ls. Nguyễn Bắc Truyển
9. Hội Anh Em Dân Chủ: Ls. Nguyễn Văn Đài, Ký giả Trương Minh Đức
10. Hội Bầu Bí Tương Thân: Ông Nguyễn Lê Hùng
11. Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm: Bs. Nguyễn Đan Quế, Lm. Phan Văn Lợi
12. Hội Phụ Nữ Nhân Quyền: Bà Dương Thị Tân, Cô Huỳnh Thục Vy
13. Khối 8406: Lm Phan Văn Lợi
14. Phật Giáo Hòa Hảo: Cụ Lê Quang Liêm, Tu sĩ Lê Minh Triết
15. Phong Trào Liên Đới Dân Oan: Bà Trần Ngọc Anh
16. Tăng Đoàn PGVNTN: HT. Thích Không Tánh
17. Tin Lành: MS Nguyễn Hoàng Hoa, MS Nguyễn Mạnh Hùng
Thủ đô Washington DC nắng đẹp, rừng cây xanh, thảm cỏ xanh với đủ loại hoa phô diễn giữa bàu trời xanh trong lành. Tha hương ngộ cố tri. Cảnh đẹp càng thêm tuyệt vời khi gặp lại bạn cũ xa vắng lâu ngày trên đất bạn, cách quê hương một đại dương.
Hai bạn vong niên tôi gặp lại hôm nay là anh Cù Huy Hà Vũ và chị Dương Hà, vợ anh. Tôi vốn là bạn thân với 2 nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận. Kỷ niệm vui của tôi với Huy Cận là từng lững thững bên bờ sông Seine giữa Paris cùng đọc thơ
“Nắng chia nửa bãi chiều rồi,
Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá sầu …”.
Hà Vũ ôm tôi, xúc động, gọi tôi bằng “chú” trong khi mắt cụ già gần 90 xuân xanh này ngấn lệ. Cũng như tôi từng bồi hồi lo cho anh khi anh bị bắt rồi vào nhà tù với bản án trả thù quá nặng 7 năm tù và 3 năm quản chế, khi anh bị những cơn đau tim trong tù do bệnh tim bẩm sinh.
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Nhà báo Bùi Tín tại tượng đài tưởng niệm nạn nhân Cộng Sản. (Hình: Nguyễn Quốc Khải)
Hai ngày dạo quanh thủ đô Washington DC giữa thiên nhiên lộng lẫy đầy hoa, Hà Vũ kể không hết chuyện. Chuyện trong tù dĩ nhiên là đầy ắp. Chuyện bị bắt, bị lấy cung, chuyện cãi trước tòa. Chuyện phiên xử phúc thẩm. Chuyện sinh hoạt trong tù. Rồi 4 lần tuyệt thực, nhưng hồi phục cũng nhanh, chỉ trong 3 ngày lên gần 4 kí. Sút cân sức giảm, nói hụt hơi, nhưng vẫn cố hét to để tỏ phong độ với các “em cai tù “. Mọi người cười vang khi Hà Vũ kể anh đã dày công, nhân danh người hiểu sâu luật pháp, huấn luyện lại cho số cai tù trẻ về những hiểu biết sơ đẳng về nhân quyền, về tôn trọng nhân phẩm của người tù, từ đó chấm dứt thói buộc người tù gọi các cai tù là “ông“ và xưng “cháu” cho dù cai tù chỉ đáng tuổi con cháu của tù nhân. Qua đó Hà Vũ được phần lớn cai tù nể trọng, gọi là “tiến sỹ luật”, có người còn gọi đùa với ẩn ý quý mến là “thưa tổng thống”.
Hà Vũ kể rằng anh đã để lại trong trại hơn 2 ngàn trang nhật ký – 15 tập vở khổ A4 – anh cần cù viết đều đặn, được trại giam lưu giữ nhân bản gửi về bộ Công an, ghi lại những suy nghĩ của anh về chế độ, về nhà tù, về các diễn biến thời sự, về tương lai đất nước. Sắp đến anh sẽ cố nhớ và ghi lại, dù biết rằng rồi sẽ có lúc anh có thể thu hồi lại nguyên bản những trang gốc ấy được hiến pháp bảo hộ.
Tuy nhiên anh đã tìm cách gửi ra đăng trên các mạng internet bài “Vận nước nhìn từ Trường Sa”, bài “30/4/1975: Giai nhân và Quái vật”, đặc biệt là bản góp ý về bản hiến pháp 1992. Đến nay quản lý trại giam vẫn không biết anh làm cách nào để chuyển ra ngoài những tài liệu ” nóng” ấy. Anh cười vui: việc làm chính nghĩa bao giờ cũng có người tiếp sức dù bất kỳ ở đâu.
Hà Vũ khẳng định rằng việc chính quyền toàn trị buộc phải thả anh ra mà không có một thỏa thuận hay điều kiện nào giữa các bên. Phía Hoa Kỳ chỉ làm cho họ hiểu rằng nếu không thả luật sư Cù Huy Hà Vũ thì mọi chuyện trong quan hệ 2 nước sẽ ách tắc, từ kinh tế, tài chánh, an ninh quốc phòng đến bán vũ khí sát thương, trao đổi về an toàn hạt nhân.
Trước khi lên chiếc máy bay Korean Air Line lúc 18 giờ tối 6/5, đại diện bộ CA dúi vào tay anh tờ quyết định “tạm hoãn thi hành án vì lý do sức khỏe “, không một lời giải thích nào khác. Xe ô tô đưa thẳng anh từ Yên Định ra sân bay Nội Bài. Tại đây cô Dương Hà chờ anh. Anh yêu cầu ghé về nhà riêng trên đường Điện Biên Phủ để thắp hương trước bàn thờ Cụ thân sinh, họ không hé miệng trả lời. Chiến thuật ngậm tăm.
Điều rất lý thú là phía Hoa Kỳ rất trọng thị khi thuyết phục anh nhận lời mời sang Hoa Kỳ để nghỉ ngơi và làm việc. Bà Jennifer L. Neidhart de Ortiz tham tán đặc trách về nhân quyền của sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội đến trại giam nói rõ rằng “Chính phủ Hoa Kỳ rất quan tâm đến trường hợp của Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, mời ông sang Hoa Kỳ để có dịp thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, qua đó thúc đẩy quá trình dân chủ hóa Việt Nam và góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa 2 nước Mỹ – Việt ”.
Cuối cùng bà Jenifer nói: “Chúng tôi rất vui mừng và vinh dự được ông tiếp nhận lời mời” – We are very pleased and honored by your acceptance. Bà thuyết phục rằng: ”Chúng tôi mời ông sang Hoa Kỳ vì lợi ích chung thiết thực“ – by significant public interest, còn khẳng định: ông sẽ làm việc trong môi trường được kính trọng nhất là môi trường Đại học. Cuộc đối thoại được quay phim, ghi âm, với sự có mặt của ông Mạnh, phiên dịch của sứ quán Hoa Kỳ.
Trên con đường ra sân bay, đại diện Hoa Kỳ còn nói rõ phía chính phủ Hoa Kỳ có nhã ý sẵn sàng tiếp nhận thân nhân cùng đi theo luật sư Hà Vũ như các con và cháu ông nếu như ông muốn. Anh Hà Vũ rất xúc động cám ơn thiện chí đặc biệt ấy và nói rõ anh quan tâm trước hết là bắt tay vào làm việc vì nhân dân và đất nước.
Đến Hoa Kỳ là những ngày bận rộn thu xếp chỗ ăn ở và gặp ngay một số thượng nghị sỹ và dân biểu Hoa Kỳ, đặc biệt là ông Ben Cardin Chủ tịch Tiểu ban Đông Á – Thái Bình Dương đúng vào lúc ông chuẩn bị sang Hà Nội. Anh Hà Vũ dứt khoát yêu cầu phía Mỹ cần tạo áp lực mạnh hơn đòi tự do ngay cho tất cả người tù chính trị, chấm dứt việc họ dùng làm con tin để mặc cả, để câu giờ, nhất là khi bành trướng Trung Quốc phơi bày rõ dã tâm xâm lược nước ta. Đây là một thời cơ lớn.
Anh cho biết anh chậm ra mắt họp báo để cám ơn đồng bào trong ngoài nước cũng là do phải làm một số việc gấp và tìm hiểu xem những điều kiện làm việc sắp tới sẽ ra sao, có thể có hiệu quả thiết thực hay không.
Hà Vũ sẽ làm gì trên đất Mỹ? Con người say mê hành động, và hành động sao cho có hiệu quả này đang có nhiều dự tính. Nước Mỹ sẽ tạo cho anh những điều kiện tuyệt hảo. Trung tâm Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy) mời anh làm việc như một nhà nghiên cứu, một giáo sư. Anh đã tốt nghiệp Luật và Kinh tế ở Pháp. Anh cũng từng du học ở Hoa Kỳ. Đại học Thủ đô – Washington University cùng một số Đại học khác đã mời anh đến nói chuyện, giảng bài. Anh vui mừng có dịp đóng góp phần thiết thực của mình cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước đầy cam go thử thách, nhưng cũng đầy cảm hứng mới mẻ.
Anh đang ôn nhớ lại lịch sử Việt Nam mà anh là nhân chứng sống. Anh hiểu rõ vụ Cải cách Ruộng đất. Anh biết rõ vụ Nhân văn Giai phẩm. Anh biết sâu nền Pháp lý cũng như nền Tư pháp VN. Anh hiểu chi ly bộ máy an ninh chìm nổi, hệ thống Công an Việt Nam. Anh hiểu người dân mình, đồng bào mình, tuổi trẻ và nhịp thở của xã hội. Trong anh còn có tâm hồn nghệ sỹ dễ rung cảm, anh là họa sỹ, có những bức tranh độc đáo, xuất thần.
Hôm nay anh Hà Vũ và chị Dương Hà cùng bè bạn đi dạo cảnh thủ đô Hoa Kỳ, ghé thăm Đài Tưởng niệm chiến tranh Việt Nam và đặc biệt là Tượng tưởng niệm 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản. Đài đặt tại góc 2 đại lộ Massachusetts và New Jersey, chỉ cách Tòa nhà Quốc Hội chừng 1 kilomet, hình một phụ nữ giương cao ngọn đuốc Tự Do. Tượng màu đen tuyền, biểu thị niềm đau xót mất mát, để nhắn nhủ, thức tỉnh mọi người còn sống rằng: Chủ nghĩa Cộng sản áp dụng vào thực tế cuộc sống chỉ là chết chóc, chiến tranh, đói khổ lầm than không sao kể xiết, là tội ác còn kinh khủng gấp bội tội ác của bọn phát xít Hit Le.
Bức tượng được khánh thành ngày 12/6/2007 bởi tổng thống G.W.Bush, có đại diện của hơn 60 nước; đại diện của VN là nhà thơ Nguyễn Chí Thiện từng ở tù của Cộng sản Việt Nam hơn 27 năm.
Tại đây chúng tôi nói với nhau rằng làm sao để những người Việt Nam còn mang danh hiệu Cộng sản có dịp đến đây tìm hiểu và suy ngẫm về chủ nghĩa CS hiện thực, được coi là Tội Ác, là Ác Quỷ của thế kỷ XX đã qua, và rút ra cho mình bài học bổ ích nhất cho mỗi người, khi mỗi người chỉ có một cuộc đời.
Cù Huy Hà Vũ từng là nạn nhân sống của chủ nghĩa CS toàn trị. Anh bị họ bạc đãi, vu cáo, trả thù một cách hèn hạ, độc ác. Anh đã tự vượt lên bằng nghị lực, nhân cách, trí tuệ của mình và cùng nhân dân và thế giới dân chủ giành lại tự do cho bản thân.
Hôm nay đứng trước bức tượng tiêu biểu cho hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa CS đồng nghĩa với Tội Ác trên toàn thế giới, Hà Vũ lớn tiếng tuyên bố: “Tôi còn sống ngày nào là tôi dồn hết sức mình cho cuộc đấu tranh khốc liệt nhằm sớm loại trừ chủ nghĩa cộng sản toàn trị tội ác trên đất nước Việt Nam thân yêu, cùng nhân dân giành lại quyền sống tự do trong nhân phẩm “.
Chị Dương Hà ghi âm lời của người chồng quý mến của mình vào máy ảnh nhỏ. Là một nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS VN, chị kể ngay tại địa điểm này:” Em không ngủ yên. Suốt 2 năm 8 tháng anh ở trong tù, tâm trạng em luôn hoảng loạn. Đêm nghe tiếng chuông reo là tưởng như tim ngừng đập. Nghĩ ngay có thể là tin anh ấy mất trong trại giam. Mình góa chồng từ đêm nay.” Chị lau nước mắt, rồi nở một nụ cười tươi.
Cuộc rong chơi hôm nay ngang dọc thủ đô Washington DC thật vui, niềm vui sâu lắng của hội ngộ, của “ly hương ngộ cố tri”, trên đất tự do giữa mùa hoa nở, khi hoa Dân chủ của Trí tuệ và Tâm huyết loài người cũng đang bừng nở lan tỏa ra toàn thế giới, không thể bỏ sót một khu vực, một vùng, một góc nào trên trái đất tuyệt vời này.
* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.
CTV Danlambao – Sáng ngày 4/6/2014, đúng vào ngày tưởng niệm 25 năm vụ thảm sát Thiên An Môn, một cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã bất ngờ diễn ra ngay trước cổng chính của tòa Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại Sài Gòn (175 Hai Bà Trưng, Quận 3).
Mặc dù diễn ra trên quy mô nhỏ, nhưng sự xuất hiện đột ngột của khoảng hơn 10 người biểu tình với khí thế mạnh mẽ đã khiến lực lượng công an sắc phục tại hiện trường tỏ ra hoàn toàn bị động.
Sáng ngày 8/6/2014, trong lúc dân phòng đang sách nhiễu nhóm bạn trẻ nhặt rác tại công viên Tao Đàn (Sài Gòn) thì bất ngờ xuất hiện một người đàn ông quẩy gánh nước đến để mời mọi người uống miễn phí.
Đáng chú ý, người đàn ông gánh nước mang theo hai tấm biểu ngữ viết tay với nội dung: “Nước nhà không bán” và “Mất nước là chết”. Dường như những thông điệp trên đã khiến lực lượng an ninh thường phục thấy ‘nhột’ và hoảng sợ, nên đã ra lệnh cho dân phòng kéo đến sách nhiễu, lôi kéo và đòi ‘hốt’ người đàn ông này về trụ sở công an phường.
Sau một hồi giằng co quyết liệt và được sự hỗ trợ của nhiều bà con nhân dân, người đàn ông cuối cùng cũng đã mang được gánh nước sang bên kia đường để mời mọi người nghỉ mệt và uống nước miễn phí.Đây quả là một hành động thông minh, táo bạo của người dân Sài Gòn trước những kẻ tay sai bán nước hèn với giặc, ác với dân. Đặc biệt, lối chơi chữ hết sức khôn khéo và sáng tạo của người đàn ông gánh nước trong video đã khiến chế độ công an trị trở thành trò cười đối với nhân dân cả nước.
Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.
Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin , Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.
Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này
Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam . (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.
Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.
Ví dụ như Việt Nam , là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.
Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam . Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.
Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.
Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.
Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore . Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.
Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.
Cuộc cạnh tranh cuối cùng
Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.
Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.
Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.
Tại sao tôi lại tin vào thành công dài hạn của Hoa Kỳ
Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.
Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.
Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore . Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.
Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.
Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.
Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York . Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge ). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.
Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.
Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York , bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.
Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.
Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.
Lý Quang Diệu
Thứ Sáu, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Dịch: Nguyễn Việt Vân Anh
Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
HONGKONG 7-6 (NV) – Thêm tài liệu cho thấy Trung Quốc đang ráo riết thực hiện kế hoạch lấn chiếm ở Biển Đông mà hiện đang lộ dần một đảo nhân tạo có cả phi trường, cảng biển ở Trường Sa.
Đồ họa đảo nhân tạo Johnson South Reef (Việt Nam gọi là Gạc Ma, Trung Quốc gọi là Xích Qua Tiêu) với phi trường, cảng biển hiện Trung Quốc đang ra sức tạo dựng từ bãi đá ngầm. (Hình: SCMP)
Theo tờ South China Morning Post (SCMP) hôm Thứ Bảy, những gì tổng thống Phi Luật Tân Benigno Aquino tố cáo những ngày gần đây đang đang được giới chuyên viên Trung Quốc nhìn nhận.
Bắc Kinh đang biến bãi đá ngầm Gạc Ma (Xích Qua Tiêu) cướp của Việt Nam năm 1988 thành một đảo nhân tạo khổng lồ. Trên đó có cả phi đạo cho máy bay lên xuống, cảng biển riêng cho tàu quân sự và tàu dân sự. Lại còn có cả khu vực gia cư, khu du lịch, tất cả xây dựng trên đảo nhân tạo đang được các máy hút cát dưới lòng biển làm thành dần dần.
