Mỹ-Nhật đối đầu Trung Quốc, Việt Nam kiên quyết cầu hòa

7th-fleet

Hạm đội 7 Hoa Kỳ, lực lượng trấn thủ Thái Bình Dương. Courtesy of US Navy

“Bùng nổ như tạc đạn” là nhận xét về Diễn đàn Thượng đỉnh An ninh châu Á, danh xưng vắn tắt là Đối thoại Shangri-La, nhóm họp thường niên tại Singapore năm nay.

Nhân vật đem trưng bày ngòi nổ trước diễn đàn là Thủ tướng Nhật Shinzo Abe, và người châm ngòi là Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel.

Thủ tướng Nhật cam kết sẽ yểm trợ tối đa cho các nước ASEAN để bảo đảm an ninh trên biển và trên không cho Đông Nam Á, bằng sự trợ giúp phát triển, xây dựng khả năng, hợp tác cung cấp kỹ thuật và khí cụ quốc phòng.

Ông kêu gọi tinh thần thượng tôn luật pháp của tất cả các chính phủ liên quan, nói rằng Nhật sẽ giữ vai trò lớn lao và năng động hơn hết từ trước tới nay, trong việc gìn giữ cho nền hoà bình châu Á và thế giới thêm vững chắc.

japan-pm
Thủ tướng Nhật Shinzo Abe trên diễn đàn Đối thoại Shangri-La, 30 tháng 5, 2014 – Courtesy of IISS document

Ông cho biết Nhật Bản và Hoa Kỳ sẵn sàng củng cố hợp tác an ninh quốc phòng với Australia và khối ASEAN.

Đây có vẻ như một chính sách đã được Nhật bàn thảo trước cùng với Hoa Kỳ để tung ra trong cuộc đối thoại quốc phòng Shangri-La năm nay. Lập trường này rõ ràng đã phát khởi vì hành động xâm lấn của Trung Quốc trên lãnh hải Việt Nam. Và Thủ tướng Nhật cho thấy Nhật, Mỹ và Úc đã đồng thuận về kế hoạch liên quốc gia để đối phó với chiến lược bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á và toàn cầu. Duy chỉ có khối ASEAN là còn ngồi yên nghe ngóng ý định của các cường quốc, chưa bao giờ quyết định được điều gì có ý nghĩa.

Sau Thủ tướng Shinzo Abe, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ đã châm ngòi nổ với những lời lẽ cứng rắn khác thường, mạnh mẽ nhất từ trước tới nay, hướng vào Trung Quốc.  Ông trực tiếp lên án hành động đơn phương của Trung Quốc gây bất ổn cho châu Á khi giành lấn chủ quyền trên biển Đông, gọi đó là hăm dọa, cưỡng ép, đe dọa dùng võ lực để khẳng định chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải. Bộ trưởng Chuck Hagel nhắc lại lời cam kết của Mỹ về kế hoạch tái quân bình lực lượng ở châu Á,  nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ sẽ không ngoảnh mặt đi, mà sẽ duy trì luật pháp quốc tế, cương quyết đối đầu với hành động xâm lược, giúp tăng cường khả năng quốc phòng của các đồng minh và của chính nước Mỹ. Ông khuyên Trung Quốc nên đoàn kết với quốc tế cho một nền hoà bình toàn cầu, nếu không thì sẽ gây hại cho hòa bình và ổn định cho hằng triệu người ở châu Á và hằng tỉ người trên thế giới.

chuck-hagel
Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ trên diễn đàn Dialogue Sangri-La, 31 tháng 5, 2014

Diễn tiến Đối thoại Shangri-La cho thấy rõ ràng đây là bài song ca đã được chuẩn bị, nếu không nói là bài hợp ca giữa Hoa Kỳ với Nhật và Úc, được gióng lên để cảnh cáo Trung Quốc một cách nghiêm khắc nhất, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động, như Hoa Kỳ đang thi hành trong kế hoạch điều động lực lượng hải quân hướng về Đông Nam Á.

Điều đáng chú ý là Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ đã thông báo Mỹ sẽ tăng ngân sách hoạt động quân sự lên 35% vào năm 2016, và tăng 40% ngân sách huấn luyện, đào tạo về quân sự.

Nước Mỹ có vẻ như vừa thức tỉnh do hành động xâm lược của Trung Quốc ở biển Đông. Mới hồi tháng 2 năm nay ông Chuck Hagel nói với giọng ảm đạm rằng Hoa Kỳ sẽ không còn thống trị trên trên không gian và biển cả vì phải cắt giảm đáng kể ngân sách quốc phòng và hoạt động quân sự. Nay đột nhiên chính sách đảo ngược hẳn lại, chẳng phải nước Mỹ giựt mình tỉnh thức vì Trung Quốc bắt đầu gióng hồi trống trận hay sao?

Tiếp sau Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, tướng Vương Quán Trung, đã phản bác mạnh mẽ quan điểm của Thủ tướng Nhật và Bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Ông nói lời lẽ của Bộ trưởng Hagel là nguy hiểm ngoài sức tưởng tượng và đầy chủ nghĩa bá quyền. Nhưng có tin cho hay sau đó khi họp song phương với Mỹ về quốc phòng, tướng họ Vương đã đề nghị hai nước củng cố hợp tác quốc phòng vì quyền lợi chung ở châu Á và trên thế giới. Điều này có thể được hiểu là Bắc Kinh muốn bắt tay quân sự với Mỹ để chia chác quyền lợi trên vùng biển quanh Trung Hoa và xa hơn nữa. Nhưng Bộ trưởng Hagel vẫn giữ thái độ nghiêm khắc như trong hội nghị, không đáp ứng đề nghị, và cắt ngắn cuộc họp chỉ sau có 20 phút thảo luận.

chinese-general
Phó TTMT quân đội Trung Quốc, Trung tướng Vương Quán Trung, tại diễn đàn Đối thoại Shangri-La 2014

Công luận của người Việt thì chú ý đến lời phát biểu trước Diễn đàn Đối thoại Shangri-La của Bộ trưởng quốc phòng, đại tướng Phùng Quang Thanh. Có nhiều ý kiến chỉ trích ông Thanh vì lời phát biểu này.

Xem xét thực tế một cách khách quan, trước hết, Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam nhận định sự kiện đặt giàn khoan của Trung Quốc là sự va chạm gây căng thằng trong quan hệ đang phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam với nước bạn Trung Quốc.

Những từ ngữ “va chạm” và “nước bạn” là điều gây nhiều ý kiến chỉ trích là tại sao tướng Thanh lại gọi Trung Quốc là nước bạn, và sự kiện giàn khoan chỉ là va chạm gây cẳng thẳng, trong khi Nhật và Mỹ đã tố cáo đó là hành vi xâm lược đơn phương do chủ nghĩa bành trướng mà hai cường quốc Thái Bình Dương này tỏ ý sẵn sàng giúp ngăn chặn.

Nêu vấn đề một cách hòa hoãn không phải là điều đáng phải chỉ trích quá gay gắt. Vì ngay sau đó ông Phùng Quang Thanh nhấn mạnh rằng bảo vệ chủ quyền là thiêng liêng, nhưng Việt Nam chủ trương giải quyết hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, cùng với những thỏa ước của khu vực với Trung Quốc, và các thỏa thuận song phương Việt Nam – Trung Quốc. Chủ trương của Việt Nam cho đến nay vốn được quảng bá là giải quyết vấn đề bằng đường lối hoà bình, thì cách trình bày lập trường với những ngôn ngữ ngoại giao như vậy là phù hợp với chủ trương đó.

Tướng Thanh có nói Việt Nam vẫn rất kiềm chế, không sử dụng máy bay, tàu tên lửa, tàu pháo… không đâm va, không phun vòi rồng. Lời lẽ đó nghe ra có ẩn ý tố giác Trung Quốc có hành vi hiếu chiến hơn khi cho tàu quân sự đến hiện trường, và tấn công bằng vòi rồng, húc bể tàu kiểm ngư Việt Nam và húc chìm tàu đánh cá của Việt Nam. Sau đó Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam để cùng Việt Nam đàm phán.

Điều này cũng nói được lập trường hoà bình và nhũn nhặn của Việt Nam trước diễn đàn quốc tế. Đóng vai người yếu thế trước công luận quốc tế cũng là điều hay. Miễn là đằng sau những lời hoà bình đó đừng quên chuẩn bị đối đầu với chiến tranh!

vietnam-defense-minister
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh, tại Đối thoại Sangri-La 2014

Hiện tại, Việt Nam chưa thể nào nói đến chiến tranh, nhưng vẫn phải tìm biện pháp hoà bình để giải quyết. Vấn đề cần quan tâm là dùng biện pháp pháp lý cách nào, trong khi Việt Nam đã sẵn bị yếu thế về pháp lý trước Trung Quốc về chủ quyền của đảo Hoàng Sa và cả Trường Sa, vì công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhân vật lãnh đạo hành pháp của Việt Nam.

Đó mới là trở ngại khó vượt qua cho Việt Nam. Còn về Trung Quốc, diễn đàn này từng cảnh cáo Trung Quốc hãy coi chừng. Lịch sử thế giới xưa nay cho thấy chiến tranh đã nhiều lần xảy ra khi một quốc gia phát triển mạnh rồi bành trướng một cách nguy hiểm cho quyền lợi của các cường quốc khác.

Hoa Kỳ đột nhiên thay đổi hẳn chính sách quốc phòng. Nhật Bản đột nhiên phóng lên vũ đài quân sự quốc tế với vai trò năng động và chủ động nhất từ thời thế chiến II đến nay. Australia lên tiếng ủng hộ Nhật Bản, Ấn Độ từng ngỏ ý ủng hộ Việt Nam trong kế hoạch khai thác biển Đông, và là quốc gia hải dương hùng hậu có nhiều vấn đề lãnh thổ với Trung Quốc, đang huấn luyện về tàu ngầm cho hải quân Việt Nam.

Liệu các quốc gia Thái Bình Dương ấy có muốn thực hiện bức tường chắn nam Trung Hoa bằng quân sự, và chỉ cần một lý cớ chính đáng từ một nước Đông Nam Á?

Chuyện “Cao Biền dậy non” (*) diễn ra trong thể kỷ 21 khi Bắc Kinh không tuân lời Đặng Tiểu Bình mà “thao quang dưỡng hối” cho đủ 30 năm, đã phát lộ dã tâm bành trướng quá sớm nên đương nhiên phải đụng đầu với các cường quốc Thái Bình Dương, y như lãnh tụ họ Đặng đã cảnh báo.

__________________

(*) Link để đọc chuyện “Cao Biền dậy non”:  http://maxreading.com/sach-hay/su-tich-dat-nuoc-viet/lay-bay-nhu-cao-bien-day-non-12104.html

Cuộc cách mạng suýt thành công

Thiên An Môn là cuộc cách mạng đã gần thành công. Nó làm lay chuyển chế độ Trung Quốc tới tận gốc rễ.

Theo một nghĩa nào đó thì cuộc cách mạng này khác với quan niệm của đa số người phương Tây về nó.

Tất nhiên, khía cạnh trung tâm của Thiên An Môn là vụ quân đội Trung Quốc lạnh lùng bắn vào các sinh viên không bạo lực đêm 3-4 tháng Sáu 1989.

Nhưng một vài khía cạnh quan trọng khác đã bị lãng quên.

Một trong số đó là sự ủng hộ sinh viên sẵn tồn tại trong hệ thống chính trị của Trung Quốc cao tới đâu.

Một mặt khác nữa là bạo lực nổ ra từ những người dân thường trên khắp Trung Quốc do sự giận dữ đối với hệ thống Cộng sản.

Tôi đã dành cả tháng trời đi bộ loanh quanh quảng trường, lắng nghe các sinh viên đang chiếm cứ nơi này.

Lúc đó họ chắc chắn rằng lãnh đạo Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình, chính trị gia độc tài tự bản năng, chưa bao giờ là người muốn cam kết đổi mới, đã hết đời.

‘Tử địa thực sự’

Trung Quốc cho xe tăng tới phá nát lều trại của những người biểu tình đòi dân chủ

Nhưng không. Sau một tháng chính quyền Trung Quốc bị tê liệt, ông Đặng cuối cùng cũng tìm được một vị tướng và ép quân lính phải chuẩn bị xả súng vào đám sinh viên và dẹp sạch quảng trường.

Đêm hôm đó tôi thu người dưới một bức tường thấp và chứng kiến vụ bắn giết bắt đầu. Nhóm làm phim và tôi cuối cùng cũng phải rời quảng trường khi không còn đủ băng ghi hình. Chúng tôi trốn vào Khách sạn Bắc Kinh.

Từ trên ban công của căn phòng ở tầng bảy, chúng tôi quan sát những người lính bắn hết loạt đạn này tới loạt đạn khác vào đám đông trên Đại lộ Trường An. Tôi đếm thấy có 46 người chết và ít nhất 80 người bị thương.

Cũng từ ban công này, người quay phim của BBC ghi lại một số hình ảnh nổi tiếng nhất về vụ thảm sát: thân thể người được chở đằng sau xe đạp kéo và mang tới bệnh viện, một phụ nữ gào khóc trên phố khi bị trúng đạn, một người đàn ông mang theo túi mua hàng đứng chắn trước dãy xe tăng.

Tới ngày nay, chính phủ Trung Quốc vẫn giữ quan điểm rằng không một ai chết trên Quảng trường Thiên An Môn.

Điều này có thể là đúng nếu xét theo nghĩa đen, bởi vì nơi người ta bị giết không phải trên chính quảng trường mà là Đại lộ Trường An, chạy dọc phía trước quảng trường.

Đào sâu chôn chặt

Trung Quốc chính thức coi Thiên An Môn là vụ bạo động phản cách mạng

Không có vụ thảm sát, Đặng Tiểu Bình sẽ không thể tiếp tục cầm quyền.

Giai đoạn đầu của cuộc biểu tình, hồi tháng Năm, thậm chí rất nhiều quan chức cao cấp trong đảng đã quay lại chống ông.

Tôi dõi theo hàng triệu người hân hoan chen nhau vào quảng trường, trong khi hơn một chục xe diễu hành từ từ tiến qua, nó cho thấy cấu trúc chính của nhà nước Trung Quốc.

Có xe mang theo tướng lĩnh quân đội, thẩm phán và các đại diện của cấu trúc hệ thống đảng. Thậm chí có cả một người từ lực lượng cản sát mật.

Các quan chức trên xe đều vẫy tay và hô to yêu cầu ông Đặng Tiểu Bình rời đảng.

Ngày nay, bất kỳ khi nào tôi gặp các quan chức của Trung Quốc, tôi vẫn luôn tự hỏi liệu họ có từng ở Quảng trường Thiên An Môn ngày hôm đó, ủng hộ sinh viên.

Rất nhiều quan chức Trung Quốc vẫn thực sự tin rằng Trung Quốc chỉ có thể đứng vững nhờ một chính phủ cứng rắn.

Trải qua nhiều năm, những quan chức này đã tìm cách leo lên trong hệ thống, họ đã đưa ra rất nhiều thay đổi mà các sinh viên đòi hỏi.

Nhưng người ta vẫn không thể nào tự chọn lấy chính phủ cho mình, hoặc thậm chí bảo vệ quyền lợi của mình để làm được điều đó một cách quá công khai.

Điều đó là bởi vì hệ thống chính trị Trung Quốc đã nhận diện sự kiện 3-4 tháng Sáu 1989 là bạo động phản cách mạng.

Đêm hôm đó, không chỉ có các sinh viên biểu tình ôn hòa trên đường phố. Có nhiều đám đông những người dân thường thuộc tầng lớp lao động, đã xông ra và tấn công quân lính, cảnh sát, an ninh mật và bất kỳ biểu hiện nào của giới cầm quyền Cộng sản mà họ tìm thấy.

Đi xe qua Bắc Kinh vào ngày hôm sau, tôi nhìn thấy hết tòa nhà cháy này tới tòa nhà khác, và các thân thể cảnh sát, quan chức bị cháy đen vẫn nằm trên mặt đất.

Rất nhiều quan chức Trung Quốc vẫn thực sự tin rằng Trung Quốc chỉ có thể đứng vững nhờ một chính phủ cứng rắn.

Nếu ai cũng được phép nói và yêu cầu tự do hoàn toàn, người ta tranh luận rằng, hệ thống này sẽ sụp đổ và Trung Quốc sẽ dễ dàng bị chia rẽ.

Dù những người nắm quyền 25 năm trước nghĩ gì đi nữa, giờ đây họ tin rằng cách duy nhất bảo vệ tương lai của Trung Quốc là đào sâu chôn chặt.

Tòa Quốc tế muốn TQ nộp bằng chứng minh định chủ quyền Biển Ðông

Simone Oredain. 04.06.2014

http://www.voatiengviet.com/content/toa-quoc-te-muon-trung-quoc-nop-bang-chung-minh-dinh-chu-quyen-bien-dong/1929500.html

 
— Một tòa án quốc tế đang cho Bắc Kinh thêm thời gian để bênh vực các khẳng định chủ quyền ở vùng Biển Ðông. Nhưng Trung Quốc đã từ chối không tham gia vào vụ kiện này do Philippines đưa ra để làm rõ những khẳng định chủ quyền. Từ Manila, thông tín viên VOA Simone Orendain gửi về bài tường thuật sau đây.

Tòa án Trọng tài Thường trực ở La Haye cho hay Bắc Kinh có tới ngày 15 tháng 12 để đệ trình các lập luận cho hội đồng trọng tài xử lý vụ Philippines kiện Trung Quốc.

Nhưng trong một thông cáo tòa nói đã nhận một lời khai của Trung Quốc nói rằng “họ không chấp nhận vụ kiện do Philippines đề xuất. Tòa cũng cho biết Trung Quốc đã khẳng định rõ rằng sự đáp ứng ngoại giao không có nghĩa là họ chấp nhận hay tham gia vụ kiện.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Charles Jose nói bộ đang yêu cầu Trung Quốc xét lại quyết định không tham gia.

“Chúng tôi tiếp tục kêu gọi họ tham gia vào vụ kiện để có thể xác minh lời khẳng định như trình bày trong đường chín đoạn.”

Philippines gọi khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong vùng Biển Ðông là “quá đáng.” Một số bản đồ cho thấy Bắc Kinh đòi chủ quyền gần như toàn bộ vùng biển lưỡi bò 9 đoạn. Manila nêu nghi vấn về những khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh đối với những hòn đảo mà họ nói là nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Bản đồ nơi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981.
Bản đồ nơi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981.

Brunei, Malaysia, Ðài Loan và Việt Nam cũng đòi chủ quyền vùng biển giàu tài nguyên hải sinh, và có thể chứa những trữ lượng lớn về hydrocarbon đồng thời là một tuyến giao thương quan trọng.

Trong mấy tuần vừa qua, các tàu thuyền của Việt Nam và Trung Quốc đã xung đột trong vùng biển ngoài khơi quần đảo Trường Sa nơi một giàn khoan dầu của Trung Quốc đang hoạt động.

Hoa Kỳ từng tuyên bố Trung Quốc có những hành động “gây mất ổn định” khi khẳng định chủ quyền của mình.

Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Penny Pritzker đang đi thăm Philippines hôm qua tuyên bố giàn khoan dầu của Trung Quốc được tàu của chính phủ hộ tống có tính cách “khiêu khích” và có thể gây cản trở cho kinh doanh. Nhưng bà cũng nói rằng “sự phát triển đáng kể” của nền kinh tế Philippines và những nước khác ở khắp vùng này đem lại tiềm năng đầu tư chưa được khai thác.

Trong một bài phát biểu quan trọng với các nhà lãnh đạo kinh doanh Mỹ ở Manila, bà Pritzker lập lại rằng sự ‘cam kết’ của Hoa Kỳ đối với vùng Châu Á Thái Bình Dương vẫn không thay đổi.

Hoa Kỳ và Philippines đã ký hiệp định tăng thêm các cuộc luân phiên điều quân Mỹ, các cuộc tập trận chung
Hoa Kỳ và Philippines đã ký hiệp định tăng thêm các cuộc luân phiên điều quân Mỹ, các cuộc tập trận chung

“Cam kết của chúng tôi là hợp tác với quý vị và nhiều quốc gia sinh động trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương nhằm củng cố tiến bộ kinh tế của quý vị và đem lại sự thịnh vượng lớn hơn cho hàng triệu người khắp vùng, ở Hoa Kỳ và trên khắp thế giới.”

Philippines là chặng dừng thứ nhì trong chuyến công du 3 nước của bà Pritzker, trong đó có Việt Nam và Miến Ðiện.

Hoa Kỳ đang tìm cách tăng cường quan hệ với các đồng minh của mình trong khu vực với trọng điểm nhắm vào các mặt trận an ninh, kinh tế và chính trị trong khi ảnh hưởng của Trung Quốc gia tăng.

Hồi cuối tháng 4, Hoa Kỳ và Philippines đã ký một hiệp định tăng thêm các cuộc luân phiên điều quân Mỹ, các cuộc tập trận chung và bố trí sẵn thiết bị Mỹ trong nước.

Philippines coi đây là một cách để củng cố cho vị thế phòng bị khả tín của mình trong khi phải đối đầu với vụ tranh chấp đang tiếp diễn với Trung Quốc.

Việt Nam công bố video vụ đâm tàu, Trung Quốc tố ngược lại

 VOA Tiếng Việt. 05.06.2014

http://www.voatiengviet.com/content/vietnam-cong-bo-video-vu-dam-tau-trung-quoc-to-nguoc-lai/1930166.html

Ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần Hoàng Sa hôm 29/4/2014 được điều trị y tế trên đảo Lý Sơn.

Ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần Hoàng Sa hôm 29/4/2014 được điều trị y tế trên đảo Lý Sơn.

tau DNA 90152 bi tau TC dam

Đài truyền hình Việt Nam (VTV) hôm 4/6 đã công bố một đoạn video được cho là do các ngư dân ghi lại, quay cảnh tàu của Trung Quốc đâm chìm tàu cá của ngư dân Đà Nẵng hôm 26/5.

Đoạn phim dài khoảng 3 phút, được ghi lại từ một tàu khác, cho thấy một chiếc tàu loại lớn không rõ số hiệu, bám theo hai tàu được cho là của ngư dân Việt Nam rồi tông vào một chiếc tàu cá, khiến nó xoay ngang rồi lật và chìm.

Sau đó, có thể nghe thấy tiếng hét ‘chìm rồi, chìm rồi’ của một số người đàn ông đứng gần máy quay.

Sự việc được cho là xảy ra gần giàn khoan dầu gây tranh cãi của Trung Quốc ở biển Đông.

VTV nói đó là ‘bằng chứng không thể chối cãi cho hành động vô nhân đạo của Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam tại khu vực thềm lục địa và vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam.

Sau khi xảy ra vụ việc, chính quyền Bắc Kinh cho rằng tàu cá của Việt Nam đã tự ý đi vào vùng biển quanh giàn khoan dầu và đâm vào một tàu của Trung Quốc rồi bị lật.

Về ‘bằng chứng’ do Việt Nam đưa ra, hôm nay, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố rằng chính các tàu của Việt Nam mới là bên ‘tấn công’.

“Tại các vùng biển đó, các tàu của Trung Quốc ở trong thế thủ còn các tàu của Việt Nam ở thế công. Các tàu của Trung Quốc chỉ cách đảo Trung Kiến của Trung Quốc (Việt Nam gọi là Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa) 17 hải lý trong khi các tàu của Việt Nam đã đã tới địa điểm đó sau một hải trình xa, gần 160 hải lý. Vậy bên nào khơi mào trước? Bên nào gây căng thẳng tại đó? Chuyện này quá rõ rồi”.

Ông Đặng Văn Nhân, thuyền trưởng tàu cá bị đâm, cho VOA Việt Ngữ biết rằng vụ va chạm đã khiến 10 ngư dân rớt xuống biển, khiến 2 thuyền viên bị thương nhẹ, nhưng hiện giờ sức khỏe đã hồi phục. Ông Nhân cũng phản bác cáo buộc từ Bắc Kinh:

“Trung Quốc rất ngang ngược. Chủ quyền biển của nước ta mà nó qua, nó tự đâm chứ tàu của chúng tôi đâu có dám đâm tàu đó. Tàu đó là tàu sắt không à. Tàu sắt nó đâm mình chứ mình tàu gỗ, nhỏ tí ti, đâu có đâm được. Tôi là ngư dân, tới đánh bắt hải sản ở khu vực vùng biển đảo của Việt Nam mà họ ngang ngược, họ tới họ đâm tàu, cố giết anh em ngư dân của chúng tôi trên biển mà”.

Tàu cá của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần Hoàng Sa.
Tàu cá của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần Hoàng Sa.

Truyền thông trong nước cho hay, sau khi tàu bị đắm được đưa về đất liền, UBND huyện Hoàng Sa (Đà Nẵng) có ý định ‘mua lại xác tàu để trưng bày tại Bảo tàng huyện, làm bằng chứng tố cáo Trung Quốc’, và chủ tàu bị nạn ‘đang làm thủ tục để khởi kiện Trung Quốc’.

Trong khi đó, hôm nay, Việt Nam đã tổ chức cuộc họp báo quốc tế lần thứ tư kể từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào khu vực mà Hà Nội nói là thềm lục địa của mình hồi đầu tháng Năm.

Ông Ngô Ngọc Thu, Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng Cảnh sát biển, cho hay, tàu Trung Quốc đã làm hư hỏng 19 tàu kiểm ngư, 5 tàu cảnh sát biển và khiến 12 kiểm ngư viên bị thương.

Ông Thu cho biết thêm rằng Trung Quốc ‘tạo ba vòng bảo vệ cho giàn khoan’ với các loại tàu và máy bay khác nhau.

Hà Nội cũng cho biết giàn khoan của Trung Quốc đã dịch chuyển vị trí nhưng vẫn nằm trong phạm vi 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, trong khi Bắc Kinh nói rằng giàn khoan nằm trong vùng biển của mình.

Trong khi đó, cuộc đối đầu giữa Việt Nam và Trung Quốc trên biển Đông vẫn làm nóng các diễn đàn quốc tế.

Nhóm các nước công nghiệp phát triển, G7, hôm qua đã bày tỏ quan ngại về các diễn biến trên biển Đông cũng như biển Hoa Đông.

Không đề cập cụ thể bất kỳ nước nào, nhóm này tuyên bố phản đối các hành động đơn phương nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền trên biển.

Liên quan tới việc Trung Quốc bác bỏ yêu cầu của tòa án quốc tế trong vụ kiện do Philippines khởi xướng, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ hôm qua nói rằng các nước nên ‘thông qua một hệ thống cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp’.

Còn hôm nay, Philippines một lần nữa cáo buộc Trung Quốc theo đuổi chính sách ‘mở rộng’, đồng thời cho hay, Manila có bằng chứng rằng các tàu của Trung Quốc đang ‘bao vây hai vỉa đá tranh chấp’ với nước này.

 

Tưởng niệm Thiên An Môn và tiến trình dân chủ hóa Việt nam

Kính Hòa, phóng viên RFA. 2014-06-04

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/tienan-comm-n-dem-vn-06042014055319.html

BT o Thien An Mon

Ngày 5 tháng 6, 1989, một thanh niên đã ngăn chặn cả một đoàn xe thiết giáp dù chỉ trong giây lát đã trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh tại Thiên An Môn
Ngày 5 tháng 6, 1989, một thanh niên đã ngăn chặn cả một đoàn xe thiết giáp dù chỉ trong giây lát đã trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh tại Thiên An Môn. Ảnh từ video clip
Cách nay tròn 25 năm, thảm sát Thiên An Môn xảy ra tại Trung quốc, chấm dứt một phong trào đòi dân chủ của quốc gia này trong biển máu. Những người Việt nam có quan tâm đến dân chủ cho đất nước nghĩ gì về sự kiện này?

25 năm sau Thiên An Môn

Ngày 4 tháng sáu năm 1989, quân đội và xe tăng của quân giải phóng nhân dân Trung hoa  tràn vào quảng trường Thiên An Môn ở thủ đô Bắc Kinh, đàn áp những người sinh viên tụ tập ở đó hàng tháng trước để đòi dân chủ. Hàng trăm, và có thể là hàng ngàn người đã chết trong sự kiện này, một trong những sự kiện đẫm máu nhất lịch sử Trung quốc hiện đại. Trong những ngày này của năm 2014, 25 năm sau Thiên An Môn, các hãng thông tấn nước ngoài cho biết là an ninh thủ đô Bắc Kinh được tăng cường, nhiều vụ bắt bớ xảy ra trước đó để ngăn cản sự tụ tập tưởng niệm những nạn nhân Thiên An Môn.

25 năm vừa đủ để một thế hệ mới sinh sau Thiên An Môn trưởng thành. Đối với những người này dường như ký ức đã có phần phai lạt. Chị Lang Tinh, một cư dân Bắc Kinh lớn lên sau Thiên An Môn nói với chúng tôi rằng chuyện đó cũ rồi.

Lịch sử cũng có nói đến chuyện này. Học sinh sinh viên vẫn có thể đọc được trong sách. Không có giấu đâu, nhưng chắc cũng qua lâu năm rồi nên chỉ học qua thôi, không có nói nhiều và không có thảo luận nhiều

Chị Lang Tinh

Mỗi năm đến lúc này thì đi qua con đường Tràng An, đại lộ trước Thiên An Môn thì thấy là cảnh sát tăng cường lực lượng.

Lịch sử cũng có nói đến chuyện này. Học sinh sinh viên vẫn có thể đọc được trong sách. Không có giấu đâu, nhưng chắc cũng qua lâu năm rồi nên chỉ học qua thôi, không có nói nhiều và không có thảo luận nhiều.”

Một cựu sinh viên Việt nam tại Bắc Kinh cũng nói với chúng tôi là đối với thế hệ trẻ ở Trung quốc, họ không biết nhiều về Thiên An Môn. Nhưng dù vậy, dường như chính quyền Bắc Kinh vẫn lo ngại những người còn nhớ về biến cố này. Trước ngày 4/6/14 ông cựu thư ký của nguyên Tổng bí Thư đảng Triệu Tử Dương bị nhà cầm quyền đem đi đâu không rõ dù ông đã 81 tuổi.

Một lưc lượng thiết giáp chưa từng thấy được điều động để đàn áp tại Thiên An Môn ngày 4 tháng 6, 1989 làm hàng ngàn người bị thiệt mạng. (ảnh từ video clip)
Một lưc lượng thiết giáp chưa từng thấy được điều động để đàn áp tại Thiên An Môn ngày 4 tháng 6, 1989 làm hàng ngàn người bị thiệt mạng. (ảnh từ video clip)

Sự kiện Thiên An Môn khi xảy ra cũng không được truyền thông rộng rãi ở Việt Nam. Ông Huỳnh Ngọc Chênh, cựu phóng viên báo Thanh Niên nhớ lại

Hồi đó thông tin còn bưng bít ở Việt nam nên cũng nghe bên Trung quốc có biểu tình, có đàn áp, nhưng không biết rằng cái qui mô đàn áp nó ghê rợn như vậy. Mình thấy nó ghê gớm lắm nhưng mà cũng không ngạc nhiên. Đối với nhà nước cộng sản như Trung cộng đã từng giết hàng triệu người qua cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa, đấu đá nội bộ thì chuyện đó không ngạc nhiên lắm.”

Hồi đó thông tin còn bưng bít ở Việt nam nên cũng nghe bên Trung quốc có biểu tình, có đàn áp, nhưng không biết rằng cái qui mô đàn áp nó ghê rợn như vậy

Ông Huỳnh Ngọc Chênh

Và đối với thế hệ thanh niên Việt nam hiện nay, Thiên An Môn cũng không phải được nhiều người biết đến. Người cựu sinh viên Việt nam tại đại học nhân dân Bắc Kinh cho rằng sự thiếu hiểu biết đó cũng nằm trong cái chung về sự thờ ơ với chính trị của sinh viên hiện nay.

Đại đa số sinh viên Việt nam hiện nay không quan tâm gì về chính trị của đất nước cả.”

Gần ngày tưởng niệm sự kiện Trung Quốc cho quân đội trấn áp Thiên An Môn, tại Hông Kong một mẫu xe tăng bằng giấy được dựng lên ở góc đường ngày 3 tháng 6 năm 2014.
Gần ngày tưởng niệm sự kiện Trung Quốc cho quân đội và thiết giáp trấn áp Thiên An Môn. Tại Hông Kông một mẫu xe tăng bằng giấy được dựng lên ở góc đường ngày 3 tháng 6 năm 2014.

Thanh niên VN trước tình hình của đất nước

Tuy nhiên, có một thiểu số những người trẻ Việt Nam cũng tưởng nhớ Thiên An Môn và cũng có nhiều suy nghĩ về chính tình hình dân chủ tại Việt Nam. Anh Nguyễn Anh Tuấn, cựu sinh viên học viện hành chính quốc gia, hiện đang làm việc cho tổ chức dân sự Voice nói với chúng tôi:

Sự kiện Thiên An Môn cho em sự hy vọng lẫn nỗi thất vọng. Sự hy vọng là trong một chế độ toàn trị đến mức như ở Trung quốc những người sinh viên vẫn sẳn sàng đứng lên đòi tự do dân chủ. Còn sự thất vọng là nó bị đàn áp trong bể máu.

Còn nếu đặt trong sự so sánh tương quan giữa Việt nam và Trung quốc đều có cùng chế độ toàn trị và đàn áp giống nhau thì người Trung quốc dù sao cũng có một thế hệ sinh viên để tự hào. Hôm qua khi xem lại các bức ảnh ông Lý Bằng tiếp các lãnh tụ sinh viên thì thấy thái độ của họ rất là tự tin trước một người ở đỉnh cao quyền lực.

Nhìn lại phong trào ở Việt nam thì thấy rất có nhiều hạn chế mà cụ thể là đến thời điểm này số người tham gia rất ít ỏi.”

nếu đặt trong sự so sánh tương quan giữa Việt nam và Trung quốc đều có cùng chế độ toàn trị và đàn áp giống nhau thì người Trung quốc dù sao cũng có một thế hệ sinh viên để tự hào

Anh Nguyễn Anh Tuấn

Người thuộc thế hệ lớn tuổi như Ông Huỳnh Ngọc Chênh rút ra một suy luận từ sự kiện Thiên An Môn:

Qua sự kiện Thiên An Môn thì thấy là các cuộc đấu tranh của sinh viên, của nhân dân theo kiểu bất bạo động đối với một nhà nước như Trung cộng thì rất khó thành.

Qua đó thì nhà nước Việt nam cũng rút kinh nghiệm nên người ta không muốn có tập trung, biểu tình dù là biểu tình rất chính đáng.”

Anh Nguyễn Anh Tuấn thì nói thêm là các tổ chức thanh niên của nhà nước như đoàn thanh niên cộng sản mà nhiều người gọi là quốc doanh kiểm soát khá thành công sinh viên và thanh niên Việt nam hiện nay.

Nói cho cùng nếu có bạo động thì một thể chế độc tài rất dễ sụp đổ nhưng mà không đơn giản như vậy, nếu chưa chín mùi mà bạo động như thế thì có thể bị dìm trong máu

Tiến sĩ Hà Sĩ Phu

Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, một nhà bất đồng chính kiến tại Việt nam thì nói rằng sẽ rất là nguy hiểm khi khuynh hướng đấu tranh bất bạo động không thành công.

Nếu hai bên đều giở vũ lực ra thì có đổ máu, mà cái điều đó thì không ai muốn cả. Tôi nghĩ rằng nếu nhà nước không có những biện pháp thích nghi thì cái việc đổ máu sẽ rất là bất lợi và không thể nói là bên nào thắng được. Nói cho cùng nếu có bạo động thì một thể chế độc tài rất dễ sụp đổ nhưng mà không đơn giản như vậy, nếu chưa chín mùi mà bạo động như thế thì có thể bị dìm trong máu, chứ không tốt chút nào cả. Tôi tiếc cái điều đó, nhưng có lẽ mọi lời khuyên với chính quyền hiện nay rất là khó.”

25 năm sau ngày xảy ra thảm sát Thiên An Môn ở một quốc gia có nhiều sự tương đồng với Việt nam, một cuộc khủng hoảng lại nổ ra, đó là đường lối đối ngoại muốn làm bạn với tất cả của Việt nam đang bị thách thức lớn lao khi Trung quốc kéo giàn khoan nước sâu của họ vào trong vùng thềm lục địa Việt nam.

Việt nam sẽ ứng xử ra sao? Một liên minh khả dĩ của Việt nam với các quốc gia theo khuynh hướng dân chủ phương tây để bảo vệ quốc gia lại đòi hỏi sự nới rộng về nhân quyền và tự do dân chủ trong nước như nhiều chính trị gia phương Tây lẫn các chuyên gia, nhà quan sát chính trị Việt nam thẳng thắn nêu lên cũng như các tiếng nói đối lập từ trong nước.

Một câu hỏi lớn về tiến trình dân chủ hóa Việt nam cùng với sự toàn vẹn lãnh thổ không chỉ dành cho chính phủ Việt nam mà còn cho cuộc đấu tranh dân chủ, nhất là khi đất nước vừa trải qua một cuộc bạo động chết người mất kiểm soát trong các khu công nghiệp ngày 13/5 vừa qua.

Tư liệu về đàn áp ở Thiên An Môn

BBC giới thiệu một số đoạn phóng sự được thực hiện tại Bắc Kinh trong những ngày đầu tháng Sáu năm 1989 khi phong trào đấu tranh dân chủ do sinh viên dẫn dắt bị đàn áp đẫm máu.

Trong suốt ba tuần xuống đường ôn hòa, người biểu tình hầu như không nhìn thấy bóng dáng của lực lượng an ninh.

Nhưng khoảng hai tiếng trước nửa đêm 03/06, một thiết giáp xa xuất hiện, đơn độc tiến về phía quảng trường, là động thái đầu tiên của những gì quyết liệt diễn ra sau đó.

VN xích lại gần cựu thù Hoa Kỳ, Nhật Bản giữa lúc tranh chấp Biển Đông leo thang

VOA,  30.05.2014

Tàu Việt Nam và Trung Quốc gần giàn khoan Hải Dương 981 Trung Quốc hạ đặt gần quần đảo Hoàng Sa

Tàu Việt Nam và Trung Quốc gần giàn khoan Hải Dương 981 Trung Quốc hạ đặt gần quần đảo Hoàng Sa

Giới phân tích nói xung đột lãnh thổ giữa Trung Quốc với Việt Nam đang đẩy Hà Nội xích lại gần hơn với Washington và các đồng minh của Mỹ trong khu vực, kể cả Nhật Bản và Philippines.

Theo bản tin của tờ South China Morning Post, những giải pháp của Hà Nội bị hạn chế giữa lúc họ đang cố gắng lôi kéo sự chú ý của quốc tế, và cùng lúc không muốn phương hại tới quan hệ với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc, một đối tác quan trọng về ý thức hệ và kinh tế.

Tờ báo dẫn lời Giáo sư Li Ming jiang của Đại học Quan hệ Quốc tế Singapore, nói rằng trong ngắn hạn Việt Nam và Hoa Kỳ có khả năng tăng cường hợp tác quân sự. Nhưng về lâu về dài, các vấn đề như tình hình nhân quyền tại Việt Nam sẽ ngăn cản nỗ lực tạo dựng một quan hệ đối tác bền chặt hơn.

Việt Nam cũng đang chuẩn bị chung kết một thỏa thuận để Việt Nam nhận thêm tàu tuần tiễu của Nhật. Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã lên tiếng ủng hộ Hà Nội trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ The Wall Street Journal mới đây.

Sáng thứ Sáu, Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã rời Nhật Bản lên đường sang Singapore để dự hội nghị an ninh ba ngày. Theo dự kiến, tại đây ông sẽ đưa ra hình ảnh một nước Nhật như một lực đối trọng với sức mạnh đang tăng của Trung Quốc trong khu vực.

Các hãng tin AFP, Kyodo và AP tường thuật rằng trong một bài diễn văn quan trọng đọc vào tối hôm nay, Thủ Tướng Abe sẽ vạch ra viễn kiến của ông về những gì mà Nhật Bản có thể đóng góp cho nền hòa bình toàn cầu.

Các giới chức Nhật cho biết tại hội nghị Singapore, Thủ Tướng Abe cũng sẽ giải thích vì sao Nhật Bản đang tái xét những hạn chế về pháp lý đã được áp đặt bởi Hiến Pháp chủ hòa của nước ông, trong bối cảnh tình hình an ninh đang thay đổi.

Thủ Tướng Abe sẽ gặp Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel hôm nay, thứ Sáu, trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Onodera sẽ gặp Bộ trưởng Hagel vào ngày thứ Bảy.

Các cuộc họp cấp cao diễn ra giữa lúc trong nội địa Nhật Bản đang có tranh cãi gay gắt hơn về liệu Nhật Bản có nên hành xử quyền tự vệ, và sửa đổi chính sách chủ hòa của Nhật Bản sau thời chiến, hay không.

Các động thái của Nhật Bản nhằm tháo gỡ các hạn chế để có khả năng bênh vực các đồng minh bị tấn công quân sự đang gây nhiều quan ngại tại Trung Quốc và Nam Triều Tiên.

Bất cứ cuộc tranh cãi nào giữa Tokyo và Bắc Kinh cũng sẽ thu hút sự chú ý tại hội nghị an ninh Singapore, trong bối cảnh các chiến đấu cơ Trung Quốc mới đây đã áp sát một cách bất thường các máy bay của Lực lượng Tự vệ Nhật Bản trên Biển Hoa Đông.

Nguồn: cctv.com, cnn.com, theglobeandmail.com

Ủy Ban Vận Động Nghị Quyết Ngày VNCH tại California

http://vietbao.com/p113a222220/uy-ban-van-dong-nghi-quyet-ngay-vnch-tai-california#

Westminster/Nguyễn Ninh Thuận –Lúc 2:00-6:00PM, ngày Thứ Bảy, 31 tháng 5, năm 2014 tại Summerset Club House, số 9200 Thành phố Westminter, Ban Vận Động Nghị Quyết Ngày Việt Nam Cộng Hòa tại TB California tổ chức buổi họp mặt khoáng đại để chính thức thành lập Ủy Ban Vận Động Nghị Quyết Ngày Việt Nam Cộng Hòa. MC: Đinh Quang Truật.

MC Đinh Quang Trật và Ô. Nguyễn Tấn Lạc giới thiệu quan khách trong các đoàn thể, hội đoàn, nhân sĩ trong cộng đồng tham dự gồm nhiều nhà hoạt động tên tuổi.

Sau nghi thức chào cờ và phút mặc niệm, Ông Nguyễn Tấn Lạc, thay mặt BTC lên chào mừng quan khách và trình bày lý do buổi họp khoáng đại, có đoạn nói: “…Trong những năm tháng gần đây, chính quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã bị dư luận thế giới cũng như Hoa Kỳ lên án nặng nề vì vi phạm nhân quyền trầm trọng, bị nhân dân trong nước chống đối chế độ độc tài đảng trị, tham ô nhũng lạm, bóc lột và đàn áp nhân dân và đấu tranh mạnh mẽ cho việc tôn trọng nhân quyền và dân chủ hóa đất nước. Sự việc Trung Cộng công khai xâm lược Việt Nam ở biển Đông gần đây và gậm nhấm đất liền về mặt kinh tế và khai thác tài nguyên cũng như phản ứng yếu ớt của CSVN đã cho thấy sự nhu nhược và yếu kém của CSVN trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia và làm chủ đất nước. Thi hành NQ 36, CSVN không còn lớn tiếng chửi bới “ngụy quân, ngụy quyền”, đế quốc Mỹ và đang tìm cách hòa giải với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, mưu cầu lôi kéo người Việt hải ngoại và lợi dụng Hoa Kỳ để cứu nguy nền kinh tế suy sụp, bảo vệ chế độ độc tài đảng trị, vơ vét của cải cho bè đảng, và kéo dài chế độ phản dân hại nước….Đã đến lúc chính nghiã của công cuộc tranh đấu bảo vệ thể chế cộng hòa và nền dân chủ cũng như tự do của nhân dân Việt Nam của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và Quân Dân Cán Chính Việt Nam đã bị lãng quyên gần 40 năm qua, phải được đề cao và ghi nhớ… Hôm nay chúng ta có buổi họp khoáng đại để chính thức thành lập Ủy Ban Vận Động Nghị Quyết Ngày Việt Nam Cộng Hòa…”

Ban tổ chức cho biết: Ban Vận Động Nghị Quyết Ngày Việt Nam Cộng Hòa tại TB Cali. xin đề nghị một kế hoạch vận động như sau:

– Thành Lập Uỷ Ban Vận Động Nghị Quyết Ngày Việt Nam Cộng Hòa Chính Thức: tổ chức một buổi họp Khoáng Đại Cộng Đồng để thành lập UBVĐNQNVNCH: tháng 5/2014.

– Lập Kế Hoạch Vận Động: Thảo luận và thông qua Kế Hoạch Vận Động tại Buổi Họp Khoáng Đại.

Hình ảnh buổi hội thảo.

* Giai Đoạn Vận Động Nghị Quyết Ngày Việt Nam Cộng Hòa (UBVĐNQNVNCH)

1.- Vận Động Điạ Phương Cấp Thành Phố và Quận Hạt.

UBVĐNQNVNCH cử phái đoàn đến một số các thành phố quan trọng và có nhiều người Mỹ gốc Việt cư ngụ vận động các thành phố này ra Nghị Quyết Công Nhận Ngày Việt Nam Cộng Hòa để kỷ niệm và ghi nhớ chính nghiã cũng như sự hy sinh đóng góp của Quân Dân Cán Chính của VNCH trong cuộc chiến Việt Nam.

2.- Vận Động Cấp Tiểu Bang

a.- UBVĐNQNVNCH cử phái đoàn đến gặp các Dân Biểu và Nghị sĩ của tiểu bang nơi có đông đảo người Mỹ gốc Việt cư ngụ vận động đệ nạp Nghị Quyết Công Nhận Ngày Việt Nam Cộng Hòa để kỷ niệm và ghi nhớ chính nghiã cũng như sự hy sinh đóng góp của Quân Dân Cán Chính của VNCH trong cuộc chiến Việt Nam.

b.- UBVĐNQNVNCH cử phái đoàn đến gặp các Dân Biểu và Nghị sĩ của tiểu bang khác vận động sự bảo trợ và bỏ phiếu thông qua Nghị Quyết này.

c.- UBVĐNQNVNCH vận đồng đồng hương đồng vận động cử tri gốc Việt vận động dân cử của mình bảo trợ và bỏ phiếu cho dự luật Nghị Quyết Ngày VNCH.

* Giai Đoạn Tổ Chức Kỷ Niệm Ngày Việt Nam Cộng Hoà hàng năm để giáo dục con em chúng ta ghi nhớ nguồn gốc VNCH cũng như chính nghiã và vinh danh sự hy sinh, đóng góp to lớn vì chính nghiã quốc gia của Quân Dân Cán Chính VNCH.

Hình ảnh buổi hội thảo.

Tiếp theo một số quan khách lên góp ý kiến.

Cuối cùng BTC mời một số quí vị lên bàn Chủ Tọa điều khiển thành lập UBVĐNQ/ Ngày VNCH gồm: GS Cao Văn Hở, GS Trần Văn Ân, Ô. Nhan Hữu Mai.

Kết quả:- Ban Cố vấn & Yểm Trợ: LS Trần Thái Văn & rất nhiều niên trưởng trong QLVNCH như: ĐT Kỳ V Nguyên, Lê Bá Khiếu…GS Cao Văn Hở, Nhà BK Phạm Trần Anh…

– Ban điều Hợp/Trưởng Ban: Ô. Nguyễn Tấn Lạc-Phó Ban Nội Vụ: Ô. Nhan Hữu Mai- Phó Ban Ngoại vụ:NV Nguyễn Tâm Thuận- Thủ Quỹ: Bà Ngân Nguyễn -Tiểu Ban Truyền Thông & LL/Dân cử: Các ông: Bùi Phát, Nguyễn Mạnh Chí-Hoàng Kim Thanh, Mỹ Thúy- Tiểu Ban Tài Liệu &Văn Thư: Nguyễn Tấn Lạc, Nguyễn v Sáu-Tiểu Ban Liên Lạc: Nguyễn Chí Vy, Đoàn Thế Cường. -Tiểu Ban Tổ Chức & Kỹ Thuật: Lê Nguyễn Thiện Truyền, Phạm V Chính, Đinh Quang Truật.

– Tiểu Ban Đặc Trách San Diego: Nguyễn v Lực, Đặng Kim Trang.

Sau cùng là lời cám ơn của BTC.

Quí vị muốn biết mọi chi tiết xin liên lạc (714) 332-9244 hay vào trang Web: diendancuachungta.com

Việt Nam thay tổng giám đốc đường sắt

Bộ trưởng Đinh La Thăng nói tổng giám đốc đường sắt ‘đạo đức trong sáng’ nhưng không làm được việc

Bộ trưởng Giao thông Vận tải Việt Nam quyết định cho thay Tổng Giám đốc Đường sắt Việt Nam, trong bối cảnh đang có điều tra nghi án nhận hối lộ từ Tập đoàn JTC (Nhật Bản).

Ông Nguyễn Đạt Tường mất chức tổng giám đốc, để chuyển sang làm thành viên chuyên trách Hội đồng Thành viên của Tổng Công ty này.

Quyết định thay ông Nguyễn Đạt Tường đã có trong tháng Năm, nhưng được công bố chính thức hôm 3/6.

Ông Vũ Tá Tùng, nguyên phó tổng giám đốc Đường sắt Việt Nam, chính thức lên thay vị trí của ông Nguyễn Đạt Tường kể từ ngày 3/6. Ông Tùng cũng đang kiêm chức Tổng Giám đốc Đường sắt Sài Gòn khi có quyết định này.

Cùng ngày 3/6, Nhật Bản thông báo tạm ngừng viện trợ ODA các dự án đường sắt cho Việt Nam.

Bộ Giao thông Vận tải không nói việc ông Nguyễn Đạt Tường mất chức tổng giám đốc là có liên quan tới cuộc điều tra nghi án nhận hối lộ từ Tập đoàn JTC (Nhật Bản).

Bộ trưởng Giao thông Đinh La Thăng nói ông Tường là người “đạo đức trong sáng” nhưng “công việc anh làm không tốt nên buộc phải thay”.

“Anh đứng đầu một đơn vị, công việc trì trệ thì anh phải làm việc khác cho phù hợp, lý do chỉ có thế,” Bộ trưởng Thăng cho biết.

Sau quyết định trên, ông Thăng cũng phản bác lại ‎ ý kiến cho rằng bộ Giao thông chỉ xử lý “nhân viên bán vé” chứ không dám đụng đến cán bộ cấp cao.

“Nói chỉ xử lý nhân viên mà không dám xử lý cấp trên thì tôi không hiểu phải xử lý như thế nào nữa, vậy không lẽ tôi tự xử tôi? Tôi tự cách chức Bộ trưởng thì mới làm hài lòng dư luận?” bộ trưởng Thăng được trích lời trên Dân trí nói.

Theo báo Dân trí, lãnh đạo của bộ Giao thông cũng đang yêu cầu thay thế 10 vị trí cấp cao khác tại công ty này.

Nghi án hối lộ

Hồi cuối tháng Ba, một quan chức Công ty Tư vấn giao thông Nhật Bản (JTC) khai với cơ quan công tố Tokyo việc hối lộ một quan chức Việt Nam 66 triệu yen (tương đương 16 tỷ đồng) để giành dự án có sử dụng vốn ODA trị giá 4,2 tỷ yen. Đây là một phần trong dự án xây dựng tuyến đường sắt trên cao ở Hà Nội.

Đến đầu tháng Năm, sáu cán bộ cao cấp của Công ty Đường sắt đã bị khởi tố, tạm giam để điều tra, bao gồm Phó Tổng giám đốc Trần Quốc Đông, hai Phó giám đốc Ban Quản lý các Dự án Đường sắt Phạm Quang Duy và Phạm Hải Bằng, Trưởng phòng dự án 3 Nguyễn Nam Thái, Giám đốc Ban quản lý dự án đường sắt (thuộc bộ Giao thông) Trần Văn Lục, cùng với Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Ban quản lý dự án đường sắt (thuộc Công ty Đường sắt).

Các cán bộ cấp cao này bị cáo buộc các tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tuy vậy, hiện chưa ai bị cáo buộc tội “nhận hối lộ”.

‘Ngừng ODA’

Vụ bê bối đã “ảnh hưởng không nhỏ đến sự tin cậy của người dân [Nhật Bản] đối với những dự án viện trợ ODA”, ông Kimihiro Ishikane, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Ngoại giao Nhật Bản, cho biết trong cuộc họp với bộ Giao thông Việt Nam vào ngày 2/6.

Cũng trong cuộc họp, Nhật Bản cho biết đã tạm ngừng viện trợ ODA các dự án đường sắt cho Việt Nam cho đến khi Hà Nội kết luận điều tra và có những bước ngăn ngừa các vụ việc tương tự xẩy ra, hãng thông tấn Kyodo đưa tin. Cụ thể, khoản nợ cho giai đoạn đầu của dự án đường sắt số 1 sẽ bị tạm ngưng.

Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội cho biết sẽ xem xét nối lại viện trợ trong cuộc gặp mặt giữa hai bên vào cuối tháng, khi có đánh giá về nỗ lực từ phía Việt Nam.

Biển Đông : Trung Quốc đề nghị Việt Nam không kiện lên tòa án quốc tế

Đức Tâm, RFI, 2-6-14

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140602-bien-dong-trung-quoc-nhieu-lan-de-nghi-viet-nam-khong-kien-len-toa-an-q

Bên lề Diễn đàn Shangri-La, tướng Nguyễn Chí Vịnh đã gặp tướng Vương Quan Trung của Trung Quốc để trao đổi về Biển Đông - REUTERS /Edgar Su
Bên lề Diễn đàn Shangri-La, tướng Nguyễn Chí Vịnh đã gặp tướng Vương Quan Trung của Trung Quốc để trao đổi về Biển Đông – REUTERS /Edgar Su

Theo Reuters, bên lề Hội nghị Shangri-la, ở Singapore, ngày hôm qua, 01/06/2014, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, tướng Nguyễn Chí Vịnh, cho biết là Hà Nội chưa quyết định lúc nào sẽ đưa vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo ra trước tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, quyết định của Việt Nam tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tướng Nguyễn Chí Vịnh cho biết rõ hơn : « Trung Quốc đã nhiều lần đề nghị chúng tôi không đưa vụ việc ra trước tòa án quốc tế ». « Câu trả lời của chúng tôi là việc này tùy thuộc vào các hoạt động và cách ứng xử của Trung Quốc ; nếu họ tiếp tục dồn ép chúng tôi, chúng tôi không có lựa chọn nào khác. Giải pháp pháp lý cũng phù hợp với luật pháp quốc tế ».

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đưa ra bình luận này sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam đã chuẩn bị các bằng chứng để tiến hành kiện tụng, bác bỏ các đòi hỏi của Trung Quốc đối với vùng biển của Việt Nam và Việt Nam đang xem xét thời điểm tốt nhất để làm việc này.

Hôm thứ Sáu, 30/05/2014, tại Singapore, tướng Nguyễn Chí Vịnh đã có cuộc gặp với Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, tướng Vương Quan Trung (Wang Guanzhong). Theo phát ngôn viên quân đội Trung Quốc, hai bên « đã trao đổi quan điểm một cách thẳng thắn » về các vấn đề an ninh, nhưng không cho biết là hai bên có đề cập đến vấn đề kiện lên tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc hay không.

Hãng tin Reuters cho biết, tướng Vịnh nói rằng, những nhận xét của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel tại Hội nghị Shangri-la về an ninh khu vực là « có giá trị lớn và rất có ý nghĩa ». Các nhận xét này buộc các nước trong ASEAN phải nghĩ lại rằng « vấn đề giàn khoan Trung Quốc không chỉ liên quan đến Việt Nam mà còn liên quan đến nhiều nước khác ».

Cuộc biểu tình trước hai sứ quán Trung Quốc và Việt Nam tại Washington

protest-at-china-embassy

Đoàn biểu tình trước sứ quán Trung Quốc ở Washington. RFA file

Giữa trời nắng gắt nhưng không khí trong lành của ngày chủ nhật 1 tháng 6, từ 1 giờ trưa khoảng 200 đồng bào đã dàn hàng san sát trước toà đại sứ Trung Quốc, giăng biểu ngữ với nội dung tương tự những lời đồng thanh lên án và đả đảo Bắc Kinh xâm lấn biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam.

Giặc đến nhà, người già cũng phải hành động

Những đồng bào tham dự biểu tình phần lớn không thuộc một đảng phái hay hội đoàn chính trị nào. Họ cho biết họ đi biểu tình vì lòng yêu nước và sự phẫn uất trước hành động xâm lược kiêu căng và trắng trơn của Cộng sản Trung Quốc mà họ gọi vắn tắt là Trung Cộng, và họ tập trung  theo lời kêu gọi và kế  hoạch của của ban điều hành Cộng đồng người Việt, ban điều hành Liên hội Cựu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà của Washington D.C., Virginia và Maryland.

Không kể những em bé một hai tuổi được bồng ẵm trên tay hay nằm trong xe đẩy theo cha mẹ, thành phần tham dự biểu tình thuộc đù mọi lớp tuổi từ thiếu niên 14, 15 tuổi đến các cụ già đã ngoài 80.  Đặc biệt là phụ nữ có mặt đông đảo không kém nam giới. Một phụ nữ trẻ, cô Phương Trang, trả lời đài Á Châu Tự do:

–  Hôm nay mọi người có mặt trước sứ quán Trung Cộng để nói lên một thông điệp thôi, đó là: Trung Cộng phải rút khỏi Việt Nam ngay, chúng tôi không chấp nhận sự ngang ngược của Trung Cộng. Về việc tôi và cháu có mặt ở đây, thì đó là bổn phận của mình kh tổ quốc lâm nguy. Dù là nam nhi hay phụ nữ, có con hay chưa có con, hay bất kỳ người nào trong thành phần dân tộc Việt, đều mang bổn phận đó.

Và một phụ nữ đứng tuổi, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, từ Virginia, nói lên tâm tư của bà:

–  Chúng tôi rất lớn tuổi, nhưng đứng trước tình hình đất nước bị Tàu Cộng xâm lược như hiện nay, chúng tôi không thể nào ngồi yên. Mặc dù hôm nay là chủ nhật, với tuổi già sức yếu chúng tôi có thể nghỉ ngơi ở nhà, nhưng không thể như vậy, vì giặc đến nhà, dù là người già hay đàn bà cũng đều phải có hành động chống đối. Chúng tôi rất phẫn uất khi Trung Cộng xâm lấn dần dần đất nước của chúng ta, mà hiện nay chúng phô trương lực lượng rất hùng hậu…..

Chúng tôi cũng có dịp phỏng vấn chủ tịch LH/CCS/VNCH tại VA-Washington và MD, ông Tạ Cự Hải.

–   Ý nghĩa cuộc biểu tình hôm nay, thứ nhất là phản đối cuộc xâm lăng của Trung Cộng vào Việt Nam, cả lãnh thổ cũng như lãnh hải Việt Nam. Thứ nhì, biểu tình để chống lại chế độ Việt Nam đã hèn nhát bán nước cho Trung Cộng.

Tuyên cáo của 20 tổ chức chính trị

Trước toà đại sứ Trung Quốc, vào lúc 1 giờ 55 Chủ tịch Cộng  đồng Người Việt quốc gia ở địa phương, ông Đoàn Hữu Định đọc tuyên cáo của 20 tổ chức, liên minh, đảng phái chính trị Việt Nam ở hải ngoại, ký ngày 11 tháng 5, 2014.

Tuyên ngôn lên án hành vi xâm lược trắng trợn và khiêu khích đối với quốc tế của Trung Quốc từ ngày 1 tháng 5, khi hạ đặt giàn khoan HD-981 sâu trong lãnh hải đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Tuyên ngôn công bố 6 điểm.

Thứ nhất, cực lực lên án hành động xâm lược trắng trợn của Trung Quốc.

Thứ hai, nhân danh người Việt toàn thế giới, liên kết với tuyệt đại đa số 90 triệu dồng bào Việt Nam trong nước, đòi hỏi Trung Quốc lập tức rút giàn khoan này ra khỏi lãnh hải Việt Nam, đồng thời lên án chính sách mềm yếu của Hà Nội để cho Trung Quốc thực thi hành vi kẻ cướp ở biển Đông Nam Á.

Thứ ba, yêu cầu Hà Nội lập tức ngưng đàn áp và bắt bở những người hoạt động chính trị, trả tự do tức khăc cho tất cả những người tù lương tâm đang bị giam giữ vì chống lại chính sách bành trướng của Trung Quốc.

Thứ tư, kêu gọi đưa Trung Quốc ra trước một toà án quốc tế có phạm vi tài phán bao gồm vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo trên khắp thế giới,, truy tố Cộng sảnTrung Hoa xâm lấn trong vùng Đông Nam Á, chiếm đoạt tài sản quốc gia của Việt Nam.

Thứ năm, kêu gọi khối ASEAN đoàn kết đàm phán với Trung Quốc về việc bản tuyên bố ứng xử biển Đông Nam Á tiến qua bản Quy luật ứng xử ở biển Đông Nam Á.

Thứ sáu, kêu gọi công luận thế giới lên án một cách cụ thể tham vọng bành trướng của Bắc Kinh đang nhất quyết biến vùng biển Đông Nam Á với nguồn tài nguyên vô tận thành “biển nhà” của Trung Quốc. 20 tổ chức chính trị  của người Việt hải ngoại không quên cám ơn tất cà các nước, đặc biệt là Hoa Kỳ, đã lên tiếng không chỉ vì Việt Nam mà còn cho hoà bình an ninh thế giới.

Quá 2 giờ chiều, đoàn biểu tình lên xe tiến qua toà đại sứ  Việt Nam cách đó trên 4 km.

ĐCSVN nên trưng cầu dân ý

Nơi đây, ông Đoàn Hữu Định, chủ tịch Cộng đồng người Việt địa phương, dành cho RFA cuộc phỏng vấn về ý nghĩa cuộc biểu tình hôm nay của Cộng đồng lên án chính quyền Việt Nam quá mềm yếu trước quân Trung Quốc xâm lược.

Trả lời câu hỏi rằng có một số ý kiến của khán thính giả của đài Á Châu Tự Do từ trong nước cho rằng nay là lúc toàn dân phải đoàn kết ủng hộ chính phủ Việt Nam hành động chống Trung Quốc, ông nghĩ sao, chủ tịch Cộng đồng người Việt hài ngoại tại Washington và hai tiểu bang kế cận, ông Đoàn Hữu Định nói:

–  Năm 1958 Phạm Văn Đồng đã ký công hàm bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Đó là điều không thể nào chấp nhận được vì VNCH lúc đó có chủ quyền trên hai quần đảo đó. Khi đó hai miền Nam và Bắc chúng ta đang chiến đầu với nhau. Không thể nào miền Bắc đem cho không Trung Cộng hai quần đảo thuộc chủ quyền của miền Nam. Tội đó là tội của ĐCSVN, không thể quy vào một người là Phạm Văn Đồng, một người đã chết. Ta phải thấy rằng đảng Cộng sản có tội với đất nước. Bây giờ đảng Cộng Sản hay nhất là phải rút lui, để cho người dân Việt Nam quyết định một chính thể mới, để trong và ngoài nước hợp tác chống xâm lăng. Chúng tôi thấy một khi (Việt Nam) thú nhận công hàm 1958 không còn giá trị, thì lỗi đó là của ai? Tại sao không thú nhận vào lúc trước. Việc tốt hơn hết là Cộng Sản Việt Nam nên có một cuộc trưng cầu dân ý để cho toàn dân quyết định tương lai của mình, quyết định một thể chế mới, một chính quyền mới, từ đó toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước có thể hợp tác với nhau để giữ nước

Đến 4 giờ chiều, đoàn biểu tình băng ngang hai con đường để tiến vào khúc lề đường ngay trước tòa đại sứ Việt Nam, hô khẩu hiệu lên án đảng Cộng sản Việt Nam không dám cương quyết chống lại cuộc xân lăng trắng trợn và ngang ngược của Bắc Kinh.

Cuộc biểu tình chấm dứt sau đó, tính theo giờ Việt Nam là khoảng sau 3 giờ sáng thứ hai ngày 2 tháng 6, 2014.

Mỹ: Nhân quyền Việt Nam nằm rất cao trong nghị trình năm nay

 Trà Mi-VOA. 02.06.2014

http://www.voatiengviet.com/content/my-noi-nhan-quyen-vietnam-nam-cao-trong-nghi-trinh-nam-nay/1927595.html

Hoa Kỳ nói nhân quyền là một phần hết sức quan trọng trong mối quan hệ Việt-Mỹ hiện nay giữa căng thẳng Biển Đông, chính sách tái cân bằng của Washington ở Châu Á, và các cuộc thương lượng Hiệp định Tự do Thương mại Xuyên Thái Bình Dương TPP.Trợ lý Ngoại trưởng về Dân chủ-Nhân quyền-Lao động, Tom Malinowski, trưởng phái đoàn Mỹ tham gia đối thoại nhân quyền với Việt Nam giữa tháng 5 năm nay, khẳng định quan hệ quân sự và thương mại Việt-Mỹ sẽ tiến sâu hơn nữa khi Hà Nội cải thiện nhân quyền.Trong cuộc phỏng vấn đặc biệt dành cho Trà Mi của VOA Việt ngữ, Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski nhấn mạnh nhân quyền Việt Nam nằm rất cao trong nghị trình năm nay.VOA: Xin ông cho biết Đối thoại Nhân quyền Việt Mỹ năm nay có thành quả gì đột phá so với các năm trước không?

Trợ lý Ngoại trưởng Tom Malinowski: Đây là cuộc đối thoại đầu tiên của tôi với Việt Nam trong tư cách Trợ lý Ngoại trưởng, nhưng tôi cảm thấy cuộc đối thoại lần này cởi mở, mang tính xây dựng và trọng yếu hơn so với vài cuộc đối thoại trước đây. Chúng tôi khá ấn tượng về việc phái đoàn Việt Nam sang đây làm việc với chúng tôi, tìm cách đạt tiến bộ trong các mối quan tâm của chúng tôi về thực trạng nhân quyền tại Việt Nam. Chúng ta phải chờ xem bởi vì sự trắc nghiệm không nằm ở chất lượng cuộc đối thoại mà ở các bước sẽ diễn ra trong những ngày sắp tới. Chúng tôi sẽ theo dõi và làm việc chặt chẽ với Hà Nội để khuyến khích những bước đó.

Bấm để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski

Tải xuống để ngheVOA: Các mối quan tâm đặc biệt được nhấn mạnh trong đối thoại năm nay là gì, thưa ông?

Ông Malinowski: Như thường lệ, chúng tôi nêu lên trường hợp các cá nhân bị tù hay bị bắt vì đã thể hiện quan điểm một cách ôn hòa. Ngoại trưởng John Kerry tham gia cuộc đối thoại năm nay và ông đã nêu lên với phái đoàn Việt Nam rằng cho phép người dân thực thi quyền tự do bày tỏ ý kiến hay tự do hội họp là lợi ích của Việt Nam. Giống như một bình nước sôi, sẽ tốt hơn nhiều nếu ta mở nắp để hơi nóng thoát ra thay vì cố gắng đậy lại để rốt cuộc dẫn tới một sự bùng nổ lớn hơn. Chúng tôi cũng nêu lên nhu cầu cần phải cải cách pháp lý ở Việt Nam để đảm bảo rằng Bộ Luật Hình sự Việt Nam phù hợp với Hiến pháp Việt Nam và phù hợp với cam kết của Hà Nội với luật quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực tự do ngôn luận, tự do hội họp.

VOA: Phản hồi của Việt Nam ra sao trước các mối quan tâm đó ra sao, thưa ông?

Ông Malinowski: Họ phản hồi một cách xây dựng. Họ thừa nhận là Việt Nam cần đạt những tiến bộ nhưng đồng thời cũng nêu lên rằng nhà nước Việt Nam đang đạt tiến bộ. Họ công nhận rằng nhất thiết luật hình sự phải phù hợp với Hiến pháp Việt Nam. Họ cũng công nhận Việt Nam có các cam kết theo luật quốc tế. Chúng tôi không đồng ý với nhà nước Việt Nam về trường hợp các cá nhân bị giam giữ vì thực thi nhân quyền. Chúng tôi cũng đã đối thoại xây dựng về các vấn đề cụ thể này.

VOA: Có người cho rằng thúc đẩy các vụ phóng thích tù nhân lương tâm, nếu không phải ở mức hàng loạt mà chỉ vài trường hợp đơn lẻ, có thể đưa tới phản ứng ngược vì Hà Nội không ngừng tống giam những người bất đồng chính kiến để đem đổi chác lấy quyền lợi. Ý kiến của ông thế nào?

Ông Malinowski: Đó là lý do vì sao tập trung tới lĩnh vực cải cách luật lệ và Hiến pháp là vô cùng quan trọng. Dĩ nhiên khi có người nào bị bắt giam mà chúng tôi thấy bất công cho dù ở Việt Nam, Trung Quốc, hay bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, Hoa Kỳ sẽ yêu cầu phóng thích họ vì chúng tôi bênh vực nhân quyền. Tuy nhiên, chúng tôi hiểu rằng giải pháp cho vấn đề là làm sao phải đảm bảo luật nội địa phù hợp với luật quốc tế, tuân thủ những luật lệ tôn trọng quyền của bất kỳ ai ở bất cứ nước nào đều phải được tự do bày tỏ quan điểm, tự do biểu tình ôn hòa, tự do tham gia vào các quyết định chính trị của nước đó mà không sợ bị bắt hay bị đàn áp. Về lâu dài, đây là mục đích chúng tôi đang hướng tới.

VOA: Quốc tế gọi những người bất đồng chính kiến bị Việt Nam giam cầm là tù nhân lương tâm nhưng Việt Nam gọi đó là những phạm nhân phạm pháp. Làm sao để hai đường thẳng, trong trường hợp này, gặp nhau tại một điểm?    

Ông Malinowski: Cách đạt giao điểm là phải đảm bảo các luật lệ của họ phải chính đáng và phù hợp với các nguyên tắc mà nhà nước Việt Nam nói họ theo đuổi, những nguyên tắc ghi trong chính Hiến pháp của họ. Đúng là một số nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam phạm pháp vì Hà Nội có những luật lệ ngăn cấm người dân chỉ trích nhà nước một cách ôn hòa. Trong trường hợp này, chúng tôi thấy luật lệ của Việt Nam là không chính đáng và không đúng với những nguyên tắc do chính họ nêu lên cũng như không đúng với các cam kết của họ với luật quốc tế.

VOA: Đối thoại Nhân quyền Việt-Mỹ mang lại kết quả cụ thể ra sao trong khi các cuộc thảo luận thường niên này vẫn tiếp diễn qua nhiều thập niên mà Việt Nam vẫn nằm trong số các nước vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất theo ghi nhận từ các báo cáo nhân quyền quốc tế?

Ông Malinowski: Sẽ có kết quả cụ thể nếu trong những ngày sắp tới chúng ta thấy có tiến bộ trong những lĩnh vực như cải cách Bộ Luật Hình sự mà nhà nước Việt Nam nói đang tiến hành. Chúng ta sẽ thấy kết quả cụ thể nếu các cá nhân bị bắt vì các điều luật trong Bộ Luật Hình sự trái với luật quốc tế được phóng thích, nếu có tiến bộ rằng thêm nhiều giáo phái tôn giáo được đăng ký hoạt động. Thật ra đã có một số tiến bộ trong lĩnh vực này ở Tây Nguyên và một vài nơi khác, nhưng chúng tôi yêu cầu gia tăng hơn nữa. Hoặc giả như có tiến bộ trong lĩnh vực quyền của người lao động, vốn là phần rất quan trọng trong Đối thoại Hiệp định Tự do Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Hoa Kỳ với Việt Nam. Đối thoại Nhân quyền là phương tiện rất quan trọng để đi tới mục đích vì chúng tôi có mối giao hảo rất tốt với chính phủ Việt Nam. Mục tiêu của Đối thoại là những tiến bộ cụ thể cho phép người dân Việt Nam cổ xúy ôn hòa cho nhân quyền của họ.

VOA: Có cách nào để làm cho Đối thoại Nhân quyền hiệu quả hơn, để không chỉ là kênh bày tỏ quan tâm mà còn là một công cụ mang lại những cải thiện quan trọng?

Ông Malinowski: Sở dĩ có hy vọng cao rằng đối thoại nhân quyền năm nay đạt tiến bộ xuất phát từ đối thoại TPP. Mỹ muốn thấy Việt Nam là một phần trong cộng đồng các nước Châu Á-Thái Bình Dương cùng ngồi lại với nhau không chỉ vì các lợi ích chung về thương mại mà còn vì những giá trị chung. Việt Nam hiểu rõ điều này. Ngoại trưởng Kerry và Tổng thống Obama đã nói rõ với Hà Nội rằng làm thành viên trong cộng đồng này có những trách nhiệm ràng buộc, và một trong những vấn đề mà chúng tôi kỳ vọng chính là tiến bộ về nhân quyền. Việt Nam thừa biết rằng thỏa thuận thương mại với Việt Nam cần phải được Quốc hội Mỹ thông qua. Cho nên, cuộc đối thoại nhân quyền là cách mà qua đó chúng tôi có thể thảo luận chính xác các bước nào Việt Nam cần thiết phải thực hiện để có thể trở thành thành viên của TPP trong năm nay.

VOA: Việt Nam có nhiều cơ hội trở thành thành viên của TPP trong năm nay không giữa lúc tất cả các nước TPP bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ về quyền của người lao động, trong đó có quyền tự do lập hội và công đoàn độc lập mà Việt Nam chưa thực thi?

Ông Malinowski: Tôi nghĩ Việt Nam có cơ hội, một cơ hội thật sự, nhưng liệu nhà nước Việt Nam có thực hiện những bước cần thiết để nắm bắt cơ hội hay không là câu hỏi mà tôi không thể trả lời thay họ được. Chính phủ Mỹ đã chỉ ra rõ ràng, không chỉ riêng tôi trong cuộc Đối thoại Nhân quyền với Việt Nam mà quan trọng hơn là Tổng thống và Ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng đã nói rằng chúng tôi đang trông đợi tiến bộ trong nhiều lĩnh vực mà đặc biệt là trong lĩnh vực quyền của người lao động và quyền tự do lập hội vì đây là những yếu tố liên quan trực tiếp tới lợi ích của chúng tôi trong mối quan hệ giao thương tự do, cởi mở, và công bằng với Việt Nam.

VOA: Với những động thái gần đây của Bắc Kinh ở Biển Đông, có ý kiến cho rằng Việt Nam nên nhanh chóng mở rộng hơn quan hệ với Mỹ. Khả năng Việt Nam có thể được Mỹ hỗ trợ quân sự hay bán võ khí sát thương giữa chính sách tái cân bằng của Washington ở Châu Á như thế nào, thưa ông?  

Ông Malinowski: Vấn đề an ninh ở đây nhắc nhớ rằng Việt Nam là một nước tương đối nhỏ trước một nước láng giềng rất lớn. Việt Nam cần luật quốc tế, cần trở thành thành viên trong cộng đồng mà nền tảng dựa trên sự tôn trọng những luật lệ chung được mọi người hiểu biết và tôn trọng. Và một phần trong sự giao kèo ấy bao gồm những luật lệ bảo vệ con người. Có những luật lệ quốc tế bảo vệ các nước trước sự xâm lược, trước sự xâm phạm chủ quyền biển đảo, và cũng có những luật lệ quốc tế bảo vệ con người. Cho nên, là thành viên của cộng đồng có nghĩa là chấp nhận toàn bộ gói luật lệ chung ấy. Đó là điều Mỹ đã nêu rõ với Việt Nam rằng vì sao từng bước tiến tới việc tuân thủ luật quốc tế về nhân quyền là một lợi ích cho Việt Nam. Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam chắc chắn có thể cải thiện và sẽ cải thiện, sẽ tăng cường sâu hơn nữa khi sự tôn trọng nhân quyền ở Việt Nam được tăng cường.

VOA: Chính sách của Mỹ với Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền trong thời gian tới sẽ ra sao, thưa ông?

Ông Malinowski: Thời gian đó chính là đây, hiện giờ nhân quyền là một phần hết sức quan trọng trong mối quan hệ Việt-Mỹ vì chúng tôi quan tâm đến tương lai, sự ổn định của Việt Nam, và sự an lành cho người dân Việt Nam. Tiếp tục tiến gần đến việc tuân thủ đầy đủ các quy chuẩn quốc tế về nhân quyền rõ ràng mang lại lợi ích cho Việt Nam. Sở dĩ nhân quyền là một phần trong quan hệ Việt-Mỹ vì nó rất quan trọng đối với người dân và Quốc hội Hoa Kỳ. Khi hành pháp Mỹ yêu cầu dân chúng và Quốc hội có những bước xây dựng mối quan hệ sâu sắc và gần gũi hơn với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh và thương mại thì nhân quyền chính là những thắc mắc họ nêu lên. Họ kỳ vọng nhìn thấy những tiến bộ từ phía Việt Nam. Có rất nhiều lý do, đặc biệt là trong năm nay với các cuộc thương thảo về Hiệp định TPP, với chính sách tái cân bằng của Mỹ tại Châu Á, khiến vấn đề nhân quyền của Việt Nam sẽ nằm rất cao trong nghị trình làm việc của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng và kỳ vọng tiến bộ từ Việt Nam.

VOA: Ông nghĩ thế nào về khuyến nghị rằng Mỹ nên dành ngân quỹ từ Qũy Nhân quyền và Dân chủ của Bộ Ngoại giao giúp thúc đẩy nhân quyền và xã hội dân sự tại Việt Nam?

Ông Malinowski: Mỹ cổ xúy xã hội dân sự và nhân quyền thông qua sự hỗ trợ trực tiếp đối với các tổ chức bảo vệ nhân quyền ở các nước sở tại trên khắp thế giới, kể cả ở Châu Á, Việt Nam, và hàng chục nước khác. Đây là một phần trong phương thức hỗ trợ nhân quyền của Mỹ. Sự thay đổi không đến từ bên ngoài mà chỉ có thể xuất phát từ chính bên trong quốc gia đó, thông qua công việc của những người hoạt động ôn hòa, những người dân tại Việt Nam yêu nước và quan tâm đến hiện tình đất nước. Nếu chúng tôi có thể giúp, hay có thể là đối tác với các nỗ lực đó, cho dù ở Việt Nam hay ở bất kỳ một nước nào khác trên thế giới, thì đó là điều chúng tôi rất muốn làm.

VOA: Xin chân thành cảm ơn Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Tom Malinowski đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.


Trà Mi

Bình luận về phản biện của Ngô Viễn Phú (*)

Boxit Viet Nam, Dương Danh Huy

http://www.boxitvn.net/bai/26880

1. Luận điểm 1 của phía Việt Nam:Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ thừa nhận chủ quyền 12 hải lí của Trung Quốc, mà không hề thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Bời vậy, về cơ bản, công hàm không đề cập đến vấn đề lãnh thổ, không đề cập đền quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

Phản luận của Ngô: Đoạn thứ nhất trong “Tuyên bố lãnh hải”, mà chính phủ Trung Quốc đã công bố vào tháng 9 năm 1958, đã nói rất rõ rằng, phạm vi bao quát trong 12 hải lí của lãnh hải Trung Quốc là thích dụng cho tất cả lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

Công hàm Phạm Văn Đồng đã rất rõ ràng “ghi nhận và tán thành” với tuyên bố về lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì trước hết chính là thừa nhận và tán thành chủ trương về lãnh thổ của Trung Quốc, bởi vì chủ trương về lãnh hải có gốc là chủ quyền lãnh thổ, lãnh thổ không tồn tại thì lãnh hải cũng không có căn cứ.

Công hàm Phạm Văn Đồng không đưa ra bất cứ quan điểm bất đồng hay ý kiến bảo lưu nào về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì theo lô-gich, là cho thấy chính phủ Việt nam tán thành với toàn bộ nội dung của Tuyên bố Lãnh hải do chính phủ Trung Quốc đưa ra, trong đó, có bao gồm cả chủ trương “quần đảo Tây Sa, quần đảo Nam Sa thuộc vào lãnh thổ Trung Quốc”

Bình luận của DDH: Theo luật quốc tế, có 3 điều có thể làm cho một quốc gia mất chủ quyền mình đã có trên một vùng lãnh thổ, đó là

  1. Công nhận chủ quyền của nước khác.
  2. Gây ra estoppel không cho mình nói ngược lại điều mình đã nói.
  3. Bị cho là đã acquiesced.

The luật quốc tế thì để xét CHPVĐ có bị vướng lỗi (1) và (2) hay không, tòa sẽ xét xem CH PVĐ có nói cụ thể gì về Hoàng Sa, Trường Sa hay không, và nếu có nói thì có phải là trong văn cảnh TQ và VNDCCH thảo luận về Hoàng Sa, Trường Sa hay không. Luật quốc tế đòi hỏi hai điều này. Nếu không nói cụ thể mà chỉ có thể bị/được suy diễn logic thì sẽ không đủ. Nếu nói trong văn cảnh khác với thảo luận về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng sẽ không đủ. Trả lời cho 2 câu hỏi này dĩ nhiên là “Không”. Điều đó có nghĩa CHPVĐ chỉ có thể vướng lỗi (3), không vướng lỗi (1) hay (2).

Vấn đề ở đây là TQ và Ngô đã mạo nhận và biến lỗi (3) thành lỗi (1), còn phía VN thì mới chỉ nói 1/2 sự thật khi nói CH PVĐ không vướng lỗi (1), bỏ qua lỗi (3).

Nếu suy diễn logic bình dân thì dễ có ấn tượng sai lầm là lỗi (3) hay lỗi (1) thì cũng như nhau, nhưng trong trường hợp đặc thù của VNDCCH, VNCH, CHMNVN và CHXHCNVN thì lỗi (3) có ít hệ quả hơn lỗi (1). Nếu VNDCCH mắc lỗi (1) hay (2) thì có thể gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc pháp lý cho chính thể này, và nếu thế thì khi VNDCCH và CHMNVN thống nhất lại thành CHXHCNVN, CHXHCNVN sẽ phải thừa kế hai điều đối nghịch nhau: một bên là nghĩa vụ có tính ràng buộc pháp lý, thừa kế từ VNDCCH, bên kia là chủ quyền đối với HSTS, thừa kế từ CHMNVN. Sự đối nghịch đó sẽ đem lại rủi ro nhất định cho lập luận pháp lý của CHXHCNVN.

Nếu VNDCCH chỉ mắc lỗi (3), và sự thật là như thế, lỗi đó chỉ làm cho VNDCCH mất đi những gì mình có, nếu có, nhưng không gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc pháp lý cho chính thể này. Do đó, khi VNDCCH và CHMNVN thống nhất lại thành CHXHCNVN, CHXHCNVN chỉ thừa kế chủ quyền đối với HSTS từ CHMNVN, không có nghĩa vụ tính ràng buộc pháp lý bất lợi từ VNDCCH để thừa kế.

2. Luận điểm 2 của phía Việt Nam:Vào thập niên 1950, quan hệ giữa Trung Quốc và nước Mĩ là xấu, hạm đội 7 của hải quân Mĩ đóng giữ tại eo biển Đài Loan, uy hiếp sự an toàn của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố lãnh hải là để cảnh cáo nước Mĩ không được xâm phạm đến lãnh hải Trung Quốc. Công hàm Phạm Văn Đồng là nghĩa cử của chính phủ Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc dựa trên tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp, ý nguyện đó không có liên quan đến lãnh thổ.

Phản luận của Ngô: Vào thời gian này, tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp là sự thực, nước Mĩ lại là kẻ thù chung của hai nước Việt – Trung, Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc trên trường quốc tế chính là lí do tình cảm đó. Thế nhưng, trong vấn đề không thể hàm hồ là giao thiệp về chủ quyền lãnh thế như thế, cứ tự nói “ý nguyện” là thế này thế kia, để mà lật lại câu “ghi nhận và tán thành” rành rành trên giấy trắng mực đen, thì trong quan hệ quốc tế vốn trọng chứng cớ văn bản, sẽ không được người ta tin tưởng và công nhận đâu!

Bình luận của DDH: Đúng là luận điểm 2 của VN riêng nó không hoàn toàn bác bỏ được lập luận của Trung Quốc, và phản biện của Ngô chính xác về một số khía cạnh. Nhưng phản biện của Ngô cũng chỉ nói một phần của sự thật. Phần kia của sự thật là luận điểm 2 của Việt Nam cũng có giá trị pháp lý như sau.

The luật quốc tế thì để xét CHPVĐ có bị vướng lỗi (1) và (2) hay không, tòa sẽ xét xem CH PVĐ có nói cụ thể gì về Hoàng Sa, Trường Sa hay không, và nếu có nói thì có phải là trong văn cảnh TQ và VNDCCH thảo luận về Hoàng Sa, Trường Sa hay không. Lập luận 2 của Việt Nam nói lên điều văn cảnh của CH PVĐ là “hải quân Mĩ đóng giữ tại eo biển Đài Loan, uy hiếp sự an toàn của Trung Quốc … Công hàm Phạm Văn Đồng là nghĩa cử của chính phủ Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc” chứ không phải là thảo luận về Hoàng Sa, Trường Sa giữa VNDCCH và TQ. Như thế, lập luận đó có tác dụng góp phần chứng minh CH PVĐ không vướng lỗi (1) và (2).

Vấn đề ở đây là phía VN có người dùng luận điểm (2) một cách quá mức luật quốc tế cho phép, trong khi Ngô thì cũng bác bỏ ý nghĩa của nó một cách quá mức luật quốc tế cho phép.

3. Luận điểm 3 của phía Việt Nam:Lúc đó, Việt Nam đang ở vào giai đoạn chiến tranh, Trung Quốc là nước viện trợ chính cho Việt Nam, để có được chiến thắng, Việt Nam không thể không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc.

Phản luận của Ngô: Cách biện luận này có ngầm ý sau: nếu không ở vào hoàn cảnh chiến tranh, nếu không cần sự viện trợ của Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc, không phát sinh (sự kiện) công hàm Phạm Văn Đồng. Thế nhưng, loại biện luận như thế này chỉ là miêu tả lại một sự thực đã xảy ra, không thể, dù một chút xíu, phủ định được hiệu lực của công hàm Phạm Văn Đồng.

Thêm nữa, không có bất cứ chứng cớ nào chứng minh việc Trung Quốc đã lợi dụng Việt Nam ở vào hoàn cảnh khó khăn đang cần sự giúp đỡ của Trung Quốc để dồn ép chính quyền Việt Nam phải nuốt bồ hòn làm ngọt mà thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Bản thân công hàm đã gửi cho chính phủ Trung Quốc và nội dung của nó cho thấy: tất cả đều là quyết định tự chủ tự nguyện của chính phủ Việt Nam.

Nói ngược lại, giả như ở vào thời điểm đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, thì từ lập trường dân tộc chủ nghĩa vững chắc và nhất quán của người Việt Nam, chính phủ Phạm Văn Đồng sẽ không gửi công hàm đó cho Trung Quốc, hoặc chí ít thì trong công hàm sẽ bỏ quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa ra bên ngoài.

Lại thêm nữa, cộng với chứng cớ là việc trước năm 1975, trong nhiều trường hợp (nói chuyện giữa nhân viên ngoại giao với nhau, bản đồ, sách giáo khoa), Việt Nam đều chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc, thì có thể chứng minh rằng, việc thừa nhận trong công hàm Phạm Văn Đồng rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ vốn có của Trung Quốc chính là cách suy nghĩ thực sự của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bình luận của DDH: Đúng là luận điểm 3 “của Việt Nam” là vớ vẩn. Nhưng theo tôi hiểu thì Việt Nam không chính thức có luận điểm “để có được chiến thắng, Việt Nam không thể không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc”, mặc dù có thể có cá nhân suy diễn như thế. Tôi cho rằng Ngô đang dựng người rơm lên chém. Nhưng người Việt cũng nên lưu ý không nên dùng luận điểm vớ vẩn này.

4. Luận điểm 4 của phía Việt Nam:Ở thời điểm đó (1954-1958), căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ thì, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đều thuộc phạm vi quản lí của nước Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam), tranh chấp lãnh thổ là giữa Trung Quốc và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chính quyền miền Bắc là bên thứ ba ở ngoài không liên quan đến tranh chấp, chính quyền miền Bắc không có quyền xử lí đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, vì vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

Phản luận của Ngô: Trước năm 1975, tức là trước khi chính quyền miền Bắc giành chiến thắng để thống nhất hai miền Nam Bắc, miền Bắc một mực tuyên bố mình là chính thống, là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt nam, và gọi chính quyền miền Nam là “bù nhìn”, là “chính quyền ngụy” phi pháp, cần phải tiêu diệt. Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Quốc, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh). Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ những sự thực lịch sử không thể chối cãi đó, chính phủ Việt Nam hiện nay chính là nhà nước kế tục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, sau khi chiến thắng và thống nhất hai miền Nam Bắc, lẽ ra phải giữ vững chuẩn tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, cũng tức là tín nghĩa cho nền chính trị của quốc gia, giữ vững lập trường quốc gia trước sau như một, đằng này, tại sao lại vì lợi ích vốn không nên có, mà “qua cầu rút ván”, bội tín phản nghĩa?!

Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là “bên thứ ba ở ngoài không liên quan”, như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là “bù nhìn” hay “chính quyền ngụy” chỉ là cách gọi càn, và việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

Bình luận của DDH:  Nhiều người (kể cả Ngô) lẫn lộn chính phủ/chính quyền với quốc gia. Việc lãnh đạo VNDCCH nói chính phủ VNCH là “Ngụy”, “Bù nhìn” là một động thái chính trị. Nó không có nghĩa VNCH không phải là một quốc gia. Theo Công ước Montevideo, việc VNCH có phải là một quốc gia hay không không tùy thuộc vào lãnh đạo VNDCCH nói chính phủ VNCH là gì. Cũng theo Công ước này, việc TQ công nhận VNDCCH không có nghĩa QGVN/VNCH không phải là một quốc gia.

Khi CPCMLT CHMNVN ra đời thì VNDCCH đã chính thức đã công nhận chính thể đó là đại diện pháp lý duy nhất cho miền Nam, tức là đã chính thức công nhận CHMNVN là một quốc gia khác với VNDCCH.

Không những thế, TQ cũng đã công nhận CPCMLT CHMNVN, tiếp nhận ngoại trưởng của CP đó, tức là đã công nhận miền Nam là một quốc gia khác với miền Bắc.

Việc TQ công nhận CPCMLT CHMNVN, cũng như TQ đã công nhận sự thống nhất là do hiệp thương thống nhất giữa hai quốc gia VNDCCH và CHMNVN năm 1976, chứ không phải do VNDCCH xâm lăng VNCH/CHMNVN, đã bác bỏ ý kiến của Ngô cho rằng “việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

5. Luận điểm 5 của phía Việt Nam:Căn cứ theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều là chính quyền lâm thời, cần phải có cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc mới có thể đưa đến một chính quyền hợp pháp. Trong tình trạng chưa có được chính phủ hợp pháp thông qua tổng tuyển cử trên toàn quốc, chính quyền lâm thời không có quyền quyết định vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bởi vậy, công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị.

Phản luận của Ngô: Tháng 7 năm 1954, các nước tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ đã kí Hiệp định đình chiến cho Việt Nam, trong Hiệp định có qui định rằng “thông qua bầu cử phổ thông tự do, thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc”. Thế nhưng, chính quyền miền Bắc lấy lí do rằng hiệp định này được kí kết dưới sự dàn xếp của chính phủ Trung Quốc, đã làm tổn hại đến lợi ích của Việt Nam, không đại diện cho lập trường của miền Bắc, cho nên ngay từ đầu đã không muốn tuân thủ hiệp định. Tiến triển lịch sử về sau này cũng cho thấy cả chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều không hề có ý tiến hành cuộc tổng tuyển cứ phổ thông tự do trên toàn quốc thông qua các cuộc tiếp xúc, cũng không đạt được bến bất cứ thỏa thuận làm việc nào, mà cả hai chỉ tự mình tuyên bố mình là “chính thống”, qua đó cho mình trở thành chính quyền “mang tính vĩnh cửu” mà không phải là lâm thời. Cả hai đều xây dựng cơ cấu chính quyền quốc gia hoàn chỉnh, như có quốc hội, chính phủ và các cơ quan bộ.

Luận điểm số 5 ở trên đã bị sự thực lịch sử phủ định, không còn sức thuyết phục nữa.

Bình luận của DDH: Luận điểm này của Ngô, “cả hai chỉ tự mình tuyên bố mình là “chính thống”, qua đó cho mình trở thành chính quyền “mang tính vĩnh cửu” mà không phải là lâm thời. Cả hai đều xây dựng cơ cấu chính quyền quốc gia hoàn chỉnh, như có quốc hội, chính phủ và các cơ quan bộ”, ủng hộ quan điểm VNCH và VNDCCH là hai quốc gia, và như thế thì VNCH sẽ là quốc gia có thẩm quyền lãnh thổ với HSTS, VNDCCH không có. Tức là phản biện này của Ngô ủng hộ phản biện của Việt Nam dựa trên luận điểm “hai quốc gia”.

6. Luận điểm 6 của phía Việt Nam:Theo nguyên tắc của hiến pháp, tất cả tuyên bố về với chủ quyền lãnh thổ mà chính phủ đưa ra đều phải có được phê chuẩn của quốc hội thì mới có hiệu lực. Công hàm Phạm Văn Đồng không thông qua quốc hội để được phê chuẩn, cho nên không có hiệu lực về pháp luật.

Phản luận của Ngô: Có học giả Việt Nam cho rằng đây là chỗ quan yếu nhất để chứng minh công hàm Phạm Văn Đồng vô hiệu, do đó, đây cũng là lí do không thể bác bỏ. Thế nhưng, ở bài này, tôi cho rằng, sự việc thảy đều không chắc như đinh đóng cột như họ nói đâu, có thể phản luận từ hai phương diện: lô-gich pháp luật, sự thực lịch sử….

Bình luận của DDH: Luận điểm này của phía Việt Nam là luận điểm sai lầm, không phù hợp với luật quốc tế, và người Việt nên bỏ nó. Tự loại bỏ bới những luận điểm không đứng vững được sẽ giúp chúng ta thấy cần tập trung vào lập luận có thể đứng vững được.

D. D. H.

Tác giả gửi BVN.

(*) Preprint

Thảo luận về giải pháp lấy lại Hoàng Sa liên quan đến Công hàm Phạm Văn Đồng

Boxit Viet Nam

http://www.boxitvn.net/bai/26882

Sau khi Bauxite Việt Nam đăng bài Xóa bỏ tai họa công thư Phạm Văn Đồng 1958 của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, chúng tôi nhận được bài của anh Hà Sĩ Phu bàn về cách thoát khỏi sự ràng buộc của Công hàm này, và thư của anh Dương Danh Huy nhắc lại một bài anh đã công bố liên quan đến Công hàm Phạm Văn Đồng. Nhận thấy cả hai bài đều có ích cho nhận thức của chúng ta, Bauxite Việt Nam xin đăng để rộng đường dư luận.

Bauxite Việt Nam

Bàn về hai cách thoát khỏi Công hàm 1958

Hà Sĩ Phu

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai đã “đóng đanh” bức Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 bằng những chứng cứ trên giấy trắng mực đen như sau:

– Thực chất của công hàm đó là “công khai tuyên bố thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là “rất tai hại, rất phản động”, “là một tai họa cho Việt Nam”, là “có tác hại phản quốc phải hủy bỏ”.

– Đó là một CÔNG HÀM cấp nhà nước (hình bên), giữa hai đại diện cao nhất của hai chính phủ, vì thế không thể tùy tiện hạ thấp tầm quan trọng của công hàm này thành một “công thư”,coi văn bản này “không có giá trị, vì anh không thể đem cho cái không phải quyền của anh”. Tác giả cho thấy cách lập luận nhằm hủy bỏ tầm quan trọng của một Công hàm như vậy là “hời hợt”, chỉ là “cãi chày cãi cối”, là “vô trách nhiệm”!

– Vì vậy. để hủy bỏ được công hàm tai hại ấy, tác giả thấy phải đưa ra một giải pháp khác là “Quốc Hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy”.

Đấy là những kết luận dứt khoát dựa trên những chứng cứ không thể chối cãi. Nhưng một khi đã công nhận những kết luận ấy không thể không tiếp tục đặt ra những câu hỏi khác và bàn thêm về hai cách giải thoát khỏi Công hàm 1958 ấy cho thật cặn kẽ.

1/ Một Công hàm đã bán chủ quyền, đã “phản động, phản quốc” như vậy thì tác giả của Công hàm ấy, cá nhân cũng như tập thể, cần được phán xét ra sao, chịu trách nhiệm thế nào với hậu thế, với sự tồn vong của đất nước? Bài học rút ra là gì?

2/ Thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách nào?

Mọi người đều thấy Công hàm 1958 là sự ràng buộc nguy hiểm nên đều thấy phải tìm cách thoát khỏi Công hàm đó. Nhưng tùy thuộc mục đích ưu tiên bảo vệ đất nước hay ưu tiên bảo vệ chế độ mà phát sinh hai kiểu thoát hiểm.

– Muốn bảo vệ cái nền móng, bảo vệ thể chế, sợ dứt dây động rừng thì lái cho thiên hạ quên đi tầm quan trọng của Công hàm đó, hạ thấp tính chính thống và tính pháp lý của Công hàm, coi Công hàm là thứ chẳng đáng quan tâm. Song ngụy biện kiểu này chỉ để tự che mắt mình và che mắt dân, chứ không thể cãi được với kẻ xâm lược tinh quái đã “nắm đằng chuôi”, và cũng không thuyết phục được công lý quốc tế khách quan. Thật vậy, ai có thể tưởng tượng một Thủ tướng lại dễ dãi đến mức quyết định “cho” nước láng giềng một phần lãnh thổ của Tổ quốc chỉ vì nghĩ rằng phần lãnh thổ ấy đang thuộc phần quản lý của đồng bào mình ở miền Nam thì cứ việc “cho” cũng chẳng hại gì? Trong khi vị Thủ tướng này luôn nhắc lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chịu trách nhiệm cao nhất bấy giờ, rằng “Tổ quốc Việt Nam là một,… chân lý ấy không bao giờ thay đổi” kia mà? Thêm nữa, đã tâm niệm “Tổ quốc Việt Nam là một” thì khi Trung Quốc chiếm mất Hoàng Sa năm 1974 phải hiểu là một phần Tổ quốc của mình bị xâm lược (dù đồng bào nửa nước bên kia đang quản lý), sao không có một lời phản đối bọn xâm lược. lại phấn khởi vui mừng vì một vùng biển đảo của Tổ quốc đã vào tay nước bạn để nước bạn giữ cho? Thật tiếu lâm, khôi hài đến chảy nước mắt.

– Tóm lại là cố gắng vô hiệu Công hàm 1958 kiểu này không có giá trị thực tế gì, rất dễ bị đối phương bẻ gãy. Nếu kiện ra Liên Hiệp Quốc, chỉ một Công hàm Phạm Văn Đồng đủ làm cho Việt Nam đuối lý (chưa cần đến những hiệp ước nhượng bộ, đầu hàng về sau mà Trung Quốc đã thủ sẵn trong tay). Khi Trung Quốc đã chốt được tính pháp lý chính danh của Công hàm 1958 thì mặc nhiên đã vô hiệu được tất cả những chứng cứ lịch sử trước 1958 và cả những tranh cãi sau 1958 đến nay. Chính phủ Việt Nam cũng biết vậy nên cứ trì hoãn không dám kiện Trung Quốc, viện lý do rất “đạo đức” là sợ làm đổ mất “bát nước đầy” (cái bát nước hữu nghị mà phía Trung Quốc đã phóng uế vào!). Kiểu chống đỡ lúng túng này chỉ bởi vì ưu tiên bảo vệ chế độ, bắt Tổ quốc phải hy sinh cho chế độ.

– Vậy phải thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách khác, “bằng một tuyên bố công khai có giá trị pháp lý cao hơn” ví dụ “Quốc hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy” như bác Nguyễn Khắc Mai đề xuất. Giải pháp này có hiệu quả đến đâu? Vấn đề là một chính phủ với tư cách hậu duệ kế tục của chính phủ Phạm Văn Đồng – Hồ Chí Minh thì đương nhiên có trách nhiệm thi hành những tuyên bố của chính phủ hợp pháp trước đây đã ký, Trung Quốc có quyền đòi hỏi theo luật như vậy, điều Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có trách nhiệm thực hiện, một khi ông Thủ tướng sau đã nguyện kế tục sự nghiệp của ông Thủ tướng trước. Chỉ còn một cách: Muốn khước từ thi hành Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 buộc Chính quyền Việt Nam hiện nay phải nhân danh nhân dân Việt Nam tuyên bố khước từ và tẩy chay những sai lầm “phản động, phản quốc” của chế độ cũ, lập chế độ mới. Liệu cái Quốc hội Cộng sản hiện nay có dám cắt đứt cái mạch máu huyết thống này để kiến tạo một quyết định thoát Cựu, thoát Trung, ích nước lợi nhà như vậy không?

Khó khăn cốt lõi vẫn ở chỗ: Muốn thoát Hán, mà bước một là thoát khỏi Công hàm phản quốc 1958, chỉ có cách phải giải Cộng, thoát Cộng!

3/ Thoát Cộng được lợi những gì?

Trong thực tiễn Việt Nam hiện nay nói thoát Cựu, thoát Cộng hay “vượt qua chính mình” thực ra cùng một nghĩa, tuy “vượt qua chính mình” là cách nói dễ nghe hơn, nhưng tôi xin được dùng chữ thoát Cộng vì đúng thực chất nhất.

Nếu giữ chủ nghĩa Cộng sản thì phải gánh chịu những tai hại gì?

Toàn bộ kế hoạch “đô hộ Việt Nam kiểu mới” mấy chục năm nay của Trung Cộng được thiết kế trên hai chữ Cộng sản, giữ cái nền Cộng sản là giúp cho mưu đồ Hán hóa có một ưu thế ở tầm chiến lược.

– Giữ Cộng sản thì Việt Nam bị ràng buộc bởi quá khứ đầy nợ nần và lầm lỡ, khó thoát ra, chẳng hạn như công hàm 1958, cam kết Thành Đô, các ký kết thời Lê Khả Phiêu, thời Nông Đức Mạnh, thời Nguyễn Phú Trọng…

– Còn giữ Cộng sản thì quan hệ ràng buộc Trung-Việt như quan hệ giữa “thú dữ và con mồi” cứ thít chặt lại, trong khi các khối đoàn kết để kháng cự thì bị lỏng ra, ví dụ giới lãnh đạo thì bị chia thành phái thân Tàu và nhóm lợi ích, lãnh đạo thì ngày càng đối lập với dân, quốc nội với hải ngoại vẫn còn cách biệt, các liên kết Việt Mỹ, Việt Âu, Việt ASEAN… đều bị yếu tố Cộng sản hạn chế một phần, không thể thanh thoát… Như thế lấy đâu ra sức mạnh?

Trái lại, chỉ cần thoát Cộng thì tất cả những trở ngại trên sẽ được giải tỏa, đặc biệt là toàn bộ dân Việt khắp nơi khắp chốn tự nhiên sẽ ôm lấy nhau mà reo hò, không cần bất cứ một nghị quyết “hòa hợp hòa giải” nào hết, niềm mơ ước một hội nghị Diên Hồng từ đó mới có cơ sở để mở ra, nếu không thì Diên Hồng mãi mãi chỉ là một lời hô hào suông, không có thực chất.

4/ Thoát Cộng dễ hay khó?

– Sẽ quá khó, quá gay go, nếu Đảng Cộng sản cứ ôm lấy vinh quang quá khứ và lợi quyền hiện tại khiến cho Đảng ngày càng xa dân, đối lập với dân, mỗi động tác dân chủ hóa, dẫu còn ở mức độ “cải lương” thôi cũng đã là một cuộc cọ xát nảy lửa, đã xảy ra bắt bớ cầm tù, nói gì đến sự đổi mới thể chế, đổi mới hệ thống?

– Nhưng không, sẽ vô cùng dễ dàng nếu Đảng biết “tự vượt qua mình”, lấy lợi ích dân tộc trên hết mà vượt trên quá khứ, chuyển sang nền dân chủ đa nguyên như các nước tiên tiến thì Đảng có mất chỉ mất cái danh hão mà được tất cả. Chẳng những không ai chỉ trích quá khứ nữa làm gì, mà các vị cầm quyền còn được nhân dân yêu quý và biết ơn thật sự, không còn tình trạng “thấy mặt là tắt tivi” như bấy lâu nay. Về tinh thần đã thanh thỏa như vậy, về vật chất cũng cơ bản được đảm bảo; có phải nhân dân đã từng bắn tiếng rằng nếu người lãnh đạo biết đổi mới để cứu nước, thoát Hán thì dân sẵn sàng độ lượng cho tận hưởng bổng lộc đấy thôi? Triển vọng xán lạn ấy có thể lắm chứ, sao lại không?

Quả bóng cứu dân cứu nước hiện đang trong chân người cầm quyền, dân rất mong mỏi những người cầm quyền biết xử lý thông minh, khôn ngoan, ích nước lợi nhà. Chỉ trừ trường hợp chẳng may, đợi mãi, vô vọng (chẳng hạn như tiền đạo họ Phùng cứ sút mãi bóng vào lưới nhà) thì tất nhiên dân phải đứng dậy giành quả bóng về chân mình mà xử lý theo đúng ý nguyện của dân, để “nâng thuyền hay lật thuyền” như quy luật của muôn đời mà Nguyễn Trãi đã diễn tả bằng một hình ảnh lưu danh bất hủ…

H.S.P. (2-6-2014)

Tác giả gửi BVN.

 ***

Lấy lại Hoàng Sa: Những điều bất khả thi

Dương Danh Huy, nhà nghiên cứu về Biển Đông

Chính phủ Việt Nam vẫn dè dặt trong việc kỷ niệm tử sĩ Hoàng Sa 

Kỷ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa đã nhắc lại vết thương mất lãnh thổ chưa lành của người Việt.

Vết thương đó đã đem lại nhiều bức xúc trong 40 năm qua, và đã có một số ý tưởng cho việc giành lại Hoàng Sa hoặc củng cố lập luận pháp lý của Việt Nam.

Nhưng trong số đó có một số ý tưởng không khả thi:

1: Kiên trì đàm phán với Trung Quốc.

Trung Quốc chủ trương không đàm phán về chủ quyền đối với các đảo Trường Sa. Đối với Hoàng Sa, Trung Quốc còn không công nhận là có tranh chấp. Hiện nay không có việc đàm phán cho vấn đề chủ quyền đối với đảo, do đó ý tưởng kiên trì đàm phán về vấn đề chủ quyền đối với đảo là kiên trì trong một việc không hiện hữu, và sẽ không đi đến đâu.

Giả sử các bên trong tranh chấp có đàm phán về chủ quyền đối với đảo đi nữa, cũng khó mà Trung Quốc sẽ trả dù chỉ là một phần các đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. Ở Trường Sa, nếu có đàm phán, không nước nào sẽ chấp nhận mình không được đảo nào. Khó có chính phủ Philippines, Trung Quốc hay Việt Nam nào dám đối đầu với dư luận trong nước của họ để chấp nhận không giành được phần lớn các đảo. Vì vậy, dù các bên có kiên trì đàm phán thì cũng khó giải quyết tranh chấp đảo.

Việc đưa tranh chấp đảo cho một tòa án quốc tế phân xử sẽ là khách quan nhất. Nó cũng là một lối thoát để cho các chính phủ đi đến một giải pháp trong khi tránh búa rìu dư luận trong trường hợp giải pháp đó không được như yêu sách ban đầu.

2: Đơn phương kiện Trung Quốc như Philippines

“Việc kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là rất khác với việc Philippines kiện Trung Quốc.”

Việc kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là rất khác với việc Philippines kiện Trung Quốc.

Việc Philippines có thể đơn phương kiện Trung Quốc là dựa trên việc thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho phép Tòa thụ lý một số vấn đề liên quan đến việc giải thích UNCLOS cho tranh chấp biển và thềm lục địa, mặc dù Trung Quốc đã bảo lưu theo Điều 298 của UNCLOS, và cho dù Trung Quốc có vắng mặt. Nhưng những vấn đề đó không bao gồm phân xử chủ quyền đối với đảo. Vì vậy, không nước nào có thể dùng thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS để đơn phương kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với đảo.

Bên cạnh đó, ngoài thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS hiện nay không có cách nào khác để chúng ta đơn phương kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với đảo. Đối với vấn đề chủ quyền, Tòa chỉ có thể thụ lý nếu tất cả các bên chấp nhận thẩm quyền của Tòa.

Vì vậy, hiện nay chưa có điều kiện để ra tòa về vấn đề chủ quyền đối với đảo. Điều Việt Nam cần làm là công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa. Mặc dù Trung Quốc sẽ không chấp nhận, điều đó sẽ cho thế giới thấy Trung Quốc là bên sợ lẽ phải và cản trở việc giải quyết tranh chấp.

3: Tuyên bố thừa kế di sản VNCH

Hơn 70 quân nhân Việt Nam Cộng hòa đã tử trận trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa 40 năm trước

Ý tưởng này là quan điểm cho rằng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) chưa từng thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và bây giờ phải tuyên bố thừa kế “di sản Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)” thì mới thừa kế. Nó còn có thể bao gồm cả CHXHCNVN cần tuyên bố cắt đứt với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) để vô hiệu hóa những điều bất lợi về Hoàng Sa, Trường Sa.

Ý tưởng này không có cơ sở trong luật quốc tế.

Tòa sẽ đặt vấn đề: sau khi CHXHCNVN được thành lập như một quốc gia vào năm 1976 thì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về nước nào? Nếu phía Việt Nam cho rằng vào năm 1976 CHXHCNVN chưa thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng đã thừa kế khi tuyên bố thừa kế “di sản VNCH”, thí dụ như vào năm 2014, câu chuyện Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam sẽ bị kết liễu.

Lý do là nếu vào năm 1976 CHXHCNVN chưa thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và không những thế cho đến năm 2014 vẫn chưa thừa kế, thì chủ quyền đó sẽ rơi vào tay một trong những quốc gia khác đã đòi chủ quyền từ trước 1976.

Ý tưởng sai lầm rằng từ năm 1976 đến 2014 CHXHCNVN không có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa có nghĩa Tòa sẽ khó tránh kết luận trong thời gian đó chủ quyền đã rơi vào tay Trung Quốc hoặc Philippines. Giả sử như năm 2014 CHXHCNVN có tuyên bố “thừa kế di sản VNCH” đi nữa, Tòa cũng sẽ khó tránh kết luận rằng đến 2014 thì chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc về Trung Quốc hoặc Philippines từ trước rồi, không còn để cho CHXHCNVN thừa kế nữa.

Ý tưởng sai lầm đó có nghĩa kết liễu chủ quyền Việt Nam vào năm 1976 với hứa hẹn làm cho nó tái sinh sau hơn 35 năm bằng cách tuyên bố “thừa kế di sản VNCH”, một hứa hẹn sẽ không bao giờ hiện thực

Ý tưởng đó cũng là ngược với thực tế. Trên thực tế, gần như không nước nào trên thế giới cho rằng CHXHCNVN chưa thừa kế vùng lãnh thổ hay quyền chủ quyền nào đó từ VNCH, gián tiếp qua CHMNVN, kể cả những khu vực có tranh chấp với Lào, CPC, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, thậm chí cả với Trung Quốc. Không có lý do hợp lý để cho người Việt lại cho rằng Việt Nam chưa từng thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Ý tưởng cần tuyên bố cắt đứt với VNDCCH nhằm vô hiệu hóa những điều bất lợi về Hoàng Sa, Trường Sa cũng không có cơ sở trong luật quốc tế. “Cắt đứt” với VNDCCH, một chính thể vốn không còn tồn tại, hay không là một vấn đề nội bộ của Việt Nam. Việc chủ quyền pháp lý trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về nước nào là một vấn đề luật pháp quốc tế. Luật quốc tế không công nhận việc tuyên bố cắt đứt trong nội bộ hay với quá khứ để đơn phương hủy bỏ nghĩa vụ pháp lý (nếu có) giữa các quốc gia.

Để Việt Nam ngày nay hay trong tương lai có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, chỉ có hai trường hợp: CHXHCNVN phải có chủ quyền đó ngay từ 1976, nếu không thì Trung Quốc và Philippines phải có hành vi bị cho là từ bỏ danh nghĩa hay yêu sách chủ quyền của họ. Sẽ khó có trường hợp thứ nhì, do đó chúng ta phải chứng minh được trường hợp thứ nhất.

Ý tưởng 4: Tuyên bố hủy công hàm Phạm Văn Đồng

Công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng vẫn còn là điều gây tranh cãi

Đây là một biện pháp bất lợi cho Việt Nam.

Hiện nay câu hỏi “CHPVĐ có gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho CHXHCNVN liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa hay không?” là một vấn đề còn tranh cãi. Nếu Quốc hội Việt Nam chính thức tuyên bố hủy CH đó, thì tuyên bố đó có thể bị cho là gián tiếp công nhận rằng nó có gây ra nghĩa vụ pháp lý cho CHXHCNVN có cho tới ngày nó bị hủy – vì nếu nó không gây ra nghĩa vụ pháp lý nào cho CHXHCNVN thì tại sao cần hủy?

Sự công nhận gián tiếp đó là bất lợi cho Việt Nam. Hơn nữa, nếu Việt Nam gián tiếp công nhận rằng CHPVĐ đã gây ra một nghĩa vụ ràng buộc cho Việt Nam đối với Trung Quốc, thí dụ như cho đến 2014, thì luật quốc tế cũng không công nhận việc Việt Nam đơn phương hủy nghĩa vụ đó. Như vậy Việt Nam sẽ tự bước vào một cái bẫy và sẽ không thoát ra được.

***

Tóm lại, Việt Nam cần công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa,cũng như cần lập luận rằng CHXHCNVN đã có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa ngay từ 1976 và CHPVĐ đã không làm cho mất chủ quyền đó vào tay Trung Quốc. Nếu không bảo vệ thành công quan điểm đó thì bây giờ có tuyên bố thừa kế, cắt đứt, hủy, cũng sẽ vô tác dụng. Nếu bây giờ tuyên bố thừa kế, cắt đứt, hủy, thì chỉ có thể phản tác dụng.

Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả, thành viên nhóm Nghiên cứu Biển Đông và có sự góp ý của Phạm Thanh Vân.

D. D. H.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/01/140124_duongdanhdy_unrealistic_solutions.shtml

 

Dân biểu Mỹ ép VN về quyền của công nhân

Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Michael Froman đã từng tới Việt Nam.

153 Dân biểu đảng Dân chủ hối thúc Đại diện Thương mại Hoa Kỳ gây sức ép đàm phán quyền người lao động tại bốn nước tham gia TPP trong đó có Việt Nam.

Lá thư gửi ông Froman hôm 29/05 đề nghị các cuộc đàm phán TPP đang diễn ra bao gồm một khuôn khổ tăng cường bảo vệ quyền cho người lao động đặc biệt tại các nước như Việt Nam, Malaysia, Brunei, và Mexico, là những nơi được mô tả là có “bề dầy về vi phạm quyền của người lao động”.

“Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn thị trường Mỹ bị tràn ngập với hàng nhập khẩu được sản xuất bởi công nhân bị tước đoạt nhân phẩm và các quyền cá nhân.

“Chính quyền [Hoa Kỳ] phải tránh chấp nhận các điều kiện và tiêu chuẩn lao động không đầy đủ”, các dân biểu Hoa Kỳ viết trong thư.

Các báo cáo của Bộ Lao động Mỹ cho thấy thực trạng lạm dụng đáng kể các quyền của người lao động tại các nước trong đó có Việt Nam.

Một số vi phạm được nhắc tới gồm lao động cưỡng bức và lao động trẻ em, người lao động có mang thai và phân biệt đối xử vì giới tính.

Ngoài ra các điều kiện làm việc khắc nghiệt có ảnh hưởng tới sức khỏe và an toàn, làm việc quá nhiều giờ và tiền lương đầy đủ là các điểm được nêu.

Bức thư gửi Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Michael Froman lấy Việt Nam như một ví dụ chính.

Công đoàn độc lập

Ông Trương Đình Tuyển được nêu tên trong bức thư của các Dân biểu Mỹ.

Các dân biểu đảng Dân chủ Hoa Kỳ dẫn chiếu tới tin từ truyền thông Việt Nam trích lời ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Việt Nam và cố vấn cao cấp cho chính phủ Việt Nam trong các các cuộc đàm phán quốc tế, nói rằng ‘Việt Nam sẽ không chấp nhận một yêu cầu trong TPP nói rằng người lao động phải được phép thành lập các công đoàn lao động độc lập, mà thay vào đó sẽ chấp nhận một thỏa hiệp theo đó giao một số quyền cho công đoàn cấp địa phương.

“Trong khi chúng tôi vui mừng nhận thấy quan chức Việt Nam đang bắt đầu nhận ra rằng tiếp tục vi phạm trắng trợn tiêu chuẩn lao động cơ bản – mà Bộ Lao động và Nhà nước Hoa Kỳ ghi chép được – là không thể chấp nhận được, chúng tôi lo ngại rằng ông Tuyên dường như tin rằng các biện pháp nửa vời đã là đủ rồi.

“Điều đó là không ổn. Tất cả các quốc gia thành viên TPP, bao gồm Việt Nam, phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lao động TPP, bao gồm cả nghĩa vụ liên quan đến tự do lập hội và thương lượng tập thể .

Việt Nam phải làm rất nhiều việc để đạt được một mức độ tối thiểu có thể chấp nhận được về sự tôn trọng quyền của người lao động khi trở thành một đối tác mậu dịch của Hoa Kỳ

Thư của 153 Dân biểu Đảng Dân chủ

“Ở các nước như Việt Nam nơi công nhân đã phải đối mặt với lạm dụng quá mức thì phải có kế hoạch bắt buộc và được thực thi nhằm đưa luật lao động của những nước này tuân thủ các chuẩn mực lao động TPP.

“Rõ ràng là Việt Nam phải làm rất nhiều việc để đạt được một mức độ tối thiểu có thể chấp nhận được về sự tôn trọng quyền của người lao động khi trở thành một đối tác mậu dịch của Hoa Kỳ’ bức thư nêu rõ’’.

Điểm đáng chú ý là các dân biểu Hoa Kỳ nói tới việc pháp luật Việt Nam yêu cầu tất cả các công đoàn trong cả nước phải liên kết với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, mà chính cơ quan này mô tả họ là “một thành viên của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Do đó, bức thư nói điều này đã vi phạm quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập công đoàn lao động độc lập với lựa chọn của riêng mình.

Bộ Lao động Hoa kỳ trong khi đó liệt kê Việt Nam là một trong những chỉ bốn quốc gia nơi họ “có lý do để tin rằng sản phẩm may mặc có thể đã được sản xuất bởi lao động bị cưỡng bức hoặc sử dụng lao động là trẻ em.”

Ngoài Việt Nam bị nêu như trường hợp điển hình, ba quốc gia khác tham gia đàm phán TPP bị nêu tên là Malaysia, Brunei và Mexico.

Cộng Đồng Người Việt Biểu Tình Chống Trung Cộng Xâm Lược tại Brisbane

Nhật Ký Của Một Cuộc Biểu Tình

http://hungvietbrisbane.wordpress.com/2014/06/07/nhat-ky-cua-mot-cuoc-bieu-tinh/

Thứ Năm 15/05/2014: Hịch.

Ông Trần thanh Vân, Phó Chủ tịch Nội vụ của Ban Chấp hành Cộng Đồng NVTD Úc châu, tiểu bang Queensland, gọi điện thoại mời tham dự một phiên họp giữa Cộng Đồng và các hội đoàn, đoàn thể để bàn về việc tổ chức một cuộc biểu tình chống Trung cộng xâm lăng và Việt cộng bán nước. Ông TT Vân giải thích đã có gởi một thư mời họp nhưng sợ thư không đến kịp nên phải gọi điện thoại.

Tính nhẩm ngay trong đầu là chiều Chủ nhật, thường phải lên đài 4EB để lo việc thu âm cho chương trình tối thứ Hai, nhưng không sao, chuyện nhỏ, có thể thu xếp được. Bèn điện thoại ngay cho văn phòng đài, xin đổi giờ book phòng thu âm từ chiều Chủ nhựt sang tối thứ Sáu trước đó.

Trong lòng tự dưng thấy vui và phấn chấn vì linh cảm sẽ có một điều gì từ trước đến giờ chưa xảy ra đang manh nha thành hình.

Chủ nhật 18/05/2014: Kế hoạch.

Phòng họp của trụ sở cộng đồng chật kín. Hơn 30 người hiện diện, bàn tán xôn xao về những chuyện đang xảy ra trên quê hương.

7 giờ 15, sau lễ chào quốc kỳ VNCH và phút mặc niệm., ông TT Vân mở đầu buổi họp với tin tức từ các cuộc biểu tình ở Sydney vào ngày hôm trước 17/5 và Melbourne trong sáng hôm đó 18/6. Mọi người càng thêm nức lòng, nhất là với tin của cuộc tuần hành dài 7 cây số của đồng hương ở Melbourne, từ Federation Square đến Toorak.

Có lẽ vì thế nên khi ông TT Vân nêu lên đề nghị ở Brisbane cũng sẽ có một cuộc biểu tình vào ngày 14/6 với lý do là các thành viên BCH Cộng đồng phải đi Canberra để dự cuộc biểu tình vào tuần sau 24/5, mọi người đều cho rắng với khí thế đang sôi sục, chúng ta không nên để chậm trễ.

Ông TTV cho biết đã có thực hiện công tác nghiên cứu địa điểm. Lảnh sự Trung cộng ở Brisbane có hai văn phòng: một ở lầu 9, số 74 đường Adelaide và một ở lầu 4, số 140 đường Ann.

Dỉ nhiên, chúng ta không thể vào được bên trong các tòa nhà đó biểu tình, đừng nói chi đến được trước cửa văn phòng của chúng. Vì thế sẽ xin phép đi tuần hành quanh trung tâm thành phố và sẽ ngừng trước cửa các buildings đó để hô khẩu hiệu.

Về ngày biểu tình, có hai sự lưạ chọn: nếu làm thứ Sáu thì trong phố sẽ có nhiều người Úc hơn vì là ngày làm việc trong tuần, nhưng cũng chính vì lý do đó, e sợ số đồng hương tham dự sẽ bớt đi. Cuối cùng, quyết định chọn ngày thứ Bảy 31/05/2014 từ 11 giờ đến 1 giờ là thời điểm mà trung tâm thành phố rộn rịp nhất vào sáng thứ Bảy.

Một ban tổ chức được thành lập với BCH Cộng đồng đảm trách các vai trò chính yếu, các hội đoàn, đoàn thể, cá nhân sẽ chia nhau các công tác khác trong phiên họp kế tiếp.

014

Thứ Năm 22/05/2014: Tiếng trống.

Thông cáo chính thức của Cộng đồng về cuộc tuần hành được phổ biến. Vẫn tụ họp ở King George Square, ngay trước tòa Thị sảnh Brisbane. Ngày tổ chức vẫn là thứ Bảy 31/05/2014, chỉ có giờ giấc thay đổi chút đỉnh, dời sớm hơn nửa tiếng, bắt đầu từ 10giở30 và chấm dứt lúc 12giờ 30.

Thứ Bảy 25/05/2014: Hô hào.

Khu thương mại Inala – nơi có đông người Việt buôn bàn nhất ở Brisbane – trở nên sinh động hẳn lên với các biểu ngữ, các bài hát đấu tranh đi kèm với các lời kêu gọi đồng hương tham gia cuộc tuần hành vào sáng thứ Bảy tuần sau 31/5. Ghi tên, cho ý kiến, xem hình ảnh triển lảm, hàn huyên với các anh em trong BTC, mọi người như muốn bỏ quên chuyện chợ búa hàng ngày để chia sẻ sự ưu tư trước hiểm họa mất nước cũng chỉ vì một bè lũ thống trị hèn nhát, nhu nhược.

Một chủ tiệm đem ra cho các anh em mấy chai nước để giải khát. Một mạnh thường quân khác đem đến năm két với 100 chai nước để dự trữ cho ngày hôm đó. Anh nói hôm đó tôi sẽ không đi được thì đây là phần đóng góp của tôi vào công cuộc chung.

Thứ Hai 26/05/2014: Chi tiết.

Ông TT Vân và ông Vũ hải Vân (Phó Chủ tịch Ngoại vụ của CĐ) tường trình về cuộc biểu tình rộng lớn ở Canberra vào hôm thứ Bảy trước đó 24/5. Ông TT Vân cho biết có rất đông đồng hương từ Sydney, Melbourne, Woollongong, Brisbane và Canberra về tham dự, ước tính đông hơn một vài cuộc biểu tình 30/4 ở đây.

Ông TT Vân nói trời lạnh nên bà con nhiều người mặc áo khoác màu sậm bên ngoài nhưng choàng khăn màu vàng ba sọc đỏ, trông rất đẹp. Trong các bài phát biểu, các vị đại diện ngắt khoảng bằng các khẩu hiệu đả đảo, phản đối nên bầu khí lúc nào cũng bừng bừng.

Trở lại với cuộc biểu tình ở Brisbane, ông TT Vân cho biết đã được giấy phép của HĐTP Brisbane và của Sở Cảnh sát Qld.

Ông trình bày cho mọi người xem một bản đồ trong đó có khu vực được ấn định dành cho địa điểm tập trung. Sau đó, ông cho biết tiếp lộ trình của cuộc tuần hành, những nơi “ngừng chân” trước hang ổ Trung cộng để hô khẩu hiệu.

Các người khác lần lượt báo cáo các công tác khác đã thực hiện. Mướn xe bus : xong! Các loa phóng thanh: xong ! Media Release cho truyền thông chính mạch: xong ! Cờ xí: xong ! Biểu ngữ: xong các biểu ngữ lớn, một số bảng nhỏ đang được thực hiện. Có người cho biết các chị bên Hội Phụ nữ cũng đang thực hiện khoảng 20 biểu ngữ cầm tay và một biểu ngữ dài. Nước uống: CĐ cung cấp.

Đến đây có nguồn tin cho hay trường Việt ngữ Lạc Hồng xin CĐ cung cấp cho một xe bus vì muốn ghi tên cho 50 người từ trường này tham dự. Mọi người được xem tấm hình chụp thầy Vũ hoàng Nguyên, Hiệu trưởng trường này đứng trước cổng trường hôm thứ Bảy vừa rồi với tấm bảng kêu gọi phụ huynh, giáo chức, học sinh tham dự cuộc biểu tình. Phấn khởi quá mức và trong lòng cảm ơn các giáo chức trường Lạc Hồng luôn nuôi dưỡng trong lòng các em học sinh ý chí bất khuất của dòng giống … Lạc Hồng.

004

Thứ Năm 29/05/2014: Ngoại giao.

Một phản hồi tích cực từ bên ngoài. Phóng viên thường trực của đài truyền hình Manila ở Brisbane muốn phỏng vấn về cuộc biểu tình. Anh chia sẻ rằng quốc gia của anh cũng rất quan tâm về ý đồ bành trướng của Trung cộng. Chia sẻ với anh là ít nhứt Phi luật tân đã lên tiếng tố cáo và đưa hành động gây hấn đó ra trước công luận và tòa án quốc tế. Không như nhà cầm quyền bên nước chúng tôi: hèn nhát quá, nhu nhược quá.

Những câu hỏi của anh thật khéo léo và thông minh. Dân nhà nghề có khác. Nghĩ bụng còn phải “học nghề” thêm nhiều lắm.

Anh hẹn đến thứ Bảy sẽ gặp nhau ở city.

Đang lo. Ba ngày nay, không biết tại sao cơn ho lại kéo trở về. Như vậy thì làm sao mà thứ Bảy có thể hét hò gi được đây trời ? Đang “nốc” thuốc như con nít ăn kẹo !

Thứ Bảy 31/05/2014: Ngày N.

Chín giờ sáng, ghé văn phòng cộng đồng. Nhiều bà con đã có mặt. Có người đã gần chục năm nay không có dịp hàn huyên. Thôi thì chuyện trò nổ như bắp rang.

Hai xe buýt nhỏ đã ở đó. Các anh trong BTC đang chất biểu ngữ, cờ xí lên xe.

Chụp vài tấm hình kỷ niệm. Nhớ những lần đi biểu tình 30/4 ở Canberra. Cũng ngập tràn phấn khởi như thế này.

9 giờ 15 lên đường ! Hẹn gặp nhau “ngoài đó” ! Dặn dò nhau lái xe cẩn thận.

Đến nơi thì đã thấy có nhiều chiếc áo vàng, hoặc khăn choàng màu vàng, hoặc cả hai. Đặc biệt có một bé gái, em nói em 7 tuổi nhưng trông chỉ chừng lên 5, mặc một chiếc áo dài màu vàng với ba sọc đỏ chạy dọc theo tà áo trước. Dễ thương quá đi thôi !

020

Lần lần, số người tăng lên. Đủ mọi giới, mọi thành phần, mọi lứa tuổi. Các chức sắc tôn giáo, các bác cao niên đã về hưu, các em thanh niên thiếu nữ thế hệ một rưỡi, thế hệ thứ hai. Đặc biệt ai cũng có nụ cười rạng rỡ trên môi. Háo hức đợi chờ.

Rồi giờ G cũng đã đến. Ban tổ chức yêu cầu mọi người vào hàng ngủ để chào quốc kỳ và hát quốc ca Úc Việt, cùng một phút mặc niệm những ngư dân, đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh trong các cuộc tấn công xâm lấn của Trung cộng.

Xong rồi bắt đầu xuống đường. Không diễn văn. Không hiệu triệu rườm rà. Bởi vì ngày hôm nay là ngày của mọi người, mọi người cùng lên tiếng, cùng bày tỏ lòng căm phẩn.

Nhưng mục tiêu đầu tiên, 74 Adelaide Street, lại nằm ngay phía sau điểm xuất phát, chỉ cách đó vài chục thước. Đoạn đầu đi đến đó thì dừng lại để hô khẩu hiệu, khiến ở phía sau bị dồn cục, không nhúc nhích được. BTC phải mời những người phía trước di chuyển thêm vài trăm thước để phía sau có thể bắt đầu.

Đông quá ! Đông quá ! Chưa bao giờ thấy một đoàn tuần hành của người Việt mình lại đông như vậy. Các nhân viên cảnh sát, người thì đi bộ theo, người đi xe đạp, người đi xe gắn máy để giữ trật tự lưu thông. Mà thật ra cũng chẳg có trật tự gì phải giữ vì bà con mình có tinh thần tự giác cao độ. Giữ trên lề đường, chậm rãi mà đi, hô to các khẩu hiệu mà các anh điều hợp viên thay nhau xướng lên.

Dân chúng địa phương đi ngang tò mò nhìn. Có người hỏi thăm thì được giải thích và phát cho một tờ giấy nhỏ bằng Anh ngữ. Họ đọc nhanh và nở nụ cười thông cảm.

023

Đoàn người cũng cười. Nhưng ở bên trong là cả một tấm lòng đau đáu cho thân phận đất nước lầm than. Cho nên những tiếng hô nghe sao rất dõng dạc, cương quyết. “Đả đảo”, “Out ! Out ! Out!”, “Now ! Now! Now” “Shame ! Shame ! Shame!” “For Vietnam !” …

Một chị trong ban phát thanh tuy chân đau triền miên nhưng vẫn cố gắng khập khiễng đi, đến nửa đường, thấy tội nghiệp quá nên bảo với chị thôi quay về địa điểm tập trung trước đi. Một anh thường gặp ở trung tâm công giáo đi đâu cũng phải chống gậy, hôm nay cũng thấy có mặt. Một bác gần 80 nói “Cậu đi trước đi, đừng lo cho già này, thế nào tôi cũng đi hết mà”. Có bạn đẩy xe pram, với em bé có lẽ phải được bình bầu là “biểu tình viên trẻ tuổi nhứt trong năm”. Một chị trong Hội Phụ nữ nói “Khí thế vô cùng ! Mình thật vui !”

Đến trước văn phòng cấp chiếu khán của chúng ở Ann Street, đoàn tuần hành lại ngừng. Bị các chiếc xe đầu bên lề đường cản trở. Nhưng không sao, chúng ta dùng tiếng nói. Lại hô các khẩu hiệu. Mà dường như bây giờ lại càng hô lớn hơn lúc nảy. Sung sức thật !

Đến công trường ANZAC thì đi xuyên qua đó để quẹo mặt vào đường Adelaide, trở lại địểm khởi hành.
Leo lên chiếc cầu nỗi vắt ngang đường Adelaide mới thấy được chiều dài hùng hậu của đoàn tuần hành. Chiếm cả một block phố dài cả hai, ba trăm thước chứ không ít.

022

Đến nơi thì đúng 12 giờ trưa. Các chai nước được phân phát ra. Ai nấy đều thấy rạng rỡ. Có vẽ như không ai chịu giải tán. Dầu sao, giấy phép còn cho mình thêm nửa tiếng nữa cơ mà. Thế là cùng hát hùng ca “Việt Nam ! Việt Nam !”, hay “Ta như nước dâng … !”.

Phải đó, một ngày không xa, ta hãy như nước dâng, dâng lên, dâng lên mãi để cuốn trôi một chế độ đang đưa dân tộc đến bến bờ diệt vong !

HƯNG VIỆT (Brisbane)
31/05/2014

Thủ tướng chỉ đạo 3 giải pháp bảo vệ chủ quyền

Hơn 30 tàu chấp pháp đã bị đâm va hỏng hóc, nhưng Việt Nam phải luôn có mặt để cản phá và đẩy đuổi tàu Trung Quốc hoạt động trái phép – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh biện pháp đấu tranh tại thực địa.

Trước việc Trung Quốc di chuyển giàn khoan Hải Dương 981 đến địa điểm mới nhưng vẫn nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu ba nhóm giải pháp đấu tranh trong cuộc họp báo thường kỳ của Chính phủ sáng 29/5.pbtv_hd981_moving
Vị trí mới của giàn khoan Hải Dương 981 vẫn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Trên thực địa, các tàu chấp pháp Việt Nam phải luôn có mặt tại vị trí mới để cản phá và đẩy đuổi tàu Trung Quốc họat động trái phép. “Sẽ có va chạm, nhưng chúng ta kiên quyết và cố gắng kiềm chế”, Thủ tướng yêu cầu và cho hay hơn 30 tàu của các lực lượng chấp pháp Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc đâm va, gây hỏng hóc. Thủ tướng đánh giá cao sự có mặt thường xuyên của hàng chục tàu cá gần khu vực này để góp phần khẳng định chủ quyền Tổ quốc.

Trên mặt trận ngoại giao, Thủ tướng khẳng định chúng ta tiếp tục kiên trì và đấu tranh đến cấp cao nhất, nói rõ hành động sai trái của Trung Quốc, yêu cầu họ phải rút giàn khoan.

Với giải pháp đấu tranh bằng con đường dư luận, Thủ tướng yêu cầu các cơ quan chức năng Việt Nam cần cung cấp đầy đủ, trung thực, khách quan các hành động sai trái của Trung Quốc cho cộng đồng quốc tế. “Đấu tranh pháp lý cũng là biện pháp hòa bình. Hình thức này sẽ được cân nhắc để quyết định sử dụng vào thời điểm phù hợp, theo đúng Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế”, Thủ tướng nói thêm.

Điểm lại các hoạt động gần một tháng qua, Thủ tướng cho biết chúng ta đã có hơn 30 cuộc giao thiệp với đại diện Trung Quốc để yêu cầu họ rút giàn khoan. Việt Nam đã công khai nói rõ, thông báo với cộng đồng quốc tế về hành vi sai trái của Trung Quốc cũng như thiện chí muốn giải quyết bằng hòa bình. Đã có những tiếng nói từ dư luận quốc tế ủng hộ giải pháp của chúng ta và lên án hành động của Trung Quốc.

Theo Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ, 4 hãng thông tấn và 14 tờ báo quốc tế đã cử phóng viên đưa tin về việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép.

Vẫn tích cực hợp tác kinh tế

Bên cạnh việc đấu tranh giữ chủ quyền, Việt Nam hết sức coi trọng quan hệ hợp tác hữu nghị trên các lĩnh vực khác với Trung Quốc, Thủ tướng lưu ý.

Để minh chứng cho tinh thần này, người đứng đầu Chính phủ dẫn hai ví dụ: Phó chủ tịch nước Việt Nam vẫn tham gia tích cực trong hội nghị diễn ra tại Thượng Hải; Nhà máy thép tại Lào Cai do Trung Quốc góp vốn 49% với công suất 500.000 tấn đã đi vào hoạt động. “Đấu tranh vì chủ quyền phải tiếp tục nhưng làm ăn thì vẫn bình thường”, Thủ tướng nói.

laocai1-3973-1401347283.jpg
Mẻ phôi gang đầu tiên của Nhà máy thép Lào Cai chuẩn bị ra lò. Ảnh: baolaocai.

Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng cho biết thêm, nhiều dự án điện, hóa chất có sự tham gia của nhà thầu Trung Quốc vẫn diễn ra, bám sát tiến độ như: Nhà máy bôxít Tân Rai do doanh nghiệp Trung Quốc làm tổng thầu EPC sắp bàn giao chính thức; Alumin Nhân Cơ đã đạt 80% tiến độ và sẽ bàn giao vào năm sau như kế hoạch; hoạt động xuất nhập khẩu tại khu vực biên giới vẫn nhộn nhịp…

Chí Hiếu
Nguồn: vnexpress.net

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công bố các giải pháp bảo vệ chủ quyền

Chinh-phu-hop-1_29514-305.jpg

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại phiên họp báo thường kỳ của Chính phủ hôm 29/5/2014.

Courtesy chinhphu.vn

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm nay tham gia phiên họp báo thường kỳ của Chính phủ, và nêu ra 3 nhóm giải pháp bảo vệ chủ quyền đất nước.

Nhóm giải pháp thứ nhất được nêu ra là các tàu chấp pháp của Việt Nam phải luôn có mặt tại vị trí mới để cản phá và đuổi tàu Trung Quốc hoạt động trái phép trong vùng biển Việt Nam.

Về mặt ngoại giao, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam tiếp tục kiên trì và đấu tranh đến cấp cao nhất, nói rõ hành động sai trái của phía Trung Quốc, yêu cầu họ rút giàn khoan Hải Dương-981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam.

Giải pháp thứ ba được người đứng đầu chính phủ Việt Nam nêu ra là đấu tranh bằng con đường dư luận. Theo đó các cơ quan chức năng phải cung cấp đầy đủ, trung thực, khách quan các hành động sai trái của Trung Quốc cho cộng đồng quốc tế.

Sẽ có va chạm

Thủ tướng Việt Nam cho biết trong gần một tháng qua, Việt Nam đã tiến hành hơn 30 cuộc giao tiếp với đại diện Trung Quốc, yêu cầu họ rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam.

Cũng trong thời gian qua có hơn 30 tàu của các lực lượng chấp pháp của Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm va, gây hỏng hóc.

Cũng trong cuộc họp báo này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đưa ra dự báo là sẽ có va chạm với Trung Quốc, nhưng phía Việt Nam kiên quyết và cố gắng kiềm chế.

Video: Trung Quốc sắp làm gì? Đối sách của Việt Nam ra sao?

Sau khi nêu ra ba nhóm biện pháp bảo vệ chủ quyền và tình hình thực tế xảy ra tại Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn nói Việt Nam hết sức coi trọng quan hệ hợp tác, hữu nghị trên các lĩnh vực với Trung Quốc. Ông nói rằng đấu tranh vì chủ quyền vẫn phải tiếp tục, nhưng làm ăn thì vẫn bình thường.

Phản đối tại diễn đàn LHQ

Cũng tin liên quan, tại Hội nghị lần thứ 15 tiến trình tư vấn của Liên Hiệp Quốc về đại dương và Luật Biển từ ngày 27 đến 30 tháng 5 này, đoàn Việt Nam tham dự hội nghị cũng đã có bài phát biểu phản đối những hành động bất hợp pháp của Trung Quốc tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông.

Theo phía Việt Nam thì những các hành động căng thẳng gần đây của Trung Quốc tại Biển Đông gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động ngư nghiệp chính đáng của ngư dân Việt Nam.

Vụ HD 981: Việt Nam xem xét quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ

Friday, May 30, 2014 8:16:20 PM

GS Nguyễn Mạnh Hùng
Hôm 21 tháng 5, 2014, ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại Giao Việt Nam, gọi điện thoại cho người đồng nhiệm Hoa Kỳ, John Kerry, thảo luận về cuộc khủng hoảng liên quan đến việc Trung Quốc đưa giàn khoan thăm dò dầu khí HD 981 vào quần đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp, vào luôn bên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên một ngoại trưởng của Việt Nam gọi điện thoại trực tiếp cho người đồng nhiệm Hoa Kỳ; và hệ quả là ông Kerry mời ông Minh sang thăm Washington để “tham vấn toàn diện các vấn đề song phương và khu vực trong khuôn khổ mối quan hệ đối tác toàn diện giữa hai quốc gia.”
Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel và Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh bắt tay nhau tại Thượng đỉnh Shangri-La hôm 31 tháng Năm, 2014. (Hình: AP/Photo)

Bên trong Việt Nam, người ta hy vọng chuyến viếng thăm của ông Minh có thể sẽ nâng cấp mối quan hệ song phương Việt-Mỹ từ “đối tác toàn diện” lên thành “đối tác chiến lược,” đồng thời củng cố vị trí Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp với Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là, một mối quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ có thể giúp Việt Nam giải quyết các quan ngại về an ninh ra sao?

Một mối quan hệ chiến lược có thể được xem là phương cách thúc đẩy tư thế của Việt Nam trên trường quốc tế và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như chủ quyền quốc gia. Mối quan hệ chiến lược cũng có thể được xem là sự mở rộng chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ ngoại giao của Việt Nam ngõ hầu tránh né không để bị rơi vào cuộc tranh chấp giữa các cường quốc. Giới lãnh đạo Việt Nam mong muốn thiết lập được mối quan hệ chiến lược với tất cả năm thành viên thường trực Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Việt Nam đã ký thỏa thuận “quan hệ chiến lược” với Anh và Pháp, “quan hệ chiến lược toàn diện” với Trung Quốc và Nga, nhưng chỉ mới đạt được “quan hệ toàn diện” với Hoa Kỳ từ tháng 7, 2013.

Khái niệm “quan hệ chiến lược” của Việt Nam thiếu vắng những nội dung thực chất. Trên thực tế, quan hệ này bao gồm một số khái niệm hợp tác nhưng khi đi vào chi tiết thì lờ mờ. Tại buổi Hội Thảo Quốc Tế về Việt Nam Học tại Hà Nội hồi tháng 11, 2012, khái niệm quan hệ chiến lược được định nghĩa là bao gồm bốn nguyên tắc: Không gây hấn, không liên kết với một quốc gia để chống lại một quốc gia khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, và tin cậy nhau. Theo nghĩa này, quan hệ chiến lược chỉ là một chuỗi ràng buộc thụ động chứ không tích cực.

Vụ khủng hoảng giàn khoan bộc lộ nhược điểm của quan hệ chiến lược; nó không giúp thúc đẩy sự tin tưởng lẫn nhau cũng như không giúp bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. Trong vụ này, sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam bị Trung Quốc, đối tác chiến lược toàn diện gần gũi nhất của Hà Nội, vi phạm. Ba thành viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam có quan hệ chiến lược, là Pháp, Anh và Nga, thì bày tỏ sự lãnh đạm. Cay đắng hơn nữa, một trong những hãng thông tấn lớn nhất của Nga, RIA-Novosti, còn đăng một bài báo so sánh Việt Nam với Ukraine, đồng thời chê trách các hành vi bạo động đối với công nhân Trung Quốc làm việc tại Việt Nam. Mỉa mai thay, sự ủng hộ mạnh mẽ nhất mà Việt Nam có được lại đến từ Hoa Kỳ, đối tác toàn diện chứ chưa phải chiến lược của Việt Nam.

Mang tâm trạng bị phản bội và bị bỏ rơi này, ông ngoại trưởng Minh gọi điện thoại nói chuyện với ông Kerry.

Việt Nam đang mưu cầu sự hỗ trợ từ phía Hoa Kỳ. Nếu muốn dựa vào Hoa Kỳ để chống lại các đe dọa từ Trung Quốc, Việt Nam cần đạt được một mối quan hệ cao hơn là thứ quan hệ chiến lược được định nghĩa một cách mù mờ; hoặc là Việt Nam phải đưa thêm các nội dung thực chất vào trong mối quan hệ chiến lược ấy. Ðã đến lúc giới lãnh đạo Việt Nam phải nhìn nhận một thực tế là đồng hành ý thức hệ cùng với tình xã hội chủ nghĩa anh em chẳng ngăn được ý đồ của Trung Quốc muốn xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam. Giới lãnh đạo Việt Nam phải nhìn nhận rằng mâu thuẫn quyền lợi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, cũng như sự thất bại trong vai trò vùng đệm hiệu quả của khối ASEAN, đã và đang khiến cho cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Bắc Kinh và Washington tại Á Châu trở thành gần như không thể tránh khỏi.

Trong bối cảnh như vậy, các nước nhỏ cần phải chọn lựa, một sự chọn lựa khó khăn. Hoặc là sẽ trễ chuyến đò.

Sau Chiến Tranh Lạnh, giới lãnh đạo Việt Nam chia ra làm hai khuynh hướng. Khuynh hướng của nhóm thiểu số bao gồm những người có đầu óc cải cách, nghiêng về phương Tây. Nhóm đa số bao gồm những nhân vật thủ cựu, ủng hộ liên minh xã hội chủ nghĩa với Trung Quốc để bảo tồn chế độ. Nhu cầu thay đổi và hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu cũng như sự xâm lấn của Trung Quốc khiến Hà Nội đẻ ra một chính sách có tính thỏa hiệp. Việt Nam đang áp dụng tính thỏa hiệp ấy trong chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại cũng như trên con đường mưu cầu một quan hệ chiến lược với nhiều quốc gia khác nhau.

Thái độ hung hăng của Trung Quốc tại Biển Ðông cùng với tinh thần chống Tàu ngày một lên cao của dân chúng và của giới đảng viên Ðảng Cộng Sản khiến cho khuynh hướng thân Trung Quốc mất thế đứng và tính chính danh. Vụ khủng hoảng giàn khoan khiến Hà Nội nhận thức được rằng chính sách dựa trên liên minh ý thức hệ và khúm núm đối với Trung Quốc, thay vì đứng thẳng lưng nhìn thẳng vào sự vi phạm của Trung Quốc, là không thể đứng vững. Trên báo chí cũng như trên Internet, đã và đang có một sự đồng thuận trong dư luận, kêu gọi chính sách Thoát Trung – ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc.

Ngày 22 tháng 5, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố một cách rõ ràng, Việt Nam không bao giờ đánh đổi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ để “lấy hữu nghị viển vông.” Lời tuyên bố của ông Dũng có thể cũng là lời nói thay cho toàn bộ giới lãnh đạo bắt đầu sáng mắt trước sự thảm bại của chính sách khúm núm trước Trung Quốc. Lời tuyên bố cũng có thể do áp lực của dư luận quần chúng và nhu cầu giải quyết trò chơi cân bằng cán cân quyền lực. Chuyến đi Mỹ sắp tới của ông Minh cần được hiểu trong bối cảnh như vậy.

Nếu ông Minh được cử đi sứ để chơi trò chơi nguy hiểm này, nếu muốn thành công, ông ta cần được sự ủng hộ trọn vẹn của một giới lãnh đạo đoàn kết chặt chẽ phía sau một mục đích và chiến lược rõ ràng. Ngoài điều này ra, chẳng còn gì có thể giúp vớt Việt Nam ra khỏi tình thế khó khăn hiện nay.

(Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Hùng là giáo sư giảng dạy bộ môn Chính Trị và Bang Giao Quốc Tế, Ðại Học George Mason, Virginia, đồng thời là chuyên viên nghiên cứu tại trung tâm CSIS.)

Vietnamese rally against China – Brisbane 31/05/2014

Toàn bộ phim của cuộc biểu tình chống Trung cộng và Việt cộng

Ngày 31/05/2014 tại King George Square – trung tâm thành phố Brisbane – Úc đại lợi

Inline image 1

Kính mời quý vị bấm vào link dưới đây để xem toàn bộ cuốn phim của cuộc biểu tình chống Trung cộng và Việt cộng ở thành phố

Brisbane, nước Úc, hôm thứ Bảy 31/05/2014 do yvekvt thực hiện.

Bộ phim gồm có 6 tập, tổng cộng dài khoảng 67 phút.

– Khi xem xong mỗi tập, youtube sẽ tự động bắt đầu tập tiếp theo.

– Quý vị cũng có thể bấm riêng vào link của mỗi tập để chỉ xem tập đó mà thôi.

– Khi mỗi tập bắt đầu, quý vị có thể bấm nút settings (giồng hình bánh xe nhỏ) ở cuối màn ảnh và chọn 1080p hay 720p để xem hình ảnh rõ ràng hơn.

– Bấm nút giống hình chữ nhựt kế bên, phim sẽ phóng to lên hết màn ảnh của máy.

=====

Tập 1 (2’44”): Lên đường: một trong ba xe buýt nhỏ từ văn phòng Cộng đồng ở Darra. Ngoài ra có 3 xe buýt lớn đi từ Inala.

Tập 2 (10’27”): Đồng hương tề tựu tại địa điểm biểu tình. Phỏng vấn một vài thành viên trong cộng đồng.

Tập 3 (15’33”): Chuẩn bị – Các xe buýt đổ về – Xuất quân.

Tập 4 (13’23”): Trước tòa lãnh sự Trung Cộng ở đường Adelaide, sang đường George, qua đường Ann.

Tập 5 (14’29”): Trước văn phòng cấp chiếu khán của TC ở đường Ann, qua ANZAC Square, về đường Adelaide.

Tập 6 (9’50”): Trở về địa điểm xuất phát – Hát hùng ca – Phỏng vấn đúc kết.

Inline image 1

 Hưng Việt (Brisbane)

02/06/2014

Play all

Vietnamese rally against China – Brisbane 31/05/2014

  • by yvekvt
  • 6 videos
  • 1 hour, 6 minutes
***WATCH IN HIGH DEFINITION [720p/1080p]*** On 31 May 2014, around 500 members of the Queensland Vietnamese community marched in King George Square in the Brisbane CBD to peacefully protest against China’s latest aggressive actions against Vi…
Thumbnail Vietnam rally against China PART 01 –

Brisbane 31/05/2014

yvekvt
2:45
Thumbnail Vietnam rally against China PART 02 –

Brisbane 31/05/2014

yvekvt
10:28
Thumbnail Vietnam rally against China PART 03 –

Brisbane 31/05/2014

yvekvt
15:34
Thumbnail Vietnam rally against China PART 04 –

Brisbane 31/05/2014

yvekvt
13:23
Thumbnail Vietnam rally against China PART 05 –

Brisbane 31/05/2014

yvekvt
14:30

Everything You Need to Know about the Trans Pacific Partnership

If you’re just now hearing about the Trans-Pacific Partnership, don’t worry: It’s not too late to get up to speed. Negotiations over the huge trade agreement — which, when finished, will govern 40 percent of U.S.’ imports and exports — were supposed to wrap up this past weekend in Singapore, but, well, they didn’t quite make that deadline, which means meetings will likely continue into the new year.

You’d also be forgiven for not hearing about it: The talks, as with all trade agreements, have been conducted largely in secret. Global health advocates, environmentalists, Internet activists and trade unions have deep concerns about what the deal might contain, and are making as much noise as possible in order to influence negotiations before a final version becomes public. Here’s what you need to know.

1. What is the Trans-Pacific Partnership? 

Basically, it’s a giant free trade deal between the U.S., Canada, and 10 countries in the Asia-Pacific region that’s been under negotiation for nearly a decade now (it began as an agreement between Singapore, Chile, New Zealand and Brunei before the U.S. took the lead in 2009). It’s expected to eliminate tariffs on goods and services, tear down a host of non-tariff barriers and harmonize all sorts of regulations when it’s finished early next year.

2. Giant, huh? How giant? 

The countries currently party to the agreement — currently including Australia, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Vietnam, most critically Japan and potentially Korea — are some of the U.S.’ biggest and fastest-growing commercial partners, accounting for $1.5 trillion worth of trade in goods in 2012 and $242 billion worth of services in 2011. They’re responsible for 40 percent of the world’s GDP and 26 percent of the world’s trade. That makes it roughly the same size as the Trans-Atlantic Trade and Investment Partnership, another huge trade agreement that got rolling this past summer. The hope is that more countries in the region will join down the line.

(Congressional Research Service)

3. So the big country not in the TPP is …

That’s right: China. The Obama administration’s focus on the TPP is part of its “pivot” to Asia — former national security adviser Tom Donilon called it the “centerpiece of our economic rebalancing” and a “platform for regional economic integration” — after too many years of American foreign policy being bogged down in the Middle East. Scholars such as Columbia University’s Jagdish Bhagwati are worried that the TPP goes further, as an effort to “contain” China and provide an economic counterweight to it in the region. Many of the TPP’s current provisions are designed to exclude China, like those requiring yarn in clothing to come from countries party to the agreement, and could possibly invite retaliation. In addition, 60 senators have asked for the final agreement to address currency manipulation, which wouldn’t directly affect China as a non-member, but could create a framework for broader action.

(Congressional Research Service)

4. I thought we already had a World Trade Organization. Why do we need a separate Asia trade deal? 

The TPP process itself is an admission that the consensus-driven WTO is too cumbersome a venue for so-called “high-standard” trade deals. The WTO’s weakness seemed even more apparent in its recent “breakthrough” on customs streamlining, which was all negotiators could salvage from the much more ambitious Doha Round that’s otherwise been a failure. Of course, some fear that another regional pact will just add complexity and undermine existing institutions.

Trade agreements are becoming broader. (The Trans-Pacific Partnership and Asia-Pacific Integration: A Quantitative Assessment, edited by Peter A. Petri)

5. How is it different from other trade deals we’ve done? 

Trade agreements used to deal mostly just with goods: You can import X number of widgets at Y price, as long as we know that certain environmental and labor standards are met. Modern trade agreements — including the Trans-Atlantic deal as well as the TPP — encompass a broad range of regulatory and legal issues, making them a much more central part of foreign policy and even domestic lawmaking.

6. Wait, so how much does this thing actually cover?

The treaty has 29 chapters, dealing with everything from financial services to telecommunications to sanitary standards for food. Some parts of it have significant ramifications for countries’ own legal regimes, such as the part about “regulatory coherence,” which encourages countries to set up a mechanism like the U.S.’ own Office of Information and Regulatory Affairs to conduct cost-benefit analyses on new rules. USTR has a rough outline, and for a more comprehensive rundown, read this Congressional Research Service report.

7. That doesn’t tell me much. What are countries still fighting over?

Where to start? Most countries have their own individual issues, and it’s difficult to tell what’s been resolved since the details aren’t public, but anonymously sourced reports and leaked texts suggest that these are the biggest remaining sticking points:

— Intellectual property: The leaked intellectual property chapter revealed that the U.S. has been pushing stronger copyright protections for music and film, as well as broader and longer-lasting applicability of patents. It would also make the approval process more difficult for generic drug makers and extend protections for biologic medicines, which has concerned several members of Congress. Public health and open internet groups have campaigned hard for years around these issues, and public intellectuals like Joe Stiglitz have warned against using the treaty to “restrict access to knowledge.”