Khi tổng thống Phi tố cáo tuần trước, ông chỉ có những tấm hình chụp không ảnh các hoạt động hút cát để xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở khu vực nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Phi. Tấm đồ họa của báo SCMP cho người ta nhìn thấy rõ hơn về quy mô của đảo nổi Xích Qua Tiêu mà 64 người lính CSVN đã thiệt mạng năm 1988 vì bị tàu Trung Quốc xả súng bắn chết để cướp bãi đá ngầm này.
Khi Xích Qua Tiêu (Chi Gua Jiao) trở thành một căn cứ qui mô nổi trên biển rộng khoảng 30 hecta, căn cứ của Việt Nam xây dựng tại đảo đá Cô Lin ( khoảng 1.9 hải lý tây bắc Gạc Ma) chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ so với đảo nhân tạo Gạc Ma hay Xích Qua Tiêu. Nó sẽ là nơi để Bắc Kinh phô diễn sức mạnh quân sự để uy hiếp cả Phi Luật Tân và Việt Nam ở quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Riêng với Phi Luật Tân thì an nguy quốc gia của họ bị đe dọa thật gần.
Theo các nhà phân tích thời sự, hành động đang thực hiện của Trung Quốc là đi từ phòng vệ sang tấn công. Khi phi trường ở Xích Qua Tiêu hoàn thành, với phi trường đã có sẵn ở đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa, Bắc Kinh sẽ có cớ thành lập “vùng nhận dạng phòng không trên biển” trùm cả Biển Đông. Đây là điều từng được nhiều nước lo ngại sẽ xảy ra khi Bắc Kinh tuyên bố vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông năm ngoái.
Bắc Kinh chối không lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông nhưng khi đã có phi trường ở cả hai đầu đông tây của Biển Đông rồi, chuyện gì cũng có thể xảy đến.
Các đảo và bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa. (Hình: Wikipedia)
Cùng với việc gấp rút xây dựng căn cứ quy mô trên đảo nhân tạo Xích Qua Tiêu, theo SCMP, Trung Quốc đang có kế hoạch biến bãi đá ngầm Fiery Cross Reef (Việt nam gọi là đá Chữ Thập, Trung Quốc gọi là Vĩnh Thử Tiêu (Yongshu Jiao) theo một kế hoạch tương tự. Bãi đá ngầm Gạc Ma (Xích Qua Tiêu) thuộc cụm đảo Sinh Tồn, trong khi đá Chữ Thập (Vĩnh Thử Tiêu) thuộc cụm Nam Yết.
Bãi đá ngầm Chữ Thập có chiều dài tính theo trục đông bắc-tây nam là 14 hải lý (gần 26 km) và chiều rộng là 4 hải lí (7.4 km); tổng diện tích đạt 110 km². Trừ một tảng đá cao 1 m nổi lên ở phần đuôi phía tây nam thì nhìn chung đá này chìm dưới nước khi thủy triều lên. Nếu Trung Quốc biến bãi đá ngầm này thành đảo nổi, nó có thể sẽ lớn gấp nhiều lần so với Xích Qua Tiêu (hay Gạc Ma).
Theo Kim Lạn Vinh (Jin Canrong), một giáo sư ngành bang giao quốc tế tại đại học Nhân Dân ở Bắc Kinh được SCMP thuật lời, đề án biến bãi đá ngầm Vĩnh Thử Tiêu (hay Chữ Thập theo cách gọi của Việt Nam) đã được đệ trình nhà cầm quyền trung ương Trung Quốc để chấp thuận. Khi kế hoạch xây dựng hoàn tất, nó sẽ lớn gấp đôi căn cứ quân sự Diego Garcia của Hoa Kỳ rộng 44 km2 trên Ấn Độ Dương.
Lý Kiệt, một chuyên viên hải quân tại Viện nghiên cứu Hải quân Trung Quốc, nói căn cứ trên đảo nhân tạo Vĩnh Thử Tiêu cũng sẽ gồm cả phi trường và cảng biển. Hiện nơi này đang là một căn cứ nhỏ mà hơn 20 năm trước, Bắc Kinh cho xây dựng một đài quan sát phục vụ cơ quan nghiên cứu hải dương của Unesco.
Theo Kim Lạn Vinh, việc xây dựng đảo nhân tạo tại Vĩnh Thử Tiêu sẽ được thực hiện tiếp theo và tùy thuộc sự tiến triển của đảo nhân tạo Xích Qua Tiêu (Gạc Ma). Tháng trước tin tức xì ra trên báo chí Trung Quốc cho hay đảo nhân tạo tại Xích Qua Tiêu ngoài phi trường, cảng biển có thể biếp nhận các tàu lên đến 5,000 tấn.
Tại quần đảo Trường Sa, bắt đầu từ năm 1988, Trung Quốc mới bắt đầu đi cướp của Việt Nam một số bãi đá ngầm gồm Đá Xu Bi thuộc cụm Thị Tứ; Đá Chữ Thập , Đá Ga Ven thuộc cụm Nam Yết; Đá Gạc Ma,Đá Tư Nghĩa thuộc cụm Sinh Tồn; Đá Châu Viên thuộc cụm Trường Sa; và Đá Vành Khăn thuộc cụm Bình Nguyên. (TN)
Học sinh trường trung học Trần Phú – Hoàn Kiếm ở Hà Nội, ảnh chụp hôm 15/09/2011. RFA PHOTO
Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn giảng dạy tại Đại học Bách Khoa Grenoble của Pháp vào ngày 10 tháng 5 vừa qua tham dự Bàn tròn về Giáo dục chủ đề ‘Những nguyên lý căn bản về giáo dục Việt Nam’ do Hội Khoa học và Chuyên gia Việt Nam tổ chức.
Sau khi tham dự hội thảo về giáo sư dành cho biên tập viên Gia Minh của Đài Á Châu cuộc nói chuyện về các vấn đề liên quan giáo dục Việt Nam.
Triết lý giáo dục Pháp – Việt
Gia Minh: Giáo sư vừa tham dự Bàn tròn về giáo dục ở Paris với chủ đề: những nguyên lý căn bản của giáo dục Việt Nam. Giáo sư cũng đã giảng dạy hàng chục năm ở Việt Nam và ở Pháp, vậy Giáo sư có thể trình bày triết lý giáo dục của hai nước không?
GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Vâng, tôi được hân hạnh tham dự *Bàn tròn về giáo dục do AVSE tổ chức tại Paris ngày 10/5/2014.
Cho phép tôi, do sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp tại Việt Nam và sự tương đồng của hai nền giáo dục, được bắt đầu bằng việc nhắc lại triết lý của giáo dục Pháp.
Mỗi hệ thống giáo dục là kết quả của một nền văn hóa và lịch sử nên không thể đem ra so sánh một cách hời hợt.
Triết lý giáo dục Pháp:
Có thể nói rằng những nguyên lý giáo dục của Pháp bắt nguồn từ cuộc cách mạng 1789. Từ đó nhiều luật lệ đã được ban hành.
Các giá trị về nền cộng hòa trong trường học được phổ biến qua các khái niệm sau đây:
Tự do “liberté” (về tư tưởng, phát biểu và di chuyển).
Bình đẳng “égalité” (cùng có quyền như nhau về dân sự, kinh tế và xã hội: học tập, công việc, sức khỏe).
Bác ái “fraternité” (đối với những người cùng xứ sở và với loài người nói chung ở phạm vi toàn cầu).
Theo Hiến pháp ngày 27/10/1946, nhà nước đảm bảo quyền bình đẳng của trẻ em và người lớn về học tập, đào tạo nghể và văn hóa. Việc tổ chức hệ thống giáo dục công cộng miễn phí và phi tôn giáo ở mọi cấp độ là trách nhiệm của nhà nước.
Tính phi tôn giáo (laïcité) có nghĩa rằng nhà trường phải được bảo vệ chống áp lực của các tổ chức tôn giáo, chính trị hay kinh tế. Có tính bắt buộc và phục vụ tất cả mọi người, nhà trường không thể trở thành con tin của một chính phủ hay một đảng phái chính trị nào, của nhà thờ hay các quyền lợi thương mãi.
Chương trình của các trường cấp 1, cấp 2 và cấp 3 có tính quốc gia, cũng như bằng cấp được phát ra. Trường học của nền cộng hòa phải dân chủ và bình đẳng.
Điều luật định hướng năm 2013 tái khẳng định cam kết của nhà nước trong việc cung cấp cho trẻ em, trong suốt giai đoạn giáo dục bắt buộc (15 tuổi) một trình độ văn hóa cao, do sự thu thập được một khối kiến thức cơ bản chung.
Tính hỗn hợp (mixité) và bình đẳng giữa nam và nữ được khuyến khích.
Theo luật giáo dục, các trường ở mọi cấp với nhiệm vụ chuyển tải và giúp đỡ việc tiếp nhận các phương pháp làm việc và kiến thức, phải nhấn mạnh trách nhiệm dân sự và sự tôn trọng quyền công dân.
Ba nhiệm vụ chính của trường học là: dạy dỗ, giáo dục và đào tạo.
Dạy dỗ chính là truyền đạt những kiến thức mang tính khách quan và duy lý để giúp học sinh hiểu được xã hội và thế giới. Mục tiêu của dạy dỗ là nhằm tạo ra một con người có khả năng tự suy nghĩ và tự hành động. Chỉ có văn hóa mới có thể cung cấp những hình mẫu cần thiết cho sự phát triển của học sinh.
Nhà trường quy tụ những mối liên hệ quý báu giữa các thế hệ, thông qua kiến thức, kinh nghiệm và giá trị từ những người đi trước. Quá trình truyền đạt sự hiểu biết đó đảm bảo sự tiến bộ của xã hội, đồng thời đóng góp vào sự khai phóng của thế hệ trẻ.
Giáo dục trẻ em chính là chuẩn bị để cho trẻ em sống trong xã hội. Jean-Jacques Rousseau nói rằng chúng là động vật duy nhất có thể giáo dục được. Việc nuôi dạy trẻ em, tất nhiên, là trách nhiệm của cha mẹ, nhưng nhà trường cũng có nhiệm vụ tiếp tục và hoàn thiện nó.
Nhiệm vụ của giáo dục là xã hội hóa trẻ em, đưa các em hòa nhập vào văn hóa thế giới với những chuẩn mực và giá trị của nó.
Giáo dục trẻ em là phát triển khả năng của chúng về mặt trí tuệ, khoa học, nghệ thuật và thể chất. Khi trưởng thành, các em sẽ là những con người độc lập, tự chủ và có trách nhiệm đạo đức. Nhờ những kĩ năng học được từ nhà trường, các em sẽ có thể hòa nhập vào đời sống kinh tế và xã hội bằng cách hướng đến các nghề nghiệp mà mỗi em đã tự lựa chọn.
“Khi sinh ra, chúng ta còn yếu, chúng ta cần sức mạnh, chúng ta thiếu tất cả, chúng ta cần sự hỗ trợ, chúng ta thiếu sự hiểu biết, chúng ta cần sự suy xét. Tất cả những gì mà chúng ta không có lúc sinh ra mà chúng ta lại cần là rất lớn là được giáo dục mang đến.” (Jean -Jacques Rousseau).
Đào tạo một công dân có khả năng thực hiện những lựa chọn sáng suốt về chính trị là bổn phận của nhà trường. Nhà trường nên lưu ý học sinh cần quan tâm đến các môn địa lý, lịch sử, khuyến khích học sinh tham gia vào các cuộc tranh luận về văn hóa, khoa học hay chính trị với sự tò mò hiểu biết để sẵn sàng đảm nhận những trách nhiệm một cách nghiêm chỉnh.
Làm chủ các hành động và suy nghĩ của mình, sinh viên sẽ là một con người tự do. Sự tự chủ của mỗi cá nhân đi đôi với một đầu óc sáng suốt.
Sinh viên phải có tinh thần phê phán, độc lập, hành xử có trách nhiệm phù hợp với các giá trị dân chủ và lợi ích chung.
Để đào tạo được một con người theo đúng nghĩa của nó, giáo dục phải cho phép sự phát triển đầy đủ về mặt nhân cách của mỗi cá nhân. Tục ngữ có câu: “Trồng cỏ phải tính từng tuần, trồng cây từng tháng, trồng người hàng thế kỷ.”
Mỗi cá nhân phải có sự tự do suy nghĩ. Sự phân loại và lựa chọn kiến thức của “một đầu óc sáng suốt hơn là một đầu óc đầy ắp” (Montaigne) sẽ được thực hiện dễ dàng hơn nhờ sự trau dồi về khả năng suy xét.
Khi các sinh viên trở thành nhà doanh nghiệp, họ phải tránh những quyết định vội vã, thiếu suy xét bởi “khoa học không lương tâm là sự băng hoại của tâm hồn.” (Rabelais).
Trong một thế giới số và đa văn hóa, nhà trường có khả năng và trách nhiệm vun đắp sự hiểu biết rộng rãi những nền văn hóa khác nhau, nhằm khắc sâu những giá trị về lòng độ lượng và sự hỗ trợ lẫn nhau. Những thói quen, phong tục, truyền thống, biểu tượng của mỗi quốc gia phải được tôn trọng. Các nền văn hóa biểu hiện sự phong phú và giàu có của tất cả các dân tộc.
Triết lý giáo dục Việt Nam:
Một học sinh đang đọc sách Lịch Sử và Địa Lý, ảnh minh họa. Photo courtesy of vtc.
Tôi biết rõ triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa vì tôi đã có dịp giảng dạy 8 năm trời ở hai Trường Cao đẳng Điện học và Cao đẳng Công chánh của Trung Tâm Quốc gia Kỹ thuật Sàigòn (nay là Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh).
Năm 1958, tại hội nghị quốc gia về giáo dục, những nguyên tắc căn bản sau đây đã được đề nghị và chấp thuận: dân tộc, nhân văn và khai phóng.
Năm 1967, Việt Nam Cộng hòa đã sáng suốt ghi vào Hiến pháp các nguyên tắc trên.
Thú thật tôi chưa hiểu được triết lý giáo dục của nước ta hiện nay là gì?
Nếu áp dụng đứng đắn những nguyên tắc thì tại sao ta đã cải tổ nền giáo dục nhiều lần, trong 20 năm qua, mà nay vẫn chưa có kết quả mong đợi? Thực tế những cải tổ đã thực hiện thiếu tầm nhìn chiến lược và không có định hướng rõ ràng.
Ta có thể đặt ngay câu hỏi: phải chăng sự tắc nghẽn ở đây là do những ràng buộc chính trị?
Gần đây, nhiều chỉ thị quan trọng của nhà nước đã được đưa ra, nhưng chưa phải là căn bản để có thể gọi là triết lý giáo dục:
-Cải thiện chất lượng và hiệu quả của giáo viên.
-Phát triển khả năng tư duy và lập luận của học sinh, thay vì ưu tiên học thuộc các kiến thức sách vở.
-Học đi đôi với hành.
-Kết hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
-Phối hợp những phương pháp và mức giảng dạy khác nhau.
-Nâng cao tri thức thế hệ trẻ.
-Đào tạo đội ngũ đảm bảo chất lượng cho nhu cầu kinh tế và xã hội.
-Theo sát sự tiến bộ của khoa học và kĩ nghệ.
-Năng động và có đầu óc rộng mở.
-Đóng góp vào việc bảo vệ quốc gia.
-Quan tâm đến chất lượng hơn là số lượng trong việc đào tạo.
-Hướng ra xã hội và thế giới.
Tôi có cảm tưởng là chúng ta không chú trọng đến những suy nghĩ của nhà giáo dục Jean- Jacques Rousseau, một trong những triết gia có uy tín nhất nhì của thế kỷ Khai sáng. Tác phẩm của ông mang tên Emile (hay De l’Education, 1762), nổi tiếng khắp thế giới, xuất hiện trong chương trình học của trẻ em Nhật Bản. Điều đáng mừng là Emile cũng đã được dịch ra tiếng Việt.
Theo Rousseau, điều quan trọng chính là phương pháp chứ không phải là kiến thức sách vở. Học sinh phải tự tin, tự do, tự chủ, độc lập trong suy nghĩ và không có định kiến. Với một tinh thần rộng mở, học sinh phải sử dụng tư duy của mình, chứ không phải của người khác. Chính bản thân mỗi học sinh phải tự tìm hiểu để khám phá sự thật. Phải tôn trọng thiên nhiên, con người và yêu chuộng hòa bình. Không tự kiêu, học sinh phải có lòng đồng cảm và sẵn sàng bảo vệ người khác. Là con người tự do, học sinh không chấp nhận bất kì sức ép nào về chính trị hay tôn giáo.
Thầy giáo, trong khả năng có thể, có trách nhiệm khai thác những tiềm năng của mỗi học sinh một cách riêng biệt, tùy theo tính cách và hoàn cảnh gia đình từng em. Nó thể hiện một sự theo dõi mang tính cá nhân nhằm đảm bảo một sự cân bằng, sự phát triển hài hòa và nảy nở của học sinh.
Tất nhiên, điều đó cũng không dễ thực hiện ở nước ta, khi mà lớp học bị quá tải!
Nếu chúng ta xem tâm điểm của hệ thống giáo dục là học sinh, thì nên đặt ra những câu hỏi căn bản sau:
1-Tại sao phải học?