— State-owned enterprises: Many TPP governments, in particular Vietnam, Singapore and Malaysia, essentially own large parts of their economies. Negotiations have aimed to limit public support for these companies in order to foster competition with the private sector, but given the U.S.’ own government-sponsored enterprises — Fannie Mae, Freddie Mac, the U.S. Postal Service — they probably won’t go too far.

— Market access: Though the treaty envisions dropping all tariffs, tensions remain between the U.S. and Japan over support for both of their agricultural sectors, as well as Japan’s willingness to accept U.S.-made automobiles.

— Investor-state dispute resolution: Most modern free trade agreements include some mechanism for investor parties to sue governments directly for failing to abide by the terms of the agreement, which some public interest advocates worry will have a chilling effect on domestic regulation aimed at consumer and environmental protection.

— Tobacco: Originally, the U.S. had proposed that tobacco be treated differently than other kinds of goods, in that countries would have permission to restrict its importation and sale. This summer, it executed something of an about-face, which alarmed anti-smoking advocates who worry that tobacco companies will continue to sue nations for passing laws that heavily tax cigarettes or ban certain kinds of advertising.

The Peterson Institute has a helpful overview of some of the more contentious issues.

8. How do negotiations work, exactly?

The negotiations have progressed in 20 several-day-long “rounds,” which rotate between the party nations. Typically, the U.S. will table a proposal or circulate something called a “non-paper” for discussion, which gets marked up by all the participants until they can come to a consensus. In between the rounds, the U.S. Trade Representative will brief its 16 formal “advisory councils” and seek input from key lawmakers on where they’ve arrived. (Given the robust revolving door between USTR and industry, a certain amount of back-channel lobbying goes on as well).

When all the parties have agreed on a complete text, they’ll take it back to their respective legislative bodies for ratification.

9. Why has the TPP been so secretive? Is that normal? 

Trade negotiations are usually conducted in private, on the theory that parties won’t be able to have a meaningful dialogue if their positions are disclosed to the public. Accordingly, TPP parties have signed a confidentiality agreement requiring them to share proposals only with “government officials and individuals who are part of the government’s domestic trade advisory process.”

What’s different this time is the scale and scope of the agreement, and the reasons advocates have had to be concerned about its contents. Sens. Elizabeth Warren (D-Mass.) and Ron Wyden (D-Ore.) have been particularly vocal about the administration’s refusal to make draft text available, as have law professors and numerous public interest groups. There have been a couple major unintentional releases, most recently in mid-November, when Wikileaks published a controversial chapter on intellectual property.

9. So but wait, how will this actually affect my life?

To be honest, it’ll be hard to notice at first, and it depends on who you are. In the aggregate, it should make you richer: The Peterson Institute for International Economics estimates the U.S. will realize $78 billion more per year under its assumptions about what the TPP will include, and $267 billion annually if free trade is expanded to the rest of the Asia-Pacific region.

Those gains won’t be evenly distributed, though: If you’re an investor or a U.S. business looking for foreign investment, or a small business looking to sell stuff overseas, the news is pretty great. If you have a job making cars or airplanes, you might have reason to worry. (The Business Roundtable, which is composed of the U.S.’ biggest companies, has put together fact sheets on how it thinks the TPP could benefit each state).

U.S. income gains under the Trans-Pacific Partnership and if it's expanded to a Free Trade Agreement of the Asia Pacific, according to the Peterson Institute.

UPDATE: It’s also worth considering the ramifications of the TPP’s potential to exacerbate economic inequality. The left-leaning Center for Economic and Policy Research responded to Peterson’s paper with an analysis that breaks out wage gains by income percentile, showing that most would accrue to the wealthy:

(Center for Economic and Policy Research)

10. What does Congress have to do with this? 

The Constitution charges Congress with giving advice and consent on trade agreements. Over the past couple decades, though, Congress has abrogated that right somewhat by granting the president something called “trade promotion authority” or “fast track,” which is the right to an up-or-down vote on the treaty as negotiated by the administration so as to avoid quibbling over line items that would require renegotiation with TPP countries.

That’s what Congress is currently fighting over. Republicans and big business generally favor reauthorizing the president’s fast track privileges, which expired in 2007, while Democrats concerned with protecting U.S. industries and global health have opposed it or demanded more robust consultation up front in exchange. Without trade promotion authority, the chances of ratification are slim.

TPP – with Professor Carl Thayer – Hiệp Ước Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (phần 1&2)

Xóa bỏ tai họa công thư Phạm văn Đồng 1958

Nguyễn Khắc Mai

http://www.boxitvn.net/bai/26858

Công thư Phạm Văn Đồng quả thật là một tai họa cho Việt Nam trong vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đảo của Việt Nam với Trung Quốc.

Những lập luận của chuyên gia và cán bộ Ngoại giao gần đây rất hời hợt. Về luận bàn pháp lý với thiên hạ, nhất là với Trung Quốc mà đơn giản hời hợt như thế, có thể gọi là vô trách nhiệm. Có người chỉ nói đó là văn thư chính trị ( ông Di, ông Lợi…), có người cho công thư ấy không có giá trị vì anh không thể cho cái không phải quyền của anh… Thật ra công thư ấy là gì. Trước hết nó là một văn bản của một Thủ tướng một  Chính phủ có danh hiệu và có một số nước, dẫu là XHCN, công nhận. Công thư ấy trả lời về một bản tuyên bố của một Chính phủ có danh nghĩa quốc tế, vừa được cái Quốc hội của nước ấy thông qua.

Dẫu tính chất pháp lý của nó không cao, nhưng đó là pháp lý của hai cái Chính phủ đang giao dịch với nhau. Không thể bác bỏ tính pháp lý của nó với những lập luận chính trị chủ quan nói lấy được, một thói quen xấu của cộng sản. Chỉ có thể bác bỏ giá trị của nó bằng một văn bản có tính pháp lý cao hơn.

Nội dung công thư Phạm Văn Đồng rất tai hại, rất phản động (theo lập trường giữ chủ quyền độc lập và toàn ven lãnh thổ của Việt Nam).

Công thư ấy “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của  CP nước CHNDTH” và” chỉ thị triệt để tôn trọng  hải phận 12 hải lý của TQ trong mọi quan hệ với nước CHNDTH trên mặt bể.”

Điều cần nói là đã có sự nhanh nhảu đoảng kỳ lạ, là dường như chẳng có bao nhiêu thì giờ để nghiên cứu một vấn đề hệ trọng như thế liên quan đến quốc gia dân tộc! Chỉ có đúng 10 ngày, từ 4 tháng 9 họ ra tuyên bố thì 10 ngày sau đã có công thư hưởng ứng (14-9-1958).

Tán thành bản tuyên bố của CP CHNDTH có nghĩa là công nhận toàn bộ nội dung của tuyên bố ấy. Trong đó họ nêu hai điều rõ ràng. Một là lãnh hải của họ rộng 12 hải lý và bao gồm cả Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa; có nghĩa là toàn bộ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bấy giờ do CPVNCH quản lý. Như thế là đã công khai tuyên bố thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa rồi còn gì.

Không thể cãi chày cãi cối như kiểu ông thứ  trưởng ngoại giao nọ, cũng không thể biện hộ như một vài luật sư trên báo chí vừa qua.

Vấn đề hiện nay là Quốc Hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy. Bằng bất kỳ cách nào. Muốn bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo thì phải làm. Còn cứ ẩm ương như hiện nay thì coi như mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của họ đối với đất đai trời biển của mình. Một công hàm có tác hại phản quốc phải hủy bỏ. Đó cũng là chuẩn bị cơ sở pháp lý để đấu tranh đòi chủ quyền Biển Đảo của VN./.

N.K.M

Tác giả gửi BVN

‘Thế cờ đang ở trong tay Trung Quốc’

Phái đoàn Việt Nam đứng trước nhiều thách thức tại Đối thoại Shangri-la năm nay

Giáo sư Carl Thayer, người đang có mặt tại Singapore để tham dự một diễn đàn an ninh cấp khu vực, cho rằng Việt Nam đứng trước nhiều thách thức tại hội nghị năm nay.

Sang dự Đối thoại Shangri-la, dự kiến sẽ diễn ra trong ba ngày từ 30/5-1/6, Việt Nam cử một phái đoàn gồm 20 quan chức, dẫn đầu bởi Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và có cả Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh.

Giáo sư Thayer cho rằng bài phát biểu của tướng Thanh ngày 31/5 sẽ “không có bất cứ ảnh hưởng nào đến tình hình hiện nay trên Biển Đông”.

“Tôi đã nói chuyện với nhiều chuyên gia về Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi đến Singapore”.

“Tất cả bọn họ đều cho rằng đây là một cuộc chơi mà Trung Quốc nắm chắc lợi thế và Bắc Kinh đang có những bước tính toán rất chính xác.

Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể

Giáo sư Carl Thayer

“Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể,

“Tướng Thanh có thể sẽ than phiền về một số hành động trên Biển Đông của Trung Quốc và đề cập tới khả năng mở đường dây nóng giữa hai nước, tăng cường trao đổi giữa các phái đoàn cấp cao và tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tranh chấp hiện nay, ví dụ như kêu gọi sớm đi đến một Bộ quy tắc ứng xử (COC) trên Biển Đông”.

“Tuy nhiên, tôi không cho rằng ông ta sẽ đi xa hơn thế”, ông nói với BBC qua điện thoại từ Singapore vào ngày 30/5.

Giáo sư Thayer cũng cho rằng ông Thanh rơi vào thế bất lợi khi phải xuất hiện trong cùng phiên họp với các bộ trưởng quốc phòng từ Úc David Johnson và Indonesia Purnomo Yusgiantoro:

“Cùng lắm Úc sẽ lặp lại quan điểm ủng hộ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông, Indonesia cũng vậy. Đây không phải là một nhóm mạnh để công khai hậu thuẫn Việt Nam”.

Theo lịch làm việc được đăng tải trên trang web của Viện Nghiên cứu Chiến lược (IISS), đơn vị tổ chức hội nghị, Tướng Phùng Quang Thanh sẽ có bài phát biểu trong phiên họp toàn thể vào lúc 12:00 trưa ngày 31/5 với chủ đề ‘Kiểm soát căng thẳng chiến lược’.

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 29/5, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được truyền thông trong nước dẫn lời nói “Về giải pháp đấu tranh pháp lý, chúng ta đã chuẩn bị hàng chục năm nay, còn thời điểm nào hợp lý thì Bộ Chính trị sẽ quyết định.”

‘Đổi trắng thay đen’

Bà Phó Oánh được xem là người hùng biện và hiệu quả hơn nhiều quan chức khác của TQ.

Trong khi đó, giáo sư Thayer cảnh báo rằng Trung Quốc đã cử một phái đoàn rất mạnh đến Đối thoại Shangri-la năm nay, tiêu biểu là cựu Thứ trưởng Ngoại giao Phó Oánh, Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội Trung Quốc, người nổi tiếng cứng rắn và có tài hùng biện.

“Tôi đã quan sát bà Phó phát biểu nhiều lần. Người phụ nữ nhỏ con này có thể sử dụng lời lẽ để đẩy văng bất cứ ai ra khỏi Trái Đất,” ông nói.

Ông dự đoán rằng phía Trung Quốc sẽ tìm cách “đổi trắng thay đen” và đổ lỗi cho Việt Nam là nước chủ động gân hấn.

Năm nay, nhiều sự chú ý cũng được cho là sẽ tập trung vào nỗ lực tiến đến một vai trò lớn hơn trong nền an ninh toàn cầu và khu vực của Nhật Bản, nước cũng đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc trên Biển Hoa Đông.

Giáo sư Thayer cho rằng điều này sẽ được Việt Nam “hết sức hoan nghênh”.

“Tôi đã nói chuyện với một số chuyên gia về Việt Nam và họ cho rằng Hà Nội càng thắt chặt quan hệ với Nhật Bản và Philippines bao nhiều sẽ càng khiến Trung Quốc phải dè chừng bấy nhiêu,” ông nói.

“Bắc Kinh lúc đó sẽ phải xem xét liệu gây hấn với Việt Nam khi nước này đang thắt chặt quan hệ với các đồng minh thân cận của Hoa Kỳ có khiến Washington phải vào cuộc hay không.”

‘Đôi bên cùng bị hủy diệt’

Trung Quốc tăng cường sức mạnh hải quân trong nhiều năm qua.

Trong bài viết trên Bấm Tạp chí Diplomat vào ngày 28/05, Giáo sư Carl Thayer cho biết Việt Nam đã thực hiện cách tiếp cận “rất thận trọng” và “ôn hòa” để giải quyết khủng hoảng với Trung Quốc.

Trước tiên là đảm bảo sự hiện diện liên tục của các tàu phòng vệ và cảnh sát biển ở gần giàn khoan, tuy nhiên cách ly tàu ngầm và tàu chiến ra khỏi vùng tranh chấp.

Thứ hai là đề xuất các giải pháp ngoại giao: đề nghị một cuộc gặp cấp cao giữa Tổng bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng và lãnh đạo Trung Quốc, mở đường dây nóng giữa lãnh đạo hai bên, giao thiệp giữa quan chức ngoại giao, và đối thoại với đại diện của Bắc Kinh bên lề các cuộc họp quốc tế.

Về giải pháp đấu tranh pháp lý, chúng ta đã chuẩn bị hàng chục năm nay, còn thời điểm nào hợp lý thì Bộ Chính trị sẽ quyết định

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

“Tuy vậy Trung Quốc đã khước từ tất cả các tiếp cận đó, và đối thoại giữa hai bên vẫn hết sức lạnh nhạt,” ông Carl Thayer nói.

Trước thất bại của các động thái song phương, có vẻ như Việt Nam sẽ cân nhắc những chiến lược dài hạn để kiềm tỏa các hành động khiêu khích của Trung Quốc, theo GS Thayer.

Tuy vậy, GS Carl Thayer cảnh báo rằng nếu xung đột với Việt Nam leo thang tới miệng hố chiến tranh, rất có thể Hà Nội sẽ sử dụng chiến lược “đôi bên cùng bị hủy diệt”, nhằm phá hủy nền kinh tế Trung Quốc bằng cách tạo tâm lý bất ổn và đẩy giá bảo hiểm tăng cao, khiến nhà đầu tư nước ngoài tháo chạy.

Theo đó, Việt Nam sẽ tập trung tấn công các tàu thương mại và chở dầu của Trung Quốc qua biển Đông, cũng như căn cứ hải quân ở Hải Nam và đảo Phú Lâm, những vị trí nằm trong tầm bắn của tên lửa đạn đạo bờ biển Việt Nam.

“Một vài chiến lược gia Việt Nam còn cho rằng nước này có thể mua cấp tập số lượng lớn các tên lửa đạn đạo có đủ khả năng tấn công Thượng Hải hoặc thậm chí là Hong Kong. Khi xung đột vũ trang nổ ra, các thành phố này có thể là mục tiêu để làm rối loạn kinh tế Trung Quốc. Nó sẽ gây ra ảnh hưởng toàn cầu, và các chuyên gia Việt Nam kì vọng điều đó sẽ khiến các cường quốc can thiệp để ngăn cản Bắc Kinh gây hấn,” Ông Thayer viết trên Diplomat.

 

TQ tố cáo Nhật và Mỹ ‘khiêu khích’

Tướng Vương Quán Trung

Tướng Vương Quán Trung lên án Nhật và Mỹ ‘khiêu khích’ TQ tại Shangri-La 13.

Trung Quốc tố cáo Thủ tướng Nhật Bản và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ có những bài phát biểu “khiêu khích” Trung Quốc tại một diễn đàn an ninh châu Á ở Singapore.

Tướng quân đội Trung Quốc Vương Quán Trung nói bình luận của các ông Chuck Hagel và Shinzo Abe tại Đối thoại Shangri-La là “không thể chấp nhận”.

Bộ trưởng Quốc phòng Hagel trước đó nói rằng Trung Quốc “gây mất ổn định” ở Biển Đông.

Trong khi đó, Thủ tướng Shinzo Abe của Nhật Bản tuyên bố sẽ hỗ trợ nhiều hơn cho các nước Đông Nam Á.

Diễn đàn, sự kiện đưa Mỹ và các nước Đông Nam Á gặp gỡ, diễn ra giữa lúc căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc, Việt Nam và Philippines, cùng với mối quan hệ Nhật – Trung cũng tiếp tục căng thẳng trên quần đảo tranh chấp ở Biển Đông.

‘Phối hợp, khuyến khích’

Không thể tưởng tượng có thể nhận được những lời chỉ trích không đáng có như thế chống lại Trung Quốc

Tướng TQ Vương Quán Trung

Với những gì có vẻ khác đi từ bài diễn văn chuẩn bị sẵn của mình, Trung tướng Vương Quán Trung, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc, buộc tội Thủ tướng Nhật Bản Abe và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hagel đã ‘phối hợp và khuyến khích’ nhau để tấn công Trung Quốc trong các bài phát biểu của họ.

Tướng Vương nói “không thể tưởng tượng” có thể nhận được “những lời chỉ trích không đáng có như thế chống lại Trung Quốc”.

Trong bài phát biểu hôm thứ Sáu, Thủ tướng Shinzo Abe vạch ra tầm nhìn của Nhật Bản về một vai trò mạnh mẽ hơn trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ trong khu vực.

Ông cũng đưa ra đề nghị cung cấp tàu thuyền tuần duyên cho các nước láng giềng để cảnh giác với các chiến thuật của Bắc Kinh.

Quan chức lãnh đạo Nhật - Mỹ tại Shangri-La 13

Thủ tướng Nhật Bản bắt tay Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân Mỹ tại Shangri-La 13.

Giới chức Trung Quốc phản ứng ngay lập tức bằng việc nói rằng ông Abe đã sử dụng “huyền thoại” về một mối đe dọa mang tên Trung Quốc để tăng cường chính sách an ninh của Nhật Bản.

‘Bồi thêm cáo buộc’

Ông Chuck Hagel sau đó đã ‘bồi thêm’ cáo buộc rằng Trung Quốc đe dọa tiến trình dài hạn của khu vực bằng cách tiến hành “gây mất ổn định, hành động đơn phương khẳng định các yêu sách chủ quyền của mình ở Biển Đông”.

Ông cảnh báo nước Mỹ sẽ “không ngoảnh mặt đi” khi có các quốc gia cố tình phớt lờ các quy tắc và luật pháp quốc tế.

Nước Mỹ sẽ không ngoảnh mặt đi khi có các quốc gia cố tình phớt lờ các quy tắc và luật pháp quốc tế

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel

Các căng thẳng đã bùng lên gần đây, với việc Trung Quốc tuyên bố một vùng phòng không trên Biển Hoa Đông và áp dụng một lập trường đối đầu với các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông, theo các phóng viên.

Mặc dù một số quốc gia thành viên ASEAN sẽ miễn cưỡng đối kháng với Trung Quốc vì quan hệ kinh tế và chính trị, những quốc gia còn lại có khả năng ‘chào đón’ một vai trò gia tăng từ Nhật Bản, vẫn theo các phóng viên.

Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền dựa trên một khu vực rộng hình chữ U (còn được biết đến là Bản đồ hình chữ U hoặc Đường chín đoạn) trên Biển Đông, bao gồm nhiều khu vực mà các quốc gia khác ở Đông Nam Á nói là lãnh thổ của họ.

Xung đột Biển Đông

Tàu thuyền Trung Quốc và Việt Nam đã đối đầu trong suốt một tháng qua ở Biển Đông.

Bản đồ Hình chữ U của Trung Quốc trên Biển Đông

Bản đồ đường ‘Lưỡi bò’ mà TQ công bố để tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông.

‘Với Việt Nam, Biển Đông là sống còn’

Ông Laurent Gédéon hiện đang nghiên cứu về các vấn đề địa chính trị của Trung Quốc

Một chuyên viên nghiên cứu địa chính trị của Viện Nghiên cứu Đông Á (IAO) cho rằng, Trung Quốc còn có nhiều mối quan tâm khác không chỉ trên Biển Đông mà còn trên Biển Hoa Đông, trong khi với Việt Nam, Biển Đông là ‘sống còn’.

Ông Laurent Gédéon, chuyên gia về Trung Quốc và Việt Nam, nhấn mạnh trong toàn bộ cuộc khủng hoảng này, Trung Quốc đã ‘thắng’ vì họ đã làm được những gì họ muốn trên Biển Đông.

“Trong cuộc khủng hoảng bất cân xứng này, các nước trong khu vực cần tìm tới một đồng minh xa xôi hơn, như Hoa Kỳ chẳng hạn, quốc gia có thể sẽ chấp nhận tham gia vào mối quan hệ địa chính trị, và họ cũng là quốc gia duy nhất có thể cân bằng lại với sức mạnh của Trung Quốc, còn nếu riêng từng nước đơn lẻ trong khu vực thì không thể đấu lại được,” nhà nghiên cứu nói.

Ông Gédéon cũng cho rằng, sự kiện giữa Crimea và Nga có mối liên hệ với sự kiện biển Đông, do ‘lãnh đạo’ Trung Quốc đã theo dõi ‘rất sát’ nhằm đánh giá khả năng phản ứng và hồi đáp của các quốc gia lớn ở phương Tây, “nhất là Hoa Kỳ, nổi bật là trong vấn đề toàn vẹn lãnh thổ theo luật pháp quốc tế”.

BBC Tiếng Việt giới thiệu cuộc phỏng vấn với chuyên gia người Pháp hôm 25/05 tại Lyon, Pháp bên lề cuộc thảo luận về các vấn đề trong cuộc khủng hoảng căng thẳng Trung – Việt.

Trung Quốc đã ‘thắng’

BBC: Phải chăng do vị trí địa lý của Việt Nam với Trung Quốc mà vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước sẽ không bao giờ giải quyết được?

Tôi cho rằng mâu thuẫn không phải là không thể tránh được nếu Trung Quốc và Việt Nam đạt được thỏa thuận chung về vùng nước trong vịnh Bắc Bộ.

Một thỏa thuận chính trị chung giữa Hà Nội và Bắc Kinh là hoàn toàn có thể và chúng ta có chứng cứ để tin rằng điều này có thể đạt được.

Về vấn đề lãnh hải trên biển Đông, chúng ta thấy có sự chồng lấn trong việc tuyên bố lãnh thổ từ phía Trung Quốc và bên kia là Việt Nam, các tuyên bố này áp dụng lên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và rộng lớn hơn, là không gian hàng hải.

Như vậy có thể nói đây là một dạng căng thẳng nằm trong căng thẳng chính trị mà không chỉ đơn giản là vấn đề địa lý.

BBC: Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo đối với những gì đang diễn ra trên Biển Đông? Việt Nam có lý do để lo lắng không?

Nhiều tấm quảng cáo tuyên truyền về biển đảo đã được dựng lên ở Hà Nội. Ảnh chụp hôm 27/05.

Trung Quốc đã chứng tỏ họ có phương tiện để duy trì sự có mặt của giàn khoan này trong khu vực, bằng cách đưa hơn 80 tàu thuyền xung quanh để bảo vệ giàn khoan.

Chúng ta cũng có giả thuyết rằng giàn khoan có thể sẽ được rút đi. Với cách nhìn của tôi thì đây là chiến thắng về mặt chính trị và chiến thắng về mặt ngoại giao.

Bởi vì nhìn vấn đề một cách khách quan thì từ năm 1974, quần đảo Hoàng Sa đã chịu chủ quản trực tiếp của Trung Quốc. Nên một khi Trung Quốc đã đưa giàn khoan vào vùng này rồi kể cả có rút ra, chủ quyền của họ đối với vùng này là không thay đổi.

Theo ý kiến của tôi, việc này vén màn chiến lược của Bắc Kinh nhằm trước tiên và đương nhiên là thử phản ứng của các nước láng giềng với Việt Nam, và xa hơn là của Hoa Kỳ. Thế nên giàn khoan này có thể chỉ là một bước thử nghiệm.

Với người dân, người Việt vốn vẫn cực kỳ lo lắng trước Trung Quốc, vì Trung Quốc nhắc họ nhớ tới lịch sử đô hộ, mà nếu tôi nhớ không nhầm, Việt Nam chỉ độc lập trước Trung Quốc vào năm 939 bằng vũ lực, và sau này vẫn luôn phải đối mặt với ý đồ muốn chiếm lại Việt Nam từ đế chế Trung Hoa.

Vậy đó là lịch sử cận đại, và ít nhất thì Trung Quốc cũng đã chiếm cứ một số không gian trên biển của Việt Nam.

Nhưng về đe dọa chiến tranh thực sự và mối lo ngại liên quan trực tiếp đối với Việt Nam và Trung Quốc, tôi nghĩ là rất ít khả năng xảy ra. Bởi vì theo tôi thì từ cả phía Bắc Kinh và Hà Nội đều không có ý định đối đầu nhau.

‘Tách rời phương Đông’

Đảng vừa phải đối mặt với áp lực nội bộ, vừa phải giải quyết áp lực từ Trung Quốc

BBC: Dưới áp lực nào thì giới lãnh đạo Việt Nam thấy họ buộc phải đổi mới?

Chúng ta chỉ có thể đưa ra các giả thuyết, tuy nhiên Hà Nội vẫn thường xuyên đánh giá mối đe dọa từ Trung Quốc và khả năng Việt Nam có thể đối phó với các đe dọa của Trung Quốc.

Cũng có áp lực từ nội bộ, khi mà đảng Cộng sản phải bảo vệ vị trí và vai trò dẫn dắt của mình trong toàn cảnh chính trị Việt Nam. Tôi cho rằng cần có sự cân bằng trong việc đưa ra các quan điểm chính trị từ phía chính phủ và Đảng.

Từ phía đảng Cộng sản cần phải giữ vững quan điểm chính trị quốc gia và các biện pháp chống lại áp lực từ Trung Quốc. Và câu trả lời cũng nằm ở việc họ cân bằng áp lực này như thế nào.

Nếu áp lực của Trung Quốc ngày càng lớn, đây chỉ là một giả thuyết, và Việt Nam vẫn thấy mình đơn độc trong việc đối đầu với Trung Quốc, và thấy cần thiết phải tìm tới các đối tác mạnh mẽ khác, chẳng hạn như Hoa Kỳ.

Nhưng lúc đó Việt Nam sẽ ở vào vị trí phải thương lượng với người Mỹ, mà một khía cạnh có lẽ chắc chắn được đề cập tới là nhân quyền và sự minh bạch trong chính trị Việt Nam.

Với cách làm này thì điều sống còn là Đảng Cộng sản Việt Nam phải tách rời phương Đông thêm một chút, và chấp nhận cởi mở nền chính trị vốn đang giữ kẽ với Hoa Kỳ.

Như thế có nghĩa là Hoa Kỳ đã bày tỏ ý kiến rằng, chúng tôi chỉ trao vũ khí cho các anh để phòng ngự khi các anh chấp nhận tiến trình dân chủ.

…Theo cách nhìn khách quan, ta có thể thấy có nhu cầu cần phải tìm được sự cân bằng này. Nếu không, Việt Nam có thể sẽ gặp rắc rối trong chính trị nội bộ.

Sự kiện Crimea và Nga là ‘chỉ dấu’ cho lãnh đạo Trung Quốc liên quan tới vấn đề biển Đông, theo nhà nghiên cứu người Pháp

BBC: Ông từng nói sự kiện Crimea và Nga cũng liên quan tới vấn đề Biển Đông?

…Cụ thể trong trường hợp Crimea, tôi nghĩ là Bắc Kinh đã cực kỳ chú ý tới sự kiện này. Đặc biệt là những người đứng đầu Trung Quốc đã đánh giá khả năng phản ứng và đáp trả của các nước lớn ở phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, trong vấn đề toàn vẹn lãnh thổ theo luật pháp quốc tế.

Tôi nghĩ là sự thiếu câu trả lời trực tiếp và hiệu quả đối với Crimea từ Hoa Kỳ – vì Nga đã dùng tới biện pháp chính trị sự đã rồi – và tới thời điểm này, vẫn chưa có các biện pháp giữ toàn vẹn lãnh thổ, khiến lãnh đạo Bắc Kinh suy nghĩ.

…Cùng lúc đó, chúng ta có thể thấy với sự kiện biển Đông, việc thiếu câu trả lời của Hoa Kỳ trong vụ Crimea có thể chỉ dấu cho Trung Quốc rằng họ có thể dùng tới chút vũ lực, họ có thể dùng kiểu chính trị sự đã rồi vì Mỹ sẽ phản ứng lại một cách hạn chế.

Và chúng tôi tự hỏi, liệu giàn khoan đưa ra nhằm mục đích chắc chắn là thử Việt Nam nhưng có phải cũng là để xem khả năng phản ứng và đáp trả của Hoa Kỳ đối với các sự việc về không gian lãnh thổ theo kiểu này.

Nữ Huynh Trưởng Đồng Xuân – Lê Thị Tuyết Mai (1947 – 2014) tự thiêu trước cổng Dinh Tổng Thống VNCH

Van Hoa Magazine, (05/25/2014)

http://nhatbaovanhoa.com/D_1-2_2-59_4-922_5-10_6-1_17-93_14-2_15-2/nu-huynh-truong-dong-xuan-le-thi-tuyet-mai-1947-2014-tu-thieu-truoc-cong-dinh-tong-thong-vnch.html

Di ảnh nữ Huynh Trưởng Phật tử Đồng Xuân Lê Thị Tuyết Mai.

Việt Nam: Báo An ninh Thủ Đô xác nhận có vụ tự thiêu sáng nay:

“ANTĐ – Một phụ nữ đến trước cổng Dinh Thống Nhất từ tờ mờ sáng, sau đó tự tưới xăng lên người rồi châm lửa đốt…

Theo các nhân chứng thuật lại, vào thời điểm trên họ thấy một phụ nữ (khoảng 30 tuổi) đi bộ đến trước cổng Dinh Thống Nhất sau đó lấy xăng rưới lên người rồi châm lửa đốt. Ngọn lửa nganh chóng bùng lên, nhiều người đi đường không dịp dập lửa, ít phút sau thì nạn nhân đã bị ngọn lửa thiêu cháy đen, co quắp.

Ngay sau sự việc trên xảy ra, cơ quan công an địa phương đã có mặt khám nghiệm hiện trường, đồng thời đưa thi thể nạn nhân đi phục vụ công tác điều tra. Công an không tìm thấy bất kỳ giấy tờ tùy thân nào nên chưa thể xác định được danh tính người phụ nữ trên. Vụ việc đang được điều tra, làm rõ.

Soruce: Internet
Tự thiêu trước Dinh Độc Lập ngày 23/5/2014
https://www.youtube.com/watch?v=Xt7QkHviYLI&feature=youtu.be

Một phụ nữ tự thiêu phản đối Trung Quốc
23/05/2014 17:48 (GMT + 7)
TTO – Lúc 16g ngày 23-5, UBND Quận 1 TP.HCM đã tổ chức họp báo về vụ một phụ nữ dùng xăng tự thiêu trước cổng Hội trường Thống Nhất (Dinh Độc Lập) vào sáng cùng ngày để phản đối vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan vào vùng biển Việt Nam.

Nội dung 6 trong số 7 biểu ngữ
1.    Yêu cầu đoàn kết đập tan mưu đồ xâm lược của Trung Quốc
2.    Ủng hộ Cảnh sát biển và ngư dân Việt Nam
3.    Yêu cầu Trung Quốc rút khỏi biển Việt Nam
4.    Trả lại biển đảo cho Việt Nam
5.    Đốt ánh sáng soi đường cho những người yêu nước
6.    Xưa kia cho bà Trưng và Triệu đứng lên đánh giặc

Một trong các di bút của người phụ nữ tự thiêu trước cửa Dinh Thống nhất. (Theo BBC)

Cuộc họp báo do ông Lê Trương Hải Hiếu, phó chủ tịch UBND Q.1 và thượng tá Nguyễn Thanh Liêm phó trưởng Công an quận 1 chủ trì.

Sáng nay 23-5, nhiều người đi đường hốt hoảng khi nhìn thấy một người tự thiêu, bốc cháy ngùn ngụt trước cửa Hội trường Thống Nhất, quận 1.

Ông Hiếu cho biết nạn nhân được xác định là bà Lê Thị Tuyết Mai (67 tuổi, ngụ P.24, Q.Bình Thạnh, TP.HCM).

Khoảng 5g30 sáng cùng ngày, bà Mai điện thoại kêu taxi của hãng taxi Mai Linh, ít phút sau thì tài xế Nguyễn Văn Thịnh đến trước của nhà bà Mai để đón bà. Khi lên xe, bà Mai có xách theo một can nhựa màu trắng và 1 bịch xốp…

Bà Mai yêu cầu tài xế Thịnh chở đến Hội trường Thống Nhất (đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.Bến Thành, Q.1). Sau khi trả tiền xe, bà Mai có gửi anh Thịnh 1 mắt  kính, 1 điện thoại di động và nhờ anh này đưa về cho gia đình.

Khoảng 5g58 phút, hai bảo vệ của Hội trường Thống Nhất phát hiện có ngọn lửa cháy tại khu vực cổng chính nên đã chạy lại xem thì thấy có người dùng xăng tự thiêu. Các bảo vệ trên đã dùng bình chữa cháy để dập lửa cứu người trong khoảng 3 phút thì ngọn lửa được dập tắt.

Các bảo vệ đã gọi cho công an phường Bến Thành và cơ quan chức năng đến đưa bà Mai đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Sài Gòn. Tại đây, các bác sĩ chẩn đoán bà Mai đã chết.

Tại hiện trường, Công an thu giữ được 1 can nhựa màu trắng loại 5 lít, 1 đôi dép và một bịch đồ có 6 biểu biểu ngữ bằng giấy màu xanh, có chữ viết tay bằng bút lông màu xanh ghi nội dung phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép trên lãnh hải Việt Nam.

Sau khi nhận mắt kính và điện thoại của bà Mai, tài xế Thịnh đã cầm 2 vật trên quay trở lại nhà bà Mai gọi cửa và đưa cho anh anh Trần Lê Trương (45 tuổi, con trai của bà Mai).

Do thấy sự việc bất thường, anh Trương đã hỏi anh Thịnh chở bà Mai đi đâu thì anh Thịnh kể lại sự việc như trên. Theo tường trình của anh Trương, khi ở nhà bà Mai nói với gia đình là đi chùa như hàng ngày.
Do thấy có bất thường, anh Trương đã yêu cầu anh Thịnh chở đến Hội trường Thống Nhất, khi đến nơi thì anh Trương  thấy công an đang khám nghiệm hiện trường. Anh Trương xác nhận người phụ nữ tự thiêu trên chính là bà Mai, mẹ ruột của anh.

Thượng tá Nguyễn Thanh Liêm cho biết, theo tường trình của anh Trần Lê Trương trước khi vụ việc xảy ra bà hoàn toàn bình thường, tâm lý ổn định nhưng thấy bà có vẻ buồn. Hiện cơ quan điều tra đang điều tra làm rõ và sẽ thông tin cụ thể vụ việc sau.

Theo ông Hiếu, bà Mai là một phật tử, bản thân bà Mai cùng gia đình từ trước đến nay luôn chấp hành tốt các qui định chung của Nhà nước và không có gì bức xúc với chính quyền.
ĐỨC THANH

Có người tự thiêu trước Dinh Thống nhất
BBC – thứ sáu, 23 tháng 5, 2014

Một phụ nữ Việt Nam châm lửa tự thiêu trước Dinh Độc Lập ở thành phố HCM để phản đối Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam. https://www.youtube.com/user/RFAVietnamese. Hình từ video clip của một nhân chứng.

Một người đã ‘tự thiêu’ trước Dinh Thống nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh sáng sớm ngày 23/5, theo báo trong nước nhưng cũng có tin nói hành động tự thiêu này là của một Phật tử vì ‘bức xúc với Trung Quốc’.

BBC đã liên lạc với Công an quận 1 ở TP Hồ Chí Minh và được biết “các chuyên viên đã vào cuộc để điều tra vụ việc”, nhưng không được cung cấp thêm chi tiết.

Nhân viên tại Dinh Thống nhất nói với BBC qua điện thoại rằng hiện di tích vẫn đang “hoạt động bình thường”, nhưng từ chối bình luận về sự kiện này.

Video quay lại hiện trường đã được một nhân chứng quay lại và đăng tải trên mạng xã hội.

Chủ nhân của video này viết trên tài khoản Facebook cá nhân rằng cô “không nhìn thấy rõ do trời lất phất mưa”, nhưng được tài xế taxi nói nạn nhân là một người phụ nữ.

Một video khác trên Youtube thì diễn tả: “Xác chết cháy khô, trong tư thế ngồi co chân dựa lưng vào cổng rào của Dinh.”

Báo Bấm Tuổi Trẻ vào chiều tối cùng ngày chạy bài với tựa Một phụ nữ tự thiêu phản đối Trung Quốc.

“Khoảng 5g58 phút, hai bảo vệ của Hội trường Thống Nhất phát hiện có ngọn lửa cháy tại khu vực cổng chính nên đã chạy lại xem thì thấy có người dùng xăng tự thiêu. Các bảo vệ trên đã dùng bình chữa cháy để dập lửa cứu người trong khoảng 3 phút thì ngọn lửa được dập tắt” theo Tuổi Trẻ.

Báo điện tử Soha của Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam – VC Corp trước đó chạy tin và cho biết “người dân đã gọi điện cho công an địa phương để báo cáo về vụ việc, tuy nhiên đến 7h sáng, lực lượng này mới có mặt tại hiện trường nhưng bài báo này sau đó không truy cập được nữa.

‘Phật tử phản đối Trung Quốc’

Phòng Thông tin Phật giáo tại Paris vừa ra thông cáo nói người tự thiêu hôm 23/5 là bà Lê Thị Tuyết Mai, Huynh trưởng Cấp Tấn, Phó Trưởng ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử Miền Quảng Đức, đơn vị trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ông Võ Văn Ái, Phòng Thông tin Phật giáo tại Paris nói với BBC tại London cuối giờ sáng ngày 23/5 qua điện thoại rằng Viện Hóa Đạo của Hòa thượng Thích Quảng Độ từ TP. HCM thông báo rằng về danh tính của người tự thiêu.

Ông cho biết thời gian qua, “rất đông” thành viên của Gia Đình Phật tử Việt Nam, một tổ chức trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, xin tự thiêu.

“Người ta rất bức xúc vì nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp Giáo hội, và đặc biệt gần đây, Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam,” ông Ái giải thích.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, với người đứng đầu hiện nay là Hòa thượng Thích Quảng Độ, không được chính phủ Việt Nam công nhận.

Nội dung 6 trong số 7 biểu ngữ
7.    Yêu cầu đoàn kết đập tan mưu đồ xâm lược của Trung Quốc
8.    Ủng hộ Cảnh sát biển và ngư dân Việt Nam
9.    Yêu cầu Trung Quốc rút khỏi biển Việt Nam
10.    Trả lại biển đảo cho Việt Nam
11.    Đốt ánh sáng soi đường cho những người yêu nước
12.    Xưa kia cho bà Trưng và Triệu đứng lên đánh giặc

Nguồn: Báo Thanh Niên dẫn lời Lê Trương Hải Hiếu, Phó Chủ tịch UBND Q1 Tp HCM.

Ông Võ Văn Ái nhấn mạnh Viện Hóa Đạo của Hòa thượng Thích Quảng Độ không đồng tình chủ trương tự thiêu.

“Bất cứ ai cũng phải sống để đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền,” ông Ái nói.

Ông Ái nói việc tự thiêu của bà Tuyết Mai là do “xúc cảm, phẫn uất”.

“Họ không xin phép, cũng không được phép của Giáo hội,” theo ông Ái.

Báo Bấm Thanh Niên tại Việt Nam cũng dẫn lời chính quyền xác nhận tên người phụ nữ là bà Lê Thị Tuyết Mai, 67 tuổi.

Ông Lê Trương Hải Hiếu, Phó chủ tịch UBND Q.1, TP.HCM, được báo Thanh Niên dẫn lời nói “theo điều tra ban đầu, nguyên nhân khiến người phụ nữ này tự thiêu là do bế tắc về cuộc sống và bức xúc việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép, xâm phạm chủ quyền Việt Nam”.

Theo tờ báo, sau khi người phụ nữ tử vong, công an “thu giữ 1 cái can loại 5 lít, 1 quẹt ga và một bịch đồ chứa 7 biểu biểu ngữ viết tay phản đối Trung Quốc”.

Bài của báo An ninh Thủ đô không còn truy cập được nữa.

Ông Hiếu được báo Thanh Niên dẫn lời nói về 6 biểu ngữ như sau: “Yêu cầu đoàn kết đập tan mưu đồ xâm lược của Trung Quốc”; “Ủng hộ Cảnh sát biển và ngư dân Việt Nam”; “Yêu cầu Trung Quốc rút khỏi biển Việt Nam”; “Trả lại biển đảo cho Việt Nam”; “Đốt ánh sáng soi đường cho những người yêu nước”; “Xưa kia cho bà Trưng và Triệu đứng lên đánh giặc”.

Hiện chưa rõ số biểu ngữ là 7 (theo Thanh Niên) hay 6 (theo Tuổi Trẻ).

Báo An ninh Thủ đô (ANTĐ) trong tin sáng 23/5 dẫn lời các nhân chứng có mặt tại hiện trường cho biết vào lúc 5h30 sáng, một phụ nữ trẻ đã “đi bộ đến trước cổng Dinh Thống Nhất sau đó lấy xăng rưới lên người rồi châm lửa đốt.”

“Ngọn lửa nhanh chóng bùng lên, nhiều người đi đường không kịp dập lửa, ít phút sau thì nạn nhân đã bị ngọn lửa thiêu cháy đen, co quắp”.

Bài báo của An Ninh Thủ đô sau đó không còn truy cập được nữa./

Phỏng vấn Học giả Đinh Kim Phúc: “Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là một hành động chính nghĩa”

Văn Hóa Magazine. (05/25/2014 02:41 AM)

http://nhatbaovanhoa.com/D_1-2_2-95_4-923_5-10_6-1_17-80_14-2_15-2/

Lời tòa soạn:

Hôm nay ngày thứ Năm 22-05-2014. Chúng tôi, Lý Kiến Trúc hân hạnh được tiếp xúc với Giáo sư Sử học Đinh Kim Phúc,một nhà nghiên cứu Biển Đông tại Sài Gòn. Trong tình hình thời sự nóng bỏng hiện nay, ý kiến riêng của ông Đinh Kim Phúc thể hiện phần  nào suy nghĩ chung của công luận người Việt trong ngoài nước trĩu nặng tấm lòng hướng về tổ quốc. Văn Hóa Magazine trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc. (LKT)

– LKT: Kính chào ông Đinh Kim Phúc; ông có thể cho đọc giả biết về một vài quá trình hoạt động cũng như cá nhân ông sống trong môi trường hiện nay ở Việt Nam như thế nào không ạ?
– ĐINH KIM PHÚC: Trả lời câu hỏi của nhà báo Lý Kiến Trúc, tôi Đinh Kim Phúc tham gia quân đội nhân dân Việt Nam năm 1977-1980, sau đó về học ở khoa Sử đại học Cần thơ và tốt nghiệp Cao học Lịch sử tại Đại học Sư phạm 1 Hà Nội vào năm 1988, cũng là năm mà Trung Quốc đánh chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Tôi đã nghiên cứu vấn đề này cũng gần 30 năm, là chủ biên, tham gia rất nhiều quyển sách về Biển Đông đã xuất bản tại Việt Nam; ví dụ như “Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng Biển Đông và trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa Việt Nam; “Xung đột trên Biền Đông không còn là nguy cơ tìm ẩn”; tôi cũng là chủ biên sách “Hoàng Sà Trường Sa trong thư tịch cổ”; là tác giả sách “Hoàng Sa Trường Sa luận cứ và sự kiện”. Từ năm 2009 tôi đã tham gia sinh hoạt tại Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình với sự dìu dắt của Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, và chúng tôi đã có một tọa đàm về “Biển Đông và hải đảo Việt Nam” vào tháng 7 năm 2009. Đó là hội thảo lần đầu tiên đặt vấn đề Biển Đông và hải đảo Việt Nam tạo dư luận trong và ngoài nước.

– LKT: Đối với ông, điều gì nổi cộm nhất hiện nay về vấn đề Biển Đông?

– ĐKP: Trong tình hình nóng bỏng hiện nay, Trung Quốc đã đưa giàn khoan HD-981 vào tận trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, nó không còn là sự xung đột trên Biển Đông, nó không còn là cái âm mưu bá quyền của Trung Quốc trên lý thuyết nữa, mà đây là cái hành động xâm lược, hành động này nó không chỉ diễn ra trong tháng 5-2014 này, mà đây là một cái quá trình bành trướng của Bắc Kinh.

– LKT: Một trong quá trình bành trưướng đó có bắt nguồn từ Công hàm 1958 của TT Phạm Văn Đồng? Chắc ông đã nghe trên mạng khá phổ biến hiện nay, một video của Trung Cộng nói về Công Hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng, ông có ý kiến gì về cái video này không?
– ĐKP: Vấn đề là mỗi lần Trung Quốc thực hiện âm mưu bá quyền của mình trên Biển Đông thì cái việc làm đầu tiên của Trung Quốc làm là đánh lừa dư luận thế giới. Đó là cái gọi là Công Hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-09-1958, đề hiểu vấn đề này thì trước nhất chúng ta phải xét về quan hệ quốc tế và bối cảnh lịch sử của thời điểm lúc bấy giờ. Để ngắn gọn, tôi xin nêu như thế này, sau cái sự kiện mà hàng loạt các nước Đông Âu tiến lên xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội và sự ra đời của khối liên phòng Bắc Đại Tây Dương tức khối NATO, chiến tranh lạnh trên thế giới bắt đầu.

Trong Hội Nghị San Francisco năm 1951 vì sao phái đoàn Liên-Xô đề nghị giao Hoàng Sa Trường Sa là thuộc chủ quyền của Trung Quốc, đề nghị này được Ba Lan và Tiệp Khắc ủng hộ, vì Liên-Xô thấy rằng ảnh hưởng của Mỹ bắt đầu manh nha ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á Thái Bình Dương, Liên-Xô sợ rằng mình không cạnh tranh được với Mỹ do đó dùng Trung Quốc làm hàng rào cản đối với Mỹ, cũng như sự kiện vào tháng Giêng năm 1974, nhân cơ hội Việt Nam Cộng Hòa đang yếu thế trước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mỹ đã làm lơ cho Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng sa, vì Mỹ thấy rằng Liên-Xô sẽ là người có ảnh hưởng ở Đông Dương sau khi Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam.

Cái thế cờ đó chúng ta thầy rằng mỗi một cường quốc trên thế giới đều có quyền lợi của họ, họ tính toán quyền lợi của họ trên đầu các nước nhỏ mà cũng có thể gọi là các nước đồng minh của họ. Trở lại vấn đề, chúng ta thấy rằng vào thời điểm năm 1958 khi mà Trung Quốc đứng trước áp lực bao vây của các thế lực thù địch (theo cái cách gọi của Trung Quốc) dẫn đầu là Mỹ, thì Trung Quốc vội vàng công bố lãnh hải của mình là 12 hải lý; lúc bấy giờ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một đồng minh, là một đồng chí của Trung Quốc, cùng chung một chiến hào để chống kẻ thù chung, nhưng nếu nhìn lại cái tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc bao gồm 4 điểm thì trong cái Công Hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông chỉ nêu là tán thành công bố cái tuyên bố này và tôn trọng cái lãnh hải 12 hải lý, không hề có một dòng một chữ nào từ bỏ chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mặc dù trong điều một của tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc có nêu Tây Sa Nam Sa là của Trung Quốc.

Chúng ta thấy rằng đây là bức thư hữu nghị giữa hai người đồng chí, và một câu hỏi đặt ra là thủ tướng Phạm Văn Đồng có ảo tưởng về tình đồng chí này không, thì tôi tin chắc rằng thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng như những người lãnh đạo của Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa không hề ảo tưởng, vì trong bàn Hội Nghị Genève năm 1954 bàn về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương trong đó có Việt Nam thì Trung Quốc là người đồng chí của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng đả phản bội cách mạng Việt Nam, phản bội cách mạng Lào, phản bội cách mạng Campuchia. Cái hành động phản bội của Trung Quốc đó, khiến những người Việt đã đổ máu tiếp tục 21 năm cho cuộc chiến tranh, hệ quả của cuộc chiến tranh ở Việt Nam cho đến ngày hôm nay như quý vị đã biết, có những vấn đề không giải quyết được, đây là âm mưu của Bắc Kinh.

– LKT: Ông có vẻ biện hộ cho Công Hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng, đứng trên phương diện công pháp quốc tế và đứng trên vấn đề quốc gia của hai quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa thì cái Công Hàm đó có giá trị thế nào?
– ĐKP: Cuộc chiến tranh giữa hai miền nam bắc mặc dù cái yếu tố giải phóng dân tộc là một yếu tố hàng đầu, nhưng bên trong cuộc chiến tranh này nó vẫn mang tính chất nội chiến được quốc tế hóa. Chúng ta thấy rằng giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa là hai thực thể không có chân trong liên Hiệp Quốc lúc bấy giờ, và theo quy định của Hội Nghị Genève năm 1954, Trung Quốc là một bên tham gia ký kết, hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam thuộc quyền quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Theo quy định của hiệp định, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có quyền cho, không có quyền tặng, thậm chí như một số những lần coi rằng là bán cho Trung Quốc. Hành động bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa là của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, nó đã được thể hiện từ năm 1956, khi Trung Quốc nhân cơ hội Pháp rút khỏi Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chưa đủ sức để quản lý hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa thì họ đã chiếm đóng vùng đảo phía đông của vùng đảo Hoàng Sa, và tất cả từ năm 1956 đến tháng Giêng năm 1974, tất cả những hành động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là một hành động chính nghĩa đã thể hiện được tránh nhiệm của mình đối với những quy định của điều khoản Genève năm 1954, cũng như thể hiện được chính nghĩa bảo vệ từng tấc đất của tổ tiên để lại.

Cố Thủ tướng VNCH Nguyễn Bá Cẩn 2006, thủ lãnh và tác giả tập hồ sơ Thềm lục địa VN và Chủ quyền Biển Đông nộp lên Liên Hiệp Quốc. Những giờ phút cuối cùng trong chức vụ của mình, ông đã tường thuật lại trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Hạnh Dương như sau: “Vấn đề Việt Nam lúc bấy giờ là một ván bài chung của Hoa Kỳ và Pháp. Họ đã nhúng tay vào và đã sắp đặt tất cả. Họ buộc chúng ta phải đầu hàng, phải bàn giao nguyên trạng. Ngày 21 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức, theo Hiến pháp, ông đã bàn giao cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên làm Tổng thống. Ngày 25 tháng 4 năm 1975, tôi từ chức Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, nhưng Tổng thống Trần Văn Hương yêu cầu tôi phải ở lại tiếp tục xử lý thường vụ cho đến ngày 28 tháng 4 năm 1975 để chờ tân chính phủ.”. Tháng 9 năm 2003, ông cho xuất bản tập hồi ký Đất nước tôi. Tháng 5 năm 2009, ông nộp hồ sơ “Thềm lục địa Việt Nam” lên Liên Hiệp Quốc, khẳng định chủ quyền Việt Nam trên vùng biển Đông và các đảo Hoàng SaTrường Sa (theo Wikipedia). Ảnh Ánh Dương

– LKT: Trong một số quan điểm đã được viết công khai trên mạng và trên báo chí hiện nay có dư luận cho rằng Hoàng Sa sẽ không phân biệt là của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay của Việt Nam Cộng Hòa nữa mà là của Việt Nam nói chung, như vậy Công Hàm của ông Đồng cũng có giá trị về phương diện pháp lý đối với Trung Cộng có phải như vậy không?
– ĐKP: Bản thân thư gửi của thủ tướng Phạm Văn Đồng tới Chu Ân Lai, tôi nghĩ rằng đây là một bức thư thể hiện tình hữu nghị giữa hai người đồng chí. Nhưng tại sao lại có bức thư này, chúng ta thấy rằng ý thức hệ của thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai người Cộng Sản với nhau nó đã chi phối quan điểm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong vấn đề ủng hộ Trung Quốc trong tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của họ. Và cũng chính vì ảo tưởng giữa những người đồng chí với nhau, mà Trung Quốc đã lợi dụng để làm cái cơ sở tố cáo Việt Nam hiện nay đã thừa nhận cái gọi là Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc. Bản thân thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ với một lá thư không hề có nghị quyết của quốc hội, tôi nghĩ rằng chứng cứ pháp lý đó cũng không phải là thế mạnh nếu ra trước tòa án quốc tế, và tôi được biết Quốc hội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa hay là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam sau này là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, cũng như ngày nay là Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa bao giờ có một nghị quyết từ bỏ chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hay một nghị quyết công nhận cái gọi là Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc.

– LKT: Ông vừa đề cập đến cụm từ ý thức hệ, ông có thế nói rõ thêm vế ý thức hệ giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Trung Cộng lúc đó như thế nào, nó có liên quan đến vấn đề chiếm đoạt Hoàng Sa?
– ĐKP: Trong cái bối cảnh năm 1958, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam rất cần sự viện trợ và ủng hộ của Trung Quốc, của Liên-Xô và của các nước thuộc khối Xã Hội Chủ Nghĩa, nếu như nói rằng Tổng thống Ngô Đình Nhiệm đã từng tuyên bố đường biên giới của thế giới tự do kéo dài đến vĩ tuyến 17, Trung Quốc vẫn muốn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là khu vực đệm bảo vệ miền nam Trung Hoa để cho Trung Quốc rảnh tay xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội. Trong hoàn cảnh đó chúng ta phải hiểu rằng cái ý thức hệ của những người chung một chiến hào bao giờ nó cũng là mục tiêu đầu tiên để tiến hành mục đích của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tức là giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, tất cả các chuyện anh em sẽ giải quyết sau, và cái hệ quả đó cho đến ngày hôm nay đã bị khai thác triệt để bởi nhà cầm quyền Trung Quốc.

– LKT: Ông có bao giờ nghiên cứu về những văn bản chính thức của Việt Nam Cộng Hòa đã phản đối trận chiến xâm lăng vào tháng Giêng năm 1974 của Trung Quốc hay không?
– ĐKP: Tất cả những tuyên bố của Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa, tuyên bố của Tống thống Nguyễn Văn Thiệu cũng như tuyên bố của tất cả các cơ quan chức năng của Việt Nam Cộng Hòa trong thời điểm tháng Giêng năm 1974 tôi đã đọc hết, và tôi nghĩ rằng đây là những tuyên bố rất mạnh mẽ, một tuyên bố chủ quyền không thể chối cãi được, rất tiếc cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm cái tính chất bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam không được liên tục, và chúng ta là những thế hệ đi sau có trách nhiệm giải quyết những cái hậu quả này.

– LKT: Cho đến hiện nay đã là 40 năm rồi, những thành phần của Việt Nam Cộng Hòa đã di tản ra ngoại quốc gần như hầu hết, ông có thể cho biết với cái nhìn của ông đối với những thành phần tị nạn Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại sẽ có phản ứng thế nào về vấn đề Hoàng Sa?
– ĐKP: Vấn đề này thì chúng tôi nghĩ rằng cái âm mưu xâm lược bá quyền của Trung Quốc về phương nam nó không phải xuất hiện gần đây đối với chế độ Cộng Sản Bắc Kinh, mà đây là cái truyền thống bá quyền từ thời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, đã được đảng Cộng Sản Trung Quốc nhân cao hơn trong thời đại ngày nay. Trước cái âm mưu mất nước, cái âm mưu mất đất của tổ tiên để lại, tôi nghĩ rằng mục tiêu của tất cả người Việt trong và ngoài nước là làm sao chống lại xâm lược, làm sao bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ, còn tất cả những chuyện khác, anh em trong nhà tôi nghĩ sẽ tính sau.

– LKT: Điều đó có nghĩa là trong tương lai sẽ có một cái giải pháp nào đó của phía Việt Nam Cộng Hòa để có thể đóng góp vào vấn đề đòi lại Hoàng Sa, có đúng như vậy không?

– ĐKP: Những quý vị có trách nhiệm trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1954 đến năm 1975 ngày nay đang sống ở hải ngoại, tôi tin chắc rằng trong tay quý vị có rất nhiều tư liệu, có rất nhiều bằng chứng để chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về mặt lịch sử cũng như về mặt pháp lý. Tôi nghĩ rằng bất kể ý thức hệ là Quốc gia hay Cộng sản – bảo vệ tổ quốc là trên hết, tôi nghĩ rằng anh em trong nước cũng như anh em ngoài nước có thể ngồi chung trên một mặt trận để chống quân Trung Quốc xâm lược. Chúng ta phải nhìn thấy bài học của Trung Quốc và Nhật Bản, chúng ta thầy rằng dù là người Trung Quốc, người Macau hay là người Đài Loan, nhưng khi có tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản trên hòn đảo Sensaku, thì họ đều ngồi chung trên một chuyến thuyền để đấu tranh cho chủ quyền, chẳng lẽ người Việt Nam chúng ta đứng trước nguy cơ xâm lược lại tự đánh nhau hay sao!

Luật sư Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc mạnh mẽ lên án cuộc xâm lăng của Trung cộng đối với quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Nhân danh chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, Luật sư – Ngoại trưởng Vương Văn Bắc nói: “Trước những sự vi phạm thô bạo đó, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam Cộng Hòa rất công phẫn và quyết không dung thứ. Sự kiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những phần tử bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa là một sự kiện hiển nhiên. (Minh họa của VH)

– LKT: Hiện nay đã có hai luồng suy nghĩ và hành động khác nhau ở trong nước, đó là phản ứng tự phát của đồng bào đối với vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên bộ cũng như trên biển, ngược lại có một số quan niệm, một số hành động của chính phủ gần như đi ngược lại ý dân, theo ông, ông nhận định thế nào về các cuộc tranh đấu hiện nay ở trong nước?
– ĐKP: Trước nhất tôi xin đính chính, tôi là một trong số những người đã xuống đường tham gia chống bành trướng Trung Quốc, không có cái gọi là biểu tình tự phát, cũng không thể gọi là yêu nước tự phát, yêu nước là trách nhiệm của mỗi một người công dân Việt Nam đối với cái nguy cơ bị xâm lược, nhưng đứng trước một Trung Quốc một cường quốc của thế kỷ 21 hơn hẳn Việt Nam về tất cả các mặt kinh tế, quân sự, vân vân…., thì Việt Nam phải có những cái bước đi phù hợp để tránh chiến tranh bùng nổ, vì chúng ta thấy rằng Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á sau hơn 40 năm chiến tranh và xung đột, thì cái nền hòa bình không phải chỉ riêng là tải sản của Việt Nam, mà nó là một cái tài sản quý giá của toàn bộ khu vực Đông Nam Á và Châu Á Thái Bình Dương. Trách nhiệm tránh nổ ra chiến tranh, trách nhiệm giải quyết vấn đề xung đột trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ đất nước của mình cũng như bảo vệ nền hòa bình ở Đông Nam Á là một điều rất đáng trân trọng, bước đi đó miễn sao nó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, phù hợp theo nguyện vọng của các dư luận tiến bộ trên thế giới, phù hợp với công pháp quốc tế, thì chúng ta phải tôn trọng, đương nhiên bất cứ một chính phủ nào họ đều có chiến lược bảo vệ tổ quốc, đôi lúc chiến lược đó chưa đáp ứng được nguyện vọng của toàn thể nhân dân; tôi mong rằng trên dưới một lòng, minh bạch, sáng tỏ, thì cái sự cộng đồng cái sự đoàn kết chung tay để bảo vệ đất nước không thể nào không làm được. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rõ cái điều đó, khi mà trước quân xâm lăng, nhưng nếu nội lực bị tàn phá, sự đoàn kết bị phá hủy, thì đất nước rơi vào tay xâm lược của thực dân, của đế quốc, của các thế lực xâm lược khác. Thời đại Hồ Quý Ly như chúng ta đã biết, “không sợ thiếu quân đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”, Hồ Nguyên Trừng đã đưa ra một chân lý mà ngày nay vẫn có giá trị.

– LKT: Có một số dư luận ở trong nước nói rằng là không nên đổi hòa bình bằng chủ quyền, ông nghĩ thế nào về cái nguồn dư luận đó?
– ĐKP: Đó là câu nói của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, là không lấy chủ quyền để đổi lấy hòa bình, thì tôi nói rằng đây là một thông điệp rất đanh thép của chính phủ đưa ra trước hoàn cảnh mà chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tôi hy vọng rằng tất cả những chiến lược, những chiến thuật của Việt Nam trước quân xâm lược bá quyền của Trung Quốc phải được đi theo nguyên tắc này, không được lấy chủ quyền của quốc gia dân tộc để đổi lấy hòa bình, một nền hòa bình tạm bợ trước cái âm mưu bá quyền của Bắc Kinh.

– LKT: Giả sử như là giàn khoan HD-981 giống như một cục gạch cắm dùi trên thềm nhà Việt Nam, ông nghĩ thế nào nếu giàn khoan đó nhất định không chịu rút đi?
– ĐKP: Nếu như mà Trung Quốc vẫn ngoan cố không chịu rút gian khoan HD-981, và thậm chí đưa thêm nhiều giàn khoan khác nữa vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thì tôi có thể nói rằng đến giờ phút này: ý thức hệ, tình đồng chí, bạn bè, sẽ không giải quyết được vấn đề chủ quyền của quốc gia, không giả quyết được vấn đề toàn vẹn lãnh thổ, không giải quyết được hòa bình và an ninh khu vực vậy thì cái ý thức hệ đó cần phải được thay đổi, cái ý thức hệ đó cần phải được đứng sang một bên để cho các ý thức hệ khác tập trung sức mạnh bảo vệ đất nước.


– LKT: Giả sử như có một cuộc hải chiến diễn ra đối với giàn khoan HD-981, thì hậu quả của nó sẽ như thế nào ông có thể lường được trước không?
– ĐKP: Xét về mặt quân sự, nếu có chiến tranh trên biển, chiến tranh trên không, thì rõ ràng Việt Nam không phải là đối thủ của Trung Quốc, nhưng ví dụ như nếu chiến tranh xảy ra trên Biển Đông, người thiệt hại đầu tiên là Đài Loan, là Nhật Bản, là Hàn Quốc, là Trung Quốc… vấn đề đó nó sẽ chi phối mối quan hệ quốc tế, và tôi nghĩ rằng chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng như chính phủ Bắc Kinh hiện nay không ai mong gì chiến tranh xảy ra, vì trong thời đại này, chiến tranh không từ một ai, không có kẻ thắng, người thua, mà tất cả đều bại.

– LKT: Cám ơn ông Đinh Kim Phúc đã trả lời cuộc phỏng vấn của chúng tôi. Hôm nay là ngày thứ Năm 22-05-2014 tại Sài Gòn, xin cám ơn ông một lần nữa.
– ĐKP: Xin cám ơn anh Lý Kiến Trúc./

‘VN đã sẵn sàng kiện TQ vụ giàn khoan’

BBC, 31 tháng 5, 2014

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/05/140531_nguyentandung_oilrig_suit.shtml

Ông Nguyễn Tấn Dũng

Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng nói VN đã ‘chuẩn bị xong’ và ‘sẵn sàng’ kiện TQ.

Thủ tướng Chính phủ Việt Nam nói nước này đã ‘chuẩn bị’ và ‘sẵn sàng’ có hành động pháp lý kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về vụ Giàn khoan Hải Dương 981 ở khu vực Hoàng Sa, theo tờ Bloomberg.

Hôm 30/5/2014, ông Nguyễn Tấn Dũng nói với tờ báo Mỹ Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng ‘các bằng chứng’ và đang cân nhắc thời điểm để đưa vụ kiện ra quốc tế.

“Việt Nam đã chuẩn bị bằng chứng cho một hành động pháp lý thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển ngoài khơi của Việt Nam và đang cân nhắc thời điểm tốt nhất để trình vụ kiện,” tờ Bloomberg hôm 31/5 viết.

Nếu xung đột nổ ra ở Biển Đông, sẽ không có người chiến thắng

Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng

“Chúng tôi đã chuẩn bị xong và sẵn sàng kiện,” ông Dũng được trích thuật nói.

“Nếu xung đột nổ ra ở Biển Đông, sẽ không có người chiến thắng,” ông Dũng đưa ra cảnh báo, và cho rằng hai phần ba tổng khối lượng thương mại hàng hải toàn cầu đi qua các tuyến đường ở gần khu vực, vốn rất gần với khu vực mà Trung Quốc hạ đặt và mới đây di chuyển giàn khoan.

Thủ tướng Việt Nam cũng nói với tờ báo Mỹ về việc Việt Nam đang đối phó một số thiệt hại kinh tế mà do cuộc tranh cãi từ vụ giàn khoan của Trung Quốc gây ra.

“Tranh cãi trên biển với Trung Quốc đã tác động một số lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên chúng tôi đã tiến hành một số biện pháp thích hợp để đối phó,” ông Dũng được trích lời nói thêm.

‘Đang cân nhắc’

Căng thẳng Biển Đông

Trang mạng chính phủ Việt Nam cũng dẫn lời ông Dũng nói VN ‘đang cân nhắc’ kiện TQ.

Hôm thứ Bảy, cổng thông tin điện tử của Chính phủ Việt Nam tại địa chỉ Chinhphu.vn cũng đưa tin tức về phát ngôn của ông Nguyễn Tấn Dũng trả lời tờ Bloomberg.

“Liên quan đến vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: hành động của Trung Quốc vừa qua đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định ở khu vực.

“Việt Nam kiên quyết đấu tranh và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển chủ quyền của mình. Việt Nam cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam.”

Riêng về giải pháp đấu tranh pháp lý, Thủ tướng cho biết chúng ta đã chuẩn bị hàng chục năm nay, còn thời điểm nào hợp lý thì Bộ Chính trị sẽ quyết định

Tờ VnEconomy 29/5

Trang mạng của Chính phủ Việt Nam cũng cho hay Việt Nam “đang cân nhắc” giải pháp hành động pháp lý chống Trung Quốc.

“Trả lời các câu hỏi liên quan đến quan điểm, cách thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: Việt Nam đã và sẽ làm hết sức để bảo vệ chủ quyền vùng biển của mình bằng biện pháp hòa bình, vì độc lập, chủ quyền của tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Đấu tranh pháp lý theo luật pháp quốc tế là một biện pháp hòa bình. Lãnh đạo Việt Nam đang cân nhắc giải pháp này”, trang tin Chinhphu.vn viết.

Phát biểu của Thủ tướng Việt Nam với tờ Bloomberg được đưa ra chỉ bốn ngày sau khi một tàu cá của ngư dân Việt Nam bị một tàu Trung Quốc đâm chìm ở khu vực Hoàng Sa mà Trung Quốc đang hạ đặt và di chuyển giàn khoan Hải Dương 981.

Thông điệp của ông Dũng cũng được đưa ra vào thời điểm khai mạc diễn đàn Đối thoại về an ninh khu vực Shangri-La 13 diễn ra tại Singapore nơi mà Nhật Bản, Hoa Kỳ bên cạnh một số các quốc gia khác, đã có những phát biểu phê phán trực tiếp hoặc gián tiếp Trung Quốc ‘vi phạm luật pháp’ quốc tế và gây ‘mất ổn định’, ‘căng thẳng’ về an ninh trong khu vực.

Hai ngày trước đó, phái đoàn Đại diện Thường trực của Việt Nam tại Liên hợp quốc hôm 28/5 gửi thư cho ông Tổng Thư ký Ban Ki-moon đề nghị lưu hành một Công hàm của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Bộ Ngoại giao Trung Quốc, trong đó ‘phản đối Trung Quốc không chịu chấm dứt các hoạt động vi phạm chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam’ đối với ‘vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam’ theo quy định của Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên.

‘Bộ chính trị quyết’

Tướng Phùng Quang Thanh

Bộ trưởng Quốc phòng VN kêu gọi quân đội hai bên kiềm chế, tránh chiến tranh.

Hôm 29/5, Thủ tướng Việt Nam cũng nói tại một phiên họp thường kỳ của nội các Chính phủ do ông đứng đầu rằng thời điểm kiện Trung Quốc sẽ do Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định.

“Thủ tướng cho biết, hiện Bộ Chính trị chỉ đạo phải tiếp tục đấu tranh bằng biện pháp hoà bình, đúng theo luật pháp quốc tế,” ông Dũng được tờ VnEconomy dẫn lời hôm thứ Năm nói.

“Riêng về giải pháp đấu tranh pháp lý, Thủ tướng cho biết chúng ta đã chuẩn bị hàng chục năm nay, còn thời điểm nào hợp lý thì Bộ Chính trị sẽ quyết định.”

Tôi cho rằng, quân đội hai nước phải hết sức kiềm chế, tăng cường hợp tác với nhau, kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động không để có những hành động ngoài tầm kiểm soát

Tướng Phùng Quang Thanh

Hôm thứ Bảy, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh, đã lên tiếng tại diễn đàn Shangri-La 13.

Ông Thanh đánh giá quan hệ giữa Việt Nam và ‘nước bạn láng giềng’ Trung Quốc vẫn ‘tốt đẹp’ nhưng kêu gọi Trung Quốc ‘rút giàn khoan’ 981 ra khỏi khu vực đang căng thẳng ở Hoàng Sa, đồng thời ngồi xuống ‘cùng đối thoại’ với Việt Nam để giải quyết tình hình.

“Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông nên đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng như sự việc ngày 01/05/2014, Trung Quốc đã đơn phương hạ đặt giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, đã gây bức xúc cho Nhân dân Việt Nam, gây lo ngại cho các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế,” ông Thanh nói trong bài phát biểu.

“Tôi cho rằng, quân đội hai nước phải hết sức kiềm chế, tăng cường hợp tác với nhau, kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động không để có những hành động ngoài tầm kiểm soát. Quân đội hai nước phải thể hiện vai trò tham mưu với lãnh đạo Đảng, Nhà nước xử lý thỏa đáng vấn đề một cách bình tĩnh, kiên trì, để không xảy ra xung đột, càng không để xảy ra chiến tranh,” Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói thêm.

Các bài liên quan

Nhật Ký Biển Đông: Trận Chiến Ngọai Giao, Công Luận và Pháp Lý

http://www.vietbao.com/a222088/nhat-ky-bien-dong-tran-chien-ngoai-giao-cong-luan-va-phap-ly

Đào Văn Bình

Hai tuần lễ sau cùng của Tháng 5, Nhật Ký Biển Đông ghi nhận những biến chuyển quan trọng như sau:

-Báo Điện Tử Thanh Niên ngày 19/5/2014: “Nhật Bản có thể can dự vào xung đột ở biển Đông nếu quyết định mở rộng quyền phòng vệ tập thể đối với các nước Đông Nam Á. Đó là nhận định của Asahi Shimbun, tờ báo lớn thứ hai của Nhật. Theo Asahi Shimbun, một số quan chức cấp cao của Nhật đã đề cập khả năng mở rộng quyền phòng vệ tập thể không chỉ đối với Mỹ mà còn cả những quốc gia như Philippines, Malaysia, Indonesia và Việt Nam.”

-TTX/VN Ngày 20/5/2014: “Trả lời câu hỏi của phóng viên TTX/VN tại Liên hợp quốc trong cuộc họp báo ngày 19-5, ông Stephane Dujarric (Xti-phen Đu-gia-rích), người phát ngôn LHQ, cho biết vấn đề căng thẳng trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được Tổng Thư ký Ban Ki-moon (Ban Ki Mun) thảo luận với giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc nhân chuyến thăm nước này.”

-BBC tiếng Việt ngày 20/5/2014: Trong cuộc họp các bộ trưởng quốc phòng Asean tại Miến Điện hôm 20/5. “Thông Tấn Xã Việt Nam tường thuật Bộ trưởng Phùng Quang Thanh phát biểu tại Myanmar rằng Việt Nam “sẽ hết sức kiềm chế để không xảy ra xung đột quân sự trên biển. Chúng tôi không sử dụng máy bay, tàu tên lửa, tàu pháo, lực lượng đặc công người nhái tấn công, phá hủy giàn khoan của Trung Quốc. Việt Nam chỉ sử dụng các tàu cảnh sát biển, tàu kiểm ngư và tàu cá của ngư dân để bảo vệ chủ quyền.” Trong khi đó, Tân Hoa Xã đưa tin Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã mạnh mẽ chỉ trích Việt Nam khi gặp người tương nhiệm Phùng Quang Thanh tại hội nghị ở Naypyidaw, Myanmar.

-RFI tiếng Việt ngày 20/5/2014: Với tiêu đề “Giàn khoan HD-981 : Indonesia can dự mạnh mẽ hơn vào cuộc đối đầu Việt-Trung” RFI đưa tin, “Mục tiêu được Ngoại trưởng Indonesia tuyên bố vào hôm nay 20/05/2014 là để giúp ổn định tình hình, nhưng theo giới phân tích, Jakarta đã tung ra một thông điệp cứng rắn hơn về phía Bắc Kinh. Trả lời phỏng vấn nhật báo Mỹ Wall Street Journal, Ngoại trưởng Marty Natalegawa như đã lần lượt phản bác một số quan điểm từng được Trung Quốc đưa ra để biện minh cho hành động leo thang tranh chấp với Việt Nam tại vùng quần đảo Hoàng Sa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.” Ngọai trưởng Indonesia nói rằng hai bên đều nói tự kiềm chế, nhưng thế nào là tự kiềm chế?

-Voive of Russia ngày 21/5/2014: Tại Hội Nghị Tương Giao và Những Biện Pháp Xây Dựng Niềm Tin Ở Châu Á (Conference on Interaction and Confidence Building Measures in Asia, or CICA) diễn ra ở Thượng Hải. Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố, “Khu vực này đòi hỏi phải có một kiến ​​trúc an ninh đảm bảo tính chất bình đẳng của sự qua lại, sự cân bằng đích thực và hài hòa lợi ích”. Còn Ô. Tập Cận Bình ngầm cảnh cáo những liên minh quân sự mới đây là sẽ không đem lại lợi ích an ninh cho khu vực, nhưng cam kết sẽ giải quyết những tranh chấp tại Biển Đông bằng giải pháp hòa bình. Nhưng không biết chuyện vẽ “Đường Lưỡi Bò” rồi áp đặt luật lệ đánh cá, chuyển bãi đá ngầm thành phi đạo, đặt giàn khoan rồi đem cả trăm tàu chiến, máy bay, tàu hải giám, tàu ngư chính tới để bảo vệ giàn khoan có phải là biện pháp “hòa bình” không? Nhân dịp này Ô. Tập Cận Bình cũng đề nghị thiết lập một cấu trúc hợp tác an ninh bao gồm Trung Quốc, Nga và Iran để ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ mà ông gọi là “những tình huống khẩn cấp lớn lao”.

-VOV ngày 21/5/2014: “Trong phiên điều trần tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ vào sáng nay (21/5, theo giờ Việt Nam), các nghị sỹ Mỹ đã bày tỏ mối lo ngại đặc biệt trước hàng loạt các hành động gây căng thẳng của Trung Quốc trong thời gian qua. Ngay trong phần hỏi đáp đầu tiên với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á-Thái Bình Dương, Daniel Russel, nhiều Hạ nghị sỹ đã mạnh mẽ lên án việc Trung Quốc đặt giàn khoan dầu trong vùng biển của Việt Nam.Trả lời câu hỏi về phản ứng của Mỹ, Trợ lý Ngoại trưởng Daniel Russel cho biết: “Mỹ đã trao đổi trực tiếp với Trung Quốc về những vấn đề này qua kênh ngoại giao và nói thẳng rằng Trung Quốc phải sử dụng biện pháp ngoại giao thay vì vũ lực. Vấn đề ở đây không phải là tiềm lực của Trung Quốc mạnh như thế nào mà là cơ sở pháp lý của nước này mạnh như thế nào trong các tranh chấp lãnh thổ. Mỹ không phản đối quyền đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc nhưng phản đối các hành vi cưỡng ép, hăm dọa và phi ngoại giao”.

-BBC tiếng Việt ngày 21/5/2014: Nhân dịp tham dự Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới về Đông Á 2014 tổ chức tai Phi Luật Tân, “Thủ tướng Việt Nam nói trong chuyến thăm Philippines hôm 21/05 rằng việc Trung Quốc đặt giàn khoan ở vùng biển Đông đe dọa nghiêm trọng hòa bình. Sau cuộc họp với Tổng thống Philippines Benigno Aquino, ông Nguyễn Tấn Dũng nói lãnh đạo hai nước đã đồng thuận trong việc Trung Quốc nên bị cộng đồng quốc tế lên án về vụ giàn khoan và rất nhiều các hành động trái phép khác trên biển.” Cũng theo BBC, Giáo Sư Carl Thayer nhận định như sau, “Việc Việt Nam cùng sát vai với một đồng minh của Hoa Kỳ và kêu gọi trực tiếp để có sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế là chưa có tiền lệ.” GS. Carl Thayer cũng nói rằng, “Việt Nam phải chơi tất cả lá bài họ có trong tay vì rõ ràng là ASEAN đã không phản đối Trung Quốc.”

-Ngày 22/5/2014: Trả lời các câu hỏi của các phóng viên Reuters và AP, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam nói, “Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó. Có lẽ như tất cả các nước, Việt Nam chúng tôi đang cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế”. Trả lời câu hỏi trong bối cảnh căng thẳng leo thang hiện nay ở Biển Đông, Việt Nam có những đề nghị gì đối với cộng đồng quốc tế, có xem xét tham gia các liên minh an ninh không? Ô. Nguyễn Tấn Dũng đáp, “Việt Nam không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào để chống lại một quốc gia khác. Đây là chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam. Chúng tôi đã công khai về điều này rất nhiều lần với thế giới. ”

-Báo Điện Tử Thanh Niên ngày 22/5/2014: “Tham dự Hội thảo quốc tế về tương lai châu Á lần thứ 20 do hãng tin Nikkei tổ chức. Nikkei trích các nguồn tin chính phủ Nhật Bản cho hay, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam và Thủ tướng Shinzo Abe “đồng ý tăng cường hợp tác nhằm bảo đảm an ninh biển giữa lúc Trung Quốc ngày càng hung hăng trong các vùng biển lân cận”. Cũng trong hôm qua, nguồn tin chính phủ Nhật Bản cho biết Ngoại trưởng Fumio Kishida sẽ thăm Hà Nội vào cuối tháng 6 để thảo luận với Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhằm đẩy nhanh kế hoạch hỗ trợ tàu tuần tra bảo vệ biển Đông cho Việt Nam.”

-Báo Điện Tử Thanh Niên ngày 22/5/2014: Khi được yêu cầu bình luận về phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Patrick Ventrell nói, “Mỹ ủng hộ việc dùng kênh ngoại giao và các biện pháp hòa bình khác để kiểm soát và giải quyết bất đồng, chẳng hạn như nhờ đến tòa án quốc tế hoặc các cơ chế pháp lý quốc tế khác”. Reuters bình luận động thái này của Mỹ nhiều khả năng sẽ khiến Bắc Kinh bực tức.

-AP ngày 23/5/2014: Tư Lệnh Thái Bình Dương, Đô Đốc Locklear nói với báo chí bên lề Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới về Đông Á tổ chức tại Manila, “Sau ba tuần đụng chạm căng thẳng tại Giàn Khoan Haiyang 981 tại Biển Đông, tôi thật lo lắng, theo tôi, nguy cơ tính tóan sai lầm thật cao, tôi khuyến khích hai bên kiềm chế.”

-BBC tiếng Việt ngày23/5/2014: Trong một cuộc họp báo quốc tế tại Hà Nội, Ô. Trần Duy Hải -Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia nói, “Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa. Bạn không thể cho ai thứ mà bạn chưa có quyền sở hữu, quản lý được. Vậy nên điều đó càng khẳng định công văn của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý.”

-Bloomberg News ngày 25/5/2014: Bộ Trưởng Quốc Phòng Nhật Bản tsunori Onodera tố cáo máy bay chiến đấu Trung Quốc đã bay sát máy bay trinh sát Nhật chỉ cách 30 mét và coi đây là hành động nguy hiểm. Còn Trung Quốc cảnh cáo Nhật Bản không được xâm nhập vào cuộc thao diễn hải quân Trung Quốc với Nga.

-Nguồn tin Canada ngày 25/5/2014: “Ba tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo liên lục địa với tầm bắn 4900 dặm đã được nhìn thấy ở vùng biển ngoài khơi Đảo Hải Nam, cực nam Trung Quốc. Tờ Washington Free Beacon ngày 28/5/2014 xác nhận tin và hình ảnh này.

-Thanh Niên Online ngày 25/5/2014: “Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long phát biểu tại hội nghị về tương lai châu Á ở Nhật ngày 23/5/2014: Chiến tranh tại châu Á không phải là điều không thể xảy ra nếu căng thẳng trong khu vực không được giải quyết một cách có trách nhiệm,”

-VnExpressngày 26/5/2014: “Ngày 26/5, lực lượng Kiểm ngư Việt Nam phát hiện Trung Quốc đưa tàu quét mìn hoạt động trong khu vực hạ đặt giàn khoan trái phép ngoài tàu tên lửa tấn công nhanh.”

-Reuters ngày 26/5/2014: Vào ngày Thứ Hai 26/5/2014, phát ngôn viên Bộ Ngọai Giao Trung Quốc, “Nhìn Bộ Trưởng Ngọai Giao Việt Nam tổ chức cuộc họp báo vào Thứ Sáu vừa rồi về chủ quyền Biển Đông, tôi thấy chuyện rất là lố bịch (ridiculous)”.

-Thanh Niên Online ngày 27/5/2014: “Ngày 27/5/2014 Chánh Văn Phòng Thủ Tướng Nhật Bản yêu cầu Trung Quốc kiềm chế không để căng thẳng leo thang ở Biển Đông sau khi có tin tàu cá của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm trong vùng biển tranh chấp ngày 25/5/2014.”

-BBC tiếng Việt ngày 27/5/2014: Tiến Sĩ Hoàng Ngọc Giao- Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Chính Sách Pháp Luật và Phát Triển (thuộc Vusta) nói với BBC, “Chuẩn bị hồ sơ kiện Trung Quốc về vụ giàn khoan Hải Dương 981 tại Hoàng Sa, trên Biển Đông không mất quá lâu về mặt thời gian”.

-RFI ngày 28/5/2014: “Hôm qua, 27/05/2014, Bắc Kinh đã phản ứng mạnh mẽ về tuyên bố của phía Nhật Bản lên án vụ tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá của Việt Nam trên Biển Đông. Trong khi đó, tờ Yomiuri của Nhật số ra ngày hôm nay, trích dẫn nguồn tin từ bộ Quốc phòng Nhật Bản, cho biết nước này sẽ điều một tàu vận tải đổ bộ có bãi đáp cho tám trực thăng chuyển quân và chống tàu ngầm thuộc Lực lượng Phòng vệ vùng biển đến Biển Đông chở theo 140 binh lính Mỹ và Úc tham gia diễn tập cứu hộ với Việt Nam, Cam Bốt và Philippines. Cuộc diễn tập cứu hộ này cũng là nhằm thể hiện tình đoàn kết của Nhật, Hoa Kỳ và Úc đối với các nước Đông Nam Á trước Trung Quốc. Tàu Kunisaki sẽ đến Việt Nam ngày 06/06. Đây là lần đầu tiên tàu Lực lượng phòng vệ vùng biển Nhật Bản tham gia vào một hoạt động như vậy. ”

-VOV ngày 28/5/2014: Trong cuộc gặp gỡ báo chí diễn ra chiều 28/5 tại Hà Nội, Thượng nghị sỹ Mỹ Benjamin Cardin, Chủ tịch Tiểu ban Đông Á-Thái Bình Dương thuộc Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ nói, “Các hành vi của Trung Quốc không chỉ đe dọa đến an ninh của Việt Nam mà còn đe dọa đến an toàn, an ninh hàng hải của cả khu vực, ảnh hưởng đến những lợi ích của Mỹ.”

-Bloomberg ngày 30/5/2014: Tại Diễn Đàn An Ninh Shangri-La, Singapore Thủ Tướng Nhật Bản Abe tuyên bố, “Nhật Bản sẽ không từ bỏ một nỗ lực nào để giúp các quốc gia Đông Nam Á bảo vệ biển và cam kết trợ giúp mạnh mẽ cho Phi Luật Tân và Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc.” Tuyên bố này coi như lời tuyên chiến trực tiếp đối đầu với Trung Quốc tại Biển Đông.

-AP ngày 31/5/2014: Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel nói tại Diễn Đàn An Ninh Shangri-La, “Tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc làm bất ổn khu vực và chuyện Bắc Kinh không giải quyết những tranh chấp đe dọa sự phát triển lâu dài của Đông Á.”

Nhận Định:

Trong lúc trận chiến giằng co ngày đêm trên địa bàn giàn khoan Haiyang 981 với thiệt hại nặng nề cho lực lượng Cảnh Sát Biển và Kiểm Ngư kể cả ngư dân Việt Nam vẫn tiếp diễn (30 tàu bị đâm húc) thì trận chiến ngọai giao, tranh thủ công luận và chuẩn bị pháp lý cũng rất căng thẳng. Tin tức về những cọ sát ở giàn khoan và nhất là lời tuyên bố của Ô. Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến công du tham dự Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới về Đông Á, gặp gỡ tổng thống Phi Luật Tân được loan tải dường như muốn lấn át cả những tin tức nóng bỏng về cuộc khủng hoảng Ukraine. Chưa bao giờ số lượng học giả, nhà bình luận, nghiêu cứu trên khắp thế giới lại đưa ra giả thuyết, lời bình, phỏng đoán về cuộc khủng hoảng Biển Đông nhiều đến như vậy. Trong mặt trận ngọai giao, Nhật Bản là nước hỗ trợ Việt Nam mạnh mẽ nhất. Quốc Hội Hoa Kỳ rất nhiệt tình. Còn hành pháp Hoa Kỳ tức Ô. Obama vẫn còn e dè, diễn văn thì quá nhiều văn chương, bóng bẩy. Nếu nổ ra chiến tranh, chắc chắn Nhật Bản sẽ đứng bên cạnh Việt Nam trong học thuyết “Phòng Thủ Tập Thể” qua việc làm và lời tuyên bố của Ô. Abe tại Đối Thọai Shangri-La ngày 30/5/2014.

Ba trận chiến này đang tạo áp lực nặng nề lên Bắc Kinh. Do thất thế về căn bản pháp lý và công luận, Hoa Lục bắt đầu mất bình tĩnh, hành xử man rợ và bộ ngọai giao nói năng thô lỗ không xứng với tư cách của một đại cường. Đây là khúc quanh nguy hiểm không phải chỉ liên quan đến vận mệnh Việt Nam mà cả vận mệnh của Trung Quốc. Khi Việt Nam còn do dự thì trận chiến âm ỉ. Khi Việt Nam “chấp nhận thương đau” và” Vàng quý nhưng không quý bằng chủ quyền quốc gia” thì trận chiến nổ lớn. Theo các nhà nghiên cứu, Hoa Lục đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng khi dồn Việt Nam vào chân tường. Nếu Việt Nam không thể sống chung với Trung Quốc thì không một ai trên thế giới này có thể sống chung với Trung Quốc. Dù Việt Nam có tan nát vì chiến tranh nhưng thế giới sẽ mau chóng giúp Việt Nam khôi phục. Nhưng Hoa Lục sẽ phá sản hoàn toàn trên các lãnh vực ngọai giao, uy tín và thương mại…trên quy mô toàn cầu. Thế giới sẽ nhìn Hoa Lục như một tái sinh của Hitler và Quân Phiệt Nhật và đẩy Hoa Lục vào chu kỳ khủng hoảng. Lúc đó một liên minh quân sự rộng lớn bao gồm: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Singapore, Ấn Độ, Nam Dương, Mã Lai sẽ không còn úp mở mà công khai ra mặt đối đầu với Trung Quốc. Ngày 24/5/2014 BBC tiếng Việt đã đăng bài bình luận của Giáo Sư Francois Huchet thuộc Viện Nghiên Cứu Quốc Gia về Ngôn Ngữ và Văn Hóa Phương Đông của Pháp tại Paris (INALCO): “Trung Quốc cần thận trọng nếu không muốn mắc sai lầm chiến lược khi làm cho Việt Nam và nhiều nước láng giềng nổi giận vì những hành động khiêu khích và thách thức chủ quyền…tính toán của ê kíp lãnh đạo do ông Tập Cận Bình đứng đầu có thể đang dẫn tới một sai lầm lớn. Sau một loạt các diễn biến, tôi cho rằng Trung Quốc đã đang nhận thấy một tình thế nguy hiểm, bên bờ xảy ra, khi một loạt quốc gia xung quanh Trung Quốc từ Nhật Bản tới Việt Nam, hay Philippines và Hàn Quốc thảo luận với nhau và đều nổi giận với Trung Quốc. ” Reuters ngày hôm nay 31/5/2014 trích dẫn Tân Hoa Xã nói rằng trong dịp gặp gỡ Thủ Tướng Mã Lai Najib Razak đang thăm viếng nước này, Chủ Tịch Tập Cận Bình tuyên bố, “Chúng tôi sẽ không bao giờ khuấy động rắc rối, nhưng sẽ phản ứng một cách cần thiết đối với sự khiêu khích của quốc gia nào đó”. Hiện nay cả thế giới đều nói Trung Quốc đang khiêu khích Nhật Bản, Phi Luật Tân và Việt Nam. Nhưng báo chí Trung Quốc lại nói chính Nhật Bản, Phi Luật Tân và Việt Nam khiêu khích Trung Quốc cho nên Trung Quốc buộc lòng phải “phản ứng một cách cần thiết”. Vậy thì lời tuyên bố của Ô. Tập Cận Bình chẳng có ý nghĩa gì cả.

Lịch sử cổ đại Trung Hoa đã từng sản sinh ra những nhân vật vĩ đại về tư tưởng, triết học, ngọai giao và an bang tế thế. Nhưng lịch sử cận đại Trung Hoa lại toàn sản sinh ra những nhân vật lãnh đạo ngu xuẩn và hung ác. Xã hội cũng như con người Trung Hoa cả trăm năm qua không phải mẫu mực, tốt lành để thế giới kinh trọng, học hỏi. Nhưng không hiểu bằt nguồn từ đâu các nhà cai trị Trung Hoa luôn luôn coi mình là “cái rốn của vũ trụ”. Có thể tư tưởng ngạo mạn này phát xuất từ ý niệm “Con Trời” của thời phong kiến. Trong thế giới tự do cạnh tranh ngày hôm nay không ai bài bác hay ghen tỵ chuyện Trung Quốc trở thành siêu cường hoặc tranh ngôi bá chủ thế giới với Hoa Kỳ. Nhưng sự “trỗi dậy để trở thành siêu cường” phải làm trong hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế và trong tinh thần trách nhiệm. Tràch nhiệm có nghĩa là phải gìn giữ hòa bình và không gây bất ổn cho thế giới. Vạch một “Đường Lưỡi Bò” bao gồm 90% biển đảo của các nước lân bang nói rằng có từ đời Hán, rồi ban hành lệnh cấm đánh cá, đem tàu ngư chính, tàu hải giám và hằng trăm tàu dánh cá tới để vơ vét tài nguyên và chiếm đóng biển đảo, biến các bãi đá ngầm thành phi đạo, ngang nhiên thiết lập thành phố để quản trị hành chính các vùng biển đảo vừa cưỡng chiếm, cho đấu thầu khai thác tài nguyên trên các vùng thuộc thềm lục địa của các quốc gia khác. Và mới đây nhất cho giàn khoan khổng lồ tới khoan dầu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam với sự bảo vệ của chiến hạm, trực thăng và tàu vét mìn. Tất cả hành động trên không thề gọi là “hòa bình” mà là hành vi “cướp biển trên quy mô quốc gia” theo như nhận định của học giả Carl Thayer.

Vì quá nóng vội và tham vọng, cộng thêm với sự o ép của giới quân phiệt hiếu chiến, Hoa Lục đang lao vào cuộc phiêu lưu cực kỳ nguy hiểm cho Đông Nam Á và Á Châu. Không phải hiện nay Trung Hoa không có “hiền tài”. Nhưng “hiền tài” không được các nhà lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc lắng nghe, chẳng hạn như học giả Lý Lệnh Hoa đã từng nói Trung Quốc chẳng có cơ sở pháp lý nào về Đường Lưỡi Bò. Nếu thực thi Đường Lưỡi Bò tức đẩy cả dân tộc Trung Hoa vào cuộc phiêu lưu không lối thóat. Khi trí thức bị gạt bỏ thì thế nào đất nước cũng xụp đổ cho dù có mạnh như Quốc Xã Đức, Quân Phiệt Nhật, Tần Thủy Hoàng, hay Mông Cổ đi nữa.

Lắng nghe tiếng nói của người dân để lấy “thế nước”. Lắng nghe ý kiến các bậc sĩ phu để hình thành “sách lược”. Dân là thế mạnh của nước, nhưng đánh thắng họăc giữ yên bờ cõi là trí tuệ của sĩ phu. Quần chúng cuồng nhiệt xuống đường biểu tình nhưng sau đó lại về nhà lao vào cuộc sống áo cơm và không có sách lược. Đất nước mà còn có sĩ phu thì đất nước tồn tại, dù giang sơn có nguy biến như thế nào đi nữa. Sĩ phu ở đây là các bậc trí thức, các nhà quân sự, ngọai giao có khả năng hình thành sách lược như Lý Thường Kiệt, Thái Sư TrầnThủ Độ, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi chứ không phải trí thức bàn tán vu vơ. Đây là thuật trị nước “Non sông muôn thuở vững âu vàng” của các bậc minh quân Đại Việt. Đó là lý do tại sao một dân tộc nhỏ bé như Việt Nam vẫn tồn tại sau bao nhiêu giông bão của lịch sử và ngửng cao đầu với thế giới.

Trung Quốc muốn trở thành siêu cường nhưng phải biết lãnh đạo một siêu cường không dễ. Phạm sai lầm bình thường thì còn sửa chữa được. Nhưng nếu phạm phải sai lầm chiến lược thỉ tiêu vong. Sai lầm chiến lược của Trung Quốc ở đây là đòi khống chế một vùng biển – không phải là vùng biển hoang – mà là “nồi cơm hũ gạo của thế giới” bằng cách chiếm đọat biển đảo của các nước nhỏ, khiến các đại cường liên minh lại để “thế thiên hành đạo” tru diệt mình. Sự thất bại đưa tới xụp đổ của Trung Quốc nếu xảy ra theo như tiên đoán thì cũng chỉ là “Thuận thiên giả tồn. Nghịch thiên giả vong”. Thiên ở đây là lòng người. Khi mà toàn bộ Đông Nam Á, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc Châu nhìn Hoa Lục như một đe dọa an ninh của họ thì “lòng người không còn tựa Hoa Lục nữa rồi”. Khi “lòng người” đã không còn thì thế ngọai giao xụp đổ. Đó là lúc Hoa Lục dù mạnh gấp ba lần bây giờ cũng sẽ bại vong.

Đào Văn Bình
(California ngày 31/5/2014)

Căng thẳng Biển Đông: Việt Nam tìm cách thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ

Anh Khôi chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Shannon Tiezzi, Tạp chi Diplomat

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng trờ nên hung hăng trong khu vực, Hà Nội và Washington dường như đang ngã lại gần nhau hơn.

http://phiatruoc.info/cang-thang-bien-dong-viet-nam-tim-cach-that-chat-quan-he-voi-hoa-ky/

U.S. Secretary of State John Kerry and Vietnam's Foreign Minister Pham Binh Minh hold a joint news conference in Hanoi

Căng thẳng giữa hai nước Việt–Trung vẫn tiếp tục trên đà căng thẳng sau sự cố chìm tàu ở Biển Đông do Trung Quốc gây ra ngày hôm qua. Việt Nam cáo buộc tàu cá Trung Quốc đâm tàu của họ trong khi Trung Quốc bác bỏ và đổ lỗi cho phía Hà Nội. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã lên tiếng kêu gọi cộng đồng quốc tế lên án hành động ngang ngược của Trung Quốc trong vùng biển mà hai nước đang có tranh chấp chủ quyền.

Trong vài ngày vừa qua, Hoa Kỳ đã khá sẵn sàng trong việc hỗ trợ cũng như giúp Việt Nam lên án Bắc Kinh, mặc dù Hà Nội (không giống như Nhật Bản và Philippines) không phải là nước đồng minh của Washington. Ngày hôm qua, khi được hỏi để làm rõ về quan điểm trong vụ căng thẳng Trung Quốc – Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao phát Jen Psaki nói rằng “hành động khiêu khích phần lớn đến từ phía Trung Quốc”. Trước đó, Psaki mô tả vị trí giàn khoan dầu của Trung Quốc như một phần của “mô hình di chuyển đơn phương do Chính phủ Trung Quốc áp đặt trong khu vực”. Mặc dù Hoa Kỳ cố gắng duy trì tính trung lập về vấn đề chủ quyền nhưng phần lớn các quan chức cho rằng Hoa Kỳ không chấp những nỗ lực của Trung Quốc đối với việc phát huy quyền kiểm soát trong khu vực tranh chấp này.

Với những lời lẽ thân thiện đến từ Washington, Việt Nam bắt đầu tìm kiếm cơ hội để củng cố vị trí của mình bằng việc tiến gần hơn với Hoa Kỳ. Carl Thayer đã viết trên mục Flashpoints ngày hôm qua rằng Việt Nam hiện có rất ít lựa chọn chiến lược trước vấn đề tranh chấp với Trung Quốc – và phát triển mối quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ cũng như các đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực dường như là một chiến lược đúng đắn.

Thứ Tư tuần trước, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh đã trao đổi qua điện thoại với Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry về các vụ đụng độ đang diễn ra ở Biển Đông. Ông Minh đã chỉ ra vị trí của Việt Nam và theo Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết thì giữa hai bên [ông Kerry và Minh] đã đạt được một thỏa thuận đáng kể. “Ông Kerry đánh giá cao việc Việt Nam tự kiềm chế cũng như thiện chí của Việt Nam trong việc sử dụng các biện pháp ôn hòa và các kênh đối thoại”, ông Minh cho biết trong một bản tóm tắt cuộc trò chuyện giữa hai người.

Việt Nam và Hoa Kỳ hiện cũng đang củng cố hợp tác trong một số các lĩnh vực khác, đặc biệt giữa lúc Hà Nội ngày càng cảm thấy khó chịu vì các hành động gây hấn của Trung Quốc trong khu vực tranh chấp. Vào ngày 20 tháng Năm vừa qua, Việt Nam tuyên bố sẽ tham gia Sáng kiến ​​An ninh Phổ biến vũ khí (Proliferation Security Initiative – PSI), một động thái mà Hoa Kỳ hoan nghênh. Trong cuộc trò chuyện qua điện thoại với ông Kerry, ông Minh cũng nhấn mạnh mối quan hệ kinh tế đang ngày càng gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam và hứa sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trong tương lai. Việt Nam “sẵn sàng phối hợp với Hoa Kỳ để triển khai các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục tăng cường quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước”, ông Minh nói.

Tuy nhiên, tăng cường quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam không thể hoàn toàn phụ thuộc vào cuộc khủng hoảng giàn khoan ở Biển Đông. Việt Nam đã trở thành một mục tiêu quan trọng của Hoa Kỳ trong chính sách “tái cân bằng tại châu Á” kể từ đầu nhiệm kỳ của chính quyền Obama. Trong khi Washington và Hà Nội nêu bật sự phát triển trong mối quan hệ kinh tế cũng như giữa nhân dân hai nước thì vấn đề Biển Đông luôn luôn được mang ra bàn thảo. Lần đầu tiên Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đề cập đến vấn đề này khi bà ghé thăm Việt Nam hồi năm 2010 và khẳng định Hoa Kỳ muốn các nước trong khu vực giải quyết những tranh chấp một cách êm đẹp.

Kể từ đó, các chuyến thăm qua lại giữa các quan chức Hoa Kỳ và Việt Nam đã trở nên thường xuyên hơn, và sự kiện được chú ý nhiều nhất là chuyến thăm Nhà Trắng của Chủ tịch Trương Tấn Sang hồi tháng Bảy năm ngoái. Tại cuộc họp đó, Obama và Sang đã thông báo thành lập mối “quan hệ đối tác toàn diện” giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Một phần của thỏa thuận này là hai nước hứa hẹn sẽ tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và tái khẳng định sự ủng hộ đối với các cuộc đàm phán nhằm giải quyết tranh chấp một cách ôn hòa. Các cuộc gặp gỡ sau đó đã được cả Hoa Kỳ và Việt Nam tìm cách đề cập đến vấn đề Biển Đông vào các bản tuyên bố chung giữa hai nước.

Hợp tác Mỹ – Việt không chỉ giới hạn đối với vấn đề Biển Đông nhưng vụ tranh chấp hiện nay có thể là yếu tố lớn nhất thúc đẩy Hà Nội và Washington xích lại gần nhau hơn. Quyết định tham gia các sáng kiến ​​đa phương do Hoa Kỳ hậu thuẫn, từ PSI đến Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), đều gần như được gắn liên với niềm hy vọng duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Hoa Kỳ – một cách để Việt Nam tự bảo vệ mình trước các hành động hung hăng của Trung Quốc.

Hà Nội thậm chí còn có nhu cầu tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với Hoa Kỳ hơn phía Nga – một đối tác truyền thống của Việt Nam – giữa lúc Moscow vẫn giữ thái độ im lặng về vụ tranh chấp giàn khoan dầu ở Biển Đông. Moscow đang chuẩn bị hổ trợ cho Hà Nội về các dịch vụ thương mại cũng như đầu tư và thậm chí cả tàu ngầm loại Kilo, nhưng dường như Moscwo không công khai ủng hộ về các vụ tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc. Vì vậy, Việt Nam cần tìm kiếm những nước khác để có thêm sự ủng hộ trên trường quốc tế, và Washington là đối tác có tiềm năng cũng như có nhiều ảnh hưởng nhất.

Trong khi đó, nhìn từ quan điểm của Hoa Kỳ thì gia tăng mối quan hệ với Việt Nam là một trong những cách hứa hẹn nhất để mở rộng chính sách “tái cân bằng tại châu Á” vượt ra ngoài khuôn khổ các nước đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ. Các nhà phê bình lập luận rằng chính sách tái cần bằng chỉ đơn giản là một chiến lược nhằm cải thiện các mối quan hệ liên minh của Hoa Kỳ trong khu vực. Và nếu Washington càng tiến gần với phía Hà Nội thì họ có thể bác bỏ những lời chỉ trích đó một cách dễ dàng, mặc dù chiến lược này chỉ làm Bắc Kinh ngày càng trở nên lo lắng nhiều hơn.

© 2014 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Phạm Chí Dũng : Trung Quốc có tấn công Việt Nam vào thời điểm này ?

Thụy My, RFI, 30-5-14

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140530-pham-chi-dung-trung-quoc-co-tan-cong-viet-nam-vao-thoi-diem-nay

Quân đội Trung Quốc không ngừng được hiện đại hóa, với ngân sách quốc phòng sẽ tăng mỗi năm gần 20%.
Quân đội Trung Quốc không ngừng được hiện đại hóa, với ngân sách quốc phòng sẽ tăng mỗi năm gần 20%. Reuters

Đã gần một tháng, giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc vẫn ngang nhiên hiện diện tại vùng biển Hoàng Sa thuộc vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hàng trăm tàu quân sự trong đó có những tàu hộ vệ tên lửa và tàu cá giả dạng của Bắc Kinh, cùng với máy bay trinh sát hàng ngày hung hãn tấn công, đe dọa các tàu Việt Nam. Trong lúc Biển Đông dậy sóng, những hình ảnh trên mạng cũng hé lộ việc Trung Quốc rầm rộ chuyển quân về phía biên giới Việt-Trung.

Các động thái này khiến mọi người không thể không đặt ra câu hỏi : Liệu chế độ Bắc Kinh sẽ lại tấn công quân sự vào Việt Nam như đã tiến hành vào năm 1979 ?

RFI Việt ngữ đã đặt vấn đề này với nhà bình luận Phạm Chí Dũng, cựu sĩ quan quân đội ở Thành phố Hồ Chí Minh.

RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 đã làm nổi sóng dư luận, với một câu hỏi thẳng thừng, mà về phương diện quân sự là thứ bậc cao nhất trong phòng vệ quốc gia: Liệu Trung Quốc có tấn công quân sự Việt Nam vào thời điểm này? Nhận định của anh ra sao?

TS Phạm Chí Dũng – TP Hồ Chí Minh  30/05/2014 by Thụy My

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Tất nhiên chiến dịch hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc trên vùng lãnh hải của Việt Nam không còn mang tính chất như những vụ khiêu khích và gây hấn thông thường như trước đây. Tính chất lần này nghiêm trọng hơn nhiều và cho thấy rõ ràng đây là một bước đi có tính toán của Bắc Kinh, nằm trong một giai đoạn ngắn hạn nhằm phục vụ cho một chiến dịch trung hạn lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam.

Do đó, không phải vô cớ mà những quốc gia gần gũi về lãnh hải với Việt Nam ở khu vực Biển Đông như Nhật Bản, Philippines và cả Hạm đội 7 của Hoa Kỳ vốn chỉ liên quan gián tiếp, đã phải bắn tín hiệu thực sự lo ngại về động thái mở rộng bành trướng của Trung Quốc. Rồi hẳn nhiên một lần nữa – nhưng lần này nghiêm túc hơn nhiều, cả dư luận lẫn giới quan sát Việt Nam và quốc tế đều muốn tìm lời giải cho việc Trung Quốc có thể tấn công Việt Nam vào thời gian này hay không.

Trước hết, chúng ta hãy xem xét những bất lợi đối với chính thể Trung Quốc nếu họ tiến hành một cuộc tấn công quân sự vào Việt Nam. Theo tôi, có ít nhất một số bất lợi rất đáng kể có thể xảy ra đối với Trung Quốc.

Từ sau cuộc chiến tranh lạnh Mỹ – Liên Xô, thế giới đã tiến vào kỷ nguyên hội nhập và thỏa hiệp với nhau về nhiều mặt, trong đó nổi trội là phương diện buôn bán thương mại song phương và đa phương. Tương quan như thế khiến không một quốc gia có ảnh hưởng nào dám chịu thiệt lớn chỉ đổi lấy cái lợi nhỏ. Một trong số ít những cuộc chiến tranh chấp hải đảo gần đây nhất xảy ra vào năm 1982 giữa người Anh và Achentina ở quần đảo Malvinas, nhưng cũng kết thúc chỉ sau vài tháng. Một chi tiết đáng chú ý là Anh luôn được xem là một trong những nước lớn ở châu Âu và nằm trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Rõ ràng Luân Đôn đã không dám phiêu lưu quân sự.

Còn ở châu Á, Trung Quốc cũng được coi là nước lớn, dù chưa được xếp vào loại siêu cường như Mỹ và Nga. Nhưng Trung Quốc cũng có chân trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và đó là lý do để có thể cho rằng bất kỳ hành động gây hấn hoặc xâm lược nào từ phía Bắc Kinh cũng làm ảnh hưởng đến đại cục địa – chính trị trên thế giới mà các siêu cường khác không thể bỏ qua. Những vụ Trung Quốc gây hấn với Nhật Bản về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hay với Philippines về một số đảo nhỏ đã lập tức gặp phải phản ứng mạnh mẽ của không chỉ các quốc gia này mà với cả cộng đồng quốc tế.

Trừ Nhật có lực lượng phòng vệ bờ biển đủ mạnh, Philippines đã phải tính đến việc tìm kiếm một quan hệ tương trợ quốc phòng với người Mỹ để chống lại ý đồ xâm lăng từ Bắc Kinh. Vào tháng 5/2014, họ đã đạt được kết quả khả quan khi thiết lập được hiệp ước tương trợ quốc phòng với Washington, do vậy sẽ hợp thức hóa sự có mặt của Hạm đội 7 của Hoa Kỳ ở vùng lãnh hải Philippines bất cứ khi nào Trung Quốc gây hấn.

Hậu quả mà Bắc Kinh không tính kỹ trước khi hành động xâm chiếm biển đảo chính là chỗ này. Tức là họ đã khiến một số nước nhỏ trong khu vực đang nổi lên khuynh hướng liên kết với nhau theo cách Phong trào không liên kết vào nửa cuối thế kỷ 20 và tìm đến sự trợ giúp của người Mỹ để hạn chế rủi ro. Xu thế này cũng đang diễn ra với Việt Nam.

Ngay sau vụ việc giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981, chúng ta có thể thấy là giới lãnh đạo Việt Nam, cho dù một số trong đó vẫn thề thốt “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc, nhưng đã không còn dám xem thường hiểm họa ngoại xâm trước mắt và tương lai mất nước không còn quá xa. Và bất chấp tiếng nói hết sức yếu ớt của 3/4 bộ tứ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng ê-kíp của ông đã tìm đến mối liên minh không chính thức đầu tiên với Philippines và sau đó có thể là một mối quan hệ quân sự ở mức độ nào đó với Hoa Kỳ.

Trung Quốc chưa dám tấn công vào thời điểm này

RFI : Theo anh, hoạt động gây hấn của Trung Quốc gây ảnh hưởng thế nào đến chính sách Biển Đông của Hoa Kỳ ngay vào thời điểm này?

Nếu không can thiệp mà để cho Trung Quốc tự tung tự tác, Mỹ sẽ gặp bất lợi lớn về tự do hàng hải, an toàn hàng hải ở Biển Đông và do đó có thể sẽ bị phá sản phần lớn chính sách xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ. Ai cũng biết rằng Biển Đông có vị trí như một cửa ngõ cho giao thương hàng hải và nếu cần có thể khống chế hoạt động quân sự của cả khu vực phía Nam và các nước xung quanh. Hiện nay cuộc đua lớn nhất giữa Trung Quốc và Mỹ chính là điểm xung yếu này. Do vậy nếu bị Trung Quốc qua mặt ở Biển Đông, mục tiêu an toàn hàng hải của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, vai trò của Hạm đội 7 cũng có không ý nghĩa đủ lớn, làm cho chính sách của Mỹ về bảo vệ an ninh thế giới và cũng là an ninh của công dân Mỹ sẽ lạc điệu.

Lời bắn tiếng về mối liên kết “đối tác chiến lược” với Việt Nam của Tư lệnh quân đội Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Locklear là một minh chứng khá hoàn hảo về việc người Mỹ hoàn toàn không bỏ qua ý đồ phong tỏa Biển Đông của Trung Quốc. Mới đây lần đầu tiên từ khi nhậm chức Tổng thống Mỹ, ông Barack Obama đã phải tuyên bố “sẽ điều binh đến Biển Đông” nếu tình hình nơi đây có thể xung đột quân sự.

Chúng ta đang nhận ra rằng người Mỹ không quá câu nệ vào quan hệ làm ăn với Trung quốc, bất chấp quốc gia đông dân nhất thế giới này là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ với giá trị buôn bán hàng năm lên đến 600 tỉ USD. Thậm chí ngược lại, nền kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về tín dụng, nợ xấu, ngân hàng, làn sóng thoái vốn của giới đầu tư nước ngoài, thị trường xuất khẩu, do vậy Trung Quốc phải cần đến các đối tác thương mại như Mỹ và Tây Âu hơn là phương Tây cần đến họ.

Kẻ nào quá tham lam sẽ bị cộng đồng tẩy chay. Cũng như hình ảnh suy yếu của nước Anh vào năm 1982 trong cuộc tranh chấp quần đảo Malvinas với Achentina, những năm gần đây Trung Quốc đã trở thành một trong những quốc gia bị oán ghét nhất trên hành tinh này. Nếu mạo hiểm gây ra một cuộc chiến tranh dù chỉ quy mô nhỏ trong khu vực, Trung Quốc sẽ bị đại đa số quốc gia trong Liên Hiệp Quốc quay lưng và sẽ bị cô lập. Đó chính là điều mà chủ nghĩa Đại Hán phải tính đến một cách rất nghiêm cẩn, cho dù tham vọng bành trướng của họ lớn đến mức nào.

RFI : Trong lịch sử, người Việt Nam luôn sẵn sàng chống lại đến cùng tham vọng xâm lược của Trung Quốc, kể cả sau một ngàn năm Bắc thuộc. Anh có cho rằng lịch sử sẽ lặp lại nếu chiến tranh Trung – Việt nổ ra vào thời gian tới?

Có những dấu hiệu rất cần chú ý và lượng giá. Nếu Trung Quốc đã rất tự tin kéo giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 vào vùng biển Việt Nam thì từ sau khu xảy ra vụ bạo động ở Bình Dương, Đồng Nai và cuộc xung đột dẫn đến chết người ở Hà Tĩnh, các cơ quan tuyên giáo và báo đảng ở Trung Quốc, kể cả Hoàn Cầu Thời Báo là tờ báo hung hăng nhất, đã có vẻ lắng tiếng khá đột ngột. Giả thiết nêu ra là Bắc Kinh đã không tính đúng và đủ về phản ứng của người dân Việt Nam đối với bước đầu xâm lăng của họ, cho dù có thể họ đã lường trước và còn có thể “điều khiển” được phản ứng của giới lãnh đạo cầm quyền Việt Nam.

Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ chủ nghĩa Đại Hán nô dịch được đất nước này như một chư hầu trọn vẹn. Sau hàng loạt triều đại lịch sử kháng Trung thành công như từ thời Hai Bà Trưng, Đinh, Lê, Lý và Hậu Lê, những cuộc xâm lược gần nhất của Trung Quốc chỉ là sự tồn tại rất ngắn ngủi của đội quân hai chục vạn của triều đình nhà Thanh ở Thăng Long vào cuối thế kỷ 18. Hoặc là sự tồn tại ngắn ngủi không kém của đội quân cũng hai chục vạn người của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1945. Và ngắn ngủi nhất là lực lượng lên đến sáu chục vạn người của Trung Quốc nhưng bị thiệt hại đến 10% quân số trong cuộc tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979.

Lịch sử và ưu thế kháng chiến đã nghiêng về Việt Nam, đó là điều hiển hiện. Biện chứng lịch sử cũng cho thấy các chế độ chính trị Trung Hoa luôn sai lầm khi đánh giá thấp tinh thần phản kháng của người dân và quân đội Việt Nam, đặc biệt vào những bối cảnh mà họ cho là triều chính Việt Nam đang phân hóa và rối loạn như hiện thời.

Nhưng cũng chính yếu tố rối loạn nội bộ mà Trung Quốc tưởng như một ưu thế để có thể gây áp lực với Hà Nội lại khiến nảy sinh xu hướng công khai hóa quan điểm ngả sang phương Tây của một nhóm không nhỏ các chính khách Việt Nam. Tôi cho đây chính là một bất lợi lớn đối với Trung Quốc khi phần lớn, nếu không nói là tất cả giới lãnh đạo Việt Nam đã như tỉnh ra, ngộ ra bản chất thật của mối quan hệ “Bốn Tốt” với Trung Quốc là như thế nào. Cùng lúc, bất cứ quan chức Việt Nam nào cũng phải tính đến tương lai cho cá nhân họ nếu chủ hàng trước Trung Quốc. Tương lai ấy cùng lắm cũng chỉ là “ngựa xe vài cỗ, quân hầu lơ thơ” nếu Việt Nam bị biến thành chư hầu của người bạn phương Bắc đầy dã tâm.

Một bất lợi khác là nếu Trung Quốc tấn công Việt Nam vào thời điểm này sẽ khiến cho một bộ phận quan chức “thân Trung” bị lộ diện và sẽ bị cô lập. Truyền thống người Việt xưa nay không thể chấp nhận những Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống, và nếu những nhân vật tái thế thời hiện đại này bị cô lập quá sớm, Trung Quốc sẽ không còn nhiều cơ hội để thực hiện chiến thuật mua chuộc, không chế lãnh đạo để sau đó bắt toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam phải phụ thuộc vào ý chí của Bắc Kinh.

RFI : Thế còn bất lợi về hiệu quả kinh tế nếu Trung Quốc xâm lược Việt Nam?

Đây là câu hỏi khó trả lời nhất đối với Trung Quốc. Câu hỏi này cũng dẫn đến một câu hỏi tiếp nối là Trung Quốc tấn công Việt Nam sẽ được lợi gì, nếu thiệt hại về kinh tế của họ là khó có thể bù đắp được?

Trong lịch sử buôn bán hai chiều với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều nhất. Ít nhất 35% nguyên liệu dùng cho sản xuất của Việt Nam phải nhập khẩu từ Trung Quốc, và cơ cấu này đang gây khó rất lớn cho việc Việt Nam tham gia vào TPP, ứng với một điều kiện không thể thay đổi của TPP là Việt Nam phải chuyển đổi vùng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước ngoài TPP như Trung Quốc về các nước trong khối TPP.

Chỉ từ sau năm 2000 đến nay, giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng chẵn 100 lần, và hiện thời Việt Nam đang phải nhập siêu từ 23-24 tỉ USD hàng năm từ Trung Quốc. Đó là một sự mất cân xứng quá lớn và làm lợi rất nhiều cho Trung Quốc. Cũng cho đến nay, Trung Quốc có gần 940 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư gần 5 tỉ USD…

Những giá trị thương mại và đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam cho thấy họ có khá nhiều việc phải lo lắng nếu chiến tranh nổ ra. Khi đó, cơ chế nhập khẩu chính thức qua cửa khẩu Việt Nam sẽ đương nhiên chấm dứt, rất nhiều doanh nghiệp Trung Quốc sẽ khó lòng tồn tại được.

Cũng rất có thể sẽ xảy ra một làn sóng tẩy chay hàng hóa Trung Quốc và càng làm khó cho sự tồn vong của giới đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam. Minh chứng mà chúng ta có thể thấy là sau vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981, ở nhiều vùng và từ một doanh nghiệp lớn đến một bà bán tạp hóa ở chợ, tâm lý ngán ngại nhập hàng Trung Quốc là khá phổ biến. Mặc dù cho tới nay chưa có một chiến dịch nào về tẩy chay hàng Trung Quốc được công bố chính thức, nhưng rõ ràng một số mặt hàng Trung Quốc vẫn bị coi là ẩn chứa rủi ro độc tố như thực phẩm, nhựa… đã bị giảm đáng kể sức tiêu thụ.

Với không ít bất lợi như vậy, tôi cho rằng Trung Quốc sẽ chưa dám mạo hiểm tấn công Việt Nam ngay vào thời điểm này.

RFI : Nhưng hiện thời vẫn đang có thông tin có thể xảy ra chiến tranh, chẳng hạn như một tờ báo Hàn Quốc đưa tin về việc có đến 300.000 quân Trung Quốc đã áp sát biên giới Việt – Trung?

Tôi cho rằng tin tức đó chỉ đơn giản là chiến tranh tâm lý, do chính Trung Quốc tung ra trên mạng Internet và cho vài tờ báo nước ngoài. Thậm chí còn có tin đồn về lực lượng quân đội Trung Quốc dùng để tấn công Việt Nam lên đến hơn 500.000 người, hoạch định sẽ công chiếm Việt Nam trong đúng một tháng, và chiến tranh có thể diễn ra ngay vào mùa hè này, thậm chí vào tháng Sáu năm 2014…

Bao giờ cũng vậy, trước hoặc sau mỗi hành động gây hấn, Bắc Kinh đều sử dụng tối đa loa phóng thanh một chiều nhằm mục đích gây nhiễu. Một chuyện khá khôi hài khác là giữa hai nhà nước Trung Quốc và Việt Nam đang diễn ra một trận khẩu chiến mà dân Hà Nội gọi Bắc kinh là “Chí Phèo”, còn Trung Quốc lại coi Việt Nam là nhân vật “AQ” trong tiểu thuyết của nhà văn Lỗ Tấn…

Thực ra tôi không để ý đến hoạt động này nhiều. Vì điều đơn giản mà chúng ta có thể rút ra là nếu Trung Quốc thực sự có kế hoạch gây xung đột quân sự hoặc tấn công tổng lực Việt Nam, để giữ yếu tố bất ngờ trong khai chiến, họ đã không cần phải khẩu chiến theo kiểu cù nhầy, hoặc tung thông tin giả quá hung hãn để tạo tin đồn và gây xáo trộn đời sống chính trị ở Việt Nam. Một dẫn chứng khác cũng dễ thấy là nếu Trung Quốc có ý đồ tấn công quân sự, họ đã không phải dùng lại các tiểu xảo và chơi xấu, như dùng “tàu lạ” – từ mà một số báo nhà nước ở Việt Nam cho đến giờ này vẫn chưa thể chui ra khỏi chăn – để đâm húc tàu cá Việt mà đã gây ra hai cái chết cho ngư dân ở Quảng Ninh vừa qua.

Theo tôi, sẽ chẳng có một hành động mạo muội xứng đáng nào từ phía Trung Quốc ngay vào thời điểm này. Kể cả hiện tượng họ rút công nhân Trung Quốc đang làm việc ở Hà Tĩnh về nước hay sơ tán chuyên gia cũng chỉ là động tác tâm lý nhằm gây áp lực với Bộ Chính trị Việt Nam mà thôi.

Khi nào Trung Quốc có thể tấn công Việt Nam?

RFI : Nếu Vậy theo anh, Trung Quốc sẽ thực sự tấn công Việt Nam trong những điều kiện gì và vào lúc nào?

Trung Quốc chỉ tấn công Việt Nam nếu hội tụ các điều kiện: kinh tế khủng hoảng, xã hội rối loạn, nội bộ chính trị phân hóa đủ sâu và có thể tan vỡ, sức chiến đấu của quân đội giảm sút mạnh. Và cũng phải thêm một điều kiện không thể thiếu: giới kinh tài Trung Quốc đủ sức chi phối và lũng đoạn phần lớn một số ngành quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Hiện thời, nền kinh tế Việt Nam đang dợm bước chân vào khủng hoảng và tất cả chỉ còn chờ thời gian. Bất ổn xã hội cũng đang mau chóng chuyển thành rối loạn xã hội và có thể dẫn đến khủng hoảng xã hội. Nếu đến năm 2016-2017, kinh tế Việt Nam thật sự rơi vào khủng hoảng thì tất yếu xã hội sẽ khủng hoảng theo. Khủng hoảng xã hội cộng hưởng với khủng hoảng kinh tế hầu như chắc chắn sẽ dẫn đến khủng hoảng chính trị. Đó là điều kiện cần và cũng là điều kiện đủ của một dân tộc trong vận khí suy vong.

Trong trường hợp đó, tôi không hy vọng là quân đội Việt Nam còn duy trì được khả năng sẵn sàng chiến đấu như những năm trước. Và đó sẽ là cơ hội vàng để nếu muốn và không quá bị chi phối bởi sự cô lập của quốc tế, Trung Quốc có thể nuốt gọn Việt Nam trong một kế hoạch quân sự với tỉ lệ ba chọi một.

RFI : Tại sao anh lại cho rằng Trung Quốc cần huy động quân đội ba chọi một, anh có thể giải thích cụ thể thêm được không ?

Xuất phát từ chiến thuật biển người truyền thống của họ.

Trong chiến dịch xâm lược biên giới năm 1979, toàn bộ lực lượng kể cả hậu cần và dự bị của Trung Quốc là 600.000 quân. Trong khi đó, Việt Nam chỉ chủ yếu đối phó bằng lực lượng quân sự địa phương và một bộ phận lực lượng bộ đội chính quy. Có những trận đánh ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, thông báo quân sự hồi đó cho biết tỉ lệ đối kháng giữa quân Trung Quốc và bộ đội Việt Nam lên đến 5/1 và 10/1. Tuy thế, cuộc chiến vẫn kết thúc với thất bại của người Trung Quốc, chiến dịch xâm lược đó đã chấm dứt với 60.000 thi hài của lính Trung Quốc.

Còn bây giờ, có những thông tin nghiên cứu cho biết tuy xét về số lượng, Việt Nam là quốc gia có lực lượng quân đội hùng hậu nhất khu vực Đông Nam Á với khoảng nửa triệu bộ đội chính quy và khoảng 5 triệu quân dự bị, nhưng quân đội Trung Quốc lại duy trì số lượng đông thuộc loại nhất trên thế giới, cùng chi phí quân sự đứng thứ hai chỉ sau Mỹ.

Đó là ưu thế để một khi phát động chiến tranh, Trung Quốc sẽ dễ dàng huy động ít nhất nửa triệu quân từ các tập đoàn quân ở Vân Nam và Quảng Tây, chưa kể hạm đội Nam Hải. Thậm chí tôi cho rằng với chiến thuật biển người được duy trì từ cuộc chiến tranh Triều Tiên những năm 1950, Trung Quốc có thể huy động một lực lượng tăng thiết giáp gấp nhiều lần Việt Nam. Ngay cả với xe tăng họ T của Liên Xô cũ, Trung Quốc cũng có nhiều tăng T72 trở lên, trong khi Việt Nam vẫn chủ yếu là tăng T54, T55.

RFI : Một số chuyên gia đánh giá rằng ưu thế quân sự của Trung Quốc có thể tỏ rõ trên mặt biển, nhưng còn trên đất liền thì sao?

Đúng là Trung Quốc chỉ còn thiếu tàu sân bay. Còn về quân chủng hải quân, họ có đủ các loại tàu, kể cả tàu ngầm lớp kilo. Họ vẫn tự hào và khoe khoang là chỉ riêng hạm đội Nam Hải của họ đã có thể làm chủ cả mặt biển Đông.

Trong khi đó, địa hình duyên hải Việt Nam có lợi thế kinh tế và du lịch là trải dài, nhưng trong chiến tranh điều đó lại thường là nhược điểm vì có thể bị đối phương từ biển đánh úp bất cứ điểm bố phòng mỏng manh hoặc sơ hở nào.

Tuy nhiên, đánh trên bộ thì lại khác hẳn. Dù được trang bị vũ khí và khí tài quân sự tối tân và có vẻ được đánh bóng về khả năng thiện chiến, nhưng quân đội Trung Quốc luôn đi sau Việt Nam khoảng một phần tư thế kỷ về trải nghiệm và kinh nghiệm trận mạc. Đã sáu chục năm qua quân đội Trung Quốc không thực sự chiến đấu, trong khi bộ đội Việt Nam chỉ mới kết thúc chiến tranh tại chiến trường Campuchia từ cuối thập kỷ 80. Sự so le thời gian như thế cho thấy phản xạ tác chiến của bộ đội Việt Nam vẫn cao hơn binh lính Trung Quốc.

Thêm vào đó, nếu tấn công quân sự theo hướng xẻ dọc qua các vùng biên giới phía Bắc về Hà Nội, quân đội Trung Quốc sẽ vấp phải địa hình rừng núi hiểm trở mà lực lượng tăng thiết giáp của họ khó lòng phát huy được hiệu quả tác chiến chiến thuật. Đến lúc đó, có thể Trung Quốc mới được nếm trải chiến thuật chiến tranh du kích của người Việt Nam lợi hại như thế nào.

Trong hầu hết các cuộc kháng Trung trong lịch sử, người Việt đã không bao giờ bỏ trống hậu phương địch quân, đặc biệt tại những vùng sơn cước. Theo tôi, trong trường hợp Trung Quốc tác chiến trên bộ dù với tỉ lệ ba chọi một, xác suất chiến thắng của họ vẫn chỉ là năm ăn năm thua. Họ cần phải chú ý là bộ đội đặc công của Việt Nam rất thiện chiến.

Nhưng đó chỉ mới là về sức kháng cự của quân đội Việt Nam. Còn nếu nhà nước Việt Nam đủ hồi tâm để biết cách huy động sức dân thì một cuộc chiến tranh nhân dân sẽ được hình thành, và đó là điều đáng sợ nhất đối với bất cứ một cường quốc xâm lược nào.

RFI : Nếu một cuộc chiến tranh tổng lực chưa được Trung Quốc phát động vào thời điểm này, họ có thể làm những gì tiếp theo vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981?

Họ sẽ trở lại bài bản của những cuộc gây hấn và khiêu khích từ ít nhất năm 2011 đến nay. Nghĩa là tạo mọi khó khăn đối với ngư dân Việt Nam, dùng tàu cá hoặc tàu hải giám chủ động va chạm hoặc đâm chìm và có thể dẫn tới tử vong cho ngư dân Việt. Trên bộ, họ có thể tiếp nối chuỗi khiêu khích bằng những cuộc xung đột vũ trang quy mô nhỏ và có thể dẫn đến sát thương bộ đội Việt Nam. Tình hình quấy rối như thế cũng có thể tương tự những gì mà lực lượng Khmer Đỏ gây ra ở biên giới Tây Nam đối với thường dân Việt Nam vào năm 1978.

Theo tôi, ý đồ của Trung Quốc là chờ đến năm 2016-2017, khi tình hình Việt Nam xấu hẳn, họ sẽ tấn công theo kịch bản Nga – Crimée. Cần lưu ý là khác hẳn Việt Nam, thế mạnh hiện thời của Trung Quốc là quyền lực tập trung vào một cá nhân là Tập Cận Bình, và Trung Quốc vừa thiết lập quan hệ tay đôi với Nga.

Tuy nhiên, không phải Trung Quốc luôn rảnh tay để hành động. Bản thân Trung Quốc cũng gặp nhiều rắc rối: kinh tế có xu hướng suy thoái, phản kháng xã hội dâng cao, các khu vực tự trị Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông gia tăng bất ổn. Tình hình đó gần như tương tự với không khí xã hội Trung Hoa vào lúc triều đình Mãn Thanh xua hai chục vạn quân do Tôn Sĩ Nghị làm chủ tướng tràn vào Thăng Long trước một Lê Chiêu Thống đi bằng đầu gối.

Do vậy, họa xâm lăng Trung Quốc vẫn có một hy vọng được giải tỏa phần nào bởi chính nguy cơ tan rã từ bên trong của nền kinh tế và do đó của chế độ độc đảng Bắc Kinh thiên về đàn áp như hiện nay. Nếu nguy cơ này được xác nhận thì Trung Quốc dù có gây chiến tranh với Việt Nam cũng nằm trong tình trạng bị suy yếu đáng kể chứ không thể gọi là mạnh mẽ.

Vấn đề còn lại là giới lãnh đạo chủ chốt ở Việt Nam có làm được gì để hạn chế hiểm họa từ Trung Quốc trong vài năm tới.

Nguyễn Tấn Dũng là nhân tố duy nhất?

RFI : Để đối phó với họa ngoại xâm ngày càng hiển hiện, anh có hy vọng nào vào giới lãnh đạo Việt Nam hiện thời?

Nếu không xét đến những gương mặt chính khách chưa xuất hiện, trong tất cả những gương mặt hiện nay và trong khoảng hai năm tới, tôi chỉ hy vọng vào một nhân tố duy nhất là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng hy vọng này cũng chỉ mới manh nha và còn rất chập choạng.

Cơ sở để có thể có đôi chút hy vọng vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là bởi ông ta đang trong tình thế phải “cứu nhà, cứu nước”. Nước mất thì nhà tan. Nhưng muốn cứu nhà thì trước hết và dù muốn hay không cũng phải cứu nước.

Sau vụ giàn khoan Hải Dương 981, có vẻ ông Nguyễn Tấn Dũng đã dứt khoát hơn trong chính sách chuyển hướng xoay trục sang phương Tây. Để đối chọi với Trung Quốc, trước mắt người Việt cần ít nhất sự hỗ trợ của Hạm đội 7 của Mỹ, sau đó là một bản hiệp ước tương trợ quốc phòng với Hoa Kỳ, như kết quả mà Philippines đã vừa đạt được. Và cuối cùng, tốt nhất Việt Nam trở thành một đồng minh quân sự với Hoa Kỳ như trường hợp Nhật Bản và Hàn Quốc.

Tuy nhiên, cần chân thật mà nói rằng hy vọng duy nhất vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rất có thể chỉ là một đốm lửa sớm nở tối tàn. Từ khi nhậm chức thủ tướng vào năm 2006 đến nay, ông Dũng đã đưa ra khá nhiều lời cam kết trước quốc dân đồng bào, nhưng thời gian sau những lời hứa đó lại chỉ là một khoảng trống thất vọng mênh mông.

Còn bây giờ, khi nước đã đến chân và không thể không nhảy, người dân Việt đang chờ đợi những hành động cụ thể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng như tiến hành thủ tục kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, đưa ngay Luật Biểu tình vào đời sống để người dân có cơ hội phản kháng Trung Quốc, chứ không chỉ bằng vài câu tuyên bố có vẻ cảm tính và sẽ bị trôi ngay vào lãng quên nếu không làm gì cả.

RFI
: Xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn hôm nay của RFI Việt ngữ.

Bí mật lớn nhất của cuộc đời Võ Nguyên Giáp

http://danlambaovn.blogspot.com/2014/05/bi-mat-lon-nhat-cua-cuoc-oi-vo-nguyen.html

Hoàng Dũng (Danlambao) – Vì một lý do rất ngẫu nhiên mà gia đình tôi được chuyển về ở gần nhà của Võ đại tướng (con phố có nhiều lãnh đạo lớn của Việt Nam), nhưng cũng vì lý do giữ an toàn cho bản thân mình cho nên tôi cũng không thể tiết lộ sự việc trên đây. Hi hi!
Nói là được làm hàng xóm của Võ đại tướng cho “oai”, chứ thật ra đã có bao giờ tôi được tiếp xúc với vị hàng xóm đặc biệt ấy đâu. Thế rồi, cái ngày “lịch sử” mùng 4 tháng 10 năm 2013 ấy đến, rồi Võ đại tướng đã vĩnh biệt thế gian này đi vào cõi vĩnh hằng, hình như đến lúc ấy tôi mới ngộ ra rằng cuộc đời mình sẽ không bao giờ có cơ hội để tiếp xúc với con người “vĩ đại” ấy nữa, mặc dù đã có những lúc ở rất gần nhau về cự ly.
Tuy nhiên, tôi đã nhầm, điều không ai ngờ tới và “thần thoại” thì lại xảy ra với tôi ngay trong cái thế giới đời thường này.
Vào một buổi đêm đầu hè 2014, thời tiết ở Hà nội rất nóng nực, không khí oi bức và ngột ngạt, lúc ấy đã vào khoảng hơn 1 giờ sáng, tôi thấy trằn trọc khó ngủ và cảm thấy rất khó thở nên trở dậy mở cửa bước ra ngoài hiên nhà, muốn hít thở vài luồng không khí buổi đêm và làm mấy động tác thể dục dưỡng sinh. Giữa cái không gian tĩnh mịch và tối mịt ấy bỗng làm tôi dễ dàng nhận ra một bóng người mờ mờ ở phía góc ngôi nhà của Võ đại tướng. Bất chợt cảm thấy có điều gì đó không bình thường, nhưng thú thật có lẽ trong nhận thức của tôi lúc ấy thì chỉ là lo ngại có kẻ gian nào đang rình mò trộm cắp mà thôi. Theo bản năng của sự tò mò, tôi vẫn tiến vài bước về phía bóng người đó. Và cũng theo bản năng, tôi chợt sững người lại bởi vì bóng người hiện ra trước mắt tôi lúc ấy không phải ai khác, mà chính là Võ đại tướng. Cũng đã sống trên cõi đời này ở quá cái tuổi để sợ ma quỷ, nên tôi không quá hoảng sợ mà la hét hay khóc nấc lên như một đứa trẻ, tôi chỉ nhận ra rằng có một điều gì đó khác thường nên vội dừng chân bước. Sau khoảng khắc do dự thì tôi lại cảm thấy bạo dạn hơn, tôi chủ động lên tiếng trước:
– Chào bác, bác về thăm nhà đấy à?
Không nghe thấy tiếng trả lời, hình như chỉ thấy cái bóng người gật gật. Như đã xác định được rằng phán đoán của mình là chính xác, tôi lại càng tỏ ra tự tin và chủ động hơn.
– Sao bác không vào nhà đi?
Có lẽ hồn ma của người đã sống trên trăm tuổi vẫn là “ma có kinh nghiệm”, hay là cá tính của một võ tướng, hồn ma của Võ đại tướng không hề ngần ngại về sự “âm dương cách biệt” như người ta vẫn nói, lập tức trả lời ngay:
– Muốn vào lắm mà không được.
Lúc này thì tôi đã như hiểu được rằng đây là cơ hội quý báu nhất mà mình có thể được “giao lưu” với một “khai quốc công thần”, tôi chủ động hơn:
– Sao bác lại không vào được?
– Mọi người trong nhà đã đóng kín cửa rồi, tôi có thói quen là phải có người mở cửa cho mới bước vào.
Sau một thoáng do dự, tôi hỏi:
– Nhưng bác cứ đứng ở ngoài này thì đêm hôm lạnh lẽo, mệt mỏi lắm.
Có lẽ chính vì những câu hỏi tò mò và thái độ không ngần ngại của tôi mà bóng ma Võ đại tướng cũng đã tỏ ra bình thản hơn, hồn ma không còn giữ khoảng cách như lúc ban đầu nữa.
– Có can chi, dù sao thì vẫn còn sung sướng thoải mái gấp triệu lần ở dưới đó.
– Ồ, vậy sao? Cháu lại nghĩ là bác ở thế giới bên kia được sung sướng lắm!
– Anh biết cái chi – hình như có tiếng thở dài, ngập ngừng một chút, rồi hồn ma bộc bạch ngay – tôi thì đã đoán trước được điều đó từ mấy chục năm rồi. Chính vì vậy mà phần lớn thời gian của cả hơn nửa đời người còn lại tôi chỉ còn làm có một việc thôi, đó là: ngày đêm cầu Trời khấn Phật cho được ở lại trên cõi đời này càng lâu càng tốt, mặc dù …. vẫn biết rằng cổ nhân đã dạy “đa thọ-đa nhục” thôi, chứ không sung sướng gì đâu!
Hồn ma lại buông tiếng thở dài nghe não nuột hơn. Cảm thấy khó hiểu và khuất tất, tôi càng tò mò hơn:
– Cháu chưa hiểu rõ điều bác nói? Không phải là bác đã đi về “thế giới người hiền” gặp cụ Hồ, cụ Mác, cụ Lê như là ông Tố Hữu đã nói sao?
– Có, có cả, cả ông Hồ và ông Các-Mác, ông Lê-nin. Thế nhưng không phải là đến chỗ “thế giới người hiền”, mà là ở dưới ĐỊA NGỤC, hiểu chưa. Nghe gì cái thằng Tố Hữu chỉ biết “ăn theo, nói leo”.
– Ồ, sao lại lạ thế?
– Này, trông anh không còn trẻ nữa, chắc là cũng đã gần ở cái tuổi “tri thiên mệnh” rồi, vậy sao mà còn ngây thơ thế? Đơn giản thế này nhé, tôi lấy ví dụ như ở trên cõi đời này nếu có kẻ nào đó gây ra trọng tội, như cướp đi mạng sống của MỘT người khác chẳng hạn, vậy thì chắc chắn đều phải chịu nhận cái hình phạt cao nhất, đó chính là tử hình. Đấy là luật pháp của loài người và cũng là luật nhân quả trên cõi đời. Vậy thì thử hỏi cái lũ bọn tôi đã gây ra cái chết cho cả hàng triệu con người, hàng chục triệu con người, vậy thì làm sao lại có thể lên “cõi người hiền” được? Mà chắc chắn phải là ĐỊA NGỤC, anh hiếu chứ?
Hàm răng già trệu trạo và nghiến chặt khi nói đến hai chữ “địa ngục”. Tôi trầm ngâm suy nghĩ, rồi quay sang hỏi tiếp:
– Nhưng bác là người mà cả Thế giới ngưỡng mộ, làm “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” cơ mà?
Mỉm cười chua xót và tỏ ra thông cảm, hồn ma Võ đại tướng nói tiếp:
– Anh nhầm rồi, sự nhầm lẫn của cả một xã hội mà con người ta luôn chỉ được thu nhận thông tin theo một chiều duy nhất, phát đi từ cái Đảng duy nhất lãnh đạo. Thật ra, với bao nhiêu sự nổi tiếng của tôi ở trên cõi đời này thì tôi cũng được đón nhận tương xứng như vậy trên con đường đi xuống địa ngục bằng những lời chửi mắng, thét gào, nguyền rủa, đe dọa, căm hận của 34 chiến sĩ đầu tiên tham gia đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, của hàng triệu chiến sĩ trẻ đã mất đi tuổi thanh xuân, và hàng triệu người dân oan vô tội. Không những vậy, tôi lại còn nhận được sự “đón tiếp”, thóa mạ của cả những ma Tây, ma Tàu, ma Mỹ… họ chờ đợi cái ngày này đã lâu lắm rồi, họ đòi đưa tôi đến những cực hình ghê rợn nhất, đến nơi phán xét cuối cùng để đòi lại sự công bằng. Thật kinh khủng lắm, anh không thể tưởng tượng ra nổi đâu.
Tôi trầm ngâm suy nghĩ. Võ đại tướng tiếp tục:
– Thật ra thì hơn ai hết, tôi vẫn hiểu ra được là sẽ có ngày phán xét cuối cùng này, cho nên sống trên cuộc đời có khổ sở, khốn nạn, nhục nhã bao nhiêu thì tôi vẫn cố mà sống, cố cầu xin làm sao sống được càng lâu càng tốt, trốn tránh được cái cõi địa ngục ấy càng lâu càng tốt. Đây chính là điều bí mật lớn nhất trong cuộc đời của tôi, chắc chắn trước đây không có kẻ nào biết được.
Ký ức tôi chợt hiện về những hình ảnh thăng trầm của cuộc đời người võ tướng. Như hiểu ra điều gì, tôi thông cảm tiếp lời:
– Ồ, thảo nào mà có những lúc bị bọn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ làm nhục, bác đã
– chấp nhận về làm chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch để chăm lo cả việc đặt vòng cho chị em. Cháu vẫn còn nhớ mãi trong dân gian truyền tụng câu thơ: “Ngày xưa đại tướng cầm quân, ngày nay đại tướng cầm quần chị em”.
Có lẽ vì tôi đã lỡ mồm, câu nói của tôi làm vị đại tướng im bặt.
Một hồi sau, hồn ma tiếp tục bộc bạch:
– Nhục thật! Nhục lắm! Cái nỗi nhục thì tôi đã chịu nhục một mình rồi, thế nhưng cái lũ ma cũ ở dưới địa ngục nó có để yên cho tôi đâu. Nó quây vào kết tội tôi là “ngu trung”, là ích kỷ, là kẻ hèn nhát, là kẻ ham sống sợ chết, là kẻ bán rẻ đồng đội bạn bè, là kẻ mắc trọng tội với cả dân tộc… từ khi xuống đó đến giờ tôi chưa có được một ngày nào yên ổn cả.
Tôi bức xúc cắt ngang lời của Võ đại tướng:
– Thật bất công, vô lý quá, ít nhất thì họ cũng phải nhìn nhận ra bác là người anh hùng của dân tộc, đã đưa dân tộc này thoát ra khỏi ách của đế quốc, thực dân xâm lược chứ? – tôi phẫn nộ – đấy là những thực tế không thể phủ nhận được.
Võ đại tướng chua xót:
– Không đâu. Bây giờ thì tôi mới hiểu ra rằng điều họ nói là đúng cả đấy. Lý luận của các anh chỉ là đầu óc của lũ “ngu chung” thôi. Anh cứ thử nhìn xem, tất cả các nước trong khu vực, và tất cả những mảnh đất thuộc địa khác trên thế giới này, họ cũng đều được độc lập, được thoát khỏi “cái ách của thực dân, đế quốc”, vậy nhưng họ có phải đổ nhiều xương máu như cái dân tộc Việt Nam này không? Họ có phải rơi vào ba, bốn cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn như cái đất nước đau khổ này không? Họ có phải mất đi hàng chục triệu sinh linh vô tội như cái đất nước được sự “lãnh đạo tài tình của Đảng”, của những “vị tướng nổi tiếng thế giới” như tôi không???
Cả tôi và bóng ma đều im lặng, trầm ngâm một lúc, bỗng Võ đại tướng cao giọng:
– Tôi không muốn đổ lỗi cho ai cả, nhưng phải nói để anh biết, cái tội lớn nhất vẫn là tại lão Hồ cả. Chỉ vì tính cách hiếu thắng của lão, tại cái tính ích kỷ, vì cái chủ nghĩa anh hùng cá nhân, mà lão đẩy dân tộc này ra nỗi như vậy. Chính lão luôn muốn là “ngọn cờ đầu” cho nên mới phải thiệt hại biết bao nhiêu xương máu. Lão đẩy cả dân tộc này vào những cuộc đối đầu cho hai thế lực đối lập trên thế giới, để các cường quốc khác lấy cái đất nước này ra làm vật mặc cả với nhau, lão lấy xương máu nhân dân mình làm vật hy sinh cho những kẻ khác. Lão lấy sinh mệnh của con cái hàng triệu các gia đình làm vật thí nghiệm cho những ý đồ và cái chủ nghĩa vô hình mà lão theo đuổi.
Tôi tỏ ra bình tĩnh hơn:
– Bác ạ, cháu thấy rằng muốn nhận xét vấn đề gì thì cũng cần ở góc độ khách quan. Có lẽ bác sống lâu quá ở những giai đoạn lịch sử sau này mà xét đoán có phần chuẩn xác hơn, tuy nhiên vẫn là không khách quan và không thông cảm cho những con người trong những bối cảnh lịch sử lúc đó.
Vị võ tướng tỏ ra bực dọc cắt ngang lời tôi:
– Tôi cũng là người sống trong thời điểm lịch sử đó, và không ai hiểu lão Hồ rõ hơn tôi cả, anh không cần phải dạy tôi. Lão Hồ không yêu cái tổ quốc này, cái dân tộc này hay bất kể ai khác hơn cái bản thân lão. Lão là kẻ sống lưu lạc không gia đình, không con cái, nên lão không bao giờ có thể hiểu được nỗi đau của những người cha, người mẹ, những người mất đi những ruột thịt của mình. Lão chỉ là một kịch sĩ vĩ đại nhất. Tôi lấy một minh chứng rõ ràng nhất để anh thấy nhé: ngay cả anh chị ruột thịt của mình qua đời thì lão cũng không thèm về quê chịu tang (chứ đừng nói gì đến rơi nước mắt), thế nhưng tại cuộc tự kiểm thảo của Đảng trước công chúng, trước cơ quan báo chí thì lão lại sụt sùi khóc lóc để che đi tội lỗi của mình, để xoa dịu công luận, để mua chuộc lòng người. Anh đã nhận ra chưa?
Võ đại tướng nói tiếp:
– Còn phán xét của lịch sử ư? Tất nhiên “kẻ nào bắn vào quá khứ bằng viên đạn súng lục thì sẽ nhận lại được từ tương lai viên đạn đại bác”, tuy nhiên chúng tôi là những con người của lịch sử và là những nhân chứng lịch sử. Tôi hiểu rằng có những điều là đúng trong thời điểm lịch sử này thì lại là sai trong một thời điểm lịch sử khác, cho nên tôi không muốn phán xét ai và cũng không khẳng định điều gì. Nhưng có những sự thật thì hiển hiện, không thể chối cãi được. Đấy chính là hồn ma của hàng triệu con người vô tội, họ đã ngã xuống mà thật ra vẫn còn chưa hiểu được họ phải đổ máu vì cái gì? Độc lập, tự do, hòa bình hay hạnh phúc mà bản thân họ, gia đình họ phải đánh đổi để cho bao kẻ khác hưởng thụ hay sao? Cuộc giải phóng nô lệ để một lũ người này được đứng lên áp bức, bóc lột lại những kẻ nô lệ khác hay sao???…
Võ đại tướng chua xót nói tiếp:
– Tướng Trần Độ đã nói đúng: Hậu quả là hàng chục triệu con người phải “sống trong một đất nước có độc lập mà không có tự do”. Hàng chục triệu con người bị khống chế bởi một bộ máy tuyên truyền mê hoặc. Chỉ có vì thế nên họ mới không hiểu nổi là “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” ấy là nhờ bởi máu huyết đổ xuống thành sông và xương cốt chất lên thành núi của hàng triệu con người, chứ không phải là nhờ công của một con người như tôi hay “Đảng lãnh đạo tài tình”. Vậy nên mới còn bao nhiêu kẻ ngu dốt hàng ngày mang hương hoa đến phúng viếng cho tôi. Sao những kẻ ngu dốt ấy không biết mang hương hoa đến mà phúng điếu cho bao nhiêu liệt sĩ vô danh khác. Sao không biết sử dụng những đồng tiền ấy để làm xét nghiệm ADN cho các nấm mộ vô danh, rồi lập thành số liệu lưu trữ để dần dần tìm ra nguồn gốc gia đình cho những người vô tội ấy. Hãy phải hiểu rằng, ở trên cái mảnh đất đau thương này nếu còn quá nhiều oan hồn chưa được giải thoát thì cái dân tộc này không bao giờ thoát khỏi khổ đau, cái đất nước này vẫn còn phải chịu trong vòng tăm tối!!!
Có lẽ đến lúc nghe được những lời nói này thì tôi mới nhận ra sự gần gũi của hồn ma bên cạnh mình chỉ là của một người hàng xóm bình thường, chứ không phải là một vị đại tướng nổi tiếng như các phương tiện tuyên truyền vẫn bơm thổi. Tôi an ủi:
– Có lẽ là cần phải như thế, những điều bác nói thật đúng đắn và khách quan. Cháu tin là đến một ngày nào bác cũng sẽ rửa được các lỗi lầm của mình.
Bóng ma lắc đầu buồn bã:
– Không, không đâu. Chắc chắn là không bao giờ tôi rửa được hết tội lỗi của mình. Bởi vì có những tội lỗi quá to lớn mà cho đến lúc xuống dưới địa ngục rồi thì tôi mới nhận ra nổi. Tôi còn thấy nhục nhã đau đớn lắm.
Tôi lại càng tò mò hơn. Võ đại tướng nói tiếp:
– Ngoài việc hàng triệu hồn ma chất vấn tôi, sỉ nhục tôi đã vô cảm trước sự việc những đồng đội của mình bị bức hại; tôi im lặng hèn nhát trước những đau khổ, oan ức của các đồng sự thuộc cấp của mình, … theo họ thì tội lỗi lớn nhất không phải là những lỗi lầm của thời chiến tranh tên bay đạn lạc, mà lại chính là những sự việc tưởng như rất bình thường của cái thời hòa bình sau này. Họ cho rằng tôi đại diện cho giới quân sự, là thần tượng của cả dân tộc mà lại ngu dốt đề xướng kêu gọi mọi người phải “Nhẫn” (chữ Hán: 忍). Có một vị tướng người miền Nam đã chất vấn: “Nhịn là nhục, ông có hiểu không?”, vị tướng miền Bắc khác nói: “ông đã có địa vị, ông có danh vọng, ông có tất cả rồi thì ông lại kêu gọi mọi người nhẫn nhục, như vậy là “ngậm miệng ăn tiền”, ông hiểu chứ?”, vị tướng miền Trung khác nói theo: “mi muốn “nhẫn” để chịu nhục thì mi nhẫn nhục một mình mi đi, tại sao mi lại đi kêu gọi tám chục triệu con người khác phải nhẫn nhịn theo mi để chịu nhục trong sự kìm kẹp, áp bức của vài triệu thằng cơ hội cầm quyền? Tội của mi lịch sử sẽ phán xét. Quân đội chúng tau không có kẻ hèn nhát như mi…” Tôi không thể chịu đựng nổi, thật khủng khiếp quá!
Tôi thấy cái bóng ma già run rẩy, ẩn hiện. Hóa ra cái tên tuổi của vinh quang, những tấm huy chương lấp lánh ánh sáng của chiến thắng chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài của một kẻ hèn nhát, ích kỷ, của kẻ tham sống sợ chết. Những danh tiếng được viết nên bằng xương máu của bao con người khác. Một đồ tể vĩ đại!

Nhật sẽ ‘ủng hộ tối đa’ cho Đông Nam Á

Phát biểu tại Đối thoại Shangri-La, Thủ tướng Shinzo Abe nói Tokyo sẽ “ủng hộ tối đa” cho các nước Đông Nam Á, trong đó có một số nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.

“Tất cả các nước cần tôn trọng luật pháp quốc tế. Nhật sẽ ủng hộ tối đa cho nỗ lực của các nước ASEAN trong việc đảm bảo an ninh vùng biển và bầu trời, và triệt để duy trì tự do hàng hải và tự do hàng không.

“Nhật có kế hoạch đóng một vai trò lớn hơn và chủ động hơn so với thời điểm hiện nay để đảm bảo cho châu Á và thế giới được hòa bình hơn”, ông Abe nói tại diễn đàn an ninh cấp khu vực ở Singapore.

Trong bài diễn văn vào tối hôm 30/05, ông Abe nhấn mạnh về nhu cầu cần phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế.

‘Ba nguyên tắc’

Chúng tôi cũng ủng hộ Việt Nam trong nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại

“Khi chúng ta nói về luật lệ trên biển thì điều đó có nghĩa gì. Nếu chúng ta lấy tinh thần cơ bản mà chúng ta đã đưa vào luật quốc tế qua năm tháng thì có thể thấy có ba nguyên tắc, và luật lệ trên biển là điều đơn giản và dễ hiểu.

“Nguyên tắc thứ nhất các các nước tuyên bố và làm rõ chủ quyền dựa vào luật lệ quốc tế.

“Nguyên tắc thứ hai là các nước không dùng vũ lực hay hăm dọa nhằm để khẳng định chủ quyền.

“Và nguyên tắc thứ ba là các nước sẽ tìm cách giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình.

“Tôi thúc giục tất cả các nước chúng ta tại châu Á và Thái Bình Dương, mỗi nước hãy tuân thủ triệt để ba nguyên tắc này.

“Chẳng hạn như Indonesia và Philipppines, họ đã ký Hiệp định về phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và tôi hoan nghênh bước đi này, đây là một ví dụ tuyệt vời về việc tôn trọng luật lệ trên biển.

“Chính phủ Nhật ủng hộ mạnh nỗ lực của Philippines kêu gọi cho một nghị quyết đối với tranh chấp tại Biển Đông sao cho tuân thủ ba nguyên tắc này.

“Chúng tôi cũng ủng hộ Việt Nam trong nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại.

Nhà lãnh đạo Nhật Bản cũng đã kêu gọi ASEAN và Trung Quốc sớm đạt được bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông.

‘Phòng vệ tập thể

Tàu Việt Nam và TQ tập trung tại khu vực TQ hạ đặt giàn khoan 981.

“Các động thái nhằm củng cố việc thay đổi hiện trạng bằng cách tạo ra sự việc đã rồi cần bị lên án mạnh mẽ vì đó là điều đi ngược lại với tinh thần của các nguyên tắc trên.

“Liệu quý vị có đồng ý rằng giờ là lúc phải cam kết chắc chắn với tinh thần và các điều khoản của Tuyên bố các Quy tắc ứng xử trên Biển Đông năm 2002 (DOC), mà toàn bộ các quốc gia có liên quan trên biển cùng đồng thuận tuân theo và không thực hiện các hành động đơn phương làm thay đổi thực trạng một cách lâu dài.

“Thời điểm để cống hiến trí tuệ của chúng ta nhằm khôi phục hòa bình trên biển là lúc này.

“Điều mà cả thế giới đang nóng lòng chờ đợi là biển và trời của chúng ta được quán xuyến bằng luật, luật lệ và qui trình giải quyết tranh chấp sẵn có.