2-Học cái gì?
3-Học thế nào?
Câu hỏi số 1 có lẽ là quan trọng nhất. Trên thực tế, điều này phụ thuộc vào người đặt ra câu hỏi: cha mẹ, giáo viên hay học sinh?
Trẻ em thường nói học để kiếm việc làm nuôi sống gia đình. Xin mạn phép nhắc lại đây câu trả lời đơn giản và tinh tế của Unesco: học để biết, để làm, để sống chung và để tự vun đắp.
Cho đến nay, Bộ Giáo dục tập trung vào câu hỏi thứ 2 và coi nhẹ hai câu hỏi kia.
Gần đây, thông báo về đề án soạn lại sách giáo khoa phổ thông, mà chi phí ước tính khoảng 1,7 tỉ đôla, đã làm xôn xao dư luận. Bộ Giáo dục phủ nhận thông tin này và cho rằng con số khổng lồ bao gồm cả cơ sở và nhiều trang thiết bị khác nhau. Làm lại sách giáo khoa một cách đột ngột, mà không đợi một cuộc cải tổ sâu rộng chương trình giảng dạy, thực sự là một lãng phí lớn lao về thời gian và tiền bạc. Bộ Giáo dục giữ độc quyền trong việc phát hành sách giáo khoa có thể xem như ta coi thường hay không có triết lý giáo dục? Cách đây vài năm, lần đầu tiên, nhà giáo Phạm Toàn đã có can đảm và sáng kiến cho ra đời một bộ sách giáo khoa tư nhân (lớp 1 của Nhóm Cánh Buồm).
Thầy giáo có trách nhiệm giúp học sinh trả lời tốt câu hỏi số 3: muốn thành công, học sinh phải học tập một cách khôn ngoan, nhiệt tình, có phương pháp, kỉ luật, chặt chẽ, đều đặn và tập trung.
Từ lúc còn thơ ấu mãi đến nay, tôi luôn đam mê đèn sách. Tôi hoan hô GS Ngô Bảo Châu đã từng khuyến khích sinh viên nên có sự đam mê để có kết quả mỹ mãn.
Thành tích trong lĩnh vực giáo dục
Gia Minh: Việt Nam đã đạt được những thành tích gì trong lĩnh vực giáo dục thưa GS?
GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Nước ta rất tự hào và vinh dự khi gần đây nhận được kết quả tốt trong bảng xếp hạng PISA (Program for International Student Assessement) năm 2012. PISA, do nhà toán học người Đức, Andreas Schleicher, khởi xướng từ năm 2000, có mục đích đánh giá năng lực học sinh giải quyết những vấn đề thực tế trong cuộc sống. Các bài kiểm tra dành cho trẻ em 15 tuổi bao gồm đọc, toán và khoa học. Vừa qua, tờ báo Anh, “The Guardian” đăng một lá thư của 100 nhà giáo ở các nước Mỹ, Anh, Thụy Điển, Nouvelle -Zélande, lên tiếng công kích PISA. Họ cho rằng PISA, chịu ảnh hưởng của thị trường, thu hẹp vai trò giáo dục trẻ em, coi trọng kinh tế hơn văn hóa.
Trong số 65 nước tham gia cuộc đánh giá này, Việt Nam được xếp thứ 17, trên Pháp (thứ 25) và Mỹ (thứ 36). Hàn Quốc và Thượng Hải thuộc top 5. Những nước này, cũng như Nhật Bản và Đài Loan, xem giáo dục gần như một tôn giáo. Họ không có cách tiếp cận lãng mạn của Rousseau mà trường học trước hết phải giúp trẻ em tự tạo cho mình một bản sắc riêng, có được sự độc lập và khai phóng. Ở Hàn Quốc, đó là một nền “giáo dục của bóng tối – éducation de l’ombre”, với những “bà mẹ khắc nghiệt – mamans helicopters”. Áp lực quá mạnh và thường xuyên làm những trẻ em bị căng thẳng, chán nản và suy nhược (dépression). Thật buồn và đáng tiếc là chúng ta bất lực trước tỉ lệ tự tử rất cao đối với những trẻ em Hàn Quốc và Nhật Bản trong độ tuổi từ 15 đến 25.
Những kết quả tốt của ta với PISA, trên thực tế, đã che khuất sự suy giảm chất lượng và sự mong manh của hệ thống giáo dục nước nhà.
Điều đáng khuyến khích là vừa qua tổ chức URAP (University Ranking by Academic Performance) đã công nhận Đại học Bách khoa Hà Nội, đứng đầu trong các trường đại học Việt Nam và đứng thứ 1.932 trong số 3.000 trường đại học trên thế giới và thứ 650 trong khu vực châu Á, trong danh sách xếp hạng 2013-2014. Trường thứ hai lọt vào danh sách là Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, đứng thứ 1.963 trên thế giới và 662 ở châu Á.
Mỗi năm ta hãnh diện khi được tin có vài sinh viên ưu tú Việt Nam đoạt huy chương vàng hay bạc ở các kỳ thi Olympiades. Chúng ta càng hãnh diện hơn nữa với huy chương Fields 2010 của Giáo sư Ngô Bảo Châu, một ngôi sao chiếu sáng đường đi cho nhiều thế hệ sinh viên của đất nước.
Nhưng một con én không làm được mùa xuân!
Gia Minh: Vậy thì lời giải của bài toán giáo dục Việt Nam là gì, thưa GS?
GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Theo ý kiến của nhiều giáo sư và phụ huynh học sinh, giáo dục Việt Nam đang bị khủng hoảng trầm trọng. GS Hoàng Tụy và GS Bùi Trọng Liễu cùng nhiều chuyên gia có uy tín, thường xuyên lên tiếng kêu gọi cải tổ, nhưng đến nay vẫn chưa thấy gì mới!
Thí sinh trong giờ thi môn Văn tốt nghiệp THPT 2013. Photo courtesy of vov.
Nếu xét đến sự chậm trễ cần phải bắt kịp và những thay đổi to lớn phải thực hiện, tôi thiết tưởng chỉ một cuộc cách mạng giáo dục toàn diện mới cứu vãn được tình thế.
Tất nhiên, muốn xoay chuyển một bộ máy vô cùng phức tạp như Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam không phải là dễ. Mặt khác, Bộ Giáo dục lại không có toàn quyền quản lý vì ở trên đầu có Bộ Chính trị!
Như ở Pháp, cải tổ phải bắt đầu từ nền móng, từ bậc mẫu giáo và tiểu học.
Trẻ em mệt mỏi vì chương trình quá tải. Tại Việt Nam, hầu hết các lớp ở mỗi cấp, việc đi học thêm ở ngoài trường, làm tăng cao một cách nguy hiểm sự căng thẳng và lo âu của học sinh. Đối với bậc tiểu học và trung học, ta nên giảm nhẹ chương trình bằng cách xóa bỏ một phần nội dung.
Phụ huynh, cũng như giáo viên, phải đặc biệt quan tâm đến sức khỏe của con em (ăn uống, vệ sinh, thể thao, âm nhạc, nghệ thuật …) Không thể để sách vở và các kì thi đè nặng trên đầu trẻ em. Sức khỏe, là “một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện” (Homère). Chúng ta có xu hướng coi nhẹ sức khỏe và ít chú trọng đến sự cân bằng về thể xác và tinh thần của học sinh.
Thầy giáo, hay quên rằng trí óc thông minh của trẻ em được xây dựng từ khi mới ra đời, phải có kiến thức căn bản về vấn đề này. Những phát minh gần đây trong khoa học thần kinh cần được lưu ý đến. Từ mẫu giáo lên đến đại học, những kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn rất cần thiết cho việc xây dựng những công dân tự do. Chính Jules Ferry đã đưa giáo dục đạo đức và công dân vào giảng dạy tại Pháp vào năm 1882, thực hiện giáo dục tiểu học phi tôn giáo và bắt buộc từ 6 đến 13 tuổi: “Một giáo viên tiểu học, trong lúc dạy cách đọc và viết, cũng đồng thời dạy những quy tắc căn bản của đời sống tinh thần là một việc dĩ nhiên”.
Hệ thống giáo dục Pháp, được xem như thiếu bình đẳng, đã không ngăn được sự lãng phí về dân chủ và kinh tế từ nhiều năm. Khoảng 20% trẻ em vào cấp 2 không nắm được những kiến thức căn bản và 150.000 thanh niên học xong không có việc làm do thiếu trình độ.
Nhà chức trách Việt Nam, cũng như Pháp, có xu hướng biện minh sự xuống cấp vì thiếu ngân sách hay số lượng giáo viên. Tòa Kiểm toán (Cour des Comptes) của Pháp gần đây đã tuyên bố rằng nguyên nhân thật ra là nằm ở vấn đề quản lý các phương tiện hiện có của Bộ Giáo dục. Chương trình dự kiến tuyển dụng thêm 60.000 giáo viên ở Pháp vì thế phải được xem xét lại.
Ở Việt Nam, từ năm 1987, số lượng các đại học và trường cao đẳng đã tăng 5 lần, lượng sinh viên tăng 13 lần, trong khi lượng giảng viên chỉ tăng 3 lần. Hình như, vào năm 2020, dự kiến sẽ có khoảng 4,5 triệu sinh viên? Để so sánh, chỉ riêng đối với các đại học, tại Pháp năm 2013 có 87 000 giảng viên cho 1,5 triệu sinh viên. Việt Nam có 51000 giảng viên cho 1,45 triệu sinh viên (con số năm 2011). Nền kinh tế của ta không thể chịu đựng lâu dài sự tăng trưởng quá nhanh các trường đại học thiếu điều kiện mà dần dần làm giảm uy tín bằng cấp Việt Nam.
Cuộc chạy đua điên rồ về số lượng đặt ra vấn đề hết sức nghiêm trọng về chất lượng, kể cả đối với sinh viên tốt nghiệp và đội ngũ giảng viên.
Liệu có khả thi khi ta muốn đào tạo 20.000 tiến sĩ và đưa một đại học của Việt Nam vào top 200 theo bảng xếp hạng của Shangaï vào năm 2020? Tất nhiên, những tiêu chuẩn của bảng xếp hạng này không phải là không bị chỉ trích, nhưng ta quên rằng ở đây, phần nghiên cứu có vai trò quan trọng hơn phần giảng dạy.
Việt Nam trước hết phải thành lập các phòng thí nghiệm đầy đủ trang bị tối tân ở các đại học và trường lớn, tuyển lựa và đào tạo những giáo sư và nhà nghiên cứu tài giỏi, khuyến khích hợp tác chủ động và tích cực giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và công nghiệp trước khi chạy theo các bảng xếp hạng quốc tế.
Dù sao ta cũng đừng quên rằng sức cạnh tranh của một quốc gia được xây dựng rất sớm từ bậc mẫu giáo.
Trong quá trình toàn cầu hóa, cuộc chiến tranh kinh tế phụ thuộc vào thông minh (intelligence), sáng tạo (innovation) và viễn tượng (anticipation). Nhiều cuộc cách mạng đang diễn ra: số ( cloud computing, big data…), năng lựợng (smart grid, năng lượng mới). Khoa học mỗi ngày vạch trần sự ngu dốt của nhân loại. Tiến bộ kỹ thuật đi nhanh như gió, không chờ đợi ta cải tổ đâu!
Gia Minh: Giảng dạy trên mạng bắt đầu đựợc phổ biến ở nhiều nước. Xin GS cho biết sự lợi hại của cuộc cách mạng số này?
GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Bộ đại học và nghiên cứu Pháp vừa khai trương một chương trình quốc gia về MOOC (Massive Open Online Courses). Chương trình sẽ chứa các bài giảng và các khóa đào tạo trên mạng có cấp bằng hay chứng nhận. Khoảng sáu chục MOOC đã được thống kê và con số này sẽ không ngừng tăng lên.
Giáo dục bị tác động mạnh bởi cuộc cách mạng số. Quan hệ giữa kiến thức và cá nhân bị xáo trộn. Giảng đường không phải hoàn toàn biến mất nhưng phương pháp giảng dạy truyền thống không còn phù hợp. Sinh viên đọc các bài giảng ở nhà trước khi đến hỏi thầy giáo và thảo luận với bạn bè. Trên mạng, không ai thúc ép được ai. Mỗi người tự biết tại sao họ tìm đến đó. Một vài giáo sư đã nghĩ đến một trường đại học “dạng đám mây” mở và toàn cầu.
Nhiều chủ tịch các trường đại học lớn của Mỹ cho rằng môn học trên mạng cũng có giá trị giáo dục ngang bằng môn học tại giảng đường. Đâu là tài sản trí tuệ của MOOC? Làm sao phát bằng?
Rồi đây, tiếp thu kiến thức sẽ có tính dân chủ và toàn cầu. Phương pháp giảng dạy số sẽ mang lại cơ hội lớn lao cho giảng viên, sinh viên, chủ doanh nghiệp và người làm việc.
Giảng dạy trên mạng đang phát triển mạnh, tạo nên sự hứng khởi và, tất nhiên, cả những lo ngại. Trong các campus, các giảng đường sẽ trở thành nơi làm việc nhóm và tranh luận. Sự trau dồi kiến thức sẽ diễn ra một cách cô lập, từ phòng khách ở nhà, và áp dụng sẽ được thực hiện theo nhóm xung quanh một giáo sư ở trường. Đó là cách giảng dạy được đổi ngược (lớp học xoay ngược). Giáo sư giúp sinh viên trực tiếp thu nhận kiến thức. Sinh viên cũng thay đổi cách suy nghĩ. Họ đến lớp không phải để ghi chép mà để được giải thích những điều mà họ chưa hiểu ở nhà.
Những địa chỉ nổi tiếng nhất đó là: Coursera, Khan Academy và edX. Trang Coursera, thành lập năm 2012 tại Mỹ, cung cấp các môn học miễn phí của chừng sáu mươi trường đại học nổi tiếng (MIT, Princeton, Berkeley, Stanford…) thu hút nhiều người hơn cả Facebook và Twitter trong năm đầu tiên. Ba triệu rưỡi sinh viên đã đăng kí, không trả đồng nào, và được tiếp xúc với những giáo sư giỏi nhất. Tại sao phải tiêu tốn hàng chục ngàn đô la để kiếm tấm bằng MBA ở Harvard?
Chi phí sẽ rẻ hơn rất nhiều so với các trường đại học lớn ở Mỹ. Sinh viên được học miễn phí nhưng phải trả tiền để thi, chứng nhận đậu và giảng dạy trực tiếp. Mô hình kinh tế còn đang xem xét. Các trường đại học phải sát nhập với nhau. Harvard với khoảng quyên góp là 32,7 tỉ đô la đã phải liên kết với MIT để tạo ra edX.
MOOC thay đổi nghề nghiệp của giảng viên và đòi hỏi chi phí đắt! Cần phải có một đội ngũ để bước vào MOOC. Giáo sư có năng lực vẫn chưa đủ, phải chọn diễn viên giỏi (bài giảng trên vidéo), thiết kế mỹ thuật và tiếp thị web tốt.
Chỉ trong vòng 1 năm, 350 bài giảng miễn phí trên mạng, chủ yếu là của Mỹ, đã thu hút được khoảng 5 triệu sinh viên trên toàn cầu.
Và đây là sự phân bố theo số lượng các trường đại học trên mạng vào 15/5/2013:
Mỹ (44), Âu châu (14), Châu Á, Úc và Trung đông (7), Canada (2), Mexico (2).
Dự án đại học trên mạng, Minerva của Mỹ, khai giảng vào 2015, sẽ có nhiều đại diện trên thế giới. Nó sẽ tạo ra một mô hình giảng dạy mới, ít thụ động hơn hiện nay rất nhiều. Theo Larry Summers, chủ tịch danh dự của Harvard, ngày nay thật khó hình dung được MOOC sẽ cách mạng hóa giáo dục như thế nào.
Không rõ Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã ý thức đúng mức cuộc cách mạng về phương pháp giảng dạy số và sự dân chủ hóa kiến thức chưa? Kế hoạch dài hạn MOOC của ta đến đâu rồi?
Điểm yếu hệ thống giáo dục Việt Nam
Gia Minh: Hệ thống giáo dục Việt Nam có những điểm yếu gì thưa GS?
GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Danh sách sau đây liệt kê những điểm yếu trong các mắt xích của hệ thống giáo dục của ta thể hiện khối lượng công việc to lớn đang chờ đợi chính quyền:
Tổ chức và quản lý:
-Khó khăn trong việc quản lý cùng chung một bộ Giáo dục với nhiều bậc: đại học, trung học và tiểu học.
-Thiếu tầm nhìn chiến lược lâu dài.
-Trang thiết bị (đặc biệt là tin học) ở các trường phổ thông và đại học quá cũ và không đủ.
-Thiếu lớp học và phòng thí nghiệm.
-Nhiều lớp quá tải.
-Nhiều ràng buộc chính trị.
-Hành chính nặng nề, quan liêu.
-Nhiều sách giáo khoa đã lỗi thời.