Điều chúng ta ít mong đợi nhất là sợ rằng luật pháp bị thay thế bằng các mối đe dọa, sự hăm dọa chen chân vào luật lệ

Shinzo Abe, Thủ tướng Nhật Bản

“Điều chúng ta ít mong đợi nhất là sợ rằng luật pháp bị thay thế bằng các mối đe dọa, sự hăm dọa chen chân vào luật lệ và rằng các tình huống bất ngờ sẽ xảy vào thời điểm và địa điểm bất định.

“Tôi hy vọng mạnh mẽ rằng một bộ quy tắc ứng xử (COC) thật sự có hiệu quả có thể được thiết lập trên Biển Đông giữa ASEAN với Trung Quốc, và điều này có thể nhanh chóng đạt tới”, ông Abe phát biểu.

Jonathan Marcus, phóng viên ngoại giao BBC nhận định rằng ông Abe muốn tăng cường ủng hộ cho các nước đang có tranh chấp lãnh hải với Bắc Kinh.

“Ông Abe lên án những ai muốn “thay đổi hiện trạng” bằng cách áp đặt và đây là một đòn nữa giáng vào Trung Quốc.

“Ông Abe muốn thay đổi đồng thuận cho Nhật Bản thời hậu chiến nhằm tạo điều kiện để Tokyo có vai trò chủ động hơn trong phòng vệ tập thể. Không phải là ông Abe nói cái gì mà nói điều đó ở đâu.

“Không có tổ chức an ninh tập thể nào như Nato tại châu Á và vì vậy diễn đàn được biết tới với tên gọi Đối thoại Shangri-La trở thành “sự kiện” an ninh thường niên chính trong vùng.

“Đây là lần đầu tiên một nhà lãnh đạo của Nhật đọc diễn văn của diễn giả chính tại đây, một chỉ dấu rõ ràng rằng ông Abe muốn Nhật đóng vai trò sâu rộng hơn nữa trong cuộc tranh luận an ninh có qui mô”, phóng viên Marcus nhận định.

Bộ chính trị chưa thống nhất trước thời cơ lịch sử: cựu ĐT Bùi Tín

col-bui-tin

Ông Bùi Tín: “Ông đã nói hay, bây giờ hãy làm đi…”

RFA file

 

Còn gay go, chưa nhất trí

Việt-Long: Ông có thể biết được gì về kế hoạch của Việt Nam trước sự xâm lấn của Trung Quốc?

Ô. Bùi Tín: Tôi cũng đang theo dõi tình hình ấy. Theo những gì tôi được thông tin từ trong nước ngay từ đêm hôm qua, thì hiện nay người ta vẫn còn chờ đợi. Bộ chính trị (BCT) xem ra đang thảo luận rất gắt gao nhưng chưa đạt được sự nhất trí, chưa được cả một đa số cho quyết định giải quyết theo hướng nào. Đây có thể là một thời cơ lớn để bẻ lái về đối nội cũng như đối ngoại, nhưng BCT có nắm được thời cơ này hay không, BCT có nghe được đúng lòng dân, mà khi chủ quyền quốc gia bị đụng đến, đã bật dậy, hoặc là vẫn chịu khuất phục quân bành trướng như trước đây, hoạc là phải theo một đường hướng mới, dứt tình với Trung Quốc, do anh gây sự như thế, không còn tình nghĩa đồng chí bạn bè tốt nữa mà chỉ còn giữ một mối quan hệ bình thường, và chúng ta phải gắn bó với lực lượng dân chủ của thế giới, của châu Á, Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines, Liên Âu, Hoa Kỳ, có chỗ dựa vững chắc để đương đầu với cuộc xâm lăng thực sự của bọn bành trướng Trung Quốc.

An ninh-quốc phòng về một bên

Việt-Long: Như vậy là BCT có hai khuynh hướng?

Bùi Tín: Nếu xem xét kỹ thì thấy Tổng Bí Thư (TBT) là ông Nguyễn Phú Trọng hiện nay vẫn rất dè dặt, thận trọng, gần như giữ nguyên đường lối ngả hẳn về phía Trung Quốc, không dám thay đổi hẳn. Riêng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì, theo lời nói của ông, ông muốn phát đơn kiện Trung Quốc như đã nói ở Manila, và đã có những lời tố cáo khá mạnh, theo với nhân dân. Tôi nghĩ đấy là một khuynh hướng nữa.

Việt-Long: Còn những nhân vật khác trong BCT theo khuynh hướng nào?

Bùi Tín: Theo tôi được biết, lực lượng an ninh và lực lượng quân sự có vẻ ngả về phía Thủ tướng, trong khi lực lượng tuyên huấn ngả về phía TBT Nguyễn Phú Trọng. Lực lượng của ban Tổ chưc trung ương, của Tô Huy Rứa, của Đinh Thế Huynh vẫn đang còn lưỡng lự, nhưng mà ngả về phía Nguyễn Phú Trọng. Do đó chuyến đi của Phạn Bình Minh theo lời yêu cầu của Mỹ mời sang để thảo luận về cuộc khủng hoảng biển Đông đã bị trì hoãn, chưa định được ngày. Ông Phạm Bình Minh không là Ủy viên BCT, nên phải theo chỉ thị của TBT, đó là lý do.

Những bàn tay có điều kiện

Việt-Long: Hiện đang có một phái đoàn Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ làm việc ở Việt Nam, nói chuyện với Việt Nam. Điểm thứ hai là Thủ tướng nhật Shinzo Abe chuẩn bị đọc diễn văn tại Hội nghị Shangri-La lên án Trung Quốc về hành động xâm lấn ở biển Đông. Ông nhận định ra sao về khuynh hướng của Hoa Kỳ, các nước dân chủ phương Tây và dân chủ ở châu Á về vấn đề biển Đông của Việt Nam hiện nay?

Bùi Tín: Tôi được biết phái đoàn (nghị sĩ Mỹ) ấy hiện nay có mặt ở Hà Nội, rất đúng lúc, và đúng lúc quốc hội Việt Nam đang họp, Vùa rồi ông trưởng đoàn (Mỹ) có gặp chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Ông Nguyễn Sinh Hùng có tố cáo Trung Quốc. Cho nên tôi nghĩ lúc này đúng là thời cơ. Nhật Bản, Mỹ, Philippines đã chìa tay thân thiện, chìa tay gần như ủng hộ Việt Nam đương đầu với bành trướng. Nhưng Việt Nam có nhận cái chìa tay thân thiện đó không, thời cơ đó không, hay lại bỏ tuột mất thời cơ.

Việt-Long: Những cái chìa tay nào cũng có điều kiện trong đó. Và điều kiện của Hoa Kỳ, phương Tây là Việt Nam phải dân chủ hóa…

Bùi Tín: Đúng như thế. Đường lối đối nội và đối ngoại gắn bó chặt chẽ với nhau. Điều kiện để bẻ hướng đối ngoại là trước hết phải bẻ hướng về đối nội. Tức là thực thi dân chủ. Anh Việt-Long có nhớ là hôm mùng 1 tháng giêng vừa rồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu một thông điệp rất hay, rất tốt, trong đó ông nói rõ là “dân chủ và pháp quyền là hai thành quả song sinh của nền chính trị hiện đại” và ông cam kết sẽ thục hiện…

Đã nói, hãy làm

Việt-Long: Xin ngắt lời ông để báo rằng hôm qua trong mục Thế giới Trong tuần chúng tôi đã nhận định rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có nhiều chính sách rất cởi mở, tiến bộ nhưng ông không thực hiện. Bởi vì từ đầu năm đến giờ ta thấy người dân chưa được thêm quyền dân chủ nào cả, chỉ bị đàn áp thêm…

viet-buitin
Ông Bùi Tín trong cuộc phỏng vấn với Việt-Long, 28 tháng 5, 2014


Bùi Tín: Đúng thế. Hôm qua tôi đã viết một bài báo gọi là “Nói để làm, hay nói rồi để đấy” cho gió bay qua. Cho nên chính lúc này là lúc phải làm. Nhân dân đã có yêu cầu cấp bách; mà anh đã hứa, đã thề thốt, và lời hứa đầu năm bao giờ cũng là lời hứa tốt đẹp để đạt kết quả mỹ mãn. Ông đã nói dân chủ ngày đầu năm, hứa pháp quyền ngày đầu năm, đó là hai điểm yếu nhất của chế độ. Ông cam kết đến như thế, thì làm đi! Đây là một dịp may hiếm có, một thời cơ nghìn năm có một. Lòng dân đã biểu thị, cho nên tôi nghĩ ngày nay người lãnh đạo mà hiểu được lòng dân, bẻ lái được về đối nội và đối ngoại một cách có hệ thống thì sẽ được to. Nhân dân ta sẽ có chuyển biến rất lớn, và thế ngoại giao của ta sẽ khác hẳn. Tôi nói thêm là đừng sợ Trung Quốc. Tôi nhớ là cách đây 30 năm, Đặng Tiểu Bình đã dặn Giang Trạch-Dân, rỉ tai dặn kỹ 4 chữ “Thao quang dưỡng hối” tức là 30 năm tới hãy tránh ánh sáng, dưỡng hối là nuôi dưỡng bóng tối, cái âm mưu bốn hiện đại ấy. Trong thời kỳ đó đừng lộ nanh vuốt vội, đừng vội mà bị chặn lại. Nay thì đang vội quá, cho nên đang bị khối liên minh Hoa Kỳ-Nhật, Hoa Kỳ-Thái Lan, Hoa Kỳ-Philippines chặn lại sớm, mà đến bao giờ anh mới có lực lượng hải quân ngang với Mỹ để có thể chiếm được biển Đông này. Tôi nghĩ đây là sai lầm chiến lược của Bắc Kinh mà ta cần nắm chắc lấy để chuyển sang hướng mới cho đất nước.

Việt-Long: BCT liệu có được đảm lược chính trị, có được quyết tâm chính trị để thực hiện điều đó cho Việt Nam không?

Bùi Tín: Tôi hoài nghi lắm! Bởi vì cái gánh nặng về giáo điều nó nặng quá. Muốn như vậy thì anh phải bỏ cái Mác-Lê Nin đi chứ…

Việt-Long: Không làm được như vậy thì làm sao nắm được cái phao mà phương Tây và Nhật Bản đã đưa ra?

Nhu cầu chiến lược từng thời đại

Bùi Tín: Cho nên tôi nghĩ đây là thời cơ nghìn năm có một! Đây là thừ thách. Lúc này chỉ có cách nhân dân phải biểu thị sức ép với lãnh đạo mạnh hơn nữa. Giới trí thức phải lên tiếng mạnh hơn nữa để thuyết phục các lãnh đạo. Lãnh đạo hiện nay đã phân hóa, nhưng phân hóa chưa đủ nên phải có một tác động. Bây giờ rõ ràng thế giới đã chìa tay cho anh rồi. Và nhu cầu chiến lược là như thế… Ở đây tôi cũng nói thêm với anh Việt-Long là bà con ta ở hải ngoại có nhiều người có định kiến với Mỹ, rằng Hoa Kỳ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa, có đáng tin cậy nữa không.  Tôi thấy cần rõ rằng họ bỏ rơi lúc bấy giờ là vì nhu cầu chiến lược của thời chiến tranh lạnh, phải tranh thủ Trung Quốc để đánh gục Liên Xô là kẻ thù số một. Nhưng bây giờ yêu cầu chiến lược, lợi ích chiến lược của Mỹ là chặn cái thằng bành trướng Trung Quốc lớn nhất. Họ cần ta. Lúc này họ rất cần ta. Họ chìa tay cho ta, tại sao ta không nắm thời cơ này? Ta bỏ tuột thời cơ này thì phải nói là vĩnh viễn mất hết. Hãy trở lại với nhân dân, trở lại với chính nghĩa, trở lại với dân tộc, đi với thời đại. Còn chủ nghĩa Mác-Lê Nin, chủ nghĩa xã hội ảo tưởng, với Cộng Sản… là thuộc về quá khứ. Phải dứt với quá khứ, cái quá khứ đó dính với tội ác, dính với sai lầm chiến lược. Ta phải đi với nhân dân, đi với thời đại thì sẽ có tất!

Việt-Long: Xin cám ơn ông Bùi Tín đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn hôm nay.

Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn: “Hòa giải Hòa hợp đại đoàn kết dân tộc là mục đích tối cao sau cuộc chiến tương tàn”

 

* Cái cao nhất, cái tối thượng nhất vẫn là tình yêu quê hương đất nước.

http://nhatbaovanhoa.com/D_1-2_2-68_4-878_5-10_6-1_17-16_14-2_15-2/thu-truong-nguyen-thanh-son-hoa-giai-hoa-hop-dai-doan-ket-dan-toc-la-muc-dich-toi-cao-sau-cuoc-chien-tuong-tan.html

Phỏng vấn của  Nhà Báo Lý Kiến Trúc

Lời giới thiệu của Văn Hóa Magazine-California:

Hôm nay là ngày 27-04-2014, chúng tôi đã được hân hạnh được tiếp xúc với ông Nguyễn Thanh Sơn Thứ trưởng Ngoại giao của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ông hiện đang là đương kim Chủ nhiệm Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Ông là trưởng phái đoàn Công tác số 6 dẫn phái đoàn người Việt nước ngoài, kể cả những người Việt trong nước cũng như rất rất nhiều hệ thống truyền thông trong nước đi thăm quần đảo Trường Sa lần này, chúng tôi gọi là “Cuộc Hải Trình Lần Thứ 3”.

Xin quý bạn đọc chú ý, cuộc phỏng vấn của nhà báo Lý Kiến Trúc với ông TT Nguyễn Thanh Sơn được thực hiện trên quần đảo Trường Sa thuộc biển Đông của Việt Nam. Toàn bộ phỏng vấn ghi âm vào băng nhựa, dài 40 phút.

Trong đối thoại có những chữ thì, là.. lập lại, vài câu chữ không rõ nghĩa, tòa soạn Văn Hóa Magazine hiệu đính thành câu văn cho rõ ràng mà vẫn giữ nguyên ý tứ.  

Văn Hóa chân thành mong quý bạn đọc phản hồi ý kiến xây dựng để học hỏi thêm sau cuộc phỏng vấn dưới đây.(VH)

Lý Kiến Trúc và TT Nguyễn Thanh Sơn trên dường đi thăm nhà giàn DK1
Lý Kiến Trúc và TT Nguyễn Thanh Sơn trên đường đi thăm nhà giàn DK1

LKT: Xin kính chào ông Thứ trưởng, xin ông có thể cho biết từ cái nghị quyết 36 ra đời từ năm 2004 cho đến nay là nghị quyết 23, ông đã được cử đặc trách về cuộc hải trình đặc biệt này để đưa kiều bào về thăm quần đảo Trường Sa, trong 2 nghị quyết đó ông có rút ra được những cái nào có tính chất yếu kém hoặc mạnh mẽ hoặc là để phát triển trong những ngày sắp tới thưa ông?

– TT Nguyễn Thanh Sơn: Trước hết xin kính chào nhà báo Lý Kiến Trúc, tôi rất là vui là được gặp gỡ anh hôm nay. Về câu hỏi của anh thì tôi có thể nói là sắp tới đây chúng tôi sẽ tổ chức sau chuyến đi “Hải Trình Trường Sa Lần Thứ 3”, chúng tôi sẽ tổ chức lễ tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện nghị quyết 36 của bộ chính trị, nghị quyết 36 ra đời năm 2004, nó có một cái bước ngoặc rất là mạnh đó là xác định cái hướng đi đối với lại công tác người Việt Nam ở nước ngoài, và đảng nhà nước chính phủ Việt Nam đã khẳng định trong nghị quyết 36 là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam như là các cái tổ chức, như là nhân dân trong nước, đồng thời xác định nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài là rất quan trọng, điều này chúng tôi cũng đã khẳng định thông qua cái hội nhập, phát triển với thế giới và khi trở về quê hương của rất đông đảo kiểu bào trong những năm vừa qua.

– Thế còn cái nghị quyết 23 mới đây?


– Nghị quyết 23 thì tôi cho rằng nó không có ảnh hưởng nhiều, nó không có tách riêng cái 23 với 36 nhiều về mục tiêu, cái chính là làm sao cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đoàn kết gắn bó với nhau để trước hết là xây dựng cho cái quốc gia sở tại phồn thịnh, phải có trách nhiệm với quốc gia sở tại trước, thế rồi là nơi các anh đang sinh sống, nơi bà con chúng ta đang sinh sống, thế rồi là chúng tôi phải tham gia hợp tác và bảo hộ bà con ở bên ngoài, bởi vì khi đã là công dân còn gốc Việt Nam quốc tịch Việt Nam thì nhà nước Việt Nam phải có trách nhiệm bảo hộ, thì tôi cho rằng là ở Hoa Kỳ cũng có trường hợp nếu cần thiết thì vẫn có thể tiến hành bảo hộ thông qua cơ quan ngoại giao hoặc là các nước khác đều có rất nhiều. Tuy nhiên tôi cho rằng cái 23 nó cũng không ảnh hưởng nhiều với cái 36, và tôi cho là hiện nay cái định hướng chính của chúng tôi là nghị quyết 36.

– Thưa ông, được biết  nghị quyết 23 đưa ra cụ thể nhất là đã công cử ông tiếp tục làm công việc Chủ nhiệm nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, và cái công việc trước mắt là ông là trưởng ban tổ chức những cái chuyến hải trình đi thăm quần đảo Trường Sa có phải không ông?

– Cái nghị quyết của bộ chính trị 36 mới là quan trọng cái định hưởng đó mới là quạn trọng, còn các cái văn bản của chính phủ hay là của các tổ chức, các cơ quan lãnh đạo hoặc là các cơ quan liên nghành phối hợp với chúng tôi thì nó mang tính chất phối hợp thôi, thì chúng tôi định hướng cái nghị quyết cái 36 là chính, còn cá nhân tôi được giao phụ trách cái công việc đối với người Việt Nam ở nước ngoài thì tôi xác định như tôi đã trả lời rất nhiều lần báo chí trong nước cũng như là bên ngoài, là chúng ta phải có sự chân thành, chúng ta phải có sự dũng cảm, chúng ta phải có sự đột phá, thì chúng ta mới có hòa hợp, hòa giải, mới đạt được đoàn kết dân tộc trong và ngoài, và tôi cũng mong muốn kêu gọi bà con cô bác chúng ta ở bên ngoài cũng như ở trong nước chúng ta phải xóa bỏ đi những ngăn cách những hố sâu hận thù, chúng ta phải cư xử chân thành với nhau hướng về một cộng đồng Việt Nam ở trong nước và ngoài nước đoàn kết nhất trí với nhau, như cố thủ tưởng Võ Văn Kiệt đã nói là ‘Chúng ta mong muốn làm sao cái ngày chiến thắng cũng là ngày hòa hợp hòa giải đạt được đoàn kết dân tộc’.

– Vâng thưa ông, chúng tôi được có cơ hội theo dõi những bài diễn văn, những bài nói chuyện của ông trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và ở nhà giàn DK1, chúng tôi thấy nội dung phát biểu của ông thường tập trung vào một số vấn đề chẳng hạn như vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc, thường thường ông  hay dẫn lời của ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt cách đây gần 40 năm, trong đó ông Kiệt có nói câu “triệu người vui, triệu người buồn”, thưa ông, vậy thì có phải đã gần sau 40 năm qua, ông là người khai phá ra, mở ra con đường không còn những con người “triệu người buồn” nữa, và mở ra một con đường cho “triệu người vui” qua những hành động cụ thể là mở ra những chuyến hải trình như thế này để đưa người Việt nước ngoài về nối vòng tay lớn  với người Việt trong nước hay không?

– Tôi đang muốn thực hiện hiệu quả cái nghị quyết 36 của bộ chính trị là, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phải thật sự được đối xử như là công dân trong nước, bởi vì đó là bộ phận không tách rời, đó là cái tôi cho rằng là định hướng rất đúng đắn. Vấn đề nữa chúng tôi đang thực hiện cá nhân tôi đang rất mong muốn thực hiện ý tưởng cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, bởi vì ông Võ Văn Kiệt đã nói rất đúng, chúng ta mỗi khi tổ chức những ngày vui, những ngày chiến thắng, thì đúng là có “triệu người vui” nhưng cũng có “triệu người buồn”. “Triệu người buồn” ở đây là những người hiện nay còn sống tha hương, những người sống ở nước ngoài, họ đã ra đi từ những năm 75, những năm 80, đầu những năm 90, nơi đất khách quê người, bởi vì có rất nhiều lý do những nguyên nhân họ đã ra đi mà tôi cho chung quy lại là do chiến tranh mang lại.

Chúng ta đã bắt tay, chúng ta đã tha thứ cho đế quốc Mỹ, cho thực dân Pháp, nhưng chúng ta cũng rất biết ơn nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ, nhân dân Hoa Kỳ. Chúng ta đánh giá rất cao cái tinh thần yêu nước, yêu chuộng hòa bình, ủng hộ cái sự phồn thịnh của thế giới, trong đó có các thành viên là Việt Nam hay là chính các quốc gia của họ là Hoa Kỳ, cho nên chúng ta đánh giá rất cao cái tinh thần ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân Pháp trong thời kỳ chúng ta chống thực dân Pháp, của nhân dân Hòa Kỳ, của nhân dân Mỹ trong thời kỳ chúng ta chống đế quốc Mỹ, và tôi cho rằng là người Mỹ đã đưa những cuộc chiến tranh rất là không đẹp đến tổ quốc chúng ta trong những năm cuối của thế kỷ vừa qua, có thể nói là trong những năm 60, 70, khi cuộc chiến tranh do người Mỹ đưa lại cho chúng ta ở miền nam miền bắc Việt Nam nó rất là không đẹp. Chúng ta đã có hàng triệu những người con Việt Nam, những gia đình Việt Nam chịu đau thương tang tóc, và người Mỹ đã để lại cái hậu quả rất là lâu dài cho các thế hệ người Việt Nam phải gánh chịu đó là chất độc Dioxin da cam đến bây giờ. Nhưng mặc dù người Mỹ đã đưa cuộc chiến tranh đến Việt Nam làm cho hai miền nam bắc đã có những cái anh em chúng ta cùng một mẹ, cùng một bào thai, nhưng đó những cuộc chiến tương tàn.

Thế rồi hậu quả của chiến tranh để lại do chất độc Dioxin, chất độc da cam, bom Napan, các cái loại vũ khí tối tân mà Mỹ đưa vào Việt Nam để vừa trấn áp vừa là thử nghiệm, tôi cho đấy là cái sự hết sức là dã man, nhưng mà chúng ta cũng sẵn sàng khép lại quá khứ để hướng tới một tương lai tốt đẹp với nhân dân Mỹ, với nhân dân các nước trên thế giới muốn làm bạn với Việt Nam… thì tại sao anh em chúng ta mà chúng ta vẫn gọi là cùng một bào thai, anh em chúng ta hai miền nam bắc chúng ta vẫn gọi là con Lạc cháu Hồng thì tại sao chúng ta cứ hận thù nhau mãi. Cho nên tôi rất mong muốn cái ý tưởng rất tốt đẹp rất đúng của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, là chúng ta phải làm sao hòa hợp, hòa giải đạt được đoàn kết dân tộc, muốn có cái đó chúng ta phải hóa giải rất nhiều vấn đề, đó là sự cố chấp, đó là sự bảo thủ của cả 2 phía.

Trong nước cũng còn có rất nhiều những cựu chiến binh Việt Nam, cũng còn có rất nhiều chỗ này chỗ kia, địa phương này địa phương nọ, có những quan điểm rất cứng rắng đối với lại những người ra đi, đặc biệt là những người bỏ tổ quốc ra đi vì họ có cái sự hận thù, nhưng tôi cho rằng chiến tranh đem lại những cái đau thương tang tóc, chiến tranh đem lại cho một gia đình có khi có những người đã ngã xuống ở phía Cộng Hòa, có những người đã ngã xuống ở phía Quân Giải Phóng, thì tôi cho rằng trong gia đình nó có cả cái mâu thuẫn như vậy chúng ta xử lý thế nào, thì bắt buộc chúng ta phải hòa hợp, hòa giải, chúng ta phải đoàn kết để chúng ta có một gia đình thống nhất,có một gia đình hạnh phúc chứ làm sao chúng ta chia rẽ mãi được, cho nên mong muốn của tôi là chúng ta phải nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, trung thực, để chúng ta có một tổ quốc Việt Nam phồn thịnh, mà muốn có một tổ quốc Việt Nam phồn thịnh thì nhân dân trong nước, kiều bào nước ngoài phải đoàn kết với nhau.

– Thưa ông, như vậy là theo ý ông nói là mục tiêu lớn nhất của chuyến hải trình này do ông tổ chức là đi đến cái con đường hòa giải, hòa hợp dân tộc, điển hình là chúng tôi thấy trong cái chuyến đi này ông đã tổ chức những lễ cầu siêu, lễ tưởng niệm rất trang trọng, và đích danh ông đã đứng lên làm lễ cầu siêu cho 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa tử trận Hoàng Sa và 64 chiến sĩ Việt Nam tại trận Gạc Ma.. thì thưa ông những điều đó nó nói lên đó có phải là mục tiêu lớn nhất của cái công việc của ông đối với người Việt Nam ở nước ngoài hay không?

– Tôi cho rằng sự nghiệp này đối với dân tộc là của tất cả mỗi người dân trong nước và ngoài nước, chúng ta mong muốn có một đất nước Việt Nam phồn thịnh, giàu mạnh, chúng ta mong muốn có một cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng như trong nước đoàn kết gắn bó với nhau, thật sự coi nhau là cùng một dòng máu, thì chúng ta phải có những bước đi rất đột phá, chúng ta phải có những bước đi rất nhân đạo, chúng ta phải có những bước đi cả hai phía đều phải có những bước đi rất chủ động, thì vừa qua trong cái hải trình Trường Sa lần này, chúng tôi nghĩ là lần nào chúng tôi cũng đã làm.

Tổ chức các đại lễ cầu siêu ở ngoài Trường Sa, hay là ở các cái chiến trường khác ở khắp miền nam, miền bắc, tôi cho cũng cùng một mục đích là thực hiện cái truyền thống của ông cha ta để lại là “Uống nước nhớ nguồn”. Chúng ta tri ân những người đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc, chúng ta tri ân những người đã ngã xuống để bảo vệ từng mét đất thiêng liêng của chủ quyền lãnh thổ của chúng ta để mà có ngày độc lập giải phóng dân tộc, chúng ta mong muốn như vậy và chúng tôi đã thực hiện những bước đi rất cụ thể, trong đó đại lễ cầu siêu một mặt thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc, một mặt thể hiện cái mong muốn của chúng ta là xóa đi những hận thù, mong cho những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã ngã xuống trên vùng biển đông dù đó là ở thời kỳ nào.

Đại lễ cầu siêu vừa rồi chúng tôi đã làm trên tinh thần là cho tất cả các anh hùng liệt sĩ đã trải qua các thời kỳ ở trên biển Đông, đã bảo vệ chủ quyền từ ông cha chúng ta cho đến bây giờ mặc dù đó là thời kỳ nào. Trong lễ cầu siêu theo nghi lễ tôn giáo của Phật giáo thì họ phải làm cho tất cả, không phân biệt ai, hai nữa là chúng tôi có nói rằng là trên vùng biển Đông của chúng ta còn có đồng bào, ngư dân qua lại thường là những người ra biển làm ăn, những người đi làm thuê cho các hãng nước ngoài, những chuyên gia bạn bè quốc tế đã sang làm ăn với chúng ta, rồi cả đồng bào chúng ta ra đi bằng con đường biển trong thời kỳ mà sau chiến tranh, họ không hiểu được cái chế độ mới, họ được tuyên truyền rất nhiều những cái vấn đề nó không xác thực với cái chế độ mới nên họ mới sợ họ ra đi, nhưng mà đến bây giờ họ đã xác định được, những người mà đã ăn nên làm ra ở các quốc gia thì họ đã xác định được một cái chân lý là phải trở về với cội nguồn, cho nên chúng tôi muốn làm đại lễ cầu siêu cho cả những con người đã vì những mục đích khác nhau mà đã ra đi trong thời kỳ chiến tranh sau chiến tranh, rồi bỏ mạng ở ngoài biển đông vì rất nhiều lý do khác nhau, bạn bè quốc tế, những chuyên gia, những thủy thủ viễn dương mà qua lại làm ăn trên vùng biển của chúng ta, thì chúng ta cũng mong muốn tồ chức cái tinh thần nhân đạo cái mong muốn hòa bình hữu nghị của chúng ta, nhưng cái đại lễ cầu siêu cũng thể hiện cho thế giới thấy và bạn bè quốc tế thấy rằng ở Việt Nam có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng chứ không phải là không có.

– Vâng thưa ông, ông nhận xét thế nào trong hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam, hàng triệu người bỏ nước ra đi bằng con thuyền vượt biển mong manh trên đại dương, thì cái nhìn của ông về những con người bỏ nước ra đi đó là như thế nào?

– Tôi nghĩ là trước hết đây là quyết định cá nhân của họ. Họ quyết định cho số phận của họ, bởi vì nó có mấy nguyên nhân. Sau cuộc chiến tranh thì cũng có rất nhiều người ở miền Nam được tuyên truyền là chế độ Cộng Sản là chế độ rất hà khắc ghê gớm, và cũng có rất nhiều vấn để không bình thường, và cái này tôi cho cả những người cả tin nó cũng không có cơ sở chính xác cho nên họ cũng vì những lý do đó họ ra đi, hai nữa là họ ra đi vì họ đã tham gia vào chính quyền cũ họ lo sợ là sẽ bị chính quyền mới có cái trả thù hoặc là có cái gì đó để làm cho họ có thể là lo ngại, rồi thì cũng có người ra đi vì điều kiện kinh tế do hết sức khó khăn, vì chúng ta sau cái giải phóng thống nhất đất nước, thì chúng ta còn phải tiến hành các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, phía nam, phía bắc, rồi thì chúng ta vẫn chịu sự bao vây cấm vận của Mỹ cho đến 20 năm sau, tức là năm 75 cho đến năm 1995 thì chúng ta mới có quan hệ bình thường hóa với Mỹ, và như vậy sau 20 năm thì người Mỹ mới có bình thường hóa quan hệ với chúng ta và mới tháo bỏ cấm vận,

thì có thể nói là trong thời gian 20 năm đó chúng ta hết sức khó khăn, phải đương đầu với các vấn đề thiên tai, dịch bệnh, thế rồi tiếp tục có sự phá hoại của một số tổ chức phản động ở bên ngoài từ phía tây nam, tức là chúng ta phải đương đầu với cả những vấn đề mà chúng ta phải xử lý sau chiến tranh để lại, thì cái điều người ta ra đi trong cái bối cảnh mà người ta không hiểu về chế độ mới, người ta hoảng loạn bởi vì người ta thấy cái cuộc chiến tranh nó tàn khốc quá, người ta không muốn tiếp tục có những cái sự mất mát, đau thương, người ta lo nghĩ, người ta lo sợ, người ta ra đi và là ra đi để tìm đường cứu cho gia đình họ, thật ra đó là quyết định cá nhân họ và cũng là do chiến tranh xô đẩy nên có những đợt ra đi như vậy.

– Thưa ông, trong những buổi lễ cầu siêu ở trên những hòn đảo trên quần đảo Trường Sa, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của bà phu nhân của cố trung tá Ngụy Văn Thà Hạm trưởng một chiếc hạm Viêt Nam Cộng Hòa đánh trận Hoàng Sa và ông đại tá Vũ Huy Lễ là một anh hùng quân đội nhân dân Hải quân Việt Nam đánh trận Gạc Ma, đồng thời lại  có thêm thân nhân của Hạm phó Nguyễn Thành Trí nữa, vậy thưa ông lý do nào mà ông lại mời được những người như vậy của các bên để mà ngồi lại trong cái buổi lễ cầu siêu?

– Trở lại với vấn đề tôi nói lúc đầu, câu hỏi của nhà báo Lý Kiến Trúc, là tôi mong muốn có một sự chân thành, tôi mong muốn có một sự đột phá, tôi mong muốn có những bước đi hòa hợp, hòa giải, bởi vì những người như đại tá anh hùng Vũ Huy Lễ cũng đã có những thành tích rất đáng kể, và xứng đáng được vinh danh anh hùng trong cái nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, thế rồi cả những người đã ra đi cũng vì chủ quyền biển đảo của đất nước chúng ta, đó là chủ quyền thiêng liêng, mà những người như là ông Ngụy Văn Thà Hải quân Trung tá Hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo HQ10, thế rồi là ông Thiếu tá Nguyễn Thành Trí là Hạm phó, tôi cho rằng đó là những người đã hy sinh vì chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ biên giới, bảo vệ hải đảo, thì những người đó phải được vinh danh, và tôi cho rằng là lần này chúng tôi có mời phu nhân ông Ngụy Văn Thà, và đại diện gia đình ông Nguyễn Thành Trí, cũng như là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam Vũ Huy Lễ ra đảo, để chúng ta mong muốn được nhìn thấy các cái thế hệ những người Việt Nam hoặc là trực tiếp hoặc là có người trong gia đình đã tham gia bảo vệ toàn vẹn lãnh hải của tổ quốc chúng ta, đó là những gia đình có công, đó là những cá nhân có công với đất nước chúng ta, chúng ta phải vinh danh họ và chúng ta phải ghi nhớ họ, và nếu chúng ta ghi nhận những vấn đề đó một cách công tâm, một cách khách quan, đúng với lịch sử đã tạo ra, thì chúng ta sẽ thu hút được sự quan tâm chú ý, cũng như ủng hộ của dư luận nhân dân, và tôi cho rằng việc làm của chúng tôi trong cái chuyến hải trình Trường Sa lần thứ 3 vừa qua đã đem lại một cái thành công rất lớn trong cái chính sách đại đoàn kết dân tộc, và chúng tôi đã đem lại sự an ủi cái niềm động viên rất lớn đến với gia đình những người đã ngã xuống để mà bảo vệ chủ quyền lãnh hải của tổ quốc, mặc dù những người đó đã ra đi hoặc là còn than nhân đang còn sống. Hiện tại thì tôi mong muốn sự thật nó sẽ là chân lý, sự thật nó sẽ đi vào lịch sử, chúng ta không thể loại bỏ bất cứ cái gì, và cái cao nhất cái tối thượng nhất vẫn là tình yêu quê hương đất nước, cái tối thượng nhất vẫn là tình cảm chúng ta dành cho đất nước.

PHẦN 2

Xay dung và bao ve Truong Sa

Xay dung và bao ve Truong Sa
Hình ảnh xây dựng và bảo vệ Trường Sa hiện nay

Thưa ông, chúng tôi được đọc một bản tin ở trên một đài việt ngữ quốc tế đã phỏng vấn ông Đặng Xương Hùng vốn là lãnh sự đã xin tị nạn ở Genève, ông Đặng Xương Hùng có  tuyên bố là những nhà tranh đấu trong nước sở dĩ bị bắt là do sự đề xuất của bộ ngoại giao chứ không phải dobộ công an, điếu đó có đúng không?

– Cái đó hoàn toàn là sai. Tôi nói Đặng Xương Hùng hay là ông Bùi Tín cũng giống nhau về cái bản chất, quý vị cứ thử nghĩ ông Bùi Tín ông ấy đang ở bên Pháp hay bên Mỹ hay là ổng đi các quốc gia để ổng nói về những thông tin ở Việt Nam, thì người ta đều nghĩ rằng do ổng bất mãn, do ổng không đạt được những mục đích cá nhân mà ông ấy đã có những cái chuyện như vậy, nếu ông ấy giỏi ông ấy ở trong nước đấu tranh cùng với những cái người mà ông cho là người ta nói đúng người ta làm đúng cùng quan điểm với ông thì ông không ở lại trong nước ông chạy ra nước ngoài làm cái gì. Ông Xương Hùng cũng vậy thôi, thế hệ trẻ cũng một con người, có những tham vọng cá nhân, thế rồi có những suy nghĩ không phù hợp rồi ông cũng có những cái bất mãn trong cái việc làm của ông ấy, trong cách cư xử của ông ấy, có thể khả năng của ông có hạn nhưng ông muốn tiến nhanh, khả năng có hạn nhưng ông ấy muốn ngồi vị trí cao để điều hành nhưng không đạt được, thì lại cho rằng chúng tôi đối xử không đúng, không bình đẳng, nhưng trên thực tế quý vị cũng thử xem cái gì cũng kiểm nghiệm, cũng như ông Bùi Tín, ông Xương Hùng cũng sẽ chứng minh được bản chất của ông ấy, còn nếu như ông ấy mong muốn, tôi cho rằng là những người mà có quan điểm chính kiến ở trong nước, mà dũng cảm bằng biện pháp hòa bình, bằng cái tấm lòng chân thật, mong muốn xây dựng đất nước thật sự muốn đóng góp cho chính phủ những cái quyết sách, những cái ý kiến, để đem lại lợi ích cho dân tộc thì đấy mới là những người đáng kính trọng, chứ còn chúng ta chạy ra bên ngoài để mưu cầu một cuộc sống ổn định, để rồi chúng ta ở bên ngoài lại nói xấu cha mẹ, chúng ta lại nói xấu gia đình, thì cái đạo đức cái tư cách đó không ai chấp nhận được. Cho nên tôi nghĩ quý vị đối xử với ông Bùi Tín thế nào quý vị hãy đối xử với ông Xương Hùng như thế, vì thậm chí ông Xương Hùng là cái lớp trẻ mà tôi cho rằng đã có cái mưu cầu cá nhân rất lớn mà không đạt được. Ông ấy đã từng nói với những người thân trong gia đình ổng là vì con ổng học vì vợ ổng ở bên đó, vì ổng muốn có cuộc sống ổn định ở bên ngoài, ổng không muốn sống ở trong nước khi không đáp ứng được nguyện vọng của ông ấy. Tôi cho là cái mong muốn của ông ấy nó quá sức.

– Vâng, nếu vậy thì thưa ông, ông đánh giá thế nào về những nhà tranh đấu phản biện về dân chủ đang đòi hỏi trực tiếp ở trong nước, và những người mà ông cho rằng là đã đi lệch cái đường lối của đảng và chính phủ?

– Tôi nghĩ rằng là ai ở đất nước Việt Nam, anh thấy đấy có rất nhiều người ở hải ngoại về, thậm chí ở bên Mỹ, bên Canada, ở Pháp, ở Úc, họ có những phát biểu không đồng tình với chúng tôi, họ có những phát biểu đả kích hoặc là công kích hoặc là có những cái thậm chí là vu khống với cái chính sách của nhà nước, thì họ vẫn về Việt Nam, tôi không liệt kê tên ra đây bởi vì nhiều lắm, họ vẫn về Việt Nam, nếu mà như thế thì chúng tối bắt hết à, phải không ạ, chúng tôi bắt người trong nước dễ, bắt người ở ngoài về còn dễ hơn nữa, là vì anh đã nhập cảnh vào Việt Nam, chúng tôi giữ chúng tôi không cho anh đi ra nữa, chúng tôi tịch thu hộ chiếu, nhưng mà những người đó tôi biết vẫn về Việt Nam, ở bên ngoài thì vẫn đả kích vẫn nói xấu đường lối chính sách của đảng và nhà nước Việt Nam của chính phủ Việt Nam, nhưng mà chúng tôi vẫn để họ về Việt Nam thoải mái, bởi vì họ có mục đích trở về là để phá hoại, để tổ chức khủng bố, hay lật đổ chính quyền trong nước, như một số những cá nhân trong nước chúng tối bắt giữ là bởi vì chúng tôi đã có những thông tin những cơ sở chính xác, không phải họ chỉ có những bài viết tuyên truyền trên mạng, họ đã có những kế hoạch, âm mưu bạo loạn, lật đổ và được các các tổ chức ở bên ngoài đón tiếp họ, huấn luyện cho họ, ở Thái Lan, ở Philippines, những cái này quý vị không biết nhưng chúng tối biết, bây giờ thậm chí tôi nói ví dụ như là ông Cù Huy Hà Vũ ông ấy được sang Mỹ, rồi quý vị sẽ thấy ông ấy sang Mỹ sẽ hoạt động thế nào, bởi vì tôi nghĩ ông ấy chả đem lại lợi ích gì cho nước Mỹ, các quý vị chỉ gánh thêm một cái thành phần mà có cái hay có những cái tính khí nó ngang ngược không giống ai. Bởi vì đã có thời kỳ ông ấy tự đứng ra ứng cử bộ trưởng bộ văn hóa có ai bầu đâu. Thế thì tôi cho rằng là tất cả những thành phần đó nếu không có những cái kế hoạch bạo loạn, lật đổ, hoặc là âm mưu lật đổ nhà nước thì chúng tôi không bao giờ bắt giữ, và tôi nghĩ rằng các phiên tòa xét xử những thành phần này, đều đã có chứng cứ dựa trên cơ sở chứng cứ của công ước luật pháp quốc tế, cũng như là bộ luật của Việt Nam. Bởi vì bất cứ quốc gia nào cũng phải có điều luật để chúng ta bảo vệ chủ quyền an ninh toàn vẹn lãnh hải, lãnh thổ của chúng ta, chúng ta có quyền duy trì những điều luật của chúng ta trên cở sở phù hợp với luật pháp quốc tế, tôi nghĩ là khi chúng tôi đã xét xử, chúng tôi đã đưa ra những bản án thì họ phải tâm phục khẩu phục, ví dụ như tôi nói kể cả trường hợp anh không nêu, như anh Lê Công Định chúng tôi cũng đã xét xử, chúng tôi cũng đã có những công bố chính thức, họ cũng phải tâm phục khẩu phục, bởi vì ông ấy cũng đã tham gia viết bài nói xấu chế độ nhưng không chỉ có thế, rất nhiều người hiện nay đang nói chúng tôi có bắt đâu, thậm chí có những quan chức cựu quan chức trong cơ quan công quyền của Việt Nam, họ phát biểu những cái suy nghĩ nó mang tính chất là, tôi cho rằng là nó bất mãn không đúng với cái thực tế hiện nay, nhưng mà chúng tôi cũng không bắt giữ, bởi vì họ không có những âm mưu lật đổ hay là không có những âm mưu bạo loạn, những người chúng tôi bắt, chúng tôi xử đều có chứng cứ, và các phiên tòa đều có sự tham gia của các phóng viên các cơ quan truyền thông trong nước thậm chí nước ngoài, có những phiên tòa là họ ngồi dự ở phòng bên cạnh có truyền thông, có màn hình trực tiếp, bởi vì phiên tòa xét xử quá đông người, rồi phía thân nhân bị cáo, rồi phía nhân dân đến dự, chúng tôi cho rằng là như vậy rất công khai. Nếu như có những trường hợp nào không đúng thì thế giới họ hiểu chứ sao họ lại bầu chúng tôi vào hội đồng nhận quyền trong nhiệm kỳ vừa rồi.

– Thưa ông, ông đánh giá thế nào về những cuộc tranh đấu của người Việt ở hải ngoại tranh đấu cho Việt Nam, sẽ có một nền tự do dân chủ thực sự tốt hơn nữa?

– Tôi nghĩ rằng, nếu muốn cho Việt Nam có một nền tự do dân chủ tốt hơn nữa theo như mong muốn của bà con thì tôi khuyên là bà con nên trở về quê hương đất nước, để mà tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, bởi vì như nhà báo Lý Kiến Trúc thấy đấy quả thực là đi từ bắc vào nam đều thấy một sự thay đổi rất lớn, không ai có thể nhận ra Sài Gòn bây giờ, không ai có thể nhận ra Vũng Tàu, chúng ta vừa đi qua Vũng Tàu hôm qua chúng ta thấy không khác gì một thành phố du lịch của Châu Âu hay bên Mỹ, thậm chí còn có những cảnh đẹp hơn nữa vì chúng ta có cảnh thiên nhiên rất đẹp, rồi tôi nghĩ rằng bà con biểu tình hay là chống đối bên ngoài thì bây giờ tôi biết cái số càng ngày càng giảm đi rất nhiều, một phần là các vị mà có các tư tưởng cực đoan cũng lớn tuổi rồi, tôi thấy cũng đa số là 70, 80 tuổi cả rồi, phần lớn đại đa số tôi vẫn nói, và bà con thừa nhận, là người ta lẳng lặng về Việt Nam người ta chả cần ai chi phối điều hành người ta cả, người ta cứ tự về, chúng tôi cũng không phải là ép buộc người ta về mà người ta thầy rằng người ta cần phải về, người ta cũng tự người ta về có tuân theo chỉ đạo của tổ chức nào đâu, cho nên là đi biểu tỉnh trong 39 năm qua sắp tới đây là 40 năm; chúng ta thống nhất giang sơn, thì chúng tôi nghĩ rằng các vị nên cùng chúng tôi chung tay nghĩ ra những cái hoạt động, những cái bước đi đột phá để chúng ta xích lại gần nhau, và tôi nhắc lại lần nữa chúng ta đã tha thứ cho đế quốc Mỹ, chúng ta đã tha thứ cho thực dân Pháp, thì tại sao chúng ta không thể tha thứ cho những người anh em với nhau, cùng một bào thai, cùng một dòng máu, con Lạc cháu Hồng, tại sao chúng ta cố chấp, cái sự cố chấp bên ngoài nó là rất lớn, bởi vì các quý vị tổ chức biểu tình, các quý vị tổ chức nối kết những cái hoạt động hoạt động kia, trước đây thôi, để mà nhằm cản trở quan hệ Mỹ-Việt cũng như là các đoàn công tác ở trong nước đi ra sang Mỹ, kể cả những diễn viên tôi thấy rất bình thường như là diễn viên hài, hay là Đàm Vĩnh Hưng, thì quý vị biểu tình làm gì phản đối làm gì, chúng ta thấy việc làm đó chỉ đem lại cái mâu thuẫn làm giảm uy tín của người đi biểu tình, tôi cho là cái việc đó không nên, sắp tới 40 năm rồi chúng ta phải nghĩ tới cái gì đó để các vị có cái thời cơ để trở về quê hương đất nước, để dù rằng có bảo thủ mấy, ngoan cố mấy, có sắt đá mấy, thì cũng phải thấy rằng là trước khi nhắm mắt lìa đời mà không được trở về quê cha đất tổ không nhìn thấy quê hương mình, thực tế nó thay đổi hay không thay đổi thì các vị trong gia đình cũng không yên lòng, cho nên chúng ta, chúng tôi đang có những bước đi rất là chủ động, chúng tôi đã có những bước đi gọi là hòa hợp, hòa giải thật sự, đặc biệt là cái hải trình Trường Sa lần thứ 3 này, các quý vị cũng phải thấy, quý vị cần phải suy nghĩ, còn đảng nhà nước chính phủ Việt Nam có thể quên đi một số rất ít, nhưng mà quý vị cố tình không muốn có hòa hợp, hòa giải, không muốn trở về đất nước, thì trước hết là không có cái thiệt không có cái hại gì cho chính phủ nhà nước Việt Nam, nhưng có cái hại có cái thiệt cho quý vị đó là cái sự nuối tiếc, cái sự hận thù ôm mãi trong lòng cho tới lúc ra đi chúng ta vẫn không thể giải tỏa được. Tôi nghĩ rằng quý vị nên suy nghĩ lại vấn đề này để chúng ta tiến tới ngày hòa hợp, hòa giải đạt được đoàn kết dân tộc thật sự như mong muốn của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt.

– Nhưng thưa ông trong các cuộc biểu tình của người Việt tị nạn tại hải ngoại, có những cuộc biểu tình kéo tới tận tòa đại sứ của Trung Quốc, để phản đối âm mưu Hán hóa của Trung Quốc đối với Việt Nam, cũng như  âm mưu xâm thực dần dần biển Đông, thì ông nghĩ thế nào về các cuộc biểu tình đó?

– Tôi nghĩ rằng là đấy trở lại vấn đề là cần phải có thông tin, nhà báo Lý Kiến Trúc lần này về cũng thấy chúng ta đâu có dâng biển, bán đất cho ai. Vấn đề này đã được khẳng định từ lâu rồi, từ chuyến đi đầu tiên của kiều bào hải ngoại về Việt Nam, còn có những thông tin sai lệch, và đến bây giờ tôi cho rằng ai còn nói Việt Nam dâng biển, bán đất cho Trung Quốc thì tôi cho rằng đó là người không có cập nhật thông tin, và không có cái trí tuệ phát triển, bởi vì cái thứ nhất là trước đây chính phủ Việt Nam Cộng Hòa của ông Thiệu chỉ có 5 đảo thôi (ở quần đảo Trường Sa), cái này ngay quân lực Hải quân Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ cũng thừa nhận lúc bấy giờ chính quyền Sài Gòn chỉ quản lý có 5 đảo, bây giờ chúng tôi có 21 đảo, nguyên nhà báo Lý Kiền Trúc đi vừa rồi đã là 12 điểm rồi, 9 đảo nổi, 2 đảo chìm và nhà giàn, thế nhà báo Lý Kiến Trúc có chứng kiến nguyên cái hải trình này chúng ta đi 12 điểm, và trước đây chính quyền Sài Gòn chỉ quản lý có 5 đảo, thế thì lấy đâu ra, tôi chưa nói là chúng ta có 21 đảo và 16 nhà giàn trên thềm lục địa, chúng ta có 33 điểm đóng quân, ngoài cái Hoàng Sa bị chiếm giữ trái phép từ thời chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, thì đến bây giờ Trường Sa chúng ra đang giữ phần lớn, có thể nói Việt Nam chiếm giữ nhiều nhất, và tuyên bố chủ quyền nhiều nhất với 21 đảo và 16 nhà giàn, nhà giàn thì nhà báo Lý Kiền Trúc cũng biết rồi, thật ra chúng ta xây dựng trên cái thềm lục địa của chúng ta dọc theo cái đường lãnh hải của chúng ta 200 hải lý, phải không ạ, thế thì cái này chúng ta rất đặc biệt, chúng ta làm mà không cần xin phép ai, thế thì tại sao nói chúng ta dâng biển, bán đất, cái thứ 2 nữa nhà báo Lý Kiền Trúc thấy ở một số đảo chúng ta đang mở rộng, đang lấn biển, anh thấy đảo Đá Tây gần quần đảo Trường Sa chúng ta lấn ra cả hecta, và đang đổ đất đang đổ cát và các phương tiện kỹ thuật chúng ta đưa ra, thế rồi thì rồi ở đảo Sinh Tồn, chúng ta cũng đang lấn biến chúng ta dựng thành nhưng ô tàu để mà tàu bè của ngư dân tránh bảo hoặc là có những vấn để khẩn cấp có thể bảo hộ tàu chúng ta để lực lượng hải quân chăm sóc giúp đỡ, thì tôi cho rằng đây chúng ta đang mở rộng lấn biển, chúng ta tiếp tục mở nữa, thế thì cái đó không có chuyện dâng biển bán đất cho Trung Quốc, phải không ạ, và rồi thì chúng ta đã hiện đại hóa lực lượng Hải quân Việt Nam, nếu chúng ta dâng biển, bán đất chúng ta đi theo Trung Quốc thì chúng ta để cho họ quản lý họ giúp chúng ta, chúng ta để tiền làm việc khác chứ cần gì phải mở rộng thêm đất, mở rộng thêm biển, chúng ta phải đấu tranh dành từng hòn đảo, dành từng mét nước để làm cái gì, thì tôi cho rằng cái nhìn nhận phải đúng, nếu các quý vị nào không tin tôi cho rằng các vị nên về, tôi sẵn sàng mời các vị về, nếu như ông A bà B nói rằng không tin tôi sẵn sàng mời các vị về, các vị có dám về không, các vị về các vị tận mắt chứng kiến, tôi chỉ sợ các vị về các vị thấy sự thật rồi các vị không biết nói thế nào trong thâm tâm trong bụng các vị không muốn thấy sự thật đó. Tôi khẳng định lại một lần nữa là từ 5 đảo của Việt Nam Cộng Hòa, thì chúng tôi sau thống nhất, chúng tôi sau năm 1975 chúng tôi đã có hiện nay 21 đảo trong đó có 9 đảo nổi và 12 đảo chìm, chúng tôi đã có 16 nhà giàn, có thể nói là đủ một cái lực lượng để bảo vệ, cũng như các phương tiện để anh em hải quân có thể bảo vệ chủ quyền chúng ta trên dọc thềm lục địa chúng ta 200 hải lý, trở ra tôi xin nói thế để quý vị có thể thấy rằng là chúng ta có lý do, có chứng cứ để nói Việt Nam dâng biển, bán đất cho Trung Quốc hay không.

– Vâng thưa ông, nếu như vậy thì ông phủ nhận trong cuộc chiến tranh Việt bắc với Trung Quốc năm 1979 chúng ta đã mất 600km vuông đất, và trong cái hiệp ước 2000ký kết vùng phân định đánh cá ở vùng biển Bắc Bộ chúng ta đã mất 10.000km vuông, thưa ông cái điều đó ông có xác nhận không?

– Trước hết tôi nói những con số này không có cơ sở, đấy là cái nói của những người muốn nói và những người muốn phủ nhận cái thực tế Việt Nam đã làm, tôi nói trên phương án định vị biên giới cấm mốc giữa Việt Nam và Trung Quốc, có thể nói là những đoàn công tác của chúng tôi vừa phân giới cấm mốc hết sức khó khăn gian khổ vất vả để mới có thể có từng mét đất, để mới có thể phân định từng cột mốc, chúng tôi cương quyết đấu tranh trên cơ sở là Hiệp định, Phân định kể cả vịnh Bắc Bộ từ thời nhà Thanh thời Pháp, để mà chúng ta có những cột mốc biên giới chính xác, có những lời nói cay đắng cay ngược, quý vị đâu có biết là có những nơi nằm trên lãnh thổ Trung Quốc nhưng lại là mồ mã của những người dân vùng biên giới Việt Nam, bây giờ mồ mã họ, họ đã an táng ở đó rồi, bởi vì cuộc chiến biên giới là 2 bên giao thương rất là nhiều, thậm chí là thông gia với nhau, thậm chí có những vùng không thấy biên giới ranh giới, thế thì chúng ta phân định thế nào, và chúng tôi phải căn cứ vào rất nhiều những hồ sơ, những chứng cứ những tư liệu khoa học, cơ sở mà để chúng ta phân định hoạch định một cái biên giới trên đất liền, có thể nói chúng tôi có những cái đợt đàm phán đấu tranh với Trung Quốc họp đến 2, 3 giờ sang, có khi họp đêm tới ngày, chúng tôi kiên quyết không để 1 ly, không dời một tấc, và cái này quý vị đâu có biết, hay những nhà khoa học ở xa đâu có biết mà căn cứ vào đâu mà nói mất 6 trăm kilo mét vuông đất, căn cứ vào đâu nói mất 10 ngàn mét vuông biển, không có cơ sở, bởi vì là trong quá trình đàm phàn, trong quá trình thực hiện dự kiến cái sơ đồ phân giới cấm mốc là có những nơi là phải treo leo lên những đỉnh núi đá, treo leo xuống những cái vực thẳm rất là ghê gớm, mà anh em trong cái đội hoạch định biên giới của chúng ta đã phải hoạt động cùng với phía Trung Quốc.

Và tôi khẳng định rằng 1 mét đất chúng ta không đi, 1 ly chúng ta không rời, cho nên nhiều cuộc đàm phán căng thẳng tới mức làm cả ngày cả đêm, nhiều anh em chúng ta ốm phải cấp cứu, bởi vì tình hình sức khỏe không ổn định, bởi vì quá căng thẳng, nhưng rồi cuối cùng chúng ta cũng phải chiến đấu, chúng ta cũng phải đàm phán, chúng tôi cho rằng những cuộc đàm phán này đem lại lợi ích cho dân tộc, dù đó là vịnh Bắc Bộ, dù đó là ở trên đất liền, cái chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải của chúng ta đã được đảm bảo một cách vững chắc, tôi hoàn toàn bác bỏ những cái điều nói rằng chúng ta đã mất hàng ngàn mét ở biển cũng như ở trên đất liền, bây giờ quý vị thử đi về đó lại đi, người nào nói mất như thế, nhà khoa học nào nói như vậy, bản thân quý vị đưa ra giải pháp thì quý vị tự về làm thử đi cùng với chúng tôi đi, ở ngoài nói thì rất dễ, vào cuộc mới thấy nó khó.

PHẦN 3

Bia chủ quyền từ năm 1975
Bia chủ quyền do VNCH xây dựng từ trước năm 1975
nhà giàn tại thềm lục địa
Hàng chục nhà giàn trên thềm lục địa vùng quần đảo Trường Sa

– Thưa ông, cho đến nay thì chúng tôi nhận thấy chưa có một lời mời chính thức nào (của chính phủ) đối với những nhà nghiên cứu Biên giới Việt Nam, cũng như đối với những nhà nghiên cứu biển đảo Việt Nam để về có thể chứng minh những điều như ông nói; ông có dự định trong tương lai ông có thể tổ chức những chuyến đi như vậy, đặc biệt mời những nhà nghiên cứu, những học giả về biển Bông, về Biên giới, để thăm trực tiếp thực địa?

– Nhà báo Lý Kiến Trúc nói vấn đề đó thì nó lại hoàn toàn là cái thông tin nằm ngoài cái sự hiểu biết, hoặc là cái thông tin nó ghi nhận những cái mong muốn của chúng tôi đối với những học giả như vậy, chúng tôi chưa bao giờ cấm các học giả như thế trở về Việt Nam để mà tự nghiên cứu hoặc là tham gia giúp chúng tôi. Chưa có ai về cả, cũng như tôi nói, này hãy vì Trường Sa chúng tôi mời bà con cô bác về, chúng tôi thông qua các đại diện ngoại giao ở các nơi thông tin đến bà con, nếu các vị về các vị có thể tự về như là anh Lý Kiến Trúc, như là một số các bà con cô bác trong hải trình lần này họ có thể về, họ tự thẩm định, họ có thể đăng ký về với tư cách là một công dân Việt Nam ở nước ngoài về vì Trường Sa, để mà ra Trường Sa để thẩm định xem có đúng chủ quyền bảo vệ không, xem biển Đông có bị dâng bán không, chúng tôi chưa bao giờ có chính sách cấm các nhà khoa học trở về, hay là những người nghiên cứu về biển Đông, có những người họ về, họ tự tham gia tự nghiên cứu, họ tự mày mò, thì nếu quý vị có tấm lòng như thế quý vị cứ về nghiên cứu tìm hiểu, thậm chí là tham gia hành trình Trường Sa, tại sao không về, chúng tôi mời công khai chứ.

– Vâng, nhưng mà thưa ông trên tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc, dù sao đi nữa, các ông vẫn là những người bên thắng cuộc, chúng tôi tạm gọi như thế đi, thì ông nên có một lời mời nào đó thì chúng tôi nghĩ nó có thể đạt được hiệu quả trong tinh thần hòa hợp, hòa giải hay hơn.

– Tôi xin nhắc lại là cái chuyện mời chúng tôi luôn luôn mở rộng cửa, không phải tôi mời, mà là chính nguyên chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết của chúng tôi trong đợt sang thăm Hoa Kỳ năm 2007, nếu quý vị còn nhớ, hoặc là không, quý vị mở lại các kho lưu trữ các cơ quan truyền thông của Hoa Kỳ hoặc quốc tế, thì nguyên chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã nói là mẹ hiền tổ quốc Việt Nam sẵn sàng mở rộng cửa đón những người con Việt Nam xa tổ quốc trở về, không phân biệt là người đó ra đi trong bối cảnh hoàn cảnh nào, miễn là trở về với tấm lòng chân thành yêu nước và muốn xây dựng đất nước, đừng có mang bom mìn về Việt Nam là được rồi, cho nên tôi nói là một lời mời cao nhất của chủ tịch nước thôi, còn cần lời mời nào nữa, nếu quý vị có tấm lòng hãy về đi, quý vị có thể tự mình thẩm định nghiên cứu rồi đưa ra quyết định, chứ đứng ngồi bên ngoài mà nói mà phàn nàn thì nó không có chính xác.

– Vâng thưa ông, trở về với vấn để thời sự hiện nay thì vào ngày 30-03-2014, chính tổ chức Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Truyền Thông Báo Chí của chúng tôi ở tại quận Cam, đã có một buổi họp báo cho Thượng Nghị Sĩ  Dick Black ở Quốc hội tiểu bang Virginia, đến phổ biến về Nghị quyết JR.455 của Lưỡng viện Quốc hội vinh danh những chiến sĩ và quân dân Việt Nam Cộng Hòa, để từ đó có thể tiến tới xa hơn về một giải pháp tương lai cho VNCH làm cơ sở pháp lý để đòi lại quần đảo Hoàng Sa; ông đánh giá về việc này như thế nào?

– Tôi nghĩ là việc làm của các nghị sĩ Mỹ, của các dân biểu Mỹ với lại tổ chức người Việt ở hải ngoại trên nước Mỹ là quyền của họ, còn mục đích đòi Hoàng Sa thì đó cũng là mong muốn của chúng tôi, và chúng tôi vẫn tuyên bố Hoàng Sa Trường Sa là chủ quyền của Việt Nam, nhưng mà cái mong muốn của chúng tôi là các quốc gia tuyên bố chủ quyền trên vùng biển Đông tự nhìn nhận thấy trách nhiệm của mình đối với các công ước quốc tế, luật pháp quốc tế, mà các bên đều có tham gia, chúng ta phải chủ động, và mong muốn của nhà nước Việt Nam là bằng biện pháp hòa bình, chúng ta kiên quyết chúng ta đấu tranh để đòi lại Hoàng Sa và những phần của Trường Sa đã bị chiếm giữ trái phép, chúng ta không dùng bạo lực, thế còn nếu các vị có những cơ sở chứng cứ để khẳng định Hoàng Sa là của chúng ta, thì cung cấp cho chúng tôi, chúng ta phối hợp với nhau càng tốt, tôi cho rằng đấy là mục đích chung, nhưng mà chúng ta không dùng bạo lực, chúng ta không kích động, chúng ta không khiêu khích bất cứ quốc gia nào và chúng ta kiên trì vấn đề này trong thời gian lâu dài.

– Như vậy ông cho rằng cơ sở pháp lý của Việt Nam Cộng Hòa để đòi lại Hoàng Sa có thể đóng góp vào cái công cuộc mà đòi lại Hoàng Sa của cả nước phải không ạ?

– Tôi nghĩ rằng là không ai có thể phủ nhận Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc quyền sở hữu và chiếm đóng của ông cha ta từ lâu, và không ai có thể bác bỏ những cái chứng cứ để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở Hoàng Sa và Trường Sa, bởi vì hiện nay, Hoàng Sa đang tạm bị nước ngoài chiếm đóng, thì chúng ta cũng mong muốn là chúng ta bằng những chứng cứ pháp lý, bằng các công ước quốc tế mà các bên tham gia để chúng ta lấy lại cái chủ quyền của chúng ta, chứ chúng ta không bao giờ nói là Hoàng Sa không phải của chủ quyền Việt Nam, đó là điều bất di bất dịch, cho nên cái việc mà bà con cô bác chúng ta, những nhà khoa học, những nhà luật gia, chúng ta sống ở cộng đồng người Việt hải ngoại ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới mà có tấm lòng yêu chuộng hòa bình, có tấm lòng bảo vệ quê hương đất nước, có tấm lòng hướng tới biển đảo mà cung cấp thêm những chứng cứ về Hoàng Sa là thuộc chiếm hữu sở hữu của Việt Nam từ lâu đời thì chúng tôi hoan nghênh, và chúng tôi sẵn sàng hợp tác để mà chúng ta có những bước đi thích hợp, để rồi bằng biện pháp hòa bình, tôi xin nhắc lại bằng biện pháp hòa bình bằng công ước quốc tế để chúng ta khẳng định chủ quyền của chúng ta lâu dài.

– Vâng, xin cám ơn ông thứ trưởng Nguyên Thanh Sơn, và đây là câu hỏi cuối cùng để không mất thời gian của ông nhiều, thưa ông trong chuyến đi hải trình lần 3 này, có một chương trình đặc biệt đi thăm nghĩa trang Bình Dương tức là nghĩa trang quận đội Biên Hòa với lại nghĩa trang Liệt sĩ, điều đó nằm ngoài trương trình nó có nêu lên một điểm nào mà ổng muốn nói trong cái cuộc đi thăm đặc biệt 2 nghĩa trang này?

– Trên thực tế thì nghĩa trang Biên Hòa cũ nay gọi là nghĩa trang Bình An, chúng tôi đánh giá là một điểm sáng trong hòa hợp, hòa giải và đại đoàn kết dân tộc, bởi vì không phải như một số các quý vị ở hải ngoại nhất là nam California, như lời ông Nguyễn Tấn Lạc nói, hay là như một số người đã nói, như là chính phủ Việt Nam không có làm gì cho nghĩa trang Biên Hòa hoặc là chính phủ Việt Nam chỉ nói mà không làm, thì tôi nói thế này “trăm nghe không bằng một thấy” quý vị cứ ngồi một chỗ rồi nói, hoặc là không muốn nhìn thấy cái sự thật, bởi vì tôi thấy các clip của Phố Bolsa TV ông Vũ Hoàng Lân đã đưa hình ảnh cả tôi, cả ông cựu tổng lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn ông Lê Thành Ân, rồi ông Nguyễn Đạt Thành, rồi rất nhiều các vị lãnh đạo của địa phương tỉnh Bình Dương đã đến viếng và thấp nhang tại nghĩa trang Bình An bây giờ tức là Biên Hòa cũ, với một cái khuôn viên rất là ngăn nắp, với một cái lễ đài rất là đẹp đẽ hoành tráng, thì tôi không hiểu các quý vị ở hải ngoại còn nói gì về cái chuyện này nữa, những người anh em đồng đội quý vị đang nằm đấy, mà những cái mồ mã đã 40 năm nay không ai chăm sóc nó lún, nó sụt vì điều kiện thiên nhiên, chứ không có ai phá phách, không có ai phá hoại cả, thì chúng ta phải về chúng ta tu sữa đi, bây giờ cứ ở bên Mỹ, ở bên Pháp, ở bên Úc mà kêu gọi là làm, rồi nói Cộng Sản không làm, Cộng Sản đang làm quá nhiều nhưng tiền thì cũng có hạn thôi, chúng tôi đâu phải giàu có như nước Mỹ, vì vậy quý vị nói quý vị có tấm lòng thì quý vị hãy đóng góp để mà về xây lại mồ mã cho những anh em đồng đội của mình mà không ai chăm sóc, phải không ạ, nếu quý vị không làm thì nhân dân trong nước cũng làm vì tinh thần nhân đạo, cho nên tôi nói rằng nghĩa trang Biên Hòa sẽ là điểm sáng để hòa hợp, hòa giải và đại đoàn kết dân tộc, còn quý vị không thể xuyên tạc được sự thật, không thể nói khác được, và “trăm nghe không bằng một thấy”, tôi đề nghị sẽ đưa những bức ảnh những hình ảnh rất là sinh động rất mới về nghĩa trang Biên Hòa cũ tức Bình An mới hiện nay lên trên Internet để cả thế giới nhìn thấy một sự thay đổi, một cái thực tế rõ ràng, chứ không phải như một số người ngồi ở bên ngoài rồi cứ hò hét cứ nói rằng là Cộng Sản nói làm nhưng Cộng Sản không làm, Cộng Sản đang làm quá nhiều, chính quý vị không làm gì cả, quý vị đang làm cho những người anh em đồng đội của quý vị nằm dưới đó, người ta bất bình người ta thấy rằng là quý vị không nghĩ tới người ta, chứ còn chúng tôi thì luôn luôn nghĩ tới người ta, bởi vì truyền thống của ông cha chúng ta “nghĩa tử là nghĩa tận”, những người đã chết dù rằng lúc sống là kẻ thù, nhưng lúc chết họ là bạn với nhau kể cả với những người trên trần gian, cho nên tôi nghĩ nghĩa trang Bình An hiện nay là Biên Hòa cũ sẽ chứng minh cho quý vị thấy ai đúng ai sai.

– Xin cám ơn ông thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn đã cộng tác với chúng tôi trong cuộc phỏng vấn đặc biệt này, thay mặt cho Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Truyền Thông Báo Chí từ quận Cam, chúng tôi hân hạnh được tiếp xúc với ông và xin cám ơn ông trong cuộc phỏng vấn này; xin chúc ông sức khỏe và có thể tiếp tục làm công việc sắp tới cho chuyến Hải trình lần thứ 4 sắp tới.

– Tôi xin cám ơn nhà báo Lý Kiến Trúc đã có những câu phỏng vấn rất là hay, và đồng thời qua cái hải trình lần này nhà báo trực tiếp tham gia với uy tín của ông, tôi cho ông sẽ là con người rất là trung thực, khách quan, bởi vì Câu Lạc Bộ Báo Chí của ông tôi cũng đã theo dõi rất nhiều, tôi thấy là cũng rất nhiều những nhân vật uy tín trong nước (Đại sứ David Shear) và ngoài nước đã đến để tham dự, và tôi cho lần này với những ý kiến đánh giá của ông về hải trình Trường Sa, về những sự thật, những vấn đề ông đã nhìn thấy tận mắt ông đã chứng kiến từ hải trình Trường Sa đến nghĩa trang Biên Hòa, đến tất cả mọi vấn để trong nước thì tôi cho rằng cũng không cần nhà báo Lý Kiến Trúc phải nói gì khác, mà tôi chỉ cần là sự trung thực khách quan có sao nói vậy như các cơ quan truyền thông khác tôi đã đề nghị, và đây cũng là lương tâm trách nhiệm của nhà báo, tôi hy vọng rằng là với trí tuệ với cái danh dự và với cái hiểu biết của ông, ông sẽ làm một cái việc mà giúp cho trong ngoài xích lại gần nhau hơn. Xin cám ơn ông!/

Lý Kiến Trúc thực hiện trên quần đảo Trường Sa (HQ571) ngày 26 tháng 4 năm 2014

Cộng Sản Việt Nam Chi 180 Nghìn đô la Để Đàn Áp Nhân Quyền

Chính Quyền Việt Nam Chi 180 Nghìn USD Để Tiếp Tục Đàn Áp Nhân Quyền

http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2865

Mạch Sống, ngày 26 tháng 5, 2014

http://machsong.org

Ghi chú: Vào đây để vượt tường lửa: http://anonymouse.org/anonwww.html

Việt Nam đã ký hợp đồng mướn một tổ chức Hoa Kỳ đối phó với cuộc quốc tế vận của người Việt ở hải ngoại.

Tháng 12 năm ngoái, Toà Đại Sứ Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn chi 180 nghìn USD, trả trong 6 tháng, cho Podesta Group, Inc. Đây là một trong hai tổ hợp hàng đầu ở Hoa Kỳ chuyên vận động hành lang với Quốc Hội. (Xem bản hợp đồng: http://democraticvoicevn.files.wordpress.com/2014/01/vn-embassy-lobbying-contract-with-podesta-group.pdf)

Theo Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS, diều này cho thấy cuộc tổng vận động của người Việt ở Hoa Kỳ đang làm cho chính quyền Việt Nam lo lắng và chính quyền Việt Nam sẵn sàng tung tiền để đối phó.

Hiện nay, hai quan tâm lớn của chính quyền Việt Nam là Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam và Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam đã thông qua Hạ Viện với đa số áp đảo và đã được chuyển sang Uỷ Ban Đối Ngoại của Thượng Viện. Trong khi đó, triển vọng Việt Nam được vào TPP ngày càng xuống thấp do bị phần lớn các dân biểu và thượng nghị sĩ Hoa Kỳ chống đối.

Tháng 6 năm ngoái, 800 người Mỹ gốc Việt từ các thành phố Hoa Kỳ đã đổ về Quốc Hội để vận động cho luật về nhân quyền cho Việt Nam và ngay sau đó Hạ Viện Hoa Kỳ đã thông qua dự luật này. Tháng 3 năm nay, một cuộc tổng vận động tương tự đã quy tụ trên 800 nhà tranh đấu đến từ 30 thành phố Hoa Kỳ, và kể cả Canada, Đức và Áo.

Cuộc tổng vận động này nhằm thúc đẩy Thượng Viện thông qua Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam song song với việc cài các điều kiện nhân quyền vào TPP đối với Việt Nam.

“Chúng tôi tin rằng xác suất thành công trong việc đẩy lùi TPP lên đến 90%,” Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS, giải thích. “Ngay cả tuyệt đại đa số các dân biểu và thượng nghị sĩ cùng đảng với TT Obama cũng không ủng hộ cho TPP.”

Theo Ts. Thắng, sự việc giàn khoan HD 981 đang tạo thuận lợi cho người Việt ở Hoa Kỳ trong việc vận động nhân quyền cho đồng bào ở trong nước. Do ảnh hưởng xấu của các biến động do giàn khoan HD 981 gây ra, Việt Nam đang rất muốn sớm tham gia TPP để cứu vãn nền kinh tế tuột dốc. Trong khi đó, Hoa Kỳ không còn cần phải lôi kéo Việt Nam ra khỏi quỹ đạo củaTrung Quốc như trước đây nên không có nhu cầu phải đưa Viêt Nam vào TPP sớm.

Tuy nhiên, theo Ts. Thắng, cộng đồng người Mỹ gốc Việt không nên chủ quan hay bất cẩn vì tổ hợp Podesta Group có thể làm thay đổi tình thế: “Họ vận động Quốc Hội một cách thường xuyên và đều đặn trong khi chúng ta chỉ mỗi năm một lần đến Hoa Thịnh Đốn.”

Ông nghĩ rằng Việt Nam sẽ gia hạn hợp đồng với tổ hợp Podesta khi hợp đồng này chấm dứt vào đầu tháng 6.

“Sáu tháng tới đây sẽ là thời kỳ quyết liệt giữa chúng ta, những người tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ, và chế độ độc tài,” Ts. Thắng nói. “Họ sẵn sàng tung tiền để che mắt quốc tế ngõ hầu tiếp tục đàn áp nhân quyền một cách vô tội vạ.”

Ông cho biết là cuộc tranh đấu nhân quyền và dân chủ chính là tiền đề cho công cuộc bảo vệ đất nước trước hoạ ngoại xâm: “Phải xoá bỏ độc tài trước đã, rồi mới có thể đoàn kết toàn dân và tranh thủ sự yểm trợ quốc tế để chống ngoại xâm.”

BPSOS, tổ chức đã phối hợp Ngày Vận Động Cho Việt Nam từ 2012 đến nay, đang liên lạc với Quốc Hội để chuẩn bị một cuộc tổng vận động lần 2 trong năm nay, dự trù sẽ diễn ra vào giữa tháng 7 này.

“Vì tình hình hết sức nghiêm trọng cho sự toàn vẹn của quê cha đất tổ, và vì đây là cơ hội rất thuận lợi cho cuộc vận động nhân quyền và dân chủ, chúng tôi cầu mong đồng hương sẽ dốc lòng tham gia đông đảo cuộc tổng vận động quan trọng này”, Ts. Thắng kêu gọi.

BPSOS sẽ phổ biến thông tin về cuộc tổng vận động ngay khi có được sự trả lời từ Quốc Hội.

Bài liên quan:

Thời Điểm Thuận Lợi Cho Nhân Quyền

http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2863

 

Lý Kiến Trúc phỏng vấn hai nhà đối lập Hà Sỹ Phu và Mai Thái Lĩnh

Van Hoa Magazine

http://nhatbaovanhoa.com/D_1-2_2-68_4-915_5-10_6-1_17-16_14-2_15-2/#title2

Ảnh trên: Lý Kiến Trúc phỏng vấn ông Hà Sỹ Phu. Ảnh VH

Ảnh trên: Lý Kiến Trúc phỏng vấn ông Mai Thái Lĩnh. Ảnh VH

“Tư gia” ông bà Hà Sỹ Phu. Ảnh VH

(Phần 1+2)

Lời tòa soạn:

Hôm nay là ngày 5/5/2014, tôi Lý Kiến Trúc đại diện cho tờ Văn Hóa Magazine California hiện đang ngồi tại thành phố Đà Lạt, tôi hân hạnh gặp được nhà tranh đấu dân chủ Hà Sỹ Phu và nhà dân chủ phản biện Mai Thái Lĩnh.

Ông bà Hà Sỹ Phu đang tạm trú ở một căn nhà lụp xụp, có thể nói rất “nghèo nàn”, khuất dưới một con dốc. Hai ông bà tỏ ra rất ngạc nhiên khi gặp tôi. Nhưng khi đọc danh thiếp của tôi, ông mừng rỡ và ân cần mở cửa hàng rào mời vào.

Gọi là “nhà”, nhưng thật ra chỉ là cái mái tôn lụp xụp, “phòng khách” độ 4m2. Hai ông bà pha cốc trà thơm mời khách kèm theo dĩa mứt gừng.

Nhận xét đầu tiên của tôi gặp Hà Sỹ Phu là một ông già lụ khụ, mặc chiếc áo lạnh to chắc là cố che một thân thể gầy còm, ông già có đôi mắt sáng quắc, toát ra vẻ tự tin quyết liệt, quả không hổ danh với các loạt bài: “Dắt Tay Nhau Ði Dưới Tấm Biển Chỉ Ðường Của Trí Tuệ (1988), Chia Tay Ý Thức Hệ (1995)”. Ông nhìn tôi có vẻ “dò xét” về một nhà báo hải ngoại chưa bao giờ đối diện, thỉnh thoảng ông nhìn ra ngoài ngõ, dường như để ý xem có ai “đứng ngồi” xa xa hay không! (Sau cuộc phỏng vấn, quả thật có hai viên CA bảo vệ chính trị đến hỏi thăm sức khỏe tôi!)

Nhận xét thứ hai về một người trong 4 nhân vật rất nổi tiếng không những ở Đà Lạt mà còn trên khắp thế giới, đã từng làm rung chuyển “bộ óc” bộ chính trị đảng cộng sản, đó là nhà nghiên cứu dân chủ – phản biện Mai Thái Lĩnh “để đời” với luận chứng:  “Thác Bản Giốc – Những bằng chứng lịch sử”. Gần đây, ông Mai Thái Lĩnh đã tạo ra cuộc tranh biện gắt gao với ông Trần Công Trục, nguyên trưởng ban biên giới Việt Nam.