-Lãng phí thời gian và tiền bạc do quá nhiều kì thi (ví dụ thi THPT và vào đại học).
-Sự gia tăng phi lý số trường đại học và cao đẳng.
-Thiếu cơ quan hướng dẫn học sinh và sinh viên.
-Chạy theo số lượng mà không quan tâm đến chất lượng trong nhiều lĩnh vực.
-Khó khăn và chậm trễ trong việc tổ chức phương pháp giảng dạy trên mạng (MOOC).
Giáo viên:
-Mức lương giáo viên quá thấp.
-Giáo viên phải giảng dạy ở nhiều trường hay phải làm thêm nghề khác để sống.
-Tỷ lệ giáo viên chán nản muốn đổi nghề khá cao.
-Trình độ và năng lực có hạn của một số giáo viên trẻ tuổi.
-Sự bảo thủ của một phần đội ngũ giáo viên.
Học sinh và sinh viên:
-Một phần chương trình phổ thông và đại học lạc hậu.
-Chương trình bậc tiểu học và trung học quá nặng.
-Nhiều môn học thuộc lòng và nhồi sọ.
-Chỉ lo chạy theo thành tích, bằng cấp.
-Đào tạo quá nhu cầu cử nhân và kĩ sư.
-Sinh viên lo sợ vì nạn thất nghiệp trầm trọng.
-Đào tạo cao đẳng và đào tạo nghề bị xem nhẹ.
-Quyền tự chủ quá ít của lãnh đạo các trường phổ thông cũng như đại học.
-Học sinh căng thẳng, mệt mỏi về thể chất lẫn tinh thần.
-Học phí cao.
-Quan hệ kém giữa đại học, nghiên cứu và doanh nghiệp.
-Thiếu chỗ cho sinh viên tập sự và thực tập.
-Giảng dạy, tranh luận về xã hội, dân chủ, đạo đức, tự do ngôn luận hạn chế.
-Ảnh hưởng xấu của tham nhũng và bất công.
-Thái độ thụ động và quá dè dặt của học sinh, sinh viên đối với thầy giáo.
Nhiều nước, trong đó có Pháp, cũng có một số điểm yếu nêu trên. Tuy nhiên Bộ Giáo dục Pháp có khả năng cải tổ nhanh hơn so với ta vì không chịu ảnh hưởng trực tiếp của áp lực đảng phái hay chính trị.
Gia Minh: Xin GS cho biết những trắc trở và vài đề nghị đóng góp nhiệt tình của GS trong cuộc cách mạng giáo dục Việt Nam.
GS Nguyễn Khắc Nhẫn: Đức Phật đã dạy: “Tài sản lớn nhất của đời người là Trí tuệ và Sức khỏe”
John Rawls, GS Đại học Harvard cũng đã từng tuyên bố: “Giáo dục là chìa khóa của tất cả các vấn đề kinh tế và xã hội” Dân ta trẻ trung và năng động. Thanh niên thiếu nữ hiếu học và thông minh. Đó là tài sản vô giá của nước nhà.
Tôi cảm thông với TS Giáp Văn Dương khi ông tỏ tâm tình trong bài “Người Việt trẻ tự đốt đuốc mà đi” đăng trên vnexpress 23/5/2014: “Vì không phải ai khác, mà chính người Việt trẻ mới là cứu tinh của đất nước….Tôi không thấy được sự lan tỏa của một tuổi trẻ tự do phóng khoáng, sự rực sáng của khát vọng…Không gì xót xa hơn khi nhìn thấy những người Việt trẻ ốm yếu, còi cọc hơn so với bạn bè đồng lứa năm châu.” Tôi cũng đau lòng mỗi khi nghĩ đến sức khỏe của học sinh và sinh viên ở quê hương, quanh năm ngày đêm đèn sách, ôn đi ôn lại để thi cử!
Nhân tài ở trong nước cũng như ở ngoại quốc không thiếu. Chúng ta có thể tự hào về những thành tích của những sinh viên xuất sắc và những giáo sư hay chuyên gia Việt Nam giàu kinh nghiệm và có uy tín trên thế giới. Điều đáng tiếc là ta chưa có chiến lược khai thác đúng mức tiềm năng vô cùng quý báu này để nâng cao chất lượng giáo dục và góp phần xây dựng xứ sở. Tại sao Trung Quốc, Ấn Độ , Hàn Quốc thành công trong việc kêu gọi trí thức ở hải ngoại về nước họ công tác? Lý do có phải, ngoài chế độ chính trị, có vấn đề điều kiện làm việc, thiếu đối tượng muốn hợp tác chặc chẽ và cách đối xử không cởi mở của một số người có trách nhiệm trong nước?
Có người hỏi tại sao ta dư tiến sĩ mà giáo dục đào tạo vẫn xuống dốc? Phải chăng vì thừa lượng mà thiếu chất? Tiến sĩ mà không có kĩ sư và thợ chuyên môn thì nhà máy cũng sụp đổ. Cái bệnh đáng lo ngại của ta là quá coi trọng cấp bằng tiến sĩ, làm hạ giá môt cách phi lý những cấp bằng khác.
Ở đầu bài, tôi trình bày triết lý giáo dục của Pháp không ngoài mục đích để Bộ Giáo dục và Đào tạo của ta so sánh hai hệ thống. Pháp cũng có nhiều điểm yếu đang được cải tổ. Nhưng ta nên đặt câu hỏi tại sao trình độ văn hóa dân chúng Pháp được thiên hạ đề cao?
Triết lý giáo dục của một nước chỉ cần một hai câu ngắn gọn. Bổn phận của phụ huynh và nhà giáo là làm sao cho các học sinh hiểu rõ ý nghĩa và giá trị của những khái niệm và đức tính sau đây: tổ quốc, dân tộc, xã hội, con người, đạo đức, bác ái, cao thượng, hiếu thảo, gia đình, sức khỏe, hạnh phúc, hòa bình, tôn trọng tín ngưỡng, tự do, độc lập, đoàn kết, sự thật, công bằng, khoan hồng, khiêm tốn, liêm chính, đam mê, nhân văn, khoa học, giải phóng, khai phóng, môi trường, phát triển xanh, phát triển bền vững, kinh tế dương “économie positive” (Jacques Attali)…
“Tiên học lễ, hậu học văn” là một nguyên lý có từ xưa đáng được học sinh trọn đời ghi nhớ, nhưng từ lễ phải được hiểu sâu rộng hơn so với nghĩa đơn giản là lễ phép. Tài phải đi đôi với đức.
Theo tôi, mặc dù đã ban hành những nguyên tắc giáo dục ngay từ lúc ra đời, Unesco nên lập một danh sách xếp hạng, dựa trên sự áp dụng đứng đắn triết lý giáo dục của mỗi nước. Nếu chỉ biết hãnh diện với bản xếp hạng PISA hay Shangaï và ồ ạt chạy đua, như Trung quốc, theo mức tăng trưởng kinh tế, dưới sự độc tài của thị trường toàn cầu, bất chấp ô nhiễm CO2 hay phóng xạ, thảm họa thay đổi khí hậu, bệnh tật, hay chiến tranh, thì sau này, các thế hệ con cháu sẽ trách móc chúng ta không biết dạy dỗ và đào tạo chúng nên người.
Tôi hi vọng rằng cuộc cách mạng giáo dục của ta sẽ được thực hiện nhanh chóng và trong điều kiện tốt nhất có thể.
Cần phải tiến hành gấp, với một chương trình cải tổ chặt chẽ, tìm mọi cách hạn chế những xáo trộn và tối thiểu chi phí. Giai đoạn quá độ phải có thời gian giới hạn.
Xây dựng một kế hoạch giáo dục ở tầm vĩ mô như thế cần phải suy xét lại về mặt xã hội và áp dụng phương pháp quản lý tối ưu.
Nếu người có trách nhiệm và quyền hành cao nhất của đất nước ra lệnh cho Chính phủ và các cấp lãnh đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo phải từ bỏ sự áp đặt quan điểm chính trị cho tất cả các trường và đại học thì cuộc cách mạng mới thành công được?
Ở Việt Nam, nguyên tắc không can thiệp chính trị, vì quyền lợi quốc gia và tương lai của những thế hệ trẻ, thật sự quan trọng hơn ngàn lần so với những nguyên lý giáo dục căn bản tốt nhất trên thế giới.
Gia Minh: Xin cám ơn GS Nguyễn Khắc Nhẫn.
Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn Nguyên Giám đốc Trường Cao đẳng Điện học và Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Sài Gòn. Cố vấn Kinh tế, Dự báo, Chiến lược EDF Paris. Giáo sư Viện Kinh tế Chính sách Năng lượng Grenoble. Giáo sư Trường Đại học Bách khoa Grenoble.
_____
Tài liệu tham khảo:
Tôi xin chân thành cám ơn các Tác giả, Trang web, Đài phát thanh, Báo chí có tên sau đây:
Sư Cô Tran Thi Dung, Hoang Xuan Han, Ngo Bao Chau, Hoang Tuy, Nguyen Khac Vien, Nguyen Ngoc, Bui Trong Lieu, Pham Xuan Yem, Nguyen Thi Binh, Pham Minh Hac, Giap Van Duong, Vo Van Thuan, Chu Hao, Trinh Xuan Thuan, Tran Thanh Van, Nguyen Khac Ung, Vo Quang Yen, Nguyen Quoc Vuong, Luong Hoai Nam, Nguyen Bach Ngoc, Nguyen Quang Duy, Tran Ngoc Vuong, Chu Mong Long, Pham Toan, Ho Ngoc Dai, Van Nhu Cuong, Tran Quoc Duong, Duong Thien Tong, Phong Tran, Phan Xi Pang, Nguyen Xuan Han , Nguyen Manh Hung…( Tôi rất tiếc và xin lỗi không thể ghi hết tên của rất nhiều Tác giả đã đóng góp vào việc xây dựng nền giáo dục của đất nước, từ hàng chục năm nay)
Louis Néel, Cédric Villani, Geneviève Fioraso, Vincent Peillon, René Pauthenet, Michel Poloujadoff, Jean- Marie Martin, Jacques Percebois, Patrick Criqui, Jean-Marie Chevalier, Stanislas Dehaene, Catherine Boyer, Serge Herreman, Patrick Ghrenassia, Le Monde.
Nguyen Khac Nhan: Hội nghị tư vấn chuyên đề về cải tổ giáo dục Đại học Việt Nam, 17-19/2/ 1994, TP Hồ Chí Minh.
nguyenkhacnhan.blogspot.fr: Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất, Hànội 20- 24/11/2009 ; Louis Néel, Nobel Vật lý, một Giáo sư lý tưởng – Grenoble – INP và sự hợp tác với Việt Nam, Grenoble 8/1/2011).
*Bàn tròn AVSE (Association Vietnamienne des Scientifiques et Experts )
Tôi cũng thành thật cảm tạ GS Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch Hội Khoa học và Chuyên gia Việt Nam và TS Nguyễn Thúy Phượng, đã tổ chức thành công Bàn tròn về Giáo dục Việt Nam ở Trung tâm kinh tế Sorbonne Paris ngày 10/5/2014.
(Bàn tròn gồm có các chuyên gia Roger-François Gauthier, Luisa Lombardi và các GS Ha Duong Tuong, Le Van Cuong, Lai Ngoc Diep, Nguyen Khac Nhan).
Chỉ có thay đổi chế độ và thể chế chính trị của Việt Nam thì mới thay đổi được nền giáo dục VN. Cái nền giáo dục tệ hại sai trái và thiếu hẳn Dức dục này cả thế giới ai cũng nhìn thấy rõ lắm ! Cách đây 18 năm 1 nữ chuyên gia giao dục của Châu Âu khi được hỏi : Bà có đóng góp ý kiến gì cho giáo dục VN không? bà ta chỉ cười : ước gì tôi có chiếc đũa thần gõ vào nền giáo dục VN. 1 câu nói mỉa mai thâm thúy đến thế mà chẳng có cán bộ ngành giáo dục VN nào hiểu nổi !
Ông Nguyễn Đức Kiên bị cáo buộc đã mở ra các công ty để góp vốn mua cổ phần, cổ phiếu trái phép
Cơ quan điều tra vừa quyết định khởi tố vụ án ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ’ theo Điều 258 tại báo Pháp luật Xã hội vì bài viết nói một công ty của Bộ Công an kinh doanh “theo kiểu Bầu Kiên”.
BBC đã liên lạc với ban biên tập của báo Pháp luật Xã hội, cũng như ông Phan Hồng Sơn, giám đốc Sở Tư pháp Hà Nội, cơ quan chủ quản của tờ báo, nhưng họ đã từ chối trả lời.
Báo Thanh Niên sáng 6/6 cũng chạy bài với tựa “Viết về doanh nghiệp của Bộ Công an, một tờ báo bị khởi tố”, nhưng đường dẫn vào bài này sau đó đã không còn truy cập được.
Thông cáo trên trang web của Bộ Công an cho biết ngày 02/6, trên Pháp luật Xã hội có đăng bài báo của tác giả Minh Thắng với tiêu đề: “Luật sư tố doanh nghiệp của Bộ Công an kinh doanh kiểu bầu Kiên”.
Bài viết, hiện đã bị gỡ khỏi trang web của báo, dẫn lời các luật sư bào chữa của ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên) nói bên lề phiên tòa hôm 2/6 rằng “các công ty của chính Bộ Công an cũng không hề đăng ký kinh doanh đầu tư góp vốn, mua cổ phần cổ phiếu” dù vẫn “thực hiện hành vi này lâu nay”.
“Theo điểm danh của các luật sư này, đó là Tổng công ty Viễn thông toàn cầu (GTEL), do Bộ Công an làm chủ sở hữu”, bài viết có đoạn.
“GTEL không đăng ký ngành nghề kinh doanh tài chính, góp vốn, mua cổ phần, cổ phiếu, vậy mà ngay trên website của công ty này cũng công bố góp vốn thành lập rất nhiều công ty khác”.
“Những gì luật sư nói tại tòa thì là quyền của luật sư, và báo chí có quyền đăng lại lời của luật sư“
Luật sư Trần Vũ Hải
“Các luật sư băn khoăn đặt câu hỏi với bằng chứng này, thì ngay cả Bộ Công an cũng có công ty hoạt động đầu tư tài chính góp vốn, mua cổ phần cổ phiếu kiểu Bầu Kiên”.
“Liệu các doanh nghiệp này có bị xem xét quy buộc là ‘kinh doanh trái phép’ … như vụ án Nguyễn Đức Kiên?”.
Thông cáo của Bộ Công an cho biết Chủ tịch Nguyễn Văn Dư của GTEL hôm 4/6 đã có công văn gửi đến cơ quan an ninh điều tra, khẳng định “nội dung bài báo là sai sự thật, xâm phạm nghiêm trọng uy tín và các lợi ích hợp pháp” của công ty và yêu cầu xem xét, xử lý.
Ngày 5/6, Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự sau khi “bước đầu xác minh của cơ quan chức năng thấy có dấu hiệu tội phạm”, thông cáo nói thêm.
‘Không sai khi dẫn lời luật sư’
Nhà báo Huy Đức
Nếu thật sự luật sư có nói “doanh nghiệp của Bộ Công an kinh doanh kiểu bầu Kiên” mà điều đó là vu khống, bịa đặt thì phải khởi tố vụ án “xảy ra tại tòa” chứ không thể khởi tố vụ án xảy ra tại báo. Là phóng viên theo dõi phiên tòa nếu nghe luật sư nói như thế mà không đưa tin thì nên xử lý phóng viên về “tội” thiếu tinh thần nghề nghiệp.
Nhân vụ này, các báo nên trở lại với vấn đề mà chúng tôi từng nói năm 1995, 1996: Một khi công an, quân đội còn hoạt động kinh doanh thì nền kinh tế không thể nào có môi trường cạnh tranh bình đẳng, các cơ quan công lực không thể nào tránh được lạm quyền, các thiết chế giám sát các doanh nghiệp (của CA, QĐ) không thể có an toàn pháp lý.
Trả lời BBC ngày 6/6, Luật sư bào chữa cho blogger Trương Duy Nhất, người từng bị Bấm tuyên án tù hai năm về tội ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ’ theo Điều 258, cho rằng điều quan trọng là báo Pháp Luật Xã hội cần chứng minh đã thuật lại đúng lời của luật sư.
“Theo tôi thì vấn đề là báo này có đăng đúng theo ý kiến của luật sư hay không,” ông Trần Vũ Hải nói.
“Theo tôi những gì luật sư nói tại tòa thì là quyền của luật sư, và báo chí có quyền đăng lại lời của luật sư”.
Ông Hải cũng cho rằng hành vi ‘xâm phạm lợi ích tổ chức’ không còn tồn tại theo hiến pháp mới được thông qua.
“Chúng tôi đang nghiên cứu hiến pháp năm 2013 và tôi nghĩ rằng phải xem xét rằng Điều 258 có phù hợp với hiến pháp mới hay không,” ông nói.
“Hiến pháp 2013 nói thực hành quyền con người, quyền công dân những không xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc và của người khác.”
“Tức là không còn khái niệm xâm phạm lợi ích của tổ chức như trước.”
Bình luận về quyết định khởi tố này, nhà báo Huy Đức viết trên Bấm Facebook cá nhân rằng “Nếu thật sự luật sư có nói “doanh nghiệp của Bộ Công an kinh doanh kiểu bầu Kiên” mà điều đó là vu khống, bịa đặt thì phải khởi tố vụ án “xảy ra tại tòa” chứ không thể khởi tố vụ án xảy ra tại báo…
“Một khi công an, quân đội còn hoạt động kinh doanh thì nền kinh tế không thể nào có môi trường cạnh tranh bình đẳng, các cơ quan công lực không thể nào tránh được lạm quyền, các thiết chế giám sát các doanh nghiệp (của CA, QĐ) không thể có an toàn pháp lý,” ông Huy Đức viết.
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói về “Quản lý những căng thẳng chiến lược”
Cộng đồng người Việt trong ngoài nước đã có nhận định khác nhau về bài phát biểu của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, ở một hội nghị an ninh tại Singapore hôm 31/5.
Bài phát biểu với chủ đề “Quản lý những căng thẳng chiến lược” được Đại tướng Phùng Quang Thanh đọc tại Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á (Đối thoại Shangri-La).
BBC phỏng vấn thêm một số chuyên gia quốc phòng, an ninh nước ngoài bình luận về ý nghĩa của bài phát biểu, trong bối cảnh quan hệ Việt – Trung đang căng thẳng vì vụ giàn khoan Hải dương 981.
Carl Thayer, Giáo sư Danh dự, Học viện Quốc phòng Úc, Canberra
Tôi đã tham dự Đối thoại Shangri-La và có mặt khi Đại tướng Phùng Quang Thanh phát biểu.
Bài phát biểu nhắm đến khán giả có mặt và cho Trung Quốc. Nó muốn xoa dịu và không gây mất lòng. Nếu anh không biết đang có đối đầu vì giàn khoan Trung Quốc, thì khi nghe diễn văn, có khi anh nghĩ chỉ có chút căng thẳng xảy ra, không có gì đặc biệt.
Tướng Thanh có thể đã chinh phục được những ai trong khu vực cổ vũ đối thoại và thương lượng với Trung Quốc trong căng thẳng ở Biển Đông. Ông mô tả Việt Nam là nạn nhân không khiêu khích. Ông gọi Trung Quốc là bạn của Việt Nam. Điều này có thể được lòng Bắc Kinh, nhưng những người Việt trẻ hơn có mặt ở Singapore bị sốc.
“Tướng Thanh đã trả lời một câu hỏi về việc Việt Nam cân nhắc dùng hành động pháp lý. Ông nói đó là giải pháp cuối cùng. Điều này làm đoàn Philippines có mặt thất vọng. “
Carl Thayer
Nhưng Tướng Thanh lẽ ra có thể nhắc rằng hành động của Trung Quốc gây hại cho nỗ lực xây dựng niềm tin chiến lược mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cổ vũ một năm trước. Ông lẽ ra có thể nói về số lượng, đội hình, chiến thuật mà Trung Quốc đang dùng. Ông lẽ ra có thể kêu gọi khu vực ủng hộ Hiến chương Liên Hiệp Quốc, luật quốc tế và giải quyết tranh chấp trong hòa bình.
Tướng Thanh đã trả lời một câu hỏi về việc Việt Nam cân nhắc dùng hành động pháp lý. Ông nói đó là giải pháp cuối cùng. Điều này làm đoàn Philippines có mặt thất vọng. Trước bình luận của ông, họ rất trông chờ Việt Nam sẽ cùng với họ ra tòa án trọng tài.
Dẫu sao Tướng Thanh cũng đã trình bày một cách ấn tượng và chuyên nghiệp.Ông trả lời trực tiếp các câu hỏi, không lập lờ và thể hiện sự minh bạch.
David Brown, nhà ngoại giao Mỹ đã nghỉ hưu, nay là cây bút bình luận về chính trị Việt Nam
Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã không, hoặc không muốn, nối tiếp lập trường năng nổ hơn mà các lãnh đạo như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Phạm Bình Minh…đã thể hiện.
Ông ấy thể hiện tư thế quá nhún nhường, “chúng tôi đề nghị Trung Quốc…” Cái nhìn của vị bộ trưởng về Trung Quốc, nếu quả thực đây là những gì ông ấy nghĩ, thật ngây thơ và không tưởng.
Tướng Thanh tạo cảm giác là ông không phải đang tranh luận với Trung Quốc, mà lại lùi về sau để thuyết phục họ rằng Việt Nam không có ý xấu với Trung Quốc đâu.
Collin Koh Swee Lean, Viện Nghiên cứu Quốc phòng và Chiến lược, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore
Tôi không cho rằng bài phát biểu của Tướng Thanh quá mềm mỏng với Trung Quốc.
Ngược lại, tôi thấy bài nói vừa cương quyết vừa điều độ. Nó nhấn mạnh nhu cầu kiềm chế mà cũng nói rõ là Việt Nam đã chỉ phản ứng trước những hành động của Trung Quốc chứ không để bị hiểu nhầm là khiêu khích.
Tàu Việt Nam và Trung Quốc vẫn đối đầu nhau ở vị trí xung quanh giàn khoan
Ông ấy cũng không cần phải quá cứng rắn, vì Đối thoại Shangri-La là diễn đàn để các nước đối thoại nhằm tăng cường xây dựng niềm tin. Nó không nên biến thành nơi các chính phủ công khai nhiếc móc nhau.
Tôi cảm thấy bài phát biểu là phương thức chừng mực của Việt Nam. Không quá cứng để có thể gây hại cho Đối thoại Shangri-La, mà cũng không quá mềm để tránh nói về tranh chấp đang diễn ra.
“Tôi cảm thấy bài phát biểu là phương thức chừng mực của Việt Nam. Không quá cứng để có thể gây hại cho Đối thoại Shangri-La, mà cũng không quá mềm để tránh nói về tranh chấp đang diễn ra.“
Collin Koh Swee Lean
Lập trường của Việt Nam tại Đối thoại Shangri-La, như qua diễn văn của Tướng Thanh, nên được xem là sự trưởng thành hơn trong khả năng đóng vai trò lớn hơn ở khu vực của Việt Nam. Nó chứng tỏ Việt Nam có quyết tâm chính trị duy trì hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, và kêu gọi, cổ vũ sự kiềm chế trong giải quyết tranh chấp. Về lâu dài, nó có thể giúp Việt Nam ở tư thế chính nghĩa, chinh phục cảm tình của các chính phủ trong vùng.
Có thể một số người trong chính phủ Mỹ hay Nhật muốn có lập trường cứng rắn, mạnh hơn từ Việt Nam. Nhưng nhìn chung, tôi tin Tokyo và Washington ngầm hiểu rằng chẳng nên ngạc nhiên vì thái độ của Việt Nam. Thậm chí ở cấp độ chính thức hay bán chính thức, Hà Nội và hai đại cường có khi đã ngầm hiểu với nhau là Việt Nam sẽ có lập trường trung hòa vì nguyên do địa chính trị.
Mặc dù bài phát biểu của Tướng Thanh có thể bị xem là “mềm”, nhưng Việt Nam vẫn được tự do thắt chặt quan hệ với Nhật và Mỹ. Cả hai nước đều muốn giúp Việt Nam ở lĩnh vực an ninh biển. Không phải vì bài của Tướng Thanh mà Tokyo và Washington sẽ lại giảm đi hợp tác với Việt Nam.
Việt Nam không chỉ cần ngoại giao hòa bình để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc mà đồng thời đã nhận thức họ cần xây dựng khả năng quân sự và chấp pháp trên biển, theo một cách chừng mực và không khiêu khích, trước sự cứng rắn hơn của Trung Quốc. Còn Tokyo và Washington, trong chiến lược tăng cường hợp tác với Đông Nam Á, sẽ tiếp tục giúp đỡ và thắt chặt quan hệ với Việt Nam. Đối thoại Shangri-La và bài nói của Tướng Thanh sẽ không thay đổi điều đó.
SÀI GÒN 6-6 (NV) .-Mười sáu hội đoàn độc lập của Xã Hội Dân Sự không nằm trong hệ thống chi phối của nhà cầm quyền đã họp mặt ở Sài Gòn thảo luận về quyền con người và thời sự.
Ký giả Trương Minh Đức, đại diện cho Hội Anh Em Dân Chủ phát biểu trong cuộp họp của 16 hội đoàn Xã Hội Dân Sự. (Hình: Dân Luận)
Cuộc họp đã được tổ chức tại chùa Liên Trì buổi sáng ngày Thứ Năm 5/6/2014 với các hội đoàn đấu tranh cho nhân quyền, công bằng xã hội, trong đó có nhiều người từng bị nhà cầm quyền CSVN bắt tù tội chỉ vì dấn thân cho một nước Việt Nam dân chủ, tốt đẹp hơn.
Lần đâu tiên, người ta thấy có một cuộc họp của những tổ chức không nằm trong “Mặt Trận Tổ Quốc”, cơ quan ngoại vi của đảng CSVN đứng trùm tất cả các hội đoàn do nhà nước và đảng CSVN lập ra, phục vụ cho nhu cầu cai trị của chế độ. Chưa thấy có tin nói những người tham dự cuộc họp bị bắt giữ hay thẩm vấn, đánh đập.
Danh sách các hội đoàn tham dự cuộc họp thấy nêu ra trong bản tin của trang mạng Dân Luận gồm Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Hội Tù Nhân Lương Tâm, Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Tin Lành, Bạch Đằng Giang Foundation, Hội Phụ Nữ Nhân Quyền, Hội Anh Em Dân Chủ, Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Con Đường Việt Nam, Hội Bầu Bí Tương Thân, Truyền Thông Dòng Chúa Cứu Thế, Liên Đới Dân Oan, Hiệp Hội Dân Oan, Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo.
Nội dung của cuộc họp xoay quanh việc khẳng định các quyền tự do hội họp và lập hội, trao đổi phát biểu về công đoàn độc lập trong diễn biến công nhân bạo loạn vừa qua, chuyện giàn khoan Trung quốc mang tới dò tìm dầu khí trên vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Những tổ chức, hội đoàn dân sự độc lập nói trên phần lớn được thành lập khoảng một hai năm trở lại đây.
“Trải qua những khó khăn trở ngại đến hôm nay chúng ta mới có thể ngồi lại đây với nhau như thế này, đối với 1 xã hội dân sự thì chính sự khác nhau về tư cách, khác nhau về cách làm đã tạo nên sự đa dạng phong phú của phong trào đấu tranh dân chủ hiện nay. Ngày hôm nay chúng ta ngồi tại đây, không phân biệt tuổi tác, chức sắc, tôn giáo, học hàm học vị xã hội cùng nhau ngồi trao đổi ý kiến với tinh thần cởi mở và dân chủ, cùng nhau ngồi hòa hợp lại để chuẩn bị cho sự thay đổi, chuyển đổi hiển nhiên của xã hội. Nó tùy thuộc vào sức mạnh quần chúng, sức mạnh xã hội dân sự phải đủ mạnh, và cái sự thay đổi đó phải đi ngay vào con đường tự do dân chủ mà dân tộc ta mong muốn, không phụ thuộc vào ngoại bang, không rối loạn không đổ máu.” Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, người đứng đầu Cao Trào Nhân Bản Việt Nam phát biểu trong cuộc họp.
Ông Phạm Chí Dũng được Dân Luận thuật lại cho rằng “Đã đến lúc các hội nhóm dân sự thống nhất lại và tận dụng cơ hội trong thời gian sắp tới, làm sao có thể phát triển về mặt số lượng, nnâng cao chất lượng trong sinh hoạt XHDS, tác động nhằm thay đổi thể chế chính sách có tiêu cực trong đời sống nhân dân.”
Theo nguồn tin trên thuật lại, trong buổi họp mặt, “các tổ chức xã hội dân sự đã thống nhất với nhau về các quyền tự do hội họp và lập hội, đặc biệt là việc thành lập công đoàn độc lập, yêu cầu nhà nước trả tự do cho 3 nhà hoạt động bảo vệ công nhân là Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh và Hoàng Quốc Hùng, thảo luận phương hướng đấu tranh dân chủ và việc làm truyền thông xã hội sao cho hiệu quả.”
Kết thúc cuộc họp các nhóm xã hội dân sự “thống nhất với nhau 1 tháng họp một lần để cùng nhau ngồi lại bàn thảo về hiện tình của đất nước cũng như phong trào đấu tranh dân chủ hiện nay.” (TN)
Truong Minh Đức (Danlambao) – Hôm 5/6/2014 tại chùa Liên Trì (quận 2, Sài Gòn), một cuộc họp của 16 tổ chức xã hội dân sự đã diễn ra với sự chủ trì của Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm với sự tham gia của đại diện các tổ chức như: Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam, Hội Ái hữu Tù nhân Lương Tâm – Chính trị, Diễn đàn Xã hội Dân sự, Truyền Thông Chúa Cứu Thế, Bầu Bí Tương Thân, Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Con Đường Việt Nam, Hiệp Hội Dân Oan, Liên Đới Dân oan Tranh đấu, Bạch Đằng Giang, Hội Anh Em Dân Chủ… và các và các giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành…
Ngay từ sáng sớm, trước cổng chùa Liên Trì đã có công an mật vụ bố trí sẵn, nhưng họ chỉ theo dõi để chụp ảnh quay phim từng người vào bên trong chùa.
Ngoài ra cách đó hơn 1km họ đã cho xe ủi tạo vật cản và công an canh gác hai đầu đường vào chùa Liên Trì, làm cho nhiều đại diện Cao Đài phải đi bộ vào, xe của Tổng lãnh sự Đức cũng bị vật cản khiến họ không vào tham dự được cuộc họp.
Riêng 2 vị lãnh đạo tinh thần của PGHH Thuần Tuý tại An Giang cũng bị công an sở tại ngăn cản không cho đi tham dự cuộc họp tại chùa Liên Trì – Sài Gòn.
Bác sỹ Nguyễn Đan Quế cũng bị mật vụ canh gác gần cổng nhà từ lúc nửa đêm, nhưng bác sĩ Quế cũng tìm cách để cuối cùng cũng đến tham gia với mọi người trong buổi họp.
Họp bàn về Biển Đông và phát triển công đoàn độc lập
Mỗi tổ chức đều cử người đại diện đến tham dự và phát biểu cảm tưởng. Buổi họp diễn ra trong bầu không khí hân hoan, đoàn kết chia sẻ những vấn đề trong thời gian qua mà phong trào đấu tranh đã từng bước đạt được.
BS Nguyễn Đan Quế nêu nhận định: Trong suốt mấy chục năm qua, đây là lần đầu tiên các tổ chức XHDS có cuộc tập hợp đông như hôm nay, mặc dù cũng chỉ là những người đại diện cho từng tổ chức.
Tất cả mọi người đều bày tỏ những diễn biến tình hình đất nước như sự xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông, nạn tham nhũng đang hoành hành tại VN, chính sách nhu nhược của ĐCSVN về đối ngoại.
Các tổ chức XHDS kêu gọi phát triển, thành lập Công Đoàn Độc Lập để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho công nhân và yêu cầu nhà cầm quyền CSVN trả tự do cho 3 nhà hoạt động trẻ Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương đang bị giam giử vì hoạt động công đoàn độc lập.
Việt Nam kêu gọi Mỹ hành động hơn nữa giúp giải quyết tranh chấp Biển Đông giữa các động thái gây hấn leo thang của Trung Quốc tại khu vực.
Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Lê Hải Bình trong cuộc họp báo ngày 5/6 nói Việt Nam hy vọng Hoa Kỳ sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn cũng như có thêm hành động thực tế hơn nữa góp phần duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và giúp giải quyết các tranh chấp chủ quyền trong vùng theo đúng luật lệ quốc tế.
Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh giữ gìn hòa bình và ổn định tại khu vực là lợi ích, nhiệm vụ không chỉ của các bên có liên quan trong tranh chấp và đồng thời hoan nghênh việc Mỹ và cộng đồng quốc tế thời gian gần đây đã lên tiếng vì một Biển Đông hòa bình.
Lời kêu gọi của Việt Nam được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Hoa Kỳ một lần nữa khẳng định sẽ thăng tiến quan hệ với Việt Nam về mọi mặt, kể cả quân sự, một khi Việt Nam cải thiện nhân quyền.
Trong cuộc phỏng vấn mới đây với VOA Việt ngữ, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski nói ‘hiện giờ nhân quyền là một phần hết sức quan trọng trong mối quan hệ Việt-Mỹ’ vì Hoa Kỳ ‘quan tâm đến tương lai, sự ổn định của Việt Nam, và sự an lành cho người dân Việt Nam.’