Để “cướp” thời gian, tôi vào chuyện ngay với hai ông:

Kính chào nhà dân chủ Hà Sĩ Phu, kính chào nhà tranh đấu Mai Thái Lĩnh, tôi rất hân hạnh được gặp được hai quý vị trong “Tứ Đại Hùng Tâm Đà Lạt”, mà bấy lâu nay ở hải ngoại chúng tôi ngưỡng mộ, đó là các ông: Hà Sỹ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự, và Bùi Minh Quốc. Trong thời gian ngắn ngủi này, tôi chưa thể gặp được hai vị Tiêu Dao Bảo Cự và Bùi Minh Quốc, rất may mắn gặp được hai ông trước, hai ông vui lòng cho chúng tôi thực hiện một cuộc mạn đàm.

– LKT: Kính thưa ông Mai Thái Lĩnh xin ông có thể nói sơ qua quá trình hoạt động của ông và nơi ông cư ngụ khá lâu năm ở Đà Lạt được không ạ?

– MAI THÁI LĨNH: Tôi không phải là sinh ra tại Đà Lạt, bố tôi là người Thanh Hóa, mẹ tôi là người Hà Tĩnh, vào trong Cao Nguyên này vào khoảng năm 1942-1943, và khi mẹ tôi mang thai tôi vào năm 1946, thì chưa sinh ra tôi thì bố tôi tham gia Việt Minh ở tại Đồng Nghê Thượng tức là tại vùng Di Linh cách đây khoảng 80Km. Sau đó khi từ Bắc trở lại thì bố tôi và tất cả những người trong ủy ban kháng chiến phải rút ra ngoài rừng về tới vùng Bình Thuận, và từ đó coi như là mất liên lạc. Khi sinh ra tôi thì tôi không gặp bố tôi, mãi đến năm sau 75 tôi mới gặp lại, mẹ tôi sau đó tái giá với một người khác và tôi có một số em cùng sống với tôi từ nhỏ đến lớn, và hiện nay coi như là ở hải ngoại toàn bộ, 3 người em ở Canada, 2 người em ở Hoa Kỳ, coi như ở đây còn mình tôi thôi, và những kỷ niệm đối với các em tôi sống từ nhỏ tới lớn là tôi ở Di Linh sống đến năm 14 tuổi tức là sau khi học hết cấp 2 thì tôi mới lên Đà Lạt và từ năm 60 trở đi thì gia đình tôi chuyển lên Đà Lạt, nên tôi không phải sinh ra ở Đà Lạt, nhưng thời gian cư trú ở Đà Lạt và có lẽ đến cuối đời có lẽ là nơi mà tôi ở lâu nhất, cho nên tôi cũng coi như đây là một cái quê hương sâm đậm ngoài cái nơi mà tôi sinh sống ở thời thơ ấu là ở Di Linh.

– LKT: Vâng thì thưa ông, trước đây thời sinh viên ông cũng đã có những hoạt động tranh đấu ở Sài Gòn phải không ạ?

– MAI THÁI LĨNH: Vâng, trước kia tôi không có tham gia tranh đấu, trước kia khi tôi về học ở Sài Gòn thì tôi tham gia một số hoạt động xã hội và từ khoảng năm 65 thì tôi tham gia vào công tác xã hội và tôi là một trong những người cùng với anh Nguyễn Đức Quang và Đinh Gia Lập sáng lập ra phong trào Du Ca Việt Nam. Thế nhưng tới năm những cái thời sự những cái diễn biến ở miền nam lúc bấy giờ nó rất là sôi động, và tôi bị lôi kéo giữa 2 cái luồng, trong đó đặc biệt có một số anh em bạn bè bị ảnh hưởng bởi phong trào phản chiến, lúc đó tôi cũng mong muốn có một đất nước hòa bình, thống nhất, và một phần cũng do cái nguồn gốc của mình, rồi cũng do một số ảnh hưởng từ trong các cái trường đại học mà tôi tham gia từ các giáo sư học ở Pháp về, nên có xu hướng phản chiến và bây giờ người ta gọi là lực lượng thứ 3, tất nhiên bây giờ nhìn lại thì có những điếu bồng bột, sốc nổi, những cái mình suy nghĩ không chín chắn, hoặc là cái con đường thứ 3 nó có một cái gì mơ hồ nó không có cái đường lối rõ ràng, nó dẫn đến những cái thiệt hại cho dân tộc, nhưng cái thời tuổi trẻ thì tôi bị lôi cuốn như thế, và đến năm 69 tôi tốt nghiệp cử nhân, thì đến khoảng năm 70-71 tôi giảng dạy tại đại học Văn Khoa Đà Lạt, thì chính trong cái thời gian đó một số anh em một số người trong cái phong trào đấu tranh đó và bên phía bên đảng Cộng Sản biết cái nguồn gốc của tôi như thế cho nên là tìm cách móc nối và sau đó đến năm 73 thì tôi vào Thủ Đức, nhưng tôi không có bảng đơn vị và sau đó tôi bỏ ngũ, và sau hiệp định Paris một thời gian tôi thoát ly ra ngoài rừng và ở đó cho đến năm 75 tôi trở về.

Từ năm 75 đó tôi là cử nhân giáo khoa triết học mà cử nhân giáo khoa triết học đối với chế độ này là con số 0, tức là họ cho rằng khi anh học triết học là anh đã bị nhiễm độc, anh bị nhiễm độc về mặt tư tưởng, cho nên, là những người mà tốt nghiệp Cử nhân Triết học thì nhìều người giống như tôi chỉ được chuyển xuống dạy cấp 2 một cái môn khác chẳng hạn, như ông thầy tôi được chuyển sang dạy môn Pháp văn, tức là họ không cho dạy lại môn triết học, thì trong cái hoàn cảnh đó thì tôi đưa về một cái trường trung học làm phó Hiệu trưởng, nhưng lúc bấy giờ những người trong nghành giáo dục nhiều người họ không bằng lòng họ cho rằng anh này là cử nhân giáo khoa triết học mà bây giờ ảnh làm phó hiệu trưởng thì sao ảnh làm được. Thì một người lãnh đạo ở đây họ mới nói với tôi phải hợp lý hóa tôi vào cái chuyện đó cho nên cho đưa tôi đi học trường đảng, tức là tôi lại được đi học triết học Mác Lênin một lần nữa để hợp pháp hóa tôi trở thành một người đậu bằng cử nhân. Hơn một năm rưỡi đi học về trường đảng, sau đó tôi còn một số mùa hè học thêm vài ba tháng gì đó thì họ mới cấp cho tôi một cái bằng gọi là Đại học sư phạm môn Chính trị; vậy là tôi tốt nghiệp 2 cái bằng một cái bằng là Cử nhân Triết học của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và bằng thứ 2 là bằng Đại học Sư phạm Chính trị của chế độ Cộng Sản.

Tôi công tác trong nghành giáo dục cho đến năm 1988, và tôi thấy không có kết quả. Lúc bấy giờ do một số bài báo một số ý kiến của tôi rất đụng chạm, tôi cảm thấy mình làm việc nó không có tác dụng nữa, tôi xin lãnh đạo không làm lãnh đạo nữa. Nghành giáo dục họ giải quyết bằng cách anh không làm lãnh đạo thì anh cũng không thể ở trường này được, anh ở đây thì không ai lãnh đạo được anh, thì tôi mới chuyển qua trường sư phạm, lúc bấy giờ thì tôi có cái đề nghị của thành phố về thành phố làm việc, sau tôi ứng cử Hội đồng Nhân dân Thành phố và tôi trúng chức phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố, tôi làm hết cái khóa đến khoảng năm 89-94 thì tôi bỏ công việc, từ đó tới giờ là một thường dân. Đó là tôi tóm tắt có lẽ hơi dòng dài.

–  LKT:Vâng, thưa ông Mai Thái Lĩnh, xét về bên ngoài thôi thì ông có vóc dáng như một nghệ sĩ, chúng tôi cũng được biết ông là người ưa thích về phong trào Du Ca, hình như là ban Trầm Ca là ban do ông sáng lập có phải không?

– MTL: Tôi không có sáng lập ra phong trào đó, nhưng mà thật ra thời gian ở Sài Gòn tôi chơi với một số anh bạn trong đó có anh Nguyễn Đức Quang, anh Hoàng Kim Châu, anh Trần Trọng Thảo và tôi là 4-5 anh em đó cùng với cô Phương Oanh, lúc đầu thì chỉ có anh em Trần Hưng Đạo thôi tức là ban Trầm Ca, cái ban Trầm Ca đó là do anh Quang và chúng tôi, đúng là anh Quang là đầu tàu, bọn tôi âm nhạc chỉ biết đàn hát cho vui thôi nhạc sĩ duy nhất là anh Nguyễn Đức Quang. Chúng tôi thành lập ban Trầm Ca, sau đó chị Phương Oanh ở bên trường âm nhạc mới vào tham gia sau đó mới trở thành một ban Trầm Ca, cái ban Trầm Ca đó chính là tiền thân để sau này thành ra phong trào Du Ca, đó là cái sở thích thứ 2.

– LKT: Vâng xin cám ơn vài lời của ông Mai Thái Lĩnh, chúng tôi xin được tiếp chuyện với nhà khoa học, nhà học giả Hà Sĩ Phu; kính chào ông Hà Sĩ Phu.

– HÀ SỸ PHU: Vâng xin kính chào ông Lý Kiến Trúc.

– LKT: Xin cám ơn ông, thưa ông, được biết ông là người được hải ngoại đặc biệt là giới truyền thông báo chí cũng như giới văn học rất ưa chuộng những tác phẩm của ông. Một số tác phẩm của ông gây rúng động rất lớn như bài viết “Dắt Tay Nhau Ði Dưới Tấm Biển Chỉ Ðường Của Trí Tuệ), Chia Tay Ý Thức Hệ”, về sau này ông có thêm một số bài nữa chúng tôi đã được đọc trên trang bauxit, và đặc biệt nhất là vào những dip Tết, ông hay có những câu đối Tết, vậy thưa ông, ông có thể cho biết câu đối Tết mới nhất của năm Giáp Ngọ là câu gì không ạ?

– HÀ SỸ PHU: Thưa anh Lý Kiến Trúc, tôi thì trước khi tôi học tiểu học tức là trước khi học quốc ngữ là tôi ở nhà được ông cụ nhà tôi là thầy đồ dạy chữ Nho. Trong chữ Nho nó có một cái gần như là một cái dẫn xuất của cái học tiếng nghĩa là làm câu đối văn chương nói chung và trong đó có câu đối, thì tôi được lĩnh cái hồn đó, nó nhập vào mình lúc nào ấy, cho nên trước những vấn đề lôi cuốn tình cảm, lôi cuốn suy tư của mình thì tôi lại suy tư bằng câu đối. Thì chẳng biết từ bao giờ nó quen cứ mỗi một năm anh em cứ giục. Có năm tôi chưa kịp làm thì anh em lại giục sao chưa thấy câu đối của ông năm nay, thế năm nay thì câu đối của tôi là câu đối thế sự, chắc anh em cũng biết nhiều, nhưng mà tôi xin nói câu đối mới nhất cảu tôi năm nay là năm Giáp Ngọ là năm con ngựa, so với những năm ngoái thì năm nay thì có cái đặc điểm là thứ nhất tôi tiên đoán năm 2014 này là một năm có những nét mới về cái chuyển động của xã hội Việt Nam. Cái chuyển động đó tôi linh cảm được ngay từ những ngày Tết, mà lúc đó nó chưa có gì sôi động như là tháng 4 tháng 5 này đâu, nhưng lúc đó tôi cảm thấy là năm nay có vẻ như không có chuyển động gì mới trong cái gọi là Dân Chủ hóa Xã Hội, thế thì trước đây chúng tôi cũng đã bộc lộ rất nhiều tư tưởng rồi, tôi lấy ví dụ như là tôi cho rằng nguyên nhân của mọi bê bối của xã hội Việt Nam hiện nay là do chúng ta đã chọn nhầm một con đường để giải phóng để xây dựng đất nước, chọn chủ nghĩa Mác thì quá sai, bởi vì nó phi khoa học hoàn toàn, nó ảo tưởng, nó chỉ để thích thôi, nó lôi cuốn những người mà chưa hiểu biết gì bao nhiêu, chứ còn đối với những người đã rất hiểu biết thì người ta biết ngay đó là cái không chấp nhận được.

Cho nên cái khối G7 đại diện cho tư duy văn minh nhất đó, có thấy Cộng Sản đâu, vì thế cho nên tôi cho rằng tôi đem cái tri thức của tôi cày sới vào cái gốc đó, tức là ta chọn nhầm đường, nhưng mà năm nay có cái mới là mọi khi tôi nói là nói đến chũ nghĩa, dám nói đến bộ máy, còn một cái trung tâm cuối cùng mà những người dân chủ ở trong nước trong những năm trước đây chưa dám động đến cái lô cốt cuối cùng để làm điểm tựa cuối cùng cho cái lý thuyết Cộng Sản là ông cụ Hồ. Bởi vì hiện nay người ta thầy cái điểm tựa cái thần tượng là ông Mác chắc khó đứng rồi, bởi bị cả thế giới công kích là phi khoa học, người ta bảo lịch sử vứt vào sọt rác mà. Thì xã hội lấy ông Hồ thay, thì người ta gọi đó là chia ly cuối cùng của người ta, những người dân chủ kể cả những người đã biết cái gốc thì cái thần tượng cũng không là gì cả, nhưng mà kê nốt ra cái điểm cuối cùng để có thể ngồi được với nhau, hoặc có thể tồn tại để mà tiếp tục phát huy tác dụng, cho nên người ta chừa lại cái đó.

Nhưng tôi tiên đoán trong cái năm 2014 thì ngay cả cái cứ điểm cuối cùng đó cũng không kiên được nữa, vậy câu đối của tôi năm nay có đến 3-4 câu là để tấn công vào cái thần tượng cuối cùng đó, đấy là một cái mới của câu đối năm nay. Đặc điểm thứ 2 là mỗi lần tôi làm câu đối thì thường có vế xuất đối để anh em trong ngoài xướng họa với nhau cho vui, thì trong những câu xướng họa năm nay có một câu mang được cái hồn của người xuất đối, tức là muốn phủ định, các vị ở đây các vị được gọi là đảng viên đấy vẫn bảo tôi là quá triệt để, cực đoan đấy, là vì tôi hiểu cái nguyên nhân nó là tận cái gốc, tôi xin nói lại là cái trang Ba Xàm là cái trang chủ yếu vế chính trị, kinh tế, họ ít đi về văn học, đặc biệt là câu đối là cái văn học cổ thì ít nói lắm, nhưng riêng câu đối này thì chính trên Ba Xàm tôi rất bất ngờ là đã đưa nguyên văn, và 2 câu đối có nội dung cụ thể, một câu của tôi và một câu đối lại của một nhân vật tên là Mai Xuân Hương, tôi không biết tên thật là gì chắc đây là bút danh, tôi xin đọc câu đối để hầu anh Lý Kiến Trúc.

Đối ra của tôi là thế này “Đánh cho dân tộc tan hoang, trận đánh đẹp đáng ghi vào lịch sử“. Có một cái tích, là anh Đỗ Hữu Ca có chỉ huy một cái trận dùng cả quân đội lẫn công an đánh vào dân, và anh ấy bố trí mọi thứ y như một trận đánh địch vậy, và cuối cùng anh ấy bảo đây là một trận đánh đẹp và đáng ghi vào sách, thì tôi nhại luôn câu đó, nhưng câu của tôi đề là “Đánh cho dân tộc tan hoang, trận đánh đẹp đáng ghi vào lịch sử”, bởi vì tôi nghĩ chiến công của đảng Cộng Sản Việt Nam ấy thì có chuyện đánh Pháp là chuyện nhỏ, chuyện đánh Mỹ thì không đâu vào đâu, trận đánh Trung Quốc thì đánh xong lại phải xin lỗi cũng không phải là chiến công gì ghê gớm lắm, chỉ duy cái chiến công mà tôi cho là chiến công to nhất là đánh vào chính dân tộc Việt Nam, làm cho mất tất cả những ưu điểm, dân tộc nào cũng có phần ưu phần nhược, nhưng mà đặc biệt với thể chế Cộng Sản thì những nhược điểm lại được khuếch đại lên, những ưu điểm thì lại bị tiêu mòn đi, có bao giờ dân tộc Việt Nam một dân tộc rất nhân ái, mà tại sao giờ thú tính lại ghê thế, giết nhau như bỡn, ngày nào cũng có hàng chục trận giết nhau, hay là một dân tộc rất yêu nước thế mà bây giờ cứ sợ nói yêu nước lại run lên là phải giun giấy, y như là đi ăn trộm. Tóm lại ai đã đánh cho dân tộc Việt Nam mất hết cả những cái truyền thống tốt đẹp đó, việc này trước đây Pháp 80 năm đô hộ không đồng hóa được mình, không làm biết mất cái chất dân tộc, thằng Tàu một nghìn năm đô hộ Việt Nam không làm mất được cái chất dân tộc, thế mà chỉ có mỗi mấy chục năm cai trị của đảng Cộng Sản mà làm cho mất được đến tận gốc, chiêu này tôi xin dùng chữ của ông Dương Trung Quốc là “chúng ta ngày nay đã bị mất gốc hoàn toàn”. Tôi cho rằng đánh được cho dân tộc Việt Nam mất gốc hoàn toàn thì đấy là chiến công đáng ghi vào sử sách nhất và rõ ràng nhất không ai có thể cãi được là của đảng, cái câu ấy thì tưởng đã là câu ghê gớm, nhưng mà tôi nghĩ cái câu của người hưởng ứng đối cũng sắc sảo không kém, anh ấy đối rằng “Tiêu vì chiêu bài giải phóng“, tiêu tức là chết ấy, vì cái chiêu bài giải phóng miền nam, giải phóng miền nam thực ra là một cái miền bắc làm cho chia phân minh bản, lại đánh vào cái anh miền nam là cái anh ở trong hệ thống dù sao cùng là dân chủ sơ khai nó cũng là văn minh bình thường của thế giới, tóm lại là mốt của cái anh văn minh kém lại đòi giải phóng cho một cái anh văn minh hơn thì chính thế mà chết, cho nên “Tiêu vì chiêu bài giải phóng”.

Ý kiến nữa thứ 2 của vế đối này mới ác này: “Lính đánh thuê sao vậy đến anh hùng”. Lấy chữ “lính đánh thuê” để đối với chữ “trận đánh đẹp”, thế thì câu này muốn nói rằng mỗi cuộc chiến tranh của ta chẳng qua là đánh thuê, đánh thuê cho Liên xô, đánh thuê cho trung quốc, thì chính ông Lê Duẫn đã công nhận rồi, ông ấy nói là ta đánh đây là đánh cho liên xô, Trung quốc, (đánh thuê cho Mỹ), nhưng có một điều mà ít người nghĩ tới là cả dân tộc mình đánh thuê cho đảng Cộng Sản Việt Nam, bởi vì sau trận đánh đó bỏ rất nhiều sinh mệnh, tài sản, công lao, thì thật ra chiến công quả có cái gì là đảng giữ hết chứ dân được gì đâu, có mấy cái ghế của 14 ông Vua và một tập đoàn lợi ích nhóm, tóm lại là nhân dân lại thành lính đánh thuê với giá rất rẻ cho đảng, thì tôi rằng đã gọi là lính đánh thuê thì không thể gọi là anh hùng, có cái bình luận rất ác là bao nhiêu anh hùng chiến sĩ suốt từ năm 1930 cho đến bây giờ bao nhiêu nghĩa trang, bao nhiêu danh hiệu cuối cùng thành vô nghĩa cả, tôi đọc mà tôi thấy giật mình, thế thì tôi chắc rằng cũng có nhiều đọc giả cũng cảm nhận được cái tinh thần đó.

– LKT: Vâng xin cám ơn ông Hà Sĩ Phu, thưa ông, ông là một học giả một nhà nghiên cứu một nhà trí thức xuất thân ở miền Bắc miền đất của xã hội chủ nghĩa, thì thưa ông ông đã vào miền Nam từ năm rồi ạ?

– HSP: Tôi vào miền Nam này cuối năm 1983 đầu 1984, lúc ấy tôi đang nghiên cứu viên của Viện khoa học Việt Nam ở Hà Nội, nhưng vì tôi làm một cái để tài là nghiên cứu cấy mô cây Sâm và cây Tam thất là 2 cái cây mà đòi khí hậu lạnh, tôi đã làm xong thí nghiệm ở trong phòng thì nghiệm rồi, tôi muốn dùng cái điều kiện tự nhiên ôn đới để phát triển cái cây đó, cho nên tôi xin chuyển vào trung tâm khoa học Đà Lạt để làm tiếp cái đề tài của mình; nhưng mà về sau khi tôi vào rồi thì tình hình xã hội của mình thay đổi và những công trình nghiên cứu cơ bản đó cũng không làm được.

LKT: Thưa hai ông có lẽ đây là cái nhân duyên lạ lùng cho sự gặp gỡ ngày hôm nay giữa một người xuất thân ở miền bắc xã hội chủ nghĩa và một nhân vật trí thức của miền nam đã thoát ly đi theo cách mạng. Hai nhân vật có thể nói là 2 thái cực trong cái dòng chảy dân tộc Việt Nam. Vậy tại sao thưa 2 ông chúng ta có thể gặp nhau ở trong một cái thời điểm trong dòng chảy của dân tộc Việt Nam như thế này. Kính mời ông Mai Thái Lĩnh!

(Xem tiếp Phần 2)

Phần 2

– MAI THÁI LĨNH: Tôi gặp anh Hà Sĩ Phu vào một cái giai đoạn là mãi đến sau khi có cái gọi là đổi mới của đảng Cộng Sản tức là sau năm 86, và cũng có cái cơ duyên; thật ra lúc đó chúng tôi không cùng làm việc không cùng môi trường, tôi cũng không nhớ lần đầu tiên gặp vào lúc nào, nhưng mà có lẽ thông qua một cái sinh hoạt ở hội văn nghệ tỉnh Lâm Đồng, tôi và anh Hà Sĩ Phu cũng không phải là dân văn nghệ, đúng ra không phải nhà văn, nhà thơ; hội văn nghệ Lâm Đồng lúc bấy giờ được thành lập năm 87, anh Bùi Minh Quốc và anh Tiêu Dao Bảo Cự là Chủ tịch và Phó chủ tịch của cái hội văn nghệ lúc mới thành lập, tôi và anh Hà Sĩ Phu tham gia trong nhóm gọi là lý luận, thật ra trong tờ báo văn nghệ nó có một cái mảng lý luận mà thật ra thì tụi tôi cũng không phải chuyên về lý luận văn học, anh Hà Sĩ Phu tuy là dân sinh học nhưng lại thích viết về vấn đề triết, về vấn đề tư tưởng chính trị vân vân, tôi thiên về triết về tư tưởng chính trị, thế là bọn tôi trong cái dịp đó gặp nhau và sinh hoạt, nhưng mà tình cờ lúc đó cái hội văn nghệ Lâm Đồng lúc bấy giờ nó lại hình thành một tờ báo, gọi là tờ Lang Biang, ra đời có 3 số thôi, và tối năm 88 bị coi là dứt, tức là chỉ có 3 số thôi, gọi là một cái hoa mới vừa nở lên và nó cũng khá nổi tiếng và đến số 3 coi như dứt, tụi tôi có tham gia một số bài viết trong đó nhưng nó xảy ra một cái sự kiện là anh Bùi Minh Quốc và anh Bảo Cự tổ chức một chuyến đi xuyên Việt, hai anh đi mỗi tỉnh lại thu thập chữ ký để làm một cái kiến nghị về vấn đề văn học nghệ thuật, thế là sau đó 2 anh đi về lại Đà Lạt là bị khai trừ đảng, tôi và anh Hà Sĩ Phu cùng ở trong một cái nhóm gọi là ký cái kiến nghị bảo vệ 2 anh đó, và chúng tôi kiên quyết là việc khai trừ 2 ảnh là sai, thế là giữa chúng tôi và lãnh đạo tỉnh này sinh ra đụng chạm, từ cái đó bắt đầu tụi tui thân nhau, và trong cái dịp đó thì anh Hà Sĩ Phu viết một số bài, bài đầu tiên đó là “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ”, ảnh dùng bút danh Hà Sĩ Phu tên thật của ảnh là Nguyễn Xuân Tụ, từ cái bút danh đó lúc đầu tung ra cái bài đó thì mọi người chưa biết là của ai, thế là các vị lãnh đạo các nghành an ninh văn hóa họ cứ đi thăm dò bài này là của ai, người bảo của ông Phan Đình Diệu, người bảo của ông này ông kia, nhưng cuối cùng không phải, cuối cùng không biết cái bài “Dắt Tay Nhau Đi” là của ai thế mà trên báo đảng và báo lý luận đánh nhau tơi bời vài chục bài ầm ầm lên nên thành một bài nổi tiếng.

Thế là từ đó anh em bị cuốn vào trong một có dòng, nói chung chúng tôi là những người cầm bút, tôi thì dù sao cũng đã từng làm đại biểu hội đồng nhân dân và cũng đã từng chuyển sang phụ trách cái cơ quan dân cử ở đây là hội đồng nhân dân. Tôi cũng không thể nhắm mắt làm ngơ để cho anh em tri thức bị đánh bị vùi dập trong một cái vùng gọi là quê hương của tôi được, vì vậy mà tôi và một số anh em khác những người không cầm bút như anh Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn như anh biết người ta gọi là 2 anh em họ Huỳnh đấy, là những người ra đảng rất sớm, thì chúng tôi cùng nhau ra sức là phải bảo vệ các anh này, thế là tự dưng hình thành ra một cái tình thân hữu và một cái nhóm, bởi vì anh biết có những cái lúc rất khó khăn bị công an gác rồi quản chế..v.v; đi thăm mấy anh này mọi người rất ngại thì chỉ có bọn tôi đi tới đi lui thôi, thì từ đó bắt đầu cái mối tình thân thì khoảng cuối thập kỷ 1980 khoảng 88-89.

– LKT: Thưa ông Hà Sĩ Phu với câu chuyện anh Mai Thái Lĩnh kể vừa rồi, thì ông là một nhân vật miền Bắc vào đây, trong cái bối cảnh xã hội lúc đó thì tại sao có những luồng tư duy, đặc biệt là những đường lối hoạt động của ông, cái quan điểm của ông đã gặp nhau với ông Mai Thái Lĩnh và những anh em khác; ông thấy cái điểm nào mà ông thấy đắc ý nhất trong cái bối cảnh vào thời điểm lúc đó?

– HÀ SỸ PHU: Chắc là hôm nay các vị đã biết trong cái nhóm gọi là thân hữu chúng tôi thì cũng có đông, nhưng mà có 4 anh em chúng tôi gọi gần như là trung tâm; người khởi xướng có anh Mai Thái Lĩnh, nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và tôi, bốn người này là 4 người khác hẳn nhau không ai giống ai cả, nghĩa là xuất thân khác nhau lắm, ông Lĩnh vừa nói rồi, còn tôi chỉ biết nghiên cứu tức là phòng thì nghiệm và bục giảng, không liên quan một tì tẹo nào đến hoạt động xã hội cả, nhất là con nhà nho thường là kín đáo nhu mì chứ không có gì gọi là xông xáo hoạt động xã hội cả. Mỗi người một khác, tôi cũng không hiểu cái duyên gắn với nhau nó rất lạ, tôi nói nó rất lạ như này, đầu tiên là tôi xin vào Đà Lạt để làm khoa học, như tôi nói tôi làm về cây sâm và cây tam thất 2 cây thuốc quý đó mình sản xuất để cho nhân dân mình có thuốc để dùng, thế nhưng tới cái thời tôi định vào đây lúc bấy giờ người ta đã có quan hệ với Trung Quốc khá là rộng rãi rồi, thì ở Trung Quốc họ trồng sâm trồng tam thất nó rẻ lắm người ta có sẵn mình mua chứ đâu cần phải cầu kỳ sản xuất bằng việc nhân tạo khó khăn, thế cho nên công trình đó không có ý nghĩa thực tiễn nữa tôi phải bỏ.

Đúng lúc hội văn nghệ Lâm Đồng được thành lập, anh Bùi Minh Quốc lại được tỉnh ủy lôi vào đây để làm trưởng ban vận động thành lập cái đó, thì vốn nho học của tôi thời xưa làm thơ làm câu đối lại trở nên gần gũi với văn nghệ của các anh, trước khi có hội đó thì tôi cũng đã viết một số bài thơ đăng lên báo của Lâm Đồng báo địa phương, các anh có biết, thế nhưng mà lúc bấy giờ văn học lại chỉ là cái phương tiện chở tư duy của mình, bởi vì lúc đó đất nước đang chuyển đổi bắt đầu có không khí đổi mới ập đến, thì rất là chúng tôi bốn người khác nhau lại có mặt trong hội văn nghệ Lâm Đồng, và chúng tôi đều có quan hệ với những người Cộng Sản ly khai đổi mới trước tiên ở đất nước này, tôi lấy ví dụ như cả 4 người chúng tôi đều thân với ông Nguyễn Hộ ai cũng biết, ông có tác phẩm “Quan Điểm và Cuộc Sống”, ông ấy từng có ý định lập chiến khu mà, sau đó là thân với ông Trần Độ, có một thời kỳ không được gọi là thân nhưng rất có thiện cảm với ông Võ Văn Kiệt là một người của Cộng Sản cao cấp nhưng mà cũng có những tư tưởng không đồng nhất với lại ý đa số, thì 4 người chúng tôi từ 4 phương trời khác nhau khả năng khác nhau anh làm thơ, anh làm văn, anh thì giảng dạy nghiên cứu về triết, còn tôi thì một anh về khoa học tự nhiên, nhưng xin nói tại sao khoa học tự nhiên mà lại dính vào chuyện này, ngay từ khi tôi học cái khoa sinh học ở trường đại học tổng hợp thì lúc ấy dạy Mac Lênin còn nặng lắm tôi được dạy rất nhiều, thì tôi được thấy giữa cái sinh học tôi được học với cái phần triết học Mac Lênin tôi học nó mâu thuẫn với nhau vô cùng, thì lúc bấy giờ tôi thấy xã hội còn rất ổn định coi như Mac Lênin là duy nhất khoa học không ai được cãi một nữa câu, bản thân tôi trong những cuộc thảo luận tổ sinh viên là tôi đã là người cãi bướng vì tôi thấy ông Mac Lênin nói nhiều câu chả khoa học gì cả, thế thì cái mầm nó có từ đó, cho nên khi vào đây tham gia hội văn nghệ thì tôi có nói chuyện với một vài anh em thì anh em thấy ông này với cái tư duy khoa học của ông ấy chiếu vào cái triết học xã hội này có nhiều điểm được lắm.

Có một hôm tôi với chị Việt Nga tức là con gái ông Trường Chinh cùng ngồi nghe báo cáo thời sự, thì chị Nga mới bảo: này anh Tụ những cái ý tưởng anh phát biểu làm tôi sáng ra rất ghê, khi nào anh ngồi với anh em anh tổng kết lại nói có hệ thống một chút cho anh em nghe, thế là có một cái cuộc mạn đàm với nhau, rất may là có 2 nhà khoa học xã hội, một là anh Hoàng Ngọc Hiến là nhà nghiên cứu về văn học và anh Phạm Vĩnh Cư nghiên cứu về văn học và học ở Nga rất lâu, thì cái buổi đó tôi với tư cách là một cái anh khoa học tự nhiên vẽ một cái sơ đồ báo cáo khoa học thì nghe xong mọi người bảo ông phải viết ngay bài này nhé viết và đưa ra đây sẽ là một quả bom, tôi bảo viết cái này để nó bắt cho chết à! ông Quốc còn bảo không chừng ông Mac còn bảo vệ cho ông đấy, vì ông Mac cũng có nói câu giống Phật ấy tức là muốn giác ngộ thì phải có nghi ngờ, phải có phản biện, thì ông cứ phản biện đi, thế là bắt tay vào viết bài đầu tiên dài có 10 trang đánh máy thôi là cái bài “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ”, ai ngờ vừa mới viết xong lúc đấy còn quá tin tưởng vào tính xây dựng của mình chứ, cho nên viết xong là tôi gửi cho báo Nhân Dân, gửi cho báo đảng Cộng Sản và gửi cho hội nhà văn Việt Nam, những cơ quan đó trả lời lại rất là đồng êm; ví dụ tạp chí Sông Hương đã hứa là sẽ đăng ngay trong số sau, rồi thì là hội nhà văn Việt Nam viết một thư cám ơn, thì mình được động viên quá.

Ai ngờ chỉ ít lâu sau ông Đào Duy Tùng vác cái bài đó đi khắp các hội nghị đều nói rằng có một nhóm tập thể nào đó lấy tên Hà Sĩ Phu dám dạy chúng ta về Mac, thế là thành một câu chuyện rất to, và như tôi đã nói báo Nhân Dân, báo Quân Đội, báo Cộng Sản, có hơn 30 bài đánh lại bài của tôi một cái bài rất nhỏ không thấy đăng ở đâu, thậm chí chính nhà triết gia Trần Đức Thảo viết một bài phê phản cái đó, thành ra tự nhiên một thằng khoa học tự nhiên không bao giờ chính trị nhưng vì lý luận động vào cái nền tảng chính trị của ông ấy tự nhiên biến thành chính trị hóa, thế là phía đảng đã chính trị hóa tôi biến tôi thành một nhân vật chính trị.

Đồng thời phía hải ngoại thấy được bài viết đó cũng hoan nghênh quá, tôi nhớ lúc đấy còn ông Nguyễn Ngọc Lan và ông Đỗ Mạnh Tri đã giúp tôi, khen lắm một bài viết như thế này sau lại không được đăng tiếc quá, bên ngoài cũng rất ủng hộ, thậm chí đài RFA cũng đọc bài viết của tôi liền mấy tháng liền, thế thì một anh trước giờ chỉ biết phòng thí nghiệm chỉ biết bục giảng tự nhiên bị hai bên đẩy vào chính trị, và trong 4 người chúng tôi thì tôi là người bị đẩy vào chính trị sâu nhất cho nên bị ngay cái án tù 1 năm từ năm 95 tới năm 96.

Tóm lại về câu hỏi của anh thì là tại sao 4 người chúng tôi người thì Bắc người thì Nam, mỗi người chuyên môn khác hẳn nhau tại sao lại cùng với nhau chia sẽ nhau cái nhìn, thế thì tóm lại là gì, tôi chia sẻ cái cơ sở của nó là thế này là tư duy khoa học, nhất là tôi với anh Lĩnh, tư duy triết và toán dùng những cái luận lý khoa học thấy được cái phi lý của cái lý luận chính trị này, muốn thành người tri thức thì phải dấn thân vào cho xã hội bởi vì thành người tri thức là mình nợ xã hội, xã hội cho mình bao nhiêu thứ mình mới thành người tri thức, chứ nếu mình chết đi mình mang cái tri thức đó đi thì mình thành ăn quỵt, thế thì chính với cái tư duy cái tấm lòng là phải trả nợ áo cơm, trả nợ kiến thức cho xã hội thì 4 người chúng tôi đều nghĩ giống nhau, cho nên mặc dù là anh thì văn nghệ anh thì giảng dạy nhưng đều thấy dùng cái vốn ấy của mình làm cho cái cuộc đổi mới, cái này giống nhau vậy gặp nhau là gì gặp nhau ở cái trí cái đầu, và gắn nhau ở trái tim.

Còn phải kể đến cái yếu tố thứ 3, yếu tố ngẫu nhiên tự nhiên, sao một anh đang ở Hà Nội lại nhảy vào Đà Lạt, rồi do hoàn cảnh đưa đẩy một anh theo cách mạng chính thống từ miền bắc như là anh Quốc với 2 ông gọi là phong trào trong miền nam là ông Lĩnh với ông Cự, 4 người thì 4 phương trời giống nhau chỉ có 2 điểm đó thôi giống nhau ở cái tư duy khoa học giống nhau ở tấm lòng đối với đất nước, và với cái cơ duyên gắn kết 4 chúng tôi vào nhau. Xin thưa là với cái mối gắn kết này công an người ta khó chịu lắm, người ta khai thác sự khác nhau giữa 4 anh này và đã nhiều phen đánh phá nhưng mà vì chúng tôi có cơ sở quá vững cho nên đánh không ăn thua, 4 người chúng tôi đặc biệt là tách anh Cự anh Quốc ra khỏi tôi với anh Lĩnh không tách được, 4 người chúng tôi mới vừa rồi vào ngày 22/4 là ngày sinh nhật tôi mà trùng với sinh nhật ông Lênin ấy, 4 người chúng tôi cùng ngồi với anh em ở đây và hoàn toàn vui vẻ, thế thì câu hỏi của anh nguyên cớ gì mà gắn 4 người với nhau thì tôi nói rằng người ta căm thù cái sự gắn kết đó, và tìm mọi cách phân tán ra mà phân tán không được ạ.

– LKT: Vâng xin cám ơn ông, chúng tôi xin được trở lại với ông Mai Thái Lĩnh, thưa ông năm xưa ông đã thoát ly từ cái môi trường của ông đang sống để đi theo Cộng Sản, bây giờ ông lại thoát y từ bỏ đảng Cộng Sản, trong khi đó từ năm 1985 đảng Cộng Sản đã có sự gọi là đổi mới Glasnote – Perestroika, và hiện nay đang có dấu hiệu tạm gọi là sự thay đổi cơ chế và hệ thống đảng Cộng Sản;  trải qua một quá trình lâu dài như vậy và đã từng sống với nhiều chế độ, xin ông có thể cho biết con đường chính trị Việt Nam hiện nay cũng như con đường của đảng Cộng Sản sắp tới như thế nào không ạ?

– MAI THÁI LĨNH: Tôi thì tôi hình dung cái quá trình đổi mới của Việt Nam là như thế này: năm 86 có thể là cái thời điểm đảng Cộng Sản đổi mới nhưng đáng tiếc là ở Việt Nam cái cuộc đổi mới năm 86 đó như rất nhiều người kể cả các đảng viên cao cấp của đảng đã nói đấy là chỉ đổi mới có một hướng, là đổi mới kinh tế chứ không đổi mới chính trị và tư tưởng. Cái hạn chế lớn đó đến khoảng năm 89-90 khi tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đi sang một số nước xã chủ nghĩa thấy hệ thống xã chủ nghĩa sụp đổ ông ấy lại càng lo sợ hơn nữa, và ông ấy cố tìm cách bảo vệ cái đảng này cho nên cái công cuộc đổi mới nó bị khựng lại từ đó, cho nên đổi mới này là đổi mới có một chân, và cái chân quan trọng như tôi phân tích trong một số tác phẩm có lẽ đọc giả hải ngoại ít chú ý, ở trong nước thì để ý nhiều hơn, là vì tôi đã nói tôi học chủ nghĩa Mac qua 2 cái cách khác nhau.

Trước năm 75 tơi có học triết học đông phương, triết học tây phương trong đó tôi cũng có học cả Mac nữa, thế là sau năm 75 tôi lại được học cái Mac Lênin ngày trong cái trường đảng nữa, tức là từ 2 cái cách học khác nhau đó soi trở lại thì tôi lại thấy cái gốc của vấn đề.

Đối với một đảng Cộng Sản cái quan trọng hàng đầu mà người ta cứ nói nhập tâm đối với đảng Cộng Sản chỉ có 2 vấn đề nhập tâm nhất chính trị tư tưởng là 1 cái chân thứ 2 là tổ chức, đối với đảng Cộng Sản 2 cái đó là quan trọng nhất – chính trị tư tưởng và tổ chức, cho nên, nhiều khi những người kể cả học giả tây phương khi nghiên cứu về chủ nghĩa Mac hay chủ nghĩa Cộng Sản họ không hiểu điều này, người Cộng Sản sức mạnh của họ là do cái đầu khi họ nhồi tất cả cái đầu đi về một hướng thì tất cả nó tạo thành một sức mạnh, cho nên họ rất sợ cái chất keo này nó rã ra, cho nên cái đổi mới chính trị tư tưởng đối với đảng Cộng Sản là một điều hết sức quan trọng, kế đến là tổ chức, thì cái năm 86 mặc dù có chuyển biến về mặt kinh tế nhưng về mặt chính trị tư tưởng và tổ chức thì đảng Cộng Sản lại lo sợ mất quyền nên họ không thay đổi cái chỗ đó. Tôi nghĩ đó là một cái đáng tiếc cho Việt Nam.

Và khi chúng tôi phát hiện ra điều này, như đã nói là mấy anh em ở Đà Lạt bắt đầu hình thành chung với nhau như vậy thì nó xảy ra một cuộc va chạm, thứ nhất về phía chúng tôi và một số các vị trong đảng Cộng Sản mà thực sự họ có một cái ý thức đối với dân tộc và họ có một cái suy nghĩ độc lập thì từ từ họ hưởng ứng chúng tôi, nhưng mà ngược về phía cái ban lãnh đạo mà chiếm đóng thì họ rất khó chịu, thế thì tôi hình dung con đường đổi mới của Việt Nam hiện nay như thế này, vấn đề đã được đặt ra rồi nhưng đổi mới theo cách nào thì nó còn đang là vấn đề rất lớn, hiện nay người ta giả định là trong đảng Cộng Sản có 2 xu hướng khác nhau tạm gọi như thế, một cái gọi là xu hướng tiến bộ cấp tiến, một cái xu hướng là bảo thủ giáo điều, nhưng mà cái khó nhất sau khi quan sát quá trình đổi mới trong đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là đối với một cái đảng Cộng Sản thì cái gì cũng bị bưng bít, thứ 2 là những cái người bảo thủ giáo điều phát biểu thì họ không sợ gì cả, bởi vì họ đi theo con đường mòn, họ không bao giờ phải chịu trách nhiệm lỡ có gì thì họ chỉ bị kiểm điểm sơ sơ rồi cũng hạ cánh an toàn thôi, nhưng nếu anh là một người có tư tưởng đổi mới tiến bộ mà anh để lộ ra là anh bị gạt ra ngoài liền, đó là một cái rất khó cho nên chúng ta không thể phân biệt được trong đảng Cộng Sản ai là thật sự đổi mới, ai không thật sự đổi mới, chúng tôi chỉ xác nhận những người sau đây là thực sự đổi mới chẳng hạn như là ông Nguyễn Hộ ông Trần Độ đó là những người có quyết tâm đổi mới, nhưng ngược lại những người khác chúng ta thấy rất là lờ mờ thấy không rõ, cái đó là cái rất khó cho ở bên ngoài, cho nên theo ý tôi thì là trong cái quá trình đổi mới hiện nay có 2 vấn đề đạt ra, vừa rồi có một cuộc gặp gỡ trao đổi giữa tôi và một số anh em, một số anh em ở đây và một số anh em ở Sài Gòn cũng trong phòng trào học sinh, sinh viên cũ của Sài Gòn, thì có đặt vấn đề thế này, có 2 cái mảng ở trong đảng là có một thành phần tiến bộ đổi mới hay không, thì chúng tôi nghĩ là có, nhưng sức mạnh nó bao nhiêu, khả năng nó có thể chuyển đổi bao nhiêu thì chúng ta không rõ, cái phần thứ 2 là cái phần bên ngoài, là cái cuộc đấu tranh bên ngoài thì cũng có nhiều phương pháp khác nhau lắm, nhưng mà chúng ta có một cái cánh đổi mới theo phương thức ôn hòa bất bạo động, thì bên ngoài và bên trong anh nào là anh quan trọng hơn, thì giữa chúng tôi có cái không thống nhất, một số anh em cho rằng là bên trong quan trọng hơn, nhưng riêng đối với tôi và anh Hà Sĩ Phu chúng tôi quan niệm là bên ngoài mới là quan trọng, chừng nào cái phong trào đấu tranh ôn hòa bên ngoài mạnh chừng nào thì nó mới tạo điều kiện cho cánh chân bộ trong đảng phát triển lên, chứ còn trông chờ vào cái đảng Cộng Sản… bởi vì phải nói cho đến cái tuổi này tôi đã bước vào gần tuổi 70 rồi, anh Hà Sĩ Phu đã qua cái tuổi 70 rồi thì nhìn quá trình quan sát đảng Cộng Sản Việt Nam chúng ta cảm thấy đừng có hoài công vô ích chờ đợi cái sự đổi mới từ bên trong, vì cái sự thành lập của đảng Cộng Sản Việt Nam nó khác với các đảng Cộng Sản ở Đông âu, các đảng Cộng Sản Đông âu là do cái áp đặt của Liên xô cho nên họ mới bị áp đặt một chế độ Cộng Sản trên các nước đó, thứ 2 ở các nước đó trước kia đã có 1 cái nhánh gọi là đảng Xã hội Dân chủ, thì sau chiến tranh thế giới thứ 2 thì các đảng Cộng Sản Đông âu họ bắt cái cái đảng Dân chủ Xã hội này phải nhập đảng của họ, anh nào không nhập vào được thì họ đuổi ra hoặc là tìm cách đàn áp để ra ngoài, cho nên dù sao ở các đảng Cộng Sản Đông âu đó vẫn có một cái mầm là đảng Dân chủ Xã hội cũ; đó là cái yếu tố đổi mới của họ nó vẫn có trong lòng, cho nên chúng ta mới thấy sự kiện 56 của Hungary, sự kiện 68 của Tiệp Khắc, chứ Việt Nam làm gì có, Việt Nam mới vừa mon men lên cái chuyện Nhân văn Giai phẩm là bắt đầu nó dập rồi, mà cái mức độ đổi mới rất là thấp, cho nên tôi nghĩ rằng đừng có hy vọng vào đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam mà tự đổi mới, nhưng trong quá trình phát triển thì theo tôi nghĩ là cái cuộc đấu tranh của phong trào bên ngoài mạnh chừng nào thì nó sẽ tạo điều kiện cho cái nhân tố ở trong đảng, tức là cái mà chúng ta gọi là cái cánh cấp tiến nó phát triển hơn, thì lúc đó chúng ta mới có cơ may chuyển đổi xã hội được, tất nhiên có những người hải ngoại nữa, nhưng chúng tôi nghĩ cuộc đấu tranh trong nước là cái quan trọng nhất, ở nước ngoài có một cái hạn chế là giúp được chúng tôi rất nhiều nhưng không trực tiếp, cho nên ở hải ngoại cũng là một lực lượng rất là quan trọng, điều rất là đáng quý bây giờ chúng tôi mới có thể nói là cái năm mà tôi và anh Hà Sĩ Phu bị khởi tố vụ án phản bội tổ quốc, sau đó chúng tôi không được sử dụng internet, đến khi tôi được sử dụng internet lại thì tôi mới phát hiện ra là có hàng nghìn chữ ký ở bên ngoài để bảo vệ cho tôi và anh Hà Sĩ Phu.

Có thể nói đây là lần đầu tiên nhờ qua anh và qua các cơ quan của anh để chúng tôi nói hết sức cám ơn, lúc đó chúng tôi mới mở được internet, lúc đó anh Hà Sĩ Phu cũng không được sử dụng internet tôi phải chép từng cái đĩa hay cái gì đó đưa lại cho ảnh. Tôi trở lại với vấn đề hồi nãy cái khó nhất là của một cái đảng Cộng Sản là vì những cái cách làm việc của họ, cái thói quen của họ cho nên không có gì là rõ ràng, cho nên đối với những cái ý kiến của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thật ra tụi tui cũng chưa dám khẳng định là đến mức nào, và có thực tâm hay không hiện nay thì chúng tôi chưa khẳng định, nhưng mà phải có thời gian, phải có những cái gì thực tế chúng ta mới rõ, bởi vì tôi nhớ tôi có đọc trên một tờ báo Liên xô bằng tiếp Pháp vào thời kỳ đối mới thì cái ông thủ tướng cuối cùng của cái đảng Ba Lan ổng có nói một câu là “đừng có nói rằng cái này là do tôi, tôi là thủ tướng nhưng tôi chỉ làm những gì của bộ chính trị chứ tôi có quyền gì đâu”! Tôi thấy trong cái lúc dầu sôi lửa bỏng như thế mà ông ấy nói được; như vậy trong tình hình Việt Nam tôi nghĩ ông Tấn Dũng chưa chắc dám nói hết những gì mình nói ra, cho nên tôi nghĩ câu hỏi này chúng ta nên đợi thực tế, tôi cũng nhắc lại một cái ý mà hôm trước tôi có nói với một số anh em trên Sài Gòn thế này, chúng ta không chủ trương ủng hộ một cá nhân nào, nhưng chúng ta cũng tuyệt không từ chối bất cứ cá nhân nào, kể cả những người được đánh giá là bảo thủ, bởi vì bất cứ người nào là Cộng Sản nhưng nếu như ông có những hành động thực tiễn, có những quan điểm đúng đắn làm việc tốt thì chúng tôi ủng hộ, chứ chúng tôi không ủng hộ một cá nhân, cái thứ hai nữa là trông cái thông điệp đầu năm có nói về vấn đề đổi mới nhưng tôi đọc thì tôi còn thấy chưa rõ ở một cái điểm này, tại vì cách nói của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không biết là có phải vì ở cương vị của ổng, ổng không dám nói hết hay không, tôi không hiều là đổi mới theo thể chế kinh tế hay đổi mới về chính trị, mà hiện nay có một cái đề tài mà sắp tới tôi cũng sẽ viết thêm một số bài để làm rõ hơn trong cái quan niệm về đổi mới của phía gọi là cánh tả, chủ nghĩa xã hội nó có hai quan niệm khác nhau, quan niệm thứ nhất được gọi là dân chủ xã hội tức là society democratic, quan niệm thứ hai gọi là chủ nghĩa xã hội dân chủ democratic socialism, hai quan niệm này ngày xưa giống nhau nhưng khoảng từ đầu thập niên 80 đến nay là bắt đầu nó tách hẳn ra hai quan niệm khác nhau, quan niệm dân chủ xã hội ngày nay người ta không nói gì tới chủ nghĩa xã hội nữa mà người ta coi nền kinh tế chắc chắn là nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản nó phát triển chứ anh cũng chưa tìm ra cái gì thay nó cả, thế thì anh chỉ là dùng hệ thống chính trị để anh điều chỉnh thế nào cho nó có cái công bằng trong xã hội, phân phối cho nó công bằng phát triển cho nó đúng hướng, hạn chế tác hại của kinh tế thị trường, nếu mà anh thả nó ra nó sẽ xảy ra chuyện này chuyện kia, chứ họ không nói gì tới một cái chủ nghĩa xã hội để thay cái chủ nghĩa tư bản này cả, ngược lại cái phái mà gọi là chủ nghĩa xã hội dân chủ họ vẫn coi là phải xây dựng chủ nghĩa xã hội để thay chủ nghĩa tư bản, và chỉ khác nhau là phương pháp dân chủ, thế thì nó khác nhau là một bên coi đây là phương pháp dân chủ, một bên coi là phương pháp dân chủ bằng nguyên tắc dân chủ, tôi nói ví dụ tại Đức cái đảng SPD tức là cái đảng Dân chủ Xã hội lâu đời hiện nay họ trở thành một cái đảng trung tả Center-left tức là họ nhích thêm một tí nữa tức họ giống với cái đảng Dân chủ Mỹ. Tôi cứ hình dung nếu họ ngã thêm tí nữa, rồi đảng Dân chủ Mỹ ngã sang cánh tả thêm tí nữa là hai anh giống nhau giữa Châu Âu và Hoa Kỳ hoàn toàn giống nhau; ngược lại cái đảng mà gọi là đảng cánh tả đó là leftist tức là bao gồm ông Gysi vừa rồi phát biểu có phần bênh vực ông Putin ấy, chính là cái đảng Cộng Sản cũ của Đông Đức chuyển thành và một bộ phận của đảng SPD họ không bằng lòng họ tách ra, thì cái đảng này thật ra là một cách đổi mới mà người ta gọi là Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ chứ chưa phải là Dân chủ Xã hội, còn Dân chủ Xã hội ngày nay là họ không quan niệm cái chuyện kia nữa, thành ra tôi đọc thông điệp đầu năm tôi có cảm giác như cái này nó vẫn còn nằm trong cái hướng Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ thôi, cho nên tôi cũng chưa biết quan niệm nếu là đổi mới chính trị thì đến mức nào, cái đó tôi chưa dám khẳng định, nhưng mà tôi xin nói thêm cái đó cũng là cái bước đáng hoan nghênh, nếu đổi mới được theo hướng đó nhưng chỉ là mới nửa con đường thôi.

– LKT: Vâng xin cám ơn ông Thái Lĩnh, cũng xin trở lại cái đề tài vừa rồi xin hỏi ý kiến ông Hà Sĩ Phu thì ông nghĩ thế nào về quan điểm đổi mới  của ông Nguyễn Tấn Dũng hiện nay?

– HÀ Trước hết tôi đề cập vấn đề này giữa lời nói và người phát ngôn; trước hết hiện nay thế nào là đúng thế nào là chân lý thì con đường của toàn nhân loại đã quá rõ, hai là con đường của Việt Nam phải trở thanh cái gì cũng rất rõ, tóm lại cái chân lý để nói cho đúng khách quan thì rất rõ rồi, những người Cộng Sản mà nói thì nói những lời hay nhất thì cũng chỉ mới là nói một phần của chân lý thôi, chưa nói đến tận cùng của chân lý, nhưng mà những câu nói đó rất đáng hoan nghênh, bởi vì trong cái hệ thống này trước đây toàn nói ngược với lại chân lý nói ngược với lại tiến hóa, thế bây giờ người ta dám nói thế thì đàng hoan nghênh quá rồi, nhưng cái điều quan trọng là phải phân biệt cái lời nói của con người đấy và thật chất con người đấy.

Ví dụ rất nhiều người trong cái đấu tranh dân chủ hiện nay là cứ phải trích lời của cụ Hồ, thì cũng có nhiều câu nói được lắm chứ, ví dụ như câu nói “nếu chính phủ hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ mà”, thì câu nói ấy quá mạnh, câu nói ấy được quá, nhưng mà con người sao? nói thế, nhưng cả đời ông Hồ chưa bao giờ tạo điều kiện để thực hiện cái đấy, để thực thi cái đấy phải có luật, muốn thực hiện được phải có tổ chức, mới có sức mạnh để đuổi được chính phủ chứ, cụ không bao giờ tạo ra cái đó cả, thế tóm lại là gì? lại soi cái đấy vào những câu nói rất tốt đẹp, ví dụ lời nói của ông Nguyễn Tấn Dũng vừa rồi, thì tôi nói lời nói rất đáng hoan nghênh, nếu làm được đúng như lời nói thì tốt quá, nhưng mà tôi giống như ý kiến của anh Lĩnh đấy, tức là phải phân biệt giữa lời nói và thực chất của con người, bởi vì trong điều kiện xã hội hiện nay thì ở một xã hội mà bị bưng bít, chẳng những là bưng bít của chế độ Cộng Sản đối với nhân dân mà ngay cả trong đảng với nhau nữa, họ cũng trói buộc nhau ghê lắm, đã là trong đảng phải có một cái kỷ luật đảng đâu thể nào khác được, vì thế cho nên cái lời nói với lại thực tế còn một cái khoảng cách rất xa, vì thế cho nên khi ta ủng hộ thì phải nhớ đến điều này, và tôi ủng hộ câu đó, câu đó là một phần của chân lý đấy, nhưng tôi không ủng hộ con người đó đâu nhé, anh nói câu đó nhưng mà để xem anh có phấn đấu tạo điều kiện để làm cái đó hay không thì cái chuyện đấy tôi để ngỏ, cho nên rằng khi tôi khen những câu của ông Nguyễn Văn An trước đây, khen những cái lời phát biểu đầu xuân vừa rồi của ông Nguyễn Tấn Dũng, thì khen là rất đúng còn nói những câu đó là rất đáng mừng, nhưng không được dừng ở đấy mà phải nói luôn rằng cái đó nếu mà chỉ để nói cho vừa lòng dân thôi thì là nói xạo thì nó sẽ phản tác dụng, tức là đáng lẽ câu đó nâng con người anh lên nhưng nếu chứng minh được rằng anh làm lại không làm như thế hoặc là ngược lại thì chính câu nói đó sẽ làm giảm lòng tin đối với anh, chứ không phải một câu nói hay đã là tốt đâu, câu nói hay mà làm theo đó thì nó nâng uy tín của anh lên thật sự, thậm chí uy tín có thể đến mức độ là đổ được phía đồi lập mà bảo thủ, thế nhưng nếu không thực hiện thì tác dụng lài dội ngược, nghĩa là anh tạo ra một cái bài PR cho mình tạo ra một cái hy vọng nhất thời, nhưng rồi lại tịt, lài làm một cái phi vụ khác làm một cú nổ khác tạo một hy vọng khác, nếu làm lại cái đó hai, ba lần thì những lời hay đó sẽ mất tác dụng, mà tôi sợ rằng thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lập lại cái bài đó hai, ba lần rồi.

Có một lần ông ấy đã nói rằng phải có một cái luật để cho nhân dân được biểu tình chứ, cho nên trí thức Hà Nội đã biểu tình ủng hộ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là sẽ được biểu tình, nhưng chính cuộc biểu tình đó bị đàn áp, thứ 2 là về bảo vệ đất nước bảo vệ biển đảo ông ấy cho rằng trước đây miền Nam đã có công giữ biển đảo thì ta cũng phải kỷ niệm cũng phải ca ngợi chứ, rồi cuối cùng cũng không thực hiện được; thế là lần thứ 2 một câu nói rất hay cũng bị hỏng rồi, lần thứ 3 này có vẻ mạnh mẽ hơn bởi vì cũng với những câu nói tốt đẹp đó thì có thêm một vài cái biểu hiện là đã có một cái lực lượng nào đấy đứng đằng sau, thì có vẻ có mạnh hơn chút, nhưng mà chúng tôi hoan nghênh cái câu nói, còn có hoan nghênh cái nhân vật ấy hay không thì còn phải chờ.

– LKT: Thưa ông cũng trong cái thông điệp đầu năm của ông Nguyễn Tấn Dũng thì một người cũng rất có uy tín được biết từ trong nước tới hải ngoại đó là giáo sư Tương Lai, giáo sư Tương Lai đã có một bài viết hầu như là “khen ngợi” đối với thông điệp đó, nhưng ngược lại sau đó lại có một loạt những cái bài phản hồi phản biện, có vẻ như “đã kích” giáo sư Tương Lai, thì ông nghĩ thế nào về cái tính chất dân chủ đa nguyên từ từ đã nảy mầm ở Việt Nam như vậy có không ạ?

– HÀ SỸ PHU: Tôi nghĩ những cái tích lũy về lượng nhiều năm nay đã khiến cho năm 2014 này là một cái điểm mà nó phải có những cái biến đổi nhiều hơn về chất, cho nên là nhà cầm quyền tức là đảng Cộng Sản cũng thấy là không thể cai trị theo kiểu cũ nữa, cho nên chính trong họ cũng phải xuất hiện nhiều kiểu nói, và nhiều cách ứng xử.

Những người dân chủ cũng thế, trước đây thì việc bưng bít rất là nặng nhưng hiện nay việc bưng bít ở một số khía cạnh nào đó có phần là được mở ra, nhưng tôi phải nói ngay là mở ra ở mặt này nhưng đóng lại ở mặt khác, tôi lấy ví dụ như bên cạnh việc thả ông Cù Huy Hà vũ thả ông Đinh Đăng Định, thế rồi thả ông Nguyễn Tiến Trung, nhiều người cho rằng đấy là biểu hiện của sự cởi mở, thế nhưng đừng nhầm đó là cái tiếng nói để nói với Hoa Kỳ, đó là cái quân bài để trao đổi hàng hóa gọi là đối lưu với Hoa Kỳ, chứ bên cạnh việc đó đảng Cộng Sản luôn luôn nói lại với dân, đừng tưởng bở, đừng tưởng tôi thả anh như thế là trong nước cứ làm bậy đâu, đúng trong lúc đó thì đã có những cú bắt người đánh người và có người chết trong đồn công an nữa chứ, đúng trong cái lúc đó tôi đang được yên tĩnh một hai năm nay bỗng nhiên bắt gọi lên làm việc lại, và tôi phải ra cái thông cáo là tôi cương quyết tôi không làm việc lại, rồi ông Phạm Đình Trọng cũng bị bắt làm việc lại, gần đây là Phạm Bá Hải, tức là người ta làm ở đây để nói với Hoa Kỳ, anh đòi thả thì tôi thả nhưng anh đừng tưởng bở tôi chưa có gì thay đổi đâu, thì tôi nói giữa cái thời gian này là tình hình rất phức tạp, giữa cái biểu hiện bên ngoài với cái thực chất bên trong có khi không phải là một, có khi họ nói hay nhưng trong bụng họ chưa thay đổi gì cả đấy là một kiểu, kiểu thứ hai là có người định thay đổi rất nhiều nhưng mà nói ngay cái đích cuối cùng thì lại phải chọn cái cách nói nội bộ, cách nói ôn hòa, tóm lại là cả hai bên đều dối trá, cái anh bảo thủ thì dối trả nói lời lời tốt đẹp để mua phiếu hay được lòng dân kỳ thực bên trong những cái chốt vẫn giữ nguyên không thay đổi gì cả đấy, là cái dối trả của người cầm quyền, nhưng mà phía những người dân chủ thì cũng có dối trá, tôi gọi dối trá đây không phải dối trá mà là đối với người dân chủ thì người ta gọi là phương pháp, tôi biết cuối cùng phải đi đến điểm Y điểm Z này, nhưng khởi đầu mà đi đến Z chết ngay, khởi đầu thì cũng phải nói từ ABC, cho nên giữa lời nói và thực tế luôn luôn cứ phải đánh dấu “?”, mà chỉ có những người trong cuộc thì sự phân định mới đúng, ví dụ có những người trong cuộc có 2 loại người trong cuộc, thứ nhất là chính người cầm quyền tức là người độc tài họ phân định đúng vô cùng, dù cho anh có lựa lời nói rất nội bộ rất ôn hòa họ vẫn biết ngay, còn người nói rất mạnh thì họ biết ngay người này không mạnh hay là mạnh ngoài da, mạnh này là cú đấm vào chân vào tay, chứ không phải chọc vào huyệt, tức là người trong cuộc người cầm quyền họ phân định rất đúng, họ chỉ ai họ biết người đó là nguy hiểm, có những anh rất hùng hồ quơ chân quơ tay nhưng họ vẫn không chỉ. Đấy là người trong cuộc người thứ nhất là người cầm quyền, thứ 2 người trong cuộc là người đã lăn lộn trong cái cuộc dân chủ đổi mới của đất nước này, đã từng bị tù tội từng đã bị trừng trị rất nhiều năm, thì cái nhìn của người trong cuộc ấy mới không bị lừa, chứ người mới còn đứng bên rìa chỉ căn cứ vào thông tin thì rất dể bị ngộ nhận, bởi vì giữa cái người ta nói ra với cái thực chất cái trong đầu người ta định cái gì thì vẫn chưa có máy dò để xác định được.

– Vâng xin cám ơn ông Hà Sĩ Phu, chúng tôi xin trở lại với ông Mai Thái Lĩnh, thưa ông qua nhũng sự nhận định của ông Hà Sĩ Phu thì ông có cho rằng là những người trong cuộc,là những người cầm quyền của đảng cộng sản hiện nay họ đang chuẩn bị từng bước để tiến tới cái đại hội 12, và theo ông cái đại hội 12 sắp tới này nó có thay đổi lớn nào với Việt Nam hay không?

(Xem tiếp phần 3 hết ở http://www.nhatbaovanhoa.comt)

+++++++++++++++++

Ông Đặng Thế Hùng dẫn đoàn đến thăm 9 người Lính biển trấn giữ đảo Đá Nam

Lời tòa soạn:

Hôm nay là ngày 19-04-2014.

Từ Cát Lái ra cửa biển Vũng Tàu, sau hai ngày hai đêm con tàu HQ 571 lướt sóng ngoài khơi biển Trường Sa; bây giờ là 7 giờ kém 15, áo phao buộc chặt, dập dềnh mặt sóng nhẹ, chúng tôi dời tàu mẹ xuống ca-nô chuẩn bị tiến vào đảo Đá Nam. Đây là hòn đảo đầu tiên chúng tôi đến thăm. Đá Nam cách đảo Song Tử Tây độ khoảng mươi km. Nó là một tiền đồn mọc lên giữa biển bao la bảo vệ phía nam cho Song Tử Tây.



Thượng Úy Nguyễn Huy Hải, đảo trưởng và 8 chiến sĩ hải quân đón chào ông Đặng Thế Hùng dẫn đoàn đến thăm đảo Đá Nam. Ảnh Văn Hóa Magazine.

Sau khi thăm đảo Đá Nam về chúng tôi sẽ ghé đảo Song Tử Tây. Lại nói vài hàng về Song Tử Tây. Là một cứ điểm quân sự quan trọng, đảo khá  lớn, có nước ngọt, có đất trồng rau, có hàng cây Phong Ba, cây Bão Táp, Cây Bàng Vuông mát rời rợi, và nó có thể chứa đến một tiểu đoàn. Cách nhau độ chục cây số phía bắc Song Tử Tây là đảo Song Tử Đông. Việt Nam và Philippines đang thực hiện các cuộc giao lưu “Văn Hóa Quân Sự” giữa hai hải đảo anh em.

Song Tử Đông hiện do Philliphine kiểm soát. Song Tử Tây do Việt Nam kiểm soát. Ngày 22 tháng 8 năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hải quân VNCH đã xây kiên cố một bia chủ quyền bằng bê tông cốt sắt. Chữ còn rành rành khắc sâu vào đá.

Bia chủ quyền do Chính phủ VNCH và Hải quân VNCH dựng trên đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa ngày 22 tháng 8 năm 1956. Ảnh Văn Hóa Magazine

Một Liên minh Quân sự Chiến thuật Đông-Tây nếu được nối kết, sẽ mang lại lợi ích cho hai quốc gia trên hải đồ quyền chủ quyền trung tâm biển đảo Trường Sa, liên minh quân sự có khả năng trấn áp áp lực bành trướng quân sự từ căn cứ Gạcma do Trung cộng chiếm đoạt của Việt Nam năm 1988.

Hai anh em song sinh Song Tử Đông-Song Tử Tây chính là cặp hải đăng chiếu rọi tuyến đường hải lộ hàng ngàn tỷ đôla từ eo Malacca vượt qua Luzon-Cao Hùng tiến ra tây Thái Bình Dương.  Làm chủ được Song Tử Đông-Song Tử Tây tức là làm chủ được mạn bắc Trường Sa, nhưng nhớ rằng, từ Vũng Tàu ra đến Song Tử Tây cách nhau gần 800km.

Súng đạn sẵn sàng trên đảo Đá Nam. Ảnh Văn Hóa Magazine.

Nghệ sĩ Chèo Thanh Lan. Ảnh Văn Hóa Magazine.

*
Theo lời một thủy thủ, Đá Nam cách Song Tử Tây khoảng 6km. Chúng tôi đang đứng trên đảo Đá Nam. Tiếng hát của người nghệ sĩ Nhà hát Chèo Thanh Lan từ đâu bỗngvang vọng:

– Bài thơ Việt Nam máu và hoa để thể hiện tình cảm của các anh em trong đoàn; thưa, bài thơ đó là:

Việt Nam ôi Việt Nam!
Tiếng súng, tiếng gươm không bao giờ dứt
Bởi, đất nước ta không bao giờ chịu nhục
Dân tộc ta không chịu cúi đầu
Những thế hệ hôm nay cầm súng
Tuổi anh hùng – đã bốn nghìn năm.

– Tôi xin hết. Và có lẽ là mời một đại biểu. Mời bác Công, người lớn tuổi nhất đoàn…Vâng, thôi mời anh Trung đi ạ.
– Trước tiên xin cám ơn ông Đặng Thế Hùng, phó Chủ nhiệm người Việt Nam ở nước ngoài, mời anh Hùng:

– Thay mặt Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn và đoàn đại biểu người Việt nước ngoài, tôi xin gởi tất cả những tình cảm nghĩa đồng bào, tình non sông đến các chiến sĩ đang hy sinh bảo vệ đảo Đá Nam …

Thoát ra bầu không khí nghi thức, tôi rảo bước một vòng hòn đảo “cô đơn”. Bắt gặp một người lính có dáng dấp chỉ huy, tôi hỏi:

– Anh là người chỉ huy đảo?

– Dạ vâng.

– Anh đeo lon chức gì vậy?

– Cháu là Thượng Úy Nguyễn Huy Hải.

– Thượng Úy cho tôi hỏi vài câu được không?
– Vâng!
– Xin Thượng Úy có thể cho biết rằng đảo Đá Nam này diện tích khoảng bao nhiêu km?
– Dạ kính thưa chú, diện tích đảo Đá Nam nếu chỉ xét về góc độ đảo, thì đảo của chúng ta rất là rộng, bao gồm cả thềm san hô cả về hải lý ngoài san hô. Còn nếu xét về diện tích ở trên này thì khoảng hơn 600 mét vuông.
– Thế Thượng Úy ra đây bao lâu rồi và bao lâu thì có thể trở lại đất liền?
– Dạ cháu mới ra được 4 tháng.
– 4 tháng?
– Dạ vâng, cháu thường công tác 1 năm thì luân chuyển công tác 1 lần.
– Tức là 1 năm thì trở về thăm đất liền 1 lần?
– Dạ vâng.

– Cám ơn cháu.

Ông Đặng Thái Hùng mời tôi phát biểu, tôi cũng xin được phép phát biểu vài câu cảm tưởng. Thưa quý vị đại biểu tôn giáo, thưa quý vị trưởng thượng, thưa quý vị , đặc biết là anh Đặng Thái Hùng cũng như là Thượng Úy Nguyễn Huy Hải. Tôi là một người Mỹ gốc Việt. Lần đầu tiên tôi về thăm Trường Sa, và đây cũng là lần đầu tiên tôi đặt chân đến đảo Đá Nam.

– Với sự học hỏi của chúng tôi nhiều năm qua về Biển Đông, tôi được biết đảo Đá Nam nằm về hướng Đông của đảo Song Tử Tây, cách Song Tử Tây độ 6km, có phải không ạ? Vâng, đây là một hòn đảo cực nhỏ. Tuy gọi là đảo, nhưng thật ra nó là một hòn đá nửa nổi nửa chìm trên mặt biển xanh. Như Thượng Úy Nguyễn Huy Hải nói, từ một viên đá nổi chìm dưới mặt biển, hải quân đã xây lên thành một căn cứ quân sự để bảo vệ lãnh hải, bảo vệ ngư dân của chúng ta đi đánh cá quanh khu vực này.

Chúng tôi thấy rằng với sự quyết tâm cũng như sự hy sinh của các anh em chiến sĩ hải quân Việt Nam, sống với cái nóng, sống với cái bão bùng, cái đe dọa, trên một hòn đảo trơ vơ giữa Biển Đông mênh mông, các anh em đã chiến đấu ở đây hàng năm trời mới có vài ngày phép, đó là sự hy sinh vô cùng to lớn. Không có bút, không có lời nào có thể tả được sự hy sinh này.

Chúng tôi là những người Việt Nam ở nước ngoài,  tuy chúng tôi có sự hiểu biết chút ít về Biển Đông, về sự sinh hoạt, về sự chiến đấu của những người lính trẻ tuổi chỉ bằng con cháu chúng tôi, đặc biệt đối với lính hải quân, chắc tay súng giữ biển, giữ đảo …; nhưng cho là có sự hiểu biết tới đâu, nghiên cứu tới đâu, vẫn không thể tưởng tượng ra một sự thật như sự thật trên hòn đảo Đá Nam. Cho nên, đây là lần đầu tiên chúng tôi được dịp quan sát tận mắt những con người bảo vệ quê hương trên từng thước biển, từng viên đá nhỏ như hạt cát bồng bềnh giữa đại dương.

Chúng tôi là người Việt Nam ở hải ngoại, không biết lấy gì để cảm tạ sự hy sinh đó. Chúng tôi chỉ biết lấy tấm lòng của mình từ hải ngoại hướng về quê cha đất tổ, hướng về Biển Đông, hướng về đảo, đá, bãi, đụn xa xăm, và hướng về các anh là những người đang đóng quân ở đây, đang trấn giữ ở đây…, chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi phải làm việc gì đó ở hải ngoại để đóng góp vào sự hy sinh của quý anh tại đây. Chúng tôi hứa sẽ cố gắng làm việc đó. Xin cảm tạ quý anh.

– Và cũng như các quý khách đến thăm quần đảo Trường Sa và cho sự quan tâm đến các kiều bào, có rất nhiều kiều bào không được đến thăm, xin phép anh cho chúng tôi trực tiếp ghi hình lại. Chúng tôi thực hiện điều đó để cho sự công bằng với các biển đảo, nếu không thì những điểm đảo khác không đến được sẽ rất thiệt thòi, anh thông cảm cho đoàn ạ, Đại tá Ngô Văn Sáng lên tiếng.

– Thưa quý anh, đại diện là anh Đặng Thế Hùng, phó Chủ tịch ủy ban nhà nước phụ trách người Việt nước ngoài cho chúng tôi có cơ hội đến đây, chuyên chở tình cảm của người Việt ở nước ngoài đến đây, gặp các anh em thủy thủ trên đảo Đá Nam, chúng tôi rất xúc động. Chúng tôi sẽ mang những chuyện này về nói với các bạn tôi ở nước ngoài, để cùng nhau chúng ta, người Việt trong nước, người Việt nước ngoài, cùng giữ vững những gì mà tổ tiên ta, ông cha ta đã dầy công dựng nước.

Tại đảo Đá Nam, Thượng úy Nguyễn Huy Hải, đảo trưởng đã tặng cho nhà báo Lý Kiến Trúc một con ốc Đá Nam tên là Ốc Càng.

Bây giờ là 9 giờ 20 phút, chúng tôi sửa soạn rời đảo Đá Nam trở lại tàu mẹ và sẽ đi thăm đảo Song Tử Tây./

Ốc càng đảo Đá Nam.

++++++++++++++++++++++

Phỏng vấn bà Nguyễn Nguyệt Rạng, một phụ nữ tranh đấu ở quận Cam

Ông Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn bắt tay chào hỏi hai bà Ngụy Văn Thà và Nguyễn Nguyệt Rạng trên đảo Song Tử Tây. Ảnh Văn Hóa Magazine

Lời giới thiệu:

Hôm nay là ngày 21-04-2014 chúng tôi đang đi thăm đảo Sơn Ca. Ngay trên đảo Sơn Ca chúng tôi vô tình gặp bà Nguyễn Nguyệt Rạng, bà là một thành viên trong phái đoàn đi thăm quần đảo Trường Sa. Tuy là một phụ nữ khá lớn tuổi ở hải ngoại, bà Rạng vẫn thường tham gia sinh hoạt đấu tranh với nhiều tổ chức chính trị, hơn nữa, bà có cảm tình đặc biệt với đảng Việt Tân nhất là giới trẻ.  Trong chuyến về thăm Trường Sa bà Rạng đã bị công an bắt giữ ngay tại phi trường Tân Sơn Nhất khi vừa bước xuống máy bay. Bà đạ bị tạm giữ 8 tiếng để điều tra. Điều tra xong, công an tống xuất bà lên máy bay trả về Mỹ, nhưng một bất ngờ diễn ra: Ông Nguyễn Thanh Sơn Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đã sử dụng quyền trưởng phái đoàn “Hải trình 3” yêu cầu công an thả tức khắc bà Rạng.

Mời quý bạn đọc theo dõi cuộc phỏng vấn của chúng tôi :

– LKT: Thưa bà, xin phép được hỏi bà,cảm nghĩ của bà trong chuyến đi thăm Trường Sa lần này?
– Bà NGUYỄN NGUYỆT RẠNG: Chào ông Lý Kiến Trúc, tôi là Nguyễn Nguyệt Rạng, có mặt trong đoàn đi thăm Trường Sa lần này, vô tình may mắn được gặp nhà báo Lý Kiến Trúc, ông có một buổi chuyện trò muốn tôi chia sẻ những cảm nghĩ trong chuyến đi này.

Phải nói là tôi rất may mắn khi được đặt chân tới những hải đảo này. Sự may mắn mà tôi nghĩ có lẽ hồn thiên sông núi đã phù hộ cho tôi, cũng như sự nhiệm màu nào của Thượng Đế đã giúp tôi có cơ hội được đặt chân lên những hòn đảo mà tôi ước mơ, những hòn đảo đang tranh chấp, thế giới đang nhìn vào. Tôi rất sung sướng hít thở không khí ở ngoài biển đảo, nơi từng đặt chân của tổ tiên của mình, từ bao nhiêu ngàn năm trước, họ đi ra đây bằng thuyền buồm rất khổ sở để đến và giữ những hòn đảo giang sơn gấm vóc của đất nước. Chúng tôi đi trên 1 chiến hạm khá lớn, được an toàn bình yên, đó là một sự bình yên do sự réo gọi của hồn thiêng sông núi xui khiến cho chúng tôi có cơ hội được đặt chân đến mảnh đất của ông cha ta từ xưa.

– LKT: Bà gặp những ai trên hòn đảo này?
– NNR: Trên hòn đảo tôi đã gặp rất nhiều báo chí và nhiều người ở trên nhiều quốc gia trên thế giới như Pháp, Đức, Anh, Na Uy, nhiều lắm. Mỗi người có một ý kiến riêng. Riêng tôi thì cũng có những cái xúc động, bức xúc khi nhìn những người lính trẻ trên đảo Song Tử Tây, họ quá trẻ, non trẻ. Tôi nhìn họ, lòng tôi xúc động, tôi rơi nước mắt. Tôi nhìn thật sâu vào họ, tôi nhìn ánh mắt, làn da sạm, sự vô tư của họ, tôi nghĩ đến việc tôi nhìn họ hôm nay, nhưng sự sống chết của họ không biết đến giờ phút nào, tôi đau lòng. Nước mắt tôi rơi. Họ đã thật sự là những người giữ biển đảo. Họ thật sự là những người hy sinh. Tôi hòa mình cùng với những chiến sĩ của cả 2 miền Nam Bắc đã bỏ mình để gìn giữ những hòn đảo xa xăm. Cuộc sống của họ rất là khó khăn. Thời tiết khắc nghiệt, nhưng trên hết là mạng sống của họ.