Ông Malinowski nói:
“Vấn đề an ninh ở đây nhắc nhớ rằng Việt Nam là một nước tương đối nhỏ trước một nước láng giềng rất lớn. Việt Nam cần luật quốc tế, cần trở thành thành viên trong cộng đồng mà nền tảng dựa trên sự tôn trọng những luật lệ chung được mọi người hiểu biết và tôn trọng. Và một phần trong sự giao kèo ấy bao gồm những luật lệ bảo vệ con người. Có những luật lệ quốc tế bảo vệ các nước trước sự xâm lược, trước sự xâm phạm chủ quyền biển đảo, và cũng có những luật lệ quốc tế bảo vệ con người. Cho nên, là thành viên của cộng đồng có nghĩa là chấp nhận toàn bộ gói luật lệ chung ấy. Đó là điều Mỹ đã nêu rõ với Việt Nam rằng vì sao từng bước tiến tới việc tuân thủ luật quốc tế về nhân quyền là một lợi ích cho Việt Nam. Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam chắc chắn có thể cải thiện và sẽ cải thiện, sẽ tăng cường sâu hơn nữa khi sự tôn trọng nhân quyền ở Việt Nam được tăng cường.”
Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ nhấn mạnh:
“Có rất nhiều lý do, đặc biệt là trong năm nay với các cuộc thương thảo về Hiệp định TPP, với chính sách tái cân bằng của Mỹ tại Châu Á, khiến vấn đề nhân quyền của Việt Nam sẽ nằm rất cao trong nghị trình làm việc của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng và kỳ vọng sẽ có tiến bộ từ Việt Nam.”
Mới đây, nhóm 7 nước công nghiệp thế giới bao gồm Mỹ vừa ra thông cáo chung bày tỏ quan ngại về căng thẳng Biển Đông và kêu gọi các bên tránh hành động đơn phương đe dọa hay uy hiếp để khẳng định chủ quyền.
Phát ngôn nhân Lê Hải Bình nói Việt Nam hoan nghênh thông cáo này và kỳ vọng các nước cùng các tổ chức quốc tế sẽ tiếp tục lên tiếng thúc đẩy một giải pháp ôn hòa cho vấn đề Biển Đông.
Trung Quốc phản bác thông cáo của nhóm G7 và quả quyết sẽ đáp trả bất kỳ hành động khiêu khích nào chống lại chủ quyền của Bắc Kinh.
Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao, Hồng Lỗi, nói các tranh chấp nên được giải quyết giữa các nước trực tiếp liên quan và sự can thiệp của các lực lượng bên ngoài chỉ làm phức tạp thêm tình hình. Ông Hồng kêu gọi các nước bên ngoài tôn trọng dữ kiện khách quan, tránh gây chia rẽ và khuấy động căng thẳng.
Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc đang leo thang, với các hình ảnh video Hà Nội đưa ra cáo giác Bắc Kinh liên tiếp tấn công tàu Việt ở Hoàng Sa, gần khu vực Bắc Kinh đặt giàn khoan quốc doanh 981.
Việt Nam nói kể từ ngày 3/5 tới nay, Trung Quốc đã đâm hỏng 24 tàu chấp pháp của Việt Nam, gây thương tích cho 12 kiểm ngư viên. Đó là chưa kể số tàu cá Việt bị tàu Trung Quốc tấn công, trong đó có một tàu bị húc chìm hôm 26/5 khi đang đánh bắt trên ngư trường truyền thống của Việt Nam.
Người phát ngôn Lê Hải Bình nói Việt Nam dồn mọi nỗ lực để mở các cuộc đối thoại với Trung Quốc giải quyết căng thẳng, nhưng khi thiện chí chỉ đến từ một phía thì các nỗ lực không đi tới đâu.
Tuy nhiên, Việt Nam cho tới nay vẫn quả quyết kiên trì theo đuổi các biện pháp hòa bình.
Trung Quốc đang tăng cường phát triển hải quân
Ngày 1/5 năm 2014, Trung Quốc hạ đặt Giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cách đảo Tri Tôn 17 hải lý với sự hỗ trợ lực lượng trên trăm tàu đủ loại và cả không quân.
Thời gian này Trung Quốc cho là thời cơ tốt thực thi chủ quyền tại “Đường chín đoạn Lưỡi Bò” chiếm 80% Biển Đông, trước hết có thể lôi kéo Nga đang bị Mỹ các nước Phương Tây gây áp lực sau khủng hoảng ở Ukraine.
Còn với Việt Nam thì Trung Quốc nắm rất kỹ nội tình, đang thu tóm kinh tế Việt Nam và nghĩ có thể xử ép, có khả năng xúi bẩy các cấp và cả người dân sau Hội nghị Thành Đô 1990.
Vì sao lúc này?
Thời điểm sau ngày 30/4 và trước ngày 7/5, kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày thất bại của Pháp và Mỹ ở Việt Nam, như nhắc nhở đến những khó khăn, khó chịu của các nước Phương Tây với Việt Nam.
Đồng thời họ cũng nhắc nhở Việt Nam những hệ lụy của ngày 30/4, Việt Nam thống nhất không theo ý của Trung Quốc, đã bị Trung Quốc dạy cho bài học mà cao nhất là cuộc chiến Tây Nam và Biên Giới Việt Trung năm 1979.
Trên đây có thể đúng hẳn hay chỉ một phần đúng theo cách suy nghĩ của Trung Quốc cho là thời cơ để thách thức Việt Nam với những gì mà Giàn khoan 981 đang và sẽ làm.
Thực tế đã diễn ra rất khác xa, có thể nói: lại trở thành thời cơ cho Việt Nam thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc.
Đây là khởi đầu một cuộc chiến không bằng súng như một luật sư đã phát biểu trong Buổi tập huấn về Luật biển của Liên Đoàn Luật sư Việt Nam ở Hà Nội hay các doanh nhân trẻ Việt Nam cho họ đang là các chiến sĩ trẻ trong cuộc trường kỳ kháng chiến thoát khỏi Bắc thuộc lần thứ tư trong lịch sử Việt Nam.
Những âm mưu biến Việt Nam trở thành thuộc quốc đã từ lâu nhất là từ khi có hội nghị Thành Đô năm 1990, ai cũng đã biết.
“Thời nào cũng có Trần Ích Tắc, Trần Di Ái, Lê Chiếu Thống, song những người ấy chỉ vì tư lợi sẽ thất bại và không còn ở lại trái tim người Việt“
Ông Nguyễn Cơ Thạch cũng từng cho rằng việc Việt Nam thoát khỏi khỏi vòng tay Trung Quốc không dễ dàng chút nào. Bởi có cả một thời gian dài khi đánh đuổi thực dân đế quốc Phương Tây, các nhà cách mạng Việt Nam kể cả quốc gia lẫn cộng sản đều đã nhờ đất và người Trung Quốc trợ giúp.
Song phải nói , nhất là năm 1972 Trung Quốc cùng Mỹ đưa ra Thông cáo chung Thượng Hải, nên đã quyết định dứt khoát với Trung Quốc.
Cụ thể là ngày 30/4/1975 thống nhất đất nước không theo ý Trung Quốc, đã bị Trung Quốc đáp trả, ngừng chi viện, cho Pol Pot đánh chiếm Thổ Chu và gây ra Mặt trận Tây Nam và Cuộc chiến 1979 sau đó.
Việt Nam càng ngày lại thấy vì lợi ích của Trung Quốc nên họ đã lôi kéo Việt Nam đối trọng với Liên Xô hay với Mỹ, và đã khiến Việt Nam khốn khổ.
Ví dụ như sau chiến thắng Điện Biện Phủ, đáng lẽ để Việt Nam toàn thắng họ lại dùng Hiệp định Geneva để chia cắt Việt Nam.
Mao biến chủ nghĩa Marx thành chủ nghĩa Mao cực quyền Đại Hán, khiến nhân dân Trung Quốc cơ cực
Hay sau 1972 Trung Quốc lại chiếm Hoàng Sa năm 1974, lợi dụng sự ủng hộ vô điều kiện của VNDCCH cho ‘phe đồng chí’ như Công Hàm Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuy chẳng có gía trị pháp lý về từ bỏ chủ quyền vì Hiệp Định Geneva Điều 1 đã qui định rất rõ thuộc chính quyền Phía Nam quản lý.
Song ngay khi hạ đặt giàn khoan HD-981 Đài Tiếng Nói Nhân dân Trung Hoa lại nhắc đến Công Hàm Phạm Văn Đồng, cho là bằng chứng về lịch sử, pháp lý mạnh mẽ nhất, không thể chối cãi.
Tuy thế, Việt Nam đã rất khôn ngoan, ngay sau ngày 30/4/1975 đã tổ chức hiệp thương hai chính quyền Nam Bắc, bầu cử quốc hội và chính quyền Việt Nam thống nhất có giá trị pháp lý quốc tế rất cao.
Chính quyền thống nhất này đã thừa kế chính quyền ở Miền Nam về chủ quyền.
Tính chất pháp lý quốc tế của chính quyền Việt Nam thống nhất lại khác hẳn tính chất của chính quyền VNDCCH, mặc dù có rất nhiều nhân vật lãnh đạo của chính quyền VNDCCH.
Ngay khi Thống nhất chính quyền Thống Nhất đã đặt ngay vấn đề chủ quyền tại Hoàng Sa với lãnh đạo Đặng Tiểu Bình và năm 1979, Việt Nam thống nhất đã công bố Sách trắng phản bác Trung Quốc về chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền của mình vừa liên tục vừa hòa bình phù hợp với pháp lý quốc tế.
Chủ nghĩa Marx đã có vai trò lịch sử, có mặt tích cực giúp cho chủ nghĩa tư bản thay đổi ngày càng tốt hơn, như đời sống công nhân ngày càng cao và có thể tham gia cổ đông và chính trị dễ dàng, trong khi Mao biến chủ nghĩa Marx thành chủ nghĩa Mao cực quyền Đại Hán.
Những chuyện thâm cung bí sử sát hại lẫn nhau thời phong kiến xưa được Mao biến thành đại trà đem đến tận người dân bình thường, cụ thể là cảnh đấu tố trong cải cách ruộng đất, con đấu tố cha, giết cha; trò đấu tố thầy giết thầy; các đồng chí chung quanh Mao hầu hết đều bị giết hại thẳng tay.
Nhân dân Trung Quốc khi đó có đời sống cực khổ, một hình thức nô lệ, phong kiến kiểu mới cực quyền.
Cũng may Việt Nam đã nhanh chóng sửa sai, và khi Cách mạng Văn Hóa ở Trung Quốc giết hại các đồng chí thì Việt Nam không theo, chỉ có Pol Pot nhắm mắt theo, đã xảy ra đại họa diệt chủng.
Thoát vòng tay Trung Quốc
Thực tâm Trung Quốc không bao giờ muốn Việt Nam mạnh cả mà chỉ là thuộc quốc, bảo sao nghe vậy.
Giới trẻ Trung Quốc được giáo dục rất kỹ như học giả trẻ Trung Quốc Vương Hàn Lĩnh tuyên bố trên Tuần Việt Nam năm 2011 rằng trước năm 1885 Việt Nam là thuộc quốc của Trung Quốc và do Đế quốc Phương Tây làm gián đoạn mà thôi.
Chỉ có ông Lê Duẩn là hiểu được suy nghĩ thực của Mao Trạch Đông
Cũng như viên tướng Phó Tổng tham mưu Trung Quốc tuyên bố trong hội nghị tại Singapore vừa qua rằng từ thời Hán, 2000 năm trước, các đảo ở Nam Hải đều thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Như thế hẳn nhiên các nước Hy Lạp, La Mã, Thổ Nhĩ Kỳ chắc kiểu như thế sẽ tuyên bố cả châu Âu và Địa Trung Hải hiện cũng là thuộc nước họ từ lâu.
Trung Quốc không ngờ chính thời điểm đặt Giàn Khoan sau 30/4 lại khơi dậy tinh thần yêu nước vốn có của người Việt Nam lên cao chưa từng thấy, tạo thời cơ cho Việt Nam khẳng định Việt Nam không là sân sau của Trung Quốc, khiến Việt Nam dễ dàng vào khối Kinh tế TTP, thoát khỏi Trung Quốc thao túng về kinh tế, chính trị văn hóa.
Đây hẳn nhiên còn là thời cơ khiến Việt Nam có triển vọng trở thành cường quốc trong một tương lai không xa, nếu Việt Nam muốn xây dựng nội lực hùng cường, nếu trong và ngoài hiệp lực cùng nhau.
Cũng là thời cơ người Việt Nam bừng tỉnh thế kỷ qua Việt Nam là nạn nhân của thời cuộc quốc tế, bỏ qua thù hận, khời đầu kỳ nguyên Đại hòa cùng nhau cứu nước thoát Bắc thuộc lần thứ 4.
Việc Thủ tướng Việt Nam Bấm tuyên bố cứng rắn ở Philippines rằng không đổi chủ quyền thiêng liêng lấy hữu nghị viển vông và lệ thuộc nào đó, đã được đánh giá như khởi đầu giai đoạn lịch sử mới, mở đầu cuộc chiến không bằng súng mà toàn diện từ văn hóa tư tưởng, chính trị, kinh tế để Việt Nam thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc.
Thời nào cũng có Trần Ích Tắc, Trần Di Ái, Lê Chiếu Thống, song những người ấy chỉ vì tư lợi sẽ thất bại và không còn ở lại trái tim người Việt.
Lịch sử đã khẳng định cho ta biết như thế.
Bất cứ ai làm cho đất nước suy hèn đều có tội với Tổ tông và Dân tộc.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nói Trung Quốc phải rút giàn khoan ‘vô điều kiện’ (ảnh chụp 2012)
Một Phó Thủ tướng Việt Nam tuyên bố Trung Quốc phải rút giàn khoan “vô điều kiện”, và nói Việt Nam “không chấp nhận đánh đổi độc lập, chủ quyền để lấy bất kỳ thứ gì”.
Ông Hoàng Trung Hải phát biểu tại Hải Phòng sáng 7/6 nhân Lễ mít tinh quốc gia hưởng ứng Ngày Đại dương Thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2014.
Quan hệ Việt – Trung tiếp tục căng thẳng, với việc Việt Nam nói tàu Trung Quốc đã làm hư hỏng 24 tàu của Việt Nam từ ngày Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 gần quần đảo Hoàng Sa.
Tương tư như tuyên bố của một số lãnh đạo Việt Nam, ông Hoàng Trung Hải nói Trung Quốc đã có “hành động sai trái, ngang ngược, bất chấp đạo lý và luật pháp quốc tế”.
“Trung Quốc liên tục có những hành động khiêu khích, gây hấn, tấn công tàu chấp pháp và đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam đang hoạt động trong vùng biển nước ta.”
“Hành động sai trái của Trung Quốc không chỉ bị Việt Nam mà còn bị nhiều quốc gia, nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới lên án mạnh mẽ,” ông Hải phát biểu.
Ông Hải nhấn mạnh Việt Nam “kiên trì đấu tranh thông qua các biện pháp hòa bình” nhưng “hòa bình, hữu nghị phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, chủ quyền”.
“Chúng ta không chấp nhận đánh đổi độc lập, chủ quyền để lấy bất kỳ thứ gì và không chấp nhận bất kỳ hình thức đe dọa, áp đặt nào.”
Phó Thủ tướng Việt Nam nói Việt Nam “yêu cầu Trung Quốc rút ngay giàn khoan vô điều kiện khỏi vùng biển của Việt Nam và giải quyết các tranh chấp bằng con đường hòa bình, đối thoại trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế”.
Bài phát biểu của phó thủ tướng Việt Nam dường như nhận được sự tán thưởng của dư luận trong nước.
Nhà văn Nguyễn Quang Lập viết trên Facebook của ông: “Phát biểu của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khá hay, mềm mỏng nhưng khảng khái.”
Việt Nam tổ chức họp báo hôm 5/6 để lên án Trung Quốc
“Lần đầu được nghe một quan chức chính phủ yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan vô điều kiện,” ông Lập nhận xét.
Trước đó, người đứng đầu chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tuyên bố đã ‘chuẩn bị’ và ‘sẵn sàng’ có hành động pháp lý kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về vụ Giàn khoan Hải Dương 981.
Những bác sỹ được cho là đặc biệt dũng cảm làm việc tại Bệnh viện số 4 ở Bắc Kinh đã chụp cả hình nhiều xác chết với hy vọng giúp thân nhân nhận diện.
Các xác chết này thường bị công an Trung Quốc nhanh chóng đem vào nhà thiêu.
Con số người bị bắn chết tại Bắc Kinh đêm hôm đó được ước tính ít nhất là hàng trăm còn phe đấu tranh dân chủ Trung Quốc nói là ‘hàng nghìn’.
Quân đoàn 27
Xe tăng và bộ đội thuộc Quân đoàn 27 được điều vào thủ đô Trung Quốc để trấn áp và giải tán biểu tình của sinh viên, công nhân và trí thức kéo dài nhiều tuần tại Thiên An Môn.
Các tài liệu, gồm cả những gì Hoa Kỳ giải mật nhân dịp 25 năm vụ thảm sát, nói rằng bộ đội Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa đã “bắn vô tội vạ” vào người dân trên đường phố, bất kể họ là sinh viên hay không.
Tại Hong Kong đã có lễ tưởng niệm 25 năm ngày thảm sát Thiên An Môn.
Những gì tình báo Hoa Kỳ ghi lại nói có “những lính Trung Quốc cười” khi nổ súng bắn người.
Vẫn trang CNN nói những gì tình báo Mỹ ghi lại có nhiều phần không chính xác vì đã thu lượm cả các tin đồn đoán trong thành phố Bắc Kinh khi đó mà sau đó hóa ra là sai như tin ‘lãnh tụ Đặng Tiểu Bình chết’.
Trên thực tế, ông Đặng chỉ qua đời vào tháng 2/1997.
Nhưng bức tranh mà các phần ghi âm của Hoa Kỳ giúp người ta dựng lại cho thấy nhiều chi tiết xảy ra sau đêm ngày 4/6 và sự hoảng sợ của ban lãnh đạo Trung Quốc.
Đó là chuyện “các lãnh đạo ở tịt trong biệt thự không ra ngoài sau nhiều ngày” vì sợ có chính biến.
Biển số xe của họ cũng được thay đổi, theo bài của phóng viên Bấm Hilary Whiteman trên trang CNN.
Ngoài ra, một chiến dịch truy bắt sinh viên ở các điểm kiểm soát quanh Bắc Kinh và cả ở sân bay quốc tế cũng được triển khai.
“Những ai trông giống sinh viên và trí thức” đều thuộc đối tượng bị xét hỏi.
Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn bất đồng về cách nhìn nhận vụ Thiên An Môn 25 năm về trước.
Hôm 5/6/2014, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho hay họ đã gửi lời than phiền tới Hoa Kỳ bày tỏ sự “bất bình sâu sắc” về cách Hoa Kỳ nêu quan điểm liên quan tới vụ Thiên An Môn.
“TQ gửi lời than phiền tới Hoa Kỳ bày tỏ sự bất bình sâu sắc“
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hồng Lỗi
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ, ông Hồng Lỗi cho hay phía Trung Quốc đã lên tiếng một cách ‘long trọng nhất’ tới chính giới Mỹ.
Tại Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm 25 năm vụ Thiên An Môn, đài báo chính thức không hề nói gì về vụ này.
Các cuộc tuần hành hoặc đốt nếu tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn chỉ được tổ chức ở Hong Kong, Đài Loan và các nơi có cộng đồng người Trung Quốc ở hải ngoại.
Còn theo biên tập viên chuyên về Trung Quốc của BBC, bà Carrie Gracie trong bài viết từ Bắc Kinh thì “sự lãng quên là cách để tồn tại” với người Trung Quốc khi động đến chủ đề Thiên An Môn
Theo bà Gracie, ngày nay nhìn lại, “Thiên An Môn là một phần của chu kỳ chính trị hy vọng và sợ hãi ở Trung Quốc,”
Tuy thế, từ sau 1989, “Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chú ý tìm hiểu dư luận” nhưng nếu phải làm điều tương tự một lần nữa như trấn áp ở Thiên An Môn, “có lẽ họ sẽ vẫn làm”, theo phóng viên BBC.
Việt Nam nói tàu Trung Quốc đã làm hư hỏng 24 tàu của Việt Nam từ ngày Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 gần quần đảo Hoàng Sa.
Bộ Ngoại giao Việt Nam lại tổ chức họp báo tại Hà Nội hôm 5/6 để lên án và đòi Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi khu vực mà Hà Nội nói là vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Tại đây, ông Ngô Ngọc Thu, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Cảnh sát biển, cáo buộc tàu Trung Quốc đã làm hư hỏng 24 tàu của Việt Nam từ ngày Trung Quốc hạ đặt giàn khoan gần quần đảo Hoàng Sa.
Theo ông Thu, trong số này gồm 19 tàu kiểm ngư, 5 tàu Cảnh sát biển.
Trong khi đó, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, tổng kết từ đầu tháng Năm đến nay, Việt Nam “có trên 30 cuộc trao đổi” với Trung Quốc.
Việt Nam đã cho các nhà báo trong nước và nước ngoài xem đoạn video ngày 1/6 cho thấy tàu Trung Quốc đâm vào tàu 2016 của Cảnh sát biển Việt Nam.
Ông Ngô Ngọc Thu cáo buộc vụ này “cực kỳ nguy hiểm, nếu sâu chút nữa sẽ gây chìm tàu”.
Tại cuộc họp báo, Việt Nam nhắc lại yêu cầu Trung Quốc “rút giàn khoan và làm rõ tính pháp lý khu vực đặt giàn khoan”.
Biểu tình ‘yêu nước’
Theo tường thuật của báo Tuổi Trẻ, có hai câu hỏi của phóng viên nước ngoài về việc biểu tình chống Trung Quốc của người dân.
Người phát ngôn Bộ ngoại giao Lê Hải Bình trả lời hãng tin AP: “Người dân Việt Nam có quyền biểu thị yêu nước theo quy định của pháp luật.”
Một phóng viên của hãng tin Đức DPA nói người này chứng kiến công an Việt Nam ngăn cản người dân biểu tình trước cửa sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội.
“Cảnh sát cũng nói với tôi đây là hành động bất hợp pháp, yêu cầu phải rời đi vì lý do an ninh,” theo phóng viên của DPA.
Ông Lê Hải Bình trả lời rằng Đảng Cộng sản và chính phủ “luôn trân trọng sự biểu thị lòng yêu nước của người dân”.
“Các cuộc biểu tình cũng phải theo thủ tục như đăng ký thời gian, địa điểm, ngày giờ, nội dung. Về biểu tình Việt Nam đã có quy định như vậy.“
Lê Hải Bình, người phát ngôn ngoại giao Việt Nam
“Như mọi quốc gia, mọi hình thức biểu thị lòng yêu nước cũng phải đúng theo quy định của pháp luật.”
“Các cuộc biểu tình cũng phải theo thủ tục như đăng ký thời gian, địa điểm, ngày giờ, nội dung. Về biểu tình Việt Nam đã có quy định như vậy,” ông Bình nói.
Trong lúc Việt Nam chưa có Luật Biểu tình, dường như ông Bình ám chỉ Nghị định 38/2005/NĐ-CP về bảo đảm trật tự công cộng.
Nghị định này không nói về việc biểu tình, nhưng quy định “Thủ tục đăng ký tập trung đông người ở nơi công cộng”.
“Trước khi tiến hành các hoạt động tập trung đông người ở nơi công cộng, tổ chức hoặc người tổ chức các hoạt động đó phải gửi bản đăng ký đến Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền,” theo nghị định.
Tại cuộc họp báo, Việt Nam “hoan nghênh” việc nhóm G7 có tuyên bố hôm 4/6 “bày tỏ lo ngại sâu sắc” về tình hình Biển Đông và Biển Hoa Đông.
Ông Lê Hải Bình nói Việt Nam “tiếp tục mong muốn các quốc gia, các tổ chức tiếp tục có tiếng nói mạnh mẽ hơn”.
Cùng ngày tại Bắc Kinh, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi, khi bình luận về tuyên bố của G7, nói rằng “các nước ngoài khu vực cần tôn trọng sự thật khách quan, giữ thái độ công bằng”.
HONG KONG — Hàng vạn người tại Hong Kong ngày hôm qua kỷ niệm năm thứ 25 năm vụ thảm sát Thiên An Môn. Họ yêu cầu Trung Quốc để cho dân chúng thảo luận về những gì xảy ra trong năm 1989, và đòi Đảng Cộng sản chịu trách nhiệm đối với vụ thảm sát này. Mời quí thính giả theo dõi thêm chi tiết qua bài tường thuật do thông tín viên Rebecca Valli của đài VOA gởi về từ Hong Kong.
Những người tham dự lễ thắp nến đi ngang qua các dấu hiệu thương tiếc có tên một số người đã bị giết hại cách đây 25 năm tại Bắc Kinh.
Một số người đến từ Hoa lục, nơi những chi tiết về những cuộc biểu tình đòi dân chủ và vụ đàn áp của chính phủ là điều cấm kị. Chỉ có thành phố tự trị Hong Kong mới có thể tưởng niệm công khai.
Cô Dương, 23 tuổi ở thành phố Quảng Châu miền nam Trung Quốc, nói mặc dù có kiểm duyệt, nhưng nhiều người trẻ tại Trung Quốc biết được những gì đã xảy ra. Tuy nhiên, cô nói thêm là họ chỉ có thể tưởng niệm cuộc biểu tình theo cách thức riêng tư và trong những nhóm nhỏ.
“Tôi nghĩ chính phủ nên cho phép người dân tiến hành những sinh hoạt khác nhau để nhớ đến lịch sử, để đòi hỏi các quyền của họ một cách hợp pháp.”
Những học sinh trung học Hong Kong nói các em có mặt tại đây để biết thêm về một biến cố được học trong lớp học lịch sử. Một em tên Chloe Yip phát biểu như sau.
“Chúng tôi thực sự biết được những sự thật của biến cố ngày 4 tháng 6 và chúng tôi được thúc đẩy bởi trái tim và lòng nhiệt thành đòi hỏi công lý tại đây và tại đất mẹ.”
Ông Ng Siu Wing, một kỹ sư về hưu đã đáp máy bay tới Hồng Kông từ Canada, nơi ông sinh sống, để tham gia buổi thắp nến cầu nguyện.
“Tôi nghĩ người dân vẫn mong muốn điều này. Họ vẫn muốn dân chủ, vẫn muốn chính phủ chính phủ Trung Quốc thay đổi.”
Trong nhiều tuần lễ trước ngày kỷ niệm, nhà cầm quyền Trung Quốc bắt giữ và bắt đầu theo dõi một số nhà tranh đấu, gồm có các thành viên trong nhóm Những Bà mẹ Thiên An Môn.
Cuộc thắp nến cầu nguyện năm nay diễn ra khi mối quan hệ giữa Hong Kong và Bắc Kinh bắt đầu thay đổi.
Người tổ chức lễ thắp nến Mạch Hải Hoa cho biết như sau về tổ chức qui tụ thân nhân những người bị giết hại vào năm 1989.
“Cộng đồng của những bà mẹ này đi tìm công lý cho những người con đã chết vì lý tưởng, đi tìm sự thật cho những người con bị buộc tội một cách oan uổng, và để cho mọi người ghi khắc trong tim sự kiện lịch sử bi thảm này.”
Cuộc thắp nến cầu nguyện năm nay diễn ra khi mối quan hệ giữa Hong Kong và Bắc Kinh bắt đầu thay đổi.
Cựu thuộc địa Anh quyết định thay đổi về cách thức bầu cử để thiết lập quyền phổ thông đầu phiếu. Tuy nhiên, những tổ chức tranh đấu cho dân chủ tố cáo Bắc Kinh đang thúc đẩy cho một kế hoạch, mà nếu được thực hiện, thì sự lựa chọn của cử tri sẽ bị hạn chế rất nhiều.
Một số người tham dự lễ thắp nến nói người dân Hong Kong cũng cần phải tranh đấu cho dân chủ, in hệt như những gì mà các sinh viên Trung Quốc đã làm ở Bắc Kinh cách nay 25 năm.
Khác với hành động bị độc giả chỉ trích là ‘né tránh’ những năm trước đây, một số tờ báo trong nước hôm 4/6 đã cho đăng các bài nhân 25 năm biến cố Thiên An Môn ở Trung Quốc. Báo điện tử VnExpress cho đăng một bài dài nhìn lại sự kiện mà nhật báo Thanh Niên và Người Lao Động gọi đó là cuộc ‘thảm sát’ và ‘bi kịch đẫm máu’. VOA Việt Ngữ đã hỏi chuyện nhà quan sát tình hình chính trị – xã hội Việt Nam, Tiến sỹ Nguyễn Quang A. Trước hết, ông cho biết:
Tiến sỹ Nguyễn Quang A: Cũng có một số báo chính thống họ đưa tin về sự kiện Thiên An Môn 25 năm trước đây. Nói chung, trong cái không khí hiện nay với Trung Quốc thì có thể thấy là một vài báo đã có nêu những chuyện đó lên. Chứ còn, thường trước kia thì các báo chính thống đến những ngày kỷ niệm như thế thì họ ít đưa thông tin, chắc là theo yêu cầu của Trung Quốc.
VOA: Trên phiên bản điện tử, dường như một số báo đã mạnh dạn hơn những năm trước khi đưa tin, như tờ Thanh Niên còn gọi là ‘cuộc thảm sát đẫm máu’ hay tờ Giáo Dục Việt Nam đặt tít là ‘Trung Quốc cố quên vụ Thiên An Môn, đòi nước khác tôn trọng lịch sử’. Vì sao lại có sự thay đổi này, thưa ông?
Tiến sỹ Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ cũng dễ hiểu thôi bởi vì ‘cảnh sát tư tưởng’ của Việt Nam, hay nói cụ thể là những người mà người ta làm việc kiểm soát đầu óc của người dân mà ở Việt Nam người ta gọi là tuyên giáo thì họ luôn luôn muốn uốn nắn đầu óc của người dân, và trong những thời kỳ mà quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc rất là tốt đẹp, trong nháy nháy ấy, thì họ thường làm theo yêu cầu của phía Trung Quốc. Nhưng mà từ hơn một tháng nay, khi mà chính quyền Trung Quốc đã có những hành động rất trắng trợn, xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam ở ngoài biển Đông thì cái thế lực của ‘cảnh sát tư tưởng’ nó cũng bị lùi đi một chút, và các báo tận dụng cái cơ hội đấy để họ làm đúng chức năng đưa thông tin và bình luận của họ.
VOA: Liệu có phải việc Trung Quốc đưa giàn khoan khổng lồ vào vùng mà Việt Nam nói là Khu đặc quyền kinh tế của mình khiến giới hữu trách nới lỏng hơn về các tin từng bị coi là nhạy cảm liên quan tới Trung Quốc không, thưa ông?
Tiến sỹ Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ rằng đấy thực sự cũng vì chính bản thân họ thôi. Tôi không nghĩ rằng cái đấy là cái chuyện họ nới lỏng, bởi vì họ mà kiềm chế, hoặc họ ngăn chặn như trước thì cái bộ mặt nó lộ ra rằng những hành động như thế là những hành động thực sự bán nước. Thực sự không có ai muốn đeo cái nhãn đấy vào mình cả. Cái việc đấy cũng là theo cái lợi ích của họ mà thôi.
VOA: Bản tin về 25 năm xảy ra biến cố Thiên An Môn trên các hãng phát thanh có phiên bản tiếng Việt thường nằm trong số các bài được đọc nhiều nhất. Theo nhận định của ông, vì sao người Việt lại quan tâm tới sự kiện này như vậy?
Tiến sỹ Nguyễn Quang A: Người Việt Nam quan tâm tới cái sự kiện này, trước hết nó là một cái năm chẵn, 25 năm. Và cái sự kiện vụ thảm sát Thiên An Môn thì đối với bạn đọc Việt Nam cũng không lạ gì về cái chuyện này. Tuy rằng báo chí chính thống trong thời gian vừa qua có thể là họ không chủ động để đưa nhiều về những sự kiện 4/6 chẳng hạn, hoặc là ở Việt Nam trên mạng họ cũng không có chủ ý ngăn chặn những chuyện đó cho nên người dân Việt Nam thực sự biết được cái sự kiện đấy, bình luận về sự kiện đấy, và người ta cũng rất là quan tâm và so sánh xem cái ứng xử của chính quyền Việt Nam với chính quyền Trung Quốc lúc đó, hay là chính quyền Trung Quốc bây giờ nó ra sao.
Ý thứ hai thì tôi nghĩ gắn với chuyện giàn khoan 981 và người ta cũng muốn thấy rõ hơn cái của bên Trung Quốc thực sự nó như thế nào. Thực sự là người dân có cái nhu cầu tìm hiểu về một cái đối thủ mà chính quyền mà trước kia bị cái ‘4 tốt’ và ’16 chữ vàng’ nó trói lại và hiện nay thậm chí cũng còn một số ít người vẫn còn gắn bó với nhau là cùng một ý thức hệ, thế này, thế kia, nhưng mà thực sự tôi nghĩ rằng nó không phải là như vậy và người dân họ có một cái nhu cầu tìm hiểu. Nội tại của mỗi người dân.
Tới tối ngày 4/6, các tờ báo ở Việt Nam dường như đã rút các bài báo về sự kiện Thiên An Môn xuống. Khi click vào đường dẫn các bài báo mà VOA trích dẫn thì đều xuất hiện các hàng chữ ‘Không tìm thấy đường dẫn này,’ hay ‘Không tìm thấy trang bạn cần tìm’. Các báo không nêu lý do gì thêm. VOA Việt Ngữ không thể liên lạc được với Ban Tuyên giáo Trung ương Việt Nam để phỏng vấn.
Trước khả năng chính quyền Việt Nam khởi kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế về vụ giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng biển Việt Nam, nhiều ý kiến từ giới học giả trí thức cho rằng nhà nước phải nhanh chóng hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng 1958 về việc công nhận lãnh hải Trung Quốc.