– LKT; Cám ơn bà! Dường như là bà có được vài lần tiếp xúc với ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, bà có ý nghĩ nào, hay có một sự so sánh nào về nhân vật này với một số nhân vật ở hải ngoại? chẳng hạn như một số lãnh đạo những tổ chức chính trị ở hải ngoại mà bà đã từng được gặp mặt?
– NNR: Thưa nhà báo Lý Kiến Trúc, tôi có dịp gặp ông Sơn qua mạng lưới Internet, tôi ngưỡng mộ, lần đầu tiên có cảm tình đặc biệt với ông này là vì trong phòng làm việc của ông Sơn có một cái bàn thờ. Một người Cộng Sản mà trong phòng làm việc có một cái bàn thờ Phật. Điều đó nó đến gần với tôi. Tôi cũng có ước mơ được tiếp xúc với ông Nguyễn Thanh Sơn bằng xương bằng thịt. Và tôi đã có cơ hội đó. Sau đó một vài lần, qua những câu chuyện, tôi có ngưỡng mộ một người trẻ có một sự đột phá. Còn trẻ, đang có quyền hạn, mà dám đột phá để đưa các ý thức hệ đến gần với nhau, để cùng xây dựng đất nước. Còn nếu mà về so sánh, trong đầu tôi có một suy nghĩ, tôi nhìn ông Nguyễn Thanh Sơn đang có thực quyền và tôi nhìn một người trẻ ở hải ngoại. Tôi có một suy nghĩ, tôi cùng ngưỡng mộ hai người. Họ có những tài năng, đức độ riêng. Họ cùng nhìn về đất nước nhưng nhìn với 2 cái nhìn khác nhau. Họ có một trái tim chung về đất nước nhưng tư tưởng họ có những cái khác nhau vì họ lớn lên trong 2 hoàn cảnh, 2 xã hội khác nhau. Nhưng tôi nghĩ, họ cùng là người Việt, họ cùng một đất nước Việt Nam. Họ cùng có một lòng yêu nước.

– LKT: Bà có thể tiết lộ tên của người hải ngoại mà bà ngưỡng mộ đó là ai không?
– NNR: Thưa nhà báo Lý Kiến Trúc, câu hỏi của ông nó khá tế nhị. Nhưng nếu nói thật, phải nói thật, thì hình ảnh Đỗ Hoàng Điềm ở hải ngoại và hình ảnh của ông Nguyễn Thanh Sơn là những hình ảnh của 2 người trẻ mà tôi ngưỡng mộ.

– LKT: Xin cám ơn bà Đỗ Thị Rạng đã trả lời cuộc phỏng vấn ngắn của chúng tôi, nhưng có rất nhiều ý nghĩa, xin cảm ơn bà rất nhiều!/

+++++++++++++++++

Phỏng vấn bà quả phụ phu nhân cố Hải quân Tr/tá Ngụy Văn Thà

 

Lời giới thiệu:

Trong lúc đi dạo quanh chiếc HQ-571 nặng 2000 tấn của HQ VN; chúng tôi bắt gặp bà quả phụ cố Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà, nguyên Hạm trưởng HQ-10 đã anh dũng chiến đấu với HQ TC ở nhóm Nguyệt Thiềm quần đảo Hoàng Sa. Cái chết của ông đã đi vào lịch sử HQ VNCH. Bà Thà ngồi riêng rẽ một mình trên “boong”, mặt trầm ngâm, đôi mắt xa xăm nhìn ra trời cao biển rộng, mênh mông xa vắng.

Ngồi từ trái: Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn (áo pull sọc trắng đỏ), bà quả phụ Ngụy  Văn Thà, cựu Đại tá Vũ Hữu Lễ Thuyền trưởng HQ 505. Ảnh Văn Hóa Magazine.

– LKT: Kính chào bà quả phụ cố Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà.
– Bà NVT: Dạ chào anh.

– LKT: Tôi là một nhà báo ở Mỹ. Rất là may mắn được gặp bà trên chuyến tàu Trường Sa này, bà có thể cho phép chúng tôi thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn được không?
– Bà NVT: Dạ thưa, được.

– LKT: Thưa bà, vô tình chúng tôi được gặp bà tối hôm qua trong buổi Ceremony, Giao lưu Văn hóa Văn nghệ, bà ngồi bên cạnh một người đàn ông, bên cạnh ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn. Vậy, ngoài ông Sơn, bà có biết người đàn ông bên cạnh bà là ai không?
– Bà NVT: Dạ thưa, biết. Tại vì lúc tôi ở dưới tàu đi lên. Tôi đang đi ngang qua chỗ giao lưu văn nghệ thì anh Sơn mời tôi ngồi xuống.

– LKT: Người đàn ông bên cạnh bà là ai?
– Bà NVT: Dạ anh Nguyễn Thanh Sơn!

– LKT: Bên cạnh nữa?
– Bà NVT: Bên cạnh nữa là anh Thọ, mà tôi không biết họ, tôi chỉ nghe anh Sơn kêu là anh Thọ và giới thiệu cho tôi thôi.

– LKT: Vậy nhân tiện đây tôi cũng xin nói với bà luôn. Cái người ngồi bên cạnh đó là Đại tá Hải quân Vũ Hữu Lễ, người được vinh danh là anh hùng của quân chủng HQ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
– Bà NVT: Dạ!

– LKT: Hôm đó chúng tôi bắt gặp hình ảnh rất đặc biệt. Bà có ngạc nhiên khi biết bên cạnh bà là một đại tá không?
– Bà NVT: Dạ thưa, không biết. Chỉ biết là anh Sơn kêu ngồi ở đây, có người anh Sơn kêu là anh Thọ ngồi kế bên.

– LKT: Lý do nào mà bà được ông thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn mời?
– Bà NVT: Anh Sơn nói là mời đi ra Trường Sa, Hoàng Sa để làm lễ cầu siêu cho 74 tử sĩ anh hùng Việt Nam Cộng Hòa. Điều đó làm tôi thấy rất vui mừng và cảm động lắm nên tôi đi.

– LKT: Thế thì thưa bà, bà đã được dự bao nhiêu lần những cuộc lễ cầu siêu cho các tử sĩ ở Hoàng Sa?
– Bà NVT: Dạ thưa, tôi mới đến đây lần đầu tiên.

– LKT: Sự tiếp đãi của người ta như thế nào?
– Bà NVT: Tôi thấy cảm động lắm vì người ta tiếp đãi mình rất chân thật, người ta tổ chức lễ cầu siêu như vậy thì mình thấy rất mang ơn và xúc động.

– LKT: Bà còn nghĩ đến những chiến sĩ anh em hải quân của Việt Nam Cộng Hòa ngoài hải ngoại không?
– Bà NVT: Dạ thưa có. Cũng nghĩ đến mấy anh là bạn bè của chồng tôi, cùng chung khóa, thì mấy anh cũng có liên hệ về hỏi thăm. Tôi thấy mấy anh cũng còn nghĩ đến anh Thà nhiều lắm.

– LKT: Bà có biết là các anh em chiến sĩ hải ngoại năm nào cũng tổ chức lễ tưởng niệm và ghi nhớ các tử sĩ của trận chiến Hoàng Sa đó không?
– Bà NVT: Dạ thưa biết. Vì hàng năm đến ngày 19-01, thì ở bên Cali, và các tiểu bang khác nữa, người ta gọi điện về để phỏng vấn nói về buổi lễ nói về ngày 19-01-74. Người ta có phỏng vấn và thâu tiếng nói mình để qua bên đó trong cái buổi lễ tổ chức luôn. Là cô Trâm An đó, ở Cali.

– LKT: Thế có khi nào anh em bên đó họ mời qua bà qua bên Mỹ chơi không?
– Bà NVT: Dạ thưa không có.

– LKT: Chưa có lần nào hết?
– Bà NVT: Dạ chưa.

– LKT: Bà có được các anh em bên đó yểm trợ về tài chính hay quà cáp gì không?
– Bà NVT: Dạ trình bày với anh thế này, hàng năm, trước ngày 19-01, mấy anh em cùng khóa 12 Song Ngư, hải quân, có gửi về cho $100, một số anh em khác cũng có cho mỗi người $100 hay $50, chỉ trong những ngày đó thôi. Những anh em cùng đồng đội hải quân với nhau cũng có giúp đỡ chút đỉnh trong những ngày Xuân. Cả các anh em bên Úc cũng gởi tiền về giúp gia đình tôi sống qua ngày.

– LKT: Xin phép được hỏi bà câu này, hoàn cảnh cuộc sống hiện nay của bà ra sao?
– Bà NVT: Thì bây giờ các cháu có gia đình hết rồi. Tôi sống một mình và giữ 2 đứa cháu ngoại. Con tôi buôn bán nhỏ, thỉnh thoảng cũng có cho tôi chút ít để mình xài qua ngày vậy thôi.

– LKT: Thưa bà, gần đây có nhà văn Huy Đức ở trong nước đã tổ chức một nhịp cầu Hoàng Sa, thì ông ta đã huy động được lòng hảo tâm của đồng bào nói chung, trong nước và ngoài nước. Nghe nói là đã có xây được 1 căn nhà cho bà, có phải không?
– Bà NVT: Dạ thưa trình bày với anh như thế này, cái nhóm Huy Đức với Đỗ Thái Bình làm nhịp cầu Hoàng Sa, được sự hỗ trợ của anh em nước ngoài cũng như trong nước. Trong khi đó nhà tôi bị giải tỏa từ năm 2009 đến nay cũng gần 5 năm rồi.

– LKT: Ở quận mấy thưa bà?
– Bà NVT: Dạ thưa ở quận 10. Nhà tôi ở chung cư, từ năm 73, từ lúc tôi lấy anh Thà và ở đó luôn. Bây giờ giải tỏa thì nhà nước, à chủ đầu tư có định giá nhà tôi là 540 triệu, à 546 triệu. Bây giờ, nhóm anh Huy Đức có làm nhịp cầu Hoàng Sa, rồi có thâu được một số tiền, và đứng ra mua cho tôi một căn nhà. Trị giá căn nhà đó là 1 tỷ 2. Lấy 1 tỷ 2 đó trừ vô số tiền nhà mà người ta đền bù cho tôi, tôi không có lấy số tiền đó ra. Tiền đó nhà đầu tư vẫn giữ, trừ ra còn bao nhiêu thì nhóm Huy Đức lo cho tôi. Hiện tại bây giờ đang làm thủ tục, nhưng mà nó còn rắc rối chút xíu giấy tờ. Vì mấy anh có xin nhà đầu tư giảm giá 15% nhưng chưa được trả lời. Anh Huy Đức có nói nếu mà không giảm giá thì cũng mua đại. Còn vấn đề nhà đầu tư đòi là tiền hỗ trợ cho mình đi thuê nhà mỗi tháng. Bây giờ đã 5 năm trời lấy tiền đâu mà trả lại? Thì anh Huy Đức có nói nếu không trả lại cho mình số tiền đó, thì anh Huy Đức cũng lấy số tiền mà mấy anh em hỗ trợ cho nhịp cầu Hoàng Sa để mua, trả luôn 1 lần, không có góp nữa.

– LKT: Xin phép hỏi bà 1 câu hỏi cuối cùng: Bà đi chuyến này bà có thấy vui không?
– Bà NVT: Dạ thấy vui và cũng cảm động lắm, vì ông Nguyễn Thanh Sơn mời đi chuyến này để dự lễ cầu siêu cho 74 tử sĩ của cuộc hải chiến Hoàng Sa, với lại mấy anh ở Gạc Ma, nói chung là Việt Nam Cộng Hòa và mấy anh lính Việt Nam hiện nay. Mình thấy cũng cảm động lắm và mình rất trân trọng cám ơn anh Sơn!

– LKT: Nhưng mà nếu mấy anh em bên Mỹ có mời bà đi Mỹ thì bà có sẵn sàng đi không?
– Bà NVT: Không!

– LKT: Cám ơn bà./

+++++++++++++++

Phỏng vấn Đại tá Vũ Hữu Lễ, Thuyền trưởng tàu 505 dự trận Gạcma 1988

Cầu nguyện Mẹ Biển Đông trước khi ra khơi hải hành chuyến “Hải trình 3”. Ảnh Văn Hóa Magazine. 

Lời Tòa Soạn:

Trong một buổi “giao lưu văn hóa văn nghệ” trên boong chiến hạm HQ 571, chúng tôi thấy hai người ngồi bên cạnh ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn. Hình ảnh hấp dẫn đến nỗi các phóng viên ‘nhào” tới chụp lia lịa. Hóa ra sau khi nghe lời giới thiệu mới biết hai người đó là bà quả phụ Ngụy Văn Thà và Đại tá Vũ Hữu Lễ, Thuyền trưởng tàu 505, con tàu đã cấp cứu tàu 604 đang bị chiến hạm Trung cộng bắn giết ở khu vực đảo Gạcma. Tàu 604 chỉ huy bởi Thuyền trưởng Vũ Huy Trừ bị bắn chìm, còn tàu 505 của Đại tá Vũ Huy Lễ bị bắn trọng thương nhưng vẫn cố ‘lết” đâm vào bãi đá Côlin và bám trụ tại đó.

Ngồi từ trái: Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn (áo pull sọc trắng đỏ), bà quả phụ Ngụy  Văn Thà, cựu Đại tá Vũ Hữu Lễ Thuyền trưởng HQ-505. Ảnh Văn Hóa Magazine.

LKT: Hôm nay là ngày 19-4, chúng tôi là đại diện cho tờ VanhoaMagazine tại California có dịp được phỏng vấn 1 sĩ quan cao cấp của Hải quân Việt Nam. Ngồi trên chiếc tàu Trường Sa 571 đang trên đường đi ra thăm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, rất may mắn được gặp vị sĩ quan này. Đó là ông Vũ Huy Lễ, Hải quân Đại tá của  Quân chủng Hải quân Việt Nam. Ông là một nhân vật lịch sử trong trận Gạcma năm 1988, ông là một nhân chứng cao nhất trong trận chiến Gạcma. Kính chào đại tá.
– VŨ HUY LỄ: Vâng, xin chào ông.

– LKT: Thưa ông, xin ông có thể nói cho đọc giả của chúng tôi tại Mỹ sơ lược vài tiểu sử về quá trình hoạt động của ông trong hải quân hay không ?
– VHL: Vâng, tôi cũng sẵn sàng nếu như các anh có đề nghị, tôi tên là Vũ Huy Lễ, đã học xong ở trường phổ thông, tức là học cấp 3, cái đấy là học cấp 3, 10/10 ấy, học xong phổ thông thì tôi vào đại học. Khi vào trường đại học được 9 tháng tức là học dự khóa thì diễn ra cái sự kiện năm 64, mùng 5-8 năm 64. Sự kiện đó thì chắc là ông cũng đã biết, tức là ngày mùng 5-8 năm 1964 ở Vịnh Bắc Bộ, gọi là sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Ma-đốc, sau đó rồi thì Mỹ cũng thường cho máy bay đến bắn phá miền Bắc; vào những ngày đó chúng tôi học thì đúng là ngồi học không yên vì cứ thỉnh thoảng một ngày 2-3 lần máy bay của Mỹ thường đến bắn phá Hải Phòng và miền Bắc.

– LKT: Xin lỗi, tạm thời ngắt lời đại tá.
– VHL: Vâng!

– LKT: Ông có cho rằng cái sự kiện Maddox năm 64 đó là sự kiện dàn dựng của Mỹ hay là sự kiện …, không phải là một sự kiện thật?
– VHL: Thực tế thì thời đó thì tôi cũng là một sinh viên cho nên là am hiểu về cái việc này thì nó cũng chưa thật là sâu sắc lắm , thế nhưng đây là một cái sự việc thật mà Mỹ đã cho tàu đến để gây ra cái sự kiện Vịnh Bắc Bộ.

– LKT: Thưa ông ngoài sự kiện đó ra thì ấn tượng nào lớn nhất trong cuộc đời hải quân của ông đối với bờ biển VN?
– VHL: Tôi thì tính đến nay là 34 năm trong quân đội, phục vụ trong quân chủng hải quân, trong quá trình phục vụ trong quân chủng hải quân, tôi cũng được làm thuyền trưởng của nhiều loại tàu của quân chủng hải quân. Nhưng mà những kỷ niệm sâu sắc nhất trong tôi mà chúng tôi không thể quên được đó là năm 1988 vào ngày 14-3 năm 1988, khi tàu tôi đang neo đậu và hoạt động bình thường ở trên đảo Cô Lin thuộc quần đảo Trường Sa. Thì sáng sớm hôm ấy “nước ngoài” cho tàu chiến đến bắn phá chúng tôi, đánh chúng tôi, trong quá trình đánh phá như vậy thì bên đảo Gạc Ma, tức là 2 cái đảo của chúng tôi gần nhau, tôi thì ở khoảng cách 4 hải lý, tàu tôi 505 được lệnh giữ đảo Cô Lin, còn tàu 604 thì được lệnh giữ đảo Gạc Ma, sáng hôm đó đối phương cho 2 tàu chiến đến bắn phá tàu 604.

– LKT: Vâng thưa ông, xin được ngắt lời ông là bên nào nổ súng trước?

– VHL: Bên đối phương họ có súng lớn thì họ nổ súng trước, lúc đấy chúng tôi nghe thấy ở bên đảo Gạc Ma có tiếng lục bục tiếng súng nổ, và nhìn nòng súng của 2 tàu chiến đối phương lửa cứ lóe lên  thì tôi hiểu là bên đấy là họ đang bắn chúng tôi. Cho nên là chỉ 5-6 phút sau là tàu 604 của chúng tôi bị chìm.

– LKT: Vâng, tàu 604 là tàu chiến hạm hay là tàu bình thường?
– VHL: Tàu 604 là tàu vận tải bình thường mà chúng tôi vẫn hoạt động ra ngoài Trường Sa để thăm đảo, rồi đưa tiếp tế cho nhân dân, quân và dân trên đảo.

– LKT: Sau đó thì ra sao ?
– VHL: Sau đó thì khi tàu 604 bị chìm thì chúng tôi cũng bắt đầu nhổ neo và cơ động để mà tránh đạn của đối phương. Khi mà 604 chìm thì đối phương quay nòng súng sang bắn chúng tôi ngay (tàu 505), bắn cấp tập tất cả 2 pháo của 2 chiến hạm của đối phương bắn cấp tập vào tàu tôi, và toàn bộ cái mạn bên phải của tàu bị trúng đạn, đài chỉ huy trúng đạn, rồi phòng thuyền trưởng trúng đạn, phòng báo vụ VTD cũng trúng đạn, anh em bị thương nhiều, tàu bốc cháy ngùn ngụt, cháy rất dữ dội, thế rồi tất cả đạn 85 li, 100 li của đối phương bắn dưới vạch mức nước, thủng nhiều, tàu tôi bị thủng nhiều.

– LKT: Lúc đó ông là hạm trưởng của tàu 604?
– VHL: Không, tôi là hạm trưởng tàu 505, tức là đối phương bắn chìm tàu 604 xong  thì quay nòng súng sang bắn tàu 505 của chúng tôi

– LKT: Hạm trưởng của tàu 604 là ai?
VHL: Tàu 604 là đồng chí Vũ Huy Trừ, lúc đó đã hy sinh.

– LKT: Hy sinh tại chỗ?

– VHL: Vâng, tàu chìm, chìm theo tàu, cho nên là anh em ở trên đấy bị trôi dạt trên biển rất nhiều, chúng tôi phát hiện là nhìn qua bên đảo Gạc Ma là nhìn rõ là thấy người lố nhố ở trên biển, rất nhiều, và tàu tôi bị đối phương bắn trúng như vậy thì toàn bộ hệ thống điện của tàu bị mất cho nên không cơ động được, lái thì phải sử dụng bằng điện, thế là bây giờ mất điện rồi nên lái không thể điều khiển được, thế tôi mới lệnh cho anh em là phải xuống hầm lái để chuyển lái điện sang lái cơ để mình có thể mình cơ động, lúc đó anh em mò mẫm mãi không xuống được thì lại một quả pháo 85 li nó bắn trúng vào hầm lái mở ra được một cái lỗ rộng khoảng gần 1 mét vuông, ánh sáng mặt trời chiếu vào hầm lái thì anh em mới xuống được và chuyển từ lái điện sang lái cơ được, khi chuyển xong rồi anh em báo cáo lên là đã chuyển sáng lái cơ xong thì sử dụng được, thì lúc đó lại một quả pháo nữa lại bắn trúng vào trục lái của chúng tôi làm lái kẹt cứng không tài nào điều khiển được nữa.

– LKT: Thế như vậy thì cách nào mà cứu được anh em bên tàu 604?

– VHL: Vâng để tôi kể tiếp, tức là khi đó máy chính của 2 tàu tôi cũng bị hỏng, không nổ máy, bình nén khí bị trúng đạn nên xì hơi không điều khiển được máy chính, thế mà lúc đó thì gió mùa đông bắc thổi, tàu càng bị trôi ra xa đảo, ra xa đảo hơn cây số, mà ở đấy có độ sâu khoảng độ 1000 m, độ sâu rất sâu như thế, thế nên tôi nghĩ rằng nếu như mà là tàu chìm ở đây, tức là nước nó đã vào rồi đấy, dầu trôi ra lênh láng rồi, tàu bị nghiêng rồi, thế là khả năng tàu sẽ bị chìm, cho nên tôi nghĩ là tàu chìm ở đây thì toàn bộ, toàn thể cán bộ chiến sĩ ở trên tàu sẽ phải hy sinh hết, mà mình mất tàu, thế rồi mất đảo, không giữ được đảo, cho nên là bằng mọi giá mình phải sửa chữa máy để đưa tàu lên bãi cạn, xong rồi dùng súng bộ binh để mà đánh trả nếu như đối phương đưa quân lên đảo hoặc là đưa quân lên chiếm, đánh tàu chúng tôi, cho nên phải dùng súng bộ binh để đánh. Được anh em đồng ý anh em lao xuống các vị trí chiến đấu để chỉ đạo, các đồng chí trong ban chỉ huy tàu xuống các vị trí chỉ đạo cho anh em sửa chữa máy, rùi bịt vòi chống đấm, động viên bộ đội, động viên anh em để mà quyết tâm …

– LKT: Thế đại tá có nghĩ rằng tàu 505, 604 đã lọt vào ổ phục kích của Trung Cộng hay không?

– VHL: Tôi thì tôi nghĩ rằng không phải là ổ phục kích bởi vì nhiệm vụ của chúng tôi là đến đảo hoạt động bình thường, làm các hoạt động rất bình thường vì đảo của chúng tôi cho nên chúng tôi hoạt động hoạt động rất bình thường. Đối phương tự nhiên đến đánh tàu 604 xong lại đánh tàu của tôi thì cái đó thì chúng tôi…

– LKT: Tức là 2 tàu vận tải 505-604 hoàn toàn không biết gì về chiến hạm của Trung Cộng cả?
– VHL: Buổi chiều hôm trước là chúng tôi đã biết trước, khi chúng tôi thấy rằng có cái hiện tượng có thể là ngày mai hoặc đêm nay là họ chiếm đảo của mình, cho nên mình bằng mọi cách mình phải nêu cao tinh thần cảnh giác, quan sát thật là chắc chắn, thế rồi đêm hôm ấy chúng tôi cho người lên cắm cờ trên bãi cạn đó để giữ chủ quyền của mình, vì đây là đất của Việt Nam cho nên mình phải cắm cái cờ Việt Nam lên đấy để giữ cái chủ quyền của mình ở trên đảo.

– LKT: Đứng về phương diện quân sự, đại tá cho rằng những khu vực đảo Gạc Ma, Cô Lin thì khu vực đó quan trọng như thế nào đối với quần đảo Trường Sa?

– VHL: Thực ra thì về mặt quân sự thì nó một điểm mấu chốt để quan sát được mặt biển, các hoạt động của các tàu đi trên mặt biển, cái thứ 2 về mặt kinh tế thì ví dụ như là sau này mình xây dựng các cây đèn biển với các thứ thì mình cũng có thể quan sát được các hoạt động của các tàu nước ngoài đi trong khu vực của mình.

– LKT: Như vậy có thể là một trong các yếu tố mà Trung Cộng họ tàn sát các tàu 505-604 đó là có phải là do lý do về quân sự không ?

– VHL: Cái đó thì tôi cũng hiểu nó chưa thật là sâu sắc, thế nhưng tôi nghĩ rằng cái chính của họ là muốn chiếm quần đảo Trường Sa của chúng tôi để họ làm ví dụ như xây dựng kinh tế hoặc là quân sự, cái đó ý đồ của họ là họ muốn chiếm các đảo.

– LKT: Ý đồ chiếm Gạc Ma và Cô Lin là những trận chiến đầu tiên để thực hiện kế hoạch chiếm toàn bộ Trường Sa?
– VHL: Vâng Vâng …

– LKT: Vậy tại sao họ không đánh chiếm nốt?

– VHL: Bởi vì là ngoài việc sử dụng các loại vũ khí mà họ muốn chiếm ấy mà thì còn có cái sự thỏa thuận, rồi  xây dựng cái mối hòa giải giữa nước mình với nước bạn, để mà mình cố gắng làm sao để mà không xảy ra xung đột giữa 2 nước thì cái đó là cái cố gắng.

– LKT: Thì thưa đại tá tối hôm qua trong cái buổi giao lưu văn hóa, văn nghệ đại tá có nhớ là đại tá ngồi bên cạnh một người phụ nữ đó, đại tá có biết người đó là ai không ?

– VHL: Tôi cũng chỉ biết đấy là quả phụ của một anh, một người ở chế độ cũ, đến đây để tham gia văn hóa văn nghệ và đi thăm đảo Trường Sa của chúng ta.

– LKT Theo chúng tôi được biết thì bà quả phụ đó là vợ của cố Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà, ông ta là hạm trưởng chiếc HQ10, ông đó là hạm trưởng chỉ huy trận chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974, đại tá nghĩ thế nào về cái trận chiến Hoàng Sa, nó có liên quan với trận chiến Gạc Ma năm 88 hay không ?

– VHL: Tôi thì tôi nghĩ rằng cái âm ưu độc chiếm biển Đông của đối phương là họ rất là sâu sắc trong cái đầu óc của họ rồi, họ không nghĩ rằng là đất đó là của Việt Nam mà chúng tôi thì khẳng định hằng bao nhiêu đời đây là cái đất Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam mình, cho nên là không thể không phải như thế được, cho nên khi mà nghe được cái lệnh đi bảo vệ quần đảo Trường Sa là chúng tôi cũng rất là phấn khởi, rất là tin tưởng vào cái sự bảo vệ đó của nhà nước mình.

– LKT: Đại tá nghĩ như thế nào về sự hy sinh của 74 chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa tại trận Hoàng Sa?

– VHL: Tôi nghĩ rằng là anh em Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa cũng là bảo vệ đất nước của mình, bảo vệ đất nước của Việt Nam mình, cho nên là dù có phải hy sinh đến người cuối cùng nhưng mà mình giữ được cái đảo Hoàng Sa, cái quần đảo Hoàng Sa hoặc là Trường Sa thì mình cũng vẫn phải tôn vinh họ lên trở thành những người anh hùng những người giữ đảo giữ đất nước của Việt Nam mình, đấy thì tôi cũng nghĩ như thế.

– LKT: Vâng, tối hôm qua cũng do sự bố trí của ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, đại tá đã ngồi gần vợ một người anh hùng của Việt Nam Cộng Hòa và đại tá cũng là một anh hùng hải quân của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thì ông nghĩ thế nào về sự bố trí do 2 người anh hùng đó của 2 miền gặp nhau trong tối hôm qua?

– VHL: Tôi thì tôi nghĩ rằng đây là cái sự hòa hợp, chúng ta luôn luôn mong muốn sự hòa hợp thống nhất giữa, không thể nói là miền Nam riêng, miền Bắc riêng được mà nó là sự hòa hợp giữa người dân tộc Việt Nam mình nói chung để giữ mảnh đất thiêng liêng của mình, dù là nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa, mình cũng phải quyết tâm giữ cho bằng được, dù là anh ở chế độ nào đi chăng nữa, anh đã thấm nhuần được cái đất nước của ta, cái mảnh đất đó là của Việt Nam thì bằng mọi giá phải giữ, cho nên phải hy sinh, cả nước mình vẫn phải tôn vinh họ là những người giữ đất nước, giữ đất, giữ nước của tổ quốc Việt Nam.

– LKT: Vâng cảm ơn đại tá câu hỏi cuối cùng là: thưa ông với cái lời lẻ của ông rất là lịch sự đối với những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng mà chúng tôi nhận thấy là trong một số báo chí và ngôn từ hiện nay ở trong nước vẫn còn dùng những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa là chữ “Ngụy”, ngụy quân ngụy quyền, cái điều đó có làm ông cảm nhận có sự khác biệt nào không ?


– VHL: Theo tôi thì cách sử dụng các từ đấy thì có thể về phía tôi thì tôi nghĩ rằng là mình cũng không sử dụng như thế nữa và từ nay trở đi ta nên sử dụng đó là một người Việt Nam bảo vệ đất nước Việt Nam mình của cái thời trước, theo tôi nghĩ thì như thế.

– LKT: Xin cảm ơn đại tá , thay mặt cho một cơ quan báo chí ở hải ngoại, ở nước Mỹ, chúng tôi vô cũng hân hạnh được tiếp xúc với đại tá trong buổi hôm nay và xin chúc đại tá sức khỏe dồi dào.

– VHL: Vâng, không có chi ạ.

153 Dân Biểu Hoa Kỳ: Muốn tham gia TPP, Việt Nam phải tôn trọng quyền lao động

Mạch Sống, ngày 30 tháng 5, 2014

http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2867

http://machsong.org

Ghi chú: Vào đây để vượt tường lửa: http://anonymouse.org/anonwww.html

Tại buổi họp báo lúc 2 giờ chiều ngày hôm qua, các dân biểu Hoa Kỳ công bố văn thư đòi hỏi Đại Sứ Michael Froman, Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ, phải bảo đảm quyền lao động trong thương thảo Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Trong đó Việt Nam là một quốc gia cần quan tâm đặc biệt. Tổng cộng có 153 vị dân biểu thuộc Đảng Dân Chủ đã đồng ký tên. Kèm theo đây là thông cáo báo chí từ văn phòng của DB George Miller về buổi họp báo này.

Một văn thư khác do dân biểu thuộc Đảng Cộng Hoà đang được luân lưu để lấy chữ ký. Văn thư này gửi cho Tổng Thống Barack Obama và đặt nhiều điều kiện nhân quyền nếu Việt Nam muốn tham gia TPP.

Lúc 1pm cùng ngày, Tiểu Ban về Nhân Quyền Quốc Tế của Quốc Hội Canada có buổi điều trần về chính sách đối ngoại của Canada và tình trạng nhân quyền ở Việt Nam. Tham dự buổi điều trần có Ts. Lê Duy Cấn và Cô Nguyễn Khuê-Tú đại diện Liên Hội Người Việt Canada và Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS. Ngoài ra còn có ba nhà đấu tranh ở trong nước điều trần qua video. Các đề nghị cho chính quyền Canada cũng tương tự như đối với Hoa Kỳ: Qua TPP, đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải cải thiện nhân quyền.

Sau buổi điều trần phái đoàn người Việt đã họp riêng với hai dân biểu Canada để bàn kế hoạch hành động cụ thể cho thời gian từ giờ đến cuối năm.

Ts. Thắng cho biết sẽ mở rộng nỗ lực đẩy lùi TPP cho Việt Nam, nếu như không có sự cải thiện nhân quyền, đến nhiều quốc gia đang thương thảo TPP.
Bai lien quan:

Thời Điểm Thuận Lợi Cho Nhân Quyền

http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2863

Press Office: 202-226-0853

Thursday, May 29, 2014

153 House Democrats to USTR Froman: Protect Workers’ Rights in TPP Negotiations

WASHINGTON, DC—More than 150 House Democrats today called on United States Trade Representative Michael Froman to do more to protect and strengthen international workers’ rights as part of the Trans-Pacific Partnership (TPP) negotiations.

Led by Reps. George Miller (D-Calif.)Mark Pocan (D-Wisc.), Loretta Sanchez (D-Calif.), and Rosa DeLauro (D-Conn.), 153 Democratic Representatives sent a letter to Ambassador Froman asking that the ongoing TPP negotiations include an enhanced framework for protecting international human and labor rights—especially for the countries of Vietnam, Malaysia, Brunei, and Mexico, which have lengthy histories of violating workers’ rights. The signatories are seeking strong, enforceable plans to ensure that these future U.S. trading partners abide by core international labor standards.

“We must do everything possible to prevent the American marketplace from being flooded with imports manufactured by workers laboring without human dignity and individual rights,” the members wrote. “The Administration must refrain from validating such woefully inadequate labor norms and the final agreement should be withheld until these countries embrace the need to reform their labor laws and move aggressively to implement them.”

Reports from the Departments of Labor and State show major abuses of human and worker’s rights in the aforementioned countries, including: forced labor and child labor; pregnancy and gender-based discrimination; health and safety hazards; excessive working hours; and inadequate wages. The representatives are asking for significant structural and measurable changes to address these offenses in a meaningful way before a final TPP agreement emerges.

Read the full text of the letter below:

May 29, 2014

The Honorable Michael Froman

United States Trade Representative

600 17th Street NW

Washington, DC 20508

Dear Ambassador Froman:

As you know, protecting the rights of working people in the United States and abroad is a key priority for us in developing American trade policy. For this reason, we were very alarmed by the recent AFL-CIO report, “Making the Colombia Labor Action Plan Work for Workers,” which detailed ongoing abuses of worker rights in Colombia. We believe that it is crucially important that you take action to ensure better outcomes in our ongoing negotiation of the Trans-Pacific Partnership (TPP), particularly in countries that have lengthy histories of denying workers their rights, such as Vietnam.

“Making the Colombia Labor Action Plan Work for Workers” contained a number of troubling findings, including that the LAP has not eliminated or significantly reduced violence against unionists, that illegal and abusive forms of subcontracting persist, and that little has been done to sanction employers for violating laws designed to protect the right to organize and bargain collectively. Given how important the goals of the LAP are, we believe that more work must be done to effectively monitor progress in achieving them and in evaluating measurable outcomes that demonstrate effectively where progress has occurred and where additional work is needed. Yet, as important as enhancing monitoring and enforcement in Colombia is, it is also critical to ensure that ongoing TPP negotiations lead to improved outcomes for workers in the TPP based on basic labor rights and human dignity.

In this context, we were alarmed by recent reports in Vietnamese media that Truong Dinh Tuyen, the former Vietnamese Minister of Trade and current senior advisor on international negotiations, said that Vietnam would not accept a TPP requirement that workers be allowed to establish independent labor unions, but would instead accept a compromise that devolved some power to local unions.[1] While we are pleased to see that Vietnamese officials are beginning to realize that continuation of the country’s flagrant violations of core labor standards—which has been documented at length by the Departments of Labor and State—is unacceptable, we were concerned that Mr. Tuyen seems to believe that halfway measures will be adequate. That is not the case. All TPP member nations, including Vietnam, must fully comply with TPP labor obligations, including those related to freedom of association and collective bargaining.

In countries like Vietnam in which workers have faced extraordinary abuses, there must be binding and enforceable plans to bring those countries’ laws and practices into compliance with TPP labor requirements. Those plans must be made public, and the changes to the laws and practices must be fully implemented, before Congress takes up TPP for consideration, while trade benefits granted by the agreement must be contingent on the plans’ continued implementation. In countries such as Vietnam, where the labor regime must be substantially transformed, an additional mechanism is needed to link those benefits to Vietnam’s regular demonstration of the effective enforcement of its new law laws.

It is clear that Vietnam, in particular, must do substantial work to achieve a minimally acceptable level of respect for workers’ rights for a trading partner of the United States. Vietnamese law requires that all unions in the country be affiliated with the Vietnam General Confederation of Labor, which describes itself as “a member of the political system under the leadership of the Communist Party of Vietnam,” and in so doing violates workers’ rights to form and join independent labor unions of their own choosing. Meanwhile, the Department of Labor lists Vietnam as one of just four countries where there is reason to believe that garments might have been produced by forced or indentured child labor.

Three other TPP countries also appear to be home to violations of core labor standards that merit binding compliance plans to ensure that they are in accordance with international labor standards. In Malaysia, the Department of State reports that rights to freedom of association and collective bargaining are “severely restricted,” including prohibitions on union membership by workers in several sectors, significant limits on the right to strike, and governmental interference in union registration.  The Department of Labor lists the country as a source of garments and palm oil which it has reason to believe are produced with forced labor, and the Department of State notes that sources reported occurrences of forced labor in a number of industries, including agriculture, fishing, electronics factories, construction, and others.  In Brunei, concerns about freedom of association also persist, including Department of State documentation of a prohibition on strikes and a failure of the law to protect workers who face dismissal related to union activities.  The Department of State also found lax enforcement of protections of foreign workers, including “credible reports” of migrant workers “paying the equivalent of two months’ wages to fictitious employers to obtain labor passes.” Brunei also just recently adopted Sharia Law, with penalties that include flogging, dismemberment, and stoning, raising much broader human rights issues, as well as basic concerns about sex-based discrimination in employment.  And in Mexico, the Department of State notes that protection unions, and the protection contracts they sign, “continued to be a problem in all sectors, and many observers noted that a majority of workers in unions belonged to unrepresentative unions.”  These issues must be addressed in a serious and meaningful way in order for the TPP to move forward.  We must do everything possible to prevent the American marketplace from being flooded with imports manufactured by workers laboring without human dignity and individual rights. The Administration must refrain from validating such woefully inadequate labor norms and the final agreement should be withheld until these countries embrace the need to reform their labor laws and move aggressively to implement them.

As such, we believe that it is critically important that the TPP provide for an enhanced framework for protecting workers’ rights to help ensure that the agreement benefits the middle class in this country and protect the rights of workers of our trading partners. In the particular cases of the four countries mentioned above, strong, enforceable plans are needed in addition to robust and fully enforceable labor provisions in the TPP text to achieve that outcome and to ensure compliance with international core labor standards.

Thank you in advance for your consideration of our views. We look forward to your response.

Sincerely,

George Miller                                                      Mark Pocan

Member of Congress                                                   Member of Congress

Loretta Sanchez                                                   Sander M. Levin

Member of Congress                                                   Member of Congress

Henry A. Waxman                                      Rosa L. DeLauro   

Member of Congress                                                   Member of Congress

Janice D. Schakowsky                                          John Conyers Jr.    
Member of Congress                                                   Member of Congress

Steve Israel                                                            John D. Dingell

Member of Congress                                                   Member of Congress

John Garamendi                                                     John P. Sarbanes

Member of Congress                                                   Member of Congress

Barbara Lee                                                            Corrine Brown

Member of Congress                                                   Member of Congress

Brad Sherman                                                         Bobby L. Rush

Member of Congress                                                   Member of Congress

Jerrold Nadler                                                     Joe Courtney

Member of Congress                                                   Member of Congress

Marcy Kaptur                                                        Steve Cohen

Member of Congress                                                   Member of Congress

 Eleanor Holmes Norton                                     Peter A. DeFazio
Member of Congress                                                   Member of Congress

Charles B. Rangel                                                Nick J. Rahall

Member of Congress                                                   Member of Congress

 Keith Ellison                                                         Louise McIntosh Slaughter

Member of Congress                                                   Member of Congress

Gene Green                                                 Luis V. Gutiérrez
Member of Congress                                                   Member of Congress

Lucille Roybal-Allard                          Paul Tonko 
Member of Congress                                                   Member of Congress

John F. Tierney                                                       Richard M. Nolan
Member of Congress                                                   Member of Congress

Adam Smith                                                               Brian Higgins
Member of Congress                                                   Member of Congress

Bill Pascrell, Jr.                                      Katherine Clark

Member of Congress                                                   Member of Congress

Collin C. Peterson                                               Adam B. Schiff

Member of Congress                                                   Member of Congress

Peter J. Visclosky                                              Maxine Waters
Member of Congress                                                  Member of Congress

Lois Capps                                                                Gwen Moore 
Member of Congress                                                   Member of Congress

Tim Ryan                                                                   Michael H. Michaud
Member of Congress                                                   Member of Congress

 Gloria Negrete McLeod                                    Theodore E. Deutch
Member of Congress                                                   Member of Congress

Sam Farr                                                                   Raúl M. Grijalva

Member of Congress                                                   Member of Congress

Carol Shea-Porter                                               William L. Enyart

Member of Congress                                                   Member of Congress

TQ tiếp tục tấn công gây thương tích cho phía VN gần giàn khoan Hải Dương

Trà Mi-VOA. 28.05.2014

http://www.voatiengviet.com/content/tq-tiep-tuc-tan-cong-gay-thuong-tich-cho-phia-vn-gan-gian-khoan-hai-duong/1924170.html

Tàu Trung Quốc dùng vòi ròng tấn công tàu Việt Nam

Tàu Trung Quốc dùng vòi ròng tấn công tàu Việt Nam

Thêm 4 tàu của Việt Nam bị Trung Quốc tấn công, xịt vòi rồng tại khu vực gần giàn khoan Hải Dương mà Bắc Kinh đặt tại vùng biển Hà Nội có tuyên bố chủ quyền, một ngày sau khi Việt Nam tố cáo Trung Quốc đâm chìm một tàu cá của Việt Nam tại khu vực.

Tàu cá của Trung Quốc không gọi là tàu cá được. Thật ra đó là những tàu thiết kế để thực hiện nhiệm vụ khác. Những tàu đó cũng là một trong những mũi tấn công chính trong các vụ gây hấn với Việt Nam.

Cục Kiểm Ngư nói trong số các tàu gặp nạn hôm nay có 3 tàu cá và 1 tàu của lực lượng Kiểm ngư cùng 3 nhân viên kiểm ngư bị thương.

Cục Trưởng Cục Kiểm Ngư kiêm Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy sản Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Oai, cho VOA Việt ngữ biết thêm chi tiết:

Bấm vào nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn

Tải xuống để nghe cuộc phỏng vấn

Nguyễn Ngọc Oai: Trung Quốc trên thực địa vẫn hàng trăm tàu còn tăng cường cả máy bay trinh sát nữa. Một tàu Việt Nam bị từ 8 đến 10 tàu gồm hải giám, hải cảnh, ngư chính, tàu cá Trung Quốc vây ép, phun vòi rồng vào.

VOA: Phản ứng phía Việt Nam như thế nào?

Nguyễn Ngọc Oai: Việt Nam vẫn kiên trì mục tiêu giữ hòa bình, chủ yếu ngăn cản, xua đuổi và tuyên truyền để Trung Quốc rút giàn khoan. Khi Trung Quốc vây hãm và phun vòi rồng, chúng tôi chủ yếu là né tránh, không hành động chống trả.

VOA: Chiến lược Việt Nam hiện nay là tiếp cận giàn khoan bằng tàu bè vốn gặp rất nhiều khó khăn vì Trung Quốc vây quanh bảo vệ giàn khoan rất chặt chẽ. Ngoài ra, Trung Quốc cũng bố trí một lực lượng trên không. Vì sao Việt Nam không dùng các phương tiện trên không?

Nguyễn Ngọc Oai: Quan điểm của Việt Nam là đấu tranh bằng con đường ngoại giao để Trung Quốc thấy đó là chủ quyền Việt Nam. Chúng tôi thể hiện kiên quyết bảo vệ chủ quyền thông qua đàm phán, chứ không dùng võ lực theo đúng Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển 1982, Thỏa thuận cấp cao Việt-Trung, và Tuyên bố Ứng xử Biển Đông DOC. Chúng tôi chỉ dùng tàu và các lực lượng chấp pháp trên biển để xua đuổi, cản phá để Trung Quốc rút lui. Chúng tôi không có bất cứ hành động nào, kể cả hành động nhỏ nhất như Trung Quốc nói là sử dụng vòi rồng. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ sẵn sàng có những phương án tiếp theo.

VOA:  Các phương án tiếp theo đó là gì?

Nguyễn Ngọc Oai: Các phương án đó tùy cách ứng xử của Trung Quốc. Nếu chúng tôi thông qua tuyên truyền, đối thoại, qua phản ánh của bạn bè quốc tế ủng hộ mà Trung Quốc nhận thức ra thì rất tốt. Ứng xử của Việt Nam tùy vào ứng xử của Trung Quốc.

VOA: Người ta thấy rằng ứng xử của Trung Quốc rất cương quyết, không nhượng bộ. Ứng xử của Việt Nam sắp tới ông dự đoán sẽ như thế nào?

Nguyễn Ngọc Oai: Theo tôi, bây giờ bạn bè quốc tế cũng đã nhận rõ việc sai trái của Trung Quốc. Các phương tiện thông tin quốc tế đã đưa rất mạnh việc này. Các nước trong ASEAN cũng đã có những nước lên tiếng rất mạnh như Philippines, và một số nước khác như Nhật Bản. Tôi nghĩ trong chừng mực nào đó nhà cầm quyền Trung Quốc cũng sẽ có, phải thay đổi cách ứng xử.

VOA: Lực lượng Việt Nam tại khu vực có được tăng cường về số lượng tàu và phương thức tiếp cận?

Nguyễn Ngọc Oai: Điều kiện kinh tế và tất cả mọi thứ đều giới hạn. Chúng tôi cũng chỉ duy trì ở mức độ nhất định thôi.

VOA: Trung Quốc tuyên bố đã khoan xong đợt đầu tiên và di chuyển tới một khu vực khác gần đó. Thông tin phía Việt Nam ghi nhận thế nào?

Nguyễn Ngọc Oai: Đúng thế. 5 giờ sáng qua Trung Quốc bắt đầu di chuyển giàn khoan. Đến 16 giờ chiều qua, Trung Quốc đã di chuyển giàn khoan ra phía Đông Bắc của đảo Tri Tôn, cách vị trí ban đầu khoảng 22 hải lý.

VOA: Vị trí mới cách bờ biển Việt Nam bao xa?

Nguyễn Ngọc Oai: Chừng hơn 130 km.

VOA: Phản hồi của Việt Nam như thế nào trứơc loan báo của Trung Quốc khoan xong đợt đầu?

Nguyễn Ngọc Oai: Chúng tôi chưa có thông tin nhất định về việc này vì hiện nay các tàu chấp pháp của Trung Quốc vẫn bám trụ ở vị trí đặt giàn khoan cũ.

VOA: Số tàu Trung Quốc chính thức hiện diện tại đó ghi nhận hiện nay là bao nhiêu?

Nguyễn Ngọc Oai: Hơn 120 chiếc và trên 60 tàu cá.

VOA: Còn lực lượng phía Việt Nam là bao nhiêu?

Nguyễn Ngọc Oai: Hiện nay trên đó chúng tôi có trên 30 tàu của Kiểm ngư và Cảnh sát biển.

VOA: Thông tin về tàu cá Việt bị chìm hôm qua ở khu vực, Việt Nam nói do Trung Quốc đâm lật. Trung Quốc nói tàu Việt tự đâm vào tàu Trung Quốc và chìm. Việt Nam có bằng chứng cụ thể nào bằng hình ảnh hay âm thanh từ radar để chứng minh lập luận của mình?

Nguyễn Ngọc Oai: Chắc chắn là Việt Nam có bằng chứng.
Tất cả những hành động đâm va, quấy phá từ Trung Quốc, Việt Nam đều có bằng chứng cả. Ngược lại, Trung Quốc không có bằng chứng. Thứ hai, tàu cá Trung Quốc tổng công suất gấp 3,4 lần tàu cá Việt thì làm sao tàu cá Việt đâm tàu cá Trung Quốc được? Tàu cá Việt đều là vỏ mũ, không có vỏ sắt. Tàu cá Trung Quốc đều là tàu vỏ sắt. Đến nay, trong mấy tuần qua, hàng chục tàu cá Việt bị các lực lượng chấp pháp Trung Quốc xua đuổi , đâm va. Trong đó có một tàu bị đâm chìm và nhiều tàu khác hỏng hóc.

VOA: Sau vụ việc hôm qua, tàu cá Việt hôm nay có ra đó hoạt động?

Nguyễn Ngọc Oai: Ngư dân chúng tôi đến giờ vẫn xác định bám biển khai thác trên các vùng biển truyền thống của chúng tôi.

VOA: Việt Nam có tăng cường những biện pháp bảo vệ cho họ sau vụ việc hôm qua?

Nguyễn Ngọc Oai: Chúng tôi ngoài nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, còn tham gia bảo vệ ngư dân. Những trường hợp ngư dân bị Trung Quốc đâm hỏng tàu, chúng tôi phối hợp sữa chữa kịp thời. Ngư dân bị tai nạn, chúng tôi cấp cứu.

VOA: Đó là những biện pháp hỗ trợ. Ngoài ra có những biện pháp nào bảo vệ họ, giúp ngăn ngừa những vụ va chạm?

Nguyễn Ngọc Oai: Chúng tôi khuyến cáo ngư dân đối với các vùng biển cả truyền thống của chúng ta, nên khai thác xa hơn một chút.

VOA: Tàu cá Trung Quốc  có lực lượng chấp pháp đi theo bảo vệ khi khai thác. Việt Nam có tính đến phương án đó hay không?

Nguyễn Ngọc Oai: Tàu cá của Trung Quốc không gọi là tàu cá được. Thật ra đó là những tàu thiết kế để thực hiện nhiệm vụ khác. Những tàu đó cũng là một trong những mũi tấn công chính trong các vụ gây hấn với Việt Nam.

VOA: Tuy nhiên, tàu cá Việt hoạt động trong khu vực đầy rủi ro, khó tránh va chạm với Trung Quốc. Lực lượng chấp pháp Việt Nam có phương án đi theo bảo vệ tàu cá Việt?

Nguyễn Ngọc Oai: Không, không. Chúng tôi không theo bảo vệ vì lực lượng chúng tôi có hạn. Cả vùng biển rộng lớn chúng tôi chỉ có 30 tàu. Chúng tôi chủ yếu tuyên truyền, quan sát ở xa để theo dõi, để hỗ trợ thôi, chứ chúng tôi không phải theo để bảo vệ tàu cá. 


Trà Mi

Ðại sứ Việt Nam tại Mỹ phản bác Trung Quốc trên CNN

Người Việt Online, May 29, 2014 2:28:44 PM
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=188968&zoneid=1#.U4nJXCjihzZ

WASHINGTON DC. (NV)Ông Nguyễn Quốc Cường, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, đã lên án hành động Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, qua một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình CNN, tối 28 tháng Năm, 2014.

Hồi tuần trước, cũng trong cuộc phỏng vấn của CNN, ông Thôi Thiên Khải, đại sứ Trung Quốc tại Hoa Kỳ khẳng định giàn khoan HD 981 đang hoạt động trong vùng biển của Trung Quốc, đồng thời cáo buộc Việt Nam “gây rối” và sử dụng tàu quân sự trong khu vực tranh chấp.

 



Ðại Sứ Nguyễn Quốc Cường trong cuộc trả lời phỏng vấn của CNN. (Hình: Chụp lại từ Youtube)

Trong cuộc phỏng vấn tối Thứ Tư, ông Nguyễn Quốc Cường cho biết quan hệ của Việt Nam và Trung Quốc vẫn rất tốt trong năm ngoái, cho đến khi “Trung Quốc bất ngờ gửi giàn khoan và nhiều tàu hộ tống vào vùng biển của Việt Nam.”

Ông Cường nhấn mạnh: “Ðây là hành động vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam. Người dân Việt Nam không còn cách nào khác ngoài phản ứng một cách hòa bình nhưng kiên quyết.”

Tuy nhiên ông Cường không trả lời ý trong câu hỏi của người dẫn chương trình về việc liệu những phản ứng hòa bình của phía Việt Nam có giúp tránh một cuộc xung đột vũ trang hay không.

Trong cuộc phỏng vấn trước đó, ông Thôi Thiên Khải cho rằng, nơi có giàn khoan HD 981 là vùng biển đang tranh chấp, và Trung Quốc chỉ có một giàn khoan, trong khi Việt Nam có tới 30 cái.

Về chuyện này, Ðại Sứ Nguyễn Quốc Cường cho rằng, “Trung Quốc đang tìm cách tạo ra thực tế mới, thay đổi hiện trạng” và “tìm cách biến vùng không tranh chấp thành vùng có tranh chấp. Ðây là điều không thể chấp nhận được. Những giàn khoan này nằm trong thềm lục địa của Việt Nam, bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, không phải trên vùng biển tranh chấp. Tất cả những hoạt động thăm dò dầu khí đã được Việt Nam thực hiện hàng thập kỷ nay đều nằm trong thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam.”

Ông Cường nói thêm: “Nhiều tập đoàn nước ngoài đang hợp tác với Việt Nam trong hoạt động thăm dò, quý vị có nghĩ là họ sẽ làm vậy, nếu họ biết khu vực này nằm trong vùng biển tranh chấp? Tôi không nghĩ vậy.”

Ông cũng nhắc lại là hồi năm 2012, Trung Quốc cho đấu thầu những lô dầu khí nằm bên trong thềm lục địa của Việt Nam, nhưng không có nước nào chấp nhận điều này. (Ð.D)

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công bố các giải pháp bảo vệ chủ quyền

Chinh-phu-hop-1_29514-305.jpg

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại phiên họp báo thường kỳ của Chính phủ hôm 29/5/2014.

Courtesy chinhphu.vn

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm nay tham gia phiên họp báo thường kỳ của Chính phủ, và nêu ra 3 nhóm giải pháp bảo vệ chủ quyền đất nước.

Nhóm giải pháp thứ nhất được nêu ra là các tàu chấp pháp của Việt Nam phải luôn có mặt tại vị trí mới để cản phá và đuổi tàu Trung Quốc hoạt động trái phép trong vùng biển Việt Nam.

Về mặt ngoại giao, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam tiếp tục kiên trì và đấu tranh đến cấp cao nhất, nói rõ hành động sai trái của phía Trung Quốc, yêu cầu họ rút giàn khoan Hải Dương-981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam.

Giải pháp thứ ba được người đứng đầu chính phủ Việt Nam nêu ra là đấu tranh bằng con đường dư luận. Theo đó các cơ quan chức năng phải cung cấp đầy đủ, trung thực, khách quan các hành động sai trái của Trung Quốc cho cộng đồng quốc tế.

Sẽ có va chạm

Thủ tướng Việt Nam cho biết trong gần một tháng qua, Việt Nam đã tiến hành hơn 30 cuộc giao tiếp với đại diện Trung Quốc, yêu cầu họ rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam.

Cũng trong thời gian qua có hơn 30 tàu của các lực lượng chấp pháp của Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm va, gây hỏng hóc.

Cũng trong cuộc họp báo này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đưa ra dự báo là sẽ có va chạm với Trung Quốc, nhưng phía Việt Nam kiên quyết và cố gắng kiềm chế.

Video: Trung Quốc sắp làm gì? Đối sách của Việt Nam ra sao?

Sau khi nêu ra ba nhóm biện pháp bảo vệ chủ quyền và tình hình thực tế xảy ra tại Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn nói Việt Nam hết sức coi trọng quan hệ hợp tác, hữu nghị trên các lĩnh vực với Trung Quốc. Ông nói rằng đấu tranh vì chủ quyền vẫn phải tiếp tục, nhưng làm ăn thì vẫn bình thường.

Phản đối tại diễn đàn LHQ

Cũng tin liên quan, tại Hội nghị lần thứ 15 tiến trình tư vấn của Liên Hiệp Quốc về đại dương và Luật Biển từ ngày 27 đến 30 tháng 5 này, đoàn Việt Nam tham dự hội nghị cũng đã có bài phát biểu phản đối những hành động bất hợp pháp của Trung Quốc tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông.

Theo phía Việt Nam thì những các hành động căng thẳng gần đây của Trung Quốc tại Biển Đông gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động ngư nghiệp chính đáng của ngư dân Việt Nam.

Tin, bài liên quan

 

GS Jonathan London: “Vụ khoan dầu khiến Việt Nam đi trên lộ trình mới”

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=188944&zoneid=1#.U4cEASjihzY

LTS: Tiến sĩ Giáo sư Jonathan D. London, giáo sư tại Phân Khoa Nghiên cứu Á Châu Á và Quốc Tế và là thành viên chủ chốt của Trung Tâm Nghiên Cứu Ðông Nam Á tại Ðại Học Hồng Kông, nói với nhật báo Người Việt, trong một cuộc phỏng vấn gần đây, rằng cuộc khủng hoảng tạo ra do việc Trung Quốc mang giàn khoan dầu HD-981 vào lãnh hải Việt Nam, đã khiến Việt Nam đi trên một lộ trình mới về mối quan hệ với Trung Quốc. Cuộc phỏng vấn do Hà Giang thực hiện qua điện thoại hôm 25 Tháng Năm, trong lúc ông đang ở Hà Nội.

Tàu hải cảnh của Trung quốc đâm thẳng vào tàu Cảnh sát biển của Việt Nam ở gần khu vực dàn khoan HD 981. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hà Giang (NV): Người Việt khắp nơi trên thế giới đang theo dõi cuộc việc Trung Quốc mang giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam rất chặt chẽ, và có những bình luận khác nhau. Người cho rằng Trung Quốc cuối cùng đã hoàn toàn xâm chiếm Việt Nam. Người khác hy vọng rằng cuộc khủng hoảng này sẽ mang lại một sự thay đổi khiến Việt Nam thoát được vòng kiềm tỏa của Trung Quốc, và người lại nghĩ rằng Trung Quốc sẽ rút giàn khoan dầu của họ vào tháng Tám, và cuối cùng tình hình Việt Nam lại đâu cũng vào đấy. Ông nghĩ là cuộc khủng hoảng này sẽ đưa đến kết cục thế nào?

Giáo Sư Jonathan London: Tôi nghĩ rằng kết cục sẽ là không có kết cục gì hết trong khoảng thời gian tới. Tình hình sẽ tiếp tục căng thẳng và rất khó dự đoán tương lai. Tuy nhiên đã có nhiều biến chuyển, và điều hấp dẫn nhất về tình hình hiện nay là nó đưa đến nhiều kết quả bất ngờ. Bất kể nhận định việc mang giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam của Bắc Kinh có khôn ngoan hay không, không thể thay đổi thực tại là những gì họ làm đã gây ra một phản ứng dây chuyền, đẩy tình thế đến nhiều hướng rất bất ngờ, và có thể nói là ngoài tầm kiểm soát. Ðây là một thời điểm đầy biến động, và tôi nghĩ rằng dựa vào những lời tuyên bố của Bắc Kinh, ngoại trừ có những giải pháp ngoại giao đột biến, Việt Nam có thể sẽ có những thay đổi lớn.

NV: Có phải giáo sư đang nói rằng giả sử đến ngày 15 Tháng Tám, Trung Quốc mang giàn khoan đi, và không có biến chuyển gì mới, Việt Nam vẫn đang ở đi trên một lộ trình khác nhiều so với ba tháng trước đó?

Giáo Sư Jonathan London: Vâng, tôi tin như thế. Tôi tin rằng một số quy trình mà kết quả không lường được đã bắt đầu tại Việt Nam một cách nghiêm túc, và giai điệu của các cuộc thảo luận chính trị ở Việt Nam hiện nay thực sự là chưa từng có. Người ta có thể hình dung rằng sau một số bước đột phá bất ngờ trên mặt trận ngoại giao, mọi thứ sẽ lắng xuống khá nhanh chóng và mọi việc sẽ trở về nguyên trạng, nhưng tôi nghĩ rằng tình hình Việt Nam sẽ rất khác. Tôi cũng nghĩ rằng nếu những căng thẳng hiện giờ không suy giảm, thì xác suất có những thay đổi lớn về quan điểm chiến lược cũng như chính sách của Việt Nam gần như là điều chắc chắn.

NV: Giáo sư đã gặp gỡ và thảo luận với nhiều bạn bè ở Hà Nội, tâm trạng của người ở đó bây giờ ra sao?

Giáo Sư Jonathan London: Tôi phải nói là tâm trạng của người Hà Nội đã thay đổi thực sự đáng kể chỉ trong một vài ngày, và phần lớn sự thay đổi đó liên quan đến những lời phát biểu được người dân Việt Nam tiếp nhận một cách nồng nhiệt của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tình thế tích cực ở chỗ có thể nó buộc Việt Nam phải suy nghĩ kỹ một chính sách khác với lộ trình Việt Nam vẫn đang theo đuổi từ trước đến nay, và một điều rất hiển nhiên là Việt Nam cần có nhiều bạn bè.

Việt Nam hiện không có bạn bè và đồng minh thân thiết và rõ ràng là cần phải có quan hệ tốt với Trung Quốc và hy vọng sẽ tiếp tục có quan hệ tốt với nước này. Ngay cả giữa những sự căng thẳng và đe dọa là sẽ có xung đột quân sự, về lâu về dài, Việt Nam tuyệt đối cần phải tìm cách để sống bên cạnh người láng giềng Trung Quốc, như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng từng nêu ra rằng mối quan hệ giữa hai nước phải đặt trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau chứ không phải là sự bắt nạt. Cách duy nhất để có thể có được quan hệ này, là Việt Nam phải đứng vững được hơn trên đôi chân của mình, phải tạo được quan hệ tốt hơn, sâu sắc hơn với nhiều quốc gia. Nói tóm lại, Việt Nam sẽ cần phải cởi mở hơn, một thay đổi mà cách mà các nhà lãnh đạo Việt Nam từ trước đến giờ có khuynh hướng cưỡng lại. Nhiều người có nhận định rằng các tương quan giữa các thế lực chính trị tại Việt Nam đang thay đổi một cách rất nhanh chóng và thú vị.

NV: Ngay trong lúc Việt Nam đang tỏ dấu hiệu muốn có quan hệ sâu sắc hơn với Hoa Kỳ, trong một cuộc họp tại Malaysia, ông Nguyễn Tấn Dũng lập lại chính sách “ba không” của Việt Nam, trong đó có chính sách không liên minh quân sự với bất cứ nước nào. Ông có thấy đây là một chủ trương mâu thuẫn?

Giáo Sư Jonathan London: Không, tôi nghĩ rằng đó là một điều khôn ngoan. Bởi vì Trung Quốc là một cường quốc đang lên và là một sức mạnh bá chủ tiềm năng, còn Mỹ thì là lực lượng duy nhất có thể kiềm chế được họ, nên nếu Việt Nam tuyên bố đang phát triển một liên minh quân sự với Mỹ, thì tôi ngờ rằng Trung Quốc sẽ xem đó là một động tác thù nghịch, và có thể Bắc Kinh sẽ có những phản ứng không lường được. Ở tại một khu vực mà từ nhiều thập kỷ nay không có chiến tranh, không sẵn sàng cho những xung đột quân sự, vì thế cần phải có những vùng đệm, ví dụ giữa Trung Quốc và Mỹ hay giữa Trung Quốc và các cường quốc khác trong khu vực. Tôi nghĩ rằng Việt Nam vẫn có thể có bạn bè, vẫn có thể có đồng minh, và vẫn có thể có phản ứng ngoại giao được thế giới ủng hộ cho những hành xử trái với tiêu chuẩn quốc tế của Trung Quốc. Tôi hiểu lập luận của giới chỉ trích rằng Việt Nam quá mềm yếu, nhưng tôi nghĩ lập luận này không đúng. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là cần phải có tầm nhìn xa, và phải tận dụng mọi phương tiện cần thiết để giải quyết tranh chấp mà không dẫn đến chiến tranh tại Ðông Nam Á. Dĩ nhiên, nếu tình hình xấu đi, và thực sự có chiến tranh, thì tình thế sẽ khác, nhưng tôi nghĩ rằng hiện giờ những gì Việt Nam đang làm là đúng.

NV: Nếu Việt Nam không liên minh quân sự với nước nào, thì nếu Trung Quốc xem đó như là một nhược điểm và quyết định tấn công, thì ai sẽ là người trợ giúp Việt Nam?

Giáo Sư Jonathan London: Liên minh quân sự là một chuyện, hợp tác quân sự lại là một chuyện khác. Dù Washington từng háo hức nói rằng họ muốn mở rộng quan hệ (với Việt Nam), vào thời điểm này, mối quan hệ giữa hai bên còn lỏng lẻo. Tôi cho rằng có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh và (Việt Nam) có thể sử dụng thuật ngữ này thay vì cụm từ “liên minh quân sự.” Có nhiều cách để phát triển các mối quan hệ an ninh để đạt được hiệu quả tốt cho những thách thức mà Việt Nam đang phải đối diện. Tình thế hết sức phức tạp, tôi khó có thể hình dung Mỹ có thể đẩy Trung Quốc ra một bên hay đánh bật họ tại thời điểm này. Chúng ta đang ở trong một tình hình rất nhạy cảm. Thủ tướng Việt Nam đã nói rằng Việt Nam đã trải qua quá nhiều chiến tranh rồi, tôi nghĩ rằng thế giới sẽ đồng ý với điều đó, và như vậy, dù tình hình có thể thay đổi, ngay lúc này, cần phải tính từng bước một. Có nhiều cách để phát triển một mối quan hệ an ninh mà không cần thông báo là đang thiết lập một liên minh quân sự, chẳng hạn.

NV: Ông James Hardy, biên tập viên về khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của tạp chí quốc phòng IHS Jane’s Defence Weekly cho rằng “quan hệ Mỹ-Việt Nam đã được cải thiện dần trong những năm gần đây đến độ việc bỏ cấm vận vũ khí có thể xẩy ra.” Ông có đồng ý với nhận định này không?

Giáo Sư Jonathan London: Có những hạn chế nhất quán về quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam liên quan đến tình hình nhân quyền, và mỗi khi đề cập đến việc này thì phải đối mặt với một rào cản. Vì vậy, có rất nhiều điều Việt Nam cần phải làm ngay lập tức nếu thực sự muốn có bạn bè và đồng minh. Ðể được quốc tế tôn trọng, Việt Nam cần phải giải quyết những hạn chế về quan hệ với Mỹ và các nước dân chủ khác. Ðó là lý do tại sao nhiều người cho rằng có nhiều triển vọng cho Việt Nam, vì nếu Việt Nam bước trên một lộ trình khác, một lộ trình thực sự độc lập mà không phải là một đàn em của Trung Quốc, và giải quyết những vấn đề thể chế, bao gồm việc không giới hạn nhân quyền từ trước đến giờ cản trở nhiều mối quan hệ với các nước khác. Việt Nam có được phép mua công nghệ quân sự và những vũ khí sát thương hay không là điều có thể xảy ra, nhưng còn tùy.

NV: Về tranh chấp tại Biển Ðông, Hà Nội đang tính đến việc kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, nhưng nước này từng tuyên bố là sẽ bất chấp phán quyết của tòa, ông nghĩ rằng Việt Nam có ích lợi gì không khi kiện Trung Quốc?

Giáo Sư Jonathan London: Nếu Bắc Kinh không thay đổi chính sách, đưa họ ra tòa quốc tế là một điều tốt, vả lại ngoài biện pháp đó Việt Nam còn có sự lựa chọn nào? Việt Nam có một hồ sơ pháp lý khá vững vàng, và tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ có lợi rất nhiều, nhất là song song với việc áp dụng những biện pháp khác như phát triển quan hệ tốt với những nước khác như tôi đã nói. Việt Nam sẽ thắng về mặt dư luận quốc tế nếu chứng minh được rằng mình đang bị xâm lược một cách bất công. Dù Bắc Kinh có chấp nhận hay không chấp nhận phán quyết của tòa, việc nộp đơn kiện vẫn có lợi, vì nó giúp Việt Nam tăng cường chính danh của việc tuyên bố chủ quyền của mình. Việt Nam cũng cần chuẩn bị tinh thần để chấp nhận phán xét của tòa án nếu tòa quyết định không có lợi cho Việt Nam. Ðiều thiết yếu là những tranh chấp này phải có một buổi điều trần công bằng, dưới luật tố tụng của quốc tế.

NV: Ông từng viết rằng tình hình căng thẳng hiện nay đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam phải có những thay đổi đột phá để giải quyết những bế tắc chính trị hiện có. Theo ông, liệu tình thế này có thể đưa đến sự đột phá đó không?

Giáo Sư Jonathan London: Có lẽ. Tôi nghĩ rằng đã có một thay đổi cán cân quyền lực, và thay đổi đó là một trong những yếu tố quan trọng trong sự bế tắc, cụ thể là mối quan hệ với Trung Quốc đã chuyển đổi, đã có những quan điểm khác nhau từ căn bản. Tôi không biết ông Nguyễn Tấn Dũng đóng vai trò nào trong tương lai chính trị của Việt Nam, nhưng tại thời điểm này ông rõ ràng đã trở thành một lãnh đạo nổi bật nhất của đất nước, trong khi đó một số các nhà lãnh đạo khác phần lớn im lặng về các cuộc xung đột hiện nay với Trung Quốc. Việt Nam chỉ có thể có lợi trong việc lợi dụng tình huống này như một cơ hội để đạt được những cải cách mang tính đột phá mà mọi người dân Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới đã chờ đợi và khuyến khích. Cái cần phải có là can đảm chính trị.

NV: Cảm ơn ông đã dành thời giờ cho cuộc phỏng vấn.

—-

Liên lạc tác giả: Hagiang@nguoi-viet.com

 

Thực hư chuyện ba đảng viên Việt Tân kích động biểu tình bị bắt

phuong-anh-305.jpg
Bà Lê Thị Phương Anh (trái) trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội ngày 11/5/2014. Courtesy DLB

Dư luận trong nước, nhất là cộng đồng mạng, phản ứng sôi nổi sau khi mạng báo Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 27 tháng 5 vừa qua loan tin Công an Đồng Nai nói bắt được ba người của đảng chính trị Việt Tân tại Hoa Kỳ tham gia tác động công nhân biểu tình chống Trung Quốc bạo động tại đó. Phản ứng trước tin này ra sao?

Bắt người vô căn cứ

Bản tin trên mạng báo Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh ghi rõ ‘Nguyên nhân dẫn đến cuộc biểu tình trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong hai ngày 13 và 14 tháng 5 là do quần chúng bức xúc trước hành động ngang ngược của Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trên vùng biển của Việt Nam. Nhân cơ hội này, một số công nhân làm trong các doanh nghiệp nước ngoài bị chủ đối xử chưa tốt, bị đuổi việc trước đó đã lợi dụng phá hoại tài sản của các doanh nghiệp. Tội phạm hình sự đã lợi dụng tình hình để kích động công nhân đập phá và hôi của. Vụ việc có sự tác động, kích động của các thế lực thù địch bên ngoài. Cụ thể Công an tỉnh Đồng Nai đã bắt được ba đối tượng liên quan đến tổ chức phản động Việt Tân…’

Thông tin vừa nêu được ông Lý Quang Dũng, đại tá phó giám đốc công an tỉnh Đồng Nai đưa ra tại cuộc họp giữa Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai với các sở, ngành liên quan và hai hiệp hội Doanh Nghiệp Đài Loan, Hiệp hội Doanh Nghiệp Nhật Bản để bàn các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh donh và môi trường đầu tư của tỉnh sau thời gian diễn biến phức tạp trên địa bàn tỉnh.

Vợ tôi là Lê Thị Phương Anh và hai người bạn Phạm Minh Vũ và Trần Nam Phương đi thực tế tại tỉnh Đồng Nai và khi đến gần khu Công nghiệp Amata, bị một toán công an khoảng 50 người chặn lại và yêu cầu xóa hết những bức ảnh mà cô ấy đã chụp dọc đường trong buổi sáng hôm ấy, sau đó họ bắt giữ.
-Ô. Lê Anh Hùng

Một ngày sau, vào tối ngày 28 tháng 5, chúng tôi đã gọi điện đến số di động của ông Lý Quang Dũng hỏi về thông tin liên quan, nhưng ông này từ chối trả lời và yêu cầu đến ngay tại cơ quan mới có thể cung cấp thông tin.

“Nếu ông muốn biết cụ thể, mai ông đến cơ quan ông gặp tôi. Bởi vì chúng tôi có qui chế người phát ngôn, nếu ông có nhu cầu, cứ đến Công An Đồng Nai có người tiếp ông và sẽ trả lời theo yêu cầu của ông.”

Đối với những người công khai lên tiếng đấu tranh về tình hình tham nhũng, bất công, cũng như đòi hỏi thay đổi để cải cách giúp đất nước phát triển, hiện có ba người trong số họ đang bị công an tỉnh Đồng Nai giam giữ.

Anh Lê Thanh Tùng, nhà báo tự do vừa có chuyến đi Hoa Kỳ để tham gia sinh hoạt báo chí độc lập, cho biết liên hệ đến ba người đang bị giam giữ sau khi có công bố từ phía Công an tỉnh Đồng Nai về họ mà cơ quan này cho là thành viên của Đảng Việt Tân:

“Vì trong thời gian này bị bắt cóc ngay tại Khu Công nghiệp Amata, tỉnh Đồng Nai và người thân của họ có xuống đồn Công an tỉnh Đồng Nai và cơ quan này có xác nhận với người thân của họ ba người bị công an Đồng Nai bắt để làm việc về chuyện bạo động vừa rồi.”

Ông Lê Anh Hùng, chồng của bà Lê Thị Phương Anh- một trong ba người hiện đang bị Công an tỉnh Đồng Nai bắt giữ cho biết lại thông tin người thân:

976260_DSC_0304-305.jpg
Hàng ngàn công nhân ở Đồng Nai xuống đường phản đối Trung Quốc hôm 13/5/2014.

“Vợ tôi là Lê Thị Phương Anh và hai người bạn Phạm Minh Vũ và Trần Nam Phương đi thực tế tại tỉnh Đồng Nai và khi đến gần khu Công nghiệp Amata, thuộc phường Long Bình, thành phố Biên Hòa bị một toán công an khoảng 50 người chặn lại và yêu cầu xóa hết những bức ảnh mà cô ấy đã chụp dọc đường trong buổi sáng hôm ấy. Sau đó họ bắt giữ cô ấy cùng với mấy người bạn. Và từ 10:20 phút tôi và Phương Anh có 4 cuộc liên lạc qua điện thoại và từ sau 10:20 phút tôi mất liên lạc.”

Bà Ngô Thị Hồng Lâm, một dân oan và từng công khai lên tiếng cho trường hợp của bà Lê Thị Phương Anh trước đây khi biết cơ quan chức năng bắt cóc và hãm hiếp bà Lê Thị Phương Anh nhiều lần do có đơn thư tố cáo lãnh đạo cao cấp Việt Nam, cho biết lại việc liên lạc với cơ quan chức năng Đồng Nai để hỏi về việc bắt giữ bà Lê Thị Phương Anh và hai bạn trẻ khác:

“Họ hẹn tôi đến sáng ngày thứ bảy họ có làm việc thì đến hỏi thêm chi tiết. Sáng hôm qua tôi mang đầy đủ đơn từ và vào đến tận nơi trực ban, lúc sau họ ra trả lời có tên của ba người này đang giam nhốt tại đó. Họ hẹn chúng tôi ngày 20 đến để tiếp tế, thăm nuôi – gửi đồ. Đến ngày 20 chúng tôi đến gửi đồ, họ nói chuyển đến ngày 30 vì họ đang sửa chữa trại đó nên không chấp nhận. Họ hẹn ngày 30. Lúc đó Lê Anh Hùng có nói là Công an Quảng Trị đến nói với mẹ của Phương Anh đi vào Công an Đồng Nai để lãnh Phương Anh về. Hùng cũng làm thủ tục ủy quyền cho tôi bảo lãnh Phương Anh, họ lại nói ở đây Trại B5 không có quyền tha người, mà tha người phải có lệnh, có giấy tờ; còn Công an Quảng trị nói vậy thì về hỏi Công an Quảng Trị. Trong ngày đó không đón được Phương Anh về thì Hùng phải về làm việc với Công An Quảng Trị; đến phần sau này thì phải tiếp tục sau ngày 30 mới biết.”

Ý kiến

Bởi vì họ còn úp mở chưa nêu danh tính những người bị bắt giữ cho nên chúng tôi chưa biết thế nào! Nhưng nếu như ba người đó là Lê Thị Phương Anh và hai người bạn của cô thì đó là một sự cáo buộc rất lố bịch và và vô căn cứ.
-Ô. Lê Anh Hùng

Ông Lê Anh Hùng cho biết ý kiến sau khi có thông tin của Công an tỉnh Đồng Nai cho biết ba người đang bị họ giam giữ, dù chưa công khai tên tuổi, thừa nhận là thành viên của Đảng Việt Tân, trụ sở ở Hoa Kỳ kích động công nhân biểu tình bạo loạn:

“Bởi vì họ còn úp mở chưa nêu danh tính những người bị bắt giữ cho nên chúng tôi chưa biết thế nào! Nhưng nếu như ba người đó là Lê Thị Phương Anh và hai người bạn của cô thì đó là một sự cáo buộc rất lố bịch và và vô căn cứ. Vì như chúng ta đều biết những cuộc biểu tình bạo loạn diễn ra vào tối 12, đỉnh cao là ngày 13 và sang đến ngày 14 các cuộc biểu tình đã lắng xuống; đến ngày15 hầu như không còn diễn ra nữa. Trong khi đó Phương Anh và hai người bạn của cô đến Đồng Nai vào sáng ngày 15 là thời điểm mà các cuộc biểu tình hầu như không còn diễn ra. Lực lượng công an đã triển khai trấn áp bất kỳ mầm mống nào dẫn đến làn sóng biểu tình. Ngoài ra hơn nữa đây là lần đầu tiên Phương Anh đến Đồng Nai, cô ấy không hề thông thuộc đường sá ở đó và đặc biệt cô không có bất kỳ mối liên hệ với công nhân ở đó để có thể kích động hoặc xúi giục họ biểu tình bạo loạn.”