Khúc xương mắc nghẹn
Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 từng được coi là một khúc xương mắc nghẹn của Việt Nam. Lúc đó Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải 12 hải lý tính từ đất liền, kể cả các hải đảo như Tây Sa và Nam Sa tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ngày 14/9/1958, ông Phạm Văn Đồng Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã gởi công hàm ngoại giao tán thành tuyên bố đó của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai. Sau này Phía Trung Quốc đã sử dụng công hàm Phạm Văn Đồng như một lợi thế trong mọi tranh chấp chủ quyền biển đảo với Việt Nam.
Qua vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 bất hợp pháp xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi, hôm 23/5/2014 lần đầu tiên Bộ Ngoại giao Việt Nam họp báo chính thức ở Hà Nội để biện giải công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị. Công luận Việt Nam đưa ra rất nhiều ý kiến tranh cãi phản biện về nội dung công hàm Phạm Văn Đồng và về cách thức làm thế nào để vô hiệu hóa giá trị của nó.
Chúng tôi ghi nhận ý kiến mới nhất của học giả Đinh Kim Phúc, một nhà nghiên cứu biển Đông hiện sống và làm việc ở Sài Gòn. Ông nói:
Hiệp định Geneve 1954 chia đôi hai miền Nam Bắc, rõ ràng là một bên từ vĩ tuyến 17 trở ra là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; một bên từ vĩ tuyến 17 trở vào là Việt Nam Cộng Hòa. Rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thuộc về Việt Nam Cộng Hòa còn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì có tư cách gì mà nói đến.
-Thạc sĩ Hoàng Việt
“Dù là người phát ngôn Bộ Ngoại giao hay là Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thì đều không có giá trị, phải có một Nghị quyết của Quốc hội phủ nhận hoàn toàn công hàm Phạm Văn Đồng thì mới có thể đấu lại Trung Quốc. Còn công hàm Phạm Văn Đồng đúng hay sai thì kiện ra tòa các nhà luật học sẽ chứng minh công hàm đó đúng hay sai ở mức độ nào trong từng thời điểm của lịch sử. Tôi nghĩ rằng tôi không bênh Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhưng như tôi đã thường nói cái ý thức hệ đồng chí anh em nó đã khiến cho những người lãnh đạo Việt Nam đã phải ký cái công hàm này thì đó là cái giá phải trả rất lớn mà đến ngày hôm nay không rút được kinh nghiệm thì Việt Nam sẽ còn trả những cái giá lớn hơn mất trọn biển Đông.”
Một trong các luận điểm được nhiều học giả Việt Nam và nay cũng là luận điểm của giới chức chính phủ Việt Nam để hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng 1958. Đó là miền Bắc vào thời điểm 1954-1975 không có thẩm quyền gì đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa do miền Nam tức quốc gia Việt Nam Cộng Hòa quản lý và không thể cho người khác cái gì mà bạn chưa có được. Thạc sĩ Hoàng Việt, giảng viên luật quốc tế Đại học Luật TP.HCM, thành viên Quỹ nghiên cứu biển Đông đã kiên trì với lập luận của mình:
“Không có ông nào ở miền Bắc lúc đó có quyền nói về công nhận Hoàng Sa Trường Sa được cả. Bởi vì lúc đó theo Hiệp định Geneve 1954 chia đôi hai miền Nam Bắc, rõ ràng là một bên từ vĩ tuyến 17 trở ra là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; một bên từ vĩ tuyến 17 trở vào là Việt Nam Cộng Hòa. Rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thuộc về Việt Nam Cộng Hòa còn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì có tư cách gì mà nói đến.”
Đề nghị vô hiệu hóa công hàm PVĐ
Công hàm Phạm Văn Đồng 1958
Ngày 26/5/2014 ông Trương Nhân Tuấn, một người Việt Nam cư trú ở Pháp đã gởi thư không niêm cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh để góp ý là, các luận cứ của giới chức chính phủ và nhiều học giả khác có thể bất lợi và khó thuyết phục về việc công hàm Phạm Văn Đồng 1958 không có giá trị. Ông Tuấn viện dẫn Hiệp định Geneve 1954 xác nhận Việt Nam là nhà nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất và được tái xác nhận theo Hiệp định Paris 1973. Theo Hiệp định Geneve 1954, Việt Nam là một quốc gia nhưng tạm thời bị phân chia, trong khi chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Từ quan điểm này, ông Trương Nhân Tuấn đề nghị vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng.
Trong dịp trả lời Gia Minh đài ACTD, ông Trương Nhân Tuấn phát biểu:
“Trên tinh thần một nước Việt Nam “độc lập, có chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ” của các hiệp ước 1954 và 1973, thì bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa), nếu có làm tổn hại đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chúng đều không có giá trị.
Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng viết trong khoảng thời gian 1954-1973, có liên quan đến chủ quyền và đe dọa toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại tinh thần hai Hiệp định 1954 và 1973, do đó không có giá trị pháp lý ràng buộc.”
Rất khác biệt với ý kiến của ông Trương Nhân Tuấn, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng một nhà hoạt động xã hội dân sự từ Đà Nẵng nhận định:
“Lẽ ra mình phải làm ngay chuyện này trước, tức là hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng. Thứ hai là phải thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa để chúng ta có tuyên bố chủ quyền liên tục từ 1954 tới 1975 vì chủ quyền Hoàng Sa từ 1954 tới 1975 Việt Nam Dân Chủ Công Hòa ở phía Bắc không có tuyên bố chủ quyền. Cho nên hai điều quan trọng nhất là phải hóa giải cho được công hàm Phạm Văn Đồng, tức là phải tuyên bố rõ với thế giới là công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị, thứ nhất là không được Quốc hội thông qua. Thứ hai là trong hoàn cảnh VNDCCH phía Bắc đã không sở hữu quần đảo Hoàng Sa này. Và thứ ba để có một tuyên bố chủ quyền liên tục, để tiến tới kiện thì phải có tuyên bố với thế giới, có văn bản thừa nhận chính quyền VNCH. Phải có những tiền đề rồi sau đó cùng với các nước ASEAN, cụ thể là những nước có tranh chấp như Philippines, Malaysia, Indonesia. Những chuyện về các hòn đảo thì mình bàn trước đi để thống nhất tạo một cái luật chơi.”
Công luận Việt Nam, từ báo chí chính thức đến các diễn đàn xã hội đều cho thấy nhà nước Việt Nam phải đặt ưu tiên số một về việc hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng, còn làm thế nào để vô hiệu hóa nó thì sự tranh cãi vẫn đang tiếp tục. Liệu Việt Nam có thể khởi kiện Trung Quốc hay không trước khi thực sự hóa giải được công hàm Phạm Văn Đồng 1958.
Hạm đội 7 Hoa Kỳ, lực lượng trấn thủ Thái Bình Dương. Courtesy of US Navy
“Bùng nổ như tạc đạn” là nhận xét về Diễn đàn Thượng đỉnh An ninh châu Á, danh xưng vắn tắt là Đối thoại Shangri-La, nhóm họp thường niên tại Singapore năm nay.
Nhân vật đem trưng bày ngòi nổ trước diễn đàn là Thủ tướng Nhật Shinzo Abe, và người châm ngòi là Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel.
Thủ tướng Nhật cam kết sẽ yểm trợ tối đa cho các nước ASEAN để bảo đảm an ninh trên biển và trên không cho Đông Nam Á, bằng sự trợ giúp phát triển, xây dựng khả năng, hợp tác cung cấp kỹ thuật và khí cụ quốc phòng.
Ông kêu gọi tinh thần thượng tôn luật pháp của tất cả các chính phủ liên quan, nói rằng Nhật sẽ giữ vai trò lớn lao và năng động hơn hết từ trước tới nay, trong việc gìn giữ cho nền hoà bình châu Á và thế giới thêm vững chắc.
Thủ tướng Nhật Shinzo Abe trên diễn đàn Đối thoại Shangri-La, 30 tháng 5, 2014 – Courtesy of IISS document
Ông cho biết Nhật Bản và Hoa Kỳ sẵn sàng củng cố hợp tác an ninh quốc phòng với Australia và khối ASEAN.
Đây có vẻ như một chính sách đã được Nhật bàn thảo trước cùng với Hoa Kỳ để tung ra trong cuộc đối thoại quốc phòng Shangri-La năm nay. Lập trường này rõ ràng đã phát khởi vì hành động xâm lấn của Trung Quốc trên lãnh hải Việt Nam. Và Thủ tướng Nhật cho thấy Nhật, Mỹ và Úc đã đồng thuận về kế hoạch liên quốc gia để đối phó với chiến lược bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á và toàn cầu. Duy chỉ có khối ASEAN là còn ngồi yên nghe ngóng ý định của các cường quốc, chưa bao giờ quyết định được điều gì có ý nghĩa.
Sau Thủ tướng Shinzo Abe, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ đã châm ngòi nổ với những lời lẽ cứng rắn khác thường, mạnh mẽ nhất từ trước tới nay, hướng vào Trung Quốc. Ông trực tiếp lên án hành động đơn phương của Trung Quốc gây bất ổn cho châu Á khi giành lấn chủ quyền trên biển Đông, gọi đó là hăm dọa, cưỡng ép, đe dọa dùng võ lực để khẳng định chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải. Bộ trưởng Chuck Hagel nhắc lại lời cam kết của Mỹ về kế hoạch tái quân bình lực lượng ở châu Á, nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ sẽ không ngoảnh mặt đi, mà sẽ duy trì luật pháp quốc tế, cương quyết đối đầu với hành động xâm lược, giúp tăng cường khả năng quốc phòng của các đồng minh và của chính nước Mỹ. Ông khuyên Trung Quốc nên đoàn kết với quốc tế cho một nền hoà bình toàn cầu, nếu không thì sẽ gây hại cho hòa bình và ổn định cho hằng triệu người ở châu Á và hằng tỉ người trên thế giới.
Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ trên diễn đàn Dialogue Sangri-La, 31 tháng 5, 2014
Diễn tiến Đối thoại Shangri-La cho thấy rõ ràng đây là bài song ca đã được chuẩn bị, nếu không nói là bài hợp ca giữa Hoa Kỳ với Nhật và Úc, được gióng lên để cảnh cáo Trung Quốc một cách nghiêm khắc nhất, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động, như Hoa Kỳ đang thi hành trong kế hoạch điều động lực lượng hải quân hướng về Đông Nam Á.
Điều đáng chú ý là Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ đã thông báo Mỹ sẽ tăng ngân sách hoạt động quân sự lên 35% vào năm 2016, và tăng 40% ngân sách huấn luyện, đào tạo về quân sự.
Nước Mỹ có vẻ như vừa thức tỉnh do hành động xâm lược của Trung Quốc ở biển Đông. Mới hồi tháng 2 năm nay ông Chuck Hagel nói với giọng ảm đạm rằng Hoa Kỳ sẽ không còn thống trị trên trên không gian và biển cả vì phải cắt giảm đáng kể ngân sách quốc phòng và hoạt động quân sự. Nay đột nhiên chính sách đảo ngược hẳn lại, chẳng phải nước Mỹ giựt mình tỉnh thức vì Trung Quốc bắt đầu gióng hồi trống trận hay sao?
Tiếp sau Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, tướng Vương Quán Trung, đã phản bác mạnh mẽ quan điểm của Thủ tướng Nhật và Bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Ông nói lời lẽ của Bộ trưởng Hagel là nguy hiểm ngoài sức tưởng tượng và đầy chủ nghĩa bá quyền. Nhưng có tin cho hay sau đó khi họp song phương với Mỹ về quốc phòng, tướng họ Vương đã đề nghị hai nước củng cố hợp tác quốc phòng vì quyền lợi chung ở châu Á và trên thế giới. Điều này có thể được hiểu là Bắc Kinh muốn bắt tay quân sự với Mỹ để chia chác quyền lợi trên vùng biển quanh Trung Hoa và xa hơn nữa. Nhưng Bộ trưởng Hagel vẫn giữ thái độ nghiêm khắc như trong hội nghị, không đáp ứng đề nghị, và cắt ngắn cuộc họp chỉ sau có 20 phút thảo luận.
Phó TTMT quân đội Trung Quốc, Trung tướng Vương Quán Trung, tại diễn đàn Đối thoại Shangri-La 2014
Công luận của người Việt thì chú ý đến lời phát biểu trước Diễn đàn Đối thoại Shangri-La của Bộ trưởng quốc phòng, đại tướng Phùng Quang Thanh. Có nhiều ý kiến chỉ trích ông Thanh vì lời phát biểu này.
Xem xét thực tế một cách khách quan, trước hết, Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam nhận định sự kiện đặt giàn khoan của Trung Quốc là sự va chạm gây căng thằng trong quan hệ đang phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam với nước bạn Trung Quốc.
Những từ ngữ “va chạm” và “nước bạn” là điều gây nhiều ý kiến chỉ trích là tại sao tướng Thanh lại gọi Trung Quốc là nước bạn, và sự kiện giàn khoan chỉ là va chạm gây cẳng thẳng, trong khi Nhật và Mỹ đã tố cáo đó là hành vi xâm lược đơn phương do chủ nghĩa bành trướng mà hai cường quốc Thái Bình Dương này tỏ ý sẵn sàng giúp ngăn chặn.
Nêu vấn đề một cách hòa hoãn không phải là điều đáng phải chỉ trích quá gay gắt. Vì ngay sau đó ông Phùng Quang Thanh nhấn mạnh rằng bảo vệ chủ quyền là thiêng liêng, nhưng Việt Nam chủ trương giải quyết hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, cùng với những thỏa ước của khu vực với Trung Quốc, và các thỏa thuận song phương Việt Nam – Trung Quốc. Chủ trương của Việt Nam cho đến nay vốn được quảng bá là giải quyết vấn đề bằng đường lối hoà bình, thì cách trình bày lập trường với những ngôn ngữ ngoại giao như vậy là phù hợp với chủ trương đó.
Tướng Thanh có nói Việt Nam vẫn rất kiềm chế, không sử dụng máy bay, tàu tên lửa, tàu pháo… không đâm va, không phun vòi rồng. Lời lẽ đó nghe ra có ẩn ý tố giác Trung Quốc có hành vi hiếu chiến hơn khi cho tàu quân sự đến hiện trường, và tấn công bằng vòi rồng, húc bể tàu kiểm ngư Việt Nam và húc chìm tàu đánh cá của Việt Nam. Sau đó Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam để cùng Việt Nam đàm phán.
Điều này cũng nói được lập trường hoà bình và nhũn nhặn của Việt Nam trước diễn đàn quốc tế. Đóng vai người yếu thế trước công luận quốc tế cũng là điều hay. Miễn là đằng sau những lời hoà bình đó đừng quên chuẩn bị đối đầu với chiến tranh!
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh, tại Đối thoại Sangri-La 2014
Hiện tại, Việt Nam chưa thể nào nói đến chiến tranh, nhưng vẫn phải tìm biện pháp hoà bình để giải quyết. Vấn đề cần quan tâm là dùng biện pháp pháp lý cách nào, trong khi Việt Nam đã sẵn bị yếu thế về pháp lý trước Trung Quốc về chủ quyền của đảo Hoàng Sa và cả Trường Sa, vì công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhân vật lãnh đạo hành pháp của Việt Nam.
Đó mới là trở ngại khó vượt qua cho Việt Nam. Còn về Trung Quốc, diễn đàn này từng cảnh cáo Trung Quốc hãy coi chừng. Lịch sử thế giới xưa nay cho thấy chiến tranh đã nhiều lần xảy ra khi một quốc gia phát triển mạnh rồi bành trướng một cách nguy hiểm cho quyền lợi của các cường quốc khác.
Hoa Kỳ đột nhiên thay đổi hẳn chính sách quốc phòng. Nhật Bản đột nhiên phóng lên vũ đài quân sự quốc tế với vai trò năng động và chủ động nhất từ thời thế chiến II đến nay. Australia lên tiếng ủng hộ Nhật Bản, Ấn Độ từng ngỏ ý ủng hộ Việt Nam trong kế hoạch khai thác biển Đông, và là quốc gia hải dương hùng hậu có nhiều vấn đề lãnh thổ với Trung Quốc, đang huấn luyện về tàu ngầm cho hải quân Việt Nam.
Liệu các quốc gia Thái Bình Dương ấy có muốn thực hiện bức tường chắn nam Trung Hoa bằng quân sự, và chỉ cần một lý cớ chính đáng từ một nước Đông Nam Á?
Chuyện “Cao Biền dậy non” (*) diễn ra trong thể kỷ 21 khi Bắc Kinh không tuân lời Đặng Tiểu Bình mà “thao quang dưỡng hối” cho đủ 30 năm, đã phát lộ dã tâm bành trướng quá sớm nên đương nhiên phải đụng đầu với các cường quốc Thái Bình Dương, y như lãnh tụ họ Đặng đã cảnh báo.
__________________
(*) Link để đọc chuyện “Cao Biền dậy non”: http://maxreading.com/sach-hay/su-tich-dat-nuoc-viet/lay-bay-nhu-cao-bien-day-non-12104.html