Bà Ngô Thị Hồng Lâm cẩn thận đưa ra ý kiến:

“Bây giờ mà trả lời còn quá sớm vì họ không công bố danh sách ba em này. Thứ hai nữa tôi thấy họ nói do Việt Tân là một chuyện mơ hồ. Việt Tân họ không chủ trương bạo động. Ba em này cũng không phải là người đi kích loạn bạo động. Vấn đề nói ba em này đi kích động bạo loạn chúng tôi hoàn toàn không tin. Và nói do Việt Tân thì càng không tin nữa, vì các em có dính líu gì đến Việt Tân đâu, các em chỉ bức xúc và tự phát đứng lên đấu tranh và đấu tranh của các em không có gì vi phạm pháp luật.”

Ngay sau khi có thông tin trên báo mạng Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh nói đã bắt giữ ba đối tượng có liên quan đến tổ chức Việt Tân bị chính quyền Hà Nội cho là phản động, phát ngôn nhân Hoàng Tứ Duy của tổ chức này lên tiếng phản bác rằng ‘bất cứ cá nhân nào chủ trương bạo động đều không phải là người của đảng Việt Tân hay người cộng tác với Đảng Việt Tân. Chủ trương của Đảng Việt Tân là hỗ trợ mọi đấu tranh bất bạo động cho mục tiêu dân chủ, nhân quyền và bảo vệ chủ quyền đất nước’.

Biểu Tình Ngày 27-5-2014 Chống Trung Cộng Lấn Chiếm Lãnh Hải VIỆT NAM Tại TOÀ TLS Trung Cộng ở Los Angeles

BIỂU TÌNH NGÀY 27-5-2014 CHỐNG TRUNG CỘNG LẤN CHIẾM LÃNH HẢI VIỆT NAM TẠI TOÀ TLS Ở LOS ANGELES CỦA NƯỚC NÀY

Tường trình : Hoàng Thuỵ Văn

Ảnh : H. Vương

BT truoc TLS TC tai LA 27-5-14

Trong khuôn khổ chống Trung cộng quyết liệt đối với chính sách Bá quyền của tập đoàn cầm quyền Trung Nam Hải ở Bắc Kinh, những người Mỹ gốc Việt trong cộng đồng tỵ nạn Việt Nam ở miền Nam California xuống đường biểu tình ngày 27-5-2014 ở trước “Tổng Lãnh Sự Quán” Trung Cộng ở Los Angeles. 

Xin nhắc lại nhiều cuộc biểu tình ôn hoà đã diễn ra 

ở các thành phố lớn trong nước để phản kháng Trung cộng lấn chiếm lãnh hải Việt Nam ngày 2 tháng 5 năm 2014 và tiếp theo hành động leo thang gây hấn của họ ngày 5 tháng 5 ở hải phận Việt Nam. Từ bản chất ngang ngược của chủ nghĩa bành trướng, Trung cộng ra lệnh cấm tất cả tàu bè không phải của họ không được đi vào vùng biển trong bán kính 3 hải lý từ khu vực dàn khoan dầu Hải Dương [Haiyang], HD-981 trong lãnh hải Việt Nam.

Xin nhắc lại hành động cho kéo dàn khoan dầu HD-981 ở kinh tuyến Đông 11112’ 06” và cách bờ biển Việt Nam ở bờ đông đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi 119 hải lý, và cách bờ biển đảo Hải Nam của Trung cộng 180 hải lý, ở hướng Tây Nam của quần đảo Hoàng Sa 17 hải lý nằm trong hải phận đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo công pháp về luật biển của Liên Hiệp Quốc hiện hành.

Cộng đồng mạng cũng đồng thời chuyển đi một bản tin về sự việc Trung cộng lấn chiếm lãnh hải khi nước này ra tiếp thông báo ngày 5 tháng 5, 2014 đầy tính hăm dọa Việt Nam xin trích bài báo như sau:

[Theo tuyên bố của bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 04/05, Cục Hải sự Trung Quốc đã ra thông báo cho biết giàn khoan có tên Hải Dương 981 (HD-981) sẽ tiến hành khoan và tác nghiệp từ ngày 04/05 đến ngày 15/08 tại vị trí có tọa độ nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý.

Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Lê Hải Bình tuyên bố hành động của phía Trung Quốc là «bất hợp pháp và vô giá trị, Việt Nam kiên quyết phản đối». Phía Bắc Kinh đã bác bỏ cáo buộc của Hà Nội, khẳng định là giàn khoan nói trên hoạt động hoàn toàn trong vùng biển của Trung Quốc. 

Đáp lại phản ứng của phía Việt Nam, tờ Hoàn Cầu Thời Báo hôm nay khẳng định «Hà Nội sẽ không dám tấn công trực tiếp các giàn khoan của Trung Quốc. Nhưng nếu Việt Nam có thêm những hành động ở Tây Sa (tên Trung Quốc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), mức độ các biện pháp đối phó của Trung Quốc phải được nâng lên». Tờ báo viết tiếp : «Nếu Việt Nam trở nên hung hăng hơn Philippines, Trung Quốc phải cho Hà Nội một bài học đích đáng».

Theo hãng tin AP, nhiều nhà phân tích cho rằng chiến lược của Trung Quốc hiện nay là nâng dần mức độ xác quyết chủ quyền trên Biển Đông, vì nghĩ rằng các nước láng giềng nhỏ hơn rất nhiều sẽ không thể hoặc không dám ngăn chận. Hà Nội đã từng tố cáo tàu Trung Quốc cắt dây cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam và sách nhiễu ngư dân Việt Nam.

Cũng theo nhận định của AP, những hành động nói trên của Bắc Kinh đặt chính quyền độc đoán của Việt Nam vào thế khó xử, vì người dân Việt Nam vẫn căm ghét Trung Quốc, đồng minh về ý thức hệ của Hà Nội. Các nhà bất đồng chính kiến vẫn lên án chính quyền Việt Nam tỏ ra nhu nhược với Bắc Kinh.]

Có người viết bình luận nêu ra các lý lẽ về lực lượng của hai nước Cộng sản kết nghĩa mị dân này cho rằng hải quân Trung cộng sẽ đánh tan lực lượng hải quân Cộng sản Việt Nam trong ít ngày và hải pháo của HQ Trung cộng cùng bom đạn và “tên lửa” dưới cánh của hàng trăm chiếc MIG, hàng trăm chiếc oanh tạc cơ IL và TU cùng thiết giáp T và thủy xa PT có hàng chục vạn bộ binh tùng thiết sẽ triệt hạ (Cộng sản) Việt Nam trong vòng 2 tuần. Đã là Cộng sản, họ đã biết tẩy của nhau, và đã đánh nhau nhiều lần cho nên Cộng sản Việt Nam cứ tỉnh bơ, càng đánh quân Tàu càng chết nhiều, chỉ trừ khi Ba Đình cho lệnh không được bắn vào bộ đội anh em của Đảng. Trận hải chiến Hoàng Sa 1974, ngay phút đầu chiếc soái hạm của HQ Tàu đã bị hạ gục, Đô đốc Tư lệnh chiến dịch cùng các sĩ quan tham mưu chết sạch. HQ Tàu trả thù bằng cách xả súng giết sạch những thương binh và thủy thủ VNCH trên các phao cứu sinh. Trận Biên giới 1979, lính Tàu cộng chết nhiều sô số kể, quân Tàu đem thương binh và tù binh Việt cộng ra giết sạch. Trận Gạc Ma 1988, 64 thuỷ thủ của HQ Việt cộng bị chết từ trận mưa pháo của HQ Tàu là do lãnh đạo Ba Đình bán đứng cho Tàu cộng.

Các website chuyên viết chuyện “tình cảm ướt át” và tin nóng theo kiểu Kim Dung viết tiểu thuyết tình cảm võ hiệp một thuở nào ấy tuồn ra theo ngã báo chí Hương Cảng đến Đông Nam Á, về sau có phim ảnh cùng loại giúp cho nhóm chủ trương một dạo làm giàu nhanh chóng và gây ảnh hưởng về mặt tinh thần, thái độ thiện cảm đối với văn hoá của Tàu hơn là văn hoá dân tộc Việt Nam! Chỗ nào cũng có dụm năm dụm bảy kể chuyện “Ỷ Thiên Đồ Long Đao” hơn là kể lịch sử Đại Đế Quang Trung cùng các vị anh hùng đánh thắng từng chặng đường tiến quân tới Hà Hồi, Ngọc Hồi, Đống Đa, và sau cùng đánh tan đạo quân Tàu ô do thống soái/ commander-in-chief Tàu có tên phiên âm là Tôn Si Nghị ở tại Thăng Long/ Hà Nội. Trung tâm thông tin toàn Mỹ có lọc qua tất cả chi tiết này của thời trước đây thì hẳn phải biết rõ ngày nay họ phải làm gì khi tư bản Xanh chuyển giao HD-981 cho tư bản Đỏ mà người ta sợ nó trở thành cái đầu con khủng long thời đại. 

Trách nhiệm tạo ra con quái vật ngày nay là thuộc về tư bản Xanh và bổn phận bảo vệ cái đầu là thuộc về tư bản Đỏ kìm kẹp và trấn áp khủng bố nội địa lan ra tới “Biển Hoa Nam” chứ không phải lưc lượng của CSVN. Như vậy người dân Việt Nam yêu chuộng Tự Do Dân Chủ trong nước không dễ bị lừa vì họ chiến đấu không cô đơn. Và kết quả đấu tranh của họ tất phải đến nhưng chung cuộc ở thời điểm nào người dân không thể biết trước nhưng họ phải đấu tranh cật lực chống CSVN và trách nhiệm của người Việt tỵ nạn trên khắp thế giới là yểm trợ cho họ đến thắng lợi cuối cùng. 

Lực lượng của cuộc biểu tình hôm nay gồm những đoàn viên của nhiều hội đoàn, đoàn thể trong vùng Nam California, như CĐ Người Việt Quốc Gia Nam Cali. của Ls Nguyễn Xuân Nghĩa, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH, Tập Thể Chiến Sĩ vùng Tây Nam Hoa Kỳ, Nhóm Anh Em Yêu Nước, nhưng lực lượng chính vẫn là Liên Ủy Ban Phối Hợp Đấu Tranh Chống Cộng Sản và Tay Sai của ông Phan Kỳ Nhơn. Đây là lực lượng chiến đấu bất bạo động được quần chúng đấu tranh của người Việt tỵ nạn bầu ra để chống Việt cộng xâm nhập và Tay Sai phá lằn ranh Quốc vs Cộng tại Little Saigon và miền Nam California.

Người biểu tình không quên ơn LS. Nguyễn Hoàng Dũng đã trả chi phí thuê 5 xe buýt cho đoàn biểu tình. Đây là những chiến sĩ muốn dấu tên đã từng yểm trợ tài chánh, công sức trong công cuộc chung: Giải thể chế độ CSVN. Và còn nhiều người khác sẽ có cơ hội yểm trợ những lần xuất quân tới.

Inline image 3

Inline image 4

Lễ xuất phát lúc 9 giờ 30 sáng và khởi hành lúc 10 giờ sau đó ngày 27-5-2014 tại trụ sở tạm của CĐNVQGNC ở Orange County, California.

Inline image 5

Ông Phan Kỳ Nhơn, Trưởng BTC dặn dò lần cuối trước khi đồng hương tham gia biểu tình lên 5 xe buýt, 2 van và một số xe nhỏ. S lượng đồng hương tham gia không rõ con số chính xác nhưng không dưới 600 và không tới một ngàn người như BTC ước đoán.

Inline image 6

LS. Nguyễn Xuân Nghĩa nhắc qua giai đoạn lịch sử hào hùng của dân quân cán chính nước Nam đã anh dũng đánh thắng quân xâm lược Tống Nguyên Minh Thanh để tuyên bố khí thế quần chúng biểu tình chống quân xâm lược Trung cộngĐứng bên cạnh là một vị đang ra tranh cử muốn được Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt ủng hộ.

Inline image 8

Người cầm cờ bên trái là UCV Bùi Phát, HĐTP Garden Grove; người đang nói là UCV Nguyễn Mạnh Chí, HĐTP Westminster. Người ta cũng thấy có TS. Phạm Kim Long tham gia biểu tình công tác với anh em đâu đó và tất cả với đủ khí thế để sau này khi đắc cử truyền hành khí thế ấy cho các bạn đồng viện có gốc tỵ nạn hay không nhưng có CON TIM VIỆT NAM và TINH THẦN TỰ DO. Người ta tin rằng đó là lẽ tất yếu nhân dân Việt Nam phải thắng CSVN không lâu nữa: “Delenda est Vietcongs.”

Nội dung biểu ngữ chống Trung cộng là đích đáng và là những sự thật đã và đang xẩy ra, không thể chối cãi. Những cá nhân nào, đảng phái phe nhóm nào còn cố gắng làm lợi cho Trung cộng và bênh vực những hành động bất chánh của h là tiếp tay cho một bọn ác và nuôi dưỡng con khủng long đang ngự trị trên đất nước và đè đầu người dân Trung Hoa với sự tiếp tay của bọn Tàu gian bên ngoài nước. Những kẻ tham ác cấu kết với nhau của chế độ độc tài Cộng sản nào cũng như nhau, tài sản của nhân dân, tài nguyên của đất nước là của riêng của bọn cầm quyền. Đó là một sự nghịch lý rất lớn và là nguyên nhân của chiến tranh.

Inline image 6

Rừng cờ Vàng của VNCH trước đây và nay biểu tượng của tinh thần Tự Do Dân Chủ của người Việt ở hải ngoại (Spririt of Freedom & Democratic – Vietnamese Americans) chống đối “ngũ tinh đại kỳ” có tham vọng “cá lớn đớp cá bé”. Việt Nam ngày nay tức là Việt Cổ của thời xa xưa đã có nền văn minh tiếp giáp với thế giới bên ngoài qua biển Đông trong khi Hán tộc còn ở trong rừng giống như đồng bào Thượng ở dãy Trường Sơn Việt Nam. Nửa nước Tàu ngày nay về phía Nam sông Dương Tử (sông Trường Giang ngày xưa) là đất của các bộ tộc Việt mà đứng đầu của sự hưng thịnh là tổ tiên của người Việt Nam ngày nay. Từ sức sống và niềm tự hào như thế Việt Nam không cho phép Trung Hoa do Hán tộc thống trị ngày nay coi Việt Nam như Mãn Mông Tân Tạng muốn thôn tính là được.

Lịch sử của sự vụng về mà chính khách Hoa Kỳ đã áp dụng trên Hoa lục từ đầu thập niên 70 và nuôi dưỡng chúng kể cả nhắm mắt trong những cách chuyển giao kỹ thuật thực tế là ăn cắp mà hai đảng nắm chính quyền vẫn cứ báo cáo thành tích để lấy phiếu của cử tri Hoa Kỳ, nhưng thực tế chỉ là nuôi con khủng long cho vĩ đại trong sự khủng khiếp của loài người không mấy chốc. Dân tộc Việt Nam bé nhỏ nhưng phải khản cổ hò hét để cảnh giác các đàn anh nhà giàu, mong các vị nhớ lấy câu để đời: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm.” của một trong hai vị tổng thống VNCH là kẻ thù của Cộng sản, lại là kẻ cứng đầu đối với một số chính khách dở hơi của Hoa Kỳ mà đến khi gần chết mới nói được vài lời sám hối. Hoạ tai! Hoạ tai!

Inline image 12

Inline image 13

Một thông điệp cho Cộng sản Tàu và Việt.

“Khách má hồng”, các con dâu của Võ Bị Quốc Gia không sợ nắng nhờ những chiếc nón cờ Vàng.

Đoàn biểu tình tuần hành và chấm dứt lúc 1 giờ trưa.

NEW: Video thu vội trong cuộc biểu tình ngày 27-5-2014 tại toà TLS Trung cộng, Los Angeles:

Xin xem để thấy NT Phan Kỳ Nhơn energic cỡ nào.

https://www.youtube.com/watch?v=zv-uL6LWwuo&feature=youtu.be

Xin xem thêm và lưu trữ các link sau đây liên quan đến cuộc đấu tranh chống Trung cộng xâm chiếm lãnh hải Việt Nam:

Dân cả nước biểu tình chống Tàu cộng với các links sau đây:

http://safeshare.tv/w/TYAyXbIKPW

Viet Nam:  Bieu tinh chong TQ – 11.5.2014

http://muoisau.wordpress.com/tin-nong/

http://www.cuicac.com/2014/05/tuong-thuat-trruwcj-tiep-bieu-tinh.html

Theo dõi chống Trung Cộng lấn chiếm lãnh hải Việt Nam qua tuần lễ thứ 4 sau đây:

https://mail.google.com/mail/u/0/?hl=en&tab=wm#sent/146307e9bbf06dca?compose=146415f9c15231a8

NEW: Theo dõi biểu tình ngày 27-5-2014 tại toà TLS Trung cộng ở Los Angeles theo link sau đây:

https://plus.google.com/photos/100800038531505182033/albums/6018288723801605057?banner=pwa

VN bắt 3 người tình nghi thuộc Đảng Việt Tân kích động biểu tình ở Đồng Nai

Hàng ngàn công nhân ở Đồng Nai xuống đường phản đối Trung Quốc hôm 13/5/2014. Citizen photo

Có tác động của các thế lực bên ngoài trong đợt biểu tình ở tỉnh Đồng Nai trong hai ngày 13 và 14/5, và cơ quan chức năng tỉnh này đã bắt giữ ba người được cho là của tổ chức Việt Tân, trụ sở tại Hoa Kỳ.

Mạng Pháp Luật trích dẫn phát biểu của công an tỉnh Đồng Nai như vừa nêu. Theo đó người tham gia biểu tình bức xúc trước hành động ngang ngược của Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trên vùng biển của VN và vụ việc có sự tác động, kích động của các thế lực thù địch từ bên ngoài.

Công an tỉnh Đồng Nai cho biết tại cơ quan điều tra, 3 người bị bắt bước đầu khai là tổ chức Việt Tân chỉ đạo và cung cấp tiền cho họ xuống đường kích động biểu tình. Tuy nhiên, danh tánh của cả ba người chưa được tiết lộ.

Phản ứng trước cáo buộc này của nhà nước Việt Nam, phát ngôn viên đảng Việt Tân, ông Hoàng Tứ Duy, trong một email gửi cho báo chí hôm thứ Ba 27/05, viết:

“Chúng tôi khẳng định bất kỳ cá nhân nào chủ trương bạo động thì đều không phải là người của đảng Việt Tân hay người đang cộng tác với đảng Việt Tân. Chủ trương của đảng Việt Tân là hỗ trợ mọi nỗi lực đấu tranh bất bạo động cho mục tiêu dân chủ, nhân quyền và bảo vệ chủ quyền đất nước. Việc công nhân Bình Dương biểu tình xuất phát từ lòng yêu nước, nhưng cuộc bạo loạn sau đó, dù ai đã gây ra, chúng tôi đều không tán thành. Cáo buộc đảng Việt Tân chỉ làm dư luận thấy sự bất lực của Hà Nội trước nguy cơ Trung Cộng”.

Chính quyền Việt Nam từ trước đến nay vẫn tố cáo đảng Việt Tân là một tổ chức khủng bố.

Cộng Đồng Người Việt hải ngoại biểu tình phản đối Trung Cộng xâm lược VN

Người Việt Nam biểu tình trước LSQ Trung Quốc ở Los Angeles

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=188845&zoneid=1

Trương Ðông Thức/Người Việt

LOS ANGELES, California (NV)Sáng Thứ Ba, 27 Tháng Năm, một cuộc biểu tình lớn của cộng đồng người Việt, cùng nhiều đoàn thể tại Nam California, được tổ chức ngay trước Lãnh Sự Quán Trung Quốc ở Los Angeles.

Ðúng 11 giờ sáng trong khí trời tương đối mát mẻ, có khoảng 100 đồng hương Việt Nam sống tại Los Angeles và các vùng lân cận đã đứng sẵn bên đường, đối diện tòa Lãnh Sự Quán Trung Quốc.

 



Ðông đảo người Việt ở Nam California biểu tình trước tòa lãnh sự Trung Quốc, Los Angeles, hôm Thứ Ba. (Hình: Trương Ðông Thức/Người Việt)

Khoảng 20 phút sau, sáu chiếc xe buýt chở đồng hương Việt Nam tại Orange County và các vùng lân cận xuất hiện khiến cho số người đông lên khoảng 400 người.

Họ mang tới đây cả hệ thống âm thanh, loa cầm tay, đàn… và giơ cao những lá cờ VNCH và cờ Mỹ, cùng nhiều khẩu hiệu, biểu ngữ… phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam, đưa giàn khoan dầu khổng lồ HD981 vào gần đảo Lý Sơn trong vùng biển Việt Nam và có những hành động hiếu chiến, ngạo mạn.

Người biểu tình cũng lên tiếng phản đối CSVN “hèn với giặc, ác với dân.”

Hàng trăm người đồng thanh hô to những khẩu hiệu “Ðả đảo Trung Cộng ăn cướp,” “Ðả đảo Cộng Sản làm tay sai cho Tàu Cộng,” “Trung Cộng rút giàn khoan ra khỏi biển Việt Nam”…

Nhiều người căm phẫn giẫm đạp lên cờ Trung Quốc. Một số người còn lấy cờ Trung Quốc quấn mông và cho biết: “Cái bọn thúi tha ấy phải bị làm như vậy mới hả giận.”

Ông Phan Tấn Ngưu, đại diện Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California, cho biết: “Cuộc biểu tình này càng khí thế và quyết liệt hơn các lần khác, số người tham dự đông hơn ngoài dự tính, lúc đầu dự tính bốn xe buýt, nhưng sau đó tăng cường thêm hai xe nữa chở đồng hương tại Little Saigon lên Los Angeles. Vậy mà vẫn còn dư lại khoảng hơn 50 người, ban tổ chức phải tìm kiếm thêm phương tiện để lần lượt chở họ lên sau.”

 



Một người biểu tình dùng cờ Trung Quốc quấn xung quanh mông trong lúc đưa lá cờ VNCH lên. (Hình: Trương Ðông Thức/Người Việt)

“Thật ra, chúng ta là người Việt Nam, dù ở xa quê hương, cũng không cam chịu cảnh xâm lược trắng trợn của Tàu Cộng, nên chúng ta ở tại Nam California, và hàng triệu đồng hương ở các nước trên thế giới, cũng đồng loạt biểu tình chống Trung Cộng. Tất nhiên, chúng ta không cùng tư tưởng với cộng sản, bởi không thể tin những vì cộng sản nói, cho dù là ngay thời cuộc này. Nên nhớ rằng đã có rất nhiều người từng bị đánh đập, cầm tù, bị sách nhiễu vì từng lên tiếng chống Trung Cộng. Ðiều đó cho thấy Việt Cộng quá yếu hèn và âm thầm tiếp tay cho giặc,” ông nói tiếp.

Ông John Wayne, ứng cử kiểm soát viên Orange County, cũng hòa vào đoàn biểu tình để phản đối Trung Quốc.

Ông cho biết: “Sau khi tìm hiểu kỹ tại sao cộng đồng người Việt ở đây chống Trung Quốc, tôi mới thấy rõ ràng mộng bành trướng của Bắc Kinh, nước lớn ăn hiếp nước nhỏ, với từng bước đi gây ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế cũng như chính trị đối với những nước trong vùng Ðông Nam Á. Nếu như tới đây tôi được đắc cử, tôi sẽ cùng đồng hương Việt Nam tích cực hơn cho việc vận động chống Trung Quốc.”

Ðúng 12 giờ 30 đoàn biểu tình đi xung quanh các khu vực gần tòa lãnh sự Trung Quốc, giương cao các khẩu hiệu, hô to “chống Trung Cộng.”

Cuộc biểu tình kết thúc lúc 1 giờ chiều cùng ngày. Cảnh sát địa phương đã có mặt để chặn ngõ đường dẫn vào khu vực biểu tình để bảo đảm an toàn cho cuộc biểu tình.

Lý Kiến Trúc phỏng vấn Hà Sĩ Phu và Mai Thái Lĩnh – Phần 3: Thoát Trung, thoát Cộng

http://www.boxitvn.net/bai/26696

Xem kì 1, kì 2toàn bài trong bản PDF

Lý Kiến Trúc: Ông vừa đề cập một động thái mới diễn ra ở Biển Đông, với giàn khoan HD-981 của Trung Quốc. Theo ông, động thái đó thể hiện ý đồ xâm lược, ý đồ Hán hóa Biển Đông của Trung Quốc đến mức nào?

Mai Thái Lĩnh: Đầu năm 2001, sau khi vừa thoát khỏi vụ án “phản bội tổ quốc”, tôi bắt đầu chú ý đến vấn đề này. Rồi có việc anh Bùi Minh Quốc khi ra Bắc chỉ vì muốn đi xem các cột mốc biên giới mà cũng bị bắt, đem về quản chế thêm hai năm. Rồi trong dư luận người ta đặt vấn đề “Ải Nam Quan có mất hay không”, “Thác Bản Giốc có mất hay không”? Khi đi vào nghiên cứu, tôi mới thấy rõ rằng căn nguyên của chuyện mất đất này chính là do một quan niệm rất sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ đã có một thời gian tin vào chủ nghĩa cộng sản. Họ tin rằng biên giới quốc gia không quan trọng bằng biên giới của phe xã hội chủ nghĩa. Cho nên đối với  đường biên giới phía Bắc giữa Việt Nam và Trung Quốc, họ rất lơ là, mà chỉ chú ý, chỉ lo đến việc thống nhất đất nước. Tức là chỉ lo đánh vào miền Nam thôi, không lo gì đến phía Bắc, cũng không lo gì đến các vùng đảo. Sau năm 1954, “giải phóng” được miền Bắc, đáng lẽ công việc đầu tiên của một quốc gia là phải vẽ lại các bản đồ của đường biên giới, hiện đại hóa các cột mốc thì họ lại không làm. Cho nên sau này, khi đàm phán thì chẳng có bản đồ, Trung Quốc đưa cái bản đồ nào thì xài cái đó, chứ tôi thấy mấy ông lãnh đạo không đưa ra được cái bản đồ nào của phía Việt Nam. Theo cuốn sách thời 1979 tố cáo Trung Quốc thì Việt Nam lại đưa bản đồ cho họ in giùm, thế là họ lại sửa trên cái bản đồ đó. Như vậy chứng tỏ họ rất lơ là ý thức bảo vệ chủ quyền ở biên giới. Họ cho rằng cách mạng cứ thắng được ở nơi nào là phe “xã hội chủ nghĩa” mở rộng ở chỗ đó, đó mới là điều quan trọng, còn biên giới giữa các nước “anh em” với nhau thì họ không chú ý. Trong lúc đó, phía Trung Quốc lại rất chú ý việc mở rộng biên giới. Do vậy mà chúng ta bị thua thiệt trong việc đàm phán biên giới. Trung Quốc lấn chiếm đường biên giới trên bộ, một mặt là để giảm khả năng phòng thủ của Việt Nam. Mặt khác họ muốn tuyên truyền với nhân dân Trung Quốc rằng các triều đại ngày xưa chưa lấn được Việt Nam, còn giờ đây “chúng ta giỏi hơn, chúng ta lấn được Việt Nam”. Bây giờ họ kích động tinh thần dân tộc của người Trung Quốc lên cao và đi xa hơn nữa, nhất là từ khi họ cảm thấy Việt Nam nhượng bộ họ ở đường biên giới trên bộ. Sự nhượng bộ đó chính là một khuyến khích rất lớn đối với người cộng sản Trung Quốc để họ tiếp tục xâm chiếm ở Biển Đông.

Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa từ 1974. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam đương nhiên có lên tiếng tố cáo rõ ràng, nhưng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc thì không hề có một văn bản nào lên án Trung Quốc. Chưa thấy có ai trưng ra được một văn bản nào như thế, mà lại có Công hàm của ông Phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958. Bản Tuyên bố của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hải phận của Trung Quốc ngày 4/9/1958 có nói rõ về Tây Sa, Nam Sa; không lẽ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không nghiên cứu để biết Tây Sa, Nam Sa là cái gì mà cứ ký hay sao[1]? Từ chỗ đó, Trung Quốc thấy Việt Nam có vẻ nhượng bộ, thế thì họ lấn tiếp. Về cách mà họ lấn tiếp thì theo tôi thấy, một mặt họ tăng cường lực lượng quân sự để đe dọa. Mặt khác, họ hợp lý hóa dần dần bằng cách “bây giờ đất đó là đất của tôi, tôi đưa giàn khoan khai thác ở đó”. Tôi nói giả định như mai mốt họ biến quần đảo Hoàng Sa thành một thứ như Hồng Kông hay Ma Cao chẳng hạn, thế thì người dân Trung Quốc ở đó có thể xin nhập cảnh vào Việt Nam ngay từ một vùng đất của Việt Nam. Họ cứ làm như thế, mà Việt Nam thì cứ tuyên bố là bảo vệ tình hữu nghị, trong khi Trung Quốc chỉ hữu nghị trên giấy tờ, hữu nghị bằng mồm chứ trong thực tế thì không. Đến bây giờ mà ta vẫn chỉ phản đối họ bằng những câu yếu ớt như thế thì không giải quyết được vấn đề gì hết.

Lý Kiến Trúc: Vậy theo nhận định của ông về tình đồng chí giữa hai đảng cộng sản, có thể có một sự thỏa hiệp về lãnh hải hai nước trên Biển Đông không?

Mai Thái Lĩnh: Do tin vào chủ nghĩa quốc tế vô sản, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam các thế hệ trước đã lơ là về biên giới, trong khi phía Trung Quốc lại đầy chủ mưu. Bây giờ, những người lãnh đạo cộng sản thuộc các thế hệ sau lại không có can đảm thoát ra khỏi cái di sản đó. Như tôi đã trình bày trong cuốn Huyền thoại về một Nhà nước tự tiêu vong, chủ thuyết đó là do Lenin ở vào thế bí, muốn bảo vệ nước Nga nên mới kêu gọi mấy anh nhỏ nhỏ (các dân tộc bị áp bức) ra sức bảo vệ cái thành trì của phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô. Thế thì chỉ có lợi cho Liên Xô chứ có lợi cho ai khác đâu. Không một nước nhỏ theo hệ thống cộng sản nào không lệ thuộc vào một anh lớn, trừ Tito. Nhưng Nam Tư và Liên Xô là hai nước cách bức nhau chứ không cùng biên giới. Còn Việt Nam thì lại sát với Trung Quốc, hàng nghìn năm nay bị Trung Quốc xâm lấn. Nếu các nhà lãnh đạo hiện nay không có can đảm dứt khoát vứt bỏ chủ thuyết cộng sản, không chịu suy nghĩ lại để ý thức được tinh thần dân tộc thì mất nước là chuyện dĩ nhiên, bấy giờ dù có kêu gào cách mấy cũng không giải quyết được.

Lý Kiến Trúc: Ông có cho rằng sự kiện giàn khoan là phản ứng của Trung Quốc trước việc vừa rồi ông Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn tổ chức cho Việt kiều đi thăm Trường Sa để khẳng định Trường Sa là của Việt Nam không?

Mai Thái Lĩnh: Tôi nghĩ, với Trung Quốc thì ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn không quan trọng. Họ muốn đối phó với ông Nguyễn Tấn Dũng hơn, vì Thủ tướng Việt Nam từng tuyên bố trước Quốc hội rằng Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp, và ông ấy cũng từng có ý định tổ chức tưởng niệm về Hoàng Sa ở Đà Nẵng hay ở nơi nào đó nhưng không thực hiện được. Bây giờ thì họ trả lời cho Việt Nam. Họ bảo “Hoàng Sa chính là đất của chúng tôi, bây giờ chúng tôi đưa giàn khoan dầu tới đó, anh đụng vào nó thì chúng tôi sẽ đưa lực lượng quân sự tới”, và nếu tiếp tục cái đà này thì họ sẽ không chỉ làm ở Hoàng Sa mà tiếp tục làm ở Trường Sa…, dần dần họ sẽ lấn chiếm toàn Biển Đông. Còn Đảng Cộng sản Việt Nam, trước kia trong chiến tranh chống Mỹ, họ luôn nói rằng thắng lợi thực tế trên chiến trường mới là quyết định chứ không phải trên bàn ngoại giao. Bây giờ mấy ổng lại đổi ngược lại, bảo rằng ta sẽ không đánh nhau vì như thế là đụng tới tình hữu nghị, đụng tới hòa bình thế giới, ta chỉ nói tới vấn đề pháp lý thôi. Từ chỗ lấy sức mạnh trên chiến trường làm chính, nay thụt lùi thành cái đường lối ngoại giao “chỉ đấu tranh pháp lý” với một anh chàng chỉ biết dùng vũ lực. Với Nhật Bản, một cường quốc kinh tế, mà Trung Quốc còn muốn tranh chấp thì Việt Nam là cái gì khiến họ phải sợ? Hơn nữa họ cũng biết rằng, nếu “trị” được Việt Nam thì chắc chắn Đông Nam Á sẽ rúng động.

Lý Kiến Trúc: Còn cảm nghĩ của ông trước sự leo thang xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông, thưa ông Hà Sĩ Phu?

Hà Sĩ Phu: Sự kiện giàn khoan chỉ là một bước tất yếu trong toàn bộ tiến trình xâm lược Việt Nam của Trung Quốc, khởi đầu từ khi mở cửa biên giới năm 1950 trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Toàn bộ cuộc xâm lược rất bài bản đó dựa trên yếu tố cộng sản, khai thác và tận dụng sự chọn lầm đường của Việt Nam, một nước nhỏ và lạc hậu mà đi vào quỹ đạo cộng sản ảo tưởng nhưng độc tài, tách khỏi khối văn minh nhân loại để chui vào vòng tay của hai đế quốc cộng sản là Liên Xô và Trung Quốc.

Nước nhỏ muốn thoát khỏi tay nước lớn cần đến 5 yếu tố: cần cảnh giác đề phòng trước, cần giữ khoảng cách, cần phơi bày công khai, cần dựa vào dân và cần liên kết với các nước lớn khác. Nhưng Đảng CSVN đã cố tình và kiên quyết chọn cách làm ngược lại tất cả những yếu tố tự cứu ấy, vậy thì ván cờ đã biết trước kết quả. Kiên quyết đi sâu miết vào tử lộ một cách đầy hứng khởi, nay tỉnh ngộ cũng đã muộn huống chi còn chưa tỉnh ngộ.

Trong câu chuyện ngắn ngủi này tôi không thể phân tích cặn kẽ những sai lầm ấy, chỉ xin nêu mấy bế tắc chính:

Muốn thoát Tàu cần phải thoát Cộng, nhưng quyền lực và quyền lợi đã giữ chặt những người cầm quyền trong vòng kim cô cộng sản, dù họ chẳng còn tin gì vào chủ nghĩa này. Trong thế tự kìm chân nhau, kẻ nào muốn thoát ra sẽ bị diệt ngay, trốn khỏi băng ma túy sẽ bị đồng bọn tiêu diệt.

Nhưng giả thiết một điều không thể có, giả thử toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nammuốn từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thì cũng không bỏ được trước vòng kim cô Trung Quốc. Trung Quốc muốn thôn tính Việt Namtrong chiến lược êm như tằm ăn dâu thì buộc Việt Namphải là nước cộng sản. Trung Quốc thừa sức thực hiện sự ép buộc rất cộng sản, rất “tình nghĩa” đó.

Lối thoát bằng liên minh chiến lược với Hoa Kỳ đã được tính đến từ lâu, nhưng Đảng CSVN không muốn tự xóa “vinh quang” của mình bằng con đường đó. Bây giờ có muốn cũng đã muộn. Chẳng những Hoa Kỳ cần một cường quốc Trung Hoa thứ nhì thế giới hơn một nước ViệtNam cộng sản rất ít thực tâm, mà Hoa Kỳ cũng không thể thắng Trung Quốc trên địa bàn Việt Nam, khi Trung Quốc đã chiếm lĩnh trận địa một cách toàn diện. Liên minh muộn mằn với Hoa Kỳ nếu có cũng chỉ cải thiện tình hình phần nào mà thôi.

Lối thoát bằng gia tăng quân sự, nhất là mua vũ khí từ Nga, một nước đang xích lại gần Trung Quốc thì chẳng có ý nghĩa gì ngoài tâm lý tự trấn an. Vả lại, trong phương sách giữ nước thì chính trị cao hơn quân sự, chính trị sai lầm thì quân sự cũng vô ích.

Lối thoát theo con đường Putin, một thứ cộng sản biến tướng, độc tài và tham nhũng? Nếu xuất hiện một Putin tại Việt Nam, Trung Quốc sẽ thừa sức mua hoặc diệt Putin đó bằng tất cả sức mạnh của mình.

Lối thoát duy nhất là dựa vào lòng yêu nước của dân đứng lên chống giặc. Nhưng lâu nay Đảng sợ dân hơn sợ Tàu, sợ dân chủ hơn sợ mất nước. Đảng đã tước vũ khí của nhân dân một cách toàn diện và trở thành đối lập với dân lâu rồi. Nhân dân đang trắng tay, dễ gì chống cả nội xâm lẫn ngoại xâm đang cấu kết?

Tuy vậy, chỉ có từ nhân dân mới hé ra hy vọng, vì sức mạnh của nhân dân luôn là một ẩn số, nó dao động từ sức mạnh của một đàn cừu đến một sức mạnh Phù Đổng, phá hết mọi gông xiềng, không ai có thể biết trước. Sự đột biến của nhân dân không tách rời sự thức tỉnh của lực lượng trí thức tinh hoa và sức mạnh của thế giới tiến bộ và các nước lớn văn minh.

Tôi nhìn vụ giàn khoan HD-981 trong bối cảnh như vậy.

Lý Kiến Trúc: Để tạm chấm dứt cuộc trao đổi hôm nay, thưa ông Hà Sĩ Phu, thưa ông Mai Thái Lĩnh, hai ông có cho rằng giải pháp cuối cùng để Việt Nam cất cánh cùng thế giới là phải giải thế Đảng Cộng sản và chia tay hoàn toàn với Trung Quốc về ý thức hệ? Và điều đó có thể xảy ra không?

Hà Sĩ Phu: Không hiểu sao, ngay trong những ngày Tết Con Ngựa tôi đã linh cảm thấy một cái gì bất thường, sôi động sẽ đến trong năm 2014, mặc dù phía nhà cầm quyền vẫn tỏ ra kiên định trong mọi quyết sách và cách ứng xử. Tôi có ra một vế đối thế này: “Đánh cho dân tộc tan hoang, trận đánh đẹp đáng ghi vào lịch sử“. Có một cái tích là đại tá công an Đỗ Hữu Ca chỉ huy một “trận đánh”, dùng cả quân đội lẫn công an, bố trí mọi thứ y như một trận đánh địch để đánh vào dân oan rồi tuyên bố đây là một trận đánh đẹp và đáng ghi vào sách. Tôi nhại luôn câu đó. Nói về chiến công của Đảng Cộng sản Việt Nam thì đánh Pháp là chuyện nhỏ, đánh Mỹ thì không đâu vào đâu, đánh Trung Quốc thì đánh xong lại phải xin lỗi, cũng không phải là chiến công gì ghê gớm, chỉ duy cái chiến công mà tôi cho là to lớn nhất của Đảng là đánh vào chính dân tộc Việt Nam, sử dụng rồi làm triệt tiêu tất cả những ưu điểm của dân tộc. Dân tộc nào cũng có phần ưu phần nhược, nhưng đặc biệt dưới thể chế cộng sản thì những nhược điểm lại được khuếch đại, còn những ưu điểm bị tiêu mòn. Dân tộc Việt Nam vốn rất nhân ái, sao bây giờ cái thú tính lại ghê thế, giết nhau như bỡn, ngày nào cũng có hàng chục trận giết nhau? Hay là, một dân tộc rất yêu nước, thế mà bây giờ cứ sợ nói yêu nước, nói chuyện yêu nước là “run như cầy sấy”, y như là đi ăn trộm. Tóm lại, ai đã đánh cho dân tộc Việt Nam mất hết tất cả những truyền thống tốt đẹp đó? Trước đây Pháp tám mươi năm đô hộ không đồng hóa được Việt Nam, Tàu một nghìn năm đô hộ không làm mất được cái chất dân tộc Việt Nam, thế mà chỉ có mấy chục năm cai trị của Đảng Cộng sản là mất đến tận gốc! Tôi xin dùng lại chữ của ông Dương Trung Quốc là“chúng ta ngày nay đã bị mất gốc hoàn toàn”. Tôi cho rằng đánh được cho dân tộc Việt Nam mất gốc hoàn toàn thì đấy là chiến công đáng ghi vào sử sách nhất và rõ ràng nhất, không ai có thể cãi được là của Đảng!

Vế đối của tôi tưởng đã là ghê gớm, nhưng cái vế của người ứng đối cũng sắc sảo không kém. Đó là một nhân vật tên là Mai Xuân Hương, giới thiệu trên trang Ba Sàm, một trang chuyên về chính trị, kinh tế, ít đi vào văn học. Ông ấy đối rằng: Tiêu vì chiêu bài giải phóng, lính đánh thuê sao gọi đấy anh hùng”. Tiêu tức là chết, vì cái chiêu bài giải phóng miền Nam. Một cái miền Bắc chưa văn minh, lại đánh vào miền Nam là cái anh ở trong một hệ thống tuy còn là dân chủ sơ khai nhưng cũng là cái văn minh bình thường của thế giới, tóm lại là một nền văn minh kém lại đòi giải phóng một nền văn minh cao hơn. Chính vì thế mà chết, cho nên “Tiêu vì chiêu bài giải phóng”. Nửa thứ hai của vế đối này mới ác: “Lính đánh thuê sao gọi đấy anh hùng”. Lấy “lính đánh thuê” đối với “trận đánh đẹp“! Câu này muốn nói rằng mọi cuộc chiến tranh của ta chẳng qua là đánh thuê, đánh thuê cho Liên Xô, đánh thuê cho Trung Quốc. Chính ông Lê Duẩn đã công nhận rồi, ông ấy nói là ta đánh đây cũng là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc! Nhưng có một điều mà ít người nghĩ tới là cả dân tộc mình đánh thuê cho Đảng Cộng sản Việt Nam! Bỏ rất nhiều sinh mệnh, tài sản, công lao vào chiến tranh, để rồi sau đó chiến công, thành quả có cái gì là Đảng giữ hết chứ dân được gì đâu, được mấy cái ghế của 14 ông vua và một tập đoàn lợi ích nhóm! Tóm lại nhân dân là lính đánh thuê với giá rất rẻ cho Đảng. Mà đã gọi là lính đánh thuê, hy sinh trong ngộ nhận thì không thể gọi là anh hùng, thậm chí khó gọi là liệt sĩ dù cho sự hy sinh đó là phi thường, là rất đáng cảm phục! Nỗi cảm thương và hối tiếc quá lớn cho dân tộc ngót một thế kỷ, tất cả nay cần được định danh hết lại cho đúng.Cũng vì thế, trong những câu đối năm Con Ngựa này tôi đã dành 3-4 câu  để xét lại cái lô-cốt cuối cùng: Dân Việt nuôi con ngựa Hồ khác nào nuôi “ngựa thành Troy”?

Mai Thái Lĩnh: Qua việc nghiên cứu và phê phán chủ nghĩa Marx, khoảng năm 2004-2005 tôi tình cờ đọc được một số tài liệu về ông Phan Châu Trinh. Bây giờ tôi mới thấy cái nhìn của ông Phan Châu Trinh thật sự là đúng đắn. Tôi đã có dịp trình bày qua một số bài viết, và sắp tới cũng còn phải viết nhiều nữa, bởi vì những tài liệu về Phan Châu Trinh hiện còn ít và rải rác. Nhất là về giai đoạn ông qua Pháp thì rất ít người biết, những người biết thì lại cố tình diễn giảng nó theo một hướng khác. Ví dụ có người diễn giảng rằng ông Phan Châu Trinh ở gần ông Nguyễn Ái Quốc mà tại sao không tiếp thu cái tinh hoa của ông Nguyễn Ái Quốc, nhưng thật ra ông Nguyễn Ái Quốc không thể nào có tầm tư tưởng bằng ông Phan Châu Trinh được. Ý tưởng đúng đắn nhất của ông Phan Châu Trinh về vấn đề chủ quyền là: một đất nước chỉ có thể được giữ gìn khi giao nó cho toàn dân, chỉ có toàn dân mới giữ gìn được một đất nước, chứ không có một gia đình nào, một dòng họ hay là một đảng phái chính trị nào, dù tập trung quyền lực trong tay, có thể gìn giữ được.

Lý Kiến Trúc: Xin chân thành cảm ơn hai ông.

© 2014 Lý Kiến Trúc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh & pro&contra

Nhóm Đà Lạt gặp nhau ngày 22-4-2014

———————————————————————————————–

[1] Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải ngày 4/9/1958

“Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố:

(1) Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Ðài Loan và Bành Hồ hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ðài Loan và Bành Hồ đang chờ được chiếm lại. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoài không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc”.

Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai ngày 14/9/1958:

“Thưa đồng chí Tổng lý

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”

Xem thêm: “Công hàm Phạm Văn Đồng làm lung lay yêu sách chủ quyền của Việt Nam“, bài viết của Sam Bateman trên Eurasia Review ngày 15/5/2014, bản dịch của Đoan Trang.

(Chú thích của pro&contra)

Bắc Kinh sợ nhất cái gì?

http://www.boxitvn.net/bai/26650

Lê Phú Khải

… Sợ nhất Việt Nam dân chủ.

Vì, Bắc Kinh giống hệt Hà Nội: Đang ngồi trên kho thuốc nổ.

Chế độ đảng trị độc tài ở Trung Quốc đã tạo ra những mâu thuẩn đối kháng trong lòng nó và không có cách nào hoá giải được.

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đưa ra năm mâu thuẫn “chết người” ở nước này.

Thứ nhất, môi trường bị tàn phá. Do Trung Quốc chọn con đường phát triển nóng, vì nhà nước muốn mau chóng giàu có nên đã biến Trung Quốc thành một công xưởng của thế giới. Mà xưởng máy thì phải thải ra phế liệu, khí độc tàn phá môi trường. Có huyện ở Trung Quốc xây nhà máy hoá chất ngay bên một hồ nước rất lớn, nước ở hồ này dùng cho cả huyện. Hồ nước bị nhiễm độc. Phụ nữ đẻ ra quái thai. Nếu muốn phục hồi, giải độc cho hồ nước này phải mất 50 năm. Phá nhà máy đi thì dân không có việc làm, cũng chết, để nhà máy thì… cũng chết. Tiến thoái lưỡng nan.

Một phần ba đất đai ở Trung Quốc đang bị sa mạc hoá. Và đang tiếp tục sa mạc hoá…

Thủ đô Bắc Kinh có thời gian khói bụi mù mịt, đứng xa 5 mét không nhìn thấy nhau. Vấn nạn môi trường ở TQ chỉ có tăng, không có giảm từ cái xưởng máy khổng lồ này của thế giới. Chưa kể đến cơn khát nhiên liệu điên cuồng của nó.

Khác với TQ, Ấn Độ chọn con đường dân chủ về chính trị. Về kinh tế, họ chọn làm “văn phòng của thế giới”, nên tuy dân số chẳng thua kém gì TQ nhưng  Ấn Độ đang  ung dung bước vào thế kỷ 21 với đầy hứa hẹn.

Thứ hai, nạn tham nhũng ở TQ ngày càng một gia tăng và cũng không có cách gì ngăn chặn được. Ở TQ, toà xử án kẻ tham nhũng, buôn lậu, tuyên án xong là thi hành án tử hình ngay tại… toà mà cũng không làm giảm thiểu được tham nhũng. Vì chế độ độc tài của nước này hàng ngày hàng giờ đẻ ra tham nhũng. Tham nhũng đã trở thành mối đe doạ lớn của chế độ.

Thứ ba, khoảng cách giàu nghèo ở TQ ngày càng một gia tăng. Hố ngăn cách này ngày càng khủng khiếp. Các nhà tư bản đỏ TQ có cả tàu biển riêng để đưa gia đình đi nghỉ mát trên biển, trong khi công nhân phải xích con vào cỗ máy mình làm việc, vì không có tiền gởi con đi nhà trẻ. Ông Hồ Cẩm Đào trong suốt thời gian nhiệm kỳ của mình đã nổ lực để “xây dựng một xã hội hài hoà”… nhưng không thể xoay chuyển được tình thế.

Thứ tư, mâu thuẩn sắc tộc ngày càng một gia tăng. Các vùng Tân Cương, Tây Tạng… luôn bảo vệ bản sắc văn hoá của dân tộc mình, quyết liệt chống lại công cuộc Hán hoá đối với họ.

Người Mỹ khôn ngoan ở chỗ hình thành các tiểu bang. Ở các tiểu bang đó có nghị viện, thống đốc, có luật lệ của tiểu bang… dân chúng được sống hạnh phúc theo những phong tục, lề thói, văn hoá truyền thống của vùng miền. Vì thế nước Mỹ rộng lớn như TQ, nhưng không hề nảy sinh mâu thuẩn giữa địa phương và chính quyền liên bang. Và dân chúng ở các tiểu bang luôn tự hào họ là dân của cường quốc Hoa Kỳ. TQ với chủ nghĩa Hán tộc cực đoan đã chống lại các nền văn hoá. Đó là điều phi lý nhất. Những ngọn lửa tự thiêu ở Tây Tạng, những cuộc bạo loạn ở Tân Cương là tất yếu.

Thứ năm, chủ nghĩa Mác-Lênin đã sụp đổ tan tành trên phạm vi toàn thế giới, TQ muốn đi tìm những giá trị tinh thần mới của mình bằng “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc TQ”, bằng lý thuyết “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình, bằng thuyết “ba đại diện” của Giang Trạch Dân. Trong khi đó chỉ là những lý thuyết thiếu hệ thống, thuyết sức thuyết phục, mà người ta lại muốn “ổn định” ngai vàng của đảng cộng sản để duy trì quyền lực thì phải tính sao đây? Và thế là, người ta bèn bật nắp quan tài để dựng dậy một ông Khổng Tử làm “giá trị Trung Hoa”.  Hàng trăm viện Khổng Tử được lập nên để nghiên cứu về một nền đức trị cho một xã hội có hàng trăm ngàn cuộc bạo loạn của dân chúng hàng năm vì bất công xã hội, giàu nghèo ngày càng như nước với lửa, và cả đất nước là cả một cái lò khổng lồ ô nhiễm độc hại với muôn nghìn cách xả rác thải hoá chất ra môi trường. Giải thưởng hoà bình Khổng Tử năm 2010 được trao cho ngài cựu Phó tổng thống Đài Loan Liên Chiến và nhiều người khác. Năm 2011 được trao cho nhà độc tài Putin. Nhưng thật bất ngờ, những người đoạt giải đều phát biểu không biết nó là cái gì và không ai đi nhận giải. Vì thế cho nên người Nga mới chế giễu nó “nhảm nhí vô giá trị”.

Chế độ độc tài đảng trị ở TQ đang xây dựng trên cái nền chứa chất bao ung nhọt kể trên. Họ đang muốn chuyển những mâu thuẩn đó ra ngoài biên giới bằng những “giàn khoan khủng” nhằm khích lệ chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán. Nhưng thời đại thông tin toàn cầu không cho phép họ làm được điều đó. Vì trên hết, TQ là đất nước của một chế độ tuyệt vọng. Những người giàu có nhất ở nước này đều đã gửi tiền, mua nhà, gửi con ra nước ngoài… Chỉ chờ con tàu của chế đắm là họ nhảy ra. Không như nhiều người lầm tưởng về TQ.

Một Việt Nam cải cách chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền lúc này là tiếng sét ngang tai đối với độc tài đảng trị ở TQ. Việt Nam dân chủ là tiếng gọi mênh mông được vẫy chào từ hàng triệu trái tim TQ bị đè nén bởi bạo quyền bấy lâu nay. Và cũng chỉ có dân chủ Việt Nam mới tập hợp được sức mạnh cả dân tộc để đương đầu với kẻ thù truyền kiếp đang muốn ăn tươi nuốt sống mình. Thế giới dân chủ văn minh nhất định sẽ ủng hộ, lựa chọn một Việt Nam dân chủ để kiềm chế, vô hiệu hoá một TQ đã chọn con đường bạo lực thay cho con đường “vươn lên trong hoà bình” như họ đã tuyên bố trước đây.

Chỉ có dân chủ mới cứu được nước, cứu được chính đảng trong giờ phút ngàn cân treo sợi tóc này. Vì dân chủ là sức mạnh của cả dân tộc.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin dẫn lời Tướng De Castries sau trận Điện Biên Phủ, khi ông trả lời các nhà báo Pháp: Người ta có thể đánh thắng một đạo quân, nhưng không ai đánh thắng được một dân tộc.

Câu nói đó ở Việt Nam lúc này phải được hiểu theo nhiều nghĩa.

Sài Gòn, 5/2014

L.P.K.

Tác giả gửi BVN

Hệ thống song trùng Đảng-Nhà nước trong cuộc khủng hoảng Biển Đông

000_Hkg5156689-600.jpg
Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng và TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng tại Hả Nội tháng 7/2011 AFP photo

Hệ thống song trùng Đảng- Nhà nước là một hệ thống rất đặc biệt trong các quốc gia có thể chế cộng sản. Trong hệ thống này cứ mỗi một vị trí hành pháp là có một người đương nhiệm bên phía đảng cộng sản cầm quyền.

Đặc biệt hơn nữa là người của bên phía hành pháp cũng là đảng viên đảng cộng sản. Ví dụ như tương đương với vị trí Bộ trưởng bộ ngoại giao sẽ có một vị là Trưởng ban đối ngoại trung ương của đảng cộng sản. Những người cộng sản gọi hệ thống này là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý.

Có thể là trong các quốc gia có nhiều đảng phái thì trong các đảng phái ấy sẽ có những người theo dõi các công việc của hành pháp để từ đó đưa ra chính sách của đảng mình trong công cuộc cạnh tranh chính trị. Nhưng ở các quốc gia cộng sản, các đảng cộng sản nắm quyền tuyệt đối, không phải cạnh tranh với ai, nhưng hệ thống song trùng Đảng – Chính phủ cứ tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử cộng sản của các quốc gia này.

Trong lịch sử cầm quyền của đảng cộng sản Việt nam, cho mãi đến những năm 80 của thế kỷ 20, hệ thống song trùng vẫn tồn tại, nhưng chỉ về mặt hình thức vì quyền lực tuyệt đối lần lượt nằm trong tay các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, và Nguyễn Văn Linh dù chức vụ của các ông này có thể khác nhau. Sau cái chết của ông Linh, người ta không thấy quyền hành tập trung vào một người nữa mà thường có sự xuất hiện một cách song song, một người bên đảng và một người bên chính phủ. Nếu bên chính phủ có lần lượt các ông Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, và bây giờ là Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng thì bên kia cũng lần lượt là các ông Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và bây giờ là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Trống đánh xuôi kèn thổi ngược

Ở những tầng mức thấp của hệ thống quyền lực, đã có lúc truyền thông của nhà nước Việt Nam từng nói đến sự dẫm chân nhau của hệ thống song trùng này, cụ thể là các công việc thường nhật của các vị chủ tịch hành chính và bí thư đảng ở cấp tỉnh và huyện.

Những sự khác biệt đảng-chính phủ thấy rõ nhất là trong các quan hệ đối ngoại. Chuyện đầu tiên xảy ra vào năm 2000 trong chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa kỳ Bill Clinton. Trong lúc bên hành pháp của thủ tướng Phan Văn Khải tất bật hoan nghênh kẻ thù cũ, thì ông tổng bí thư lúc đó là Lê Khả Phiêu lên tiếng chỉ trích nặng nề người bạn mới trong một cuộc gặp gỡ mặt đối mặt.

000_Hkg8885450-250.jpg
Bộ trưởng Ngoại giao VN Phạm Bình Minh tham dự cuộc họp các bộ trưởng ngoại giao ASEAN tại Thái Lan tháng 8/2013. AFP photo

Sự khác biệt trong đối ngoại thấy rõ nhất trong mối quan hệ với với Trung Quốc. Cứ mỗi lần có xung đột gì đó giữa hai quốc gia thì bên cơ quan ngoại giao của chính phủ lên tiếng chỉ trích, trong khi bên cơ quan đảng cộng sản vẫn là những câu chữ ca ngợi tình hữu nghị như 16 chữ vàng, bốn tốt.

Bình luận về vai trò của Bộ ngoại giao, trong một lần trao đổi với chúng tôi, Tiến sĩ Vũ Tường, một người quan sát chính trị Việt Nam từ đại học Oregon, Hoa Kỳ nói rằng:

Đó là đặc biệt ở Việt Nam, nó do các cơ chế chính trị của Việt Nam thực ra là từ xưa đến nay các chính sách ngọai giao lớn đều do Bộ chính trị và ban bí thư quyết định, ngay từ thời ông Lê Duẩn đã vậy. Sau này nó vẫn như thế, chỉ có trong một thời gian ngắn ông Nguyễn Cơ Thạch đóng một vai trò đặc biệt làm nổi lên vai trò của Bộ ngoại giao vào thời kỳ bắt đầu đổi mới, nhưng sau đó thì không có ai. Tức là Bộ ngoại giao đóng vai trò làm theo những quyết định chiến lược của Bộ chính trị. Trong Bộ chính trị thì Tổng bí thư, hay trưởng ban đối ngoại trung ương, trong một tình huống nào đó có thể đóng vai trò quan trọng hơn Bộ trưởng Bộ ngoại giao.

Sự lấn lướt này của quyền lực đảng trong hệ thống song trùng đối với những vấn đề ngoại giao càng rõ hơn trong bối cảnh thế giới chỉ còn có vài đảng cộng sản cầm quyền. Trong bối cảnh đó có vẻ như đảng cộng sản Việt Nam đặt tầm quan trọng rất cao mối quan hệ giữa họ và đảng cộng sản TQ.

Trớ trêu thay, đảng cộng sản TQ lại đang lãnh đạo một quốc gia hay thể hiện sức mạnh cơ bắp với những nước láng giềng nhỏ hơn trong thời gian gần đây. Đối với trường hợp Việt Nam thì quan hệ lịch sử với TQ lại còn có cả chiều dài lịch sử phức tạp hàng nghìn năm. Đứng trước thực tế không muốn làm phật lòng một đảng cộng sản lớn hơn, những động thái đối ngoại của đảng cộng sản Việt Nam chịu nhiều chỉ trích. Ông Hà Sĩ Phu, một trí thức bất đồng chính kiến, đồng thời đã sống và làm việc nhiều năm ở Đông Âu cộng sản nói với chúng tôi:

TQ phải giữ Việt Nam ở chế độ cộng sản, vì chỉ có ở chế độ cộng sản thì mới có cái kiểu hai đảng làm việc với nhau, nhượng bộ quyền lợi với nhau, còn nhân dân thì chẳng có vai trò gì.”

Chuyện làm việc với nhau giữa hai đảng cộng sản trong cuộc khủng hoảng biển Đông vào thời điểm tháng 5/2014 có vẻ không được xuôi chèo mát mái lắm khi nhiều cơ quan truyền thông đưa tin rằng ông Nguyễn Phú Trọng tổng bí thư đảng cộng sản VN bị từ chối lời đề nghị gặp mặt của ông để giải quyết cuộc khủng hoảng.

Về mặt chính thức, khi TQ bắt đầu kéo dàn khoan nước sâu vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, người đứng đầu đảng cộng sản Việt nam và các cơ quan truyền thông của nó không có một tuyên bố nào. Hai tuần lễ sau đó trang thông tin điện tử của đảng cộng sản VN mới đăng bài chỉ trích TQ, còn ông Nguyễn Phú Trọng vẫn không nói gì. Trong khi đó bên hành pháp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liên tục đưa ra những chỉ trích mạnh mẽ, mà đỉnh cao là lời tuyên bố của ông tại Manila rằng hành động của TQ vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế.

Sự xung đột phe phái

image-250.jpg
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng (giữa) cùng các thành viên trong đoàn tại nơi diễn ra lễ bế mạc hội nghị thượng đỉnh ASEAN 24 tại Myanmar hôm 11/5/2014. AFP photo

Sự xung đột bên trong hệ thống song trùng đảng – chính phủ được cho là lên rất cao khi hồi năm 2013, một hội nghị trung ương đảng đã không kỷ luật được ông Dũng vì những tệ hại của nền kinh tế quốc gia. Nay trong cuộc xung đột với TQ, dường như một lần nữa sự xung đột ấy lại lên cao. Ngay sau khi cuộc khủng hoảng giàn khoan bùng nổ, Tiến sĩ Vũ Tường có nhận định rằng sự lấn lướt của TQ có thể làm phe của ông Nguyễn Tấn Dũng mạnh lên.

Tuy nhiên cũng theo Tiến sĩ Tường thì những người lãnh đạo công an và quân đội Việt Nam có khuynh hướng nghiêng về phe của đảng hơn.

Và trong cuộc khủng hoảng đang xảy ra, người ta thấy rằng Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ quốc phòng có nói với người đồng nhiệm Trung Quốc rằng Việt nam vẫn tìm cách giải quyết vấn đề một cách hữu nghị, không sử dụng quân đội, dù rằng ông Bộ trưởng quốc phòng TQ vượt qua cả sự tế nhị ngoại giao mà công kích gay gắt rằng Việt Nam là một quốc gia gây sự trong cuộc gặp đôi bên.

Trong hoàn cảnh một nền chính trị không công khai, những tuyên bố trái khoáy giữa những người của đảng và của chính phủ, mà lại cũng là của đảng, càng tăng thêm sự đồn đoán về sự xung đột phe phái. Điều này thấy rõ nhất trong cuộc bạo loạn Bình Dương-Vũng Áng với sự chậm trễ của công an, sự can thiệp của quân đội…

Nhưng điều mà mọi người có thể thấy rõ nhất trong gần một tháng qua là sự leo thang xung đột Việt Trung, người chết và nhà xưởng bị đốt cháy,…

Hệ thống song trùng đảng chính phủ đương đầu thế nào với thách thức mới trong những ngày sắp tới? Liệu họ sẽ đồng thuận chống lại đe dọa của nước ngoài? Hay họ thu xếp để trở về nguyên trạng với sự phân công đảng lo hữu nghị, còn chính phủ lo phản đối, trong bối cảnh cuộc xung đột với nước cộng sản anh em lắng dịu? Hay đi xa hơn là không còn hệ thống song trùng nữa?

Mỹ, Nhật lên tiếng sau vụ đâm tàu

BBC, 28 tháng 5, 2014

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2014/05/140528_japan_us_boat_sunk.shtml

Giới quan sát lo ngại những vụ xung đột liên tục sẽ dẫn đến thiệt hại về nhân mạng

Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa lên tiếng bày tỏ quan ngại sau vụ va chạm gần giàn khoan của Trung Quốc trên vùng biển tranh chấp khiến một tàu cá của Việt Nam bị chìm.

Đài truyền hình Nhật NTDTV dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Itsunori Onodera nói: “Chúng tôi thấy việc tàu cá Việt Nam có thể bị nhiều tàu cá Trung Quốc bao vây và đâm chìm là điều báo động.”

“Những việc như thế này xảy ra ngay cả khi tàu hải giám của Trung Quốc đang có mặt trong khu vực không phải là một tín hiệu tốt cho tương lai,” ông nói với các phóng viên.

“Có lẽ bạn thực sự phải đặt câu hỏi rằng vì sao một chiếc tàu cá, với nhiệm vụ đơn giản là đánh bắt cá, lại đâm một tàu khác như vậy.”

“Thật không thể tin nổi.”

Trong khi đó, Chánh văn phòng Nội các Nhật Yoshihide Suga cũng được NTDTV dẫn lời nói:

“Bất chấp việc nhiều nước đã yêu cầu Trung Quốc phải tránh có những hành động đơn phương, nước này vẫn tuyên bố sẽ tiếp tục hoạt động khoan thăm dò.”

“Tôi cho rằng đây là một quyết định rất đáng tiếc.”

Có lẽ bạn thực sự phải đặt câu hỏi rằng vì sao một chiếc tàu cá, với nhiệm vụ đơn giản là đánh bắt cá, lại đâm một tàu khác như vậy.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Itsunori Onodera

Còn hãng thông tấn AFP dẫn lời ông Suga nói rằng việc Trung Quốc đâm chìm tàu Việt Nam là ‘một hành động vô cùng nguy hiểm’.

“Điều quan trọng lúc này là các bên liên quan phải tránh có các hành động đơn phương và xử lý các vấn đề một cách bình tĩnh, theo đúng luật pháp quốc tế,” ông nói thêm.

Hoa Kỳ thận trọng

Phía Hoa Kỳ tỏ ra thận trọng hơn trước sự việc xảy ra hôm 26/5.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jen Psaki được hãng thông tấn AP dẫn lời trong buổi họp báo thường nhật hôm 27/5 cho biết Hoa Kỳ chưa thể kiểm chứng độc lập về thông tin một tàu cá Việt Nam bị đâm chìm.

Công ty dầu khí Trung Quốc hôm 27/5 thông báo đã hoàn thành giai đoạn khoan đầu tiên

Tuy nhiên bà cũng bày tỏ quan ngại trước “những hành động nguy hiểm và sự khiêu khích của các tàu Trung Quốc đang hoạt động trong khu vực tranh chấp.”

“Chúng tôi tiếp tục kêu gọi tất cả các bên liên quan kiềm chế và thực hiện các bước nhằm tháo gỡ căng thẳng”, bà nói thêm.

Trong khi đó, truyền thông Việt Nam dẫn lời một thượng nghị sĩ Mỹ nói việc Trung Quốc đâm chìm tàu Việt Nam là hành động “cực kỳ nguy hiểm, đơn phương của Trung Quốc”.

Thượng nghị sĩ Ben Cardin thuộc Đảng Cộng hòa đang thăm Việt Nam và tổ chức họp báo hôm 28/5.

Báo Tuổi Trẻ tường thuật lời nói của ông Cardin: “Riêng về việc Trung Quốc đâm chìm tàu Việt Nam, đây là hành động cực kỳ nguy hiểm, đơn phương của Trung Quốc.

Vụ việc này xảy ra cách giàn khoan nhiều dặm. Đó là hành vi nguy hiểm không thể chấp nhận được, gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng. Cần phải làm sao xuống thang tình hình.”

Phát biểu trong chuyến thăm một căn cứ hải quân hôm 27/5, Tổng thống Philippines Benigno Aquino III nói nước của ông đang tiếp tục quan sát diễn biến xung đột hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Chúng tôi đang cố gắng rút ra bài học đúng cho mình.

Tổng thống Philippines Benigno Aquino

“Chúng tôi đang cố gắng rút ra bài học đúng cho mình,” ông được hãng thông tấn AP dẫn lời nói.

“Quân đội, lực lượng tuần duyên và các cơ quan khác của chúng tôi đã xem xét những kịch bản có khả năng để có những phản ứng phù hợp”.

Trước đó, hôm 26/5, Việt Nam tố cáo tàu Trung Quốc đã đâm chìm một tàu cá Đà Nẵng ở khu vực Nam Tây Nam giàn khoan Hải Dương 981, cách giàn khoan này 17 hải lý.

Trong khi đó, ngày 27/5, Tân Hoa Xã xác nhận tàu cá Việt Nam bị chìm, nhưng nói vụ việc xảy ra vì tàu Việt Nam “tiến hành quấy nhiễu và đâm va tàu cá của thành phố Đông Phương, tỉnh Hải Nam”.

“Các ngư dân trên tàu đã được cứu kịp thời,” Tân Hoa Xã nói.

Tân Hoa Xã cáo buộc từ ngày 2/5, Việt Nam “nhiều lần cử các loại tàu tiến hành quấy nhiễu việc tác nghiệp khoan thăm dò” của công ty Trung Quốc.

Hôm 26/5, truyền thông trong nước cũng đưa tin về vụ một tàu cá từ huyện đảo Lý Sơn bị “một tàu lạ” đâm chìm khi đang đánh bắt trên ngư trường Vịnh Bắc Bộ khiến thuyền trưởng Đặng Văn Giùm tử nạn, một thuyền viên mất tích.

Việt – Trung lên án nhau vì vụ tàu chìm

Tàu Việt Nam và Trung Quốc vẫn đối đầu nhau ở vị trí xung quanh giàn khoan

Người phát ngôn ngoại giao Việt Nam nói Trung Quốc phải “chấm dứt hành động vô nhân đạo” sau khi một tàu cá Đà Nẵng bị chìm ở khu vực gần giàn khoan Hải Dương 981 (Trung Quốc gọi là Haiyang Shiyou 981 hay HYSY 981).

Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc gia tăng sau khi Việt Nam tố cáo tàu Trung Quốc đâm chìm một tàu cá Đà Nẵng hôm 26/5 ở khu vực Nam Tây Nam giàn khoan Hải Dương 981, cách giàn khoan này 17 hải lý.

Ngày 27/5, đại diện Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã triệu đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm phản đối.

Cùng ngày, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam kêu gọi Trung Quốc “chấm dứt những hành động vô nhân đạo, xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản và lợi ích hợp pháp của ngư dân Việt Nam”.

Ông Lê Hải Bình nói Trung Quốc phải “tôn trọng luật pháp quốc tế đồng thời xử lý nghiêm những người có liên quan, không để tái diễn những hành động tương tự và bồi thường thỏa đáng cho các ngư dân Việt Nam”.

Ngoài vụ việc hôm 26/5, trang web Bộ Ngoại giao Việt Nam liệt kê thêm các vụ từ tháng Năm khi tàu cá Việt Nam “bị các tàu của Trung Quốc liên tục khống chế, xua đuổi, gây thiệt hại về tài sản”.

Theo phía Việt Nam, hôm 7/5, một tàu cá của Quảng Ngãi “bị tàu Trung Quốc số hiệu 1241 bắn đạn lửa; dùng vòi rồng phun nước; dùng búa, chai lọ, bu lông ném sang tàu; dùng câu liêm cắt đứt dây và hệ thống liên lạc, định vị”.

“Sau đó, thêm 01 tàu ngư chính Trung Quốc chưa rõ số hiệu đã khống chế, đâm thẳng vào tàu gây vỡ mạn phải và toàn bộ kính ca bin, hỏng nhiều thiết bị và tài sản trên tàu. Thiệt hại ước tính khoảng 890 triệu đồng.”

Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu thêm hai vụ việc tương tự hôm 16/5 và 17/5 cũng liên quan tàu cá của tỉnh Quảng Ngãi.

Việt Nam cáo buộc trong vụ ngày 16/5, lực lượng Trung Quốc “đã lên tàu cá đập phá hầu hết tài sản trên tàu, đánh và gây thương tích nặng đối với hai ngư dân Việt Nam”.

Trong ngày 17/5, ngư dân Quảng Ngãi bị “tàu Trung Quốc số hiệu 21102, khống chế, lấy đi một số tài sản và ngư lưới cụ”.

Trung Quốc bác bỏ

Trong khi đó, ngày 27/5, Tân Hoa Xã bác bỏ cáo buộc của Việt Nam.

Hãng tin nhà nước Trung Quốc xác nhận tàu cá Việt Nam bị chìm, nhưng nói vụ việc xảy ra vì tàu Việt Nam “tiến hành quấy nhiễu và đâm va tàu cá của thành phố Đông Phương, tỉnh Hải Nam”.

Tân Hoa Xã cáo buộc từ ngày 2/5, Việt Nam “nhiều lần cử các loại tàu tiến hành quấy nhiễu việc tác nghiệp khoan thăm dò” của công ty Trung Quốc.

Lời qua tiếng lại giữa Việt Nam và Trung Quốc đã gia tăng những ngày gần đây.

Hôm 27/5, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân tuyên bố sẽ thúc đẩy „đàm phán trực tiếp” để giải quyết tranh chấp tren Biển Đông.

Ông Lưu nói: “Nam Hải là huyết mạch hàng hải của Trung Quốc, tầm quan trọng của Nam Hải đối với Trung Quốc vượt xa đối với các nước khác.”

Hôm 26/5, người phát ngôn ngoại giao Trung Quốc Tần Cương lên án Việt Nam “bóp méo lịch sử, phủ nhận sự thật, tráo trở lật lọng, bội tín bội nghĩa”.

Ông Tần đáp trả sau khi Việt Nam hôm 23/5 mở họp báo để khẳng định Việt Nam “có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử” để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

’40 vây 1′

Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Huỳnh Ngọc Sơn được báo chí trong nước dẫn lời gọi hành động đâm tàu cá Việt Nam của phía Trung Quốc là ‘hành động khủng bố’ và ‘mang tính dằn mặt ngư dân’.

Trong khi đó, người phát ngôn ngoại giao Trung Quốc, Tần Cương, tuyên bố Việt Nam chịu trách nhiệm vì “tiếp tục quấy phá hoạt động bình thường của Trung Quốc”.

“Chúng tôi một lần nữa kêu gọi Việt Nam ngừng ngay lập tức hoạt động quấy phá và gây hại,” ông Tần nói.

Theo lực lượng tuần duyên Việt Nam, chiếc tàu cá này đã bị 40 tàu Trung Quốc bao vây trước khi nó bị tấn công. Tất cả 10 ngư dân trên tàu đều được cứu.

Tân Hoa Xã nói rằng Việt Nam ‘đã nhiều lần điều nhiều loại tàu khác nhau ̣(ra vùng biển có giàn khoan) với mục đích duy nhất là quấy nhiễu các công ty Trung Quốc đang khoan tìm dầu ở đó’.

Bắc Kinh và Hà Nội đang dính vào tranh chấp ngày càng căng thẳng trên Biển Đông.

Việt Nam phản đối việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 ra vùng biển mà Việt Nam nói là thuộc chủ quyền của họ ở gần Quần đảo Hoàng Sa mà hai nước hiện đang tranh chấp.

Việc Trung Quốc từ chối dời giàn khoan đã dẫn đến các cuộc biểu tình chống Trung Quốc khiến ít nhất hai người chết và một số xí nghiệp bị đốt cháy.

Các nhà lập pháp Việt Nam đang chuẩn bị kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về vụ giàn khoan và các vụ đâm tàu, theo truyền thông của nước này.

‘Bảo vệ ngư dân’

Các tàu cá Việt Nam thường bị ‘tàu lạ’ đâm chìm khi đánh bắt trên Biển Đông

“Vì chưa biết tàu của họ có phải là tàu cá hay không nhưng đi bảo vệ giàn khoan và đâm chìm tàu cá của ngư dân ta trong vùng biển Việt Nam thì thấp nhất cũng có thể gọi là khủng bố,” phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Huỳnh Ngọc Sơn được báo mạng VnExpress dẫn lời nói.

Đây dường như là tuyên bố mạnh mẽ nhất từ trước đến nay của một lãnh đạo Việt Nam nhằm vào Trung Quốc.

Ông Sơn cũng nói rằng Việt Nam sẽ lên án vụ việc này ‘qua con đường ngoại giao’ và sẽ yêu cầu Trung Quốc bồi thường.

Trả lời phỏng vấn BBC hôm 27/5, phó chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam nói cần tổ chức lại cách ra biển của ngư dân để một mặt có thể khẳng định chủ quyền mặt khác bảo vệ cho sự an toàn về nhân mạng và của cải.

Ông Võ Văn Trác nhận định vụ tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá của ngư dân Đà Nẵng hôm 26/5 ‘có thể nói là rất nghiêm trọng’.

“Đây là sự xâm phạm thô bạo và trắng trợn của Trung Quốc. Hội Nghề cá Việt Nam cực lực phản đối và đề nghị các cơ quan của trung ương lên tiếng đề nghị Trung Quốc ngưng hành động này, bồi thường thiệt hại cho ngư dân, đồng thời hứa không để xảy ra những vụ việc tương tự nữa.”

Trả lời câu hỏi của BBC về việc có nên khuyến khích ngư dân tiếp tục bám biển để khẳng định chủ quyền khi các biện pháp bảo vệ chưa được thực hiện hiệu quả hay không, ông Trác nói:

“Vùng biển đó là của Việt Nam. Việc ngư dân đi đánh cá ở đó là hoàn toàn hợp pháp. Việc Trung Quốc gây ra vụ việc vừa rồi trực tiếp ảnh hưởng tới sản xuất của người ngư dân. Chúng tôi sẽ tìm cách vận động ngư dân tiếp tục bám biển, sản xuất kinh doanh trên vùng biển của mình.”

Ngư dân ra biển cần phải theo đội hình chứ không đi lẻ tẻ đễ giúp đỡ, hỗ trợ nhau. Ngoài ra còn có tàu kiểm ngư, cảnh sát biển hỗ trợ cho ngư dân.

Võ Văn Trác, phó chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam

“Nhưng ra biển cần phải theo đội hình chứ không đi lẻ tẻ đễ giúp đỡ, hỗ trợ nhau. Ngoài ra còn có tàu kiểm ngư, cảnh sát biển hỗ trợ cho ngư dân.”

‘Việt Nam khuấy động’

Hôm thứ Hai ngày 26/5, Tân Hoa Xã đăng bài xã luận bằng tiếng Anh cáo buộc Việt Nam muốn ‘khuấy động và thổi bùng việc khoan bình thường của giàn khoan Hải Dương 981’.

“Hà Nội nên biết rằng việc khoan như vậy trong vùng biển này là quyền chủ quyền của Trung Quốc theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển,” tác giả Dương Trạch Vỹ, một giáo sư luật, viết trong bài xã luận.

“Việt Nam nên ngừng lập tức bất kỳ hành động ngăn trở nào và phải nhận hậu quả tương ứng và trách nhiệm quốc tế cho sự khiêu khích của mình,” bài xã luận nhận định.

Nhật Bản đã kêu gọi bình tĩnh. Người phát ngôn Chính phủ Nhật Yoshihide Suga được các hãng thông tấn dẫn lời nói: “Điều quan trọng là các nước có liên quanCác bài liên quan